“Ảnh hưởng của thức ăn (nhện gié Wang (Acarina Blattisociidae) và 2 loài nhện kho (Tyrophagous putrescentiae, Carpoglyphus lactis ) đến sự gia tăng quần thể nhện bắt mồi Lasioseius chauhdriii Wu and Wang (Acarina Blattisociidae)”
Trang 1TRƯỜNG HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA NÔNG HỌC
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Tên đề tài: “Ảnh hưởng của thức ăn (nhện gié Steneotarsonemus spinki
và 2 loài nhện kho (Tyrophagous putrescentiae, Carpoglyphus lactis ) đến sự gia tăng quần thể nhện bắt mồi Lasioseius chauhdriii Wu and Wang
(Acarina: Blattisociidae)”
Người hướng dẫn : GS.TS NGUYỄN VĂN ĐĨNH
Bộ môn : Côn trùng Người thực hiện : Trịnh Thị Yến Lớp : BVTVCK56
Hà Nội, 2014
Trang 2MỤC LỤC MỤC LỤC i ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU iii DANH MỤC BIỂU ĐỒ iv PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
Ở Việt Nam, Các kết quả nghiên cứu cho thấy sự gây hại của nhện gié ngày càng gia tăng, điều này đặt ra những yêu cầu đó là cần phải có những nghiên cứu chuyên sâu để tìm ra các phương pháp khống chế được chúng trên đồng ruộng một cách hiệu quả, đặc biệt là đi theo hướng nhân nuôi các loài thiên địch như là nhân nuôi các loài nhện bắt mồi 1 Thức ăn ưa thích của Carpoglyphus lactis là các loại trái cây khô, ngũ cốc, hạt có dầu, thực phẩm dự trữ… (Institut für Schädlingskunde) 14 Nhiệt độ khoảng từ 25 - 30ᵒC, trong điều kiện thuận lợi con cái có thể đẻ
270 trứng, trong nấm men bánh mì chu kỳ phát triển hoàn chỉnh ở 25ᵒC chỉ khoảng 11 ngày Còn ở điều kiện nhiệt độ 150C thì chu kỳ phát triển
có thể lên tới vài tuần (Institut für Schädlingskunde) 15 PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32 Bảng 4.1 Thời gian phát dục (ngày) của nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii khi nuôi trên các loại thức ăn là nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley, Tyrophagous putrescentiae và Carpoglyphus lactis 33 Bảng 4.2 Nhịp điệu đẻ trứng của nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii khi nuôi trên các loại thức ăn là nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley, Tyrophagous putrescentiae và Carpoglyphus lactis 35 Hình 4.1 Nhịp điệu đẻ trứng của nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii khi nuôi trên các loại thức ăn là nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley, Tyrophagous putrescentiae và Carpoglyphus lactis 36 Bảng 4.3 Tỷ lệ trứng nở của nhện nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii khi nuôi trên các loại thức ăn là nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley, TyroMphagous putrescentiae và Carpoglyphus lactis ở 27,5 ± 2 0C, độ ẩm 70-80% 38
Trang 3Bảng 4.4 Tỷ lệ đực/cái của nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii khi nuôi trên các loại thức ăn: nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley, Tyrophagous putrescentiae và Carpoglyphus lactis Điều kiện 27,5± 20C, độ ẩm 70-80% 40
Bảng 4.5 Bảng sống (life – table) của nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii khi nuôi trên thức ăn là nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley ở 27,5 ± 20C,
độ ẩm 70-80% 42 Hình 4.2 Tỉ lệ sống sót (lx) và sức sinh sản (mx) của nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii khi nuôi trên thức ăn là nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley 43 Bảng 4.6 Bảng sống (life – table) của nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii khi nuôi trên thức ăn là nhện Tyrophagous putrescentiae ở 27,5 ± 20C, độ ẩm 70-80% 44 Hình 4.3 Tỉ lệ sống sót (lx) và sức sinh sản (mx) của nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii khi nuôi trên thức ăn là Tyrophagous putrescentiae 45 Bảng 4.7 Bảng sống (life – table) của nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii khi nuôi trên thức ăn là Carpoglyphus lactis ở 27,5 ± 20C, độ ẩm 70-80% 46 Hình 4.4 Tỉ lệ sống sót (lx) và sức sinh sản (mx) của nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii khi nuôi trên thức ăn là Carpoglyphus lactic 47 Bảng 4.8 Các chỉ tiêu sinh học cơ bản của của nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii khi nuôi trên các loại thức ăn là nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley, Tyrophagous putrescentiae và Carpoglyphus lactis ở 27,5 ± 20C, độ ẩm 70-80% 48
Trang 4putrescentiae và Carpoglyphus lactis Điều kiện 27,5± 20C, độ ẩm 70-80% 40 Bảng 4.5 Bảng sống (life – table) của nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii khi nuôi trên thức ăn là nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley ở 27,5 ± 20C, độ ẩm 70- 80% 42 Bảng 4.6 Bảng sống (life – table) của nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii khi nuôi trên thức ăn là nhện Tyrophagous putrescentiae ở 27,5 ± 20C, độ ẩm 70-80% 44 Bảng 4.7 Bảng sống (life – table) của nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii khi nuôi trên thức ăn là Carpoglyphus lactis ở 27,5 ± 20C, độ ẩm 70-80% 46 Bảng 4.8 Các chỉ tiêu sinh học cơ bản của của nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii khi nuôi trên các loại thức ăn là nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley, Tyrophagous putrescentiae và Carpoglyphus lactis ở 27,5 ± 20C, độ ẩm 70-80% .48
Trang 5DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Hình 4.1 Nhịp điệu đẻ trứng của nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii khi nuôi trên các loại thức ăn là nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley, Tyrophagous putrescentiae và Carpoglyphus lactis 36 Hình 4.2 Tỉ lệ sống sót (lx) và sức sinh sản (mx) của nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii khi nuôi trên thức ăn là nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley 43 Hình 4.3 Tỉ lệ sống sót (lx) và sức sinh sản (mx) của nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii khi nuôi trên thức ăn là Tyrophagous putrescentiae 45 Hình 4.4 Tỉ lệ sống sót (lx) và sức sinh sản (mx) của nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii khi nuôi trên thức ăn là Carpoglyphus lactic 47
Trang 6PHẦN I: MỞ ĐẦU
I Đặt vấn đề
Như chúng ta đã biết Lasioseius là chi bao gồm các loài nhện bắt mồi.
Thức ăn của chúng khá đa dạng tùy thuộc vào từng loài khác nhau,có thể lànấm, tuyến trùng, côn trùng, nhện nhỏ khác ( Enkegaard and Brodsgaard 2000)
hay phấn hoa của loài Typha sp (các loài thuộc chi Hương Bồ); trong số đó có
loài nhện hại quan trọng trên lúa: nhện gié Steneotarsoneus spinki Smiley, loài nhện này được mô tả là con mồi của một số nhện bắt mồi thuộc chi Lasioseius trong các tài liệu như: Lasioseius youcefi (Lo&Ho .1984), Lasioseius sp.
(Rodríguez và cs 2013; Dương Tiến Viện 2012)
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về loài nhện gié Steneotarsonemus
spinki Smiley bởi loài nhện này gây hại nguy hiểm đối với lúa ở nhiều nước.
Ở Việt Nam, Các kết quả nghiên cứu cho thấy sự gây hại của nhện gié ngày cànggia tăng, điều này đặt ra những yêu cầu đó là cần phải có những nghiên cứuchuyên sâu để tìm ra các phương pháp khống chế được chúng trên đồng ruộngmột cách hiệu quả, đặc biệt là đi theo hướng nhân nuôi các loài thiên địch như lànhân nuôi các loài nhện bắt mồi
Nhện gié là con mồi chính của nhện bắt mồi Lasioseius Tuy nhiên việc
nhân nuôi nhện gié làm thức ăn cho nhện bắt mồi từ giai đoạn lấy thân lúa, làmsạch thân cho tới khi kết thúc cần phải trải qua nhiều bước thủ công Ngoài ranguồn thân lúa để nhân nhện phụ thuộc nhiều vào thời vụ và điều kiện thời tiết,hoặc nếu thân lúa dùng cho việc nhân nhện là tự trồng không theo mùa vụ thì rấttốn công sức, thời gian và tiền bạc Điều này không phù hợp đối với việc nhânnuôi công nghiệp hàng loạt nhện bắt mồi phục vụ cho đấu tranh sinh học Đó lànguyên nhân cần tìm ra nguồn thức ăn thay thế vừa dễ nhân nuôi, dễ tìm kiếm,
số lượng nhiều, đồng thời đảm bảo được sự phát triển và gia tăng quần thể nhệnbắt mồi một cách nhanh chóng
Trang 7Xuất phát từ vấn đề nêu trên, được sự hướng dẫn của GS.TS Nguyễn VănĐĩnh tôi thực hiện nghiên cứu đề tài:
“Ảnh hưởng của thức ăn (nhện gié Steneotarsonemus spinki và 2 loài nhện kho (Tyrophagous putrescentiae và Carpoglyphus lactis))đến sự gia tăng quần thể nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii Wu and Wang (Acarina:
Blattisociidae)”
II Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
1 Ý nghĩa khoa học.
Từ kết quả nghiên cứu khoa học về khả năng tăng tự nhiên của nhện bắt
mồi L chauhdrii làm cơ sở cho việc xác đinh chu kì sinh sản và vòng đời cũng
như sức ăn và khả năng nhân nuôi nhện bắt mồi để phòng trừ nhện gié trong tựnhiên
2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
Sử dụng nhện bắt mồi L chauhdrii trong biện pháp IPM phòng trừ nhện gié
trên các loại cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng Đây là 1 trong những biệnpháp sinh học hữu ích và có ý nghĩa to lớn cho môi trường, hiệu quả kinh tếcũng như sức khỏe con người
III Mục đích và yêu cầu
1 Mục đích.
Xác định ảnh hưởng của thức ăn nhện gié Steneotarsonemus spinki và 2 loài nhện kho (Tyrophagous putrescentiae và Carpoglyphus lactis) đến sự gia tăng quần thể nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii Wu and Wang để làm cơ sở nuôi nhân công
nghiệp chúng trong tương lai phục vụ phòng chống sinh học nhện gié
Steneotarsonemus spinki Smiley tại các vùng trọng điểm lúa ở Việt Nam
2 Yêu cầu.
1.Nhân nuôi nguồn thức ăn của nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii Wu and Wang bao gồm nhện gié Steneotarsonemus spinki và 2 loài nhện kho (Tyrophagous putrescentiae, Carpoglyphus lactis)
Trang 82.Nuôi sinh học cá thể nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii Wu and Wang từ
trứng cho đến khi trưởng thành chết sinh lý trong điều kiện môi trường ổn định,thức ăn dư thừa, không gian không giới hạn từ đó:
- Xác định tỷ lệ nở của trứng khi phát triển trên các loại thức ăn
- Xác định tỷ lệ sống sót đến trưởng thành khi phát triển trên các loạithức ăn
- Xác định tỷ lệ cái trưởng thành khi phát triển trên các loại thức ăn
- Xác định tỷ lệ tăng tự nhiên (r) cao nhất khi phát triển trên các loại thứcăn
- Xác định thời gian nhân đôi quần thể (DT) ngắn nhất khi phát triển trêncác loại thức ăn
3 Kết luận loại thức ăn mà nhện bắt mồi (NBM) có sức tăng quần thể cao nhất
Trang 9PHẦN II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
I Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Phân loại Lasioseius chaudhrii Wu and Wang.
•Loài (Lasioseius chaudhrii Wu and Wang)
1 Những nghiên cứu về nhện bắt mồi thuộc chi Lasioseius
Nhện nhỏ thuộc họ Ascidae (Acari: Mesostigmata) phân bố rộng khắp thếgiới Chúng tạo thành một phần quan trọng của hệ động vật ở trong đất, trên rau
và trong sự kết hợp với các loài động vật khác Phần lớn những loài nhện này làđộng vật ăn thịt nhưng cũng được tìm thấy chúng ăn nấm, sợi nấm trong khi một
số loài là ký sinh trùng Lasioseius đại diện cho một trong số chi có sự đa dạng
về hình thái học trong họ này với khoảng 100 loài (Walter and Lindquist.1997),
và môi trường sống của chúng là các chất hữu cơ thối rữa, chất mục nát trongrừng, rêu, đất, đất trồng cỏ cũ, tổ động vật có vú nhỏ, chim, tổ ong, gỗ mục, trêncánh đồng và các loại cây thân thảo Đây là nhện bắt mồi sống trong đất là chính,nhưng vẫn có thể tìm thấy trong tổ chim và động vật gặm nhấm (Abou-Awad BA
et al, 2001) Một số loài Lasioseius bám trên chim ruồi thụ phấn hoa, nơi mà
chúng ăn loài nhện khác, mật hoa và phấn hoa (Ohmer et al., 1991)
Loài như L.bispinosus cùng với nhiều loại nhện bắt mồi khác đã được ghi nhận là một loài thiên địch hiệu quả của nhện hành tỏi Rhizoglyphus robini (Lesna et al., 1995) Trong các nghiên cứu hiện nay đang đi theo hướng đánh giá khả năng bắt mồi của loài Lasioseius mới đối với một trong số dịch nhện nhỏ phá hoại nghiêm trọng nhất, có thể kể đến là nhện nhỏ Raoiella indica
Trang 10Đã có nhiều tài liệu đề cập tới các loài nhện thuộc chi Lasioseius với thế
mạnh nổi bật là khả năng khống chế các loài nhện nhỏ gây hại khác
Noeli Juarez Ferla 2013 đã điều tra xác định các loài nhện nhỏ và sự tươngtác sinh thái giữa chúng trong trồng cấy lúa gạo Quần thể nhện nhỏ được đánhgiá hai lần 1 tuần trên 2 giống lúa IRGA 424 và INTA PUITÁ CL Tổng cộng có1.626 cá thể nhện nhỏ thuộc 14 loài từ 12 họ được thu thập Họ Ascidae đã cho
thấy sự phong phú, với bốn loài: Lasioseius sp., Lasioseius sp., Proctolaelaps sp.
và Cheiroseius sp Chúng là nhện bắt mồi của một số loài nhện nhỏ khác trên lúa, đặc biệt là những loài thuộc họ nhện trắng Tarsonemidae như: Tarsonemus
bilobatus, Steneotarsonemus spinki Smiley
Lo&Ho.1984 nghiên cứu về Lasioseius youcefi (Ascidae), một kẻ thù tựnhiên của Steneotarsonemus spinki, được nuôi tại 20, 25, 30 và 35 ℃ bằngtrứng của S spinki và Tarsonemas sp L youcefi không thể tồn tại ở 35 ℃ Cácgiai đoạn phát triển là ngắn nhất và lượng thức ăn cao nhất ở 30 ℃ Giai đoạnphát triển ngắn hơn, lượng thức ăn cao hơn và phát triển tốt hơn đã được quansát thấy khi L youcefi ăn trứng của Tarsonemus sp so với trứng của S spinki
Nhiều loài Lasioseius đã được nghiên cứu, làm rõ vòng đời, đời, sức sinh
sản hay khả năng bắt mồi từ đó chứng minh được vai trò quan trọng trong đấutranh sinh học của chúng
Karnataka 2009 thí nghiệm với Lasioseius sp nuôi trên tất cả các pha phát dục của nhện nhỏ Rraoiella indica Hirst với điều kiện 30±20C, độ ẩm 70±2% :
các kết quả cho thấy khả năng săn mồi của Lasioseius sp tăng theo thứ tự của
nhện non tuổi 1> nhện non tuổi 2 > nhện trưởng thành đực > nhện non tuổi 3 >nhện trưởng thành cái Trong những giai đoạn sống khác nhau của con mồiđược cung cấp, trứng là chế độ ăn ưa thích nhất của nhện bắt mồi trong khi giaiđoạn trưởng thành của con mồi được ưu tiên tiêu thụ thấp nhất Các mức độ ưutiên giảm trong chuỗi: trứng <ấu trùng <nhện non tuổi 1 < nhện non tuổi 2
<trưởng thành Lasioseius sp trưởng thành cái có sức tiêu thụ lớn nhất đối với
Trang 11tất cả các pha phát dục của R.indica, trong đó sức ăn mồi giai đoạn trứng là
25.15±1.8 trứng/con/24h
Một thí nghiệm khác với Lasioseius floridensis được nuôi bằng tất cả các pha phát dục của nhện cám Tyrophagus putrescentiae đã được tiến hành bởi Britto, Gago
và Moraes với điều kiện 25 ± 0,50C, 93 ± 1% và 12: 12 giờ sáng:tối Kết quả là mỗi
nhện cái trung bình đẻ được 1,6 ± 0,5 trứng/ngày Bên cạnh đó, nếu L Floridensis được nuôi bằng Polytarsonemus latus thì trung bình số trứng đẻ mỗi ngày của 1
nhện cái là 1,1 trứng/ngày với tỉ lệ giới tính thế hệ con là nhện cái chiếm 0,73% Tỉ
lệ sinh sản của L.floridensis nuôi trên T.putrescentiae tương đối cao, điều này không
đáng ngạc nhiên, những loài nhện thuộc bộ này (Astigmata) thường xuyên được tìm
thấy ở môi trường có mặt Lasioseius Astigmatid được sử dụng như con mồi trong
sản xuất thương mại các loài Mesostigmatid khác nhau (Albuquerque and Moraes
2008) Lasioseius fimetorum cũng đã được đề cập bởi Enkegaard and Brodsgaard (2000) phát triển và sinh sản khi nuôi trên con mồi là T.putrescentiae, mặc dù tỉ lệ đẻ
trứng tương đối thấp Sự nhân nuôi nhện bắt mồi được sử dụng trong các nghiên
cứu hiện nay được duy trì trên T.putrescentiae đã mang lại hiệu quả tốt Việc nuôi một số loài Lasioseius trên nhiều loài thuộc các họ nhện nhỏ khác cũng được báo cáo trong các tài liệu, cụ thể là L.atiasae nuôi trên eriophyid như Aceria dioscoridis (Soliman & Abou-Awad) (Abou-Awad et al.2001), Lasioseius sp trên Eriophyid như Aceria ailanthae Mohanasundaran và Tenuipalpid như Raoiella indica Hirst (Sheeja and Ramani 2009), Lasioseius bispinosus Evans trên acarid như
Rhizoglyphus robini Claparede (Lesna et al 1995).
Tuổi thọ và sinh sản của con cái, số lượng ấu trùng được sinh ra của loài
nhện bắt mồi Lasioseius fimetorum Karg (Acari:Podocinidae) khi nuôi trên nhện nấm mốc (Tyrophagus putrescentiae [Schrank] [Acarina: Acaridae]) đã
được nghiên cứu bằng thực nghiệm trong phòng thí nghiệm ở 200C, cùng vớimức tiêu thụ các con mồi khác Theo đó thời gian trước đẻ trứng là 10,7 ngày,thời gian đẻ trứng kéo dài 23,6 ngày và tổng cộng 19,4 thế hệ con cháu đã được
Trang 12sinh ra từ mỗi con cái Nhện bắt mồi cái trung bình tồn tại được 38,6 ngày, khá
gần với tuổi thọ của nhện bắt mồi Amblyseius swirskii nuôi trên C.lactis ở 230C
là 35,9 ± 2,05ngày (Nguyễn Đức Tùng 2012) Trứng của Collembola
Isotomurus spp (Collembola: Isotomidae) được L fimetorum tiêu thụ với số
lượng lớn nhất, tiếp sau đó là giai đoạn nymphs (nhện non không di động) của
nhện nấm mốc Tyrophagus putrescentiae, ấu trùng và nhộng của bọ trĩ (Frankliniella occidentalis [Pergande] [Thysanoptera: Thripidae]), trứng của
Collembola Micrisotoma spp (Collembola: Isotomidae), và nymphs của Isotomurus spp (Enkegaard and Brodsgaard 2000)
2 Steneotarsonemus spinki Smiley.
Loài nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley là nhện hại nguy hiểm trên lúa ở
các nước nhiệt đới như: Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan…
Nhện gié S.spinki Smiley gây hại trên lúa ở Đài Loan, đặc biệt gây hại lúa vụ
chiêm ở các vùng phía nam quốc đảo này Năm 1970 loài này được phát hiện ởTrung Quốc, năm 1976 xuất hiện ở Đài Loan Ở các nước nhiệt đới Châu Ánhện gié được phát hiện vào năm 1985 Nhện gié xuất hiện ở Cu Ba vào năm
1997, tại cộng hòa Dominica và Haiti năm 1998 (Santos M., 2004), tại Panamanăm 2003, tại Costarica và Nicaragoa năm 2004 Mới nhất, năm 2005 nhện gié
Trang 13xuất hiện ở Colombia Các báo cáo đại lục đầu tiên về S.spinki chỉ ra rằng ở
Trung Mỹ, dịch hại này xảy ra vào năm 2003 từ Panama, và sau đó nhanhchóng lan tới Costa Rica (2004), Nicaragua, Honduras, và Guatemala (2005)
Mật độ rất thấp của S.spinki cũng đã được báo cáo có ở Colombia vào năm 2005
đánh dấu sự xuất hiện đầu tiên ở Nam Mỹ (USDA 2007)
* Mức độ gây hại
Nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley, đã là một dịch hại nghiêm trọng
trên lúa (Oryza sativa) ở vùng châu Á và sau đó lan rộng đến châu Mỹ vào cuốinăm 1990 Khi lây lan sang, nhện gié đã mang lại thiệt hại khác nhau cho câytrồng, có thể lấy ví dụ với vùng biển Caribbean và Trung Mỹ; sự lây lan nhanhchóng của nhện gié làm thiệt hại cho cây trồng từ 30% đến 90% mỗi năm(Almaguel et al., 2000)
Ở miền nam Đài Loan, thiệt hại năng suất trên lúa gây ra bởi loài nhện nàyrất nặng nề (Lee 1980) Các khu vực của bệnh trong vụ thứ hai tăng từ 17.100
ha (42.237 ha) vào năm 1976 với 19.146 ha (47.290 mẫu Anh) (khoảng 4,5%phần trăm tổng diện tích gieo trồng) vào năm 1977 Tỷ lệ mất trắng ngũ cốc daođộng từ 20% đến khoảng 60%, với thiệt hại ngũ cốc tương đương với 20.000tấn, trị giá US $ 9.200.000 (Chen, Cheng, và Hsaio 1979)
Tại Ấn Độ, sự đổi màu của ngũ cốc được điều tra ở 24 làng thuộc các huyệnTây và Đông Godavari của Andhra Pradesh vào mùa mưa năm 1999 Các triệuchứng có sự phân bố không đồng đều trong 23 làng theo đó có làng chỉ 1-2 %diện tích lúa bị ảnh hưởng; còn những làng khác thì tới 50% diện tích lúa bị ảnh
hưởng Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này được xác định là do S.spinki
gây nên (Rao et al 2000)
* Đặc điểm hình thái và đặc điểm sinh học
Trứng có màu trắng trong, được đẻ rải rác thành từng quả, hoặc dính lại với nhau.Nhện non di động và nhện non không di động có màu trắng đục với 3 đôi chân
Trang 14Kích thước cơ thể nhện cũng có thể là cơ sở phân biệt giới tính và tuổi nhện Con cáitrưởng thành có chiều dài 274µm, bề ngang cơ thể là 108µm Con đực có kích thướcchiều dài và bề ngang cơ thể tương ứng là 217µm và 121µm (Smiley 1967).
Sự phát triển của nhện bị ảnh hưởng rõ rệt bởi nhiệt độ môi trường.Trungbình cần 17,4 và 27,5 ngày để hoàn thành quá trình phát triển từ trứng tới trưởngthành ở 250C, 280C và 300C ở điều kiện 25-280C, trưởng thành cái sống tươngứng là 15±1,0 ngày và 7,6±0,4 ngày, trong khi đó cả hai giới sống trong 5 ngày
ở điều kiện 300C Thời kì trước đẻ trứng vào khoảng 2 tới 5 ngày, thời kì đẻtrứng có sự khác nhau: 2 ngày ở 300C, 7 ngày ở 280C và 13 ngày ở 250C Mỗinhện trưởng thành cái có thể đẻ từ 0 tới 78 trứng trong suốt đời, trung bình là30,8±3,4 trứng (Smiley 1967)
Trong điều kiện phòng thí nghiệm tại Cu Ba, ở nhiệt độ 24,42 ± 1,1oC và độ
ẩm 70,07 ± 4,7%, thời gian từ trứng đến trưởng thành là 7,7 ngày, thấp nhất là5,75 ngày và cao nhất là 9,64 ngày ( Romas & Rodríguez., 2000)
* Nhện gié có thể phòng trừ bằng biện pháp sinh học: Đây là một trongnhững biện pháp phòng chống nhện gié quan trọng và có ý nghĩa nhất
Rodríguez và cs 2013 đã tiến hành điều tra thành phần nhện bắt mồi của
nhện gié Steneotarsonemus spinki ở 3 quốc gia Costa Rica, Nicaragua và
Panama Kết quả đã được báo cáo, các loài nhện nhỏ bắt mồi của nhện gié là
Neoseiulus baraki Athias-Henriot, Neoseiulus parabensis Moraes and
McMurtry, Neoseiulus longispinosus Evans, Propioseiopsis asetus (Chant) (Phytoseiidae) và các chi Hypoaspis, Pseudoparasitus (Laelapidae),
Aceodromus, Lasioseius (Blattisociidae) và Asca (Ascidae) Trong đó các loài
thuộc chi Neoseiulus là phong phú nhất ở ba quốc gia.
Nhện bắt mồi là loài thiên địch hiện rất được quan tâm nghiên cứu, đặc biệt
là hai họ nhện bắt mồi Phytoseiidae và Asciidae Ở Cu Ba các loài nhện bắt mồi như Amblyseius asetus, Galendromus sp; Typhlodromus sp và Lasioseius sp.
được sử dụng rất rộng rãi trong phòng trừ nhện gié (Santos M., 2004) Ngoài ra
nhện gié cũng được biết đến là con mồi của Amblyseius taiwanicus (Lo, Ho,
Trang 15Chen 1979) Các loài thiên địch này có thể khống chế số lượng nhện gié ở mộtmức nào đó tùy theo khả năng bắt mồi của chúng Theo Almaguel và Santos(2003), nhện nhỏ bắt mồi có hiệu quả kìm hãm nhện gié khi mật độ của chúngđạt 3,3 con/dảnh.
3 Hai loài nhện Tyrophagus putrescentiae và Carpoglyphus lactis.
Hệ thống nhân nuôi hàng loạt phù hợp cho việc tạo ra một số lượng lớn côntrùng và nhện nhỏ có ích đã được giới thiệu lần đầu tiên vào khoảng 70 nămtrước đây Ban đầu hệ thống này căn cứ vào sự cung cấp của nguồn thực phẩmcôn trùng hoặc nhện nhỏ tự nhiên Ví dụ, hệ thống nhân nuôi hàng loạt dựa trên
sự cung cấp con mồi cho các loài vật chủ như là Amblyseius swirskii cho nhân nuôi Amblyseius swirskii hoặc Phytoseiulus persimilis, cũng có thể là phấn hoa cho các loài nhện bắt mồi khác, hoặc rệp cho Aphidoletes aphidimyza Gần đây
hơn, hệ thống nhân nuôi hàng loạt nhện bắt mồi đã có những bước phát triểnthành công mới trong việc sử dụng vật chủ nhân tạo Vật chủ được sử dụng phổ
biến nhất là nhện kho như là Tyrophagus putrescentiae, Acarus siro, và
Carpoglyphus lactis Thông qua việc sản xuất nhện nhỏ bắt mồi, con mồi(nhện
nhỏ), và nguồn thức ăn cho con mồi tạo một sự ổn định trong việc nhân nuôi chophép nuôi nhện bắt mồi một cách liên tục (Fidgett et al 2010)
3.1 Tyrophagus putrescentiae (Schrank)
Trang 16Acaridae là một họ lớn, phân bố trên toàn thế giới Có khoảng 400 loàithuộc 90 chi được biết đến trên thế giới và còn nhiều loài khác vẫn chưa đượcphát hiện, đặc biệt là ở các khu vực nhiệt đới ( Fan & Zhang, 2007).
Nhện cám Tyrophagus putrescentiae có mặt trên toàn thế giới được tìm
thấy trong nhiều môi trường sống khác nhau bao gồm các sản phẩm lưu trữtrong kho, nấm trồng, hạt giống, nhà kính, đất, chúng còn được tìm thấy trênnhiều loại côn trùng, hoặc tổ của động vật xương sống Đây là loài nhện nhỏ
phong phú nhất và quan trọng sống ở kho Một vài loài Tyrophagus có khả năng
ăn thực vật và là nguyên nhân phá hoại cây trồng, bao gồm cả hai: hoa cây cảnh
và rau trồng trong nhà lưới Ngoài ra chúng còn có thể làm giảm chất lượng củahạt lúa mì (Fan & Zang, 2007)
* Đặc điểm sinh học, sinh thái.
Vòng đời bao gồm trứng, ấu trùng, nhện non tuổi 1, Nhện non tuổi 2, nhệnnon tuổi 3 và trưởng thành Giai đoạn tuổi hai bắt đầu phụ thuộc vào môi trường
và điều kiện sống Quá trìnhphát triển từ trứng đến trưởng thành thường mất 1-3
tuần, tuỳ thuộc vào nhiệt độ, một Tyrophagus cái có thể đẻ 100-700 trứng.
(Zhang & Fan, 2005)
Trưởng thành Tyrophagus có 4 đôi chân; phần thân Idiosoma giống hình túi,
dài 300 đến 600µm, màu trắng bán trong suốt Cụ thể kích thước phần Idiosoma
của T.putrescentiae cái dài 486µm, rộng 314µm, T.putrescentiae đực dài
378µm, rộng 233µm Bề mặt cơ thể với 4 cặp lông cứng phần vai (prodorsal),
12 cặp lông cứng bao phủ phần lưng (dorsal) và phần thân sau (hysterosomal).(Zhang & Fan, 2005)
Nhện non tuổi 3: Tương tự như trưởng thành cái, ngoài ra bộ phận sinh dụckhông có nếp gấp; lông cứng xung quanh hậu môn ngắn hơn Xuất hiện các lôngcứng trên chân như ở nhện cái trưởng thành
Nhện non tuổi 2: Có 2 cặp gai sinh dục và xuất hiện 1 cặp lông cứng ở bộphận sinh dục
Trang 17Nhện non tuổi 1: khác với nhện cái trưởng thành là ở bụng thiếu một cặplông cứng; không có nếp gấp ở bộ phận sinh dục và có một cặp gai sinh dục.
Ấu trùng: phần hysterosoma chỉ có 10 cặp lông cứng; không có lỗ sinh dục,
bộ phận sinh dục, lông cứng xung quanh hậu môn và gai sinh dục Giai đoạn ấu
trùng chỉ có 3 cặp chân (Zhang & Fan, 2005)
Độ ẩm của môi trường thu nhỏ cũng như nhiệt độ và nguồn thức ăn có ảnhhưởng chủ yếu tới sinh trưởng và phát triển của nhện
Thời gian phát triển điển hình của một T.putrescentiae là:
• Trứng – 2 ngày
• Nhện non – 5 ngày
• Trứng tới trưởng thành 10 ngày (Bahrami et al 2007)
Vòng đời của nhện nhỏ acarid, Tyrophagus putrescentiae (Schrank), trên
Fusarium graminearum đã được điều tra ở 25 ± 1 ° C, 60 ± 5% RH, chu kì chiếu
T.putrescentiae là là loài ăn chất thối rữa hoặc các loài tuyến trùng thuộc
chi Mycetophagous và được biết đến là loài ăn chất mục nát trong đất và trong
kho sản phẩm ở những điều kiện nghèo nàn
Trang 18Tyrophagus putrescentiae ăn các loài nấm khác nhau bao gồm nấm mốc
(Eutorium và Penicillium), Fusarium, Alternaria, Mushroom, Murco và
trichophyton(J.Hubert et al 2003; F Bahrami 2007) Nó là một dịch hại khó ưa
bởi sự phá hoại trong trồng nấm, bên cạnh đó việc sử dụng loài này trong kiểmsoát sinh học có thể được quan tâm trong tương lai Loài nhện nhỏ này cũngđược đề cập tới trong thành phần các loại bụi nhà ở các thí nghiệm được tiến
hành ở Carasca và Venezuela, T.putrescentiae đôi khi chiếm số lượng lớn trong lớp bui giường T.putrescentiae cũng sản sinh ra chất gây dị ứng tới con người,
bao gồm hen phế quản, viêm mũi lâu năm, viêm kết, dị ứng da và viêm đườngruột Là chất gây ô nhiễm trong cỏ khô và thức ăn gia súc khác, chúng tạo ra rốiloạn đường ruột ở ngựa, chó và các động vật khác (Schrank, 1781)
Theo Bilgrami & Tahseen (1993): T.putrescentiae có thể ăn các loài tuyến trùng và vi sinh vật khác trong trồng trọt nuôi cấy bao gồm Acrobeloides,
Cephalobus, Rhabditis, Panagrellus một số loài ăn tuyến trùng như Mononchus aquaticus, Monochoides fortidens, M.longicaudatus, Dorylaimus stagnalis , Aquatides thornei.
T.putrescentiae đóng vai trò như con mồi với xúc biện (được sử dụng để
xác định các sinh vật săn mồi và các đối tượng khác) và các đôi chân
Sự tiếp xúc của con mồi với phần miệng của nhện là điều kiện cần để bắtđầu một cuộc tấn công Con mồi bị thương thu hút các con nhện, sau đó chúngtập hợp lại và ăn con mồi cùng nhau Những đôi chân nói chung được sử dụng
để giữ và gây thương tích cho con mồi Miệng là cơ quan có chức năng chính làgiết chết và ăn con mồi, cũng được sử dụng để giữ và nghiền con mồi Sự tiêuhóa con mồi có bản chất không liên tục( 2 hoặc 3 đợt ăn) với những khoảng thờigian ngắn nghỉ ngơi hoạt động đều đặn Nhện cũng ăn phân của chính nó trongkhi di chuyển ngẫu nhiên với sự vắng mặt của con mồi Không có xu hướng ănthịt đồng loại Giai đoạn nhộng (nhện non)hầu hết ăn tuyến trùng đã chết(Bilgrami & Tahseen 1991)
Trang 19Như vậy T.putrescentiae là loài nhện có sự đa dạng về thành phần thức ăn,
thời gian phát triển ngắn (tuổi thọ nhện cái là 19,08 ± 1,37 ngày), sức sinh sản cao(100-700 trứng/ nhện cái) và thích nghi với nhiều môi trường sống khác nhau
3.2 Carpoglyphus lactis (Linnaeus, 1758) (Acari: Carpoglyphidae)
Nhện kho được cho là nguyên nhân gây nên bệnh đặc thù trong đội ngũnhân viên làm việc trong các ngành công nghiệp hạt và chế biến thực
phẩm(Wright et al., 2003) Carpoglyphus cho tới bây giờ được đại diện bởi hai loài đó là Carpoglyphus lactis (Linnaeus, 1758) và C.munroi (Hughes, 1952)
(Alex Fain and Gisela Rack.1987) Carpoglyphus lactis chủ yếu ảnh hưởng đến
sản phẩm lưu trữ, đặc biệt là trái cây sấy khô có hàm lượng đường cao đượcxem là một nguyên nhân gây ô nhiễm mật ong (K Vijayakumar 2013)
Thức ăn ưa thích của Carpoglyphus lactis là các loại trái cây khô, ngũ cốc,
hạt có dầu, thực phẩm dự trữ… (Institut für Schädlingskunde).
•Loài (Carpoglyphus lactis)
* Đặc điểm sinh học, sinh thái
Nhện kho Carpophagus lactis trưởng thành màu trong suốt, kích thước 0,4
mm, hình bầu dục và dẹt Chân và phần miệng của Carpoglyphus lactis, ngược
lại, có màu hơi đỏ
Ưa độ ẩm tương đối cao khoảng 70%
Trang 20Nhiệt độ khoảng từ 25 - 30ᵒC, trong điều kiện thuận lợi con cái có thể đẻ
270 trứng, trong nấm men bánh mì chu kỳ phát triển hoàn chỉnh ở 25ᵒC chỉkhoảng 11 ngày Còn ở điều kiện nhiệt độ 150C thì chu kỳ phát triển có thể lên
tới vài tuần (Institut für Schädlingskunde).
Wafaa L F Ibrahim 2006: Trong điều kiện 25 ±20C và 65% Các giai đoạnchưa trưởng thành bị ảnh hưởng đáng kể bởi các chu kỳ chiếu sáng khác nhau.Thời gian giai đoạn chưa trưởng thành đã được kéo dài với sự gia tăng của thời
gian chiếu sáng Tuổi thọ của C.lactis là 12,7 và 19,2 ngày tương ứng với điều
kiện tối hoàn toàn và chiếu sáng liên tục
Khi thời gian chiếu sáng tăng lên thì tuổi thọ của cả nhện đực và cái đềutăng, tuổi thọ lớn nhất đối với nhện đực là 24 giờ của ánh sáng liên tục Với môhình khác nhau đã được theo dõi Tuổi thọ con đực dài nhất (9,3 ngày) ở điềukiện chiếu sáng liên tục(24 giờ) Trong khi tuổi thọ lớn nhất của con cái (15,4ngày) ở điều kiện bóng tối hoàn toàn Trứng được đẻ ra hàng ngày giảm khi tăngthời gian chiếu sáng.Nói chung, tuổi thọ nhện đực ngắn hơn so với nhện cái.Các thời gian chiếu sáng có ảnh hưởng rất tiêu cực đến giai đoạn đẻ trứng
Số lượng trứng được đẻ ra giảm khi thời gian chiếu sáng tăng lên Trung bìnhtổng và trung bình hàng ngày của trứng đẻ ra là 55,9 và 4,6 khi tối hoàn toàn;5.3 và 0.9 ở điều kiện chiếu sáng liên tục
II Tình hình nghiên cứu trong nước
1. Những nghiên cứu về các loài thuộc chi Lasioseius.
* Lasioseius chaudhrii Wu and Wang.
Năm 2013, Nguyễn Trung Thành và cs, đã làm thí nghiệm đánh giá hiệu
quả của nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii đối với nhện gié tại Châu Thành An
Giang, cho kết quả: Nếu thả 1-5 NBM trưởng thành cái đang đẻ trứng/dảnh lúathì hiệu quả khống chế nhện gié so với đối chứng đạt 52,94% - 78,28%, còntrong thí nghiệm ô lớn nếu thả 3 NBM cái/dảnh hiệu quả khống chế nhện 15
Trang 21ngày sau thả tương tương phun Kinalux 25EC 2 lần đạt 41,94-74,72% Thờigian thả NBM tốt nhất là sau sạ 45 ngày, tiếp theo là 52, 38 và 31 ngày sau sạ.
Dương Tiến Viện (2012): Trên ruộng lúa nhện nhỏ bắt mồi Lasioseius sp Là
loài xuất hiện phổ biến hơn , chúng di chuyển rất nhanh nhẹn và thường thấyxuất hiện ở những bộ phận của cây lúa có triệu chứng nhện gié hại, đôi khi thấytập trung 2-3 con, chúng ăn trứng, nhện non và nhện trưởng thành của nhện gié
ở trong các bẹ lá và khoang mô của gân lá lúa
* Đặc điểm hình thái của nhện bắt mồi Lasioseius sp.
Dương Tiến Viện (2012): Nhện có kích thước nhỏ bé, để nhìn rõ chúng phảiquan sát dưới kính hiển vi hoặc kính lúp điện Vòng đời loài nhện này gồm các 3pha phát triển: trứng, nhện non (gồm nhện non tuổi 1, nhện non tuổi 2, nhện nontuổi 3) và nhện trưởng thành
Trứng nhện bắt mồi Lasioseius sp : Có hình bầu dục, khi mới đẻ màu trắng
đục, bề mặt có chất nhầy dính để tăng sức bám trên bề mặt giá thể, sau chuyểndần sang trắng trong, trong suốt Trứng xắp nở có màu trong suốt, dễ lẫn và khóphát hiện Trứng đẻ rời rạc từng quả hoặc từng cụm 2-3 quả do dính lại với nhaunhờ có chất kết dính trên bề mặt trứng, kích thước trung bình là(163 ± 14,9) ×
(116,7 ± 12,3) µm.
Nhện non tuổi 1: Nhện non mới nở rất nhỏ bé, tương đương kích thước của
trứng Cơ thể nhện non hình bầu dục, phần lưng màu trắng trong, mặt lưng sầnsùi, lớp da ngoài mỏng và có nhiều ngấn ngang, dọc Hai bên thân sau màu trắngsữa với ba đôi chân
Nhện non tuổi 2: Sau khi lột xác, nhện non tuổi 1 chuyển sang tuổi 2 Nhện
non tuổi 2 có 4 đôi chân, di chuyển nhanh nhẹn Cơ thể có màu trắng sữa, phầncuối bụng hơi nhọn, mặt lưng gồ ghề và hơi vồng lên nên cơ thể giống hình quả
trám, kích thước trung bình đạt (289,3±23,1) × (144,8±12,6) µm.
Nhện non tuổi 3: Nhện non tuổi 3 hình ô van, khi mới lột xác có màu trắng
trong và sau đó chuyển sang màu trắng đục Mặt lưng của cơ thể không bằng phẳng
và hơi vồng lên Kích thước cơ thể tăng nhanh, giai đoạn trước khi hóa trưởng
Trang 22thành (344,6 ± 27,3) × (153,3 ± 22,7) µm Ở giai đoạn nhện non tuổi 3 đã có thể
phân biệt được nhện đực và nhện cái dựa vào màu sắc và kích thước cơ thể
Nhện trưởng thành : Nhện đực khi mới vũ hóa có hình ô van hơi dẹt, màu
trắng trong, trên mạt lưng chuyển dần sang màu vàng nhạt và sau đó toàn bộ cơthể sẽ chuyển sang màu vàng nâu nhạt, sáng bóng Nhện trưởng thành cái cómàu nhạt hơn con đực Nhện cái trước đẻ trứng có kích thước trung bình
(418,8±26,8) × (175,4±11,6) µm , khi đẻ trứng kích thước trung bình (423,8±28,1) × (182,9±9,6) µm.
* Đặc điểm sinh học, sinh thái của nhện bắt mồi Lasioseius sp.
Theo Nguyễn Thị Thanh Thu (2010) tiến hành điều tra thành phần các loàiTĐBM nhện gié trên lúa tại Gia Lâm – Hà Nội vụ xuân hè 2010, kết quả thu
được bao gồm 4 loại: Nhện nhỏ bắt mồi Lasioseius sp.( Ascidae, Acarina), Bọ trĩ bắt mồi đen Haplothrip sp1 (Phlaeothripidae, Thysanoptera) bọ trĩ bắt mồi nâu
đỏ Haplothrip sp2 (Phlaeothripidae, Thysanoptera) Và muỗi năn bắt mồi
Therodiplosis sp (Cecidomyiidae, Diptera) Như vậy thành phần các loài BMAT
nhện gié gồm 4 loài thuộc 3 họ và 3 bộ Trong đó, loài nhện bắt mồi Lasioseius sp.
có tần suất xuất hiện và mức độ phổ biến là nhiều nhất
Sức ăn của nhện trưởng thành cái Lasioseius sp.: Trong các pha phát dục của nhện gié, trưởng thành cái Lasioseius sp Lựa chọn ăn trứng nhện gié là nhiều
nhất, trung bình 14,03 trứng/ngày, pha nhện non di động và trưởng thành cái có
sự ưa thích thấp hơn , sức ăn tương ứng là 7,10 và 5,83 cá thể/ngày Trưởng
thành đực nhện gié là vật mồi kém ưa thích nhất đối với nhện cái Lasioseius sp.
Với sức ăn 1,5 cá thể/ngày (Dương Tiến Viện 2012)
Theo Nguyễn Thị Thanh Thu 2010 Trưởng thành nhện bắt mồi đẻ rải ráccác giờ trong ngày, tuy nhiên tập trung nhiều nhất là trong khoảng thời gian từ21h – 23h (14,46%) đạt và từ 23h - 1h (đạt 13,55%) Các giờ tiếp theo trongngày trưởng thành nhện bắt mồi có đẻ trứng tuy nhiên tỷ lệ không cao
Động thái đẻ trứng của loài nhện bắt mồi ở hai nhiệt độ 35οC, 30οC là khácnhau Ở nhiệt độ 30οC, thời gian đẻ trứng (14 ngày) dài hơn so với nhiệt độ 35οC
Trang 23(10 ngày); số lượng trứng được đẻ ở nhiệt độ 30οC cũng cao hơn (trung bình đạt27,59 ± 4,98 quả) so với nhiệt độ 35οC (trung bình đạt 17,29 ± 4,28 quả).
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, nhện bắt mồi Lasioseius sp đẻ tập trung
vào tuần đầu sau khi được giao phối và tiếp tục đẻ rải rác trong những ngày sau đó
Tỷ lệ nở của trứng ở cả 2 ngưỡng nhiệt độ đều rất cao Ở 35oC tỷ lệ nởtrung bình là 88,0% thấp hơn so với ở nhiệt độ 30oC là 96,0% Trứng được đẻvào những ngày đầu có tỷ lệ nở thấp hơn trứng được đẻ vào ngày thứ 5 Như vậy
có thể thấy, nhiệt độ 30οC là điều kiện thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển
của nhện bắt mồi Lasioseius sp.
2 Nhện gié Steneotarsonemus spinki
Trong vòng 5 năm lại đây, nhện gié Steneotarsonemus spinki đang trở
thành loài nhện hại nguy hiểm tại nhiều vùng trồng lúa ở Việt Nam Ở Miền Bắc,Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, Cục bảo vệ thực vật năm 2009 đã thống kê nhệngié xuất hiện gây hại 4.229 ha trên lúa Hè Thu, lúa mùa Cùng với sự biến đổikhác thường của điều kiện thời tiết, khí hậu và nhiều năm liên tục dùng thuốc trừsâu hại của nông dân trên đồng ruộng đã tiêu diệt hết các loài thiên địch của dịchhại nói chung, nhện hại nói riêng nên nhện gié đã phát sinh và gây hại nặng đốivới lúa ở một số tỉnh phía Bắc Vụ mùa 2007, nhện gié gây hại khoảng 315 ha lúa
ở các tỉnh Thái Nguyên, Điện Biên, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nội với tỷ lệ dảnhhại 10-15%, nơi cao 30% (Nguyễn Mạnh Thủy.2007)
* Phân bố địa lý
Lần đầu tiên, Việt Nam ghi nhận sự gây hại của nhện gié Steneotarsonemus
spinki tại Thừa Thiên Huế vào năm 1992 (Ngô Đình Hoà., 1992) Sau đó, các
nhà khoa học Việt Nam lần lượt phát hiện và chứng minh rằng nhện gié thực sự
là đối tượng nhện hại nguy hiểm, nhất là trong điều kiện vụ mùa ở Miền Bắc
Ở nước ta, nhện gié gây hại khá phổ biến ở Đồng Bằng Sông Cửu Long Từnăm 2007, đã có nhiều thông tin về sự gây hại khá nặng của nhện gié ở một số địaphương phía Bắc như Thái Nguyên, Nghệ An, Phú Thọ, Hải Dương… Ở miền
Trang 24Bắc, trong mùa đông rất khó tìm thấy nhện gié trên đồng ruộng, đến vụ xuântriệu trứng của nhện gié xuất hiện rải rác, nhưng sang vụ mùa mật độ nhện giétăng rất nhanh vào các tháng 8, tháng 9, gây ảnh hưởng khá lớn đến năng suất ởnhiều vùng trồng lúa (Nguyễn Thị Nhâm và cs., 2010).
* Phạm vi ký chủ:
Tại Việt Nam, hiện nay ký chủ của nhện gié là cây lúa, lúa chét, lúa hoang,lúa cỏ ngoài ra chưa phát hiện được cây nào khác bị tấn công
* Đặc điểm sinh thái và đặc điểm sinh học.
Thuộc họ Tarsonemidae, nhện gié cũng mang một số đặc điểm đặc trưng của
họ nhện này
Nhện gié Steneotarsonemus spinki gồm 4 pha phát triển: Trứng, nhện non di
động, nhện non không di động và nhện trưởng thành Trưởng thành cái hình ôvan hai đầu thon nhọn, màu trắng hoặc trắng vàng Kích thước con cái 0,25 ±0,03mm (n=30) Con cái có 4 đôi chân, đôi chân thứ IV ở đốt bàn phần cuối có 2lông dài, ở giữa có một lông ngắn hơn Trưởng thành đực cũng hình ô vannhưng ngắn hơn con cái, màu trắng đến trắng vàng, kích thước là 0,23 ± 0,02mm(n=10) Đôi chân thứ 4 trông giống 1 đôi càng cua Trứng hình bầu dục, màutrắng trong đến trắng sữa, trơn bóng, thường được đẻ tập trung thành cụm hoặcđôi khi đẻ rải rác (Nguyễn Văn Đĩnh 2007)
Nhện gié là loài dịch hại nguy hiểm có vòng đời ngắn, trung bình 9,33 ± 1,29ngày ở điều kiện 24,6 ± 1,23oC và 5,83 ± 0,55 ngày ở 29,9 ± 1,02oC (NguyễnVăn Đĩnh và Trần Thị Thu Phương, 2006)
So sánh với tỉ lệ tăng tự nhiên của 5 loài dịch hại khác thì nhện gié có tỉ lệtăng tự nhiên là cao nhất, với r là 0,48 ở 30 oC, cao hơn loài nhện đỏ hại chè
Oligonychus coffea và nhện trắng P latus lần lượt 2,21 và 1,41 lần Kết quả này
cho thấy tiềm năng gây hại to lớn của nhện gié trên lúa nước ở Việt Nam Và với
tỉ lệ tăng tự nhiên rất cao từ 0,25 – 0,48 trong khoảng nhiệt độ từ 22,5 – 32,5oCcộng thêm thức ăn phù hợp là ống thân cây lúa, việc nhân nuôi quần thể nhệngié là dễ dàng được thực hiện (Lê Đắc Thủy 2012)
Trang 25Nhện S spinki có khả năng sống và lây lan trong nước kể cả nước lạnh 20oC
và có thể phục hồi quần thể rất nhanh sau khi điều kiện sống trở lên thuận lợi.Chúng có thể sống sót trong điều kiện nhiệt độ thấp 16oC và 10oC Bên cạnh đónhện có khả năng lan truyền qua vết thương cơ học, vết hại côn trùng và gió.Sau 10 ngày tạo vết thương nhân tạo, 100% các vết thương trên lá đều có nhệngié (Nguyễn Thị Nhâm và cs 2010)
Điều kiện thời tiết nóng khô thích hợp cho nhện gié phát triển gây hại Trong
vụ hè thu nhện thường phát sinh gây hại vào tháng 5 - 6 lúc lúa có đòng đến trỗ
3 Những nghiên cứu về mạt bụi nhà.
Mạt bụi nhà là kháng nguyên chủ yếu trong thành phần dị nguyên của bụi nhà.Chúng là nguyên nhân chính của các bệnh dị ứng đường hô hấp như viêm mũi dịứng, hen phế quản ayopy và các bệnh khác (Phạm Quang Chinh và cs 2013).Đặc điểm cấu tạo: MBN(mạt bụi nhà) thuộc ngành chân khớp (Arthropoda),lớp Nhện (Arachnida) Chúng có kích thước nhỏ (200 – 500 µm), hình oval.MBN không phân chia một cách rõ rang đầu, ngực , bụng như các côn trùng màđầu – ngực và bụng hợp thành một khối duy nhất gồm thể hàm và phần thân.Đặc điểm sinh học: Tuổi thọ của NBM rất khác nhau, trung bình là 3 tháng.Trong thời gian đó, con cái đẻ 1 – 2 lần, mỗi lần từ 20 – 40 trứng đến ngày thứ
6 trứng nở thành ấu trùng di chuyển với ba đôi chân Sau 6 ngày ấu trùng trở nênbất động và biến đổi thành tiền thiếu trùng (protonymphe), xuất hiện đôi chânthứ tư và cơ quan sinh sản Giai đoạn sau nữa là hậu thiếu trùng (tritonymphe) –gần giống với mạt trưởng thành Giữa hai giai đoạn tiền thiếu trùng và hậu thiếutrùng có thể có một giai đoạn trung là hypope hay deuteronymphe Đây là giaiđoạn tiềm tang nếu như môi trường bên ngoài không thuận lợi cho chúng pháttriển (nhiệt độ, độ ẩm, dinh dưỡng…) Vòng đời từ trứng đến mạt trưởng thànhkhoảng 1 tháng, mạt trưởng thành sống thêm từ 1 đến 3 tháng
Môi trường sống của mạt bụi nhà: Phần lớn mạt trong họ Pyroglyphidae sốngtrong tổ của các loài chim và động vật có vú (Võ Thanh Quang, 2010)
Trang 26Nguyễn Đức Trọng (2009) điều tra về thành phần các loài mạt trong bụi nhà
đã thấy Tyrophagus putrescentiae và Tyrophagus sp ở 3 trong số 4 tỉnh điều tra:
đó là Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Sơn La đối với Tyrophagus putrescentiae
và Hà Nội, Vĩnh Phúc, Sơn La, Hải Dương đối với Tyrophagus sp Ngoài ra còn
mô tả hình thái của T.putrescentiae: kích thước dài 200-500 µm, thân thể trắng
mờ, phần mồm và chân hầu như không màu Trên các đốt cuối chân có vẩy.Thân đôi khi thon, lông trên thân nhiều và dài Mặt bụng con đực, hai bên lỗ hậumôn có hai giác hút hình vòm Điều kiện thuận lợi nó có thể sống 8-21 ngày,nhiệt độ thấp thì tuổi thọ của nó dài hơn
Theo Nguyễn Thị Vân Anh (2013) thì Bảo quản nhện bắt mồi khi có thức ăn
là Tyrophagus sp hiệu quả hơn bảo quản không có thức ăn thêm nhện cám ở cả
hai loại chất độn rơm khô ( số nhện bắt mồi tăng gấp từ 2-18 lần so với số nhện ban đầu) và hỗn hợp trấu mùn cưa ( số nhện bắt mồi tăng từ 1,70- 2,60 lần so với số nhện ban đầu)
Trên rệp Neoseiulus cucumeris được bán ở dạng sản phẩm con trưởng thành, thường trộn chung với Tyrophagus putrescentiae (dùng làm mồi), chẳng hạn như
sản phẩm THRIPEX® (Công ty Bio-Bee, Israel) (Trung Tâm công nghệ sinhhọc Thành Phố Hồ Chí Minh 2007)
Trang 27PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
I Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
1. Đối tượng nghiên cứu
- Nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii Wu and Wang
2 Vật liệu nghiên cứu
- Nguồn nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii Wu and Wang, nguồn nhện gié
Steneotarsonemus spinki và 2 loài nhện kho (Tyrophagous putrescentiae và Carpophagus lactic)
- Lồng, lọ nuôi nhện ,các loại cám, ống thân lúa và các dụng cụ trong phòng thínghiệm : kính soi nổi, hộp nhựa, panh, đĩa peptri,
3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Nghiên cứu tại phòng thí nghiệm của Bộ môn Côn trùng – Khoa Nônghọc – Trường Học viện nông nghiệp Việt Nam
- Khu thí nghiệm nhà lưới Khoa Nông học – Trường Học viện nông nghiệpViệt Nam
- Thời gian nghiên cứu từ 07/2014 đến 12/2014
II Nội dung nghiên cứu
- Sự gia tăng quần thể nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii Wu and Wang trên nhện gié Steneotarsonemus spinki
- Sự gia tăng quần thể nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii Wu and Wang trên nhện nhện kho Tyrophagous putrescentiae
- Sự gia tăng quần thể nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii Wu and Wang trên nhện kho Carpoglyphu lactic.
- Trên loại Thức ăn nào nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii Wu and Wang
có sự gia tăng quần thể cao nhất
III Phương pháp nghiên cứu
Trang 28* Phương pháp nhân nguồn NBM Lasioseius chaudhrii để nhân nuôi cá
thể.
Nhân nguồn nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii với số lượng nhiều nhằmmục đích có đủ nguồn nhện bắt mồi phục vụ cho các thí nghiệm đánh giá khảnăng gia tăng quần thể ở các ngưỡng nhiệt độ khác nhau sẽ được tiến hành ởphần sau
Dùng tấm xốp kích thước 5 x 10 x 2 cm, phía trên tấm xốp đặt tấm mica
có cùng kích cỡ với tấm xốp Đặt các đoạn ống thân lúa có nhện gié (khoảng
500 nhện gié/đoạn) và nhện bắt mồi (tỷ lệ 1 NBM/ 100 nhện gié) trên bề mặttấm mica Sau đó đặt tấm xốp trên vào hộp nhựa kích thước 15 x 30 cm Chonước vào hộp nhựa sao cho nước ngập xung quanh nhằm tạo ẩm độ cho cả NBM
và nhện gié phát triển tốt Thường xuyên bổ sung thêm thức ăn cho NBM bằngcách cho các đoạn ống thân lúa có sẵn nhện gié vào
Do chỉ nhân nguồn NBM để làm thí nghiệm, nên có thể tiến hành nhânnguồn trong ống thân đã có nhện gié Chuẩn bị hộp có nhện gié, sau đó thả nhệnbắt mồi vào trong hộp
Thu thập NBM trưởng thành trong ổ nhện gié Phân loại để xác định
chính xác loài NBM Lasioseius chaudhrii, để nhân nuôi hàng loạt trong hộp
cách ly
Hình 1: Nhân nguồn nhện bắt mồi Hình 2: Cách ly nhện bắt mồi
Trang 29* Nhân nguồn nhện gié trong phòng thí nghiệm bằng ống thân lúa
Bước 1: Chuẩn bị ống thân
Bước 2: Chuẩn bị nhện
Sử dụng nguồn nhện cũ (đã nhân nguồn được 15 - 20 ngày) hoặc cắtnhững dảnh lúa có triệu chứng bị nhện gié gây hại ngoài đồng mang về phòngthí nghiệm Bóc bẹ lá và cắt phần gân lá có triệu chứng nhện hại soi dưới kínhlúp soi nổi độ phóng đại 40 lần Khi soi thấy nhện thì dùng dao lam cắt bộ phậncây lúa có nhện gié thành từng miếng nhỏ
Bước 3: Nhân nguồn
Dùng dao lam rạch ống thân lúa 1 đoạn dài 2cm ở phía dưới cách đốt trên1cm đến 2cm, dùng panh nhét miếng ống thân nhỏ có nhện gié vào trong ốngthân theo vết rạch Sau đó quấn ống thân bằng nilon mỏng, lấy kim côn trùng số
00 châm vào ống thân đã quấn nilon để tránh thiếu không khí, cắm các đoạn ốngthân đó trên miếng xốp cắm hoa kích thước dài x rộng x cao là 10 x 5 x 2 cm vàđặt vào thùng xốp, trong thùng xốp có cát để dữ ẩm Thường xuyên tưới nước để
dữ ẩm cho miếng xốp
Thùng xốp nhân nguồn có kích thước dài: rộng: cao là 50: 30: 20 cm, nắpthùng sử dụng thùng xốp như vậy lật úp lại, phía trên được khoét 5 - 6 lỗ kíchthước 8 x 4 cm để đảm bảo trong hộp nhân nguồn ẩm độ 75 - 85% Sau 15 ngàytiến hành nhân nguồn nhện đó ra ống thân mới
Hình 3: Hộp nhân nhện gié Hình 4: Ống thân nhân nguồn nhện gié
Trang 30* Nuôi sinh học cá thể nhện bắt mồi Lasioseius chaudhrii (Wu and Wang)
từ trứng cho đến khi trưởng thành chết sinh lý trong điều kiện môi trường ổn định, thức ăn dư thừa, không gian không giới hạn (Birch, 1948):
(A1) 4 ngày trước khi tiến hành nuôi cá thể chuyển 100-200 nhện cáiNBM trưởng thành vào lồng nuôi cho đẻ trứng trong khoảng thời gian từ 2 – 4 h.Chuyển 100 trứng nuôi tập thể trên 4 lồng nuôi đến khi nhện hóa trưởng thành 3ngày thì sử dụng
(A2) Nuôi sinh học cá thể được tiến hành bằng cách
• Lấy khoảng 100 – 200 con NBM cái trưởng thành thả lên trên tấm nuôicách ly có sẵn nhiều nhện gié ở các tuổi cho đẻ trứng Sau 2h, chuyển toàn bộcon cái trưởng thành ra khỏi lồng
• Dùng bút lông chuyển từng trứng của NBM sang nuôi ở từng lồng nuôiriêng rẽ
• Khi lột xác lần 3 thì giới thiệu 1 con đực trẻ (đã hóa trưởng thành được lấy
từ A1) : thả một nhện đực vào lồng nuôi để ghép cặp với nhện cái đến khi đẻ trứng
• Từ khi nhện hóa trưởng thành theo dõi ngày 2 lần cách nhau 12h Saukhi toàn bộ nhện cái của đợt nuôi đẻ quả trứng đầu tiên đến khi chúng chết sinh
lý theo dõi ngày 1 lần
• Hàng ngày chuyển toàn bộ trứng đẻ ngày hôm trước ra nuôi ở từng lồngriêng rẽ với thức ăn dư thừa là các pha phát dục của nhện gié hoặc một trong baloài nhện kho các tuổi cho đến khi chúng hóa trưởng thành để xác định số trứng nở
và số nhện non sống sót đến trưởng thành và xác định tỉ lệ giới tính của chúng
• 3 ngày thay lồng nuôi mới
Hàng ngày theo dõi lồng nuôi dưới kính lúp để xác định thời gian trứng
nở , chuyển tuổi (qua xác lột), số trứng đẻ trong ngày, thời gian kết thúc đẻ trứng
và thời gian chết sinh lý
Điều kiện nền:
Trang 31- Nhiệt độ 27,5oC; Ẩm độ% (70-80%); thức ăn là nhện gié , hai loài nhện
kho (Tyrophagous putrescentiae và Carpoglyphus lactic).
Phương pháp duy trì độ ẩm trong hộp nhựa lớn: sử dụng muối bão hòa
NaCl Hòa tan muối bằng nước cất ở 600C, vừa cho muối vừa khuấy đều đến khimuối không tan thêm và còn một lớp muối (khoảng 1mm) ở đáy, sau đó đểnguội rồi kiểm tra độ ẩm bằng dụng cụ đo độ ẩm để xác định khoảng ẩm độ: đoliên tục 3 ngày, mỗi ngày 3 lần để lấy giá trị chính xác
+ Từ tháng 01/7 tới 01/11, đặt hộp nuôi nhện trên giá để dụng cụ phòngthí nghiệm.duy trì nhiệt độ phòng bằng điều hòa
+ Từ 02/11 tới 31/12 đặt hộp nuôi nhện trong tủ định ôn, nhiệt độ trong tủduy trì ở mức 27,50C
- Lồng nuôi đường kính 2,0 cm bao gồm 3 tấm mica kích thước 40 × 40 mm + Tấm 1: Mica trong dầy 2mm, khoét lỗ chính giữa 20mm + Tấm 2 : Mica đen dầy 4mm, khoét lỗ chính giữa 20 mm + Tấm 3 : Mica đen dầy 2mm
Hình 5: Thí nghiệm nuôi nhện bắt mồi Hình 6: lồng nuôi nhện và giá để
* Nhân nuôi hai loài nhện kho Tyrophagous putrescentiae và
Carpoglyphus lactic: Hai loài nhện được nhân nuôi trên cám gà úm C225
Trang 32- Cám gà úm C225 có dạng viên nhỏ được ngiền thành bột để tạo điều kiệnthuận lợi cho nhện gia tăng quần thể
- Lọ nuôi nhện là hộp caramen cao 5.5cm, đường kính đáy 5cm, đường kínhmiệng 7cm Trên nắp có châm lỗ nhỏ
Do hai loài nhện này gia tăng quần thể rất nhanh nên việc thêm thức ăn (bộtcám) tiến hành 4 ngày một lần, sau 2 tuần thì nhân chuyển sang lọ nhện khác
Để tránh cho lọ nuôi các loài nhện không bị lẫn tạp bởi loài nhện kháchoặc các yếu tố môi trường thì việc cách li là rất quan trọng
2 Phạm vi
Phòng thí nghiệm
3.Dụng cụ
- Hộp nhựa có nắp (a)kích thước 16x26x 9cm và (b)12x17x8 cm
- Khay đựng loại to kích thước (c) 33x45x15cm
- Nắp của các hộp được cắt khoảng 1/3 nắp tùy theo kích thước hộp sau
đó dán lại bằng vải
4.Các bước tiến hành:
- Bước 1: Vệ sinh nơi đặt hộp nuôi nhện: Vệ sinh bằng nóng 100ᵒC, đunsôi nước, sau đó rửa nơi đặt nhện, để khô rồi lau lại bằng cồn, sau 1 giờ kiểm trabằng mắt xem còn nhện hay không, trong trường hợp thấy có nhện cần vệ sinhlại một lần nữa
- Bước 2: Đặt hộp nuôi nhện (hộp caramen cao 5.5cm, đường kính đáy5cm, đường kính miệng 7cm) vào trong hộp có nắp (a) có nước, mực nước 1cm,rồi đậy lại