1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

C mác và ph ăng ghen trình bày những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử từ 1844 đến 1848

31 1,1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 171,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Các Mác (1818 – 1883) và Phriđơrich Ăngghen (1820 – 1895) là hai nhà triết học có công sáng lập triết học Mác – Lênin, triết học Mác cũng như toàn bộ chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời như một tất yếu của lịch sử, nó là hệ tư tưởng khoa học và cách mạng nhất của loài người, không chỉ có ý nghĩa trong lý luận mà còn có ý nghĩa trong đời sống và thực tiễn, nhất là trong thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân và nhiệm vụ giải phóng các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Và không một ai trong số những người có tinh thần khoa học trung thực lại không thừa nhận ý nghĩa lịch sử của triết học Mác đối với lịch sử triết học và lịch sử phát triển của nhân loại. Tôi vô cùng tự hào khi được là một trong những người sinh ra trong thời đại mới và được tiếp thu những tri thức tinh hoa nhất của nhân loại, đặc biệt là hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Nhiệm vụ của một sinh viên chuyên ngành triết Mác như tôi đó là phải học tập và rèn luyện thật tốt nhằm nâng cao trình độ năng lực tư duy lý luận trên cơ sở nắm vững những nguyên lý của của triết học Mác – Lênin, để trở thành hạt nhân vững chắc góp phần xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội trong tương lai. Để làm được điều đó, tôi thấy cần thiết phải nghiên cứu một cách sâu sắc lịch sử triết học và đặc biệt là quá trình hình thành và phát triển của triết học Mác – Lênin nói riêng và toàn bộ chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung, nắm vững những tư tưởng và sự chuyển đổi mang tính cách mạng trong triết học do Mác, Ăngghen và Lênin thực hiện. Quá trình hình thành và phát triển của triết học Mác được chia làm nhiều giai đoạn cụ thể khác nhau, tuy nhiên phạm vi bài tiểu luận này có hạn nên tôi sẽ trình bày những vấn đề cơ bản nhất, những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa duy vật lịch sử mà Các Mác và Phriđơrich Ăngghen đã trình bày trong giai đoạn đề xuất những nguyên lý triết học từ năm 1844 đến năm 1848.

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

Phần 1 4

-SƠ LƯỢC VỀ C.MÁC, PH.ĂNG-GHEN VÀ BƯỚC CHUYỂN BIẾN TỪ CNDT SANG CNDV, TỪ LẬP TRƯỜNG DÂN CHỦ CÁCH MẠNG SANG LẬP TRƯỜNG CNCS 4

I Sơ lược về Các Mác: 4

II Sơ lược về Phriđơrich Ăngghen: 6

-III Sơ lược về sự chuyển biến từ chủ nghĩa duy tâm (CNDT) sang chủ nghĩa duy vật (CNDV), từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường chủ nghĩa cộng sản (CNCS) của C.Mác và Ph.Ăngghen: 7

Phần 2 9

-CÁC MÁC VÀ PH.ĂNG-GHEN TRÌNH BÀY NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CNDV – LỊCH SỬ TRONG GIAI ĐOẠN TỪ 1844 ĐẾN 1848 9

-I Giới thiệu về những nguyên lý cơ bản của CNDV – lịch sử và các tác phẩm trong giai đoạn 1844 – 1848: 9

II Các tác phẩm và những nguyên lý cơ bản của CNDV – lịch sử (1844 – 1848): 10 1) Tác phẩm “Bản thảo kinh tế triết học 1844” – C.Mác – 1844: 10

2) Tác phẩm “Tình cảnh giai cấp công nhân ở Anh” – Ph.Ăngghen – 1845: 13

3) Tác phẩm “Gia đình thần thánh” – C.Mác, Ph.Ăngghen – 1845: 15

4) Tác phẩm “Luận cương về Phơbách” – C.Mác – 1845: 18

5) Tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” – C.Mác, Ph.Ăngghen – 18451846: 20

6) Tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học” – C.Mác – 1847: 23

7) Tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” – C.Mác, Ph.Ăngghen – 1848: 26

KẾT LUẬN 29

TÀI LIỆU THAM KHẢO 31

Trang 2

áp bức trên toàn thế giới Và không một ai trong số những người có tinh thầnkhoa học trung thực lại không thừa nhận ý nghĩa lịch sử của triết học Mác đốivới lịch sử triết học và lịch sử phát triển của nhân loại

Tôi vô cùng tự hào khi được là một trong những người sinh ra trong thờiđại mới và được tiếp thu những tri thức tinh hoa nhất của nhân loại, đặc biệt là

hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin Nhiệm vụ của một sinh viên chuyênngành triết Mác như tôi đó là phải học tập và rèn luyện thật tốt nhằm nâng caotrình độ năng lực tư duy lý luận trên cơ sở nắm vững những nguyên lý của củatriết học Mác – Lê-nin, để trở thành hạt nhân vững chắc góp phần xây dựng vàbảo vệ chủ nghĩa xã hội trong tương lai Để làm được điều đó, tôi thấy cần thiếtphải nghiên cứu một cách sâu sắc lịch sử triết học và đặc biệt là quá trình hìnhthành và phát triển của triết học Mác – Lê-nin nói riêng và toàn bộ chủ nghĩaMác – Lê-nin nói chung, nắm vững những tư tưởng và sự chuyển đổi mang tínhcách mạng trong triết học do Mác, Ăng-ghen và Lê-nin thực hiện

Quá trình hình thành và phát triển của triết học Mác được chia làm nhiềugiai đoạn cụ thể khác nhau, tuy nhiên phạm vi bài tiểu luận này có hạn nên tôi

sẽ trình bày những vấn đề cơ bản nhất, những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩaduy vật lịch sử mà Các Mác và Phri-đơ-rich Ăng-ghen đã trình bày trong giaiđoạn đề xuất những nguyên lý triết học từ năm 1844 đến năm 1848

Trang 3

Các Mác (5/5/1818 – 14/3/1883) sinh trưởng trong một

gia đình trí thức tại thành phố Tơ-re-vơ, tỉnh Ranh, nước Đức Bố của ông làluật sư Hen-ri Mác, là người có tư tưởng cấp tiến, đã đánh giá cao phái khaisáng Pháp thế kỷ XVIII và chế độ dân chủ tư sản đã được xác lập ở Pháp,nhưng hoàn toàn không có khuynh hướng cách mạng tư sản Hen-ri Mác làngười có ảnh hưởng lớn đến việc học tập và phấn đấu của Mác Những ảnhhưởng tốt của giáo dục gia đình, nhà trường và quan hệ xã hội khác đã làm hìnhthành và phát triển ở Mác tinh thần nhân đạo và xu hướng yêu tự do Phẩm chấtđạo đức – tinh thần cao đẹp đó không ngừng được bồi dưỡng và trở thành địnhhướng đưa Mác tới chủ nghĩa dân chủ cách mạng và quan điểm vô thần

Năm 1835, C.Mác vào học luật tại trường đại học Bon và qua một nămchuyển sang học ở trường đại học Béc-lin Tại đây, ông say mê nghiên cứu lịch

sử và triết học Với những tư chất và sự say mê của bản thân, năm 1841 C.Mácbảo vệ thành công luận án tiến sĩ triết học với đề tài “Sự khác nhau giữa triếthọc tự nhiên của Đê-mô-crit và triết học tự nhiên của Ê-pi-quya” Mặc dù trongtác phẩm này Mác vẫn đứng trên lập trường duy tâm của Hê-ghen, song ông đãcoi nhiệm vụ của triết học là phải phục vụ cuộc đấu tranh cho sự nghiệp giải

Trang 4

phóng con người, phá bỏ hiện thực lỗi thời theo tinh thần cách mạng của phépbiện chứng C.Mác viết trong luận án của mình: “Giống như Promete – sau khi

đã đánh cắp lửa từ trên trời xuống, đã bắt đầu xây dựng nhà cửa và cư trú trêntrái đất, triết học cũng vậy, sau khi bao quát được toàn bộ thế giới, nó nổi dậychống lại thế giới các hiện tượng” Như vậy lúc này trong tư tưởng của C.Mác

có sự mâu thuẫn về thế giới quan giữa chủ nghĩa duy tâm triết học với tinh thầndân chủ cách mạng và vô thần

C.Mác đã đính hôn với Jenni vào năm 1836, nhưng do hoàn cảnh xuấtthân, xét về mặt giai cấp giữa hai người có sự khác nhau nên hôn nhân chưa thểdiễn ra Sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ C.Mác muốn có địa vị tươngxứng với Jenni, ông có ý đinh trở thành giáo sư đại học, nhưng do hoàn cảnh xãhội nước Đức lúc đó rất hỗn loạn với nền lý luận phản động, nhận thức được ýchí cách mạng của ông không tương thích với công việc giảng dạy ở đại họcBon nên C.Mác đã từ chối và trực tiếp tham gia đấu tranh chính trị

Vào năm 1842, C.Mác trở thành biên tập viên của tờ báo “Sông Ranh” –một tờ báo mang tinh thần dân chủ cách mạng Trong thời gian hoạt động ở báonày, Mác vẫn đứng trên lập trường chủ nghĩa duy tâm triết học, sau đó Mác đãchuyển từ lập trường duy tâm sang lập trường duy vật, từ lập trường dân chủcách mạng sang lập trường cộng sản chủ nghĩa và sáng lập một thế giới quanmới

Từ năm 1844 trở đi, C.Mác tiếp tục tham gia hoạt động lý luận và cácphong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, cùng với Ph.Ăng-ghen ông khôngngừng hoàn thiện học thuyết khoa học và cách mạng của mình

14/3/1883, C.Mác mất tại Luân Đôn – Vương quốc Anh

Trang 5

II Sơ lược về Phri-đơ-rich Ăng-ghen:

Phri-đơ-rich Ăng-ghen (28/11/1820 – 5/8/1895) sinh

trưởng trong một gia đình chủ xưởng dệt tại thành phố Béc-men của nước Đức.Khi còn là học sinh trung học, Ph.Ăng-ghen đã căm ghét sự chuyên chế và độcđoán của bọn quan lại, ông đã kiên trì tự học, nuôi ý chí là khoa học và hoạtđộn cải biến xã hội bằng cách mạng Ph.Ăng-ghen say mê nghiên cứu khoa học,đặc biệt là các tác phẩm của Hê-ghen Năm 1838, ông đến làm thư ký cho hiệubuôn ở Béc-rơ-men, tiếp tục tự học và trau dồi kiến thức cho mình và chính ởđây ông đã chịu ảnh hưởng của tư tưởng cách mạng, đứng trên lập trường dânchủ cách mạng Tuy nhiên lúc này ông vẫn chưa thoát khỏi những quan điểmduy tâm, tôn giáo, chưa phân biệt được giai cấp công nhân là giai cấp đặc biệttrong quần chúng nhân dân bị áp bức, bóc lột

Năm 1841, trong khi thực thi nghĩa vụ quân sự ở Béc-lin, Ph.Ăng-ghentiếp tục trau dồi kiến thức, làm quen với những người thuộc phái Hê-ghen trẻ

và trở thành môn đệ của phái này Cuối năm 1841, Ăng-ghen đọc tác phẩm

“Bản chất đạo thiên chúa” của Phoi-bách và nó đã có tác động mạnh mẽ tới thếgiới quan của ông Ph.Ăng-ghen muốn vượt qua lập trường của phái Hê-ghentrẻ để đi đến một thế giới quan mới thực sự cách mạng, gắn liền với cuộc đấutranh chính trị thực tiễn của nhân dân

Trong quá trình hoạt động lý luận và thực tiễn đấu tranh cách mạng, ông vàC.Mác đã gặp nhau, từ đó bắt đầu một tình bạn vĩ đại, họ cùng nhau xậy dựngnên lý luận khoa học cách mạng, cùng dấn thân vào sự nghiệp đấu tranh giảiphóng con người, giải phóng xã hội

Trang 6

5/8/1895, Ph.Ăng-ghen mất tại Luân Đôn – Vương quốc Anh.

III Sơ lược về sự chuyển biến từ chủ nghĩa duy tâm (CNDT) sang chủ nghĩa duy vật (CNDV), từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường chủ nghĩa cộng sản (CNCS) của C.Mác và Ph.Ăng-ghen:

Trong thời gian học tập và nghiên cứu khoa học không ngừng, C.Mác vàPh.Ăng-ghen đều bồi dưỡng và vun đắp cho tinh thần dân chủ cách mạng và vôthần của mình Đặc biệt là sao khi đọc tác phẩm “Bản chất đạo thiên chúa” củaPhơ-bách thì cả hai ông đều tiếp nhậ tư tưởng duy vật, vô thần, nhân văn trongtriết học Phơ-bách (C.Mác ca ngợi Phơ-bách là người đã thay thế triết học duytâm thần bí, tư biện say rượu bằng triết học tỉnh táo duy vật) Sau thời gian hoạtđộng thực tiễn chính trị - xã hội, C.Mác và Ph.Ăng-ghen càng củng cố thêm tưtưởng duy vật của mình và hình thành tư tưởng về chủ nghĩa xã hội và chủnghĩa cộng sản

Thời gian sau đó, C.Mác đã nhận ra rằng CNDT và dân chủ cách mạng sẽkhông giúp cho giai cấp vô sản mà cần phải xây dựng thế giới quan mới đểgiúp giai cấp công nhân giải phóng chính mình C.Mác đã sang Pháp và cùngvới người bạn của mình lập báo “Niên giám Pháp – Đức” – là cơ quan ngônluận thể hiện tư tưởng của ông Trong thời gian này, C.Mác cũng nghiên cứu vềđời sống kinh tế - chính trị ở Pháp; đấu tranh giai cấp và đặc biệt là cách mạng

tư sản Pháp; các học thuyết về lịch sử, chính trị - xã hội; chủ nghĩa xã hộikhông tưởng Pháp; chủ nghĩa duy vật Pháp thời khai sáng với hai nhà triết học

mà C.Mác rất thích là Rút-xô và Mông-xtet-xki-ơ) Năm 1844, C.Mác cho rađời tác phẩm “Lời nói đầu – Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hê-ghen”, tác phẩm này đã cho thấy sự nhân thức của Mác về vai trò của lý luận vàthực tiễn, hay ông nói đến tính giai cấp – giai cấp công nhân là vật chất của triếthọc mác xít, triết học mác xít là vũ khí tinh thần của giai cấp công nhân, lý luậnphải được thâm nhập vào quần chúng mới có thể làm thay đổi lịch sử Đây

Trang 7

chính là tác phẩm đánh dấu bước chuyển biến hoàn toàn của C.Mác từ CNDTsang CNDV, từ lập trường dân chủ cách mạng sang CNCS.

Còn Ph.Ăng-ghen, ông đi từ Đức sang Anh và bắt đầu nghiên cứu đời sốngchính trị Anh; các học thuyết kinh tế - chính trị học Anh; tham gia vào cácphong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Anh (phong trào Hiến Chương);đồng thời viết nhiều tác phẩm gửi đến “Niên giám Pháp – Đức” thông qua đóphê phán đời sống chính trị Anh, phân tích chính trị Anh, phê phán tư tưởngphản động của Tô-mát Các-lây Năm 1844, Ph.Ăng-ghen cho ra đời tác phẩm

“Lược thảo phê phán khoa kinh tế - chính trị học” – tác phẩm này ông chủtrương phê phán chính trị - kinh tế học của Adam-smith và Ri-các-đô, trong đóông đứng trên quan điểm của chủ nghĩa xã hội coi những hiện tượng cơ bản củachế độ kinh tế là hậu quả tất nhiên của sự thống trị của chế độ tư hữu… Đâychính là tác phẩm đánh dấu bước chuyển biến hoàn toàn của Ph.Ăng-ghen từCNDT sang CNDV, từ lập trường dân chủ cách mạng sang CNCS

Trang 8

Phần 2 CÁC MÁC VÀ PH.ĂNG-GHEN TRÌNH BÀY NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CNDV – LỊCH SỬ TRONG GIAI

Những nguyên lý cơ bản của CNDV – lịch sử được trình bày trong giaiđoạn này, tôi sẽ khái quát như sau:

─ Giai cấp và đấu tranh giai cấp

─ Vai trò của thực tiễn

─ Con người và hoạt động, bản chất của con người

─ Vai trò của quần chúng nhân dân

─ Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn

─ Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

─ Vấn đề tôn giáo

─ Con người là xuất phát điểm của lịch sử - xã hội

─ Sản xuất vật chất là nền tảng của tồn tại xã hội, của tiến bộ xã hội

Trang 9

─ Hình thái kinh tế - xã hội và mối quan hệ giữa: lực lượng sản xuất (LLSX) vàquan hệ sản xuất (QHSX), cơ sở hạ tầng (CSHT) và kiến trúc thượng tầng(KTTT), tồn tại xã hội (TTXH) và ý thức xã hội (YTXH).

─ Nguyên nhân của mâu thuẫn giai cấp

─ Lịch sử của xã hội có giai cấp là xã hội đấu tranh giai cấp

Những nguyên lý cơ bản trên được C.Mác và Ph.Ăng-ghen trình bày tronggiai đoạn 1844 – 1848 trong các tác phẩm sau:

─ “Bản thảo kinh tế - triết học 1844” – C.Mác – 1844

─ “Tình cảnh giai cấp công nhân ở Anh” – Ph.Ăng-ghen – 1845

─ “Gia đình thần thánh” – C.Mác và Ph.Ăng-ghen – 1845

─ “Luận cương về Phơ – bách” – C.Mác – tháng 4/1845

─ “Hệ tư tưởng Đức” – C.Mác và Ph.Ăng-ghen – 1845-1846

─ “Sự khốn cùng của triết học” – C.Mác – 1847

─ “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” – C.Mác và Ph.Ăng-ghen – 1848

II Các tác phẩm và những nguyên lý cơ bản của CNDV – lịch sử (1844 – 1848):

1) Tác phẩm “Bản thảo kinh tế - triết học 1844” – C.Mác – 1844:

Trong tác phẩm này, C.Mác đã trình bày những nguyên lý xuất phát củaCNDV – biện chứng và CNDV – lịch sử, áp dụng chúng vào việc nghiên cứukinh tế - chính trị học, qua đó luận chứng cho thế giới quan cộng sản chủ nghĩa

Tư tưởng chủ đạo của tác phẩm là thừa nhận vai trò quyết định của sản xuất vậtchất và cắt nghĩa vấn đề tha hóa của bản chất con người thông qua lao động bịtha hóa và tìm con đường để khắc phục nó Mặc dù tác phẩm chưa được hoànthành nhưng nó có ý nghĩa lớn lao đối với việc hình thành quan điểm triết họccủa C.Mác, đặc biệt là chủ nghĩa duy vật lịch sử

Từ năm 1844, C.Mác có nhiều thời gian hơn để nghiên cứu những vấn đề

mà ông muốn làm khi còn ở báo “Sông Ranh” , một lần ông đọc được “Bản

Trang 10

thảo góp phần phê phán kinh tế - chính trị học” của Ph.Ăng-ghen và tác phẩmnày đã tạo ra sự kích thích để C.Mác bắt tay nghiên cứu kinh tế - chính trị học.Sau một thời gian, kết quả của quá trình nghiên cứu miệt mài của C.Mác là sự

ra đời của tác phẩm “Bản thảo kinh tế - triết học 1844”

Trong tác phẩm này, trên cơ sở phê phán có tính kế thừa quan điểm củaA.Smith và D.Ricardo, ông đã vạch trần tính hạn chế của kinh tế - chính trị tưsản trong luận điểm về tính vĩnh viễn của chế độ tư hữu, khi họ khẳng địnhrằng tư hữu là thuộc tính của con người; nhưng lại cho rằng, sự tồn tại củanhững người vô sản (người không có tài sản) là hợp lý, là tự nhiên Đây thực sự

là một luận điểm thể hiện rõ tính chất mâu thuẫn Đứng trên lập trường duy vật,C.Mác tuyên bố: cần phải xóa bỏ chế độ tư hữu, để trả lại bản chất “người” đíchthực cho con người; để làm được điều đó thì cần phải làm cách mạng và ngườilàm cách mạng chính là giai cấp công nhân và đông đảo nhân dân lao động.Điều này đã cho thấy quan điểm của C.Mác về đấu tranh giai cấp và sứ mệnhlịch sử của giai cấp công nhân, giai câp vô sản

Tư tưởng chủ đạo trong tác phẩm này là tư tưởng về vai trò quyết định củalao động, của sản xuất vật chất đối với con người Trước hết, C.Mác đánh giácao tư tưởng của A.Smith và D.Ricardo coi lao động tạo ra giá trị - điều nàykhác với những quan điểm trước đó cho rằng giá trị hàng hóa được tạo ra tronglưu thông, trong ý nghĩa sử dụng Sau đó, C.Mác phê phán quan điểm tư sản coilao động chỉ là thuần túy sáng tạo ra hàng hóa Ông chứng minh rằng, lao độngcòn sáng tạo ra chính bản thân con người, tiếp tục phát triển con người và toàn

bộ lịch sử nhân loại Hoạt động sản xuất vật chất chính là cơ sở, nền tảng cho

sự phát triển của con người, của tồn tại xã hội Đây chính là quan điểm thể hiện

tư tưởng của C.Mác về vai trò của thực tiễn và vai trò của sản xuất vật chất vớitồn tại xã hội, nó tạo tiền đề cho việc xây dựng học thuyết về hình thái kinh tế -

xã hội của ông

Trang 11

Bên cạnh đó, C.Mác còn phê phán triết học cổ điển Đức (mà tập trung vàotriết học Hê-ghen) ở chỗ, Hê-ghen duy tâm nên quan niệm về mọi thứ đều trừutượng, thần bí và khó hiểu Khi nói về hoạt động của con người, Hê-ghen chỉ đềcao và tuyệt đối hóa hoạt động của ý thức, tình thần mà điều này theo C.Mácđánh giá là thần bí hóa con người Hê-ghen cũng không hiểu được mặt tiêu cựccủa lao động trong điều kiện chế độ tư hữu, trong nền sản xuất xã hội mang tínhđối kháng Qua đó, C.Mác phân tích và vạch rõ chính chế độ tư hữu làm chocon người bị tha hóa, biểu hiện trên hai phương diện: Thứ nhất, sự tha hóa củanhững công nhân trong sản phẩm lao động họ làm ra, nhưng lại không thuộc về

họ - “Người công nhân càng tạo ra nhiều hàng hóa, anh ta lại trở thành một

hàng hóa càng rẻ mạt Thế giới vật phẩm càng tăng thêm giá trị thì thế giới con người càng mất giá trị” Thứ hai, sự tha hóa của người công nhân biểu hiện

trong hành vi sản xuất và trong bản thân hoạt động sản xuất Người công nhân

lẽ ra phải được “phát huy một cách tự do nghị lực thể chất và tinh thần” củamình thì họ lại cảm thấy mình đang “làm kiệt quệ thân thể mình và phá hoạitinh thần của mình” Những sản phẩm do người công nhân làm ra thuộc vềnhững người nắm giữ tư liệu sản xuất là địa chủ và tư bản C.Mác cho rằng, đó

là những kẻ có đặc quyền và ăn không ngồi rồi Ông còn gọi đó là “nhữngngười sở hữu” Còn người công nhân, do không có sở hữu về tư liệu sản xuất

và tư liệu sinh hoạt xã hội nên phải làm thuê để nhận một khoản tiền công ít ỏi,không tương xứng với lao động mà họ đã làm cho những người sở hữu Laođộng của người công nhân chịu sự chi phối của sự tích tụ, tích lũy tư bản Vìvậy, lao động của họ không thuộc về mình, mà thuộc về những người sở hữu.Trong quan điểm của C.Mác về tư hữu và xóa bỏ chế độ tư hữu, có thể thấykhông chỉ “những công nhân không có sở hữu” mới bị tha hóa, mà ngay cả

“những người sở hữu” cũng bị tha hóa Tuy nhiên, khác với sự tha hóa ở ngườicông nhân, sự tha hóa của những người sở hữu biểu hiện ra ở “trạng thái thahóa” Thuật ngữ “tha hóa” đã được Hê-ghen và Phoi-bách dùng, với Hê-ghen –

Trang 12

“tha hóa” là “ý niệm tuyệt đối” bị tha hóa thành giới tự nhiên xã hội, tự nhiên

xã hội lại biến đổi và khắc phục để trở thành “ý niệm tuyệt đôi” Với Phơ-bách– “tha hóa” là sự tha hóa về tình cảm đạo đức, bởi con người trong triết học củaông là cong người sinh học Đến C.Mác, ông đã chỉ ra tính duy vật và biệnchứng trong quan điểm về “tha hóa” và “tự tha hóa” của mình Nghiên cứu tácphẩm này, ta có thể nhận thấy quan điểm của ông về việc người lao động làmthuê bị hạ thấp ngang với máy móc, họ cảm thấy mình chỉ còn là “con vật”.Người sở hữu thì không lao động, còn người lao động thì không được quyền sởhữu, và xã hội vận động trong hai cực đối lập ấy Vì vậy, chỉ có xóa bỏ chế độ

tư hữu mới giải quyết được sự đối lập trong xã hội, đồng thời mới thực hiệnđược giải phóng con người Nhưng xóa bỏ tư hữu ở đây không phải là xóa bỏ

sở hữu mang tính cá nhân, mà là xóa bỏ tư hữu về tư bản, vì tư hữu tư bản là cơ

sở để bóc lột sức lao động của người khác Những tư tưởng, quan điểm trên củaC.Mác chính là cơ sở để ông hình thành học thuyết về giá trị thặng dư của kinh

tế - chính trị học mác xít

Tác phẩm “Bản thảo kinh tế - triết học 1844” của C.Mác là cái mốc quantrọng trong việc hình thành các quan điểm triết học của ông và khởi thảo cácnguyên lý xuất phát trong triết học Mác Mặc dù tác phẩm này C.Mác vẫn chưagọi mình là người cộng sản và ông cũng chưa gọi học thuyết của ông là chủnghĩa cộng sản nhưng nó đã thể hiện được lập trường, tư tưởng cách mạng chânchính của C.Mác, đồng thời luận chứng cho thế giới quan của chủ nghĩa cộngsản – chủ nghĩa nhân đạo hiện thực, tự nhiên hoàn bị nhất

2) Tác phẩm “Tình cảnh giai cấp công nhân ở Anh” – Ph.Ăng-ghen – 1845:

Năm 1845, Ph.Ăng-ghen xuất bản cuốn “Tình cảnh giai cấp công nhân ởAnh”, trong đó ông nghiên cứu sự phát sinh, hình thành và phát triển của giaicấp vô sản, tình cảnh của họ trong xã hội tư bản, vai trò của họ trong việc thủ

Trang 13

tiêu chủ nghĩa tư bản, từ đó ông kêu gọi phải đoàn kết họ thành một giai cấpthống nhất

Tác phẩm này của Ph.Ăng-ghen là kết quả của quá trình nghiên cứu đờisống kinh tế - chính trị Anh và việc ông tham gia hoạt động trong các phongtrào đấu tranh của công nhân Anh; do vậy tác phẩm là sự đúc kết, trải nghiệm

từ chính những điều kiện thực tế phong phú và chân thực nhất Đứng trên quanđiểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, Ph.Ăng-ghen đã rút ra kết luận:Bản thân hoàn cảnh kinh tế của giai cấp công nhân tất nhiên buộc họ phải đấutranh với xã hội tư bản Chính vì thế giai cấp vô sản không những là giai cấpđau khổ nhất mà còn là giai cấp đấu tranh và giai cấp vô sản đấu tranh để tựcứu lấy mình Đồng thời, Ph.Ăng-ghen còn phân tích tính ưu việt về tri thức vàđạo đức của giai cấp công nhân so vơi giai cấp tư sản Ông nhấn mạnh rằng,giai cấp vô sản đã bảo tồn trong bản thân mình những lực lượng dân tộc và khảnăng phát triển hơn nữa của lực lượng ấy

Tác phẩm này có ý nghĩa là vũ khí đắc lực trong cuộc đấu tranh tư tưởng

và lý luận chống những trào lưu tư tưởng, lý luận tiểu tư sản, tư sản phản động;

đề xuất những quan điểm tư tưởng có tính chất khoa học và cách mạng Qua tácphẩm, Ph.Ăng-ghen bác bỏ những quan điểm lý luận tôn sùng chế độ tư hữunói chung, chế độ sở hữu tư sản nói riêng; vạch trần chế độ bóc lột, áp bức, chế

độ cạnh tranh vô chính phủ dẫn đến khủng hoảng và thất nghiệp, nạn bần cùngđói khổ, địa vị kinh tế - xã hội thấp kém của giai cấp công nhân trong xã hội tưbản Qua việc tiếp xúc, đi sâu vào phong trào của giai cấp công nhân, Ph.Ăng-ghen đã nhận thấy sức mạnh tiềm ẩn của giai cấp công nhân – họ là giai cấp cókhả năng và tất yếu sẽ là lực lượng đấu tranh tiêu diệt chế độ tư hữu tư sản, xâydựng chế dộ chông hữu cộng sản chủ nghĩa và xóa bỏ mọi áp bức, bất côngtrong xã hội Do vậy cần phải gắn kết toàn thể giai cấp công nhân thành mộtkhối vững chắc để có thể thực thi vai trò lịch sử của mình

Trang 14

Với tất cả những ý nghĩa sâu sắc của tác phẩm, V.I.Lê-nin đã đánh giá tácphẩm là sự tố cáo đáng sợ nhất đối với chủ nghĩa tư bản và giai cấp tư sản, ấntượng mà nó gây ra là rất lớn.

Như vậy, mặc dù C.Mác và Ph.Ăng-ghen hoạt động độc lập với nhaunhưng đều có chung những quan điểm giống nhau về triết học, về đời sống xãhội và về những nhiệm vụ của giai cấp vô sản Từ mùa xuân 1845, Ph.Ăng-ghen đến Brucxen, hai con người cùng chí hướng có cơ hội được trình bày vớinhau những nguyên lý của một thế giới quan mới, và không có gì ngạc nhiênkhi cả hai đều phát hiện ra những nguyên lý tương tự nhau Sau này, họ cùngnhau viết một số tác phẩm chung thể hiện những tư tưởng, quan điểm khoa họccủa mình, và là những lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân và nhân dân laođộng toàn thế giới

3) Tác phẩm “Gia đình thần thánh” – C.Mác, Ph.Ăng-ghen – 1845:

Tác phẩm “Gia đình thần thánh” hay “Phê phán sự phê phán có tính phêphán” do C.Mác và Ph.Ăng-ghen cùng viết nhằm phê phán tính phê phán củaanh em Bruno – Bauer và những người của phái Hê-ghen trẻ - phái này là bộphận trí thức vô chính phủ, tự đề cao mình (hữu khuynh) và kết tội C.Mác ,Ph.Ăng-ghen đã không phê phán giai cấp công nhân Thông qua tác phẩm,C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã trình bày sâu hơn về những nguyên lý triết học duyvật biện chứng và duy vật lịch sử của mình

Tác phẩm này gồm có 9 chương, được in thành cuốn sách khổ nhỏ dày hơn

20 trang, do vậy mà theo quy định thời bấy giờ của một số bang ở nước Đức thìcuốn sách đã không bị cơ quan kiểm tra sách báo kiểm duyệt trước Trong tácphẩm, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã kịch liệt phê phán quan điểm của phái Hê-ghen trẻ khi họ đã phủ nhận vai trò của quần chúng nhân dân, họ coi động lựccủa tiến bộ xã hội là ở hoạt động tinh thần của những nhà phê phán xuất sắc,theo họ quần chúng nhân dân chỉ là những kẻ ngu muội Trên cơ sở đó, C.Mác

Trang 15

chúng nhân dân, đồng thời ông cũng nhận thấy rằng mọi nhiệm vụ của lịch sửđều do quần chúng nhân dân giải quyết Thực vậy, nếu chúng ta tìm hiểu vềlịch sử phát triển của xã hội loài người, đều sẽ nhận thấy vai trò hết sức quantrọng này của quần chúng, ví như trong cuộc cách mạng tư sản – giai cấp tư sảnlàm cách mạng để đánh đổ chế độ quân chủ đã lỗi thời để xây dựng chế độ dânchủ thì đều là từ những cuộc khởi nghĩa của quần chúng nhân dân và đưa đến

sự thắng lợi cuối cùng Qua đó, ta hiểu rằng, C.Mác đã nhìn thấy được hoạtđộng chính trị - xã hội của con người, của quần chúng nhân dân, đồng thời họcũng là lực lượng sản xuất của xã hội Bên cạnh đó, C.Mác cũng khẳng địnhnhững người công nhân không phải những kẻ ngu muội, họ hiểu rằng không thểthoát khỏi ách áp bức, bóc lột bằng tư duy thuần túy; bởi những thứ họ bóc lột

và bóc lột họ đều là sản phẩm rất thực tế, rất cụ thể nên chúng cũng phải bị xóa

bỏ bằng phương thức thực tế và cụ thể Do vậy, không đấu tranh thì không tựgiải phóng khỏi những quan hệ vật chất hiện thức đang nô dịch con người.C.Mác và Ph.Ăng-ghen cho rằng, vai trò của quần chúng nhân dân trướcđây chưa thể hiện rõ, bởi vì các cuộc cách mạng trước đó chưa giải quyết đượcquyền lợi của họ Còn các cuộc cách mạng sau này đã phản ánh và giải quyếtđược quyền lợi của quần chúng nhân dân, cho nên vai trò của quần chúng nhânđược phát huy rõ rệt Hai ông đã chỉ ra: chế độ tư hữu và giai cấp công nhân làhai mặt đối lập, tất yếu dẫn đến đấu tranh xóa bỏ tư hữu, xây dựng chế độ cônghữu, để làm được điều đó cần thông qua cách mạng Quần chúng nhân dân luônđóng vai trò trung tâm của lịch sử, đặc biệt trong thời đại này là sự phát triểnmạnh mẽ của giai cấp công nhân, họ ra đời từ trong lòng sản xuất tư bản chủnghĩa nên họ chính là lực lượng tiên phong tiến hành đấu tranh cách mạngnhằm xóa bỏ tư hữu, xóa bỏ người bóc lột người Như vậy, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã nhìn thấy sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là điều tất yếu bới nó

do các điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội khách quan mang lại, như: giai cấpcông nhân có lợi ích thống nhất với lợi ích của các giai cấp lao động khác, nên

Ngày đăng: 24/07/2018, 13:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w