1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Đánh giá khả năng sản xuất của giống gà phu phan nhập nội được nuôi tại trại thực nghiệm gia cầm liên ninh – thanh trì – hà nội”

69 244 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 7,37 MB
File đính kèm giống gà Phu Phan nhập nội.rar (5 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Đánh giá khả năng sản xuất của giống gà Phu Phan nhập nội được nuôi tại Trại thực nghiệm gia cầm Liên Ninh – Thanh Trì – Hà Nội”. “Đánh giá khả năng sản xuất của giống gà Phu Phan nhập nội được nuôi tại Trại thực nghiệm gia cầm Liên Ninh – Thanh Trì – Hà Nội”. “Đánh giá khả năng sản xuất của giống gà Phu Phan nhập nội được nuôi tại Trại thực nghiệm gia cầm Liên Ninh – Thanh Trì – Hà Nội”. “Đánh giá khả năng sản xuất của giống gà Phu Phan nhập nội được nuôi tại Trại thực nghiệm gia cầm Liên Ninh – Thanh Trì – Hà Nội”. “Đánh giá khả năng sản xuất của giống gà Phu Phan nhập nội được nuôi tại Trại thực nghiệm gia cầm Liên Ninh – Thanh Trì – Hà Nội”. “Đánh giá khả năng sản xuất của giống gà Phu Phan nhập nội được nuôi tại Trại thực nghiệm gia cầm Liên Ninh – Thanh Trì – Hà Nội”.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy cô giáo khoaChăn nuôi – Thú y; trường Đại học Nông Lâm Bắc Giang đã trực tiếp giảng dạy vàtrang bị kiến thức cho em trong suốt thời gian qua Đặc biệt em muốn bày tỏ lòng

biết ơn sâu sắc đến giảng viên, giáo viên hướng dẫn TS Đoàn Phương Thúy,

người đã trực tiếp giúp đỡ, động viên và theo sát hướng dẫn em trong thời gianthực tập tốt nghiệp Em cũng gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến tập thể lãnh

đạo, cán bộ công nhân viên làm việc tại Trại thực nghiệm gia cầm Liên Ninh – Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi đã tạo điều kiện tốt nhất cho

em hoàn thành chương trình thực tập và hoàn thành kháo luận tốt nghiệp đúng

thời gian Cảm ơn anh ThS KSCN Nguyễn Huy Tuấn trại trưởng Trại thực

nghiệm gia cầm Liên Ninh đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành tốt nhiệm vụthực tập tại cơ sở.Trong thời gian thực tập tốt nghiệp, do bản thân còn thiếu kiếnthức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong thầy

cô và đơn vị thực tập rộng lòng bỏ qua

Cuối cùng, em xin kính chúc qúy thầy cô cùng tập thể lãnh đạo, cán bộcông nhân viên làm việc tại Trại thực nghiệm gia cầm Liên Ninh – Trung tâmNghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi luôn dồi dào sức khỏe và gặt hái đượcnhiều thành công hơn nữa

Em xin trân trọng biết ơn

Bắc Giang, ngày tháng năm 2017

Sinh viên thực hiện

Hồ Thị Ngọc Vinh

Trang 3

DANH MỤC BẢNG

Trang 4

DANH MỤC HÌNH , ĐỒ THỊ

Trang 5

P : Khối lượng cơ thể

SE : Sai số của số trung bình

TATT : Thức ăn thu nhận

TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam

TTTA : Tiêu tốn thức ăn

Trang 6

Phần I

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng rất ưa chuộng các sảnphẩm thịt gà có giá trị và chất lượng cao trong đó có các giống gà da đen, thịtđen, xương đen Chính vì vậy nghiên cứu về các dòng gà đặc sản, giống gà dađen, thịt đen, xương đen trong những năm gần đây được người sản xuất và tiêudùng đặc biệt quan tâm Ở Việt Nam hiện nay các giống gà thuộc nhóm này đã

có cả giống bản địa và giống nhập nội như: gà H’Mông, gà Ác, gà Ác Thái Hòa,

gà Hắc Phong và từ các giống gà này đã tạo ra một số lượng lớn các con laithương phẩm có chung đặc điểm da đen, thịt đen, xương đen Mặc dù vậy nhưngvẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường tiêu dùng về các sản phẩm có giátrị dinh dưỡng cao do các giống gà trên còn có nhiều hạn chế về khả năng sinhtrưởng, khối lượng cơ thể và khả năng sinh sản thấp

Gà Phu Phan là một giống gà thuộc nhóm gà da đen, thịt đen, xương đencủa Thái Lan mới nhập về Việt Nam năm 2015 thông qua dự án DA15 đượcnuôi tại trại thực nghiệm và bảo tồn giống vật nuôi Thế hệ xuất phát có 3 loạimàu lông, lông màu đen chiếm 86,23%; lông màu trắng chiếm 7,54% và màulông sẫm hoa mơ chiếm 6,23%; tất cả đều có da đen, thịt đen, xương đen Nhằmđánh giá được khả năng sản xuất của giống gà mới nhập, đồng thời phát huy lợithế về khối lượng và giá trị dinh dưỡng của giống gà Phu Phan có da đen, thịtđen và xương đen chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá khả năng sản xuất của giống gà Phu Phan nhập nội được nuôi tại Trại thực nghiệm gia cầm Liên Ninh – Thanh Trì – Hà Nội”.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

-Đánh giá đặc điểm ngoại hình, khả năng thích nghi

- Đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng và năng suất chất lượng thịt

Trang 7

Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Đặc điểm ngoại hình của gia cầm

Các đặc điểm về ngoại hình của gia cầm là những đặc trưng cho giống, thểhiện khuynh hướng sản xuất và giá trị kinh tế của chúng

Màu sắc lông,da

Đây là một đặc điểm quan trọng để phân biệt giống, dòng Màu lông có liênquan tới một số chỉ tiêu chất lượng của giống, như tính kháng bệnh, khả năngsản xuất Màu sắc da lông là một chỉ tiêu chọn lọc: thông thường màu sắc đồngnhất là thuần, nếu loang là không thuần Tính trạng màu sắc da lông do một số ítgen kiểm soát và ít chịu ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh Tình trạng này ởgia cầm còn có gen liên kết với giới tính về màu sắc lông

Ở gia cầm màu sắc lông rất đa dạng Màu lông phụ thuộc vào sự biểu hiệndưới dạng hạt hay hay phân bố đều của sắc tố melanin và dạng dịch của sắc tốlipocrom Sắc tố melanin quy định từ màu cafe đến màu đen; sắc tố lipocromquy định màu vàng, đỏ, xanh hoặc xanh sẫm Ở gia cầm màu sắc lông khác nhau

có thể chia làm 2 nhóm lớn là lông màu và lông trắng.Theo Hutt (1978), sự thayđổi màu sắc lông là do màu sắc hình thức và sự phân bố các hạt màu trong tếbào, do số lượng các lớp tế bào cấu trúc và khả năng thu nhận ánh sáng của các

tế bào ấy

Mỏ và chân

Những gà có mỏ dài và mảnh không có năng suất cao Những giống gà davàng thì mỏ cũng vàng, ở gà mái màu sắc này có thể bị nhạt đi vào cuối thời kỳ

đẻ trứng Mỏ gà cần chắc chắn và cứng mới đem lại năng suất cao

Chân của gia cầm được bao phủ bằng lớp vảy sừng và có sự khác nhau vềmàu sắc Chân vàng là do sự có mặt của lipocrom đồng thời thiếu vắng củamelanin Màu đen của chân là do sự xuất hiện của melanin Khi màu đen có mặt ở

Trang 8

thể trội và màu vàng có mặt ở thể lặn thì chân sẽ xuất hiện màu lục (xanh lá cây).Khi đồng thời cả 2 màu không xuất hiện thì chân có màu trắng Về cường độ (độđậm nhạt) của màu vàng tùy thuộc vào hàm lượng xantophin trong khẩu phần.

2.1.2 Sức sống và khả năng kháng bệnh

Tỷ lệ nuôi sống ở gà con khi mới nở là chỉ tiêu chủ yếu để đánh giá sức sốngcủa gia cầm, ở giai đoạn hậu phôi, sự giảm sức sống được thể hiện ở tỷ lệ chết caoqua các giai đoạn sinh trưởng (Brandch và Bulchel, 1978) Khanvecman (1972)cho rằng cận huyết làm giảm tỷ lệ nuôi sống, ưu thế lai làm tăng tỷ lệ nuôi sống.Johanson (1972) cho biết sức sống được thể hiện ở khả năng có thể chống lạinhững ảnh hưởng bất lợi của môi trường, cũng như ảnh hưởng khác của dịch bệnh.Sức kháng bệnh là tính trạng do nhiều gen kiểm soát và chịu ảnh hưởng củanhiều điều kiện môi trường (Đặng Hữu Lanh và cs, 1999)

Hệ số di truyền về sức sống ở gia cầm rất thấp Theo Trần Huê Viên (2000),

hệ số di truyền của sức sống h2 = 0,05

Marco và cs (1992), (dẫn theo Hoàng Toàn Thắng, 1996) cho biết sức sốngđược thể hiện ở thể chất và xác định trước hết bởi khả năng có tính di truyền ởđộng vật có thể chống lại những ảnh hưởng không thuận lợi của môi trườngcũng như ảnh hưởng của dịch bệnh

Theo Ngô Giản Luyện (1994), mối liên quan giữa chỉ tiêu sinh lý, sinh hóamáu đối với sức sống và sản lượng trứng được Kotris và tại Viện Thú yMatxcơva (1988) xác định số lượng bạch cầu trong máu gà Hybro liên quan đếnsức sống và sản lượng trứng, những gà mái có số lượng bạch cầu cao giai đoạn

60 - 110 ngày thì tương ứng với sức sống và sản lượng trứng cao

Theo Gavano (1990), hệ số di truyền tỷ lệ chết ở gia cầm là 0,07; hệ số ditruyền của sức kháng bệnh là 0,25 Robertson và Lerner (1949) xác định hệ số

di truyền tỷ lệ nuôi sống và sức kháng bệnh thấp, phụ thuộc và dòng, giống, giớitính và phụ thuộc nhiều nhất vào yếu tố nuôi dưỡng

Trang 9

Theo Trần Long và cs (1996), tỷ lệ nuôi gà Ri giai đoạn gà con (0 – 6 tuầntuổi) đạt 93,3% Nguyễn Đăng Vang và cs (1999), cho biết tỷ lệ nuôi sống gà Rigiai đoạn (0 – 9 tuần tuổi) và sinh sản (19 – 23 tuần tuổi) đạt tương ứng 92,11%

và 97,25%

Nguyễn Thị Khanh và cs (1995), nghiên cứu trên gà Tam Hoàng cho biếtdòng 882 có tỷ lệ nuôi sống đến 6 tuần tuổi đạt 96,15% và dòng Jiangcun là96,85%

Vì vậy, để nâng cao hiệu quả chăn nuôi cần chọn những giống gia cầm cókhả năng thích nghi cao, đồng thời cần có chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng hợp lý

và thực hiện đúng quy trình phòng bệnh

2.1.3 Khả năng sinh sản của gia cầm

2.1.3.1 Cơ sở di truyền của năng suất trứng

Sinh sản là một quá trình để tạo ra thế hệ sau, sự phát triển hay hủy diệtcủa một loài trước tiên phụ thuộc vào khả năng sinh sản của loài đó Khả năngsinh sản của gia cầm được thể hiện qua các chỉ tiêu về sản lượng,khối lượng,hình dạng, chất lượng trứng, thụ tinh và tỷ lệ ấp nở Đối với các giống gia cầmkhác nhau, khả năng sinh sản là khác nhau Các nhà khoa học trên thế giới đãtập trung nghiên cứu cơ sở di truyềnsức đẻ trứng của gia cầm và cho rằng việcsản xuất trứng của gia cầm có thể do 5 yếu tố di truyền mang lại

+ Tuổi thành thục tính dục, ít nhất có 2 cặp gen chính tham gia vào yếu tốnày, một là gen E (liên kết giới tính) và e, còn cặp thứ 2 là E’ và e’ Gen trội Echịu trách nhiệm tính thành thục sinh dục

+ Cường độ đẻ: yếu tố này do 2 cặp gen R và r, R’ và r phối hợp lại để điều hành.+ Bản năng đòi ấp do 2 gen A và C điều khiển, phối hợp với nhau

+ Thời gian nghỉ đẻ (đặc biệt là đẻ vào mùa đông) do các gen M và m điềukhiển Gia cầm có gen mm thì mùa đông vẫn tiếp tục đẻ đều Thời gian kéo dàicủa chu kỳ đẻ do cặp gen P và p điều hành

Trang 10

+ Yếu tố thứ 5 và yếu tố thứ nhất là 2 yếu tố kết hợp với nhau, cũng cónghĩa là các cặp gen Pp và Ee có phối hợp với nhau Tất nhiên ngoài các genchính tham gia vào việc điều khiển các yếu tố trên, có thể còn có nhiều gen kháctham gia phụ lực vào.

2.1.3.2 Tuổi đẻ quả trứng đầu

Nhiều tác giả nghiên cứu về tuổi đẻ quả trứng đầu ở gia cầm cho rằng,đây là chỉ tiêu đánh giá sự thành thục về tính dục, cũng được coi là yếu tố cấuthành năng suất trứng Đối với từng cá thể, tuổi đẻ quả trứng đầu tiên được tính

từ khi nở ra đến khi đẻ quả trứng đầu tiên, đối với quần thể tuổi đẻ quả trứng đầutiên là lúc tỷ lệ đẻ đạt 5% số cá thể đàn đã đẻ, Pingel và Jewoch (1980)

Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường (1992) cho rằng có ít nhất 2 cặpgen cùng quy định tuổi đẻ quả trứng đầu, ặp gen thứ nhất E và e liên kết giớitính, cặp thứ 2 là E’ và e’ Tuổi đẻ và năng suất trúng có mối tương quan thuận,tuổi quả trứng đầu phụ thuộc vào bản chất di truyền, chế dộ nuôi dưỡng, yếu tốmôi trường Đặc biệt là thời gian chiếu sáng sẽ thúc đẩy gia cầm thành thục sinhdục Thời gian chiếu sáng kéo dài sẽ thúc đấy gia cầm đẻ trứng sớm(Khavecman, 1972)

2.1.3.3 Năng suất trứng và tỷ lệ đẻ

Theo Nguyễn Văn Thiện (1995), năng suất trứng là số lượng trứng đẻ ratrong một khoảng thời gian nhất định Đây là một tính trạng di truyền, phản ánhchất lượng giống và phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh Năng suất trứng

có hệ số di truyền không cao Hệ số di truyền năng suất trứng của gà là 0,12 –0,13 Nhiều kết quả nghiên cứu cho biết việc sản xuất trứng do 5 yếu tố quyếtđịnh, bao gồm: thời gian đẻ trứng, cường độ đẻ trứng, thời gian nghỉ đẻ, tuổithành thục và bản năng đòi ấp

Thời gian đẻ

Thởi gian đẻ ảnh hưởng rõ rệt đến sức sản xuất trứng Thời gian đẻ đượctính theo thời gian đẻ trứng của năm đầu, nghĩa là từ khi gia cầm bắt đầu đẻ quả

Trang 11

trứng đầu tiên đến khi thay lông hoàn toàn.

Thời gian đẻ chịu ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng Do vậy, để kéo dàithời gian đẻ của gia cầm người ta thường sử dụng ánh sáng nhân tạo

Cường độ đẻ trứng

Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trong một thời gian ngắn nên không chịu ảnhhưởng của môi trường Chu kỳ đẻ trứng là sản lượng trứng đẻ ra trong một thờigian liên tục không có sự ngắt quãng

Bản năng đòi ấp

Ấp trứng là phản xạ không điều kiện của gia cầm nhằm hoàn thiện quátrình sinh sản Bản năng đòi ấp phụ thuộc vào yếu tố di truyền Những giống cókhối lượng nhỏ thường không đòi ấp nhiều như những giống có khối lượng lớn

và trung bình.Bản năng đòi ấp chịu sự tác động của nhiệt độ và độ chiếu sáng,nhiệt độ cao, độ chiếu sáng thấp thì bản năng đòi ấp tăng

Tỷ lệ đẻ là một chỉ tiêu biểu thị khả năng sản xuất trứng Tỷ lệ đẻ trứngbình quân là một chỉ tiêu phản ánh đặc tính của khả năng đẻ trứng toàn đàn Tỷ

lệ đẻ tỷ lệ thuận với năng suất trứng

2.1.3.4 Khối lượng trứng và chất lượng trứng

Khối lượng trứng cũng là một tính trạng số lượng, là một tính trạng do nhiềugen tác động cộng gộp quy định, nhưng đến nay người ta cũng chưa xác định được

số lượng gen quy định tính trạng này Sau sản lượng trứng, khối lượng trứng là chỉtiêu quan trọng cấu thành năng suất của đàn bố mẹ Khi cho hai dòng gia cầm cókhối lượng trứng lớn và khối lượng trứng nhỏ, trứng của con lai có khối lượngtrung gian nghiêng về một phía, Khavecman (1972)

Khối lượng trứng là một tính trạng có hệ số di truyền cao, nên có thể đạtđược mục đích nhanh chóng thông qua con đường lọc (Kushner, 1974) Ngoàicác yếu tố về di truyền, khối lượng trứng còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố ngoạicảnh như: chăm sóc, nuôi dưỡng, mùa vụ, tuổi gia cầm Khối lượng trứng mangtính đặc trưng của từng loài và tính di truyền cao Hệ số di truyền của tính trạng

Trang 12

này là 0,48-0,8 (Brandsh và Bulchel, 1978) Bùi Quang Tiến và Nguyễn HoàiTao (1985) cho biết, khối lượng trứng có tương quan âm với sản lượng trứng và

hệ số tương quan (r) nằm trong khoảng từ (-0,33) đến (-0,36), nhưng giữa khốilượng trứng và khối lượng có tương quan dương (r = 0,31)

Các chỉ tiêu về chất lượng trứng có ý nghĩa kinh tế trong vận chuyển,đóng gói, sản xuất trứng giống, trứng thương phẩm

Trong chăn nuôi gia cầm sinh sản, chỉ số hình dạng của trứng là một chỉtiêu để xem xét chất lượng của trứng ấp, những quả trứng dài hoặc quá tròn đều

có tỷ lệ nở thấp Nguyễn Quý Khiêm (1996) cho biết trứng gà Tam Hoàng chỉ sốhình dạng trứng trung bình 1,24 - 1,39 cho tỷ lệ nở cao hơn so với nhóm trứng

có chỉ số hình dạng nằm ngoài biên độ này

Độ dày và độ bền (hay độ chịu lực) của vỏ trứng là những chỉ tiêu quantrọng đối với trứng gia cầm, có ảnh hưởng đến kết quả ấp nở và vận chuyển Độdày vỏ trứng được xác định bằng thước đo độ dày khi đã bóc vỏ dai, ở gà độ dày

vỏ bằng 0,32mm Độ dày và độ bền của vỏ trứng phụ thuộc vào giống, tuổi, điềukiện chăm sóc, nuôi dưỡng…Theo Trịnh Xuân Cư và cs (2001), trứng gà Mía ở

38 tuần tuổi có độ dày trung bình 0,36mm và độ chịu lực 2,88 kg/cm2 Trứng gàLương Phượng Hoa ở 38 tuần có độ dày vỏ trung bình 0,35mm và độ chịu lực4,46kg/cm2 (Nguyễn Huy Đạt và cs 2001)

Khi xem xét chất lượng của trứng thương phẩm cũng như trứng giốngcũng cần quan tâm đến chỉ số lòng đỏ, chỉ số lòng trắng và đơn vị Haugh Cácchỉ tiêu này càng cao thì chất lượng trứng càng tốt và tỷ lệ nở càng cao (Tạ AnBình, 1973) Đơn vị Haugh: đơn vị Haugh được Haugh (1930) xây dựng, sử dụng

để đánh giá chất lượng trứng, phụ thuộc khối lượng và chiều cao lòng trắng đặc.Đơn vị Haugh càng cao thì chất lượng trứng càng tốt Đơn vị Haugh bị ảnh hưởngbởi thời gian bảo quản trứng, tuổi gia cầm mái (gà càng già trứng có đơn vịHaugh càng thấp), bệnh tật, nhiệt độ, thay lông (sau thay lông đơn vị Haugh caohơn trước thay lông) và giống (Uyterwal và cs 1995) Vận chuyển trứng khi đi xa

Trang 13

cần phải bao gói cẩn thận, có thể dùng khay chuyên dụng để trứng cho vào lồngnhựa hoặc hộp giấy coston Trứng được vận chuyển đến nơi nhận cần được dỡ ra

và để trứng cố định từ 10 - 12 giờ trong phòng có nhiệt độ thích hợp, không khíthoáng mát

2.1.3.5 Khả năng thụ tinh và tỷ lệ ấp nở

Khả năng thụ tinh

Tỷ lệ trứng có phôi ở gia cầm là khả một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá

về khả năng sinh sản của con trống và con mái Tỷ lệ thu tinh phụ thuộc vàonhiều yếu tố như tuổi, tỷ lệ trống mái, mùa vụ, dinh dưỡng, chọn đôi giao phối,điều kiện ngoại cảnh Giao phối cận huyết cũng làm giảm tỷ lệ thụ tinh Trongcùng một giống, dòng gà khối lượng cơ thể lớn có tỷ lệ thụ tinh kém hơn so vớidòng gà có khối lượng cơ thể nhỏ hơn Hệ số di truyền của tỷ lệ trứng thụ tinh là0,11 – 0,13 (Nguyễn Văn Thiện, 1995)

Tỷ lệ ấp nở

Tỷ lệ ấp nở là một chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của phôi, sức ống củagia cầm non Đối với những trứng có chỉ số hình thái chuẩn, khối lượng trungbình của giống sẽ cho tỷ lệ ấp nở cao nhất

Kết quả ấp nở được xác định bằng các công thức khác nhau tùy vào mụcđích chăn nuôi Thông thường trong sản xuất, tỷ lệ ấp nở được xác định bằng tỷ

lệ phần trăm giữa số gia cầm con nở ra so với tổng số trứng đem ấp Trongnghiên cứu, để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nở hoặc chất lượngmáy ấp, người ta tính tỷ lệ ấp nở bằng tỷ lệ phần trăm giữa số gà con nở ra sovới số trứng có phôi Tỷ lệ giữa gà con nở ra so với số trứng đẻ ra được dùng đểxác định chất lượng toàn bộ đàn giống

Kết quả ấp nở phụ thuộc vào nhiều yếu tố Người ta chia thành 2 nhómyếu tố chính là các yếu tố thuộc môi trường bên trong và bên ngoài

Môi trường bên trong quyết định bởi đàn bố mẹ, chất lượng trứng, khốilượng trứng, sự cân đối giữa các thành phần cấu tạo và cấu trúc vỏ ảnh hưởng

Trang 14

đến tỷ lệ ấp nở Theo Nguyễn Quý Khiêm và cs (1999), những quả trứng có khốilượng quá to hoặc quá nhỏ tỷ lệ ấp nở kém hơn những quả có khối lượng trungbình của giống Nguyên nhân là sự mất cân bằng giữa các thành phần cấu tạocủa trứng.

Môi trường bên ngoài bao gồm: các khâu vệ sinh, thu nhặt, bảo quảntrứng, kỹ thuật ấp trứng Trứng sau khi đẻ ra có sự thay đổi đột ngột giữa môitrường bên trong với môi trường bên ngoài cơ thể mẹ làm phôi tạm ngừng pháttriển Trứng được thụ tinh và bảo quản tốt thì sự thay đổi này không đáng kể.Các nghiên cứu cho thấy sau 7 ngày bảo quản, tỷ lệ nở giảm 1% sau mỗi ngày

Do vậy, nên đưa trứng vào ấp sau khi bảo quản 2 – 4 ngày để có kết quả ấp nởtốt nhất

2.1.4 Khả năng sinh trưởng

Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như quá trình tổng hợp protein,nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá khả năngsinh trưởng, sinh trưởng là một quá trình sinh lý phức tạp và tuân theo nhữngquy luật nhất định

2.1.4.1 Khái niệm sinh trưởng

Theo Chambers (1990) định nghĩa: Sinh trưởng là sự tổng hợp quá trìnhtăng lên của các bộ phận trên cơ thể như thịt, da, xương Tuy nhiên có khi tăngkhối lượng chưa phải là sinh trưởng, sự sinh trưởng thực sự phải là tăng các tếbào của mô cơ, tăng thêm khối lượng, số lượng và các chiều của cơ thể Tóm lạisinh trưởng phải trải qua 3 quá trình đó là:

+ Phân chia để tăng khối lượng tế bào

+ Tăng thể tích tế bào

+Tăng thể tích giữa các tế bào

Trong quá trình này thì sự phát triển của tế bào là chính, các đặc tính của các

bộ phận trong cơ thể hình thành nên quá trình sinh trưởng là sự tiếp tục thừa hưởng

Trang 15

các đặc tính di truyền từ đời trước, nhưng hoạt động mạnh hay yếu, hoàn thiện haykhông hoàn thiện còn phụ thuộc vào sự tác động của môi trường

Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như quá trình tổng hợp protein, vì thếngười ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng

Theo Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường (1992), sinh trưởng làquá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao,chiều dài, bề ngang, khối lượng các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ

sở di truyền của đời trước Sự sinh trưởng chính là quá trình tích lũy dần dầncác chất mà chủ yếu là protein, nên tốc độ tích lũy của các chất cũng chính làtốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể Mà sựhoạt động của các gen điều khiển này chịu ảnh hưởng của hệ thống tuyến nộitiết Đặc biệt là hormon STH (Somato Tropin Hormon) của thùy trước tuyếnyên, có tác dụng trong việc thúc đẩy quá trình sinh trưởng của sinh vật

Theo Johanson (1972), cường độ phát triển qua giai đoạn bào thai và giaiđoạn sau khi sinh có ảnh hưởng đến chỉ tiêu phát triển của con vật Ở giai đoạnphôi là quá trình hình thành, phát triển các tổ chức mới của cơ thể Còn giaiđoạn sau khi nở, sự sinh trưởng là sự lớn lên của các mô, sự tăng lên về khốilượng, kích thước tế bào

Sự sinh trưởng ở gia cầm sau khi nở được chia làm hai thời kỳ, thời kỳ gàcon và thời kỳ gà trưởng thành

+Thời kỳ gà con

Ở thời kỳ gà con, quá trình sinh trưởng diễn ra rất mạnh do lượng tếbào tăng nhanh cả về số lượng, kích thước và khối lượng tế bào, trong khi đócác cơ quan nội tạng nhất là bộ máy tiêu hóa chưa hoàn chỉnh về chức năng,các men tiêu hoá trong hệ tiêu hoá chưa đầy đủ, vì thế thức ăn ở giai đoạn nàyảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng của gà Ở gà con còn diễn ra quátrình thay lông, đây là quá trình sinh lý quan trọng của gia cầm Do vậy, cầnchú ý cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể gia cầm nhất làcác acid amin không thay thế như: Lysine, Methionine, Tryptophan…

Trang 16

2.1.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng

Theo Chambers (1990), để đánh giá sức sinh trưởng của gia cầm người tathường dùng các chỉ tiêu chính như: Kích thước cơ thể, sinh trưởng tích luỹ(khối lượng cơ thể), tốc độ sinh trưởng (sinh trưởng tuyệt đối, sinh trưởng tươngđối) và đường cong sinh trưởng

+ Kích thước cơ thể

Kích thước cơ thể là một chỉ tiêu quan trọng cho sự sinh trưởng, đặc trưngcho từng giai đoạn sinh trưởng, từng giống, qua đó góp phần vào việc phân biệtgiống Giới hạn kích thước của loài, cá thể…do tính di truyền quy định Tính ditruyền của kích thước không tuân theo sự phân ly đơn giản theo các quy luậtMendel.Kích thước cơ thể luôn có mối tương quan thuận chặt chẽ với khốilượng cơ thể Kích thước cơ thể còn liên quan đến các chỉ tiêu sinh sản như tuổithành thục về thể trọng, chế độ dinh dưỡng, thời gian giết thịt thích hợp trongchăn nuôi

+ Khối lượng cơ thể

Ở từng giai đoạn phát triển, chỉ tiêu này xác định sự sinh trưởng của cơthể tại một thời điểm, nhưng lại không khẳng định được sự sai khác về tỷ lệsinh trưởng giữa các thành phần của cơ thể trong cùng một thời gian ở các độtuổi Khối lượng cơ thể được tính bằng g/con hoặc kg/con Và được biểu thịbằng đồ thị sinh trưởng tích lũy

Trang 17

+ Sinh trưởng tuyệt đối

Sinh trưởng tuyệt đối là sự tăng lên về khối lượng, kích thước cơ thể trongmột đơn vị thời gian giữa hai lần khảo sát (TCVN 2.39 - 77, 1997) Sinh trưởngtuyệt đối được tính bằng g/con/ngày Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thìhiệu quả kinh tế càng lớn và ngược lại

+ Sinh trưởng tương đối

Sinh trưởng tương đối được tính bằng tỷ lệ phần trăm tăng lên của khốilượng (thể tích, kích thước) của cơ thể khi kết thúc quá trình khảo sát so với thờiđiểm đầu khảo sát (TCVN 2.40 - 77, 1997) Gà còn non có sinh trưởng tươngđối cao sau đó giảm dần theo tuổi

Sau giai đoạn trưởng thành là giai đoạn già cỗi, ở thời kỳ này khối lượng

cơ thể không tăng mà có chiều hướng giảm Nếu vẫn có hiện tượng tăng khốilượng thì đây là do quá trình tích luỹ mỡ Thời kỳ này sớm hay muộn phụ thuộcvào giống, tuổi và điều kiện sống của con vật Thời kỳ già cỗi được tính từ khicon vật ngừng sinh trưởng, khả năng sinh sản và mọi khả năng khác đều giảm(Lê Huy Liễu và cs, 2004)

2.1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng

Các tính trạng về sinh trưởng là các tính trạng số lượng nên ngoài phầnảnh hưởng do các yếu tố của bản thân con vật (giống, tính biệt), chúng còn chịuảnh hưởng của các yếu tố môi trường như: Nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, thức ăn,phương thức chăn nuôi

+ Ảnh hưởng của dòng, giống

Mỗi dòng hay mỗi giống gia cầm có nhiều điểm khác nhau về đặc điểmngoại hình, sức sản xuất, khả năng kháng bệnh…từ đó ảnh hưởng rất lớn đến sựsinh trưởng Nhiều nghiên cứu đã khẳng định sự sinh trưởng của từng cá thể,giữa dòng, giống có sự sai khác

Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) cho biết sự khác nhau giữa các giốnggia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà hướng trứng khoảng 500 -700g (từ 15 - 30%)

Trang 18

Theo Kushner (1969), hệ số di truyền khối lượng sống của gà 1 thángtuổi là 0,33; 2 tháng tuổi là 0,46; 3 tháng tuổi là 0,44; 6 tháng tuổi là 0,55 vàcủa gà trưởng thành là 0,43.

Theo Hoàng Phanh (1996), khối lượng gà Mía lúc 12 tuần tuổi là 1503g.Còn kết quả nghiên cứu của Nguyễn Huy Đạt và cs (2005) trên gà Đông Tảogiai đoạn 12 tuần tuổi là 1404,7g

Kết quả nghiên cứu 3 dòng AA, Avian và BE88 nuôi tại Thái Nguyên củaNguyễn Thị Thúy Mỵ (1997) cho thấy: Khối lượng cơ thể của 3 dòng khác nhau

ở 49 ngày tuổi lần lượt là: 2501,09g; 2423,28g và 2305,14g

+ Ảnh hưởng của tính biệt

Giới tính khác nhau thì đặc điểm và chức năng sinh lý cũng khác nhau nênkhả năng đồng hoá, dị hoá và quá trình trao đổi chất dinh dưỡng của chúng là khácnhau Thường con trống có cường độ sinh trưởng lớn hơn so với con mái

Theo Jull (1923), gà trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gà mái từ 24 32% Các tác giả cho rằng sự sai khác này do gen liên kết giới tính, những gennày ở gà trống hoạt động mạnh hơn gà mái North (1990) đã rút ra kết luận: Lúcmới nở gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng thì sự khác nhau càng lớn,

-ở 2 tuần tuổi hơn 5%; 3 tuần tuổi hơn 11%; 5 tuần tuổi hơn 17%; 6 tuần tuổi hơn20%; 7 tuần tuổi hơn 23%;8 tuần tuổi hơn 27%

+ Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng

Chamber (1990) cho biết: “Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng đến tốc độ sinhtrưởng, đến sự phát triển của từng mô khác nhau và gây nên sự biến đổi trongquá trình phát triển của mô này đối với mô khác Dinh dưỡng không chỉ ảnhhưởng tới sự sinh trưởng mà còn ảnh hưởng đến sự di truyền về sinh trưởng”

Có nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực sinh lý sinh dưỡng đã chứng minh đểđạt được năng suất cao nhất không những phải cung cấp đầy đủ các chất dinhdưỡng mà còn phải chú ý đến tỷ lệ thích hợp nhất giữa chúng

Trang 19

Kết quả nghiên cứu của các tác giả Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1995),Bùi Quang Tiến và (1995) đều khẳng định thức ăn và dinh dưỡng có ảnh hưởngrất lớn đến sự sinh trưởng của gia cầm Hàm lượng các acid amin là rất quantrọng, đặc biệt nếu thiếu Methionin trong khẩu phần sẽ có hại cho sinh trưởng vàhiệu số chuyển hóa thức ăn.

Cũng theo Bùi Đức Lũng và (1996) nghiên cứu bổ sung khoáng vàvitamin vào khẩu phần nuôi gà HV85 cho thấy khối lượng cơ thể gà ở 7 tuầntuổi tăng 85.3g so với lô đối chứng

Lã Văn Kính (1995) đã kết luận: Nên nuôi gà thịt V135 tốt nhất là khẩuphần chứa 24% CP, 3000 – 3150 kcal ME, chỉ số ME/CP = 131 – 138 cho giaiđoạn 0 – 4 tuần tuổi và 20% CP, 3150 - 3300 kcal ME, chỉ số ME/CP = 158 –

165 giai đoạn 5 - 8 tuần tuổi

Meller David Soares và Josepbb (1981) đã xác định được sự ảnh hưởngcủa hàm lượng Clorocid, Sulfat và lượng Natri, Photpho trong chế độ dinhdưỡng tới sinh trưởng của gà

+ Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường.

Các yếu tố môi trường có ảnh hưởng rất lớn tới sự sinh trưởng của giacầm như: Nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, độ thông thoáng Trong đó nhiệt độ và ẩm

độ là hai yếu tố luôn thay đổi theo mùa vụ và có ảnh hưởng rõ rệt đến tốc độsinh trưởng của gia cầm Đã có rất nhiều nghiên cứu chứng minh được sự ảnhhưởng của hai yếu tố này

Reddy (1999) cho rằng khi nhiệt độ môi trường lên cao trên 36 – 370C sẽgây stress nhiệt, làm giảm quá trình trao đổi chất và hoạt động của cơ thể, từ đógiảm lượng thức ăn tiêu thụ và giảm tốc độ sinh trưởng Do vậy, cần phải đảm bảođiều kiện chuồng nuôi có độ thông thoáng tốt, cung cấp đủ oxy, đồng thời có mật

độ nuôi cũng như chế độ chiếu sáng thích hợp để tăng hiệu quả chăn nuôi

Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (1995), gà Broiler nuôi trong vụ hècần phải tăng mức ME (năng lượng trao đổi) và CP (protein thô) cao hơn nhucầu vụ đông 10 – 15%

Trang 20

Trong chăn nuôi gia cầm cần phải chú ý đến yếu tố ánh sáng, vì gia cầm

là loài rất nhạy cảm với ánh sáng, đặc biệt là giai đoạn gà con và giai đoạn gà

đẻ Nếu thời gian và cường độ chiếu sáng phù hợp thì thuận lợi cho hoạt động

ăn, uống từ đó ảnh hưởng tốt tới khả năng sinh trưởng

Hãng Arbor Acres (1995) khuyến cáo: Với gà Broiler giết thịt sớm 38 –

42 ngày tuổi; từ 1 ngày tuổi đến 3 ngày tuổi chiếu sáng 24/24 giờ với cường độchiếu sáng là 20lux, từ ngày thứ 4 trở đi thời gian chiếu sáng 23/24 giờ cường

độ chiếu sáng 5lux Gà Broiler nuôi dài ngày 49 – 56 ngày: Thời gian chiếu sángngày thứ 1 là 24 giờ; ngày thứ 2 là 20 giờ; ngày thứ 3 đến ngày thứ 15 là 12 giờ;ngày thứ 16 – 18 là 14 giờ; ngày thứ 19 – 22 là 16 giờ; ngày 23- 24 là 18 giờ; từngày thứ 25 đến kết thúc là 24 giờ Cường độ chiếu sáng ở những ngày đầu là20lux, những ngày sau là 5 lux

2.1.5 Khả năng cho thịt và một số chỉ tiêu đánh giá

Khả năng cho thịt được phản ánh qua các chỉ tiêu năng suất và chất lượngthịt Khả năng cho thịt phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, sự phát triển của hệ cơ,kích thước và khối lượng khung xương (Brandch và Biil, 1978) Hệ số di truyềnrộng ngực là 25% (20 - 30%), của góc ngực là 40% (30 - 45%), hệ số di truyềncủa góc ngực gà lúc 8 tuần tuổi là 24 - 30%

2.1.5.1 Năng suất thịt

Năng suất thịt hay tỷ lệ thịt xẻ chính là tỷ lệ phần trăm của khối lượngthân thịt so với khối lượng sống của gia cầm Năng suất thịt phụ thuộc vào dòng,giống, tính biệt, chăm sóc nuôi dưỡng và quy trình vệ sinh thú y

Ricard và Rouvier (1967) cho thấy mối tương quan giữa khối lượng sống

và khối lượng thịt xẻ là rất cao, thường là 0,9; còn giữa khối lượng sống và khốilượng mỡ bụng thấp hơn thường từ: 0,2 - 0,5

Tỷ lệ cơ ngực và cơ đùi so với khối lượng thịt xẻ là chỉ tiêu phản ánh rõnhất khả năng cho thịt (năng suất thịt) của gia cầm Theo Nguyễn Duy Hoan và

Trang 21

cs (2001), thông thường khi tỷ lệ thịt xẻ cao thì tỷ lệ cơ ngực và cơ đùi cũng cao

và ngược lại

Peter (1959), Ristic và Shon (1977) (dẫn theo Trần Thị Mai Phương,2004) đã tổng hợp trên nhiều loại gia cầm và đưa ra tỷ lệ các phần của thân thịtnhư sau: Khối lượng sống của gia cầm 100%, trong đó khối lượng thân thịtchiếm khoảng 64% (trong đó 52% là thịt và 12% là xương), phủ tạng chiếmkhoảng 6%, máu, lông, đầu, chân, ruột chiếm khoảng 17% và tỷ lệ hao hụt khigiết mổ chiếm khoảng 13%

Chất lượng thịt phụ thuộc vào thành phần hoá học của thịt và có sự khácnhau giữa các dòng, giống, cùng một chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng, cùng một lứatuổi và cùng một giống thì không có sự khác nhau về thành phần hoá học của thịt.Prias (1984) đã xác định được hệ số di truyền về tỷ lệ thịt xẻ như: Độ ẩm là 0,38;protein là 0,47; mỡ là 0,48 và khoáng là 0,25 (dẫn Theo Chambers, 1990)

Thịt trắng có giá trị sinh học cao hơn thịt đỏ, bởi nó có hàm lượng proteincao và tỷ lệ giữa các axit amin cân đối hơn Kết quả nghiên cứu của Lương ThịHồng (2005) cho biết hàm lượng protein thô của gà H’Mông là 22,04% và tỷ lệMethionine là 1,504%, Glutamic là 3,487%, Aspartic là 2,115% Ngoài việc xácđịnh thành phần hoá học của thịt, người ta còn có thể đánh giá chất lượng thịttheo các chỉ tiêu cảm quan (mầu sắc, trạng thái, mùi vị), khả năng giữ nước củathịt, vệ sinh an toàn thực phẩm (các chất tồn dư độc hại: Hormon, kháng sinh,kim loại nặng)

Trang 22

2.1.5.3 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng thịt gia cầm

Khả năng cho thịt của các loại gia cầm có liên quan mật thiết với đặc điểmngoại hình, thể chất, tốc độ sinh trưởng…

Trong ngành chăn nuôi gia cầm hướng thịt, phải đánh giá gia cầm sốngtheo các chỉ tiêu: Trọng lượng, tốc độ mọc lông, ngoại hình và sự phát triển của

cơ lưỡi hái, chi phí thức ăn cho tăng trọng, tỷ lệ nuôi sống của đàn nuôi thịt vàđàn mẹ Đây là các chỉ tiêu phản ánh sức sản xuất thịt của gia cầm

Cần chú ý thời điểm thay lông của gia cầm, nếu gia cầm mọc lông muộn đặcbiệt là lông lưng, các chân lông ở dưới da thì sẽ làm giảm chất lượng thịt Sựbiến dạng của xương ngực, xương chân và xương chậu đều làm cho chất lượngthịt không đạt yêu cầu

Đồng thời, sau khi giết thịt thì cần quan tâm đến các chỉ tiêu: Lườn khôngđược nhô ra, hướng của lườn song song với trục của thân Da phải nhẵn, khôngrách, không có lông măng Thịt tươi, ngon, mịn, sáng, hàm lượng mỡ không quácao Sự hao hụt nhiều hay ít sau khi mổ, sau khi bảo quản và sau khi chế biếnphản ánh chất lượng thịt tốt hay không tốt Trong thịt có chứa hàm lượng nướcnhất định, điều đó sẽ làm tăng sự ngon miệng của thịt Các công trình nghiêncứu đã chứng minh là độ ngon miệng phụ thuộc vào hàm lượng tuyệt đối củanước trong thịt Thịt có hàm lượng nước tuyệt đối cao do khả năng giữ nướckém nên mất nhiều nước sẽ làm giảm giá trị

Để nâng cao chất lượng thịt gia cầm cần áp dụng nhiều biện pháp như:chọn lọc, lai tạo, quản lý thích hợp Hiện đã có rất nhiều công trình nghiên cứu

để bảo tồn các giống: Gà Ri, gà H’Mông, gà Ác… Đây là những giống gà cóchất lượng thịt thơm ngon, nhưng số lượng còn ít và bị lai tạp nhiều

2.1.6 Hiệu quả sử dụng thức ăn

Hiệu quả sử dụng thức ăn được định nghĩa là mức độ tiêu tốn thức ăn chomột đơn vị sản phẩm Tiêu tốn thức ăn trên một kg tăng khối lượng là tỷ lệchuyển hoá thức ăn để đạt được tốc độ tăng trọng, là chỉ tiêu hết sức quan trọng

Trang 23

ảnh hưởng lớn đến hiệu quả chăn nuôi Khi sinh trưởng nhanh thì quá trình traođổi chất của cơ thể tốt hơn, Hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn do đó lượng tiêutốn thức ăn giảm.

Chambers (1990), xác định hệ số tương quan di truyền giữa tăng khốilượng của cơ thể với tiêu tốn thức ăn , hệ số tương quan này thường rất cao từ:0,5 - 0,9 còn tương quan di truyền giữa sinh trưởng và chuyển hoá thức ăn làthấp và âm (từ: - 0,2 đến - 0,8).Tiêu tốn thức ăn phụ thuộc vào dòng, giống, tínhbiệt và độ tuổi Theo Trần Công Xuân và cs (1998), khi nuôi thịt đến 15 tuầntuổi gà Tam Hoàng 882 tiêu tốn 3,61 kg thức ăn/kg tăng trọng

Đối với gia cầm sinh sản lấy trứng giống hoặc thương phẩm, tiêu tốn thức

ăn thường được tính cho 10 quả trứng hoặc 1kg trứng Theo Nguyễn Đăng Vang

và cs (1999), tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng của gà Đông Tảo trong 36 tuần

đẻ là 4,14kg Gà Ai Cập tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng trong 43 tuần đẻ là2,23kg (Phùng Đức Tiến và cs, 1999)

Vì vậy, cần chọn lọc nhằm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn cũng như định

ra thời gian giết thịt phù hợp cho từng dòng, giống gia cầm

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới các công trình nghên cứu về giống gà thịt đen, xương đen,

da đen chưa nhiều

Theo Mehner (1962) gà thịt đen, thịt đen, xương den mang gen lặn màulông trắng Kiểu hình biểu hiện bên ngoài của lông gà trưởng thành không có sựkhác nhau giữa màu lông trắng trội hay lông trắng lặn Ở gà con nếu mang gentrắng trội có biểu hiện lông bên ngoài màu hơi vàng hơn so với gà con có màulông trắng lặn

HoldenRied và cs (1984) và Mehner (1962) cho biết gà da đen, thịt đen,xương đen là giống gà có từ rất lâu đời do Marco Polo phát hiện từ thế kỷ thứ 13

ở Trung Quốc Giống gà này là sự đột biến ngẩu nhiên giữa các giống gà hoặc

Trang 24

có thể từ gà hoang Gà trống có cơ thể khỏe mạnh Đầu nhỏ, hơi nghếch về phíasau, mào cờ ngắn màu đỏ sậm Mắt đen nâu, cổ ngắn khỏe, lưng rộng ngắn,ngực đầy tròn sâu, cánh ngắn, rộng, đuôi ngắn có ít lông ống Bụng đầy, chânngắn có phủ lông, ngón ngắn xanh đen có 5 ngón Bộ lông xước có nhiều lôngmàu trắng Gà mái có đầu mảnh trung bình, màu lông trắng.

Theo Well Rong (1987) các đặc điểm ngoại hình của gà da đen, thịt đenxương đenTrung Quốc nuôi ở vùng Vũ Hán cũng có những đặc điểm tương tự.Thịt gà da đen, thịt đen, xương đen được được nuôi ở vùng Vũ Hán chủ yếuđược dùng như một vị thuốc Các thí nghiệm cho thấy thịt gà da đen, thịt đen,xương đen có chứa những hormone nhất định, các sắc tố xanh và axid amin cầnthiết cho cơ thể con người, có hiệu quả rất tốt trong điều trị các bệnh của phụ nữnhư vô sinh, sảy thai, các bệnh sau khi sinh Trứng của chúng cũng có hiệu quảtrong điều trị bênh đau đầu và là nguồn dinh dưỡng lý tưởng cho người gài vàngười có huyết áp cao vì nó có chứa hàm lượng cholesterol thấp và các axidamin tự do cao hơn so với các giống khác

Triệu Xương Đình và Vương Tuyền (2001) cho biết có một số giống gà dađen, thịt đen, xương đen được gọi tên theo vị trí địa lý như: Gà Thái Hòa, gàHắc Phong (lông màu đen); gà Dư Can (lông đen); gà Giang Sơn (lông trắng);

gà Kim Dương (lông tơ trắng); gà Tuyết Phong (lông đen tuyền, lông trắng vàmàu lông tạp) Khối lượng cơ thể các giống gà này có khác nhau đôi chút nhưngnhìn chung đều có khối lượng cơ thể nhỏ (khối lượng gà mái từ 1kg – 1,2kg; gàtrống 1,3kg – 1,5kg) Tuổi đẻ quả trứng đầu từ 160 – 180 ngày; năng suất trứngđạt từ 100 – 130 quả/mái/năm; khối lượng trứng nhỏ thường chỉ đạt 35-45g Tỷ

lệ trứng có phôi cao khoảng 90-95%, và tỷ lệ nở đạt 80-85%

Báo cáo khoa học và đời sống Trung Quốc (1996) thịt gà da đen, thịt đen,xương đen ở Trung Quốc được coi là một biệt dược quý và có hàm lượng sắt caohơn gà thường 45% ( dẫn theo Trần Thị Mai Phương (2004)

Trang 25

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Song song với việc phát triển chăn nuôi các giống gia cầm có năng suất vàchất lượng cao như gà chuyên thịt, chuyên trứng, việc nghiên cứu chọn lọc và laitạo các giống quý hiếm, đặc sản cũng đã bắt đầu được triển khai mạnh ở một số

cơ quan nghiên cứu và sản xuất Chăn nuôi các giống gà da đen, thịt đen, xươngđen là một trong những hướng phát triển mới

Cuc Simianer và cs (2010) trong nghiên cứu về đa dạng di truyền và xácđịnh đối tượng ưu tiên bảo tồn giống gà nội Việt Nam sử dụng kỷ thuậtMicrosatellite kết hợp với các chỉ tiêu đánh giá khả năng tiệt chủng của giốngdựa vào các yếu tố kinh tế, xã hội đã chỉ ra rằng giống gà Mía là giống gà có đadạng di truyền cao và khả năng tiệt chủng là thấp nhất Do vậy giống gà nàykhông ưu tiên để tiếp tục đầu tư bảo tồn mà nên nuôi giữ theo hướng khai thác,phát triển

Gà H’Mông thuộc nhóm gà da đen, thịt đen, xương đen được đồng bàoH’Mông nuôi chăn thả quảng can Xương, thịt của nó có thể làm vị thuốc chữabệnh, bồi dưỡng sức khỏe Không những thế giống gà này còn nổi tiếng bởilượng mỡ rất ít, thịt dai chắc, thơm, ngọt phù hợp với sở thích ẩm thực củangười Việt Nam Giống gà này đã được Viện Chăn Nuôi chọn lọc nhân thuần mởrộng quần thể đưa ra khai thác phát triển thành công trở thành một vật nuôigiống gốc cung cấp con giống cho sản xuất

Nguyễn Văn Thiện và cs (2000) cho biết gà Ác là giống gà có khối lượng

cơ thể nhỏ nhất trong các giống gà nội Khối lượng gà Ác 1 ngày tuổi con trống

là 16,32g-19,90g và gà mái 17,42g-18,90g Khối lượng cơ thể khi 8 tuần tuổi ở

gà trống là 295,7g và gà mái là 260,21g

Đào Lệ Hằng (2001) nghiên cứu giống gà H’Mông tại Viện Chăn Nuôi chobiết: Gà H’Mông có ngoại hình trung bình, mào cờ, chân có nhiều lông, màu sắclông đa dạng Tỷ lệ nuôi sống đến 7 tuần tuổi là 94.64-98,31%; khối lượng sơ sinh31,96g,lúc trưởng thành (16 tuần tuổi) gà trống nặng 1232,55g; gà mái nặng

Trang 26

1071,90g Tuổi thành thục sinh dục là 21 tuần tuổi Năng suất trứng đạt 74.6 quả/36tuần đẻ; tỷ lệ trứng có phôi đạt 81,23%,tỷ lệ ấp nở tự nhiên 44,37%.

Trần Mai Phương (2003) nghiên cứu về khả năng sinh sản, sinh trưởng vàchất lượng thịt của giống gà Ác Việt Nam cho thấy rằng gà Ác thành thục vềtính dục lúc 113-125 ngày; sản lượng trứng đạt 90,04-105,6 quả/mái/năm; khốilượng trứng bình quân đạt 31,00g; tỷ lệ trứng có phôi đạt 93,50%; tỷ lệ nở/tổngtrứng ấp là 46,1%, tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng là 2,32kg Nghiên cứu trên gà

Ác nuôi thịt cho thấy tỷ lệ nuôi sống 0-8 tuần tuổi là 95,5%; khối lượng cơ thể ở

9 tuần tuổi đạt 378,6-446,9g; tỷ lệ thịt xẻ ở 8 tuần tuổi đạt 69,5%, tỷ lệ thịt lườn

là 17,0%, tỷ lệ khoáng của thịt đùi và thịt lườn đều là 1,1% Đánh giá chất lượngcảm quancho thấy thịt gà Ác đạt điểm cao nhất (9,86) so với gà Ri (7,4) và gàcông nghiệp (6,8)

Vũ Quang Ninh (2002) nghiên cứu gà thịt đen xương đen Thía Hòa TrungQuốc cho biết, tuổi đẻ quả trứng đầu 141-14 ngày, tỷ lệ đẻ đỉnh cao đạt 62,18%,năng suất trứng đạt 122,73 quả/mái/năm Khối lượng TTTA/10 quả trứng là 2,17kg

Nguyễn Quý Khiêm và cs (2004) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới kếtquả ấp nở trứng gà Ác Việt Nam cho biết khối lượng trứng gà Ác là 21g ở 38tuần tuổi, tỷ lệ long đỏ là 35,10%, tỷ lệ lòng trắng là 53,37%, chỉ số lòng đỏ là0,438, chỉ số lòng trắng là 0,083, độ dày vỏ là 31mm, đơn vị haugh của trứng gà

Trang 27

thịt lườn) trong khi đó thịt gà Ri chỉ đạt tương ứng 21,08-23,61% Trần Thị MaiPhương (2004) cũng khẳng định điều này Hàm lượng mỡ lại rất thấp chỉ 0,53%

ở thịt lườn và 1,52% ở thịt đùi

Theo Lương Hồng (2005), nghiên cứu về khả năng sản xuất của gà trốngH’Mông và gài mái Ai Cập cho biết hàm lượng Proteintrong thịt gà H’Mông là22,04%, hàm lượng mỡ thấp 0,38%và hàm lượng các acid amin cao đặc biệt làacid Glutamic (3,49%)

Theo kết quả bước đầu của đề tài “Nghiên cứu khả năng sản xuất của gàPhu Phan trắng” được nuôi tại Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi(2016), gà Phu Phan trắng nhập nội có đặc điểm ngoại hình là lông màu trắng,

da đen, thịt đen và xương đen Có sức chống chịu bệnh tật tốt, tỷ lệ nuôi sốngcao: giai đoạn gà con là 98,19%, gà dò và gà hậu bị 96,61 - 98,58% Khối lượng

cơ thể lúc 20 tuần tuổi đạt: gà mái đạt 1803,33g; gà trống đạt 2657,00g Lúc gà

38 tuần tuổi con mái đạt 2270,33g, hệ số biến dị thấp Tuổi đẻ quả trứng đầu tiênlúc 130 ngày, tỷ lệ đẻ trung bình (17 tuần tuổi) là 38,67%, sản lượng trứng đạt54,14 quả/mái, tiêu tốn thúc ăn/10 quả trứng 2,66kg, tỷ lệ phôi đạt 85,70%, tỷ lệ

nở đạt 72,73%

Trang 28

Phần III VẬT LIỆU - NỘI DUNG VÀPHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu

- Giống gà Phu Phan nhập nội

Địa điểm thực hiện: Tại Trại thưc nghiệm gia cầm Liên Ninh Thanh Trì

- Khảo sát một số đặc điểm ngoại hình của đàn gà ở giai đoạn 1 ngày tuổi

và lúc trưởng thành 20 tuần tuổi

- Tỷ lệ nuôi sống, khối lựng cơ thể giai đoạn 01 ngày tuổi đến 20 tuần tuổi

- Khảo sát khả năng sinh sản

3.3.2 Trên đàn gà thương phẩm

- Khảo sát và đánh giá khả năng sinh trưởng giai đoạn từ 01ngày tuổi đến

17 tuần tuổi

+ Khảo sát tỷ lệ nuôi sống qua các tuần tuổi

+ Khảo sát mức độ sinh trưởng của đàn qua các tuần tuổi

+ Lượng thức ăn thu nhận

+ Khảo sát chất lượng thịt

Trang 29

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Bố trí thí nghiệm

Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm Đối tượng

Chỉ tiêu

Trên đàn gà sinh sản Trên đàn gà nuôi thịt

Phương thức nuôi

Được nuôi dưỡng chăm sóc trong điều kiện tiểu khí hậu chuồng nuôi thông thoáng tự nhiên.Đàn gà được nuôi nhốt với mật độ thích hợp trên nền chuồng có đệm lót trấu

3.4.2 Chế độ dinh dưỡng và chăm sóc nuôi dưỡng

Chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng được trình bày qua các bảng sau:

Bảng 3.2 Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng gà sinh sản

0 - 5 6 - 9 10 - 17 18 - 20 >20 Mật độ (con/m 2 ) 20 - 15 15 - 12 10 - 9 8 - 7 6 - 5Chế độ cho ăn Tự do ban ngàyTự do Hạn chế Hạn chế Theo tỷlệ đẻChế độ chiếu sáng

24 giờ trong 7 ngàyđầu, sau giảm dần đếnánh sáng tự nhiên

Ánh sáng

tự nhiên

Bổ sung dần ánh sángđến 16 giờ chiếu chiếusáng/ngày

Phương thức nuôi Nuôi chungtrống + mái trống - máiNuôi riêng

Nuôi chung với

tỷ lệ trống/mái1/8 – 1/10

Bảng 3.3 Chế độ dinh dưỡng trong khẩu phần ăn gà sinh sản

Trang 30

Bảng 3.4 Chế độ dinh dưỡng trong khẩu phần ăn gà thương phẩm Tuần tuổi

Trang 31

Bảng 3.5 Lịch phòng và sử dụng vaccine Ngày

Cho uống (chỉ sử dụng đối với nuôi chuồng

Nhỏ mồm, mũi Chủng da cách

ND-IB lần 2

GumboroNewcastle

140 ND-IB-IBD lần 2ILT lần 2

Newcastle, phế quản

TN, gumboro và viêm

thanh khí quản TN

Tiêm dưới da cổ Chủng da cánh

3.4.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu

3.4.3.1 Trên đàn gà sinh sản

- Đặc điểm ngoại hình

Được nghiên cứu bằng phương pháp quan sát, chụp ảnh, ghi chép, mô tảcác đặc điểm ngoại hình: bộ lông (cấu trúc, màu sắc của con trống và con mái),mào, cổ, mỏ, đầu, đuôi, chân và hình dạng cơ thể

Trang 32

- Kích thước các chiều đo

Được đo ở các thời điểm 8 và 20 tuần tuổi, bao gồm các chỉ tiêu:

+ Dài thân: Đo từ đốt xương sống cổ cuối cùng tới đốt xương sống đuôiđầu tiên, sử dụng thước Compa để đo

+ Dài lườn: Đo từ mép trước của lườn, dọc theo đường thẳng tới cuối hốcngực phía trước (mỏm trước đến điểm cuối cùng của xương lưỡi hái), sử dụngthước Compa để đo

+ Vòng ngực: Sử dụng thước dây đo vòng quanh ngực, sát sau gốc cánh+ Dài cánh: Sử dụng thước Compa đo từ khớp khủy sát xướng bã vai đếnđầu múp của cánh

+ Dài đùi: Sử dụng thước Compa từ khớp khủy đến khớp đùi gắn vớixương chậu

+ Cao chân: Dùng thước Compa đo từ khớp xương khủy đến khớp xươngcủa các ngón chân

+ Vòng chân: Sử dụng thước dây vòng quanh giữa ống chân

- Tỷ lệ nuôi sống.

Hàng ngày phải theo dõi và ghi chép một cách đầy đủ về số gà ốm, chết

và loại thải Tỷ lệ nuôi sống và loại thải được tính theo tuần tuổi hoặc giai đoạnnuôi, cuối các thời điềm này cộng dồn số lượng gà chết và loại thải để tính tỷ lệnuôi sốngtheo công thức sau:

Tỷ lệ nuôi sống trong tuần (%) = Số gà cuối tuần (con) x 100

Số gà đầu tuần ( con)

Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn (%) = Số gà cuối kỳ (con) x 100

Số gà đầu kỳ (con)

- Khối lượng cơ thể

Tiến hành cân gà vào thời điểm 01 ngày tuổi và hàng tuần đến 20 tuầntuổi vào buổi sáng một ngày cố định trong tuần tính từ thời điểm gà con nở ra,

Trang 33

trước khi cho ăn Cân ngẫu nhiên 10% tổng số gà, tối thiểu 30 con trong đàn vàcân từng con một Đối với gà 01 ngày tuổi và 1 - 2 tuần tuổi sử dụng cân điện tử

có độ chính xác 0,5g Từ 3 - 10 tuần tuổi sử dụng cân đồng hồ loại 1kg với phân

độ nhỏ nhất 5g Từ 11 - 15 tuần tuổi sử dụng cân đồng hồ loại 2kg với phân độnhỏ nhất là 10g Và 16 - 20 tuần tuổi sử cân đồng hồ loại 5 kg với phân độ nhỏnhất là 20 g Tính khối lượng trung bình của đàn theo công thức:

n

X X

là khối lượng của gà thứ i ( i =1,n ) (g)

n là Số lượng gà đem cân (con)

- Các chỉ tiêu về khả năng sinh sản

Bảng 3.6 Chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản

3 Năng suất trứng trong kỳ (quả/mái) Quả

4 Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng (kg) g

Tỷ lệ đẻ (%) = Tổng số mái có mặt trong kỳ (con)Tổng số trứng đẻ ra trong kỳ (quả) x 100

Năng suất trứng trong kỳ

Trang 34

Tỷ lệ trứng có phôi (%): là tỷ lệ % giữa trứng có phôi so với tổng sốtrứng được đưa vào ấp.

Tỷ lệ trứng có phôi (%) = Tổng số trứng vào ấp (quả)Số trứng có phôi (quả) x 100

Tỷ lệ nở/trứng có phôi (%) = Tổng số gà con nở ra (con)Tổng số trứng có phôi (quả) x 100

Tỷ lệ nở/trứng ấp(%) = Tổng số gà con nở ra (con) x 100

Tổng số trứng đẻ ra (quả)

Tỷ lệ gà loại 1 (%) = Tổng số gà con nở ra (con)Tổng số gà con đạt loại 1) x 100

- Lượng thức ăn thu nhận (TATN)

Hàng ngày, cân lượng thức ăn đưa vào vào 1 giờ nhất định (đầu giờ buổisáng), ngày hôm sau cũng vào thời điểm đó vét sạch lượng thức ăn còn thừatrong máng cân lại để xác định tổng lượng thức ăn thu nhận hàng ngày của đàn

gà Công thức tính như sau:

Lượng TATN hàng ngày (g) = TA đưa vào (g) – TA còn thừa (g)

Để tính lượng thức ăn thu nhận của một gà (thường được tính theo tuầntuổi), cộng tổng lượng thức ăn thu nhận hàng ngày của đàn gà trong 7 ngàytương ứng với tuần tuổi của đàn gà và tổng số gà có mặt trong 7 ngày đó Côngthức tính lượng thức ăn thu nhận cho 1 gà được tính như sau:

TATN (g/con/ngày) = Tổng lượng thức ăn trong tuần(g)

Tổng số gà có mặt (con)

3.4.3.2 Trên đàn gà thương phẩm

- Tỷ lệ nuôi sống

Hàng ngày phải theo dõi và ghi chép một cách đầy đủ về số gà ốm, chết

và loại thải Tỷ lệ nuôi sống và loại thải được tính theo tuần tuổi hoặc giai đoạnnuôi, cuối các thời điềm này cộng dồn số lượng gà chết và loại thải để tính tỷ lệnuôi sốngtheo công thức sau:

Tỷ lệ nuôi sống trong tuần (%) = Số gà cuối tuần (con) x 100

Ngày đăng: 24/07/2018, 14:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
53. Arbor Acres (1995). Managemant manual and broiler feeding. Arbor Acres farm icn, https://vi.scribd.com/doc/29567996/Arbor-Acres-Broiler-Manual Link
1. Tạ An Bình (1973). Những kết quả bước đầu về lai kinh tế gà. Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật Nông nghiệp. Tr. 598 – 603 Khác
2. Brandsch. H và Biil. H (1978). Cơ sở của nhân giống và di truyền ở gia cầm. Cơ sở sinh học của nhân giống và nuôi dưỡng gia cầm (Nguyễn Chí Bảo dịch), NXB Khoa học và Kỹ thuật. Tr. 129 - 158 Khác
3. Trịnh Xuân Cư, Hồ Lam Sơn, Lương Thị Hồng, Nguyễn Đăng Vang (2000).Nghiên cứu một số đặc điểm về ngoại hình và tính năng sản xuất của gà Mía trong điều kiện chăn nuôi tập trung. Phần chăn nuôi gia cầm, Báo cáo khoa học chăn nuôi thú y 1999 - 2000, Bộ nông nghiệp và PTNT, Thành phố Hồ Chí Minh tháng 4/2001. Tr. 244 - 253 Khác
5. Nguyễn Huy Đạt, Vũ Thị Hưng, Hồ Xuân Tùng, Nguyễn Thành Đông (2005).Nghiên cứu chọn lọc nâng cao năng suất gà Ri vàng rơm.Tóm tắt báo cáo khoa học năm 2004, Viện Chăn nuôi Khác
6. Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998), Giáo trình chăn nuôi gia cầm, NXB Nông nghiệp. Tr. 144 -152 Khác
7. Nguyễn Duy Hoan, Bùi Đức Lũng, Nguyễn Thanh Sơn và Đoàn Xuân Trúc (1999).Chăn nuôi gia cầm, Giáo trình dùng cho Cao học và NCS ngành chăn nuôi. NXB Nông nghiệp. Tr. 197 - 204 Khác
8. Nguyễn Duy Hoan (2001). Sức sống, sinh trưởng và khả năng cho thịt của giống gà Mèo. Tạp chí Nông nghiệp và PTNT, số 2 năm 2001 Khác
9. Lương Thị Hồng (2005). Nghiên cứu khả năng sản suất của tổ hợp lai giữa gà H’Mông x gà Ai Cập. Luận văn thạc sĩ khoa học Nông nghiệp, Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam Khác
10. Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Bùi Hữu Đoàn, Nguyễn Thị Mai, (1994), Chăn nuôi gia cầm. NXB Nông nghiệp, Tr. 104, 108, 122, 123 Khác
11. Johanson (1972). Cơ sở di truyền của năng suất và chọn giống động vật. (Phan Cự Nhân, Trần Đình Miên, Tạ Toàn, Trần Đình Trọng dịch), NXB Khoa học và Kỹ thuật, Tr. 254 - 274 Khác
12. Kushner K.F (1974). Các cơ sở di truyền của sự lựa chọn giống gia cầm. Tạp chí Khoa học và Kỹ Thuật Nông nghiệp, số 141, phần thông tin khoa học nước ngoài, Tr. 222 - 227 Khác
13. Kushner K.F (1969). Những cơ sở di truyền học của việc sử dụng ưu thế lai trong chăn nuôi. Những cơ sở di truyền và chọn giống động vật, NXB Maxcơva (Nguyễn Ân, Trần Cừ, Nguyễn Mộng Hùng, Lê Đình Lương dịch),NXB Khoa học và kỹ thuật. Tr. 248 – 263 Khác
14. Nguyễn Thị Khanh (1995). Một số đặc điểm về khả năng sinh trưởng, cho thịt và sinh sản của gà Tam Hoàng nuôi tại Hà Nội. Luận án thạc sĩ khoa học Nông nghiệp Khác
15. Nguyễn Quý Khiêm (1996). Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả ấp nở trứng gà Tam Hoàng và Goldline tại Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương. Luận án Tiến sỹ Khoa học Nông nghiệp, Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam Khác
16. Lã Văn Kính (1995). Xác định mức năng lượng, protein, lysine và methionine tối ưu cho gà thịt. Luận án Phó Tiến sĩ khoa học Nông nghiệp Khác
17. Đặng Hữu Lanh, Trần Đình Miên, Trần Bình Trọng (1999). Cơ sở di truyền chọn giống động vật. NXB giáo dục Khác
18. Lê Huy Liễu, Dương Mạnh Hùng, Trần Huê Viên (2004), Giáo trình. Giống vật nuôi. NXB Nông nghiệp Khác
19. Trần Long (1994). Xác định đặc điểm di truyền một số tính trạng sản xuất và lựa chọn phương pháp chọn giống thích hợp đối với các dòng gà thịt Hybro HV85, Luận án PTS khoa học nông nghiệp, Hà Nội. Tr. 90 - 114 Khác
20. Trần Long, Nguyễn Thị Thu, Bùi Đức Lũng (1996). Bước đầu nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của gà Ri. Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật gia cầm, Liên hiệp xí nghiệp gia cầm Việt Nam, NXB Nông nghiệp. Tr. 77 – 82 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w