1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu về thành phần và sự phân bố của các loài ong mật thuộc họ megachilidae (hymenoptera apoidea) ở một số khu vực thuộc bắc bộ và trung bộ

104 242 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 31,79 MB
File đính kèm file in.rar (6 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAMVIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT ==========***========== TRẦN THỊ NGÁT NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN VÀ SỰ PHÂN BỐ CỦA CÁC LOÀI ONG MẬT THUỘC H

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

==========***==========

TRẦN THỊ NGÁT

NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN VÀ SỰ PHÂN BỐ

CỦA CÁC LOÀI ONG MẬT THUỘC HỌ

MEGACHILIDAE (HYMENOPTERA: APOIDEA)

Ở MỘT SỐ KHU VỰC THUỘC BẮC BỘ VÀ TRUNG BỘ

LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC

Hà Nội, 2017

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

==========***==========

TRẦN THỊ NGÁT

NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN VÀ SỰ PHÂN BỐ

CỦA CÁC LOÀI ONG MẬT THUỘC HỌ

MEGACHILIDAE (HYMENOPTERA: APOIDEA)

Ở MỘT SỐ KHU VỰC THUỘC BẮC BỘ VÀ TRUNG BỘ

Chuyên ngành: Động vật học

Mã số: 60.42.01.03

LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học

TS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LIÊN

Hà Nội, 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp này, tôi đãnhận được sự giúp đỡ tận tình và quý báu của các cơ quan và cá nhân Tôi xinbày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

- TS Nguyễn Thị Phương Liên – người đã trực tiếp hướng dẫn tận

tình trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

- Các nhà khoa học và các thầy cô đang công tác tại Viện Sinh thái

và Tài nguyên sinh vật và các cơ quan khác (Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện nghiên cứu hệ gen, trường Đại học Sư phạm Hà Nội) đã trực

tiếp giảng dạy, truyền thụ kiến thức và kinh nghiệm quý báu để tôi hoàn thànhkhóa học này

- Quỹ học bổng Nagao đã hỗ trợ một phần kinh phí để tôi hoàn thành

luận văn tốt nhất

Hà Nội, tháng 8 năm 2017

Học viên

Trần Thị Ngát

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân dưới sự

hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Thị Phương Liên.

Kết quả nghiên cứu hoàn toàn trung thực, nếu sai, tôi xin chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 8 năm 2017

Học viên

Trần Thị Ngát

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Thành phần và số lượng cá thể của các loài ong mật thuộc họMegachilidae ở Bắc Bộ và Trung Bộ 24Bảng 3.2 Số loài và tỉ lệ phần trăm mỗi giống của họ Megachilidae

27thu được ở Bắc Bộ và Trung Bộ 27Bảng 3.3 Mức độ phổ biến của các loài ong mật thuộc họ Megachilidae ở Bắc

Bộ và Trung Bộ 28Bảng 3.4 Số lượng loài ong mật của các giống thuộc họ Megachilidae thuđược ở 3 khu vực thuộc Bắc Bộ 62Bảng 3.5 Số lượng loài ong mật của các giống thuộc họ Megachilidae thuđược ở 3 khu vực của Trung Bộ 64Bảng 3.6 Các điểm phân bố của các loài ong mật thuộc họ Megachilidae ở Bắc

Bộ và Trung Bộ 65Bảng 3.7 Độ tương đồng về thành phần loài ong mật thuộc họ Megachilidaegiữa các khu vực nghiên cứu 71Bảng 3.8 Chỉ số đồng đều (J’) và chỉ số đa dạng Shannon – Weiner (H’) ở cáckhu vực nghiên cứu thuộc Bắc Bộ và Trung Bộ 73

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Phần đầu của ong mật 10

Hình 1.2 Cấu tạo của râu 10

Hình 1.3 Cấu tạo của phần ngực .11

Hình 1.4 Cấu tạo của cánh .11

Hình 1.5 Cấu tạo của chân 12

Hình 1.6 Cấu tạo của phần bụng 12

Hình 3.1 Anthidiellum carinatum (Wu, 1962) 33

Hình 3.2 Euaspis divercarinata Pasteels, 1980 34

Hình 3.3 Pachyanthidium lachrymosum (Smith, 1879) 36

Hình 3.4 Coelioxys basalis Smith, 1875 37

Hình 3.5 Coelioxys capitata Smith, 1854 .39

Hình 3.6 Coelioxys decipiens Spinola, 1838 .40

Hình 3.7 Coelioxys sexmaculata Cameron, 1897 42

Hình 3.8 Megachile atrata Smith, 1853 .43

Hình 3.9 Megachile bhavanae Bingham, 1897 44

Hình 3.10 Megachile fratera Smith, 1853 45

Hình 3.11 Megachile hera Bigham, 1897 .47

Hình 3.12 Megachile subrixator Cockerell, 1915 48

Hình 3.13 Megachile trichorhytisma Engel, 2006 .49

Hình 3.14 Megachile umbripennis Smith, 1853 51

Hình 3.15 Megachile velutina Smith, 1853 53

Hình 3.16 Anthidiellum sp.1 55

Hình 3.17 Anthidiellum sp.2 56

Hình 3.18 Trachusa sp 58

Hình 3.19 Heriades sp.1 59

Hình 3.20 Heriades sp.2 60

Hình 3.21 Coelioxys sp.1 62

Hình 3.22 Sự phân bố của các loài ong mật thuộc họ Megachilidae .64

Hình 3.23 Sự tạo nhóm giữa các khu vực nghiên cứu về thành phần loài .72

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

B : Bắc

Đ : Đông

S : Mặt dưới đốt bụng T : Mặt trên đốt bụng KTTN : Khubảo tồn thiên nhiên VQG : Vườn Quốc Gia

ĐBSH : Đồng bằng sông HồngHNL : Hà Ngọc Linh

NĐĐ : Nguyễn Đắc Đại

NPM : Nguyễn Phượng Minh NTPL : Nguyễn Thị Phương LiênNQC : Nguyễn Quang Cường PHP : Phạm Huy Phong

Trang 8

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2

4 Các điểm mới của luận văn 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Khái quát về vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên của các khu vực nghiên cứu 3

1.1.1.Vị trí địa lí 3

1.1.2.Điều kiện tự nhiên 4

1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 7

1.2.1.Khái quát về các loài ong mật thuộc họ Megachilidae 7

1.2.2.Tình hình nghiên cứu về họ Megachilidae trên thế giới 14

1.2.3.Tình hình nghiên cứu về họ Megachilidae ở Việt Nam 18

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 20

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20

2.1.2 Thời gian nghiên cứu 20

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 20

2.2 Nội dung nghiên cứu 20

2.3 Phương pháp nghiên cứu 21

2.3.1 Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa 21

2.3.2 Phương pháp xử lý mẫu vật trong phòng thí nghiệm 21

2.3.3 Phương pháp quan sát và định loại mẫu vật 22

2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 22

Trang 9

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24

3.1 Thành phần và mức độ phổ biến của các loài ong mật thuộc họ Megachilidae ở các khu vực nghiên cứu 24

3.1.1 Thành phần các loài ong mật thuộc họ Megachilidae ở các khu vực nghiên cứu 24

3.1.2 Mức độ phổ biến của các loài ong mật thuộc họ Megachilidae ở các khu vực nghiên cứu 28

3.1.3 Mô tả giống, các loài ghi nhận mới và các loài chỉ được định loại đến giống 30

3.2 Sự phân bố và thích nghi của các loài ong mật ở các khu vực nghiên cứu 62

3.2.1 Sự phân bố của các loài ong mật ở các khu vực nghiên cứu 62

3.2.2 Khả năng thích nghi của các loài ong mật ở các khu vực nghiên cứu 65

3.3 So sánh tính đa dạng của các loài ong mật thuộc họ Megachilidae ở các khu vực nghiên cứu 71

3.3.1 Độ tương đồng về thành phần loài ong mật giữa các khu vực nghiên cứu 71

3.3.2 So sánh chỉ số đồng đều và chỉ số đa dạng của các loài ong mật thuộc họ Megachilidae ở các khu vực nghiên cứu 73

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75

1 Kết luận 75

2 Kiến nghị 75

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 PHỤ LỤC

Trang 10

1

Trang 11

1 Lý do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Họ Megachilidae là một trong những họ có sự đa dạng cao về thành phầnloài trong tổng họ Ong mật Apoidea Theo thống kê của Ascher và Pickering(2016) [34], trên thế giới hiện có hơn 4000 loài thuộc họ Megachilidae đãđược mô tả Các loài ong thuộc họ này được tìm thấy ở khắp nơi trên thế giới

và phổ biến nhất là ở Bắc Mỹ (Serrano, 2014) [29] Các loài ong mật thuộc họMegachilidae nói riêng là một trong những trợ thủ đắc lực cho nền nôngnghiệp Chúng là nhân tố thụ phấn quan trọng cho nhiều cây trồng ăn quả,một số loại cây trồng khác như hành tây, cà rốt, các loài hoa dại,.… Thậm chí,

một số loài ong thuộc họ này (như Osmia spp., Megachile rotundata,…) còn

được sử dụng như những loài thụ phấn thương mại (giống các loài ong mật

thuộc giống Apis trong họ Ong mật Apidae) cho một số cây trồng như cỏ linh

lăng, cây việt quất (Bohart, 1972; Serrano, 2014) [6, 29]

Tuy nhiên, gần đây mới chỉ có một số tác giả trong và ngoài nước quantâm nghiên cứu về các loài ong mật thuộc họ Megachilidae ở Việt Nam (LêXuân Huệ, 2008; Khuat et al., 2012; Ascher and Pickering, 2016) [1, 16, 34],

và cho đến nay cũng mới chỉ có ba công trình công bố về họ ong này Mặtkhác, trong các công trình nghiên cứu đó chỉ đưa ra tên khoa học của các loàichứ không đề cập đến tình hình phân bố của loài đó trên thế giới và ViệtNam, cũng như không có hình ảnh minh họa rõ ràng cho các loài, kể cả nhữngloài được xác định là loài ghi nhận mới cho Việt Nam

Bắc Bộ và Trung Bộ được cấu thành từ các tiểu vùng lãnh thổ khác nhau,

do đó địa hình mang những đặc trưng riêng của mỗi miền Bắc Bộ mang khíhậu nhiệt đới gió mùa ẩm, lại có mùa đông lạnh Mặc dù, một phần phía bắccủa Trung Bộ cũng có mùa đông lạnh kèm theo mưa nhưng nhìn chung nềnnhiệt trung bình của Trung Bộ cao hơn hẳn so với Bắc Bộ Với sự khác nhau

Trang 12

về địa hình cũng như khí hậu sẽ tạo nên sự khác biệt về đa dạng côn trùng nóichung và thành phần các loài ong mật nói riêng ở mỗi miền, đồng thời gópmột phần không nhỏ tạo nên sự đa dạng các loài ong mật ở Việt Nam.

Nhằm làm rõ sự đa dạng về thành phần cũng như sự phân bố của các loàiong mật thuộc họ Megachilidae ở một số khu vực thuộc Bắc Bộ, Trung Bộ và

sự sai khác về thành phần các loài ong mật thuộc họ này ở các khu vực nghiêncứu, đồng thời tạo tiền đề cho công tác bảo tồn các loài ong mật nói chung, tôilựa chọn đề tài: “Nghiên cứu về thành phần và sự phân bố của các loài ongmật thuộc họ Megachilidae (Hymenoptera: Apoidea) ở một số khu vực thuộcBắc Bộ và Trung Bộ”

2 Mục đích của đề tài

Nghiên cứu thành phần và sự phân bố của các loài ong mật thuộc họMegachilidae ở một số khu vực điển hình, đại diện cho miền Bắc và miềnTrung của nước ta, đồng thời so sánh sự đa dạng của chúng giữa các khu vựcnghiên cứu, tạo cơ sở cho nghiên cứu sau này về sinh học sinh thái, sinh họcbảo tồn các loài ong mật thuộc họ Megachilidae

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

- Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu nhằm đưa ra những dẫn liệu mới về sự

đa dạng thành phần và phân bố của các loài ong mật thuộc họ Megachilidae ởmột số khu vực điển hình, đại diện cho miền Bắc và miền Trung nước ta

- Ý nghĩa thực tiễn: Tạo tiền đề cho công tác bảo tồn các loài ong mậtthuộc họ Megachilidae nói riêng và tổng họ Ong mật Apoidea nói chung ởViệt Nam

4 Các điểm mới của luận văn

Đây là nghiên cứu đầu tiên về thành phần và sự phân bố của các loài ongmật thuộc họ Megachilidae ở một số khu vực thuộc Bắc Bộ và Trung Bộ

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái quát về vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên của các khu vực nghiên cứu

1.1.1.Vị trí địa lí

Theo địa lý tự nhiên, Việt Nam được chia thành 3 miền: Bắc Bộ, Trung

Bộ và Nam Bộ Nhưng trong khuôn khổ luận văn này chỉ tiến hành nghiêncứu ở 2 miền Bắc Bộ và Trung Bộ của Việt Nam do thời gian nghiên cứu cóhạn và các mẫu vật ở một số khu vực đại diện cho hai miền này đã được thuthập trong thời gian gần đây

Bắc Bộ nằm ở vùng cực Bắc của lãnh thổ Việt Nam, phía bắc giáp Tru n g Qu

ố c, phía tây giáp Lào và phía đông giáp b i ển Đô ng Được bắt đầu từ vĩ độ

23o23’ Bắc đến 8o27’ Bắc với chiều dài là 1 650 km Chiều ngang Đông - Tây

là 500 km, rộng nhất so với n g BộTru v à Nam B ộ

Bắc Bộ được chia thành 3 tiểu vùng lãnh thổ: Tây Bắc Bộ, Đông Bắc Bộ

Trung Bộ có phía Bắc giáp khu vực đồng bằng Sông Hồ n g v à Trung dumiền núi vùng Bắc Bộ, phía Nam giáp các tỉnh Bình Phướ c , Đồ n g Nai v à BàRịa-Vũ n g T à u v ùng Nam Bộ, phía Đông giáp Biển Đô ng , phía Tây giáp 2nước Lào v à C a m p u chia Dải đất miền Trung được bao bọc bởi những dãynúi chạy dọc bờ phía Tây và sườn bờ biển phía Đông, vùng có chiều ngang

Trang 14

theo hướng Đông - Tây hẹp nhất Việt Nam (khoảng 50 km) và nằm trên địabàn tỉnh Quảng Bìn h

Trung Bộ được tạo thành bởi 3 tiểu vùng lãnh thổ là: Bắc Trung Bộ,Nam Trung Bộ và Tây Nguyên

- Bắc Trung Bộ gồm có 6 tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, QuảngBình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế

- Nam Trung Bộ gồm 8 tỉnh thành theo thứ tự Bắc-Nam: Đà Nẵng,Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận,Bình Thuận

- Tây Nguyên gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông vàLâm Đồng

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

Địa hình Bắc Bộ đa dạng và phức tạp, bao gồm đồi núi, đồng bằng, bờbiển và thềm lục địa, có lịch sử phát triển địa hình và địa chất lâu dài, phonghóa mạnh mẽ, có bề mặt thấp dần, xuôi theo hướng Tây Bắc - Đông Namđược thể hiện thông qua hướng chảy của các dòng sông lớn

Khu vực đồng bằng rộng lớn nằm ở lưu vực s ô ng H ồ n g , có diện tích

14 800 km2 và bằng 4,5% diện tích cả nước Đây là đ ồ ng b ằ ng châu t h ổ lớn

thứ hai của Việt Nam (sau đ ồ n g bằng sông Cửu Long d iện tích 40 000 km2)

do s ô ng Hồ n g v à s ô ng Thái Bình b ồi đắp Phần lớn bề mặt đồng bằng có địahình khá bằng phẳng, có độ cao từ 0,4 - 12m so với mực nước biển

Khu vực Tây Bắc có diện tích khoảng 102 900 km2 và chiếm 30,7% diệntích cả nước Địa hình ở đây bao gồm các dãy núi cao và rất hiểm trở, kéo dài

từ biên giới phía bắc (nơi tiếp giáp với Tru n g Qu ố c) tới phía tây tỉnh ThanhHoá Trong khu vực này từ lâu đã xuất hiện nhiều đồng cỏ, nhưng thườngkhông lớn và chủ yếu nằm rải rác trên các cao nguyên ở độ cao 600 – 700m

Trang 15

Khu vực Đông Bắc với địa hình phần lớn là núi và đồi nằm ở ven bờ biểnĐông, được bao bọc bởi các đảo và quần đảo lớn nhỏ.

Bắc Bộ quanh năm có nhiệt độ tương đối cao và ẩm, nền khí hậu chịuảnh hưởng từ lục địa Tru n g Hoa chu yển qua và mang tính chất khí hậu lụcđịa Toàn vùng có khí hậu n h i ệt đới g i ó m ùa ẩm quanh năm với 2 mùa rõrệt là mùa h è v à mùa đông Đồng thời, hàng năm, Bắc Bộ chịu ảnh hưởng củagió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam Nhiệt độ trung bình năm tăng dần

từ phía bắc xuống phía nam và có khí hậu giao hoà, là đặc trưng của khu vựcđồng bằng Bắc Bộ và ven biển Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25°C,lượng mưa trung bình từ 1 700 đến 2 400 mm Vào mùa đông nhiệt độ xuốngthấp và thấp nhất trong các tháng 12 và tháng 1 Thời gian này ở khu vựcmiền núi phía bắc (như Sa Pa, Tam Đảo, Hoàng Liên Sơ n ) có thời điểm nhiệt

độ còn xuống dưới 0°C, xuất hiện băng giá và có thể có tuyết rơi Khí hậuvùng Bắc Bộ cũng thường phải hứng chịu nhiều tác động xấu của thời tiết,trung bình hàng năm có từ 6 đến 10 cơn bão và áp thấp nhiệt đới gây ra lũ lụt,

đe dọa trực tiếp đến cây trồng nông nghiệp ảnh hưởng đến cuộc sống của cácđịa phương trong vùng [35]

Địa hình Trung Bộ có độ cao thấp dần từ khu vực miền núi xuống đồi gòtrung du, xuôi xuống các đồng bằng phía trong dải cồn cát ven biển rồi ra đếncác đảo ven bờ

Bắc Trung Bộ bao gồm các dãy núi phía Tây và nơi giáp Lào có độ caotrung bình và thấp Riêng miền núi phía Tây tỉnh Thanh H o á có độ cao từ

1 000 – 1 500 m Khu vực miền núi Nghệ An - Hà Tĩnh là đầu nguồn của dãyTrường S ơn có địa hình rất hiểm trở, phần lớn các núi cao nằm rải rác ở đây.Các miền đồng bằng có tổng diện tích khoảng 6 200 km2, trong đó đồng bằngThanh Hoá do nguồn phù sa từ s ô ng Mã v à s ô ng Chu b ồi đắp, chiếm gần mộtnửa diện tích, đồng thời là đồng bằng rộng nhất của Trung Bộ Vào m ù a

Trang 16

đông , do gió mùa thổi theo hướng Đô n g Bắc m ang theo hơi nước từ biển vàonên toàn khu vực chịu ảnh hưởng của thời tiết lạnh kèm theo mưa Đây làđiểm khác biệt với thời tiết khô hanh vào mùa đông ở vùng Bộ.Bắc Đến ùam

h è k hông còn hơi nước từ biển vào nhưng có thêm gió mùa T â y Nam ( còn gọi

là gió Lào) thổi ngược lên gây nên thời tiết khô nóng, vào thời điểm này nhiệt

độ ngày có thể lên tới trên 40°C, trong khi đó độ ẩm không khí lại rất thấp.Tây Nguyên có địa hình đa dạng và phức tạp, chủ yếu là cao nguyên với

độ cao từ 250 – 2 500 m Tây Nguyên không phải là một cao nguyên mà làmột loạt cao nguyên liền kề Đó là các cao nguyên Kon Tum cao khoảng 500

m, cao nguyên Kon Plông, cao nguyên Kon Hà Nừng, Plâyku cao khoảng 800

m, cao nguyên M'Drăk cao khoảng 500 m, cao nguyên Buôn Ma Thuột caokhoảng 500 m, Mơ Nông cao khoảng 800-1 000 m, cao nguyên Lâm Viên caokhoảng 1500 m và cao nguyên Di Linh cao khoảng 900-1 000 m Tất cả cáccao nguyên này đều được bao bọc về phía Đông bởi những dãy núi và khốinúi cao (chính là Trường Sơn Nam) Tây Nguyên chịu ảnh hưởng của khí hậucận xích đạo, nhiệt độ trung bình năm khoảng 200C điều hoà quanh năm biên

độ nhiệt ngày và đêm chênh lệch cao trên 5,50C Khí hậu Tây Nguyên có haimùa rõ rệt mùa khô và mùa mưa Mùa khô nóng hạn, thiếu nước trầm trọngcòn mùa mưa nóng ẩm, tập trung 85-90% lượng mưa của cả năm

Nam Trung Bộ thuộc khu vực cận giáp biển Địa hình ở đây bao gồmđồng bằng ven biển và núi thấp, có chiều ngang theo hướng Đông - Tây(trung bình 40 – 50 km), hẹp hơn so với Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên Có hệthống sông ngòi ngắn và dốc, bờ biển sâu với nhiều đoạn khúc khuỷu, thềmlục địa hẹp Các miền đồng bằng có diện tích không lớn do các dãy núi phíaTây trải dọc theo hướng Nam t iến dần ra sát biển và diện tích có xu hướng thuhẹp dần Đồng bằng chủ yếu do sông và biển bồi đắp nên khi hình thànhthường bám sát theo các chân núi

Trang 17

Đặc điểm nổi bật của khí hậu Trung Bộ là có mùa mưa và mùa khôkhông cùng xảy ra vào một thời kỳ trong năm của hai vùng khí hậu Bắc Bộ vàNam Bộ Gió m ùa Đô n g B ắ c k hi thổi đến đây thường suy yếu đi do bị chặnlại bởi dãy Bạch M ã Vì vậy, khi về mùa hè thường xuất hiện g i ó m ù a T â y Nam t hổi mạnh từ v ị n h Thái L a n và tràn qua dãy núi Trường Sơn sẽ gây rathời tiết khô nóng cho toàn bộ khu vực [36].

1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu

1.2.1 Khái quát về các loài ong mật thuộc họ Megachilidae

Cơ thể ong mật gồm 3 phần khớp động với nhau là đầu, ngực và bụng

Cơ thể ong được bao bọc bằng một lớp vỏ kitin Chính lớp vỏ kitin là bộxương ngoài, chỗ dựa cho các cơ quan bên trong và bảo vệ cơ thể ong tránhnhững tác động bất lợi bên ngoài

Phần đầu

Đầu ong có hình hộp, 2 mắt kép ở mỗi bên và có 3 mắt đơn phân bố theodạng hình tam giác ở gần đỉnh đầu (Hình 1.1) Mắt kép gồm rất nhiều mắt đơngộp lại, mỗi mắt đơn là một thấu kính trong suốt, tầng tế bào thị giác và cácdây thần kinh thị giác Mắt kép giúp ong phân biệt được các đối tượng ở xa vàcác mắt đơn tạo điều kiện cho mắt kép thực hiện chức năng của nó hoàn hảohơn

Ở phần trước đầu có một đôi râu Râu bao gồm gốc râu, cuống râu, đốtchuyển và các đốt roi (Hình 1.2) Râu là cơ quan cảm giác rất nhạy bén Ongdùng râu để phân biệt mùi vị trong và ngoài tổ Ngoài ra, râu còn có tác dụngxác định dao động sóng trong không gian

Với chức năng cắn, nghiền và hút, miệng và vòi ong có đặc điểm khácvới nhiều loại côn trùng khác Ong dùng hàm trên để cắn các vật cứng, khi

mở rộng cửa tổ, cân nắp lỗ tổ chứa mật, vít nắp và nghiền phấn hoa Ong

Trang 18

dùng vòi để hút các chất lỏng như mật hoa, si – rô, nước Bình thường vòi co vào dưới đầu, khi muốn hút các chất lỏng vòi thò ra ngoài.

Phần ngực

Phần ngực gồm 3 đốt: đốt ngực trước, đốt ngực giữa và đốt ngực sau(Hình 1.3) Phần ngực của ong mang các cơ quan vận động là cánh và chân.Trong phần ngực thì đốt ngực giữa giữ vai trò quan trọng nhất Các đốt ngựcđược chia ra nửa lưng và nửa bụng Nửa lưng có đôi cánh trước lớn hơn đôicánh sau Khi ong bay, cánh trước móc lại với cánh sau thông qua hệ thốngmóc cánh

Cánh ong mật có hệ thống gân, giữa các gân là màng cánh mỏng trongsuốt (Hình 1.4) Cánh ong là cơ quan vận động trong không khí Khi khôngphải mang tải, ong bay với vận tốc khoảng 60-70km/giờ Khi phải mang tảinặng, ong bay với vận tốc 15-20km/giờ Nhờ hệ gân cánh phát triển nên tronglúc bay, ong có thể mang vật nặng bằng trọng lượng cơ thể nó Nửa bụng củaphần ngực ong mật có 3 đôi chân gắn vào 3 đốt ngực tương ứng

Mỗi chân ong gồm 5 đốt: đốt háng, đốt chuyển, đốt đùi, đốt ống và đốtbàn (Hình 1.5) Đốt bàn chân chia thành 5 đốt nhỏ, phần cuối của đốt bànchân có hai vuốt nhọn, giữa hai vuốt có tấm đệm mềm Ngoài nhiệm vụ vậnđộng, mỗi đôi chân của ong mật còn có chức năng đặc biệt: chân trước có bộphận làm sạch râu, ở đầu đốt bàn có hốc lõm hình bán khuyên, cuối đốt đùi cócựa kéo dài đậy lên hốc lõm đó Khi râu ong bị bám phấn hoa và các vật khác,ong cho râu vào hốc lõm ở đốt bàn, dùng cựa ở đốt đùi đậy lại và kéo râu vềphía trước vài lần để làm sạch râu Chân trước cũng có lớp lông, ong dùngchân trước chùi sạch mắt kép Gần đây, người ta phát hiện được ở khớp đầugối chân trước ong mật có cơ quan cảm giác xác định được sóng truyền trongkhông khí

Trang 19

Phần bụng

Bụng ong mật có 6 đốt và nối với phần ngực qua đốt chuyển (Hình 1.6).Mỗi đốt gồm có hai phần: phần lưng và phần bụng Các đốt bụng nối với nhaubằng màng kitin mỏng, đàn hồi Nhờ các màng mỏng này mà ong có thể thayđổi thể tích bụng Hai bên mỗi đốt bụng có lỗ thở Ở phần bụng của 4 đốtbụng cuối cùng có các cơ quan tiết sáp, cuối bụng có ngòi đốt Ngòi đốt cónhiệm vụ bảo vệ Tuy nhiên, ngòi đốt của các loài ong thuộc họ Megachilidaekhi đốt không quá đau và gây nguy hiểm như các loài ong thuộc họ Ong mậtApidae Khác với họ Apidae có giỏ phấn hoa ở đôi chân sau thì một số loàiong thuộc họ Megachilidae có dải lông dày ở dưới bụng giúp chúng lấy đượclượng phấn hoa lớn hơn gấp nhiều lần

A

Trang 20

B Hình 1.1 Phần đầu của ong mật A Mặt trước B Mặt bên

(Nguồn: Charles Duncan Michener, 2007)

Hình 1.2 Cấu tạo của râu (Nguồn: Charles Duncan Michener, 2007)

Trang 21

Hình 1.3 Cấu tạo của phần ngực (Nguồn: Charles Duncan Michener, 2007)

Hình 1.4 Cấu tạo của cánh

(Nguồn: Charles Duncan Michener, 2000)

Trang 22

Hình 1.5 Cấu tạo của chân

(Nguồn: Charles Duncan Michener, 2007)

Hình 1.6 Cấu tạo của phần bụng (Nguồn: Charles Duncan Michener, 2007)

Trang 23

Khác với họ Ong mật Apidae có các cá thể sống thành đàn với số lượng

cá thể khổng lồ thì các loài ong thuộc họ Megachilidae lại sống theo kiểu đơnđộc Thức ăn chủ yếu của chúng là phấn hoa và mật hoa Do cơ thể chúng cóchứa nhiều lông nên sau mỗi lần đến thăm hoa, những hạt phấn sẽ bám dínhvào cơ thể Khác với 2 giỏ phấn hoa ở đôi chân sau của các loài ong mậtthuộc họ Apidae, một số loài ong mật thuộc họ Megachilidae thường có đốmlông dày đặc ở mặt dưới của bụng giúp chúng có thể dễ dàng lấy được mộtlượng phấn hoa lớn trong quá trình kiếm ăn

Họ Megachilidae bao gồm cả các loài sống không ký sinh và các loàisống ký sinh (Michener, 2007) [20]

Nhóm sống không ký sinh (giống Megachile,…) thường làm tổ trong

những ống tre, nứa, gỗ, đất Lá cây, nhựa cây, bùn, đất và sỏi là nhữngnguyên liệu chính tạo nên chiếc tổ - nơi an toàn nhất đối với giai đoạn pháttriển của trứng và ấu trùng Con cái bay đi cắt những mảnh lá cây và xếp dọctheo thành trong của ống nứa, tre hay cành cây rỗng Sau đó, nó cung cấp mộtlượng thức ăn bao gồm phấn hoa và mật hoa vào trong mỗi khoang cho sựphát triển của ấu trùng sau này Tại mỗi khoang, con cái chỉ đẻ 1 quả trứngtrên lượng thức ăn đó Tiếp đến, nó sẽ bay đi cắt miếng lá hình tròn để ngăncách với khoang bên cạnh Các khoang bên cạnh được xây theo cách tương tựđến hết chiều dài của ống rỗng

Nhóm sống ký sinh (giống Coelioxys, Stelis,…) thường sống ký sinh vào

tổ của nhóm loài cùng họ Megachilidae Nó thường vào tổ trước khi tổ đượcniêm phong và đẻ trứng trong một khoang Sau khi nở, ấu trùng của loài kýsinh sẽ giết chết ấu trùng chủ nhà Loài ký sinh thường có kích thước bằnghoặc nhỏ hơn so với loài bị kí sinh

Các loài ong mật thuộc họ Megachilidae có vai trò hết sức quan trọngtrong nông nghiệp Do một số loài có đốm lông dày đặc ở bụng nên chúng

Trang 24

được đánh giá rất cao trong quá trình thụ phấn cho cây trồng Chúng tiến hànhthụ phấn cho nhiều loại cây trồng giúp năng suất cây trồng tăng gấp nhiều lần

so với cây trồng đơn thuần chỉ được thụ phấn nhờ gió Một số ít loài được conngười chủ động sử dụng làm tác nhân thụ phấn mang tính thương mại, nổi bật

là loài Megachile rotundata thụ phấn cho cỏ linh lăng và đem lại hiệu quả cao

về mặt kinh tế (Bohart, 1972) [6]

Các loài ong mật thuộc họ Megachilidae có mối quan hệ chặt chẽ vớithực vật, đặc biệt là thực vật có hoa Bởi nếu một loài ong biến mất thì mộtloài thực vật được thụ phấn bởi loài ong đó dần dần cũng sẽ biến mất trongtương lai không xa Ngoài ra, chúng cũng có quan hệ mật thiết với các nhómsinh vật khác trong chuỗi thức ăn của hệ sinh thái Cơ thể của những con ongnày sau khi chết có thể làm thức ăn cho nhiều nhóm động vật khác như kiến,

vi khuẩn hoặc nấm Như vậy, các loài ong mật thuộc họ Megachilidae là mộtmắt xích quan trọng trong chuỗi và lưới thức ăn, giúp cân bằng hệ sinh thái

1.2.2.Tình hình nghiên cứu về họ Megachilidae trên thế giới

Nghiên cứu về ong mật nói chung và các loài ong thuộc họ Megachilidaenói riêng được tiến hành từ thời cổ đại (Michener, 2007) [20] Các loài ongthuộc họ Megachilidae được tìm thấy trong nhiều môi trường sống trên tất cảcác châu lục, trừ Nam Cực, từ rừng mưa nhiệt đới đến môi trường núi cao,thậm chí là sa mạc (Gonzalez et al., 2012) [14] Trên thế giới, 4105 loài thuộc

80 giống của 4 phân họ Megachilinae, Lithurginae, Fideliinae vàPararhophitinae đã được ghi nhận (Ascher and Pickering, 2016) [34]

Nghiên cứu về họ Megachilidae ở Phương Tây

Năm 2005, nghiên cứu về họ Megachilidae ở Florida được tiến hành làm

rõ Kết quả đã ghi nhận 79 loài, 13 giống, 4 tộc thuộc phân họ Megachilinae.Trong đó, tộc Megachilini có số loài nhiều nhất (49 loài), tiếp sau là tộc

Trang 25

Anthidiini (14 loài), Osmiini (14 loài) và Lithurgini (2 loài) (Leavengood andSerrano, 2005) [15].

Một khóa định loại cho các loài thuộc tộc Anthidiini ở Châu Phi đượcđưa ra (Cockerell, 1936) [7] Đặc điểm các giống và phân giống thuộc tộcAnthidiini và mối quan hệ của các giống này ở Mỹ được bàn luận (Michener,1948) [18] Một khóa định loại đến giống của tộc Anthidiini ở Trung và Nam

Mỹ được công bố và con đực của giống Rhynostelis lần đầu tiên được mô tả

(Urban and Parizotto, 2012) [33] Nghiên cứu của Pauly (2015) ghi nhận 4

loài mới thuộc tộc này: Anthidiellum iiwini, A schlingeri, Benanthis androimpano và B ifatyensis (Pauly, 2015) [25].

Năm 1927, Schwarz xây dựng khóa định loại gồm 29 loài cho từng giới

của giống Anthidium ở Bắc Mỹ (Schwarz, 1927) [28].

Năm 1947, nghiên cứu của Michener ghi nhận 8 phân giống, trong đó 4

phân giống mới được bổ sung cho khu hệ ong mật ở Mỹ (Crytosima, Dasyosima, Acrosmia và Monumetha) thuộc giống này, đồng thời khóa định

loại đến phân giống và loài của giống này ở Mỹ được đưa ra Kết quả nghiêncứu cũng cung cấp đầy đủ thông tin về mẫu chuẩn và đặc điểm phân bố củamỗi loài (Michener, 1947) [17]

Năm 1935, bốn loài thuộc giống Coelioxys được ghi nhận ở Belgian Congo, trong đó có 2 loài thuộc nhóm Liothyrapis và 2 loài thuộc nhóm Coelioxys (Cockerell, 1935) [8] Cấu trúc tổ và đặc điểm ấu trùng của loài Coelioxys coturnix được mô tả trong nghiên cứu của Rozen và Kamel (2008) [26] Hình thái ấu trùng của loài Coelioxys chichimeca ở Trung Mĩ được

Rozen et al (2010) mô tả [27]

Năm 2011, Sheffied và cộng sự đã ghi nhận 38 loài thuộc giống

Megachile ở Canada và Alaska, trong đó ba loài Megachile (Eutricharaea) apicalis, M (Megachiloides) casadae và M (Megachiloides) umatillensis là

Trang 26

những ghi nhận mới cho Canada; M (Xanthosarus) giliae và M (Megachile) nivalis được thay thế lần lượt là M (Xanthosarus) circumcincta và M (Megachile) lapponica; M subanograe được thay thế bằng tên M sublauritam, trước đây chỉ tìm thấy cá thể cái của loài M subanograe và

trong nghiên cứu này cá thể đực lần đầu tiên được mô tả Đồng thời, một khóađịnh loại đến loài được cung cấp cùng những hình ảnh minh họa rất cụ thể

(Sheffied et al., 2011) [30] Các đặc điểm sinh thái của loài Megachile gomphrenoides trên hệ sinh thái nông nghiệp ở Argentina đã được Torretta và

cộng sự (2012) tiến hành làm rõ Nghiên cứu này sử dụng bẫy tổ để thu bắt

các cá thể của loài Megachile gomphrenoides và quan sát các đặc điểm sinh

thái của loài Cá thể cái sử dụng lá cây của ít nhất 3 loài thực vật làm vật liệuxây tổ Phấn hoa cung cấp cho sự phát triển trong giai đoạn trứng và ấu trùngchủ yếu thuộc họ Cúc Khoảng 30 % số con sinh ra không phát triển đến giaiđoạn trưởng thành và hơn nữa, 10% số con sinh ra bị giết bởi kẻ thù tự nhiên

(Torretta et al., 2012) [32] Đến năm 2013, Megachile (Megachiloides) chomskyi được phát hiện ở Mỹ bởi Sheffield Megachile chomskyi là một trong 4 loài thuộc nhóm Oenotherae trong phân giống Megachiloides, chúng

đều có vòi hút dài Các đặc điểm đặc trưng và bản mô tả chi tiết cho cả 2 giới

cùng một khóa định loại đến loài của nhóm Oenotherae được cung cấp (Sheffield, 2013) [31] Nghiên cứu các đặc điểm sinh thái của Megachile guaranitica được tiến hành ở Brazil đã ghi nhận 21 tổ của loài này từ các bẫy nứa trong suốt quá trình nghiên cứu Tổ của M guaranitica được thu từ tháng

12 đến tháng 3 năm sau Mỗi khoang tổ có 3 lớp: lớp ngoài cùng và lớp trongcùng được làm bằng những miếng lá hình thon dài, còn lớp giữa dày hơn vàđược làm từ mùn Phân tích phấn hoa trong 10 tổ xác định được 97,6% phấnhoa được lấy từ thực vật họ Đậu Trong số 26 tổ thu được có 17 tổ có sự xuất

Trang 27

hiện của loài ký sinh Coelioxys bertonii (da Rocha Filho and Garófalo, 2016)

[10]

Nghiên cứu về họ Megachilidae ở Phương Đông

Năm 1995, nghiên cứu của Baker xem xét lại sự phân loại của 10 loài

thuộc giống Euaspis ở châu Á, trong đó loài E bakeri và E impressa lần lượt được chuyển thành E strandi Meyer, 1922 và E polyensis Vachal, 1903 Nghiên cứu đã mô tả 3 loài mới cho khoa học: E edentate, E wegneri và E lorenzae, đồng thời, khóa định loại cho từng giới của giống này cùng những

hình ảnh rõ ràng về các đặc điểm phân biệt giữa các loài được cung cấp(Baker, 1995) [3]

Loài mới Afroherides hyalinus được mô tả dựa trên mẫu vật thu được ở phía nam của Châu Phi và hai loài mới Noteriades jenniferae và Noteriades spinosus được phát hiện ở Myanmar và Thái Lan (Griswold and Gonzalez,

ong mật của Iran Khóa định loại cho 11 loài được tìm thấy trong nghiên cứunày cũng được cung cấp, đồng thời một danh sách các loài thuộc giống này ở

Iran được cập nhật (Nadimi et al., 2013) [21] Năm 2016, giống Coelioxys ở

Úc được xem xét lại bởi da Rocha-Filho, ghi nhận 4 loài bổ sung (Coelioxys albolineata, Coelioxys froggatti, Coelioxys reginae và Coelioxys weinlandi)

Trang 28

cho khu hệ ong mật ở Úc, đồng thời mô tả 2 loài mới cho khoa học (Coelioxys julia và Coelioxys tasmaniana) Cũng trong nghiên cứu này, hai loài Coelioxys biroi và Coelioxys albolineata được chuyển thành đồng danh của loài Coelioxys albolineata, và Coelioxys victoria được chuyển thành Coelioxys froggatti Khóa định loại đến loài thuộc giống Coelioxys được ghi

nhận ở Úc được đưa ra (da Rocha-Filho, 2016) [9]

Năm 2006, nghiên cứu của Engel và Baker đã phát hiện loài mới

Megachile trichorhytisma ở phía bắc của Thái Lan Nghiên cứu này chỉ thu

được 2 cá thể đực mà không thu được bất kỳ cá thể cái nào Bản mô tả chi tiếtloài mới dựa vào đặc điểm của cá thể đực cùng những hình ảnh minh họađược cung cấp rất rõ ràng (Engel and Baker, 2006) [11] Phân giống mới

Matangapis của giống Megachile được phát hiện ở Bru-nây với điểm khác biệt

là xuất hiện bóng đệm ở giữa gai bàn chân (Baker and Engel, 2006) [4] Một

nghiên cứu về giống Megachile ở Nhật Bản được trình bày, trong đó phát hiện loài mới Megachile odziro, và loài Megachile rotundata lần đầu tiên

được ghi nhận ở đây (Nagase,

2011) [23] Năm 2012, loài mới Megachile guangxiense được phát hiện ở

Trung Quốc và mẫu chuẩn của loài này được lưu giữ trong bộ sưu tập côntrùng của viện Động vật học, Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc Một danh

sách gồm 5 loài thuộc giống Megachile và sự phân bố của chúng ở Trung

Quốc được đưa ra Đồng thời, tác giả cũng cung cấp khóa định loại đến từngloài cùng các hình ảnh minh họa (Niu et al., 2012) [24] Đến năm 2015, một

nghiên cứu về giống Megachile xác định 21 loài thuộc 7 phân giống, trong đó ghi nhận bổ sung 4 phân giống (Aethomegachile, Alocanthedon, Chelostomoda và Paracella) cho khu hệ ong mật ở Singapore (Eunice, 2015)

[12]

1.2.3 Tình hình nghiên cứu về họ Megachilidae ở Việt Nam

Họ Megachilidae mới chỉ được quan tâm nghiên cứu trong vài năm trởlại đây Cho đến nay, ở Việt Nam chỉ có 3 nghiên cứu về thành phần các loài

Trang 29

ong thuộc tổng họ Apoidae, trong đó có liệt kê thành phần các loài ong thuộc

họ Megachilidae (Lê Xuân Huệ, 2008; Khuat et al., 2012; Ascher and

Pickering, 2016) [1, 16, 34] Có 11 loài thuộc duy nhất giống Megachile được

ghi nhận ở Việt Nam (Lê Xuân Huệ, 2008) [1] Có 13 loài thuộc 5 giống đãđược thống kê ở phía Bắc và Bắc Trung Bộ của nước ta, trong đó ghi nhận 2

loài thuộc giống Anthidiellum, 1 loài thuộc giống Euaspis, 8 loài thuộc giống Megachile, 1 loài thuộc giống Heriades và 1 loài thuộc giống Trachusa

(Khuat et al., 2012) [16] Theo thống kê gần đây về khu hệ Megachilidae ởViệt Nam, 9 loài thuộc 4 giống đã được ghi nhận ở nước ta (Ascher andPickering, 2016) [34]

Trang 30

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Họ ong Megachilidae thuộc tổng họ Ong mật (Apoidea), bộ Cánh màng(Hymenoptera), lớp Côn trùng (Insecta), ngành Chân khớp (Arthropoda)

2.1.2 Thời gian nghiên cứu

Thời gian: 2 năm từ 2016-2017

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu

- Khu vực Tây Bắc: Lào Cai, Yên Bái, Điện Biên, Hòa Bình, Lai Châu,Sơn La

- Khu vực Đông Bắc: Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, TuyênQuang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang

- Khu vực ĐBSH: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình

- Khu vực Bắc Trung Bộ: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế

- Khu vực Nam Trung Bộ: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, BìnhĐịnh, Khánh Hòa, Ninh Thuận

- Khu vực Tây Nguyên: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, LâmĐồng

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu sự đa dạng về thành phần và mức độ phổ biến của các loài ong mật thuộc họ Megachilidae ở các khu vực nghiên cứu

- Nghiên cứu sự phân bố của các loài ong mật thuộc họ Megachilidae ởcác khu vực nghiên cứu

- So sánh sự đa dạng của các loài ong mật thuộc họ Megachilidae ở các khu vực nghiên cứu

Trang 31

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa

+ Thu bắt tổ

Thu bắt tổ là phương pháp rất hiệu quả không chỉ để thu thập mẫu ongtrưởng thành, ấu trùng mà còn để tích luỹ thông tin về đặc điểm sinh học sinhthái và tập tính của loài, cung cấp các dữ liệu có giá trị trong phân loại cũngnhư các nghiên cứu về phát sinh loài

+ Phương pháp kế thừa: Ngoài các mẫu vật do chính tác giả thu bắt còn có

sự kế thừa các mẫu vật được thu thập bởi các đồng nghiệp trong những nămtrước đây, hiện đang được lưu giữ tại phòng Sinh thái côn trùng, Viện Sinhthái và Tài nguyên sinh vật

2.3.2 Phương pháp xử lý mẫu vật trong phòng thí nghiệm

Phương pháp lên tiêu bản mẫu: Mẫu vật sau khi thu thập về được cắmghim, sấy ở nhiệt độ 30-400C trong vòng 24h và đựng trong các hộp gỗ chứanaphtalin chống mối mọt Mẫu vật được lưu giữ tại phòng Sinh thái côn trùng,Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật

Trang 32

2.3.3 Phương pháp quan sát và định loại mẫu vật

Hình thái ngoài của các cá thể trưởng thành được quan sát trên mẫu đãcắm ghim bằng kính lúp soi nổi Olympus SZ 61 Ảnh minh họa được chụpdưới kính lúp điện tử Leica M80 Digital Stereo Microscope với phần mềmLAS EZ 3.1.1, cuối cùng các hình ảnh được hoàn thiện bằng phần mềmPhotoshop CS6 Chiều dài của cơ thể bao gồm phần đầu, phần ngực và hai đốtđầu tiên của phần bụng Chiều dài của cánh trước được tính từ gốc cánh đếnđỉnh cánh

Việc định tên các loài ong mật dựa theo Bigham (1897), Baker (1995),Michener (2007), Ascher and Pickering (2016) [1, 3, 20, 34]

2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu

- Số liệu được xử lý bằng CA (Cluster Analysis) theo chương trìnhPrimer 6 phiên bản 6.1.1

- Các số liệu được tính toán dựa trên cơ sở sau:

* Độ ưu thế (D) của một loài

D được tính bằng tỷ lệ phần trăm số lượng cá thể của một loài so vớitổng số cá thể thu được

Trang 33

D = 𝑛𝑖𝑁 𝑥 100Trong đó: ni là số lượng cá thể loài i

Trang 34

* Độ tương đồng về thành phần và số lượng loài: sử dụng hệ số Bray –Curtis (Sjk)

Trang 36

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Thành phần và mức độ phổ biến của các loài ong mật thuộc họ Megachilidae ở các khu vực nghiên cứu

3.1.1 Thành phần các loài ong mật thuộc họ Megachilidae ở các khu vực nghiên cứu

Trong tổng số 121 cá thể ong mật thuộc họ Megachilidae thu được tại các khu vực thuộc Bắc Bộ và Trung Bộ, đã xác định được 30 loài, 7 giống và

3 tộc của cùng phân họ Megachilinae Thành phần các loài ong mật ghi nhận tại các khu vực nghiên cứu được trình bày ở bảng 3.1

Bảng 3.1 Thành phần và số lượng cá thể của các loài ong mật thuộc họ

Megachilidae ở Bắc Bộ và Trung Bộ

TâyBắc ĐBSH

ĐôngBắc

BắcTrungBộ

TâyNguyên

NamTrungBộ

Tổng

số cáthể

Trang 39

STT Tên giống Bắc Bộ Trung Bộ

Ghi chú: * là loài ghi nhận mới của Việt Nam

** là giống ghi nhận mới của Việt Nam

Một điểm cần chú ý trong bảng thành phần này là loài Euaspis divercarinata, trước đây được định danh là loài Euaspis basalis bởi Khuat et

al (2012) [16] Nhưng trên thực tế, khi tiến hành kiểm định lại mẫu vật nàytrong bộ mẫu của tác giả Khuất Đăng Long và cộng sự, đồng thời đối chiếu

với đặc điểm hình thái trong mô tả gốc của loài Euaspis basalis cho thấy, nó hoàn toàn không khớp với nhau Chúng thực sự là loài Euaspis divercarinata.

Đặc điểm mô tả loài này cùng những so sánh về đặc điểm hình thái với loài

Euaspis basalis sẽ được trình bày ở phần c của mục này.

Dựa vào bảng 3.1, kết quả nghiên cứu cho thấy 1 giống và 15 loài lầnđầu tiên được ghi nhận cho khu hệ ong họ Megachilidae ở Việt Nam Trong

đó, giống Megachile có tới 8 loài, tiếp đó là giống Coelioxys có 4 loài, các giống Anthidiellum, Euaspis và Pachyanthidium mỗi giống có 1 loài.

Bảng 3.2 Số loài và tỉ lệ phần trăm mỗi giống của họ Megachilidae

thu được ở Bắc Bộ và Trung Bộ

Trang 40

5 Heriades 1 5,88 1 5,26

Nghiên cứu ghi nhận 17 loài thuộc 6 giống ở Bắc Bộ, trong đó giống

Megachile có số lượng loài nhiều nhất với 8 loài, chiếm 47,06% tổng số loài ghi nhận tại đây Tiếp đến là giống Coelioxys với 4 loài, chiếm 23,53% tổng

số loài, giống Euaspis gồm 2 loài, chiếm 11,76% tổng số loài và 3 giống còn lại (Anthidiellum, Trachusa và Heriades) mỗi giống chỉ ghi nhận duy nhất 1

loài và cùng chiếm 5,88% tổng số loài ghi nhận ở Bắc Bộ Kết quả nghiêncứu đã xác định 19 loài thuộc 6 giống ở Trung Bộ và thành phần loài hoàn

toàn khác biệt so với Bắc Bộ Trong đó, giống Megachile chiếm số lượng loài

vượt trội hơn hẳn với 12 loài, chiếm tới 63,16% tổng số loài ghi nhận ở Trung

Bộ, giống Anthidiellum và Euaspis cùng thu được 2 loài, cùng chiếm tỉ lệ

10,53% và chỉ ghi nhận duy nhất 1 loài ở mỗi giống trong 3 giống còn lại

(Pachyanthidium, Heriades và Coelioxys), cùng chiếm 5,26% tổng số loài ghi

Ngày đăng: 24/07/2018, 16:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Xuân Huệ (2008), “Đa dạng côn trùng liên họ ong mật (Hym.:Apoidea) ở Việt Nam”, Hội nghị côn trùng học toàn quốc lần thứ 6. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 934 – 938.Tài liệu Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng côn trùng liên họ ong mật (Hym.:Apoidea) ở Việt Nam”, "Hội nghị côn trùng học toàn quốc lần thứ 6
Tác giả: Lê Xuân Huệ
Nhà XB: Nhàxuất bản Nông nghiệp
Năm: 2008
3. Baker D. B. (1995), “A review of the Asian species of the genus Euaspis Gerstọcker (Hymenoptera: Apoidea: Megachilidae)”, Zoologische Mededelingen (Leiden), 69(22), pp. 281-302 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A review of the Asian species of the genus"Euaspis "Gerstọcker (Hymenoptera: Apoidea: Megachilidae)”,"Zoologische Mededelingen (Leiden
Tác giả: Baker D. B
Năm: 1995
4. Baker D. B. and Engel M. S. (2006), “A new subgenus of Megachile from Borneo with arolia (Hymenoptera, Megachilidae)”, American Museum Novitates 3505, pp. 1-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A new subgenus of "Megachile"from Borneo with arolia (Hymenoptera, Megachilidae)”, "AmericanMuseum Novitates
Tác giả: Baker D. B. and Engel M. S
Năm: 2006
5. Bigham C. T. (1897), “The Fauna of British India including Ceylon and Burma”, London – Berlin 1, pp. 408-564 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Fauna of British India including Ceylon andBurma”, "London – Berlin 1
6. Bohart G. E. (1972), “Management of wild bees for the pollination of crops”, Annual Review of Entomology 17, pp. 287–312 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Management of wild bees for the pollination ofcrops”, "Annual Review of Entomology 17
Tác giả: Bohart G. E
Năm: 1972
7. Cockerell T. D. A. (1936), “Some African anthidiine bees”, American Museum Novitates 855, pp. 1-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Some African anthidiine bees”, "AmericanMuseum Novitates 855
Tác giả: Cockerell T. D. A
Năm: 1936
8. Cockerell T. D. A. (1935), “Parasitic bees of the genus Coelioxys from the Belgian Congo”, American Museum Novitates 808, pp. 1-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Parasitic bees of the genus "Coelioxys "fromthe Belgian Congo”, "American Museum Novitates
Tác giả: Cockerell T. D. A
Năm: 1935
9. Da Rocha-Filho L. C. (2016), “A revision of the cleptoparasitic bee genus Coelioxys (Hymenoptera: Megachilidae)”, European Journal of Entomology 113, pp. 9-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A revision of the cleptoparasitic beegenus "Coelioxys "(Hymenoptera: Megachilidae)”, "European Journal ofEntomology 113
Tác giả: Da Rocha-Filho L. C
Năm: 2016
10. Da Rocha Filho L. C. and Garófalo C. A. (2016), “Nesting biology of Coelioxys (Chrysosarus) guaranitica and high mortality caused by its cleptoparasite Coelioxys bertonii (Hymenoptera: Megachilidae) in Brazil”, Austral Entomology 55, pp. 25-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nesting biology of"Coelioxys (Chrysosarus) guaranitica "and high mortality caused by itscleptoparasite "Coelioxys bertonii " (Hymenoptera: Megachilidae) inBrazil”, "Austral Entomology 55
Tác giả: Da Rocha Filho L. C. and Garófalo C. A
Năm: 2016
11. Engel M. S. and Baker D. B. (2006), “A remarkable new leaf-cutter bee from Thailand (Hymenoptera: Megachilidae)”, Beitrọge zur Entomologie, 56(1), pp. 69-74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A remarkable new leaf-cutter beefrom Thailand (Hymenoptera: Megachilidae)”, "Beitrọge zurEntomologie, 56(1)
Tác giả: Engel M. S. and Baker D. B
Năm: 2006
12. Eunice S. J. Y. (2015), “Diversity and trap-nesting studies of Singaporean Coelioxys bees to inform monitoring and management of tropical pollinators”, MS thesis, National University of Singapore, Kent Ridge, Singapore, pp. 1- 68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diversity and trap-nesting studies ofSingaporean "Coelioxys "bees to inform monitoring and management oftropical pollinators”, "MS thesis, National University of Singapore, KentRidge, Singapore
Tác giả: Eunice S. J. Y
Năm: 2015
13. Griswold T. and Gonzalez V. H. (2011), “New species of the Eastern Hemisphere genera Afroheriades and Noteriades (Hymenoptera, Megachilidae), with keys to species of the former”, Zookeys 159: 65-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: New species of the EasternHemisphere genera "Afroheriades " and "Noteriades " (Hymenoptera,Megachilidae), with keys to species of the former”, "Zookeys 159
Tác giả: Griswold T. and Gonzalez V. H
Năm: 2011
14. Gonzalez V. H., Griswold T., Praz C. J. and Danforth B. N. (2012),“Phylogeny of the bee family Megachilidae (Hymenoptera: Apoidea) based on adult morphology”, Systematic Entomology 37, pp. 261-286 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phylogeny of the bee family Megachilidae (Hymenoptera: Apoidea)based on adult morphology”, "Systematic Entomology 37
Tác giả: Gonzalez V. H., Griswold T., Praz C. J. and Danforth B. N
Năm: 2012
15. Leavengood Jr J. M. and Serrano D. (2005), “A distributional checklist of the leaf-cutting bees (Hymenoptera: Megachilidae) of Florida”, Insecta Mundi 19, pp. 172-176 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A distributional checklistof the leaf-cutting bees (Hymenoptera: Megachilidae) of Florida”,"Insecta Mundi 19
Tác giả: Leavengood Jr J. M. and Serrano D
Năm: 2005
16. Khuat L. D., Le H. X., Dang H. T. and Pham P. H. (2012), “A preliminary study on bees (Hymenoptera: Apoidea: Apiformes) from Northern and North Central Vietnam”, Tap chi Sinh hoc, 34 (4), pp. 419- 326 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Apreliminary study on bees (Hymenoptera: Apoidea: Apiformes) fromNorthern and North Central Vietnam”, "Tap chi Sinh hoc, 34 (4)
Tác giả: Khuat L. D., Le H. X., Dang H. T. and Pham P. H
Năm: 2012
17. Michener C. D. (1947), “The revision of the American species of Hoplitis (Hymenoptera: Megachilidae)”, American Museum of Natural History 89, pp. 257-318 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The revision of the American species of"Hoplitis "(Hymenoptera: Megachilidae)”, "American Museum of NaturalHistory 89
Tác giả: Michener C. D
Năm: 1947
18. Michener C. D. (1948), “The generic classification of Anthidiine bees (Hymenoptera: Megachilidae)”, American Museum Novitates, 1381, pp.1-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The generic classification of Anthidiine bees(Hymenoptera: Megachilidae)”, "American Museum Novitates, 138
Tác giả: Michener C. D
Năm: 1948
19. Michener C. D. (2000), “The bees of the world”, Johns Hopkins University Press, Baltimore, xiv+[1]+913 pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: The bees of the world”, "Johns HopkinsUniversity Press, Baltimore
Tác giả: Michener C. D
Năm: 2000
20. Michener C. D. (2007), “The bees of the world, second edition”, Johns Hopkins University Press, Baltimore, xvi+953 pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: The bees of the world, second edition”, "JohnsHopkins University Press, Baltimore
Tác giả: Michener C. D
Năm: 2007
21. Nadimi A., Talebi A. A. and Fathipour Y. (2013), “A preliminary study of the cleptoparasitic bees of the genus Coelioxys (Hymenoptera:Megachilidae) in northern Iran, with six new records”, Journal of Crop Protection, 2(3), pp. 271-283 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A preliminary studyof the cleptoparasitic bees of the genus "Coelioxys " (Hymenoptera:Megachilidae) in northern Iran, with six new records”, "Journal of CropProtection, 2(3)
Tác giả: Nadimi A., Talebi A. A. and Fathipour Y
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w