1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Đánh giá khả năng sản xuất của hai dòng gà lông màu VCN VP4, VCN VP5 thế hệ thứ 3 nuôi tại trại thực nghiệm gia cầm liên ninh”

65 138 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 5,47 MB
File đính kèm hai dòng gà VCN-VP4, VCN-VP5.rar (4 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Đánh giá khả năng sản xuất của hai dòng gà lông màu VCNVP4, VCNVP5 thế hệ thứ 3 nuôi tại Trại thực nghiệm gia cầm Liên Ninh” “Đánh giá khả năng sản xuất của hai dòng gà lông màu VCNVP4, VCNVP5 thế hệ thứ 3 nuôi tại Trại thực nghiệm gia cầm Liên Ninh” “Đánh giá khả năng sản xuất của hai dòng gà lông màu VCNVP4, VCNVP5 thế hệ thứ 3 nuôi tại Trại thực nghiệm gia cầm Liên Ninh” “Đánh giá khả năng sản xuất của hai dòng gà lông màu VCNVP4, VCNVP5 thế hệ thứ 3 nuôi tại Trại thực nghiệm gia cầm Liên Ninh” “Đánh giá khả năng sản xuất của hai dòng gà lông màu VCNVP4, VCNVP5 thế hệ thứ 3 nuôi tại Trại thực nghiệm gia cầm Liên Ninh”

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Đợt thực tập tốt nghiệp lần này khép lại với kết quả cao, sự thành công ýnghĩa và sự tích lũy được nhiều kinh nghiệm Sau một thời gian chỉ 5 tháng tạiTrung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi - Viện Chăn Nuôi em đã được cở

sở chỉ đạo, giúp đỡ và nhiệt tình hướng dẫn, động viên của các thầy cô và các banlãnh đạo cơ sở nên đợt thực tập đã hoàn thành tốt đẹp

Qua đợt thực tập em đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm vận dụng kiếnthức đã học vào trong quá trình sản xuất thực tế Đạt được kết quả như vậy lànhờ sự giúp đỡ tận tình và nhiệt huyết của Nhà trường và cơ sở

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất, lòng biết ơn sâu sắc đến BanGiám hiệu trường Đại học Nông lâm Bắc Giang, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôithú y, cán bộ giảng viên trực tiếp hướng dẫn TS Đoàn Phương Thúy đã tận tìnhhướng dẫn giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận

Xin chân thành tập thể cán bộ, công nhân viên của Trung tâm Nghiên cứu

và Huấn luyện chăn nuôi Vạn Phúc, tập thể cán bộ công nhân viên Trại thựcnghiệm gia cầm Liên Ninh và đã tạo mọi điều điện thuận lợi nhất để em tiếnhành đề tài nghiên cứu

Em xin chúc Ban Lãnh đạo cơ quan và toàn thể anh chị em công nhânnhiều sức khỏe làm việc tốt và cơ quan ngày càng phát triển hơn nữa!

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng năm 2017

Sinh viên

Trần Thị Trinh

Trang 2

MỤC LỤC

Phần I MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu: 2

Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

2.1.1 Đặc điểm ngoại hình, sinh trưởng và phát triển của gà Ri, Sasso, Dominant và Lương Phượng 3

2.1.2 Tỷ lệ nuôi sống 7

2.1.3 Khả năng sản xuất của gia cầm 8

2.1.4 Sức sống và khả năng đề kháng bệnh tật 18

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 20

2.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 20

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 23

Phần III VẬT LIỆU - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .27 3.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 27

3.2 Vật liệu nghiên cứu 27

3.3 Nội dung nghiên cứu 28

3.4 Phương pháp nghiên cứu 29

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 29

3.4.2 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 30

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 33

PHẦN IV KẾT QUẢ- THẢO LUẬN 34

4.1 Đặc điểm ngoại hình của gà VP4 VÀ VP5 34

4.2 Tỷ lệ nuôi sống 36

4.3 Khối lượng cơ thể 37

4.4 khả năng sinh sản 40

4.4.1 Tuổi thành thục sinh dục của đàn gà thí nghiệm 40

Trang 3

4.4.2 Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng của dòng VP4, VP5 41

4.5 chất lượng trứng 44

4.5.1 Khối lượng trứng 44

4.5.2 Chất lượng trứng 45

4.6 TỈ LỆ ẤP NỞ CỦA TRỨNG GÀ THÍ NGHIỆM 46

4.7 hiệu quả sử dụng thức ăn 47

4.7.1 Lượng thức ăn thu nhận 47

4.7.2 Hiệu quả sử dụng thức ăn 49

Phần V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52

5.1 Kết luận 52

5.2 Đề nghị 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Tài liệu tiếng Việt 53

Tài liệu tiếng nước ngoài 58

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 29Bảng 3.1: Thành phần dinh dưỡng của đàn gà thí nghiệm 29Bảng 4.1: Màu lông 01 ngày tuổi của 2 dòng gà thí nghiệm (%) 34

Trang 5

Bảng 4.2: Màu lông 20 tuần tuổi của 2 dòng gà thí nghiệm (%) 34

Bảng 4.3: Tỷ lệ nuôi sống đàn gà thí nghiệm giai đoạn 1-20 tuần tuổi (%) 36

Bảng 4.4: Khối lượng cơ thể đàn gà thí nghiệm giai đoạn 1-20 tuần tuổi (g) 38

Bảng 4.5: Diễn biến tỷ lệ đẻ của gà mái theo dõi 40

Bảng 4.6: Tỷ lệ đẻ của gà mái từ 21-41 tuần tuổi (%) 41

Bảng 4.7: Năng suất trứng trung bình của đàn gà từ 21-41 tuần tuổi (quả/mái).43 Bảng 4.8: Khối lượng trứng qua các giai đoạn tuần tuổi (g) 44

(n=50) 44

Bảng 4.9: Chất lượng trứng 45

Bảng 4.10: Tỉ lệ ấp nở (%) 46

Bảng 4.11: Lượng thức ăn thu nhận của 2 dòng gà 48

Bảng 4.12: Hiệu quả sử dụng thức ăn trong giai đoạn đẻ trứng 50

Trang 7

Phần I

MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi gà của nước ta luôn đạt sựtăng trưởng khá cao, bình quân từ 5-6%/năm Theo số liệu của Cục Chăn nuôi(2013), số lượng gà tập trung nhiều nhất ở vùng Đồng bằng sông Hồng, chiếm26,4%, miền núi và trung du Bắc bộ là 24,0%, Bắc trung bộ và duyên hải miềnTrung là 20,6%, Đồng bằng sông Cửu Long là 13,8%, Đông Nam Bộ là 10,5%,Tây Nguyên là 5,3% Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (2016), tổng đàn gàcủa cả nước đạt 272,2 triệu con Trong đó gà thịt 213,85 triệu con,chiếm 77,2%,

gà trứng 63,338 triệu con chiếm 22,8% Sản lượng thịt gà 740,730 ngàn tấn,trong đó thịt gà nuôi theo phương thức công nghiệp đạt 320,065 ngàn tấn, chiếm43,2% Với những số liệu nêu trên, ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam chiếmtốp thứ 15 trên thế giới

Là một nước nông nghiệp lâu đời, gắn với sản xuất lúa nước, từ bao đờinay ông cha ta đã thuần dưỡng và chọn lọc ra một số giống gà nội như: Ri, Mía,

Hồ, Đông Tảo v.v… vẫn còn giá trị cho đến ngày nay, đặc biệt về chất lượngthịt, trứng của chúng thì không giống gà nhập khẩu nào có thể cạnh tranh được.Các giống gà Hồ, Đông Tảo đã nổi tiếng về ngoại hình đẹp, tầm vóc to và đãđược khắc họa trong các tranh dân gian từ những thập niên 40 - 50 của thế kỷtrước Tuy nhiên, các giống gà này trước đây được cha ông ta chọn lọc với mụcđích phục vụ lễ hội nên chỉ thiên về ngoại hình đẹp, trong khi năng suất trứng vàthịt thấp Gà Ri có chất lượng thịt trứng thơm ngon, ngoại hình đẹp, nhưng năngsuất lại thấp, nhất là năng suất trứng.Vào thập niên 70, từ hai giống gà Ri và gàRhode Island, các nhà khoa học của Viện chăn nuôi cũng đã chọn tạo đượcgiống gà Rốt Ri có một số đặc tính tốt phục vụ chăn nuôi nông hộ Trong nhữngnăm qua, nước ta đã nhập khẩu nhiều giống gà lông màu hướng thịt và hướngtrứng để đáp ứng nhu cầu chăn nuôi theo phương thức công nghiệp và bán công

Trang 8

nghiệp như giống gà Sasso, ISA, Lương Phượng, Kabir, Ai Cập, Hyline,Isabrown, Red bro … Các giống gà này đã góp phần quan trọng trong việc nângcao năng suất và hiệu quả chăn nuôi gia cầm Tuy nhiên, do nhu cầu ngày càngcao của người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm, các giống gà ngoại đã khôngđáp ứng được sự phân khúc của thị trường Theo đó, cần có các giống gà khôngnhững có năng suất cao như gà ngoại mà chất lượng thịt, trứng cũng phải đạtxấp xỉ các giống nội địa.

Với mục đích đó, từ các nguồn gen các giống gà nội và gà nhập nội, ViệnChăn nuôi đã tiến hành nghiên cứu chọn tạo được 3 dòng gà lông màu thả vườn

đó là dòng trống VP3, dòng mái VP4 và VP5 Để có cơ cở khoa học và thực tiễntiếp tục chọn lọc nâng cao năng suất của 2 dòng gà VP4 và VP5, chúng tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá khả năng sản xuất của hai dòng gà lông màu VCN-VP4, VCN-VP5 thế hệ thứ 3 nuôi tại Trại thực nghiệm gia cầm Liên Ninh”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

- Đánh giá được đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh trưởng, sinh sảncủa dòng gà VP4, VP5 và so sánh khả năng sản xuất của 2 dòng gà này

- Cung cấp căn cứ khoa học để tiếp tục chọn lọc nâng cao một số chỉ tiêunăng suất của 2 dòng gà này

Trang 9

Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

2.1.1 Đặc điểm ngoại hình, sinh trưởng và phát triển của

gà Ri, Sasso, Dominant và Lương Phượng.

2.1.1.1 Đặc điểm ngoại hình, sinh trưởng và phát triển của gà Ri

Gà Ri là một trong những giống gà Việt Nam nổi tiếng từ xưa, phân bốrộng rãi trong cả nước, nhất là các tỉnh phía Bắc Ở miền Nam còn gọi là gà Tavàng hay Tàu vàng, cũng có những đặc điểm giống như gà Ri và chúng đều cóchung nguồn gốc Nhìn chung ngoại hình của gà Ri ngày nay bị pha tạp nhiều,nên người ta còn gọi là gà Ri pha

Gà Ri có tầm vóc nhỏ, thân hình thanh tú, nhỏ xương, thịt trứng thơmngon, da màu vàng phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng

Gà Ri đã được thuần hóa và là giống vật nuôi truyền thống lâu đời củanhân dân ta khắp mọi miền đất nước, có khả năng chống chịu bệnh tốt, chịuđựng kham khổ, có khả năng tự tìm kiếm thức ăn, có khả năng chống chịu rét ởmùa đông, dễ thích nghi với điều kiện nóng ẩm như ở Việt Nam Mặc dù vậy gà

Ri có nhược điểm chính là, ngoại hình nhỏ, sinh trưởng chậm, khả năng cho thịt

và đẻ trứng không cao trong điều kiện chăn nuôi tự nhiên

Màu sắc lông của gà Ri có nhiều loại: vàng, nâu, đen nhưng chúng đều cóđặc điểm chung là lông cánh thường có màu đen (Nguyễn Mạnh Hùng và cs,1994) Gà mái thường có lông màu vàng và nâu nhạt hoặc thẫm, gà trống cólông màu tía, cánh và đuôi có điểm lông màu đen

Gà Ri có khối lượng cơ thể ở tuổi trưởng thành: Con trống từ 1,6 – 2,2 kg;con mái 1,3-1,7 kg Sản lượng trứng của gà mái trong một năm đẻ trứng từ 80-

120 quả, khối lượng trứng bình quân 38- 42g Trên đàn gà đã chọn lọc, sảnlượng trứng 68 tuần tuổi đạt 122,5-123,8 quả/mái (Nguyễn Thanh Bình, 1998)

Trang 10

Tỷ lệ nuôi sống gà con mới nở đến hai tháng tuổi là 80-90% Gà Ri nuôi thịt đến

12 tuần tuổi khối lượng cơ thể bình quân 1,07 kg-1,22 (Nguyễn Thanh Bình,1998) Nuôi thịt đến 17 tuần tuổi gà trống đạt 1,57kg, gà mái đạt 1.08 kg(Nguyễn Đăng Vang và cs, 1999)

2.1.1.2 Đặc điểm ngoại hình, sinh trưởng và phát triển của gà Sasso

Gà Sasso còn được gọi là gà Label Sasso là giống gà công nghiệp có xuất

xứ từ Pháp, chúng là giống gà lông màu Sasso do hãng Sasso tạo ra năm 1978

và được nuôi theo kiểu gà thả vườn trong điều kiện nông hộ ở Pháp Là mộtdòng gà thịt có khả năng thích nghi cao, dễ nuôi, kháng bệnh tốt, chất lượng thịtthơm ngon, thích nghi với phương thức chăn nuôi bán công nghiệp hay nuôi thảvườn, gồm nhiều dòng khác nhau Việt Nam đã nhập và nuôi thử nghiệm haidòng SA31 và SA51 sau đó, gà Sasso với các dòng (X40, X04, S30, A01) đãđược Nhà nước Việt Nam công nhận là một giống vật nuôi được sản xuất, kinhdoanh tại Việt Nam

Gà Sasso là giống gà nặng cân của Pháp, đặc điểm giống gà này là kháđồng đều về ngoại hình: lông màu vàng nâu, chân, da và mỏ có màu vàng, ức

nở Hãng đưa ra sản xuất 18 dòng gà trống với mục đích sử dụng khác nhau:Dòng nhẹ cân hoặc nặng cân với các đặc trưng như lông đỏ, đen, xám, hoặctrắng Da vàng hoặc trắng, chân đen, xám hoặc vàng Trụi cổ hay có lông cổ

Gà lớn nhanh, lúc 2 tháng tuổi kể từ lúc bóc trứng, nuôi đúng kỹ thuật gà đạt2,2 - 2,5 kg/con Gà Sasso tận dụng được ngô, tấm, gạo, sắn và thức ăn thừa củalợn Gà đạt hiệu quả kinh tế cao kể cả nuôi thả vườn và tập trung Sử dụng thức ănhỗn hợp hoàn chỉnh hoặc thức ăn đậm đặc phối trộn với các nguyên liệu khác Nếu nuôi theo phương pháp nửa nhốt nửa thả 90 – 100 ngày có thể đạtkhối lượng 2,1 – 2,3 kg Tiêu tốn thức ăn 3,1 – 3,5 kg thức ăn cho 1 kg tăngtrọng Nuôi bán chăn thả, sau 90 - 100 ngày gà đạt 2,1 – 3,3 kg Mỗi kilôgamtăng trọng tiêu tốn 3,1 - 3,3 kg thức ăn.Nuôi 70 - 80 ngày, con mái đạt 1,5 -l,8 kg, con trống đạt 1,7 - 2,2 kg Mỗi năm gà mái có thể cho 145 - 165 quả

Trang 11

trứng Mỗi kilôgam tăng trọng tiêu tốn 2,8 – 3 kg thức ăn Khối lượng cơ thể lúcgiết thịt (9 tuần tuổi): 2390g Khả năng nuôi sống 23 - 66 tháng tuổi: 92% Sảnlượng trứng/ 10 tháng đẻ: 159 quả/ mái Tỷ lệ trứng giống: 95,5%; Tỷ lệ ấp nở:80%.Sản lượng trứng giống/ mái: 152 quả/ mái Sản lượng gà con 1 ngày tuổi:

129 con/ mái

2.1.1.3 Đặc điểm ngoại hình, sinh trưởng và phát triển của gà Dominant

Gà Dominant hay còn gọi đầy đủ là gà Dominant Patridge thường gọibằng ký hiệu là gà D300 hay gọi tên tiếng Việt là gà Séc là giống gà côngnghiệp chuyên trứng có nguồn gốc từ cộng hoà Séc Giống gà D300 là một trong

12 dòng gà chuyên đẻ trứng chất lượng của Séc được cung cấp cho các nướcnhư Nga, Ukraine, Thụy Sĩ, Philippines và Việt Nam Tại Việt Nam, giống gànày được Nhà nước Việt Nam công nhận là một giống vật nuôi được phép sảnxuất, kinh doanh, lưu hành tại Việt Nam

Gà Dominant có đặc điểm ngoại hình màu lông đồng nhất là trắng, xungquanh cổ và vai có cườm đen, lông đuôi xanh đen, mỏ và chân màu vàng, châncao, thiết diện hình nêm là đặc trưng của giống gà chuyên trứng Gà trống cómào đơn, tích to Trứng gà có màu trắng hồng Các đàn gà có tỷ lệ nuôi sống cao(trên 92%) gà có sức chống chịu bệnh tốt thể hiện không xảy ra dịch bệnh, thíchnghi tốt với điều kiện khí hậu và nuôi dưỡng kháng bệnh tật cao

Gà trống D-300 có tính đặc thù như các giống gà ta Việt Nam, dễ nuôi,thích nghi với điều kiện nuôi thả vườn, kháng bệnh cao Tiêu tốn thức ăn 2,7 kg/

kg tăng khối lượng, nuôi 4 tháng cơ thể đạt khối lượng 2,1-2,2 kg Đặc biệtgiống gà D-300 có chất lượng thịt thơm ngon và ngoại hình phù hợp với thị yếucủa người dân Việt Nam như lông màu mận, đuôi dài, mào cờ đỏ, chân vàngbóng Gà trống nuôi tới 18 tuần tuổi đạt khối lượng 1,6 – 1,8 kg, lông đỏ thẫm,đuôi dài, mào cờ, chân nhỏ màu vàng, rất giống với màu lông của gà ta

Gà mái thương phẩm hướng trứng D-300 là giống gà chuyên trứng chấtlượng cao, dễ nuôi, có tính thích ứng và đề kháng bệnh cao Gà có tuổi đẻ sớm,

Trang 12

bắt đầu đẻ vào tuần thứ 19 và tuổi đẻ ở tuần thứ 20,tỷ lệ ổn định, năng suất trứngđạt 233- 235 quả/mái/48 tuần đẻ Thời gian chăn nuôi kéo dài 68 tuần, vỏ trứng

có màu trắng kem, phớt hồng, khối lượng quả trứng trung bình là 55,5g

2.1.1.4 Đặc điểm ngoại hình, sinh trưởng và phát triển của gà Lương Phượng

Gà Lương Phượnghay còn gọi làgà lông vàng,Lương Phượng hoa, xuất xứ

từ vùng ven sông Lưỡng Phượng củaTrung Quốc, đây là giốnggà thịtcao sản và

có năng suất cao Chúng là là một phẩm giống mới, nuôi chăn thả lấy thịt đã nhàđược các nhà tạo giống gà tại Nam Ninh (Quảng Tây-Trung Quốc) nghiên cứu

và chọn lọc trong thời gian dài

Gà Lương Phượng có mào, tích, tai đều màu đỏ Gà có thân hình chắc, gà

có hình dáng bên ngoài giống với gà Ri, bộ lông có màu vàng, dày, bóng, mượt.Mào và phần đầu màu đỏ Gà có màu lông đa dạng vàng đốm đen ở vai, lưng vàlông đuôi Lông cổ có màu vàng ánh kim, búp lông đuôi có màu xanh đen Da

gà màu vàng

Khối lượng cơ thể lúc mới sinh: 34,5 g, lúc 8 tuần tuổi đạt 1,2 - 1,3 kg.Khối lượng gà lúc 20 tuần tuổi con trống 2,0 - 2,2 kg, gà mái 1,7 - 1,8 kg/con

Gà xuất chuồng lúc 70 ngày tuổi cân nặng 1,5 – 1,6 kg Tiêu tốn thức ăn cho

1 kg tăng trọng là 2,4 – 2,6 kg Tỷ lệ gà thương phẩm xuất chuồng đều đạt 95%trở lên Tốc độ sinh trưởng nhanh, khối lượng cơ thể lúc 70 tuần tuổi đạt 1,5-1,6 kg Tiêu tốn thức ăn /kg tăng trọng là 2,4-2,6 kg Chúng to con nuôi lấy thịt3.4 kg cho con trưỡng thành, một số có chân lông quả/mái/năm

Gà Lương Phượng dễ nuôi, có tính thích nghi cao, chịu đựng tốt với khíhậu nóng ẩm, đòi hỏi chế độ dinh dưỡng không cao, có thể nuôi nhốt (kiểu nuôicông nghiệp), bán công nghiệp (vừa nhốt, vừa thả) hoặc nuôi thả ở vườn, ngoàiđồng, trên đồi Giống gà này rất phù hợp với điều kiện chăn thả tự do Khả năngsinh sản của gà Lương Phượng rất tốt Tuổi vào đẻ là 24 tuần, khối lượng cơ thể

gà mái đạt 2.100 g, gà trống đạt 2.700 g Tuổi đẻ đầu tiên 140 - 150 ngày, sản

Trang 13

lượng trứng 150 - 170 Sản lượng trứng/66 tuần đẻ đạt khoảng 171 quả, tỷ lệphôi đạt 92% Gà thịt nuôi đến 70 ngày tuổi đạt 1,8 kg

2.1.2 Tỷ lệ nuôi sống

Tỷ lệ nuôi sống là một trong những chỉ tiêu đánh giá khả năng thích ứngcủa vật nuôi đối với điều kiện ngoại cảnh và nó có ý nghĩa lớn đối với nhữnggiống được chuyển từ vùng này sang vùng khác hoặc những giống mới đượchình thành Theo Brandech và Bilchel (Nguyễn Chí Bảo dịch, 1978) tỷ lệ nuôisống là chỉ tiêu chủ yếu để đánh giá sức sống của gia cầm ở giai đoạn hậu phôi,

sự giảm sức sống được thể hiện ở tỷ lệ chết cao qua các giai đoạn sinh trưởng.Khavecman (1972) cho rằng cận huyết làm giảm tỷ lệ nuôi sống, ưu thế lai làmtăng tỷ lệ nuôi sống Hệ số di truyền về sức sống ở gia cầm rất thấp: Hill và cs(1954) đã tíh được hệ số di truyền sức sống là h2 = 0,06 Còn Đặng Hữu Lanh và

cs (1999) cho biết h2 = 0,06 và 0,03 Vì vậy, để cải tiến tính trạng này dùngphương pháp chọn lọc theo gia đình mới mang lại hiệu quả cao qua các thế hệ Sức sống gia cầm xác định theo các giai đoạn khác nhau: giai đoạn con,giai đoạn dò, giai đoạn hậu bị đến tuổi trưởng thành và giai đoạn sinh sản đếnhết kỳ sử dụng Tùy theo các giống khác nhau mà phân chia các giai đoạn Ví dụ

ở gà thường chia ra: giai đoạn gà con (0 – 9 tuần tuổi), giai đoạn gà dò (10 – 19tuần tuổi), giai đoạn sinh sản từ 20 tuần tuổi trở lên

Tỷ lệ nuôi sống phụ thuộc rất lớn vào sự chăm sóc, nuôi dưỡng, khí hậu, thờitiết, mùa vụ Có thể nâng cao tỷ lệ nuôi sống bằng các biện pháp nuôi dưỡng tốt,

vệ sinh tiêm phòng kịp thời Tỷ lệ nuôi sống của gia cầm còn phụ thuộc vào sứcsống của đàn bố mẹ Gia cầm mái đẻ tốt thì tỷ lệ nuôi sống của gia cầm con caohơn so với các gia cầm con được sinh ra từ gia cầm mái đẻ kém

Động vật thích nghi tốt thể hiện ở sự giảm khối lượng cơ thể thấp nhất khi

bị stress, có sức sinh sản tốt, sức kháng bệnh cao, sống lâu và tỷ lệ chết thấp.Khi điều kiện sống thay đổi (thức ăn, thời tiết, khí hậu, quy trình chăm sóc, nuôi

Trang 14

dưỡng,…), gà lông màu có khả năng thích ứng tốt với môi trường sống (Phan

Cự Nhân, Trần Đình Miên, 1998)

2.1.3 Khả năng sản xuất của gia cầm.

2.1.3.1 Khả năng sinh trưởng

* Khái niệm sinh trưởng: Sinh trưởng là quá trình tích luỹ các chất hữu cơ

do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang, khốilượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính di truyền Sinhtrưởng chính là sự tích luỹ dần dần các chất, chủ yếu là protein nên tốc độ vàkhối lượng tích luỹ các chất phụ thuộc vào tốc độ hoạt động của các gen điềukhiển sự sinh trưởng (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992)

Sự sinh trưởng của con vật được tính từ khi trứng thụ tinh cho đến khi đãtrưởng thành và được chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn trong thai và giai đoạnngoài thai Đối với gia cầm là thời kỳ hậu phôi và thời kỳ trưởng thành

Thực tế nuôi gia súc, gia cầm lấy thịt cho thấy trong giai đoạn đầu của sựsinh trưởng thức ăn dinh dưỡng được dùng tối đa cho sự phát triển của xương,

mô cơ, một phần rất ít dùng lưu giữ cho cấu tạo của mỡ Đến giai đoạn cuối của

sự sinh trưởng nguồn dinh dưỡng vẫn được sử dụng nhiều để nuôi hệ thống cơxương nhưng hai hệ thống này tốc độ phát triển đã giảm, càng ngày con vật càngtích luỹ dinh dưỡng để cấu tạo mỡ

Sinh trưởng của vật nuôi nói chung và gia cầm nói riêng thường đượcđánh giá qua khối lượng cơ thể và kích thước của chúng Khi nghiên cứu về sinhtrưởng người ta thường sử dụng một số chỉ tiêu để đánh giá:

* Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng

- Ảnh hưởng của dòng, giống: Các giống gà khác nhau thì có khả năng sinhtrưởng khác nhau, giống gà hướng thịt có khả năng sinh trưởng lớn hơn giốngkiêm dụng và chuyên trứng Nhiều nghiên cứu đã chứng minh dòng, giống giacầm có ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng Nghiên cứu Nguyễn Huy Đạt và cs(1996) trên gà broiler của 4 giống AA, Lohmann, Isavedette và Avian cũng cho

Trang 15

thấy gà broiler Lohmann và Isavedette có tốc độ sinh trưởng cao hơn so với gàbroiler AA và Avian từ 6,58 - 9,75% Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) cũng chobiết sự khác nhau về khối lượng giữa các giống gia cầm là rất lớn, giống gà kiêmdụng nặng hơn gà hướng trứng khoảng 500 - 700 gam (13 - 30%).

Trong cùng một giống, các dòng khác nhau cũng có khả năng sinh trưởngkhác nhau Theo Trần Công Xuân và cs (2003) khi nghiên cứu gà Sao nhập từHungari ở 12 tuần tuổi cho biết: dòng gà Sao nhỏ có khối lượng trung bình đạt1886g/con, dòng gà Sao trung có khối lượng trung bình đạt 1930g/con và dòng

gà Sao lớn có khối lượng trung bình đạt 2560g/con Trần Long (1994) cho biếttốc độ sinh trưởng của 3 dòng thuần (V1, V3, V5) của giống gà Hybrro HV85hoàn toàn khác nhau ở 42 ngày tuổi

- Ảnh hưởng của tính biệt: Trong cùng một dòng (giống), giới tính khácnhau thì cũng có khả năng sinh trưởng khác nhau gà trống thường nặng cân hơn

gà mái từ 24-32% Những sai khác này cũng được biểu hiện về cường độ sinhtrưởng, được qui định không phải do hormon sinh học mà do các gen liên 12 kếtvới giới tính, những gen này ở gà trống (2 nhiễm sắc thể giới tính) hoạt độngmạnh hơn ở gà mái (1 nhiễm sắc thể giới tính)

North (1990) kết luận: lúc mới sinh gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổicàng tăng sự khác nhau càng lớn; ở 2 tuần tuổi là 5%, 3 tuần tuổi >11%, 5 tuầntuổi >17%, 6 tuần tuổi > 20%, 7 tuần tuổi > 23%, 8 tuần tuổi > 27 %

- Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng: Sinh trưởng là tổng số của sự pháttriển các phần của cơ thể như: thịt, xương, da Tỷ lệ sinh trưởng các phần nàyphụ thuộc vào độ tuổi, tốc độ sinh tưởng và phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng(Chambers, 1990) Trong cùng một dòng (giống) chế độ dinh dưỡng khác nhaucũng cho khả năng sinh trưởng khác nhau Nghiên cứu của Đỗ Thị Tính và cs(1993) trên gà AA giai đoạn hậu bị cho thấy với mức năng lượng và proteinkhác nhau thì khối lượng cơ thể giai đoạn ăn tự do 1 - 3 tuần tuổi của gà thínghiệm có sự khác nhau giữa các lô thí nghiệm Kết quả nghiên cứu trên gà

Trang 16

trống ISA - 30MPK giai đoạn sau 25 tuần tuổi cũng cho kết quả tương tự, khốilượng gà trống ở các thời điểm 21 - 60 tuần tuổi của các lô thí nghiệm khác nhau

về thành phần dinh dưỡng thì khác nhau

Ngoài ra khả năng sinh trưởng của gia cầm còn chịu ảnh hưởng của cácyếu tố khác như: nhiệt độ môi trường, ẩm độ và độ thông thoáng, chế độ chiếusáng, mật độ nuôi nhốt…

* Hiệu quả sử dụng thức ăn

Đối với gia cầm nuôi thịt, tiêu tốn thức ăn thường được tính cho 1 kg tăngkhối lượng cơ thể Gà có tốc độ tăng khối lượng cơ thể cao thì hiệu quả sử dụngthức ăn tốt hơn, vì ở gà một phần năng lượng cho duy trì, còn một phần dùng đểtăng khối lượng cơ thể Cá thể nào có tốc độ tăng khối lượng cơ thể nhanh sẽ cần ítnăng lượng cho sự duy trì cơ thể Mặt khác tăng khối 13 lượng cơ thể nhanh thì cơthể đồng hóa và dị hóa tốt nên hiệu quả sử dụng thức ăn cũng tốt hơn

Đối với gia cầm sinh sản lấy trứng giống hoặc thương phẩm, tiêu tốn thức

ăn thường được tính cho 10 quả trứng hoặc 1 kg trứng Theo Nguyễn ĐăngVang và cs (1999) tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng của gà Đông Tảo trong 36tuần đẻ là 4,14 kg Gà Ai Cập tiêu tốn thức ăn/10 trứng trong 43 tuần đẻ là 2,33

kg (Phùng Đức Tiến và cs 1999) Gà Goldline – 54 thương phẩm là 1,65 – 1,85kg/10 trứng trong 12 tháng đẻ (Nguyễn Huy Đạt và cs 1996) Tiêu tốn thức ănphụ thuộc vào dòng, giống, tính biệt, độ tuổi Theo Trần Công Xuân và cs(1998), khi nuôi thịt đến 15 tuần tuổi gà Tam Hoàng 882 tiêu tốn 3,61 kg thứcăn/ kg tăng trọng Đoàn Xuân Trúc và cs (1996) cho biết tiêu tốn thức ăn/ kgtăng trọng của gà AA; ISA-MPK và BE88 khi nuôi đến 7 tuần tuổi tương ứng là:2,09; 2,06; 2,13 kg Ngoài ra, tiêu tốn thức ăn còn phụ thuộc vào điều kiện khíhậu thời tiết, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, tình trạng sức khoẻ

Tiêu tốn thức ăn là chỉ tiêu hết sức quan trọng, nó có ý nghĩa quyết định đếnhiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà Do vậy, sinh trưởng nhanh và tiêu tốn thức ănthấp luôn là mục tiêu của nhiều công trình nghiên cứu về lai tạo giống gia cầm

Trang 17

2.1.3.2 Khả năng sinh sản

* Sinh lý sinh sản của gia cầm mái

Gia cầm là loài đẻ trứng Con mái thoái hóa buồng trứng bên phải, chỉ cònlại buồng trứng và ống dẫn trứng bên trái tồn tại và phát triển Âm hộ gắn liềnvới tử cung và cũng nằm trong lỗ huyệt, do vậy lỗ huyệt đảm bảo ba chức năng:chứa phân, chứa nước tiểu và cơ quan sinh dục Khi giao phối, gai giao cấu củacon trống áp sát vào lỗ huyệt của con mái và phóng tinh vào âm hộ

Kích thước và hình dạng buồng trứng phụ thuộc vào tuổi và loại gia cầm

Gà một ngày tuổi buồng trứng có kích thước 1-2mm, khối lượng 0,03g Thời kỳ

gà đẻ buồng trứng có hình chum nhỏ, khối lượng khoảng 45-55g chứa nhiều tếbào trứng Sự hình thành buồng trứng và tuyến sinh dục xảy ra vào thời kỳ đầucủa sự phát triển phôi Sau mỗi lứa tuổi lại có những thay đổi về cấu trúc vàchức năng của buồng trứng

Chức năng chủ yếu của buồng trứng là tạo trứng Quá trình phát triển của

tế bào trứng trải qua ba thời kỳ: tăng sinh, sinh trưởng và chín

Trước khi bắt đầu đẻ, buồng trứng gà có khoảng 3500 – 4000 trứng, mỗi

tế bào có một noãn hoàng

Tế bào trứng tăng trưởng nhanh, đặc biệt là lòng đỏ Trong 3 – 14 ngàylòng đỏ chiếm 90 – 95% khối lượng tế bào trứng, thành phần chính gồm protit,photpholipit, mỡ trung hòa, các chất khoáng và vitamin Đặc biệt lòng đỏ đượctích lũy mạnh vào giai đoạn từ 9 đến 4 ngày trước khi trứng rụng Việc tăng quátrình sinh trưởng của tế bào trứng là do foliculin được chế tiết ở buồng trứng khi

gà mái thành thục sinh dục

Sự rụng trứng được tính khi tế bào trứng rời khỏi buồng trứng rơi vào loakèn Sự rụng trứng chỉ xảy ra một lần trong ngày, nếu gà đẻ trứng vào cuối buổichiều (16h) thì sự rụng trứng thực hiện vào buổi sáng hôm sau Trứng được giữlại trong ống dẫn trứng làm đình trệ sự rụng trứng tiếp theo Sự rụng trứng của

gà thường xảy ra từ 2-14 giờ

Trang 18

Chu kỳ rụng trứng phụ thuộc vào các yếu tố: điều kiện nuôi dưỡng, chămsóc, lứa tuổi và trạng thái sinh lý của gia cầm Nếu thức ăn kém chất lượng,nhiệt độ không khí cao sẽ làm giảm sự rụng trứng và đẻ trứng Ví dụ, ở Xínghiệp Gà giống Lương Mỹ, Tam Dương vào mùa nóng (tháng 5-7) với nhiệt độ35-400C thì sức đẻ trứng cùa gà ISA đã giảm 15-20% Gà nhiễm bệnh cũng hạnchế khả năng rụng trứng (Lê Huy Liễu và cs, 2003).

* Một số yếu tố ảnh hưởng năng suất trứng

Năng suất trứng là số lượng trứng một gia cầm đẻ ra trong một đơn vị thờigian nhất định, có thể là một tháng, một vụ, một năm hay một đời của gà mái đẻ Hutt F.B (1978) đề nghị tính năng suất trứng từ khi gia cầm đẻ quả trứngđầu tiên, còn Brandsh H và Billchel H (1978) cho biết năng suất trứng đượctính đến 500 ngày tuổi Theo các tác giả trên năng suất trứng cũng được tínhtheo năm sinh học 365 ngày, kể từ ngày đẻ quả trứng đầu tiên Trong thời giangần đây, năng suất trứng được tính theo tuần tuổi Nhiều hãng gia cầm nổitiếng như Shaver (Canada), Lohmanm (Đức),… năng suất trứng được tính đến70-80 tuần tuổi

Năng suất trứng của gia cầm chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau,mỗi yếu tố ảnh hưởng đến năng suất trứng ở mức độ nhất định Năng suất trứngcủa gia cầm chịu ảnh hưởng của một số yếu tố chính như các yếu tố di truyền cáthể, tuổi gia cầm, giống dòng gia cầm, chế độ dinh dưỡng và điều kiện ngoại cảnh

- Các yếu tố di truyền cá thể

Năng suất trứng là một tính trạng số lượng có lợi ích kinh tế quan trọngcủa gia cầm đối với con người Có 5 yếu tố di truyền ảnh hưởng đến năng suấttrứng của gia cầm là tuổi thành thục sinh dục, cường độ đẻ trứng, tính nghỉ đẻ,thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học và tính ấp bóng

+ Tuổi thành thục sinh dục

Tuổi thành thục sinh dục liên quan đến năng suất trứng của gia cầm.Thành thục sớm là một tính trạng mong muốn Tuy nhiên cần chú ý đến khối

Trang 19

lượng cơ thể Tuổi bắt đầu đẻ và kích thước cơ thể có tương quan nghịch Chọnlọc theo hướng tăng khối lượng quả trứng sẽ làm tăng khối lượng cơ thể gà vàtăng tuổi thành thục sinh dục Tuổi thành thục sinh dục được xác định qua tuổi

đẻ quả trứng đầu tiên Tuổi thành thục sinh dục của một nhóm hoặc một đàn giacầm được xác định theo tuổi đạt tỷ lệ đẻ là 5% Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đếntuổi thành thục sinh dục của gia cầm: loài, giống, dòng, hướng sản xuất, mùa vụ

nở, thời gian chiếu sáng, chế độ dinh dưỡng, chăm sóc quản lý

có những phán đoán sớm, kịp thời trong công tác chọn giống

+ Thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học

Chu kỳ đẻ trứng sinh học liên quan thời vụ nở của gia cầm con Tùy thuộcvào thời gian nở mà bắt đầu và kết thúc của chu chu kỳ đẻ trứng sinh học có thểxảy ra trong thời gian khác nhau trong năm Ở gà, chu kỳ này thường kéo dài 1năm; gà tây, vịt và ngỗng chu kỳ thường ngắn hơn và theo mùa Chu kỳ đẻ trứngsinh học có mối tương quan thuận với tính thành thục sinh dục, nhịp độ đẻtrứng, sức bền đẻ trứng và chu kỳ đẻ trứng Giữa sự thành thục và thời gian kéodài chu kỳ đẻ trứng sinh học có tương quan nghịch rõ rệt Các cá thể có sự khácnhau về bản chất di truyền của thời điểm kết thúc năm sinh học, điều này chophép tiến hành chọn lọc theo sự đẻ trứng ổn định và do đó nâng cao năng suấttrứng của cả năm

Giữa thời gian kéo dài đẻ trứng và sức sản xuất trứng có hệ số tương quandương rất cao Lerner và Taylor (1943) cho rằng thời gian kéo dài chu kỳ đẻtrứng là yếu tố quyết định năng suất trứng

Trang 20

Sau mỗi chu kỳ đẻ trứng sinh học gia cầm thường nghỉ đẻ và thay lông.Trong điều kiện bình thường, thay lông lần đầu tiên là đặc điểm quan trọng đểđánh giá gia cầm đẻ tốt hay xấu Những gia cầm thay lông sớm thường đẻ kém

và thời gian thay lông kéo dài 4 tháng Ngược lại, nhiều gia cầm thay lông muộn

và nhanh, thời gian nghỉ đẻ dưới 2 tháng

+ Tính ấp bóng

Tính ấp bóng là bản năng ấp trứng tự nhiên của gia cầm nhằm duy trì nòigiống Đây là phản xạ không điều kiện có liên quan đến năng suất trứng của giacầm Sự xuất hiện bản năng đòi ấp phụ thuộc vào các yếu tố di truyền Nhữnggiống nhẹ cân thì bản năng đòi ấp kém hơn các giống nặng cân Tính ấp bónglàm giảm năng suất trứng, vì vậy trong chăn nuôi công nghiệp người ta tiến hànhchọn lọc, loại bỏ bản năng đòi ấp nhằm nâng cao năng suất trứng Những giống

gà công nghiệp hiện nay tính ấp bóng không còn hoặc còn rất ít

Các yếu tố di truyền cá thể do rất nhiều gen quy định và ảnh hưởng ở cácmức độ khác nhau đến năng suất trứng Muốn nâng cao năng suất trứng qua cácthế hệ phải bắt đầu chọn lọc trên cả 5 yếu tố nói trên

- Tuổi gia cầm

Tuổi gia cầm cũng có liên quan đến năng suất trứng Năng suất trứng của

Trang 21

gà giảm dần theo tuổi, thường thì năng suất trứng năm thứ hai giảm 15-20% sovới năm thứ nhất Trần Đình Miên và cs (1975) cho biết quy luật đẻ trứng củagia cầm thay đổi theo tuổi và có sự khác nhau giữa các loài.

- Thức ăn và dinh dưỡng

Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào số lượng và chất lượng thức ăn, phụthuộc vào mức năng lượng, hàm lượng protein và các thành phần khác trongkhẩu phần ăn (Bùi Thị Oanh, 1996)

Thức ăn và dinh dưỡng có quan hệ chặt chẽ với khả năng đẻ trứng Muốngia cầm có năng suất trứng cao, chất lượng thức ăn tốt thì phải đảm bảo mộtkhẩu phần ăn đầy đủ và cân bằng các chất dinh dưỡng theo nhu cầu Quan trọngnhất là cân bằng giữa năng lượng và protein, cân bằng các axit amin, cân bằngcác chất khoáng và vitamin Thức ăn chất lượng kém sẽ không thể cho năng suấtcao, thậm chí còn gây bệnh cho gia cầm Các loại thức ăn bảo quản không tốt bịnhiễm nấm mốc, các loại thức ăn bị nhiễm độc các kim loại nặng, thuốc bảo vệthực vật v.v…Thậm chí các loại thức ăn hỗn hợp đảm bảo đầy đủ và cân bằngcác chất dinh dưỡng nhưng bảo quản không tốt cũng sẽ không phát huy được tácdụng trong chăn nuôi gia cầm

- Điều kiện ngoại cảnh

Các điều kiện ngoại cảnh như thời tiết, khí hậu mà cụ thể như nhiệt độ, độ

ẩm, ánh sáng của chuồng nuôi đều ảnh hưởng đến năng suất đẻ trứng của giacầm Trong các yếu tố này thì nhiệt độ là yếu tố quan trọng nhất, ở gà nhiệt độthích hợp ho quá trình đẻ trứng từ 180C-240C Nhiệt độ thấp quá đều không cólợi cho gia cầm và làm giảm năng suất trứng

Độ ẩm của không khí trong chuồng nuôi tốt nhất là 65-70%, về mùa đông

độ ẩm không nên vượt quá 80% Sự thông thoáng tốt không chỉ đảm bảo độ ẩmthích hợp trong chuồng nuôi mà còn đẩy các khí độc trong chuồng nuôi ra ngoài,đảm bảo một môi trường sống phù hợp với gia cầm

Trang 22

Ngoài nhiệt độ và độ ẩm thì chế độ chiếu sáng (thời gian và cường độ) cóảnh hưởng rõ rệt đến năng suất trứng của gia cầm Đối với gà đẻ, yêu cầu về thờigian chiếu sáng mỗi ngày từ 16-17 giờ, do thời gian chiếu sáng tự nhiên ngắnhơn nên người ta phải dùng thêm đèn chiếu sáng Cường độ chiếu sáng thíchhợp khi nuôi gà đẻ trong chuồng kín là 20-40lux.

Ở nước ta, gia cầm đẻ trứng còn chịu sự chi phối của nhiều yếu tố tựnhiên, các yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất trứng là gió mùa đông bắc

về mùa đông và gió Lào về mùa hè Nuôi gà đẻ trong chuồng thông thoáng tựnhiên thì vấn đề chống nóng và chống rét sẽ gặp nhiều khó khăn, nhất là vấn đềchống nóng mùa hè

* Một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ tinh

Tỷ lệ thụ tinh là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá về khả năng sinh sảncủa con gia cầm Tỷ lệ thụ tinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như di truyền, dinhdưỡng, điều kiện ngoại cảnh, tuổi, tỷ lệ giữa các con trống và con mái

- Yếu tố di truyền

Loài, giống và các cá thể khác nhau thì tỷ lệ thụ tinh cũng khác nhau Kỹthuật nhân giống cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ tinh Nếu cho giao phối đồnghuyết sẽ làm giảm tỷ lệ thụ tinh

- Yếu tố dinh dưỡng

Dinh dưỡng của đàn bố mẹ có ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ thụ tinh Nếutrong khẩu phần ăn không đủ các chất dinh dưỡng cần thiết sẽ làm giảm tỷ lệ thụtinh Nếu khẩu phần thiếu protein, phẩm chất tinh dịch sẽ kém vì đây là nguyênliệu cơ bản để hình thành tinh trùng Nếu thiếu các vitamin A, E sẽ làm cho cơquan sinh dục phát triển không bình thường, từ đó ảnh hưởng đến khả năng sinhtinh và các hoạt động sinh dục, làm giảm tỷ lệ thụ tinh Khẩu phần không nhữngphải đầy đủ mà còn phải cân bằng các chất dinh dưỡng, nhất là cân bằng giữanăng lượng và protein, cân bằng giữa các axit amin, cân bằng giữa các nhómchất dinh dưỡng khác nhau

Trang 23

- Điều kiện ngoại cảnh

Điều kiện ngoại cảnh mà cụ thể là tiểu khí hậu chuồng nuôi (nhiệt độ, độ

ẩm, sự thong thoáng và chế độ chiếu sáng) là những yếu tố quan trọng ảnhhưởng tới tỷ lệ thụ tinh Nhiệt độ và độ ẩm cao hay thấp so với quy định đều ảnhhưởng đến tỷ lệ thụ tinh ở các mức khác nhau thông qua quá trình trao đổi chấtcủa cơ thể gia cầm

Tỷ lệ thụ tinh của gia cầm thường cao vào mùa xuân và mùa thu, giảmvào mùa hè, nhất là vào những ngày năng nóng Khi độ ẩm chuồng nuôi quácao, thường làm lớp độn chuồng ẩm ướt, gà dễ mắc bệnh ở chân, làm tỷ lệ thụtinh giảm thấp Mặt khác, độ ẩm cao sẽ làm gà dễ mắc các bệnh đường ruột,đường hô hấp Chuồng thông thoáng kém, hàm lượng khí độc trong chuồng nuôităng lên, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và làm giảm tỷ lệ thu tinh

- Tuổi gia cầm

Tuổi gia cầm có ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ thụ tinh Thường ở gà trống,tinh hoàn đạt kích thước tối đa ở 28-30 tuần tuổi, giai đoạn này thường đạt tỷ lệthụ tinh rất cao Nếu nuôi dưỡng hợp lý, tinh hoàn sẽ phát triển tốt và bắt đầu cóhiện tượng suy thoái sau 48 tuần tuổi Vì thế gà trống một năm tuổi thường có tỷ

lệ thụ tinh tốt hơn gà trống 2 năm tuổi

- Tỷ lệ trống/mái

Để có tỷ lệ thụ tinh cao, cần có tỷ lệ trống/ mái thích hợp Tỷ lệ cao haythấp đều làm giảm tỷ lệ thụ tinh Các loài, giống gia cầm khác nhau thì tỷ lệtrống và mái khác nhau

* Một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nở

Tỷ lệ nở là một chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của phôi, sức sống của giacầm non Tỷ lệ nở cao có ý nghĩa kinh tế lớn Nếu kết quả ấp nở kém thì tỷ lệhao hụt trong giai đoạn nuôi dưỡng sau này cao, chất lượng con giống cũngkhông được đảm bảo Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nở của trứng gia

Trang 24

cầm, có thể tổng hợp thành hai nhóm chính là các yếu tố thuộc môi trường bêntrong và các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài.

- Ảnh hưởng của môi trường bên trong

Môi trường bên trong chính là tất cả các yếu tố liên quan đến chất lượngtrứng ấp Nó bao gốm tất cả các chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng ấp như khốilượng trứng, chỉ số hình thái trứng, chất lượng vỏ trứng, tỷ lệ lòng trắng và lòng

đỏ, chỉ số lòng đỏ, chỉ số lòng trắng và đơn vị Haugh Trứng quá to hoặc quánhỏ đều cho tỷ lệ ấp nở thấp Theo Khummenk (1990) thì sự cân đối về tỷ lệlòng đỏ, lòng trắng và cấu trúc vỏ có ảnh hưởng tới tỷ lệ ấp nở Theo Godfrey(1936) những trứng quá to sẽ có lòng trắng nhiều thì không cho kết quả ấp nởtốt được.Mỗi yếu tố này đều ảnh hưởng đến kết quả ấp nở và sức sống của giacầm con tương lai

- Ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài

Môi trường bên ngoài bao gồm thu vận chuyển và bảo quản trứng ấp,nhiệt độ, ẩm độ, sự thông thoáng, đảo trứng và làm mát, kỹ năng nghề của côngnhân kỹ thuật và chất lượng đàn giống bố mẹ Tuổi gia cầm càng cao thì tỷ lệchết phôi càng cao, trứng của những gia cầm mái đẻ 2-3 năm tuổi đều có tỷ lệchết phôi cao

2.1.4 Sức sống và khả năng đề kháng bệnh tật

Sức sống và khả năng kháng bệnh tất của gia cầm là một chỉ tiêu quantrọng, ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả chăn nuôi Hiệu quả chăn nuôi được chiphối bởi yếu tố bên trong của cơ thể (di truyền) và môi trường ngoại cảnh (dinhdưỡng, chăm sóc, chuồng trại, dịch tễ)

Lê Viết Ly (1995) cho biết động vật thích nghi tốt thể hiện ở sự giảmkhối lượng cơ thể thấp nhất là khi bị stress, có sức sinh sản tốt, sức kháng bệnhcao, sống lâu và tỷ lệ chết thấp

Johanson (1972) cho biết sức sống thể hiện ở khả năng cơ thể chống lạinhững ảnh hưởng bất lợi của môi trường, cũng như ảnh hưởng khác của dịch

Trang 25

bệnh, sức sống được xác định bởi tính di truyền (dẫn theo Ngô Gián Luyện,1994) Sự giảm sức sống ở giai đoạn hậu phôi có thể tác động của các gen mấtnửa gây chết, nhưng chủ yếu là do tác động của môi trường (Brandsch vàBilchel, 1978) Các giống vật nuôi nhiệt đới có khả năng chống bệnh truyềnnhiễm, bệnh ký sinh trùng cao hơn so với các giống vật nuôi có nguồn gốc ônđới (Trần Đình Miên và cs, 1994).

Theo Lemer và Taylor (1943) hệ số di truyền sức sống của gà là 0,13; cònNguyễn Văn Thiện, Trần Đình Miên (1995) lại cho biết hệ số di truyền sứcsống của gà là 0,33

Khi điều kiện sống thay đổi (thức ăn, thời tiết, khí hậu, quy trình chămsóc, nuôi dưỡng…), gà lông màu có khả năng thích nghi tốt hơn với môi trườngsống (Phan Cự Nhân và cs, 1998) Hill và cs (1954) đã tính được hệ số di truyềncủa sức sống là 0,66 Gavora (1990) cho biết hệ số di truyền của sức khángbệnh là 0,25

Theo Trần Long và cs (1996), tỷ lệ nuôi sống của gà Ri giai đoạn gà con(0-6 tuần tuổi) đạt 93,3% Nguyễn Đăng Vang và cs (1999) cho biết tỷ lệ nuôisống gà Ri giai đoạn gà con (0-9 tuần); gà hậu bị (10-18 tuần) và gà sinh sản(19-23 tuần) đạt tương ứng 92,11; 96-97,22 và 97,25%

Nguyễn Thị Khanh và cs (1995) nghiên cứu trên gà Tam Hoàng cho biếtdòng 882 có tỷ lệ nuôi sống đến 6 tuần tuổi đạt 96,15%, 20 tuần tuổi đạt95,55% và dòng Jiangcun các tỷ lệ nuôi sống đến 6 tuần tuổi đạt 96,95%, 7-20tuần tuổi đạt 95,91%

Bùi Quang Tiến và cs (1995) cho biết gà Ross -208 có tỷ lệ nuôi sốngđến 42 ngày tuổi đạt 95%, gà hậu bị và mái đẻ đạt 98,47-98,74% Theo ĐoànXuân Trúc và cs (1996) , tỷ lệ nuôi sống đến 7 tuần tuổi của gà A.A đạt 91% vàAAV35 đạt 93,86%, gà AAV53 đạt 93,42%, gà V1AA đạt 92,07% và gà AV35đạt 93,14%

Trang 26

Trần Long (1994) cho biết sức sống của gà được tính bằng tỷ lệ nuôi sốngsau một thời gian Tính trạng này có hệ số di truyền thấp (h2 là 0,01), nên sứcsống của gà con phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh.

Sức đề kháng ở các loài, giống, dòng, thậm chí các cá thể là khác nhau Theokết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Bình (1998) , Nguyễn Văn Thiện và cs(1995) , Lê Thị Nga và cs (2003) , ở giai đoạn 1-16 tuần tuổi, tỷ lệ nuôi sống của

gà Ri là 96,5%-100%; của gà Ác là 88,28%; của gà Mía là 92,33-93,9%

Con trống có sức đề kháng mạnh hơn con mái do có sự khác nhau củahormone

Trong chăn nuôi, để nâng cao tỷ lệ sống, sức đề kháng giảm tổn thất dobệnh tật gây ra, bên cạnh cần tiến hành các biện pháp phòng bệnh thú ý và chămsóc, nuôi dưỡng thích hợp với từng loại vật nuôi, một số vấn đề hết sức quantrọng là cần phải chọn nuôi giống gia cầm có khả năng thích nghi cao Vấn đềnày chỉ có thể xác định thong qua các thử nghiệm trong thực tiễn

2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

2.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Theo báo cáo của FAO (2009) chăn nuôi gia cầm của thế giới, trong đóchủ yếu là chăn nuôi gà đã phát triển mạnh trong các thập niên gần đây và sảnlượng thịt gia cầm luôn chiếm vị trí thứ hai sau thịt lợn Theo báo cáo của FAO(2012), sản lượng thịt lợn trên toàn thế giới đạt 110,8 triệu tấn, thịt gia cầm đạt104,5 triệu tấn Một điều đáng chú ý không những tại hầu hết các nước châu Á,Trung cận đông mà gần đây tại các nước châu Âu, xu thế chăn nuôi và sử dụngthịt gà lông màu đang có xu hướng tăng lên (FAO, 2011)

Xu thế chung của thế giới trong những năm gần đây là đồng thời với việcnghiên cứu chọn tạo và phát triển các giống gà công nghiệp chuyên thịt có tốc

độ sinh trưởng nhanh (như các giống Cobb, Ross, Lohman, ISA, Avian…) vàchuyên trứng có khả năng sinh sản cao (Hyline, Goldline, Brownick…) là đầu tưnghiên cứu chọn tạo các giống gà lông màu có năng suất, chất lượng cao phù

Trang 27

hợp với nhiều phương thức chăn nuôi, đặc điểm khí hậu của các châu lục và nhucầu của người tiêu dùng Đây cũng là hướng phát triển mang lại hiệu quả kinh tếcao cho người chăn nuôi vì ở các nước Châu Âu giá gà lông màu chăn thảthường cao hơn gà công nghiệp từ 1,5 - 1,7 lần Chính vì vậy mà các hãng giacầm lớn trên thế giới ngoài việc chọn tạo các giống gà công nghiệp cũng đã tậptrung tạo các giống gà lông màu có năng suất chất lượng cao (như Sasso, Avian,Kabir, Lohnman )

Hãng Sasso của Pháp nổi tiếng với thương hiệu gà “Label Rouge”, đã tạo

ra hệ thống cung cấp con giống với 4 dòng mái và 20 dòng trống bố mẹ Mụctiêu của hãng là tạo ra con thương phẩm thịt có năng suất lúc xuất bán là 2,2 kgtrong thời gian nuôi khác nhau như các dòng trống T kết hợp với dòng máiSA51 cho con lai có thời gian nuôi thịt là 81 ngày, các dòng trống X kết hợp vớidòng mái SA51 hoặc SA31 cho con lai có thời gian nuôi khoảng 56 ngày và cácdòng trống C kết hợp với dòng mái SA31 cho con lai có thời gian nuôi khoảng

40 ngày Từ mục tiêu này hãng đã cung cấp cho thị trường các sản phẩm congiống bố mẹ và thương phẩm thịt đa dạng và có khả năng phù hợp với nhiềuphương thức và điều kiện chăn nuôi khác nhau (Trang Sasso- Homepage, 2017)

Công ty Kabir chicks Ltd(2017) của Israel cũng là một hãng chuyên cungcấp các giống gà lông màu trên thế giới Cũng giống như hãng Sasso, hãngKabir cũng cung cấp ra thị trường gà bố mẹ và thương phẩm, còn gà dòng thuần

và ông bà được nuôi tại các cơ sở chăn nuôi của hãng Hãng đã tạo được giống

gà lông màu thích nghi tốt trong điều kiện khí hậu khô nóng và cho năng suấtcao với 31 dòng gà chuyên dụng thịt lông trắng và lông màu, trong đó có 13dòng rất nổi tiếng như K400, K400N, K666, K666N, K36, K14, K25, K123,K156, K368… gà bố mẹ có năng suất trứng đạt 188 quả/mái/70 tuần tuổi, gà thịtthương phẩm nuôi 63 ngày tuổi đạt 2,64 kg với mức tiêu tốn thức ăn 2,28 kg/kgtăng trọng Hiện tại, hãng đang cung cấp ra thị trường với 5 dòng trống và 2dòng mái gà bố mẹ Từ các dòng này đã tạo ra được các gà thương phẩm có khảnăng phù hợp với nhiều phương thức nuôi và điều kiện khí hậu khác nhau

Trang 28

Công ty Hy-line International (2017) của Mỹ chuyên cung cấp các sảnphẩm giống gà hướng trứng Các sản phẩm bán ra thị trường gồm: Hy-line W-

36, Hy-line Brown, Hy-line W-98, Hy-line Silver Brown và Hy-line Gray Năngsuất trứng trung bình đến 74 tuần tuổi của các gà này khoảng 300 - 330 quả/mái

Trung Quốc cũng đã thành công trong việc chọn tạo các giống gà nhưTam Hoàng, Ma Hoàng, Lương Phượng, Phật Hoàn Sơn Các giống gà lông màucủa Trung Quốc có chất lượng thịt thơm ngon, màu lông phù hợp với thị hiếucủa người tiêu dùng, năng suất trứng đạt 150 - 175 quả/mái/năm, nuôi thịt 70ngày tuổi đạt 1,6 - 1,8 kg và đặc biệt là phù hợp với phương thức nuôi chăn thả(Management guide parent stock Chinese Luong Phuong, 2017)

Dominant CZ là một hãng chuyên nghiên cứu về các dòng gà đẻ trứng củaCộng hòa Czech, với hơn 20 năm triển khai chương trình nghiên cứu giống gàchuyên trứng Dominant CZ hiện tại hãng cung cấp ra thị trường khoảng 14giống gà chuyên trứng khác nhau và đã có các đại lý ủy quyền tại hơn 35 quốcgia trên toàn thế giới Các giống gà chủ yếu của hãng Dominant chủ yếu đượcchọn lọc từ nguồn nguyên liệu gà White Leghorn để tạo ra các dòng gà có vỏtrứng màu trắng và Rhode Island Red để tạo ra các dòng gà có vỏ trứng màunâu Năng suất trứng đến 78 tuần tuổi đối với các dòng gà có vỏ trứng màu trắng

là 270 quả/mái và các dòng gà có vỏ trứng màu nâu là 300 quả/mái Các dòng gàcủa Dominant đều chú trọng hướng tới nhiều phương thức nuôi khác nhau, đặcbiệt là hướng tới điều kiện chăn nuôi ở khu vực nông thôn (Theo công tyDominant CZ- Selected for Flexibility and Robustness, 2017)

Hãng Hubbard ISA của Cộng hòa Pháp chuyên cung cấp các dòng gà thịtcao sản Ngoài các dòng gà có màu lông trắng (bao gồm các dòng thuộc nhómClassic, Flex, Yield và Male) có tốc độ sinh trưởng nhanh, hiện tại hãng cũng đangcung cấp một số dòng gà lông màu có tốc độ sinh trưởng chậm hơn Các dòngthuộc nhóm gà lông màu của hãng Hubbard ISA gồm JA 57 và P6N thuộc cácdòng tăng trưởng chậm, con lai nuôi thịt 81 ngày đạt 2.050 - 2.300 g; JA 57,

Trang 29

Redbro M và Redbro thuộc các dòng có tốc độ sinh trưởng khác biệt, con lai nuôithịt 48 - 56 ngày có khối lượng 1.560 - 2.300 gam.( Hubbard-Homepage, 2017).

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Trong những năm qua, chăn nuôi gia cầm Việt Nam đã đạt được nhiềuthành tựu to lớn, có được những kết quả đó là nhờ việc ứng dụng các tiến bộ kỹthuật về di truyền giống, dinh dưỡng, công nghệ sinh học, các thành tựu về cơgiới hóa, điện khí hóa trong chăn nuôi gia cầm Hiện nay công tác giống củanước ta đang đi theo 3 hướng chính đó là:

- Hướng thứ nhất là chọn lọc nhân thuần và nâng cao năngs suất của các giống gà nội

Bùi Đức Lũng và cs (2001), cho biết gà Ri sau khi được chọn lọc qua 3thế hệ có khối lượng cơ thể lúc 01 ngày tuổi 29,5 -29,8 gam đến 20 tuần tuổikhối lượng gà mái 1.214 – 1.251 gam và gà trống 1.700- 1.743 gam; năng suấttrứng đến 68 tuần tuổi 122-124 quả/mái và khối lượng trứng lúc 38 tuần tuổi41,2-42,3g; tỷ lệ long đỏ so với khối lượng trứng 34,63-35,33%

Nguyễn Huy Đạt và cs (2005) nghiên cứu trên đàn gà Ri vàng rơm qua 3thế hệ chọn lọc đã xác định được khối lượng cơ thể lúc 01 ngày tuổi là 29,0-29,5gam; lúc 19 tuần tuổi gà trống là 1.735-1.747 gam, gà mái là 1.241-1.256 gam;năng suất trứng đến 68 tuần tuổi của đàn gà thế hệ thứ III là 128,01 quả/mái vớikhối lượng trứng ở 38 tuần tuổi là 43.26-43.50 gam

- Hướng đi thứ hai là từ các nguồn nguyên liệu nhập nội chọn lọc tạo ra các dòng gà mới có năng suất đạt từ 90 - 95% so với nguyên gốc, giảm được chi phí do nhập con giống từ nước ngoài

Đoàn Xuân Trúc và cs (2004) đã nghiên cứu chọn tạo 4 dòng TĐ1, TĐ2,TĐ3 và TĐ4 từ gà Sasso tại Trung tâm Nghiên cứu gia cầm và Xí nghiệp gàgiống thịt dòng thuần Tam Đảo và 4 dòng HB1, HB2, HB3 và HB4 từ gà ISAColor tại Xí nghiệp gà giống Hòa Bình Năng suất trứng đến 60 tuần tuổi của cácdòng gà TĐ tương ứng là 117,0 (đạt 97,5% so với mục tiêu), 123,2 (đạt 93,6% so

Trang 30

với mục tiêu), 129,6 và 150,1 quả/mái (đạt 100,5 so với mục tiêu) Gà bố mẹTĐ34 đến 64 tuần tuổi có năng suất trứng đạt 172,52 quả/mái với mức tiêu tốnthức ăn cho 10 quả trứng là 2,98 kg Gà thương phẩm TĐ1234 nuôi thịt đến 70ngày tuổi đạt khối lượng cơ thể trung bình cả mái và trống là 2.415,4 g (nuôinhốt) và 2.291,4 g (nuôi bán chăn thả) với mức tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăngkhối lượng tương ứng là 2,88 và 2,97 kg Tỷ lệ thịt xẻ đạt 78,0% đối với cả 2phương thức nuôi Các dòng gà HB gồm 4 dòng có màu lông ổn định Năng suấttrứng đến 64 tuần tuổi của 4 dòng HB1, HB2, HB3 và HB4 tương ứng là 87,8,100,8, 141,0 và 155,8 quả/mái với mức tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng tươngứng là 5,96, 5,08, 2,68 và 3,28 kg; so với đàn ông bà nhập từ Pháp năm 2002 thìHB2 và HB4 có năng suất trứng đạt 91,8 - 95,2% Gà bố mẹ HB34 có năng suấttrứng đến 64 tuần tuổi 169,3 - 177,6 quả/mái với mức tiêu tốn thức ăn cho 10 quảtrứng là 2,21 - 2,33 kg Gà thương phẩm HB1234 nuôi thịt đến 9 tuần tuổi khốilượng cơ thể trung bình cả trống và mái đạt 2.122,2 g với mức tiêu tốn thức ăncho 1 kg tăng khối lượng là 2,32 kg và tỷ lệ thân thịt đạt 75,7 - 76,1%.

Đoàn Xuân Trúc và cs (2006) đã tiến hành chọn tạo 2 dòng gà K1 và K2

từ nguồn nguyên liệu gà Kabir dòng A (K43) với B (K400) và C (K27) với D(K2700) Qua 5 thế hệ chọn lọc đã ổn định được đặc điểm ngoại hình của cả 2dòng gà K1 với màu lông đỏ có ánh vàng và K2 có màu lông trắng tuyền Năngsuất trứng bình quân đến 70 tuần tuổi đạt 175 quả/mái đầu kỳ và 192,5 quả/máibình quân Gà K12 nuôi sinh sản có màu lông vàng rơm, năng suất trứng đến 70tuần tuổi đạt 197,3 quả/mái bình quân Gà K12 thương phẩm thịt đến 9 tuần tuổiđạt 2,3 kg với tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng 1,85 - 1,9 kg

- Hướng thứ ba là từ nguồn nguyên liệu gà gà nội và nhập nội chọn lọc, lai tạo để tạo các nhóm giống hoặc dòng gà mới có năng suất cao hơn gà nội và phù hợp với nhiều phương thức nuôi và điều kiện khí hậu khác nhau của nước ta

Nguyễn Huy Đạt và cs (2004) đã nghiên cứu chọn tạo ra dòng gà Ri cảitiến có năng suất chất lượng cao phục vụ cho chăn nuôi trong nông hộ sử dụng

Trang 31

nguồn nguyên liệu gà Ri, Lương Phượng và Kabir Kết quả đã chọn tạo được 2dòng gà Ri cải tiến R1 và R2 có màu lông cánh gián và vàng nhạt được ngườitiêu dùng ưa chuộng Năng suất trứng đến 68 tuần tuổi đạt 167 - 170 đối vớidòng R1 và 156 - 159 đối với dòng R2 với mức tiêu tốn thức ăn cho 10 quảtrứng tương ứng là 3,08 và 3,46 kg, đồng thời đã cải thiện được tỷ lệ ấp bóng sovới gà Ri khoảng 19% Nuôi thịt đến 84 ngày tuổi khối lượng cơ thể của gà Ricải tiến đạt 1,65 - 1,80 kg với mức tiêu tốn thức ăn trung bình cho 1 kg tăng khốilượng 2,70 - 2,81 kg

Phùng Đức Tiến và cs (2010) đã chọn tạo 4 dòng gà thịt bao gồm 3 dòngmái (TP1, TP2 và TP3) và một dòng trống TP4 từ nguồn nguyên liệu gà Sasso(dòng X44 và SA31L), LV 2 và LV3 Kết quả qua 4 thế hệ đã chọn lọc ổn địnhđược đặc điểm ngoại hình của cả 4 dòng gà Chọn lọc khối lượng cơ thể 8 tuầntuổi của dòng TP4 tăng 113,18 g đối với gà mái và 95,38 g đối với gà trống sovới thế hệ xuất phát, đồng thời xác định được hệ số di truyền (h2) khối lượng cơthể 8 tuần tuổi là 0,30 - 0,37 Ba dòng TP1, TP2 và TP3 được chọn lọc theo địnhhướng năng suất trứng 3 tháng đẻ đầu; ở thế hệ 2 có năng suất trứng đến 68 tuầntuổi dòng TP3 đạt 98,69 % so với gà Sasso SA31L và TP1, TP2 cao hơn gà LV

8 - 10 quả/mái Bên cạnh đó cũng đã xác định được hệ số di truyền về năng suấttrứng 3 tháng đẻ đầu của 3 dòng gà này là 0,13 - 0,18 Gà lai TP12 và TP21 nuôisinh sản đến 68 tuần tuổi có năng suất trứng tương ứng là 182,1 và 178,6quả/mái cao hơn so với LV3 11 - 14 quả và tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng là2,53 - 2,55 kg (Phùng Đức Tiến và cs, 2010b) Gà thịt TP412 và TP421 nuôi đến

9 tuần tuổi đạt 2,4 kg và tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng là 2,4 kg(Phùng Đức Tiến và cs, 2010)

Hiện nay, ở nước ta cũng đang từng bước xây dựng hệ thống sản xuấtgiống gia cầm theo hình tháp với các bộ giống có 2, 3, 4 dòng tham gia vào sơ đồlai tạo con thương phẩm Tuy nhiên, hệ thống này mới chỉ áp dụng được đối vớicác gống mới được chọn tạo ra (theo hướng 2 và 3) còn đối với các giống gà nội

Trang 32

chỉ có duy nhất một dòng do đó không thể áp dụng được Bên cạnh đó, các giốngđược chọn lọc và chọn tạo ở nước ta chủ yếu là sản phẩm của các đề tài nghiêncứu khoa học sử dụng nguồn ngân sách nhà nước, sau khi đề tài kết thúc đối vớicác giống hoặc dòng gà được công nhận là giống gốc sẽ tiếp tục được nhà nước

hỗ trợ kinh phí nuôi giữ còn lại chủ yếu các đơn vị nghiên cứu tạo ra giống phải

tự túc nguồn kinh phí nếu muốn nuôi giữ hoặc tiếp tục nghiên cứu Chính vì vậymột số giống gà sau khi được chọn tạo ra sau một thời gian không còn khả năngcạnh tranh trên thị trường chấp đã dần bị thu hẹp lại hoặc bị loại thải

Trước nhu cầu ngày càng lớn về con giống, nhất là các giống gà lôngmàu, việc chọn tạo các giống mới có năng suất và chất lượng cao, phù hợp vớicác phương thức chăn nuôi ở các vùng miền khác nhau là hết sức cần thiết

Ngày đăng: 24/07/2018, 14:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
46. Dominant CZ. http://www.dominant-cz.cz/?lang=en&q=uvod ngày truy cập (25/01/2017) Link
52. Hubbard ISA. http://www.hubbardbreeders.com/products.php?id=5 ngày truy cập (25/01/2017) Link
1. Cục Chăn nuôi (2013). Báo cáo sản xuất chăn nuôi giai đoạn 2010 - 2012 và định hướng 2013 - 2015. Hà Nội 5/2013 Khác
2. Cục Chăn nuôi (2017). Báo cáo sản xuất chăn nuôi giai đoạn 2014 - 2016 và định hướng 2015 - 2017. Hà Nội 5/2017 Khác
4. Báo cáo khoa học năm 2015-2017. Phần di truyền giống, kinh tế, hệ thống, môi trường và kỹ thuật khác Khác
5. Nguyễn Chí Bảo dịch (1978). Cơ sở sinh học của nhân giống và nuôi dưỡng gia cầm, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Khác
6. Nguyễn Thị Thanh Bình (1998). Nghiên cứu khả năng sinh sản và sản xuất của gà Ri, Luận án Thạc sĩ khoa học Nông Nghiệp, Viện khoa học kỹ thuật Nông nghệp Việt Nam Khác
7. Brandesh, Bilchel (1978). Cơ sở sinh học của nhân giống và nuôi dưỡng gia cầm, (Nguyễn Chí Bảo dịch), NXB Khoa học và kỹ thuật Nông nghiệp Khác
9. Nguyễn Huy Đạt, Hồ Xuân Tùng (2005). Nghiên cứu chọ tạo hai dòng gà Ri cải tiến có năng suất chất lượng cao phục vụ chăn nuôi trong nông hộ, Báo cáo khoa học, Viện Chăn nuôi, tr. 77-80 Khác
10.Nguyễn Huy Đạt, Vũ Thị Hưng, Hồ Xuân Tùng( 2005). Nghiên cứu chọn lọc nâng cao năng suất gà Ri vàng rơm, Báo cáo khoa học năm 2005 - Phần nghiên cứu giống vật nuôi, Viện Chăn nuôi, 2006. tr. 203-213 Khác
11. Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Bùi Hữu Đoàn, Nguyễn Thị Mai (1994). Chăn nuôi gia cầm, NXB Nông Nghiệp Khác
12.Hutt.F.B (1978). Di truyền học động vật, Phan Cự Nhận dịch, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, trang 384 -350 Khác
13.Johansson (1972). Cơ sở di truyền của năng suất và chọn giống động vật (Phan Cự Nhận, Trần Đình Miên, Tạ Toàn, Trần Đình Trọng dịch), NXB Khoa học, tr 254-274 Khác
14.Nguyễn Thị Khanh (1995). Một số đặc điểm về khả năng sinh trưởng, cho thịt và sinh sản của Tam Hoàng nuôi tại Hà Nội. Luận án Thạc sĩ Khoa học Nông nghiệp Khác
15.Khavecman (1972). Sự di truyền năng suất ở gia cầm, Cơ sở di truyền của năng suất và chọn giống động vật - tập 2, Johansson chủ biên, Phan Cự Nhân, Trần Đình Miên, Trần Đình Trọng dịch, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Khác
16.Đặng Hữu Lanh, Trần Đình Miên, Trần Bình Trọng (1999). Cơ sở di truyền chọn giống động vật, Nxb giáo dục, Hà Nội Khác
17.Lê Huy Liễu, Lê Hồng Mận, Nguyễn Duy Hoan (2003). Năng suất thịt của con lai F1 giữa gà Ri với một số giống gà lông màu thả vườn tại Thái Nguyên, tạp chí Chăn nuôi số 8, tr 10-12 Khác
18.Trần Long (1994). Xác định một số đặc điểm di truyền một số tính trạng sản xuất và lựa chọn phương pháp chọn giống thích hợp đối với các dòng gà thịt Hybro HV85, Luận án PTS Khoa học Nông nghiệp, Viện KHKT Nông nghiệp Việt Nam, Tr 90-114 Khác
19.Trần Long, Nguyễn Thị Thu, Bùi Đức Lũng (1996). Bước đầu nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của gà Ri, Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật gia cầm, Liên hiệp xí nghiệp gia cầm Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Tr 77-82 Khác
21. Ngô Gián Luyện (1994). Nghiên cứu một số tính trạng, năng suất của các dòng thuần chủng V1, V3, V5 giống gà thịt cao sản Hybro trong điều kiện Việt Nam. Luận án PTS Khoa học Nông nghiệp, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w