1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phân tích lợi ích và chi phí ứng dụng TCM Kinh thành Huế

30 147 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài word về ứng dụng TCM trong Phân tích lợi ích và chi phí.Phương pháp chi phí du lịch là phương pháp về sự lựa chọn ngầm có thể dùng để ước lượng đường cầu đối với các nơi vui chơi giải trí và từ đó đánh giá giá trị cho các cảnh quan này. Giả thiết cơ bản của TCM rất đơn giản, đó là chi phí phải trả để tham quan một nơi nào đó phần nào phản ánh được giá trị giải trí của nơi đó. Phương pháp này được sử dụng hữu ích trong việc đánh giá chất lượng của các khu vực thiên nhiên cung cấp giải trí, nơi mà mọi người thường lui tới để tổ chức các hoạt động giải trí như picnic, đi dạo. Thực chất những nơi có chất lượng môi trường tốt là những nơi người ta phát triển du lịch và có nhiều khách tham quan nghỉ ngơi. Do đó, nếu căn cứ vào chi tiêu của khách đến nghỉ ngơi ở vị trí du lịch thì có nghĩa là chất lượng môi trường tỷ lệ thuận với chi phí của du khách. Nếu xét về cầu thì: Nhu cầu về giải trí = Nhu cầu về khu vực tự nhiên Bản chất của phương pháp chi phí du lịch là sử dụng các chi phí của khách du lịch làm đại diện cho giá. Mặc dù chúng ta không quan sát được con người mua chất lượng hàng hoá môi trường nhưng chúng ta lại quan sát được cách họ đi du lịch để hưởng thụ tài nguyên môi trường. Đi du lịch là tốn tiền và cũng tốn thời gian. Các chi phí du lịch này có thể làm đại diện cho cái giá mà con người phải trả để hưởng thụ được cảnh quan môi trường. Có thể sử dụng phương pháp chi phí du lịch để xây dựng đường cầu cho các cảnh quan môi trường này. Bằng cách thu thập số lượng lớn số liệu chi phí du lịch và một số yếu tố khác có liên quan (thu nhập, số lần đến thăm…), chúng ta có thể ước lượng giá sẵn lòng trả tổng cộng cho những cảnh quan môi trường cụ thể.

Trang 1

MỤC LỤC

Chương I: TỔNG QUAN VỀ CHI PHÍ DU HÀNH (TCM) 3

1.1 Khái niệm 3

1.2 Các cách tiếp cận của phương pháp chi phí du lịch 3

1.2.1 Cách tiếp cận phương pháp chi phí du lịch theo vùng 4

1.2.2.Các bước thực hiện phương pháp chi phí du lịch theo vùng 5

1.3 Ưu điểm 7

1.4.Hạn chế 7

Chương II: TỔNG QUAN VỀ KINH THÀNH HUẾ 9

Chương III: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP TCM 20

3.1 Sử dụng ZTCM để xác định giá trị cảnh quan cho khu du lịch Kinh Thành Huế 21

3.2 Phương pháp thu thập và xử lí thông tin 21

3.3.Đặc điểm mẫu nghiên cứu 23

3.4 Xác định mô hình hàm cầu du lịch cho Kinh Thành Huế 24

3.5 Xây dựng đường cầu giải trí 26

3.6 Những kết quả thu được 30

3.7 Những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng môi trường tại Kinh Thành Huế 31

Trang 2

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CHI PHÍ DU HÀNH (TCM)

1.1 Khái niệm

Phương pháp chi phí du lịch là phương pháp về sự lựa chọn ngầm có thể dùng đểước lượng đường cầu đối với các nơi vui chơi giải trí và từ đó đánh giá giá trị chocác cảnh quan này Giả thiết cơ bản của TCM rất đơn giản, đó là chi phí phải trả đểtham quan một nơi nào đó phần nào phản ánh được giá trị giải trí của nơi đó.Phương pháp này được sử dụng hữu ích trong việc đánh giá chất lượng của các khuvực thiên nhiên cung cấp giải trí, nơi mà mọi người thường lui tới để tổ chức cáchoạt động giải trí như picnic, đi dạo Thực chất những nơi có chất lượng môitrường tốt là những nơi người ta phát triển du lịch và có nhiều khách tham quannghỉ ngơi Do đó, nếu căn cứ vào chi tiêu của khách đến nghỉ ngơi ở vị trí du lịchthì có nghĩa là chất lượng môi trường tỷ lệ thuận với chi phí của du khách Nếu xét

về cầu thì: Nhu cầu về giải trí = Nhu cầu về khu vực tự nhiên Bản chất của phươngpháp chi phí du lịch là sử dụng các chi phí của khách du lịch làm đại diện cho giá.Mặc dù chúng ta không quan sát được con người mua chất lượng hàng hoá môitrường nhưng chúng ta lại quan sát được cách họ đi du lịch để hưởng thụ tàinguyên môi trường Đi du lịch là tốn tiền và cũng tốn thời gian Các chi phí du lịchnày có thể làm đại diện cho cái giá mà con người phải trả để hưởng thụ được cảnhquan môi trường Có thể sử dụng phương pháp chi phí du lịch để xây dựng đườngcầu cho các cảnh quan môi trường này Bằng cách thu thập số lượng lớn số liệu chiphí du lịch và một số yếu tố khác có liên quan (thu nhập, số lần đến thăm…),chúng ta có thể ước lượng giá sẵn lòng trả tổng cộng cho những cảnh quan môitrường cụ thể

1.2 Các cách tiếp cận của phương pháp chi phí du lịch

Trong số các mô hình chi phí du lịch thì chi phí du lịch theo vùng (ZTCM) và chiphí du lịch theo cá nhân (ITCM) là 2 cách tiếp cận phổ biến và đơn giản nhất củaphương pháp chi phí du lịch

Trang 3

1.3.2.1 Cách tiếp cận phương pháp chi phí du lịch theo cá nhân (Individual TravelCost Method – ITCM)

Cách tiếp cận này xác định mối quan hệ giữa số lần đến điểm du lịch hàng năm củamột cá nhân với chi phí du lịch mà cá nhân đó phải bỏ ra

Vi = f(TCi , Si)

Trong đó : Vi là số lần đến điểm du lịch của cá nhân i trong 1 năm

TCi là chi phí du lịch của cá nhân i

Si là các nhân tố khác có ảnh hưởng đến cầu du lịch của cá nhân, ví dụ như : thunhập, chi phí thay thế, tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, và trình độ học vấn Đơn vị quan sát của ITCM là các cá nhân đến thăm điểm du lịch, giá trị giải trí củamỗi cá nhân là diện tích phía dưới đường cầu của họ Vì vậy, tổng giá trị giải trícủa khu du lịch sẽ được tính bằng cách tổng hợp các đường cầu cá nhân TheoCách tiếp cận ITCM sẽ gặp phải khó khăn khi sự dao động là quá nhỏ hoặc khi các

cá nhân không đến điểm du lịch một vài lần trong năm Do đó, nếu mọi khách dulịch chỉ đến địa điểm du lịch 1 lần trong năm thì khó có thể chạy hàm hồi quy.Cách tiếp cận phương pháp chi phí du lịch theo cá nhân chỉ phù hợp cho các khu

du lịch mà du khách đến nhiều lần trong năm như công viên hay vườn bách thảo 1.2.1 Cách tiếp cận phương pháp chi phí du lịch theo vùng (Zonal Travel CostMethod – ITCM)

Cách tiếp cận này xác định mối quan hệ giữa tỷ lệ tham quan của vùng xuất pháttới vị trí nghiên cứu với tổng chi phí du lịch của vùng xuất phát Áp dụng ZTCMthì diện tích xung quanh điểm du lịch sẽ được chia thành các vùng với khoảng cáchkhác nhau tới điểm du lịch, vì vậy đơn vị quan sát của ZTCM là các vùng Nhữnghạn chế nói trên của ITCM lại được khắc phục khi sử dụng ZTCM ZTCM sử dụng

tỷ lệ số lần viếng thăm của mỗi vùng tới điểm du lịch (VR) là hàm của chi phí dulịch, bởi vậy số lần một cá nhân đến điểm du lịch không ảnh hưởng đến hàm Tuynhiên, ZTCM cũng có những hạn chế riêng của nó Theo Georgiou et al 1997, “Môhình chi phí du lịch theo vùng thống kê không hiệu quả bởi nó tổng hợp dữ liệu từ

Trang 4

số lượng lớn các cá nhân thành một vài vùng quan sát Thêm vào đó, mô hình chiphí du lịch theo vùng coi tất cả các cá nhân đến từ một vùng có các chi phí du lịchnhư nhau trong khi điều này không phải lúc nào cũng đúng” Tuy nhiên, mô hìnhchi phí du lịch theo vùng ZTCM vẫn được áp dụng rộng rãi ở Việt Nam và cũngđược áp dụng để tính giá trị cảnh quan của Kinh Thành Huế

1.2.2 Các bước thực hiện phương pháp chi phí du lịch theo vùng

Bước 1: Xác định vị trí mà chúng ta cần đánh giá, sau đó chọn một số ngườithường xuyên lui tới đó

Bước 2: Sử dụng hệ thống phiếu điều tra, đánh giá, bảng hỏi đã thiết kế sẵn đểphỏng vấn từng khách du lịch Chúng ta hỏi khách du lịch về:

- Họ tới từ đâu (thành phố nào, nước nào)

- Số khách trên một phương tiện chuyên chở tới

- Phương tiện chuyên chở (ô tô, máy bay, xe máy…)

- Thời gian đi đến và ở tại địa điểm

- Tần suất du lịch, thời gian của chuyến đi

- Thu nhập của khách, Chi phí du lịch trực tiếp (chi phí di chuyển, thức ăn, chỗở…)

- Mục đích đi du lịch, sở thích du lịch Trong đó có hai nội dung cơ bản mà takhông thể bỏ qua, đó là quãng đường mà họ lui tới địa điểm nghiên cứu là bao xa

và số lần lui tới trong 1 năm Ngoài ra, ta cũng phải thu thập thông tin về số lượngkhách du lịch từ mỗi vùng và số lần thăm khu du lịch vào năm trước Ở tình huốnggiả thuyết này, giả định rằng cán bộ ở khu du lịch giữ những ghi chép về số lượngkhách du lịch và nơi đến của họ, những dữ liệu được sử dụng để tính tổng số lầnthăm k

Bước 3: Tiến hành phân nhóm các đối tượng được phỏng vấn dựa trên cơ sởkhoảng cách mà họ đi tới địa điểm du lịch Điều này có nghĩa là những người đến

Trang 5

từ các vùng có khoảng cách tương tự nhau chúng ta gộp vào một nhóm., mỗi nhómnày sẽ cách điểm nghiên cứu một khoảng nhất định

Bước 4: Ước tính chi phí và số lần đi tới vị trí đánh giá của từng nhóm Đây làbước quan trọng nhất, là cơ sở để xây dựng hàm cầu cho các cảnh quan môitrường

- Thứ nhất là về chi phí của chuyến đi: chi phí toàn bộ của chuyến đi sẽ được tínhnhư sau:

P = c + f + n + t + l

Trong đó : c là vé vào cổng f là chi phí ăn uống n là chi phí nghỉ ngơi t là chi phíthời gian l là chi phí đi lại Như vậy, chi phí của toàn bộ chuyến đi bao gồm: vé vàocổng, chi phí nghỉ ngơi, chi phí ăn uống, chi phí cơ hội trên đường đi và trong thờigian lưu lại khu giải trí, chi phí phương tiện giao thông

- Thứ hai là tính tỷ lệ thăm trên 1000 dân ở mỗi vùng Nó đơn giản chỉ là tổng lượt thăm mỗi năm từ mỗi vùng chia cho dân số của vùng với đơn vị nghìn Bước 5: Xem xét mối quan hệ giữa chi phí của chuyến đi và số lần đi tới vị trí đánh giá của các nhóm thông qua các số liệu điều tra, tính toán ở trên

Vi = V(TCi , POPi , Si)

Hay: VRi = V(TCi , Si)

Toàn bộ vùng sẽ có nhu cầu là: niVRi = niV(TCi , Si)

Trong đó: ni là số người ở vùng i đến thăm quan Mối quan hệ giữa chi phí đi lại và

số lần đi lại được coi là thể hiện nhu cầu giải trí Có nghĩa là chúng ta giả định rằngchi phí đi lại thể hiện giá trị giải trí và số lần đi lại thể hiện lượng giải trí

Tuy nhiên, để phương pháp chi phí du lịch có thể áp dụng được, một số giả thiết sau phải được thoả mãn:

- Chi phí đi lại và giá vé vào cổng có ảnh hưởng như nhau tới hành vi, nghĩa là các

cá nhân nhận thức và phản ứng về sự thay đổi trong chi phí đi lại theo cùng một

Trang 6

kiểu đối với những thay đổi trong giá vé vào cổng Điều này có ý nghĩa quan trọng

để xác định tổng chi phí một cách chính xác

- Từng chuyến đi tới điểm giải trí chỉ nhằm mục đích thăm riêng điểm đó Nếu giả thiết này bị vi phạm, tức là chi phí đi lại sẽ bị tính chung giữa nhiều nơi tham quan,thì rất khó có thể phân bổ chi phí một cách chính xác giữa các mục đích khác nhau

- Toàn bộ các lần viếng thăm đều có thời gian lưu lại giống nhau, có như vậy thì ta mới đánh giá được lợi ích của điểm giải trí thông qua số lần viếng thăm

- Không có tiện ích hoặc bất tiện nào khác trong thời gian di chuyển tới điểm giải trí để đảm bảo chi phí đi lại không bị tính vượt quá mức

có những cách xử lý về mặt kỹ thuật phù hợp Tóm lại, đo lường sự thay đổi chất lượng môi trường là công việc khó khăn Cái mà người ta muốn đo lường là giá trị

Trang 7

thay đổi chất lượng môi trường tại một địa điểm Phương pháp chi phí du lịch chỉ đại diện cho giá sẵn lòng chi trả cho một mức chất lượng môi trường Với những khó khăn này, TCM được sử dụng hạn chế trong phân tích chi phí lợi ích Tuy nhiên, nó lại rất hữu dụng trong việc tính giá trị kinh tế của một khu rừng, vườn quốc gia hay hệ sinh thái

Trang 8

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ KINH THÀNH HUẾ

Cố đô Huế là một trong những địa điểm du lịch nổi tiếng của Việt Nam hàng năm thu hút rất nhiều du khách từ trong và ngoài nước

Huế là vùng đất kinh kỳ xưa được nhà Nguyễn xây dựng làm trung tâm chính trị, kinh

tế và văn hóa của cả nước từ đầu thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20

Nơi đây từng là kinh đô của triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam, nơi chứng kiến biết bao thăng trầm trọng một giai đoạn lịch sử chuyển giao giữa thời kỳ Phong kiến, thuộc địa và thời kỳ xây dựng đất nước trong thời đại mới

Ngày nay, Huế hầu như còn lưu giữ khá nguyên vẹn các công trình kiến trúc đặc trưngcủa chế độ phong kiến nhà Nguyễn trải qua 143 năm từ năm 1802 đến năm 1945.Một trong những công trình kiến trúc đặc trưng tiêu biểu và hoành tráng nhất trong quần thể di tích cô đô Huế đó là Kinh Thành Huế

Hệ thống kinh thành ngày này gồm rất nhiều công trình kiến trúc quan trọng, nơi từng

là trung tâm chính trị của cả nước và là nơi trị vì của 13 vị vua triều Nguyễn

2.1 Kinh Thành – Kỳ Đài Huế

Địa điểm lý tưởng nhất để hướng dẫn viên giới thiệu về Kinh Thành Huế chính là ở lầu Ngũ Phụng, nơi du khách có thể nhìn thấy được dòng sông Hương, núi Ngự Bình phía xa và Cồn Hến, cồn Dã Viên Đây chính là một trong những yếu tố phong thủy cho Kinh Thành Huế

Kinh thành Huế được xây dựng dưới thời vua Gia Long, là vị vua khai quốc của triều đại nhà Nguyễn

Công cuộc khảo sát để xây dựng Kinh Thành Huế bắt đầu từ năm 1803, chính thức khởi công vào năm 1805 hoàn chỉnh vào khoảng những năm 1832 dưới thời vua Minh Mạng

Có thể nói rằng, kinh thành Huế là một trong những thành tựu vỹ đại của vua Gia Long và triều Nguyễn

Trang 9

Kinh thành Huế được xây dựng trên diện tích khoảng 520 ha có chu vi 10km cao 6,6mdày 21m Thành có kiến trúc hình Vauban được xây khúc khỉu với những pháo đài phòng thủ được bố trí gần như điều nhau trên mặt thành Thành ban đầu chỉ đắp bằng đất, mãi đến cuối thời vua Gia Long thành mới được cho ốp gạch như chúng ta thấy ngày hôm nay.

Bên ngoài vòng thành có một hệ thống hộ thành hào chạy dọc theo chân thành có tác dụng như là chướng ngại vật có chức năng phòng thủ vừa có chức năng giao thông thủy

Kinh thành Huế xoay mặt về hướng Nam theo phong thủy trong Kịch dịch “Thánh nhân nam diện, vi thính thiên hạ” Có nghĩa là “ Vua phải quay mặt về hướng nam để trị vì thiên hạ”

Kinh thành Huế lấy núi ngự bình cao 104m về phía nam làm yếu tố Tiền Án, Sông hương chảy qua trước mặt kinh thành làm yếu tố Minh Đường Hai bên tả hữu sông cócồn Hến và cồn Dã Viên làm yếu tố tả Thanh Long và Hữu Bạch Hỗ

Tổng cộng kinh thành Huế có tất cả 13 của ra vào cả đường bộ và đường thủy

Thành có 10 của chính gồm:

 Cửa Chính Bắc (Còn gọi là cửa Hậu, nằm phía sau kinh thành)

 Cửa Tây – Bắc (Cửa An Hòa)

 Cửa Chính Tây

 Cửa Tây – Nam (Cửa Hữu, bên phải Kinh Thành)

 Cửa Chính Nam (Cửa Nhà Đồ)

 Cửa Quảng Đức

 Cửa Thể Nhơn (Cửa Ngăn)

 Cửa Đông Nam (Cửa Thượng Tứ)

 Cửa Chính Đông (Cửa Đông Ba)

 Cửa Đông Bắc (Cửa Kẻ Trài)

Trang 10

Ngoài ra kinh thành còn 1 cửa thông với Trấn Bình Đài hay còn gọi là đồn Mang Cá một góc thành nhỏ ở phía Đông Bắc.

Đặc biệt kinh thành Huế còn có 2 cửa Thủy được đặt tên là:

- Đông thành Thủy Quan hay còn gọi là Cống Lương Y thông giữa sông Ngự Hà và sông đào Đông Ba

- Tây Thành Thủy quan hay còn gọi là cống Thủy Quan thông giữa sông Ngự Hà và sông đào kẻ Vạn ở khy vực Kim Long

Phía trước kinh thành Huế về hướng Nam là hướng quan trọng nhất của Kinh Thành

có Kỳ đài hay còn gọi là Cột Cờ cố đô Huế

Kỳ Đài được xây dựng vào năm 1807 dưới thời vua Gia Long Đến thời vua Minh Mạng, Kỳ Đài được tu sửa hoản chỉnh vào các năm 1829, 1831 và 1840

Kỳ Đài gồm 2 phần chính là Đài và Cột cờ

Trang 11

 Đài gồm 3 tầng hình chóp cụt hình chữ nhật chồng lên nhau tượng trưng cho Thiên địa và Nhân Tầng thứ nhất cao hơn 5,5 m, tầng giữa cao khoảng 6 m, tầng trên cùng cao hơn 6 m Tổng cộng của ba tầng đài cao khoảng 17,5 m Từ mặt đất lên tầng dưới bằng một lối đi nhỏ ở phía trái Kỳ Ðài, tầng dưới thông với tầng giữa bằng một cửa vòm rộng 4 m, tầng giữa thông với tầng trên cùng cũng bằng một cửa vòm rộng 2 m Ðỉnh mỗi tầng có xây một hệ thống lan can cao 1 m được trang trí bằng gạch hoa đúc rỗng Nền ba tầng lát gạch vuông và gạch vồ, có hệ thống thoát nước mưa xuống dưới Trước đây còn có hai chòi canh và tám khẩu đại bác.

 Cột cờ nguyên xưa làm bằng gỗ, gồm hai tầng, cao gần 30 m Năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), cột cờ được thay bằng một cây cột gỗ dài hơn 32 m Đến

năm Thành Thái thứ 16 (1904), cột cờ này bị một cơn bão lớn quật gãy, nên sau phải đổi làm bằng ống gang Năm 1947, khi quân Pháp tái chiếm Huế, cột cờ lại bị pháo bắn gãy một lần nữa Năm 1948, cột cờ bằng bê tông cốt sắt với tổng chiều cao 37 m hiện nay mới được xây dựng

Ngày nay Kỳ Đài Huế được treo Quốc kỳ của nước Việt Nam có diện tích 9 x 12m.Cửu vị Thần Công:

Cửu vị Thần Công là tên gọi của 9 khẩu Đại Bác được đặt hai bên cửa Quảng Đức và Thể Nhơn

Hiện nay, du khách khi vào tham quan Hoàng Thành Huế sẽ bắt gặp khi đi qua cửa Quảng Đức và Thể Nhơn

Cửu Vị thần Công được các nghệ nhân đúc đồng Huế đúc theo lệnh của vua Gia Long sau khi đánh bại triều Tây Sơn

Năm 1803 sau khi chiếm lại kinh đô Phú Xuân, vua Gia Long lên ngôi đã truyền tập hợp tất cả các binh khí bằng đồng của triều Tây Sơn đúc thành 9 khẩu đại bác và đặt tên là Cửu Vị Thần Công nhằm kỷ niệm chiến thắng

Mỗi khẩu đại bác dài 5,1m và nặng khoảng 17,000 kg Ngày nay chúng ta vẫn còn thấy rõ kích cỡ và trọng lượng được khắc trên mỗi khẩu đại bác Đồng thời còn ghi rõ cách thức sử dụng súng cũng như thuốc súng ở trên mỗi khẩu Đại Bác

Mỗi khẩu thần công được đặt theo Ngũ Hành gồm 5 khẩu hiện nay để ở cửa Quảng

Trang 12

Đức là : Kim, Mộc, thủy, Hỏa, Thổ và 4 khẩu được đặt theo tứ thời là: Xuân, Hạ, Thu, Đông ngày nay được đặt ở cửa Thể Nhơn.

2.2 Hoàng Thành Huế:

Hoàng Thành Huế là vòng thành thứ 2 bên trong Kinh Thành Huế có chiều dài mỗi mặt thành khoảng 600m và gần như là vuông Chiều cao khoảng 4, và dày 1m được xây bằng gạch vồ

Hoàng Thành chính là trái tim và là nơi quan trọng nhất của Kinh thành Huế, nơi đặt các cung điện, ngai vàng, trung tâm chính trị và nơi ở và làm việc của Hoàng gia triều Nguyễn

Hoàng Thành và Tử Câm Thành được gọi chung là Kinh Thành

Hoàng Thành được xây dựng vào năm 1804 dưới thời vua Gia Long nhưng mãi đến năm 1833 mới hoàn chỉnh hệ thống cung điện với khoảng 147 công trình lớn nhỏ khác nhau

Hoàng Thành được trổ 4 cửa để ra vào gồm: Cửa Ngọ Môn nằm ở phía nam được xem

là cửa quan trọng nhất nơi đặt lễ đài là lầu Ngũ Phụng được xem như là bộ mặt của Quốc gia, nơi đón xứ thần các nước

Cửa phía Bắc được đặt tên là cửa Hòa Bình, tả hữu hai bên là cửa Hiển Nhơn và Chương Đức

Các cầu và hồ xung quanh hoàng thành điều có tên gọi là Kim Thủy

Hoành Thành và các Cung điện bên trong điều được bố trí trên một trục đối xứng gọi

là trục Thần Đạo Trong đó chính giữa trục Thần Đạo chỉ bố trí các công trình dành cho vua như cửa Ngọ Môn, cầu Trung Đạo, điện Thái Hòa, điện Cần Chánh, Cửa Hòa Bình

Hai bên trục thần đạo tính từ trong ra ngoài được bố trí tuân theo nguyên tắc: Tả Văn Hữu Võ, Nam tả nữ Hữu hay Tả Chiêu Hữu Mục

Ngọ Môn – Lầu Ngũ Phụng:

Cửa Ngọ môn là cửa chính của Hoàng Thành Huế là cửa quan trọng nhất trong 4 cửa của Hoàng thành nơi dành để cho vua đi trong các dịp lễ quan trọng và là nơi diễn ra các buổi lễ quan trọng như lễ: đón tiếp xứ thần các nước, lễ sướng tên các Tiến Sỹ, lễ

Trang 13

Ban Sóc và lễ Duyệt Binh.

Vị trị của cửa Ngọ Môn trước đây có tên là Nam Khuyết Đài được xây dựng vào thời vua Gia Long, phía trên đài có điện Càn Nguyên, hai bên có hai cửa tả hữu Đoan Môn.Đến năm Minh Mạng thứ 14 tức năm 1833 khi vua Minh Mạng cho quy hoạch lại toàn

bộ kinh thành Huế đã cho phá bỏ Nam Khuyết Đài và xây dựng của Ngọ Môn và Lầu Ngũ Phụng như ngày hôm nay

Cửa Ngọ Môn gồm có 2 phần chính là phần Đài Cổng và Phần lầu Ngũ Phụng

 Phần cửa Ngọ Môn hay còn gọi là phần nền đài được xây dựng bằng gạch vồ và

đá Thánh, móng được gia cố chịu lực bằng đồng thau Nền đài có hình chữ U vuônggóc có chiều dài đáy 57,77m chiều dài cánh 27,06m chiều cao 5m với diện tích tính phần chữ U là 1560m2

Ở phần giữ nền đài nhìn từ ngoài vào có 3 cổng chính: Cổng chính giữa đặt tên là Ngọ Môn và chỉ được dành cho Vua, hai cửa hai bên được đặt tên là Tả Giáp Môn và Hữu Giáp Môn dành cho quan văn và quan vỏ theo nguyên tắc Tả Văn Hữu Vỏ

Đặc biệt hai bên cánh chữ U có 2 cửa vòng nhỏ mà chỉ được nhìn thấy từ phía trong ra ngoài đó là Tả Dịch Môn và Hữu Dịch Môn Hai cửa quanh này chỉ dành cho voi ngựa, quân lính và đoàn tùy tùng khi vua xuất hành qua cửa Ngọ Môn

 Phần lầu Ngũ Phụng: Công trình kiến trúc đẹp nhất trong quần thể Hoàng Thành Huế được xây dựng trên nền đài của cửa Ngọ Môn

Lầu Ngũ Phụng có mặt bằng hình chữ U dựa theo nền móng của cửa Ngọ Môn gồm 2 tầng lầu và hai tầng mái

Lầu được dựng trên nền cao 1,14m xây dựng trên nền đài của cửa Ngọ Môn Khung của lầu được dựng trên 100 cây cột gỗ Lim tượng trưng cho Bách tính trăm họ trong thiên hạ, trong đó có 48 cây cột xuyên xuốt 2 tầng lầu

Hệ thống mái dưới chạy quanh lầu xuyên suốt để che nắng che mưa cho tất cả các phần lang cang phía dưới

Hệ thống mái tầng trên phức tạp hơn được chia làm 9 bộ mái trong đó bộ mái giữa caohơn 8 bộ mái 2 bên được dành cho vua ngự

Trang 14

Bộ mái giữa được lợp bằng ngoái Hoàng Lưu Ly màu vàng tượng trưng cho nhà vua 8

bộ mái còn lại chia điều cho hai bên được lợp mái Thanh Lưu Ly màu xanh ngọc

 Chức năng của cửa Ngọ Môn và Lầu ngũ phụng:

Cửa Ngọc Môn và Lầu ngũ phụng là công trình kiến trúc quan trọng nó được xem như

là một lễ đài và bộ mặt của quốc gia

Nơi đây một năm chỉ có vài ngày diễn ra các lễ lớn quan trọng của đất nước, còn lại quanh năm cổng chỉnh được đóng kín và chỉ mở ra khi có dịp vua vi hành có đoàn tùy tùng hoặc khi vua xuất cung tế đàn Nam Giao

 Lễ truyền lô: Ngày nay khi tham quan lầu Ngũ Phụng, du khách có cơ hội chiêm ngưỡng bức tranh sơn dầu mô tả lại lễ truyền Lô hay còn gọi là lễ sướng tên khác sỹ tử đỗ Tiến Sỹ trong cuộc thi Đình tại Kinh Thành

Vào buổi lễ truyền lô, đoàn xa giá của vua xuất phát từ điện Thái Hòa sau đó lên lầu Ngũ Phụng Vua ngự trên ngai vàng được đặt chính giữa lầu Ngũ Phụng

Phí dưới dân Ngọ Môn Các sỹ tử đỗ Tiến sỹ trong khoa thi Đình đứng lần lượt hai bêntheo nguyên tắc tả văn hữu vỏ chờ quan bộ Lễ tuyên đọc sắc phong vua ban Sau đó lần lượt các sỹ tử sẽ nhận ấn tứ Vinh quy và được cưỡi ngựa về làng Vinh Quy Bái Tổ.Theo luật lệ triều Nguyễn Làng nào có sỹ tử đỗ khoa thi Đình sẽ được miễn thuế 3 năm Cho nên nhân gian có câu truyền miệng “Một người làm quan, cả họ được nhờ”

 Lễ Ban Sóc: Lễ phát lịch hàng năm của nhà vua cho năm mới

 Lễ tiếp xứ thần các nước: Ngọ Môn cũng là nơi làm lễ tiếp đón các xứ thần các nước lân ban trong đó có xứ thần Trung Quốc

 Lễ Duyệt Binh

 Dấu mốc lịch sử quan trọng đã diễn ra tại Ngọn Môn:

Trải qua 143 năm trì vị của nhà Nguyễn, chứng kiến biết bao thăng trầm trong tiến trình lịch sử Ngọ môn bản thân nó cũng chứng kiến rất nhiều sự kiện trọng đại của dân tộc Việt Nam mà điển hình là lễ thoái vị của vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng của chế độ Phong Kiến Việt Nam

Trang 15

Năm 1945, cách mạng tháng 8 thành công vang dội trong cả nước, vua Bảo Đại lúc đó dưới sự chứng kiến của đại diện chính phủ lâm thời cách mạng đã trao ấn kiếm của nhà vua là biểu tượng quyền lực của chế độ phong kiến cho ông Trần Huy Liệu và Nguyễn Lương Bằng.

Vua Bảo Đại đã đọc chiếu thoái vị và được ông Cù Huy Cận gắn huy hiệu công nhân Việt Nam lên áo

Tại đây, vua Bảo Đại đã có một câu nói nổi tiếng “Trẫm thà làm dân một nước tự do độc lập còn hơn làm vua của một nước nô lệ”

1 Điện Thái Hòa:

Điện Thái Hòa là công trình kiến trúc quan trọng nhất trong quần thể Hoàng Thành Huế Là nơi đặt ngai vàng của các vị vua nhà Nguyễn, là trung tâm chính trị của cả nước trong 143 năm

Điện Thái hòa được đặt ở Trung Tâm khu vực Hoàng Thành, theo phong thủy là nơi trung tâm của vũ trụ Điện quay mặt về hướng chánh nam được nối với cửa Ngọ Môn bằng một cây cầu đá bắt qua hồ Thái Dịch được gọi là cầu Trung Đạo

Xưa kia cầu Trung Đạo chỉ dành cho vua đi Các quan văn võ phải đi hai lối hai bên tả hữu để vào sân chầu hay còn gọi là sân Đại Triều Nghi

Phía đầu và cuối cầu Trung Đạo được dựng hai chiếc cổng có hình lưỡng long chầu Nhật Phía trên có khắc 4 chữ “ Chính đại quang minh” và “Chính trực đẳng bình” có ngụ ý rằng thiên tử khi đi qua đây để trị vì thiên hạ phải có cái tâm chính trực bình đẳng và quang minh chính đại

Phía trước điện Thái Hòa là sân Đại Triều Nghi, nơi thiết hành lễ Đại Triều vào ngày mồng 1 và 15 hàng tháng

Ngày đăng: 24/07/2018, 23:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w