Nhận thức, thái độ và hành vi của các hộ gia đình đối với vệ sinh an toàn thực phẩm trong tiêu dùng thịt lợn tại phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh Nhận thức, thái độ và hành vi của các hộ gia đình đối với vệ sinh an toàn thực phẩm trong tiêu dùng thịt lợn tại phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh Nhận thức, thái độ và hành vi của các hộ gia đình đối với vệ sinh an toàn thực phẩm trong tiêu dùng thịt lợn tại phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh Nhận thức, thái độ và hành vi của các hộ gia đình đối với vệ sinh an toàn thực phẩm trong tiêu dùng thịt lợn tại phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh Nhận thức, thái độ và hành vi của các hộ gia đình đối với vệ sinh an toàn thực phẩm trong tiêu dùng thịt lợn tại phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh Nhận thức, thái độ và hành vi của các hộ gia đình đối với vệ sinh an toàn thực phẩm trong tiêu dùng thịt lợn tại phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh Nhận thức, thái độ và hành vi của các hộ gia đình đối với vệ sinh an toàn thực phẩm trong tiêu dùng thịt lợn tại phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong khóaluận này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ bất kỳ một học vịnào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đãđược cảm ơn và các thông tin trích dẫn cho việc thực hiện khóa luận đều đượcchỉ rõ nguồn gốc Đồng thời tôi xin cam đoan rằng trong quá trình thực hiện
đề tài này tại địa phương tôi luôn chấp hành mọi quy định của địa phương vànơi thực hiện đề tài
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Sinh viên
Ngọ Thị Phương
Trang 2và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện khóa luận này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Thầy giáo Trần Thế Cường,người đã dành thời gian, tâm huyết và luôn tận tình hướng dẫn chỉ bảo tôitrong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Chủ tịch UBND phường Võ Cườngcùng toàn thể các cán bộ tại UBND phường Võ Cường, và các hộ gia đình tạiphường Võ Cường, đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo, tạo điều kiện thuận lợi chotôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thiện tốt khóa luận tốt nghiệp
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè đã luônđộng viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoànthiện khóa luận tốt nghiệp
Trong quá trình làm nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thànhkhóa luận đã tham khảo nhiều tài liệu và đã trao đổi, tiếp thu ý kiến của thầy
cô và bạn bè Song do điều kiện về thời gian và trình độ nghiên cứu của bảnthân còn nhiều hạn chế nên nghiên cứu khó tránh khỏi những thiếu sót Vìvậy, tôi mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của các thầy cô và cácbạn để khóa luận tốt nghiệp được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Sinh viên
Ngọ Thị Phương
Trang 3TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Ăn uống là nhu cầu hàng ngày, nhu cầu cấp bách, bức thiết của con người.Tuy nhiên hiện nay tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm đang là vấn đề nhứcnhối trong xã hội Ở nước ta vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm trong cả nướcnói chung trong thời gian qua tạo nhiều lo lắng cho người dân Đặc biệt lànhững thực phẩm thường xuyên có trong các bữa ăn như thịt lợn đã và đangđược người tiêu dùng và các cơ quan chức năng hết sức quan tâm đến vấn đề
vệ sinh an toàn thực phẩm Vậy làm thế nào để có được thịt lợn đảm bảo tiêuchuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm là vấn đề đang được cơ quan chức năng nóichung và phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh nói riêng quan tâm nghiêncứu cách khắc phục Tuy nhiên để đảm bảo được sức khỏe và vệ sinh cho giađình mình thì trước hết trong tình hiện nay vấn đề nhận thức, thái độ và hành
vi của người tiêu dùng về việc tiêu dùng thực phẩm đảm bảo vệ sinh an toànthực phẩm mang tính cấp thiết hơn bao giờ hết Từ thực trạng đó, cùng với sựgiúp đỡ của Thầy giáo hướng dẫn Trần Thế Cường tôi xin nghiên cứu đề tài:
“Nhận thức, thái độ và hành vi của các hộ gia đình về vệ sinh an toàn thựcphẩm trong tiêu dùng thịt lợn trên địa bàn phường Võ Cường, thành phố BắcNinh, tỉnh Bắc Ninh” Với mục tiêu chung là trên cơ sở tìm hiểu nhận thức,thái độ và hành vi của người tiêu dùng thịt lợn về vệ sinh an toàn thực phẩm,phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức, thái độ và hành vi của các hộgia đình đối với vệ sinh an toàn thực phẩm trong tiêu dùng thịt lợn và đề xuấtmột số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về vấn đề nàytrên địa bàn phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tập trung nghiên cứu nhận thức, thái độ vàhành vi của các hộ gia đình về vệ sinh an toàn thực phẩm trong tiêu dùng thịtlợn Đề tài nghiên cứu trực tiếp các hộ gia đình tiêu dùng thịt lợn trên đại bànphường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Trang 4Để hiểu rõ hơn về vấn đề nghiên cứu, tôi đã đưa ra cơ sở lý luận và cơ sở thựctiễn của đề tài Phần cơ sở lý luận tôi nêu lên các lý luận về nhận thức, thái
độ, hành vi trong vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm nói chung và vấn đề vệsinh an toàn thực phẩm đối với thịt lợn nói riêng Phần cơ sở thực tiễn là tìnhhình vệ sinh an toàn thực phẩm trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nóiriêng Bên cạnh đó, tôi cũng chỉ ra một vài nghiên cứu của một số tác giả đãtừng nghiên cứu các vấn đề liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm trongtiêu dùng thịt lợn đã từng có trước đây để rút ra được những ưu, nhược điểm
tả và phương pháp so sánh để phân tích, dùng máy tính bỏ túi và excel để xử
lý số liệu Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu bao gồm: Nhóm chỉ tiêu về ngườiđược phỏng vấn, nhóm chỉ tiêu đánh giá về tính đa dạng khẩu phần ăn của hộ,nhóm chỉ tiêu phản ánh tính sẵn có, khả năng tiếp cận và thay thế sản phẩmthịt lợn, địa điểm bán thịt, khoảng cách đến địa điểm bán thịt, nhóm chỉ tiêuphản ánh cách ứng xử khi mua và quyết định mua của người tiêu dùng thịtlợn, nhóm chỉ tiêu phản ánh việc mua và xử lý thịt lợn
Ở phần kết quả nghiên cứu tôi đã nghiên cứu về đặc điểm của người tiêu dùngthịt lợn trên địa bàn phường Võ Cường, nghiên cứu về sự khác nhau về nhậnthức, thái độ, hành vi, ứng xử của người tiêu dùng giữa các nhóm có trình độhọc vấn và thu nhập khác nhau Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức, thái độ
và hành vi tiêu dùng thịt lợn an toàn của các hộ gia đình Từ đó đưa ra cácgiải pháp để nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về vệ sinh an toàn thựcphẩm trên địa bàn phường Võ Cường
Trang 5Cuối cùng là kết luận về nhận thức, thái độ và hành vi của các hộ gia đình vềtiêu dùng thịt lợn đảm bảo an toàn vệ sinh trên địa bàn phường Võ Cường vàkiến nghị để nâng cao nhận thức của người tiêu dùng trên địa bàn phường VõCường nói riêng và trên cả nước nói chung.
Trang 6PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Thịt lợn là một trong những thực phẩm không thể thiếu trong cuộc sốnghàng ngày của mọi người Thịt lợn là loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao,cung cấp vitamin B tổng hợp nhiều hơn các loại thịt khác Đồng thời thịt lợncũng rất giàu kẽm, phốt pho và là nguyên liệu để chế biến các món ăn chínhtrong tất cả các gia đình Việt Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thu nhậpđầu người ngày càng tăng lên, nhu cầu về tiêu dùng thịt lợn cũng đã có những
sự thay đổi, lượng thịt lợn tiêu thụ đã và đang tăng lên qua các năm
Hiện nay, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đang được đặc biệt quantâm Trong những năm gần đây, tình trạng ngộ độc thực phẩm dưới nhiềuhình thức ngày càng gia tăng ở nhiều nước càng làm cho nhiều người lo ngại
Ở Việt Nam, những năm gần đây ngộ độc thực phẩm cũng thường xuyên xảy
ra Theo báo cáo của Cục an toàn thực phẩm năm 2014 toàn quốc ghi nhận
189 vụ ngộ độc thực phẩm với hơn 5.100 người mắc, 4.100 người đi viện và
43 trường hợp tử vong So với năm 2013 thì số người mắc và đi viện đã giảmnhưng số vụ tăng hơn 13%, đặc biệt số người tử vong tăng gần 15% Trướctình hình đó, thực trạng thịt lợn mất vệ sinh an toàn thực phẩm đang trở thànhmột vấn đề đáng lo ngại Do việc sử dụng thức ăn tăng trọng quá mức, việc sửdụng thuốc thú y không đúng cách, việc sử dụng thức ăn chăn nuôi côngnghiệp không đủ chất lượng vệ sinh an toàn, nguồn nước chăn nuôi không đủtiêu chuẩn, quá trình giết mổ không đảm bảo vệ sinh, việc vận chuyển, bảoquản, bày bán không đúng quy định ảnh hưởng đến chất lượng thịt lợn và ảnhhưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân
Thịt lợn là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao đối với ngườitiêu dùng nhưng cũng là nơi rất thích hợp cho sự phát triển của vi sinh vật,nhất là nấm và vi khuẩn Từ rất nhiều vụ việc liên quan đến việc thực phẩmnói chung và thịt lợn nói riêng không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm gần
Trang 7đây đã gây hoang mang cho người tiêu dùng, đánh lên một hồi chuông cảnhbáo về những mối nguy về thực phẩm xung quanh chúng ta Những vụ việc
đó đã được sự chú ý, quan tâm của nhiều người làm ảnh hưởng đến nhậnthức, thái độ, hành vi tiêu dùng thịt lợn của người tiêu dùng Rất nhiều ngườitiêu dùng đã tìm hiểu và biết chọn lựa tiêu dùng thịt lợn có nguồn gốc rõ ràng,đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm Hiện tại vẫn chưa có nhiều nghiên cứu vềnhận thức, thái độ, hành vi của các hộ gia đình đối với vệ sinh an toàn thựcphẩm trong tiêu dùng thịt lợn Vì vậy em đã chọn đề tài “Nhận thức, thái độ
và hành vi của các hộ gia đình đối với vệ sinh an toàn thực phẩm trong tiêudùng thịt lợn tại phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh” để hiểu rõ hơn vềviệc tiêu dùng thịt lợn đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm tại địa phương
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở tìm hiểu nhận thức, thái độ và hành vi của người tiêu dùngthịt lợn về vệ sinh an toàn thực phẩm, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đếnnhận thức, thái độ và hành vi của các hộ gia đình đối với vệ sinh an toàn thựcphẩm trong tiêu dùng thịt lợn và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng caonhận thức của người tiêu dùng về vấn đề này trên địa bàn phường Võ Cường,thành phố Bắc Ninh
Trang 8- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao nhận thức của hộ gia đìnhtiêu dùng thịt lợn về vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Đề xuất các giải pháp để thịt lợn đảm bảo an toàn vệ sinh đượccung cấp ra thị trường và giải pháp để các hộ gia đình tiêu dùng thịt lợn đảmbảo an toàn vệ sinh
1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Hộ gia đình tiêu dùng nhìn nhận, đánh giá như thế nào về thựctrạng thịt lợn trên thị trường hiện nay?
- Như thế nào được coi là thịt lợn đảm bảo vệ sinh an toàn thựcphẩm?
- Hộ gia đình tiêu dùng thịt lợn có phản ứng như thế nào để đảmbảo vệ sinh an toàn thực phẩm?
- Làm thế nào để các hộ gia đình tiêu dùng thịt lợn hiểu rõ và cónhững giải pháp hiệu quả đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm?
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu nhận thức, thái độ và hành vi của các hộ giađình về vệ sinh an toàn thực phẩm trong tiêu dùng thịt lợn
Đề tài nghiên cứu trực tiếp các hộ gia đình tiêu dùng thịt lợn trên đạibàn phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung phân tích và giải quyếtnhững vấn đề về nhận thức, thái độ và hành vi của các hộ gia đình đối với vệsinh an toàn thực phẩm trong tiêu dùng thịt lợn tại phường Võ Cường, thànhphố Bắc Ninh
- Phạm vi về không gian: Đề tài được nghiên cứu thực hiện trênđịa bàn phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh
Trang 9- Phạm vi về thời gian: Số liệu sơ cấp được thu thập qua phỏngvấn từ tháng 7 đến tháng 8 năm 2015.
Trang 10PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Thực phẩm là những sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi, sống hoặc
đã qua chế biến, bảo quản (Nguyễn Văn An, 2003)
Thực phẩm còn được hiểu là tất cả các chất đã hoặc chưa chế biến nhằm sử dụng cho con người bao gồm đồ ăn uống, nhai, ngậm, hút và các chất được sửdụng để sản xuất, chế biến hoặc xử lý thực phẩm, nhưng không bao gồm mỹ phẩm và những chất được dùng như dược phẩm
Vệ sinh thực phẩm là một khái niệm khoa học để chỉ thực phẩm không chứa
vi sinh vật gây bệnh và không chứa độc tố Cũng có thể hiểu vệ sinh thực phẩm là mọi điều kiện và biện pháp cần thiết để đảm bảo sự phù hợp của thựcphẩm ở mọi khâu thuộc chu trình thực phẩm An toàn thực phẩm là khả năng không gây ngộ độc của thực phẩm đối với con người (Thùy Nguyên, 2012)
Vệ sinh an toàn thực phẩm hay an toàn thực phẩm hiểu theo nghĩa hẹp là một môn khoa học dùng để mô tả việc xử lý, chế biến, bảo quản và lưu trữ thực phẩm bằng những phương pháp phòng ngừa, phòng chống bệnh tật do thực phẩm gây ra Vệ sinh an toàn thực phẩm cũng bao gồm một số thói quen, thaotác trong khâu chế biển cần được thực hiện để tránh các nguy cơ sức khỏe tiềm năng nghiêm trọng Hiểu theo nghĩa rộng, vệ sinh an toàn thực phẩm là toàn bộ những vấn đề cần xử lý liên quan đến việc đảm bảo vệ sinh thực phẩm nhằm đảm bảo cho sức khỏe của người tiêu dùng (Bách khoa toàn thư Wikipedia, 2012)
Theo khoản 2 điều 3 Pháp lệnh về vệ sinh an toàn thực phẩm 2003, VSATTP
là các điều kiện cần thiết để đảm bảo thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng con người, theo đó vấn đề VSATTP được đặt ra trong tất cả các khâu của chuỗi hình thành thực phẩm “từ nông trại đến bàn ăn”, từ quá trình sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển, lưu thông trên thị trường và cuối cùng là xử lý hậu quả ngộ độc thực phẩm
VSATTP còn được hiểu là việc đảm bảo thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người sử dụng, bảo đảm thực phẩm không bị hỏng, không chứa các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hoặc tạp chất quá giới hạn cho phép, không là sản phẩm của động vật, thực vật bị bệnh có thể gây hại cho sức khỏe con người (HunglamRice Today, 2013)
Hộ gia đình (hay còn gọi đơn giản là hộ) là một đơn vị xã hội bao gồm một hay một nhóm người ở chung (cùng chung hộ khẩu) và ăn chung Hộ gia đìnhkhông đồng nhất với khái niệm gia đình, những người trong hộ gia đình có
Trang 11thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhân hoặc cảhai.
Tiêu dùng là những hành động sử dụng sản phẩm, dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu và là hoạt động tất yếu của con người Nhu cầu của con người muốn đượcthỏa mãn không chỉ bao gồm nhu cầu vật chất mà còn cả những nhu cầu tinh thần (Vũ Huy Thông, 2010)
+ Có nhiều ảnh hưởng quan trọng lên quá trình ra quyết định của người tiêu dùng Có 2 ảnh hưởng đặc biệt là: tâm lý xã hội và thái độ Tâm lý xã hội giải quyết những ảnh hưởng bên ngoài và thái độ giải quyết những ảnh hưởng bên trong
+ Các ảnh hưởng tâm lý xã hội được con người học hỏi và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong bối cảnh xã hội rộng lớn thông qua các nền văn hóa và cơ chế hoạt động là nhóm tham khảo Nhóm tham khảo là một nhóm người có những tiêu chuẩn, giá trị và hành vi của họ có ảnh hưởng lên hành vicủa người khác
+ Những ảnh hưởng gia đình lên hành vi người tiêu dùng xuất phát từ 3
nguồn:
Tính xã hội hóa của người tiêu dùng là quá trình mà con người có được những
kỹ năng, kiến thức, và thái độ cần thiết để thực hiện chức năng là người công dân và là người tiêu dùng
Phong cách sống gia đình bao gồm những hành vi có liên quan tới các giai đoạn phát triển khác nhau của một gia đình
Những ảnh hưởng ra quyết định của gia đình được chia thành 2 dạng:
chồng/vợ có ảnh hưởng chi phối; ra quyết định chung của chồng và vợ
5 vai trò của các thành viên gia đình trong quá trình mua: Tập hợp thông tin; Người ảnh hưởng; Người ra quyết định; Người mua; Người sử dụng
2.1.2 Lý luận về nhận thức
Khái niệm về nhận thức
Theo quan điểm triết học Mác – Lê nin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn (Nguyễn Ngọc Long vàNguyễn Hữu Vui, 2010)
Theo một nhà tâm lý học người Đức: Nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan trong ý thức của con người Nhận thức bao gồm: Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau và cơ sởmục đích và tiêu chuẩn của nhận thức là thực tiễn xã hội (Từ điển Triết học, 1986)
Trang 12Theo cuốn “Giải thích thuật ngữ Tâm lý – Giáo dục học”: Nhận thức là toàn
bộ những quy trình mà nhờ đó những đầu vào cảm xúc được chuyển hóa, được mã hóa, được lưu trữ và sử dụng (Nguyễn Văn Tường, 2010)
Nhận thức là một quá trình phức tạp, nó được bắt đầu từ việc xem xét hiện tượng một cách trực tiếp, tích cực, sáng tạo và dựa trên cơ sở thực tiễn Theo
đó, nhận thức không phải là một quá trình thuần túy trừu tượng hay thuần túy
cụ thể Nó là sự phản ánh vào ý thức những hoạt động thực tiễn của con người, dưới dạng ý niệm và biểu tượng Vượt ra ngoài giới hạn của hoạt động thực tiễn sẽ không có quá trình nhận thức
Nhận thức là quá trình một cá nhân lựa chọn, tổ chức và diễn giải thông tin nhận được để tạo ra một bức tranh có ý nghĩa về thế giới Nhận thức có chọn lọc quan trọng bởi vì con người nhận thức có chọn lọc điều họ muốn và ảnh hưởng theo cách mà con người xét đến rủi ro trong việc mua như thế nào.Nhận thức có chọn lọc là kết quả của nhiều quá trình nhận thức, đã được mô
tả bởi nhiều lý thuyết khác nhau Con người muốn duy trì tính thống nhất giữaniềm tin và thực tế, thậm chí khi nó xung đột với thực tế Sự chọn lọc này có tính cá nhân và có những mức độ khác nhau tùy thuộc vào việc con người cầnbao nhiêu niềm tin và cần phải làm gì khi không chắc chắn về nó
Đặc điểm của nhận thức
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng: Nhận thức của con người
có các đặc điểm sau: nhận thức là quá trình tư duy con người đi từ cái riêng đến cái chung, từ hiện tượng đến bản chất
Nhận thức phải đi từ cái cá biệt đến cái phổ biến, từ cái riêng đến cái chung,
từ hiện tượng đến bản chất Bởi vì có như vậy con người mới đạt được tới sự hiểu biết đúng đắn, đầy đủ, chính xác về bản chất và quy luật của các sự vật hiện tượng cũng như của thế giới khách quan nói chung Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép duy vật biện chứng cũng cho thấy, trong thế giới, các sự vật, hiện tượng không phải tồn tại biệt lập với nhau, mà trong mối liên
hệ và tác động qua lại lẫn nhau, cái cá biệt chính là một bộ phận của cái phổ biến và ngược lại, cái phổ biến tự thể hiện mình thông qua các cá biệt Chẳng hạn, không thể hiểu được bản chất của một cá nhân nếu không tìm hiểu bản chất của những cá nhân khác, cũng như mối quan hệ của nó đối với cộng đồng (Nguyễn Ngọc Long và Nguyễn Hữu Vui, 2010)
Quá trình tư duy đi từ cái riêng đến cái chung, từ hiện tượng đến bản chất giúp con người có thể rút ra những đặc tính chung của một lớp sự vật, hiện tượng qua đó đúc kết thành các khái niệm, phạm trù Đi từ trừu tượng đến cụ thể là cách cải biến về mặt lý luận khoa học những tư liệu của trực quan thành
Trang 13những khái niệm, phạm trù và là phương pháp vận động của tư duy đi từ một hiện tượng thực tế đã được ghi lại trong biểu tượng hết sức trừu tượng đến cụ thể chính là yêu cầu logic của biện chứng Theo nguyên tắc này thì nhận thức phải bắt đầu cái cụ thể cảm tính, từ các đặc tính hay khái niệm trừu tượng hayphản ánh những mặt, những quan hệ chung đơn giản nhất của khách thể nhận thức rồi từ đó đi đến cái cụ thể trong tư duy, tức là những khái niệm, phạm trùchung nhất (Nguyễn Ngọc Long và Nguyễn Hữu Vui, 2010).
Quá trình nhận thức là quá trình tìm hiểu nghiêm túc và có tính chọn lọc + Nhận thức là cách hiểu về thông tin nhận được qua giác quan Thông tin nhận được từ giác quan thực sự được xử lý bằng ý nghĩ, tình cảm gọi là tác nhân cơ thể
+ Thông tin được hiểu cơ bản nhất là nhận thức, gọi là tác nhân ngoại biên.+ Cách hiểu nhận thức phức tạp hơn, gọi là thuộc tính Là những cách hiểu, những mong đợi,… ở thứ bậc cao hơn mà chúng ta đã học được để liên tưởng với nhận thức
Nhận thức không thể thay đổi, đó là những nhận thức đã qua học hỏi và đã trởnên bắt buộc và tự động Đây là cơ sở cho sự hình thành nhận thức Nhiều thứtrong môi trường của chúng ta có thể biến đi Vì vậy, rất nguy hiểm nếu mất thời gian để đánh giá nhận thức, mọi thứ xâm nhập vào nhận thức trước khi con người kịp phản ứng lại Những nhận thức có liên hệ với vấn đề sống còn được hình thành trước tiên và nhanh nhất Nhưng cuối cùng tất cả nhận thức đều trở nên không thể thay đổi khi chúng ta trải qua những sự kiện có tính lặplại và phản ứng một cách có ý thức với những sự kiện đó theo thời gian
+ Bắt buộc nghĩa là chúng ta không thể ngăn cản nhận thức khi sự việc xảy
sự chú ý có chọn lọc; sự bóp méo có chọn lựa; sự ghi nhớ chọn lọc
+ Sự chú ý có chọn lọc nghĩa là con người không quan tâm hoặc không xử lý thông tin xảy ra ở lần đầu tiên, không có sự xung đột nào với niềm tin hoặc thói quen/ thực tế
+ Sự bóp méo có chọn lựa nghĩa là diễn giải những thông tin khác nhau theo cách bắt nó phải phù hợp với niềm tin và thực tế của chúng ta bất kể phải bóp méo/ xuyên tạc bao nhiêu đi nữa
Trang 14+ Ghi nhớ có chọn lọc nghĩa là chỉ nhớ những phần thông tin mà nó phù hợp với niềm tin và thực tế của chúng ta, những cái còn lại thì quên đi.
+ Có nhiều yếu tố làm gia tăng tính chọn lọc mà chúng ta dùng đối với những thông tin trái ngược nhau, nhưng nên hiểu rằng không có sự chọn lọc nào là
có ý thức Tất cả xảy ra đều không có sự nhận thức của chúng ta về sự tồn tại của nó
i Hướng xã hội – một niềm tin/ quyết định/ mua sắm/ hành động trái ngược càng nhiều với những niềm tin/ quyết định/ mua sắm/ hành động khác thì tính chọn lọc càng lớn
ii Khác biệt về chức năng – sự khác nhau về kết quả càng lớn
iii Những cơ hội bỏ đi – càng có nhiều chọn lựa có thể chọn được và càng hấp dẫn thì khả năng có tính chọn lọc càng lớn
iv Lời cam kết cá nhân – lời cam kết đối với quyết định/ hành động/ niềm tin khác nhau càng lớn thì tính chọn lọc càng lớn Người tiêu dùng có khuynh hướng điều chỉnh sự đầu tư thời gian, nỗ lực, và tiền bạc vào những quyết định của họ
v Sự phù hợp có tính cá nhân – con người nhận biết quyết định/ hành động/ niềm tin và cảm xúc khác nhau càng lớn thì xu hướng chọn lọc càng lớn
Vai trò của nhận thức:
Nhận thức có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống và hoạt động của con người Nhận thức là thành phần không thể thiếu trong sự phát triển của con người
Nhận thức là cơ sở để con người nhận biết thế giới và hiểu biết thế giới đó, từ
đó con người có thể tác động vào thế giới đó một cách phù hợp nhất, để đem lại hiệu quả cao cho con người
Trong quá trình phát triển của một cá thể con người, từ khi sinh ra là một đứa trẻ, nếu không nhận biết được thế giới khách quan thì đứa trẻ đó sẽ không có hiểu biết và không có nhận thức
Nhờ có nhận thức mà con người mới có thể cải tạo được thế giới xung quanh
và cao hơn nữa là con người có thể cải tạo được chính mình, phục vụ được cho nhu cầu của chính mình
Nhận thức về vấn đề VSATTP liên quan đến thịt lợn
Dựa trên quan điểm phân loại nhận thức của Benjamin Samuel Bloom (1956)
và lý luận về VSATTP có thể chia nhận thức về VSATTP liên quan đến thịt lợn thành 4 nhóm khác nhau:
Trang 15Nhóm biết về VSATTP thịt lợn gồm những người biết lựa chọn sản phẩm thịt lợn khi mua, biết được dấu hiệu của thịt ôi, thịt không ngon và biết cách chế biến, bảo quản thịt đảm bảo vệ sinh.
Nhóm hiểu về VSATTP thịt lợn gồm những người biết lựa chọn sản phẩm thịtlợn đảm bảo vệ sinh khi mua, biết phân biệt được thịt như thế nào là thịt lợn nhiễm bệnh và biết cách phòng chống để đảm bảo VSATTP
Nhóm biết vận dụng về VSATTP thịt lợn: đối với nhóm này, ngoài việc hiểu
rõ về kiến thức VSATTP còn hiểu biết các kiến thức cũng như kỹ năng để xácđịnh được thịt lợn đảm bảo VSATTP và vận dụng vào thực tế
Nhóm phân tích, đánh giá, sáng tạo: nhóm này chủ yếu là những nhà khoa học, những người hiểu biết và nghiên cứu chuyên sâu về VSATTP
2.1.3 Lý luận về thái độ
Khái niệm về thái độ
Theo từ điển tiếng Việt: Thái độ được định nghĩa là cách nhìn nhận, hành động của cá nhân về một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình hướng cần giải quyết Đó là tổng thể những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm của cá nhân đối với con người hay một sự vật, hiện tượng nào đó
Trong từ điển Anh - Việt: Thái độ được viết là “Attitude” và được định nghĩa
là cách ứng xử, quan điểm của một cá nhân”
Còn trong từ điển các thuật ngữ Tâm lý và Phân tâm học xuất bản tại New York năm 1996 thì lại cho rằng: Thái độ là một trạng thái ổn định bền vững,
do tiếp thu được từ bên ngoài, hướng vào sự ứng xử một cách nhất quán đối với một nhóm đối tượng nhất định, không phải như bản thân chúng ra sao mà chúng được nhận thức ra sao Một thái độ được nhận biết ở sự nhất quán của những phản ứng đối với một nhóm đối tượng Trạng thái sẵn sàng có ảnh hưởng trực tiếp lên cảm xúc và hành động có liên quan đến đối tượng
Định nghĩa của Uznatze (1940) cho rằng: Thái độ không phải là một nội dungcục bộ của ý thức, không phải cái nội dung tâm lý tách dời, đối lập với các trạng thái tâm lý khác của ý thức và ở trong mối liên hệ với nó, mà là một trạng thái toàn vẹn, xác định chủ thể Yếu tố khuynh hướng năng động của nó
là một yếu tố toàn vẹn theo một hướng nhất định, nhằm một tính năng động nhất định Đó là sự phản ứng cơ bản đầu tiên với tác động của tình huống trong đó chủ thể phải đặt ra và giải quyết nhiệm vụ
Tóm lại, thái độ được hiểu là một bộ phận hợp thành, một thuộc tính trọn vẹn của ý thức, quy định tính sẵn sàng hành động của con người đối với đối tượngtheo một hướng nhất định, được bộc lộ ra bên ngoài thông qua hành vi, cử chỉ, nét mặt và lời nói của người đó trong những tình huống, điều kiện cụ thể
Trang 16 Đặc điểm của thái độ
Không phải tất cả các thái độ đều giống nhau về mặt cấu trúc hệ thống Chúngkhác nhau theo một số đặc tính nhất định Các nhà nghiên cứu đưa ra các đặc tính nhưng những đặc tính dưới đây có lẽ là quan trọng nhất:
+ Trị số (tính phân cực): như ta thấy có thể là tích cực hoặc tiêu cực, ủng hộ hoặc phản đối, tức là chiều (+) hay (-)
+ Mức độ: ủng hộ nhiều hay ít, có khi chúng ta cùng ủng hộ hai đối tượng khác nhau nhưng ủng hộ này theo mức độ khác nhau
+ Cường độ: mạnh hay yếu
+ Tính ổn định: thời gian tồn tại của thái độ, mối liên hệ nhận thức, xúc cảm
và hành vi
Thái độ là khuynh hướng học hỏi để phản ứng lại theo cách nào đó với đối tượng Thái độ có 2 thành phần đó là niềm tin và đánh giá Niềm tin là điều chúng ta thực sự nghĩ là đúng về một sản phẩm và các đặc tính của sản phẩm
đó Đánh giá là những giá trị tán thành hay phản đối và tầm quan trọng tương đối của những đặc tính đó
Mô hình Elaboration Likelihood (ELM) hình thành thái độ
+ Tiền đề cơ bản: càng nghĩ nhiều về một vấn đề thì ý tưởng của chúng ta càng chắc chắn
+ Chuẩn bị kỹ: thu thập thông tin mới cùng với những hiểu biết hiện có
+ Mô hình ELM cho rằng tính thuyết phục xảy ra ở một trong 2 tình huống:
Hướng nội (xử lý nội tâm hoặc suy nghĩ) Xảy ra khi người ta được thúc đẩy
để xử lý và có thể xử lý Xử lý nội tâm dựa vào lý lẽ Người tiêu dùng thường tập trung vào chất lượng hợp lý và tính rõ rang trong quảng cáo Nếu nhận thức được chấp nhận và nhớ thì thái đọ có khuynh hướng rõ ràng và chắc chắn
Hướng ngoại (xử lý bên ngoài hoặc tình cảm) Xảy ra khi người tiêu dùng không thể hoặc không bị thúc đẩy xử lý thông tin quảng cáo Người tiêu dùng không dành khả năng nhận thức để xử lý thông tin quảng cáo Xử lý hướng ngoại không dựa vào lý lẽ để hình thành ý tưởng mà dùng yếu tố khác: yếu tố thực hiện (cảm thấy quảng cáo lôi cuốn, hấp dẫn hoặc là không); ảnh hưởng của bối cảnh (trạng thái của người tiêu dùng) Thái độ được hình thành bằng
xử lý hướng ngoại thì yếu hơn và dễ thay đổi hơn
Thái độ có thể trở nên xấu đi theo 2 hướng và khi được hình thành qua quá trình lặp lại thì thái độ không thể thay đổi được
Vai trò của thái độ
Trang 17Trong tình huống có xung đột nội tâm (giữa các suy nghĩ, niềm tin, có khi là giữa các thái độ và hành vi) con người thường tìm cách bào chữa, tìm lý do, thậm chí tìm một người nào đó chịu trách nhiệm thay mình hoặc hợp lý hóa hành vi của mình Quá trình này thay đổi tương ứng Thái độ mới sẽ giúp cho con người giảm bớt “bất đồng nội tâm”.
Thái độ sẽ giúp các cá nhân tiết kiệm sức lực, năng lực thần kinh cơ bắp tronghoạt động nhờ các khuôn mẫu hành vi quen thuộc đã được hình thành
Thái độ sẽ làm cho các nhân thể hiện giá trị bản thân: Thông qua sự đánh giá một cách có chọn lọc về đối tượng qua biểu lộ cảm xúc, hành động cũng như sẵn sàng hành động cá nhân thể hiện giá trị nhân cách của mình
Thái độ về vấn đề VSATTP liên quan đến thịt lợn
Trong đề tài nghiên cứu thái độ của các hộ gia đình đến tiêu dùng thịt lợn đảmbảo VSATTP: Ứng xử của người tiêu dùng trước những biến đổi của thị trường cũng như bản thân trong việc tiêu dùng thịt lợn như: thu nhập thay đổi,giá cả thay đổi…
Thái độ của người tiêu dùng đối với thịt lợn sạch, thịt lợn theo tiêu chuẩn VietGaHP? Người tiêu dùng có muốn tiêu dùng nhiều thịt lợn trong thời gian tới hay không? Có nhận thấy được sự cần thiết của việc đảm bảo VSATTP hay không?
Thái độ của người tiêu dùng khi mua phải thịt lợn không đảm bảo VSATTP Thái độ của người tiêu dùng đối với các chính sách về VSATTP của Nhà nước và những kiến nghị của người tiêu dùng…
2.1.4 Lý luận về hành vi tiêu dùng
Khái niệm về hành vi tiêu dùng
Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ: Hành vi tiêu dùng chính là sự tác động qualại giữa các yếu tố kích thích của môi trường với nhận thức và hành vi của con người mà qua sự tương tác đó, con người thay đổi cuộc sống của họ Hay nói cách khác, hành vi tiêu dùng bao gồm những suy nghĩ và cảm nhận mà con người có được và những hành động mà họ thực hiện trong quá trình tiêu dùng Những ý kiến từ những người tiêu dùng khác, quảng cáo, thông tin về giá cả, chất lượng… đều có thể tác động đến cảm nhận, suy nghĩ và hành vi của người tiêu dùng
Theo Philip Kotler (năm 1967): Hành vi tiêu dùng là những hành vi cụ thể của một cá nhân khi thực hiện các quyết định mua sắm, sử dụng và vứt bỏ sảnphẩm hay dịch vụ
Hành vi tiêu dùng là một tiến trình cho phép một cá nhân hay một nhóm người lựa chọn, mua sắm, sử dụng hoặc loại bỏ một sản phẩm/dịch vụ, những
Trang 18suy nghĩ đã có kinh nghiệm hay tích lũy, nhằm thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn của họ (Solmon Micheal, 1992).
Hành vi tiêu dùng là toàn bộ những hoạt động liên quan trực tiếp tới quá trình tìm kiếm, thu thập, mua sắm, sở hữu, sử dụng, loại bỏ sản phẩm/dịch vụ Nó bao gồm cả những quá trình ra quyết định diễn ra trước, trong và sau các hànhđộng đó (James F.Engel, Roger D.Blackwell, Paul W.Miniard, 1993)
Đặc điểm của hành vi tiêu dùng
Hành vi tiêu dùng chịu ảnh hưởng bởi 4 yếu tố chủ yếu: văn hóa, xã hội, cá nhân và tâm lý Tất cả những yếu tố này đều cho ta những căn cứ để biết cáchtiếp cận và phục vụ người tiêu dùng một cách hiệu quả hơn
+ Văn hóa: Văn hóa; Nhánh văn hóa; Tầng lớp xã hội
+ Xã hội: Nhóm tham khảo cá nhân; Gia đình; Vai trò và địa vị
+ Cá nhân: Tuổi và giai đoạn sống của chu kỳ sống; Nghề nghiệp; Hoàn cảnh kinh tế; Lối sống; Nhân cách và tự ý thức
+ Tâm lý: Động cơ; Nhận thức; Hiểu biết; Niềm tin và thái độ
Mô hình nghiên cứu hành vi người tiêu dùng phải bao quát được 3 yếu tố:+ Thứ nhất: Sự cảm thụ và nhận thức
+ Thứ hai: Hành vi
+ Thứ ba: Môi trường và mối quan hệ có tính tương hỗ của các yếu tố đó.Các dạng hành vi tiêu dùng:
+ Hành vi mua phức tạp: Người tiêu dùng thực hiện hành vi mua phức tạp khi
có nhiều người cũng tham dự vào tiến trình ra quyết định mua và họ nhận thức rõ ràng sự khác biệt giữa các nhãn hiệu Hành vi này thường xảy ra khi sản phẩm được cân nhắc mua là sản phẩm đắt tiền, nhiều rủi ro trong tiêu dùng và có giá trị tự thể hiện cao cho người sử dụng
+ Hành vi mua thỏa hiệp: Hành vi mua này xảy ra đối với những sản phẩm đắt tiền, nhiều rủi ro và mua không thường xuyên, nhưng lại không có sự khác biệt giữa các nhãn hiệu trên thị trường
+ Hành vi mua theo thói quen: Xảy ra khi sản phẩm được cân nhắc mua là sảnphẩm có giá trị thấp, tiêu dùng hàng ngày và có sự khác biệt giữa các nhãn hiệu bày bán trên thị trường là rất thấp Khi có nhu cầu người tiêu dùng chỉ cần ra cửa hàng và lựa chọn
+ Hành vi mua nhiều lựa chọn: Người tiêu dùng thực hiện hành vi mua này khi họ mua những sản phẩm, dịch vụ có giá trị thấp, tiêu dùng hàng ngày những nhãn hiệu có nhiều sự khác biệt
Tiến trình ra quyết định mua: Nhận ra nhu cầu -> Tìm kiếm thông tin -> Xem xét các lựa chọn -> Quyết định mua -> Hành vi sau mua
Trang 19 Vai trò của hành vi tiêu dùng
Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh cần phải nghiên cứu về hành vi người tiêu dùng để lựa chọn phân khúc thị trường trước khi quyết định kinh doanh một sản phẩm nào đó Khi muốn mở rộng quy mô hoạt động từ khu vực này sang khu vực khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác thì sự thành công hay thất bại của họ phụ thuộc vào mức độ chấp nhận của người bản địa Để vượt rào cản này đòi hỏi nhà sản xuất và người kinh doanh phải nắm vững những hành vi, thói quen của người tiêu dùng và các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng của họ
Hành vi tiêu dùng của hộ gia đình
- Các chức năng của hộ gia đình:
+ Đảm bảo kinh tế gia đình
+ Cổ vũ cề tình cảm cho các thành viên
+ Lối sống thích hợp
+ Xã hội hóa các thành viên trong gia đình
- Hộ gia đình trên thị trường:
+ Nhu cầu và chi tiêu của hộ gia đình thay đổi theo: Số người, tuổi tác, hai hay nhiều nguồn thu nhập hơn; Có con cái và người phụ nữ có đi làm hay không đi làm
+ Chu kì sống của gia đình thay đổi theo nhu cầu và chi tiêu Có sự thay đổi
về thứ tự ưu tiên theo thời gian Ví dụ: hộ độc thân, hộ có trẻ em, hộ có người già…
+ Các thành viên trong hộ gia đình là nhóm tham khảo quan trọng có ảnh hưởng lớn nhất
Hành vi tiêu dùng về vấn đề VSATTP liên quan đến thịt lợn
Loại thịt nào được các hộ gia đình sử dụng nhiều nhất? Mua thịt lợn ở địa điểm nào thường xuyên nhất? Người tiêu dùng có quan tâm đến vấn đề
VSATTP hay không? Người tiêu dùng có xu hướng tiêu dùng thịt lợn theo tiêu chuẩn VietGAHP hay không? Thường sử dụng những loại thực phẩm nào
để thay thế? Các tiêu chí chọn thịt và chọn cửa hàng bán thịt như thế nào?
2.1.5 Mối quan hệ giữa vệ sinh và an toàn thực phẩm
- Vệ sinh là tổng hợp các điều kiện nhằm đảm bảo các yếu tố về an toàn thực phẩm
- Vệ sinh và an toàn thực phẩm có quan hệ chặt chẽ với nhau bởi chúng ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của con người Nếu thực phẩm không được vệ sinh sạch sẽ, an toàn khi con người sử dụng sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe
Vệ sinh là nền tảng để thực phẩm được an toàn
Trang 20- Mối quan hệ giữa vệ sinh và an toàn thực phẩm luôn có sự tác động theo 2 chiều là tích cực hoặc tiêu cực:
+ Theo chiều tích cực: Nếu tất cả các sản phẩm đều được vệ sinh sạch sẽ và
an toàn trước khi được đưa vào sử dụng thì nó sẽ tạo cho con người có sức khỏe tốt, ít bệnh tật và đảm bảo vệ sinh VSATTP không những làm giảm bệnh tật, tăng cường sức lao động mà còn nâng cao sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và thể hiện nếp sống văn hóa của nước đó
+ Theo chiều tiêu cực: Nếu thực phẩm không được vệ sinh sạch sẽ thì sẽ gây nguy hiểm cho người sử dụng Nhiều loại vi sinh vật gây bệnh có thể tồn tại ởthực phẩm một thời gian khá dài, một số còn có khả năng sinh sản và phát triển mạnh Các loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao lại còn là một môi trường thuận lợi cho nhiều vi sinh vật phát triển Khi thực phẩm bị ôi thiu, biến chất còn tạo ra những chất gây hại cho cơ thể
2.1.6 Nguy cơ gây ô nhiễm, ngộ độc thực phẩm và nguyên nhân
Hiện nay, sự tăng trưởng kinh tế và đời sống ngày càng được cải thiện làm cho mọi người quan tâm hơn đến vấn đề vệ sinh ăn uống và giá trị dinh dưỡngcủa thức ăn Ô nhiễm và ngộ độc thực phẩm do nguyên nhân vi sinh vật, hóa học, các độc tố có sẵn trong thực phẩm… vẫn đang là một trong những vấn đềtrọng điểm có ý nghĩa tới sức khỏe cộng đồng Bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, tìm hiểu nguyên nhân gây ô nhiễm và cách phòng tránh là một vấn đề rất cấp bách
Ngộ độc thực phẩm do tác nhân sinh học thường chiếm tỷ lệ khá cao Thực phẩm được xác định là con đường lan truyền chủ yếu các vi sinh vật gây tiêu chảy và các bệnh tật khác Tác nhân sinh học ô nhiễm vào thực phẩm gây ngộđộc bao gồm vi khuẩn, virus, nấm mốc và ký sinh vật
Vi khuẩn là nguyên nhân hay gặp nhất trong các vụ ngộ độc thực phẩm cấp tính, có nhiều người mắc và gây ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe Một số vikhuẩn thường gặp là: vi khuẩn thương hàn Salmonella, ngộ độc thực phẩm dođộc tố của Staphylococcus, ngộ độc thực phẩm do độc tố của Clotridium botulimun…
Virus ô nhiễm trong thực phẩm có thể gây viêm gan, bại liệt hoặc tiêu chảy Tiêu chảy do thực phẩm nhiễm virus Rota là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi
Nấm mốc phát triển trong thực phẩm có khả năng sinh độc tố vi nấm nguy hiểm
Ký sinh vật: đa số những trường hợp nhiễm giun sán là vệ sinh kém, thực phẩm chưa nấu chín hoặc rau quả ăn uống chưa rửa sạch Giun sán có thể
Trang 21sống ở bất cứ cơ quan hoặc mô nào trong cơ thể, nhưng thường hay gặp nhất
là ở đường ruột
Phần lớn bệnh tật ở người cũng là bệnh động vật và thực phẩm có nguồn gốc động vật chính là nguồn có nguy cơ nhất gây ra các bệnh dạ dày – ruột, trong
đó các vi sinh vật đóng vai trò chính Các yếu tố nguy cơ khác có thể có trongthịt là hóa chất và tồn dư kháng sinh Tại Việt Nam, nền kinh tế biến chuyển
và phát triển nhanh chóng đang thúc đẩy những thay đổi trong tiêu thụ thịt Càng ngày càng có nhiều người có khả năng mua nhiều thịt hơn và do đó nhu cầu tăng lên Trong khi đó, hành vi chế biến và các chuỗi cung cấp thịt cũng như các thực phẩm khác cũng đang trải qua quá trình thay đổi Các chợ vốn thống trị hệ thống bán lẻ nay được bổ sung thêm hệ thống siêu thị và các cửa hàng tạp hóa ở những khu vực trung tâm thành phố Các hệ thống đông lạnh ngày càng được sử dụng nhiều hơn trong chuỗi thực phẩm Những thay đổi này cũng ảnh hưởng đến thịt lợn, loại thịt được dùng nhiều nhất tại Việt Nam,cũng như cả hệ thống cung cấp thịt lợn (Delia Grace, 2013)
Nguyên nhân dẫn đến thịt lợn không đảm bảo an toàn:
Nguyên nhân bên ngoài:
Điều kiện sinh lý: vận chuyển xa, chuồng ở chật chội, lợn bị bỏ đói lâu ngày đều có thể làm giảm sức đề kháng và tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển trong cơ thể gia súc
Bề mặt da của lợn luôn chứa một số lượng rất lớn vi khuẩn, nấm men, nấm mốc Khi ta cắt thì vi khuẩn sẽ xâm nhập vào bề mặt của lát cắt và lan tràn vào thịt
Dụng cụ để xử lý thịt, tay chân, quần áo, đồ dùng của công nhân mổ thịt cũng chứa nhiều vi khuẩn có thể xâm nhập vào thịt
Rửa thịt bằng nước không sạch, thùng đựng thịt không được rửa sạch, khi mổ ruột bị thủng, trong quá trình vận chuyển và bảo quản không tốt… đều làm cho thịt có thể bị nhiễm khuẩn
Nguyên nhân bên trong
Do lợn bị bệnh Nhiễm vi sinh vật do các cơ quan nội tạng có bệnh hoặc viêmnhiễm
Thức ăn mà lợn ăn trước khi giết mổ cũng là nguồn gây nhiễm vi sinh vật từ bên trong cho thịt lợn
2.1.7 Vai trò, tầm quan trọng của vệ sinh an toàn thực phẩm
- Con người muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi phải ăn Ăn uống là nhu cầu hàng ngày, nhu cầu cấp bách, bức thiết Ăn không chỉ chống cảm giác đói mà
Trang 22ăn còn đem lại niềm thích thú, gắn liền với phát triển và gắn liền với sức khỏe.
- Thực phẩm cung cấp các chất dinh dưỡng như chất đạm, đường, béo, các muối khoáng đảm bảo sức khỏe của con người, đồng thời cũng có thể là nguồn gây bệnh, thậm chí là dẫn đến tử vong
- Thức ăn không được coi là có giá trị dinh dưỡng nếu như không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Thực phẩm an toàn sẽ cải thiện được sức khỏe của con người, an toàn vệ sinh thực phẩm đóng góp cho sức khỏe, năng suất và cung cấp một nền tảng hiệu quả cho sự phát triển và xóa đói giảm nghèo
- Thực phẩm không những có vai trò quan trọng đối với sức khỏe con người màcòn đóng vai trò quan trọng trong nhiều ngành kinh tế Tăng chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm đã mang lại uy tín cũng như lợi nhuận cho ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế biến, du lịch và thương mại Thực phẩm đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn sẽ tăng nguồn thu từ xuất khẩu thực phẩm
có tính cạnh tranh lành mạnh và thu hút thị trường thế giới
- Thực phẩm còn ảnh hưởng tới nòi giống của dân tộc Khi bàn đến tác động của an toàn vệ sinh thực phẩm, vấn đề đáng quan tâm hơn cả là đòi hỏi những
nỗ lực lớn hơn để đề phòng và khắc phục các hậu quả của nó là ảnh hưởng của thực phẩm ô nhiễm, không đảm bảo an toàn vệ sinh gây ngộ độc nguy hiểm cho con người Sử dụng thực phẩm không an toàn trước mắt có thể bị ngộ độc cấp tính với các triệu chứng dễ nhận thấy, nhưng vấn đề nguy hiểm hơn nữa là sự tích lũy dần các chất độc hại ở một số bộ phận trong cơ thể sau một thời gian mới phát bệnh hoặc có thể gây dị tật, dị dạng cho các thế hệ maisau
- Những bệnh do thực phẩm không an toàn gây ra không chỉ làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng, giống nòi của con người mà còn gây thiệt hại kinh
tế đối với cá nhân người mắc bệnh, với bản thân gia đình họ, với cộng đồng
và đất nước Các bệnh này đã tạo ra một gánh nặng cho ngành Y tế và làm giảm hiệu quả kinh tế của đất nước
- Thực phẩm đảm bảo chất lượng VSATTP không những làm giảm tỷ lệ bệnh tật mà còn góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và thể hiện nếp sống văn minh của một dân tộc Thực phẩm không những có vai trò quan trọng đối với sức khỏe con người mà còn đóng vai trò quan trọng trong nhiều ngành kinh tế Thực phẩm đảm bảo chất lượng an toàn vệ sinh là chìa khóa tiếp thị của sản phẩm Tăng chất lượng VSATTP đã mang lại uy tín cũng như lợi nhuận cho các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế biến, thương mạidịch vụ
Trang 23- Tầm ảnh hưởng trầm trọng của ngộ độc thực phẩm: Đối với nền nông nghiệp, ngộ độc thực phẩm dẫn tới nghỉ việc, sức khỏe của người lao động giảm và cóthể dẫn tới thất nghiệp Đối với công nghệ thực phẩm, nếu gây ngộ độc thực phẩm thì nhà máy phải ngừng sản xuất, có thể gây hậu quả lớn tới sức khỏe cộng đồng Đối với ngành du lịch, các khách sạn, nhà hàng nếu gây ngộ độc thực phẩm thì sẽ làm mất uy tín đối với khách hàng, hiệu quả kinh doanh giảm sút.
- Xã hội ngày càng phát triển, việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất ngày càng rộng rãi trong các ngành nông nghiệp và công nghệ chế biến thực phẩm, các chất hóa học ngày càng được tham gia nhiều vào quá trình sảnxuất, chế biến, phân phối và bảo quản, càng tạo ra nhiều nguy cơ vi sinh vật gây ngộ độc thực phẩm Vì vậy, xã hội ngày càng phát triển công tác đảm bảo
vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm càng phải được coi trọng
2.1.8 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức, thái độ, hành vi của người
+ Các yếu tố thuộc về đối tượng nhận thức có vai trò định hướng cho chủ thể nhận thức
+ Các yếu tố khách quan có vai trò giúp cho chủ thể nhận thức nhìn nhận đúng hoặc sai về sự vật trong nhận thức Trong các yếu tố khách quan thì tri thức nhân loại và môi trường ra quyết định là hai yếu tố có ảnh hưởng lớn đếnnhận thức nói chung và nhận thức của người tiêu dùng thịt lợn trong vấn đề
vệ sinh an toàn thực phẩm nói riêng
Thái độ hình thành trong quá trình thỏa mãn nhu cầu: Người ta sẽ hình thành thái độ tích cực với khách thể có lợi và tiêu cực với khách thể có hại trên con đường đạt tới mục đích nào đó để thỏa mãn các nhu cầu nhất định của họ.Thái độ được hình thành bởi các thông tin: các thông tin mới thường hình thành nên các thái độ phù hợp, hài hòa với các thái độ có liên quan tồn tại trước đó Vì vậy, các thông tin có liên quan đến vấn đề an toàn vệ sinh thực
Trang 24phẩm sẽ hình thành lên thái độ của người tiêu dùng về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm nói chung và vấn đề vệ sinh an toàn thịt lợn nói riêng.
Từ những nhận thức và thái độ của người tiêu dùng sẽ hình thành lên hành vi của người tiêu dùng Dựa vào những hiểu biết về vệ sinh an toàn thực phẩm
sẽ có thái độ phù hợp với vấn đề đó và đưa ra được những quyết định đúng đắn để tiêu dùng thịt lợn an toàn, đảm bảo sức khỏe cho cả gia đình
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm trên thế giới
Vệ sinh an toàn thực phẩm đang là vấn đề bức xúc của mọi người Vệ sinh an toàn thực phẩm tác động trực tiếp đến sức khỏe của con người, ảnh hưởng đếnchất lượng phát triển của xã hội và nòi giống
Vệ sinh an toàn thực phẩm là tập hợp các điều kiện và biện pháp cần thiết để thực phẩm không gây hại cho sức khỏe và nòi giống con người Tất cả các khâu trong chuỗi bảo đảm chất lượng thực phẩm (từ khâu nuôi trồng đến sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển, kinh doanh, sử dụng) đều phải đạt vệ sinh và an toàn Nếu bất kỳ khâu nào không đạt yêu cầu thì nguy cơ ngộ độc thực phẩm đều có thể xảy ra Trách nhiệm bảo đảm chất lượng vệ sinh an toànthực phẩm là của tất cả mọi người trong xã hội từ các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể đến các nhà khoa học, các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh và đến cả người tiêu dùng
Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới (WHO 2005), hiện có hơn 400 các bệnh lây truyền qua thực phẩm không an toàn Vệ sinh an toàn thực phẩm đã được đặt lên hàng đầu nghị trình tại nhiều hội nghị Y tế và sức khỏe cộng đồng toàn cầu, nhưng tình hình không được cải thiện bao nhiêu, nhất là khi thế giới liên tiếp xảy ra thiên tai và nguồn nước sạch ngày càng khan hiếm
Ở Úc mỗi ngày có tới 11.500 người mắc bệnh cấp tính do ăn uống gây ra Ở
Mỹ mỗi năm có tới 76 triệu trường hợp ngộ độc thực phẩm, trong đó có
325.000 ca phải nhập viện và 5.000 ca tử vong Chi phí hàng năm cho 3,3 đến
12 triệu ca ngộ độc thực phẩm vào khoảng 6,5 đến 35 tỉ USD Chi phí cho 11.500 ca ngộ độc thực phẩm xảy ra ở Úc là 2,6 tỉ USD Úc Rất nhiều thực phẩm bị phát hiện nhiễm những chất độc hại trong thời gian qua như: sữa nhiễm melamin ở Trung Quốc, thịt lợn đóng hộp bị nhiễm Listeria ở Pháp,
Trang 25thịt lợn có hàm lượng hóc môn tăng trưởng cao, nhiễm dioxin ở Bỉ, rau quả ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật, hóa chất bảo quản…
Chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay rất đáng lo ngại, đã được rất nhiều các phương tiện thông tin đại chúng phản ánh Việc sử dụng không an toàn về phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc tăng trọng, kháng sinh, hóa chất trong chăn nuôi trồng trọt nông nghiệp, thủy hải sản hiện nay còn khá phổ biến Thực tế cho thấy các căn bệnh do ăn phải thức ăn bị ô nhiễm chất độc hoặc tác nhân gây bệnh đang là một vấn đề sức khỏe cộng đồng ở các nước đã phát triển cũng như đang phát triển
2.2.2 Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm ở Việt Nam
2.2.2.1 Tình hình ngộ độc thực phẩm
Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm ngày càng được mọi người quan tâm Hàng
tỷ người đã bị mắc và nhiều người đã chết do ăn phải các thực phẩm không antoàn Hơn 1/3 dân số của các nước phát triển bị ảnh hưởng bởi các bệnh do thực phẩm gây ra mỗi năm và vấn đề này càng trầm trọng hơn đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam
Ở Việt Nam, tình trạng thực phẩm không đảm bảo an toàn vệ sinh đang diễn
ra khá phổ biến trên cả nước Theo thống kê của Cục ATVSTP, từ năm 2000 đến năm 2007, trung bình mỗi năm có khoảng 181 vụ ngộ độc thực phẩm xảy
ra với khoảng 5.211 người mắc và khoảng 48 ca tử vong Tỷ lệ mắc ngộ độc thực phẩm trung bình là 6,05/100.000 dân, tỷ lệ tử vong là 0,06/100.000 dân/năm
Từ đầu năm đến hết tháng 9 năm 2008, cả nước xảy ra 150 vụ ngộ độc thực phẩm với 6.724 người mắc, trong đó tử vong 49 người Riêng trong tháng 10 năm 2008 có ít nhất 12 vụ ngộ độc thực phẩm trên cả nước với khoảng 300 người mắc
Hiện có 40 tỉnh, thành phố trong nước xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm thường xuyên Số ca phải nhập viện tập trung cao nhất ở miền Đông Nam Bộ (chiếm 51,91%) Nguyên nhân do khu vực này đang phát triển nhiều khu công nghiệp và chế xuất nhưng vệ sinh an toàn thực phẩm ở các bếp ăn chưa được đảm bảo
Mặt khác, số ca tử vong do ngộ độc thực phẩm lại tập trung nhiều ở các vùng núi phía Bắc (55,81%) và nguyên nhân thường do người dân vô tình sử dụng
Trang 26nấm độc, bánh ngô chứa độc tố nấm mốc và rượu không đảm bảo an toàn vệ sinh.
Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO, 2013), mỗi năm nước ta có hơn 8 triệu người bị ngộ độc và tiêu chảy do ăn uống Tỷ lệ nhiễm giun sán ở Việt Nam chiếm khoảng 80% dân số
Năm 2007, một xã trung bình chỉ có 0,73 lượt đoàn đi thanh kiểm tra vệ sinh
an toàn thực phẩm Hiện nay lực lượng và số lần thanh tra y tế quá mỏng khiến những người kinh doanh ăn uống dễ dàng tìm cách đối phó với kiểm tra Trên thực tế, năm 2007 số cơ sở vi phạm chiếm hơn 14% số cơ sở được thanh tra Tuy nhiên, 61% số cơ sở vi phạm được hưởng án treo, 22,9% số cơ
sở bị phạt hành chính với tổng số tiền phạt là 2,33 tỉ đồng, mức độ tiêu hủy sản phẩm chỉ chiếm 8,67% và mức độ đóng cửa của cơ sở vi phạm còn khiêmtốn hơn, chỉ 0,44% (Mạnh Thăng, 2008)
Theo thống kê của Bộ Y tế, năm 2010 toàn quốc đã xảy ra 128 vụ ngộ độc thực phẩm với 4.660 người mắc, 3.266 người nhập viện và 40 trường hợp tử vong Trong đó có 45 vụ ngộ độc thực phẩm lớn Do mang tính chất thời vụ nên nhiều chủng loại thực phẩm được sản xuất, chế biến từ các cơ sở, cá nhân, các hộ gia đính thường không chuyên nghiệp, không đăng kí kinh doanh nên sản phẩm rất dễ không đảm bảo chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm nhất là vào dịp tết, lễ hội (VTC News, 2010)
Theo thống kê từ Cục An toàn vệ sinh thực phẩm (Bộ Y tế), trong 4 tháng đầunăm 2012, cả nước xảy ra 26 vụ ngộ độc thực phẩm với 1.332 người mắc, 980người nhập viện và 7 trường hợp tử vong Riêng trong tháng 4 năm 2012, cả nước xảy ra 10 vụ ngộ độc thực phẩm với 972 nạn nhân, 726 người nhập viện
và 4 trường hợp tử vong Phần lớn các vụ ngộ độc xảy ra với quy mô nhiều người mắc, nguyên nhân chủ yếu gây ngộ độc thực phẩm là do thực phẩm nhiễm vi sinh vật
Trong 6 tháng đầu năm 2012, ngành Y tế đã tập huấn kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm cho 2.887 người lao động, cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện
vệ sinh an toàn thực phẩm cho 192 cơ sở Đặc biệt, ngành Y tế đã thực hiện 5.898 lượt thanh kiểm tra, phát hiện 535 cơ sở vi phạm, trong đó số cơ sở bị cảnh cáo, nhắc nhở là 57; số cơ sở bị hủy sản phẩm là 26 với 30 loại sản phẩm; số cơ sở bị phạt tiền là 33 với tổng số tiền là 45.450.000 đồng (Trần Thanh Thảo, 2012)
Trang 27Theo báo cáo của Cục ATVSTP trong năm 2014 toàn quốc ghi nhận 189 vụ ngộ độc thực phẩm với hơn 5.100 người mắc, 4.100 người đi viện và 43 trường hợp tử vong So với năm 2013 thì số người mắc và đi viện đã giảm nhưng số vụ tăng hơn 13%, đặc biệt số người tử vong tăng gần 15%.
Trong báo cáo của Cục ATVSTP cho thấy, qua kiểm tra của các cơ sở y tế cho thấy một số thức ăn không đảm bảo yêu cầu vệ sinh như: Ở một số địa phương, 67% thịt quay có dùng phẩm màu độc và ô nhiễm vi sinh vật, 36% xúc xích, lạp xưởng bị nhiễm vi khuẩn, 88% nem chạo, nem chua, nem giò phát hiện có Coliform, 59% các loại ô mai có dùng phẩm màu độc và đường hóa chất ngoài danh mục cho phép Bên cạnh đó, nhiều loại vi khuẩn có thể tồn tại rất lâu trong thực phẩm như vi khuẩn thương hàn có thể sống trong ruột bánh mì từ 25-30 ngày, trong pho mát 36 ngày, trong mỡ 90 ngày và trong thức ăn lạnh đến vài tháng (Khánh Nguyễn, 2010)
Chúng ta có những vùng rau sạch, trái cây sạch, những nông trại chăn nuôi thực hiện đúng quy định, nhưng số lượng và tỷ lệ vô cùng nhỏ bé, mới chỉ đạt8,5% tổng diện tích rau cả nước, cây ăn quả an toàn đạt khoảng 20% Thực phẩm có chứa chất độc hoặc được sử dụng chất bảo quản, phụ gia, phẩm màu công nghiệp có hại cho sức khỏe cũng còn lưu hành rất nhiều trên thị trường như nước tương có chất 3-MCPD, nước mắm có u-rê, trứng gà và sữa có chứamelamine…
Nhân viên bán hàng, nhân viên chế biến thực phẩm thiếu kiến thức về vệ sinh
an toàn thực phẩm, thiếu các trang thiết bị và các dịch vụ khác nên thực phẩm
dễ bị ô nhiễm Trên 80% số mẫu dụng cụ bát, đĩa, đũa, thìa bị bẩn; trên 85%
số mẫu tay người bán hàng bị nhiễm E.Coli Những bàn tay này trực tiếp bốc bún, rau sống, thái thịt… cho khách ăn Trong khi đó, năng lực kiểm nghiệm thực phẩm, hệ thống cảnh báo nguy cơ về VSATTP trong nước lại đang rất thiếu, yếu và chưa có chuyên sâu
2.2.2.2 Thực trạng an toàn vệ sinh trong chăn nuôi, giết mổ gia
súc, gia cầm
Việc thử nghiệm, khảo nghiệm và ban hành danh mục thuốc thú y cấm sử dụng, được phép sử dụng và hạn chế sử dụng được thực hiện đúng quy định pháp luật Công tác thanh kiểm tra, lấy mẫu thú y tiêu thụ trên thị trường của
cơ sở sản xuất, buôn bán thuốc thú y để kiểm tra chất lượng được duy trì
Trang 28Nhiều vụ việc vi phạm đã được phát hiện và xử lý kịp thời Công tác phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm được thực hiện tốt
Việc giết mổ gia súc tập trung đã được tổ chức ở một số thành phố lớn Trongtổng số 17.129 cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm có 617 cơ sở giết mổ tập trung (chiếm 3,6%); kiểm soát được 7.281 cơ sở (trong đó khoảng 22,1% đạt yêu cầu vệ sinh thú y), tỷ lệ động vật được kiểm soát, giết mổ chiếm 58,1%
Việc xây dựng mô hình chăn nuôi an toàn áp dụng VietGAHP được triển khaitích cực Đến nay, khoảng 3% cơ sở chăn nuôi (lợn, gà, bò sữa…) đã được triển khai áp dụng VietGAHP
Tại hội thảo “Tổng kết, phổ biến mô hình điểm chuỗi sản xuất kinh doanh nông sản thực phẩm theo VietGAP/GMPs” do Cục quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản phối hợp Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Lâm Đồng tổ chức ngày 19/09/2013 đã nêu ra 99% người tiêu dùng lựa chọn mua thực phẩm ở chợ truyền thống, với lý do gần nhà, tiết kiệm thời gian và giá cảphải chăng Tuy nhiên, khi mua sản phẩm an toàn, người tiêu dùng tin tưởng mua ở siêu thị hơn ở chợ truyền thống và đánh giá an toàn thực phẩm Việt Nam trên mức trung bình Theo khảo sát, ý định mua thực phẩm an toàn của người tiêu dùng có số điểm rất cao, nếu sản phẩm được xác nhận bởi logo VietGAP và thương hiệu của siêu thị Khách hàng chấp nhận mua sản phẩm
có thương hiệu, nguồn gốc xuất xứ với giá cao hơn 10-15% so với mức giá bình quân trên thị trường (Mai Văn Bảo, 2015)
Các chương trình giám sát ô nhiễm sinh học và dư lượng các chất độc hại trong sản phẩm chăn nuôi và kiểm soát chất lượng các yếu tố đầu vào của quátrình sản xuất thực phẩm nông sản (thức ăn, thuốc thú y…) đang được triển khai, bước đầu đã có sự phối hợp của các đơn vị có liên quan
Việc kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm trong tất cả các công đoạn sản xuất đã được đẩy mạnh Áp dụng các chương trình kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm trong tất cả các công đoạn của chuỗi sản xuất theo từng đối tượng cụ thể từ chăn nuôi, giết mổ, chợ thịt đầu mối, đại lý thu gom, cơ sở bảo quản nhằm kiểm soát toàn bộ chuỗi sản xuất kinh doanh
2.2.2.3 Thực trạng an toàn vệ sinh thực phẩm trong chế biến, kinh
doanh thực phẩm
Trang 29Năm 2012, tại thành phố Hồ Chí Minh, gần 95% mẫu thịt lợn sống được kiểmtra không đảm bảo điều kiện về an toàn vệ sinh thực phẩm Hầu hết các mẫu thịt lợn đều được xác định là đã bị nhiễm vi khuẩn E.Coli, tụ cầu vàng
S.aureus gây hại cho sức khỏe (Bùi Hương, 2011)
Năm 2014 hơn 43% mẫu thịt lợn được kiểm nghiệm tại thành phố Hồ Chí Minh có hàm lượng kháng sinh vượt giới hạn cho phép Tồn dư kháng sinh tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn kháng thuốc và có thể gây dị ứng cho những người nhạy cảm Ngoài ra, ngay cả việc chế biến và đun nấu cẩn thận cũng không thể loại bỏ được những chất tồn dư này ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe người tiêu dùng (Ngọc Ánh, 2014)
Việc quản lý an toàn thực phẩm đối với chất phụ gia, chất hỗ trợ chế biến, chất bảo quản thực phẩm còn bất cập: văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này còn thiếu cụ thể; công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm không thường xuyên; trang thiết bị kiểm tra còn hạn chế Tình trạng mua bán, sử dụng các chất phụ gia, chất bảo quản không rõ nguồn gốc, ngoài danh mục cho phép còn phổ biến ở các cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, thủ công, nhiều loại chất phụ gia không đảm bảo chất lượng vẫn được lưu thông trên thịtrường
Nhiều hộ chăn nuôi sử dụng hóa chất để tăng tỷ lệ nạc/mỡ cho thịt lợn Thay
vì phải nuôi lợn đến 3 tháng mới xuất chuồng thì nay chỉ cần 20-25 ngày là hộchăn nuôi đã cho xuất chuồng Nếu sử dụng chất kích thích tăng trọng lượng lợn có thể đạt mức tăng từ 1,5-2kg/ngày Theo các chuyên gia y tế và thú y, trong chất tạo nạc có những chất tồn dư trên thịt lợn có thể gây nguy hại cho sức khỏe người sử dụng, nếu tích lũy trong thời gian dài có thể gây ung thư.Một nghiên cứu về nhiễm khuẩn Listeria trong thịt lợn có thể dẫn đến bệnh nghiêm trọng như các triệu chứng thần kinh, viêm màng não sảy thai hoặc thai lưu Listeria có khả năng phát tán rộng rãi trong môi trường và là loại vi khuẩn có thể sinh sản ở điều kiện nhiệt độ trong tủ lạnh Kết quả điều người tiêu dùng cho thấy những người có tủ lạnh giữ thịt dài gấp 3 lần những người không có tủ lạnh, từ đó Listeria sẽ có nhiều thời gian hơn để gia tăng số
lượng, làm tăng nguy cơ gây hại cho sức khỏe người tiêu dùng (Delia Grace, 2013)
Theo số liệu thống kê của Bộ Công Thương tính đến ngày 15/3/2014 trên địa bàn cả nước có 8.583 chợ các loại, việc thực hiện các quy định về vệ sinh an
Trang 30toàn thực phẩm tại các chợ ở nông thôn, nội đô, chợ tạm vẫn còn bất cập Xảy
ra tình trạng tư thương sử dụng các hóa chất bảo quản thực phẩm không rõ nguồn gốc, đặc biệt là hoa quả, nội tạng động vật Nhiều trường hợp không qua kiểm tra vẫn đóng dấu vệ sinh thú y, bán vé kiểm dịch… Hiện nay trên địa bàn cả nước có trên 724 siêu thị, 132 trung tâm thương mại Nhiều hệ thống siêu thị lớn đã có sự đầu tư cho việc kiểm soát chất lượng an toàn thực phẩm đối với nguồn nguyên liệu cung cấp cho siêu thị nên nhìn chung thực phẩm tại siêu thị đáp ứng được nhu cầu về an toàn thực phẩm
Các bếp ăn tập thể của cơ quan, trường học đã được cải thiện đáng kể về cơ
sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ, nguyên liệu chế biến để đảm bảo an toàn
vệ sinh thực phẩm Tuy nhiên, vẫn có những cơ sở chưa được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn hoạt động Tính trung bình mỗi năm có 14 vụ ngộ độc thực phẩm trong bữa ăn tập thể làm 1.094 người mắc và 1.009 người phải nhập viện Nguyên nhân chủ yếu là cho độc tố, vi sinh vật, hóa chất… Hiện nay, nhu cầu các bữa ăn tập thể và các cơ sở cung cấp suất ăn tại các khu công nghiệp ngày càng tăng, chứa đựng nhiều nguy cơảnh hưởng sức khỏe người lao động là do một bộ phận lớn các cơ sở có nhu cầu, chấp nhận sử dụng thực phẩm giá rẻ Trong khi đó, trách nhiệm bảo đảm
an toàn thực phẩm của các cấp chính quyền địa phương, ban quản lý các khu công nghiệp, chủ doanh nghiệp sử dụng dịch vụ ăn uống chưa cao (Minh Hoàng, 2015)
Nhiều năm qua, ít có các vụ ngộ độc thực phẩm tại các cơ sở khách sạn, nhà hàng Các khách sạn, nhà hàng đã có sự đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết
bị, dụng cụ chế biến nên cơ bản đáp ứng được yêu cầu đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm Tuy nhiên, việc chế biến, sử dụng thực phẩm tại một số khách sạn nhà hàng vẫn còn một số tồn tại như sử dụng nhiều loại phụ gia thực phẩm không rõ nguồn gốc hoặc không có trong danh mục cho phép được
Trang 31giá rẻ và tiện đường Hàng thực phẩm là nhóm hàng tiêu dùng nhanh và được mua với mức độ thường xuyên nhất Vai trò của người phụ nữ vẫn chiếm ưu thế trong việc ra quyết định mua hàng đối với những mặt hàng thực phẩm (63,59%) Khi mua sắm hàng hóa cơ bản, yếu tố chất lượng và thương hiệu chiếm tỷ lệ quan tâm nhất sau đó mới đến giá Người tiêu dùng thành phố Hồ Chí Minh thường kỹ tính với nhóm hàng thực phẩm Đối với nhóm hàng này, tiêu chuẩn chất lượng được đặt lên hàng đầu, sau đó mới đến giá cả và thươnghiệu Đa số họ cho rằng, họ chọn mua thực phẩm không dựa trên các thông tinquảng cáo.
Trong một nghiên cứu về sự thay đổi cơ cấu tiêu dùng hộ gia đình nông thôn đồng bằng Bắc Bộ đã nghiên cứu xu hướng tiêu dùng của thị trường nông thôn và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu dùng của người dân nông thôn Trong nghiên cứu phương pháp thống kê mô tả được dùng để phản ánh tình hình tiêu dùng của hộ gia đình điều tra cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng hóa của dân cư nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ Kết quả của nghiên cứu cho thấy mức sống của hộ gia đình nông thôn đồng bằng Bắc Bộ ngày càng được cải thiện, gia tăng cả về thu nhập và mức chi cho tiêu dùng Trong giai đoạn 2009-2011, mức chi cho tiêu dùng của hộ tăng19,61%/năm, cao hơn so với mức tăng 18,77%/năm của thu nhập Xem xét mức độ ưu tiên mua hàng hóa, tiêu chí chất lượng của hàng hóa được coi là cónhiều ảnh hưởng nhất đến quyết định tiêu dùng của hộ (chiếm 41,1% số hộ điều tra) Phần lớn các hộ điều tra nói rằng họ chủ yếu mua hàng hóa tại các chợ địa phương (chiếm 55,1%) Một trong những kết luận của nghiên cứu là nhu cầu tiêu dùng của hộ gia đình nông thôn đang chuyển từ số lượng sang chất lượng (Trần Quang Trung, Bùi Mai Linh, 2014)
Trong đề tài “Ảnh hưởng của văn hóa phương Đông đến hành vi tiêu dùng hàng thực phẩm của người Việt”, tác giả Phạm Thị Hồng Trang (2009) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của người dân Việt Nam Nghiên cứu đã chỉ ra văn hóa phương Đông nói chung và văn hóa Việt Nam nói riêng là nền văn hóa mang tính cộng đồng cao, điều này đã tác động đến quyết định mua hàng của người Việt Theo báo cáo của Trung tâm thông tin phát triển Nông nghiệp Nông thôn (2007), có đến 51,9% người tiêu dùng chịu ảnh hưởng của họ hàng và người thân trong quyết định mua hàng Ngoài ra, quyết định của người tiêu dùng còn chịu ảnh hưởng từ những thông tin trên TV Khi có tin đồn về một loại sản phẩm hoặc một sự kiện nào đó ảnhhưởng đến tiêu dùng thực phẩm của người dân lập tức tin đồn sẽ lan rất nhanh
Trang 32trong cộng đồng chủ yếu qua truyền miệng và tác động rõ rệt đến quyết định mua hàng Trong quyết định mua hàng của người Việt họ thường chọn kênh phân phối là các chợ truyền thống, có đến 80% người nội trợ trên cả nước sử dụng kênh phân phối này Điều này trước hết là do sự tiện lợi của chợ Việt Nam nhưng ngoài ra nó còn do thói quen mua sắm hàng thực phẩm tại chợ và tâm lý không thích thay đổi của người Việt Nam.
Đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng mua thực phẩm sạch của các quán ăn tại thành phố Hồ Chí Minh” Đề tài nhận dạng và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến xu hướng tiêu dùng thực phẩm sạch của các nhà hàng thức ăn tại thành phố Hồ Chí Minh Các loại thực phẩm tươisống thường được sử dụng thường xuyên trong bữa ăn hàng ngày, chủ yếu nhất là thịt lợn, thịt bò, thịt gia cầm và các loại thủy hải sản Thịt lợn được sử dụng phổ biến nhất trong các bữa ăn hàng ngày Thịt lợn là thực phẩm dễ mua, dễ chế biến nên được sử dụng phổ biến hơn Tỷ lệ hộ đã từng sử dụng thực phẩm an toàn tại thành phố Hồ Chí Minh khá cao (khoảng 90,5%) Tuy nhiên các loại thực phẩm sạch có mức giá bán chênh lệch cao hơn từ 10-20%
so với thực phẩm bán tại chợ dân sinh Điều này có thể làm ảnh hưởng đến xuhướng tiêu dùng thực phẩm an toàn của đại đa số người tiêu dùng Trong bối cảnh dich bệnh, có 3 yếu tố quan trọng nhất có thể làm thay đổi hành vi của người tiêu dùng là khả năng về thu nhập, thị hiếu thói quen tiêu dùng và mức
độ nguy hiểm của dịch bệnh Khả năng về thu nhập cho phép người tiêu dùng
có cơ hội thay đổi loại thực phẩm khi có dịch bệnh theo hai hướng: vẫn sử dụng loại thực phẩm thường dùng (bị ảnh hưởng bởi thói quen) nhưng chọn loại thực phẩm của nhà cung cấp có uy tín và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; hoặc chuyển sang dùng một loại thực phẩm thay thế khác Nghiên cứu
đã chỉ ra tiến trình mua sắm thường bắt đầu bằng việc người tiêu dùng nhận thức được nhu cầu của mình Nhu cầu này có thể được nhận ra khi họ bị tác động bởi các kích tác bên trong hoặc môi trường bên ngoài Sau đó, họ sẽ tiếnhành thu thập thông tin về sản phẩm, thương hiệu dựa trên kinh nghiệm cá nhân và môi trường bên ngoài, và bắt đầu ước lượng, đánh giá để ra quyết định nên mua sản phẩm hay không (Nguyễn Sơn Giang, 2009)
Có thể thấy rằng những nghiên cứu trên đều đã nghiên cứu đến những yếu tố tác động đến hành vi của người tiêu dùn như do thu nhập, thói quen, sự tiện lợi… Nhưng các nghiên cứu vẫn chưa đi sâu và làm rõ hơn về hành vi của người tiêu dùng Trong các yếu tố quyết định hành vi tiêu dùng các sản phẩm
an toàn thì sự nhận thức của người tiêu dùng giữ một vai trò khá quan trọng
Trang 33đối với quyết định mua sau cùng Bên cạnh đó, thái độ người tiêu dùng cũng
là một yếu tố ảnh hưởng tới hành vi người tiêu dùng Thái độ không thể quan sát trực tiếp được nhưng nó có thể được suy ra từ những biểu hiện hành vi củacon người Những cảm nhận mang tính tích cực đối với một sản phẩm nào đó,thường dẫn tới mức độ ưa thích, tin tưởng, và cuối cùng là khả năng tiêu dùngsản phẩm đó Trong nghiên cứu này, ta sẽ đi sâu vào nghiên cứu nhận thức, thái độ và hành vi tiêu dùng thịt lợn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Phântích các yếu tố ảnh hưởng và tìm hướng giải quyết cho vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay
Trang 34PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
- Phả Lại, đường tỉnh lộ 295B
Tiếp giáp với các vùng lân cận như:
Phía Đông giáp với phường Ninh Xá
Phía Nam giáp với phường Tiền An
Phía Tây giáp với phường Phong Khê
Phía Bắc giáp với phường Đại Phúc
- Địa hình:
Địa hình của tương đối bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam
và từ Tây sang Đông Mức độ chênh lệch địa hình không lớn, vùng đồng bằngthường có độ cao phổ biến từ 3-7m, không có đồi núi Có đất đai màu mỡ, không bị nhiễm chua, mặn, thích hợp cho việc canh tác nông nghiệp
Thời tiết và khí hậu
Phường nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa của vành đai khí hậu miền Bắc Thời tiết thay đổi theo 4 mùa rõ rệt: mát ẩm vào mùa xuân, nóng ẩm mưa nhiều về mùa hạ, khô mát về mùa thu và khô lạnh về mùa đông Lượng mưa trong năm phân bổ không đều trong các tháng, chủ yếu tập trung vào cáctháng 6, 7, 8 Lượng mưa cả năm từ 1900 đến 2100 mm Độ ẩm trung bình của cả năm là 83,08%
Tình hình đất đai
Tổng diện tích đất tự nhiên của toàn phường vào khoảng 795,36 ha, trong đó đất được phân ra 3 loại chính là: Đất nông nghiệp 331,92 ha chiếm 41,73%, đất phi nông nghiệp 460,49 ha chiếm 57,89%, đất chưa sử dụng 2,95 ha chiếm 0,38% Là một trong những địa phương có nhiều diện tích đất nông nghiệp chuyển đổi mục đích sử dụng san xây dựng cụm công nghiệp, trụ sở, nhà ở đô thị, nhà ở xã hội, trường học, trung tâm thương mại… (Nguồn: Ban địa chính phường Võ Cường)
Trang 353.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Tình hình dân số và lao động
Phường có 18.629 nhân khẩu Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 55% Duy trì tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ở mức 1%, kiềm chế tình trạng sinh con thứ 3 Giải quyết việc làm mỗi năm được 480 lao động Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng là 9,45% Giảm tỷ lệ hộ nghèo còn 2,3%
Công tác dạy nghề đào tạo việc làm cho người lao động được quan tâm Từ năm 2010 đến năm 2014, toàn phường đã tổ chức 9 chương trình chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nông dân về kỹ thuật gieo cấy và chăm sóc lúa 2 vụ;
mở 20 lớp dạy nghề đào tạo về kỹ thuật chế biến món ăn, trồng hoa, cây cảnh,chăn nuôi thu hút hơn 600 nông dân tham gia học tập
Cơ sở vật chất kỹ thuật
Cùng với sự phát triển kinh tế chung của cả nước, trong những năm qua cơ sởvật chất kỹ thuật của phường đã có nhiều thay đổi như: Hệ thống điện, mạng lưới đường giao thông, các công trình phúc lợi và công trình thủy lợi đã được nâng cấp và đầu tư phát triển
Phường có các tuyến đường quốc lộ Bắc Ninh – Hà Nội chạy qua nên phường
có một vị trí là đầu mối giao lưu về giao thông, kinh tế giữa tỉnh và Thành phố Hà Nội, và là thị trường tiêu thụ, chợ đầu mối với các tỉnh Hiện nay các tuyến đường liên khu, liên xóm hầu hết đã được giải nhựa và bê tông đánh dấu sự phát triển cơ sở hạ tầng và phường đang có xu hướng ngày càng đô thị hóa
Phường có 12 trạm biến áp với dung lượng mỗi trạm là 380VA Hệ thống đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng điện cho sinh hoạt và sản xuất của người dân ởđây
Đặc điểm văn hóa – xã hội
Võ Cường là vùng quê giàu truyền thống lịch sử văn hóa, một trung điểm của
xứ Bắc ngàn năm văn hiến Ở Võ Cường cả 5 làng Hòa Đình, Bồ Sơn, Khả
Lễ, Xuân Ổ A, Xuân Ổ B đều là làng quan họ gốc Các hoạt động quan họ được duy trì và phát triển mạnh mẽ, hàng năm tham gia các cuộc thi do thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh tổ chức đều giành các giải cao
Võ Cường là một vùng quê có lễ hội truyền thống rất phong phú và hấp dẫn Địa phương hiện có 15 di tích, trong đó có 10 di tích được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia và cấp Tỉnh Một số đình đền của các làng đã được xếp hạng di tích như đình, đền Xuân Ổ, Hòa Đình, chùa Lương Xá,…
Có 4/5 khu phố được UBND Thành phố công nhận khu phố văn hóa, trên 92% số hộ đạt gia đình văn hóa
Trang 36Về giáo dục: Công tác giáo dục phát triển mạnh mẽ, luôn đứng tốp đầu của thành phố Phường có 2 trường Đại học, 1 trường THPT, 1 trường THCS, 3 trường tiểu học, 2 trường mầm non, trường Quốc tế Kinh Bắc, và một số lớp mẫu giáo tư thục.
Về y tế: Trạm y tế phường được xây dựng mới, đạt chuẩn quốc gia Trên địa bàn phường có Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh nằm trên đường Nguyễn Trãi, khu Bồ Sơn Được công nhận chuẩn Quốc gia y tế cơ sở giai đoạn 2011 – 2020
Công tác an ninh trật tự trên địa bàn phường được bảo đảm, tình hình chính trị
ổn định Đạt 100% chỉ tiêu tuyển chọn gọi thanh niên nhập ngũ hàng năm, giữvững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
3.1.3 Tình hình kinh tế tại phường Võ Cường
Phường Võ Cường là địa phương có nhiều lợi thế về kinh tế - xã hội như: Khu
Bồ Sơn về kinh doanh thương mại, hàng hóa Khu Hòa Đình về hàng nông sản, trồng rau màu, nhà nghỉ khách sạn Khu Khả Lễ về trồng hoa, rau màu vàthương mại Khu Xuân Ổ A và Xuân Ổ B về sản xuất nông nghiệp lúa 2 vụ, dịch vụ và ngành nghề như mộc, xây dựng, cơ khí
Hiện nay, Phường đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng thương mại dịch vụ, giảm nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với tình hình địa phương, đưa các giống lúa có năng suất cao vào sử dụng: Thương mại dịch vụ đạt 45,6%, Công nghiệp – xây dựng đạt 33,4%, Nông nghiệp đạt 21% Năm 2014, diện tích gieo cấy lúa vụ chiêm xuân 171 ha với năng suất 62 tạ/ha, diện tích gieo cấy lúa mùa 131 ha với năng suất 56 tạ/ha Diện tích gieo trồng rau, hoa các loại, trồng sen, thả cá là
83 ha Tập trung vào các loại cây có giá trị kinh tế cao như trồng hoa tại khu Khả Lễ, sản xuất con rau giống và các loại rau như bắp cải, xu hào, cà chua, mướp,… tại khu Hòa Đình Giá trị sản xuất nông nghiệp trên 1 ha đất canh tác ước đạt trung bình 100 triệu đồng/ha/năm
Thương mại dịch vụ trên địa bàn có chiều hướng phát triển mạnh, ngày càng
đa dạng với nhiều loại hình kinh doanh Trong đó nổi bật là dịch vụ rau củ quả với hàng trăm tấn các loại được vận chuyển đi khắp các tỉnh trong nước mỗi ngày Riêng khu Hòa Đình có gần 100 hộ kinh doanh nông sản, trong đó
có 12 hộ là doanh nghiệp lớn với số lao động mỗi doanh nghiệp hơn 50 công nhân, thu nhập hàng tỷ đồng mỗi năm
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 373.2.1 Phương pháp chọn mẫu điều tra
Lựa chọn ngẫu nhiên 60 hộ gia đình thuộc phường Võ Cường, TP Bắc Ninh Chủ yếu tập trung ở 3 khu dân cư: Bồ Sơn, Hòa Đình, Xuân Ổ Do 3 khu này dân cư tập trung sinh sống cao, đa dạng nhiều ngành nghề Mỗi khu sẽ lựa chọn ngầu nhiên 20 hộ gia đình để tham gia trả lời phỏng vấn
3.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Lập bảng câu hỏi, tiến hành phỏng vấn trực tiếp 60 hộ gia đình trên địa bàn phường Võ Cường, TP Bắc Ninh Tập chung phỏng vấn những người phụ trách nội trợ chính trong gia đình Điều trabằng bảng hỏi đã chuẩn bị sẵn để hỏi các thông tin chung của hộ gia đình, tính đa dạng của khẩu phần ăn của hộ, ứng xử khi mua và quyết định mua cũng như quá trình xử lý sản phẩm liên quan đến thịt lợn, hỏi về nhận thức, thái độ, hành vi của người được phỏng vấn
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Bao gồm các dữ liệu về tình hình dân
số, kinh tế - xã hội của phường Các số liệu về khối lượng thịt lợn tiêu thụ, các trường hợp ngộ độc thực phẩm, tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm trongnhững năm qua tại phường Võ Cường Các dữ liệu thứ cấp này được lấy từ tổng cục thống kê, các cơ quan hành chính tại địa phương Ngoài ra, dữ liệu được thu thập từ sách, báo, tạp chí, internet…
3.2.3 Phương pháp phân tích dữ liệu
Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tần số, tính điểm trung bình qua đó thấy được một số thông tin của hộ gia đình, các đặc điểm của người tiêu dùng thịt lợn như thu nhập, nghề nghiệp, độ tuổi… Phân tích hành vi tiêu dùng thịt lợn của hộ gia đình bao gồm các đặc điểm về nhu cầu, thói quen lựa chọn, hệ thống bán lẻ…
Dựa vào quan sát thực tế và những hiểu biết trực tiếp khi phỏng vấn, phân tích số liệu sơ cấp
a) Phương pháp phân tổ thống kê
Phân tổ thống kê là căn cứ vào một hay một số tiêu thức nào đó để phân chia tổng thể thống kê thành các tổ, tiểu tổ có tính chất khác nhau
Trang 38Tiêu thức thống kê được chọn làm căn cứ để phân tổ thống kê gọi là tiêu thức phân tổ.
Các bước tiến hành phân tổ:
+ Chọn tiêu thức phân tổ: phải căn cứ vào mục đích nghiên cứu và bản chất của hiện tượng để xác định tiêu thức phân tổ cho phù hợp
+ Xác định số tổ và khoảng cách tổ: số lượng tổ phụ thuộc vào số lượng thôngtin và phạm vi biến động của tiêu thức nghiên cứu Lượng thông tin càng nhiều, phậm vi biến động của tiêu thức càng lớn thì càng phải phân làm nhiều tổ
Phương pháp này được áp dụng trong đề tài dựa vào một số tiêu thức: trình độhọc vấn, độ tuổi, mức độ thu nhập…để phân ra các nhóm khác nhau
b) Phương pháp thống kê mô tả
Thống kê mô tả là phương pháp dùng tổng hợp các phương pháp đo lường,
mô tả, trình bày số liệu được ứng dụng vào trong lĩnh vực kinh tế
Sử dụng số trung bình, giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất để nghiên cứu và
mô tả Xác định số tổ và khoảng cách tổ để nghiên cứu phạm vi biến động củatiêu thức nghiên cứu
Bảng thống kê là hình thức trình số liệu thống kê và thu thập thông tin đã thu thập làm cơ sở để phân tích và kết luận, cũng là trình bày vấn đề nghiên cứu nhờ vào đó có thể đưa ra nhận xét về vấn đề đang nghiên cứu Trong đề tài này phương pháp thống kê mô tả được áp dụng dựa vào một số tiêu thức: tình trạng sinh sống, mức độ sử dụng thịt lợn, mua thịt lợn ở đâu… để phân ra các nhóm tiêu dùng khác nhau nhằm xác định ảnh hưởng của các tiêu thức đến nhận thức của người tiêu dùng về vấn đề an toàn vệ sinh thịt lợn
c) Phương pháp phân tích tần số
Phân tích tần số là một trong những công cụ thống kê mô tả được sử dụng để
mô tả và tìm hiểu về đặc tính phân phối của một mẫu thô nào đó
Trong đề tài nghiên cứu này, phương pháp phân tích tần số được dùng để đo lường cả biến định lượng và biến định tính dưới dạng đếm số lần xuất hiện, để
mô tả một số biến liên quan đến đặc tính nhân khẩu học của đối tượng được phỏng vấn như giới tính, nghề nghiệp, trình độ học vấn… Ngoài ra, phương
Trang 39pháp này còn được dùng để mô tả và tìm hiểu một số biến có ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng như loại thịt thường mua, nơi mua hay tần suất mua…
Phương pháp này nhằm xác định mức độ quan trọng, ảnh hưởng của các yếu
tố tới hành vi của người tiêu dùng trong quyết định lựa chọn thực phẩm
3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
Nhóm chỉ tiêu về người được phỏng vấn: các thông tin về người được phỏng vấn như giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp Các nguồn thu nhậpcủa hộ, mức độ tiêu dùng bình quân trên tháng
Nhóm chỉ tiêu đánh giá về tính đa dạng khẩu phần ăn của hộ: tỷ lệ % số người
sử dụng các thực phẩm khác nhau và sự biến động trong tiêu dùng của các loại thực phẩm
Nhóm chỉ tiêu phản ánh tính sẵn có, khả năng tiếp cận và thay thế sản phẩm thịt lợn, địa điểm bán thịt, khoảng cách đến địa điểm bán thịt…
Nhóm chỉ tiêu phản ánh cách ứng xử khi mua và quyết định mua của người tiêu dùng thịt lợn trong các trường hợp: không có thịt, chất lượng thịt không đảm bảo,…
Nhóm chỉ tiêu phản ánh việc mua và xử lý thịt lợn: các đặc điểm liên quan đến thịt lợn, cách đóng gói và bảo quản thịt, cách thức chế biến và vệ sinh vật dụng liên quan…
Trang 40PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm chung của người tiêu dùng
4.1.1 Giới tính và độ tuổi của người tiêu dùng
Bảng 4.1 Đặc điểm của người được phỏng vấn
Số lượng (Người)
Tỷ lệ (%)
Số lượng (Người)
Tỷ lệ (%)
Số lượng (Người)
Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra năm 2015)
Do trong gia đình phụ nữ là người thường xuyên đi chợ nên qua bảng trên có thể thấy phụ nữ chiếm tỷ lệ rất cao (93,33%), trong khi đó nam giới chỉ chiếm6,67%
Độ tuổi được phỏng vấn tập trung nhiều nhất là từ 35 tuổi đến 50 tuổi chiếm hơn một nửa (60%) số người được phỏng vấn Kế đến là độ tuổi từ 25 đến 34 tuổi chiếm 38,33% số người được phỏng vấn, phần còn lại nằm ở độ tuổi trên
50 (1,67%), không có ai trong độ tuổi từ 20 đến 24 được phỏng vấn
4.1.2 Thông tin chung của người tiêu dùng
Bảng 4.2 Thông tin chung của người tiêu dùng
Số người phỏng vấn (người)