1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật biểu hiện trong sinh học

56 207 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 382,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Như chúng ta đã biết, triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí của con người trong thế giới ấy 17. Còn sinh học là ngành khoa học tự nhiên nghiên cứu về giới tự nhiên hữu cơ và các quy luật của sinh giới 15. Từ rất xa xưa, các nhà triết học cổ đã xem khoa học tự nhiên, trong đó có sinh học là một bộ phận của triết học, các vấn đề của sinh học đồng thời cũng là các vấn đề của triết học, triết học và khoa học tự nhiên luôn gắn bó mật thiết và làm tiền đề tồn tại cho nhau. Đến thế kỷ XV sinh học đã tách ra khỏi triết học và phát triển thành một ngành khoa học độc lập: nghiên cứu về giới tự nhiên hữu cơ và các quy luật của nó – một dạng vật chất phức tạp, thì việc sử dụng những hiểu biết về sinh học để nhận thức một cách toàn diện về triết học lại càng cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn lớn lao. Các kiến thức cơ bản, hiện đại của sinh học sẽ giúp chúng ta có kiến thức cơ sở vững chắc để nhận thức làm sáng tỏ các khía cạnh của triết học 15. Trong thời đại khoa học công nghệ đang phát triển mạnh mẽ và trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thì việc nghiên cứu các vấn đề triết học của khoa học tự nhiên hiện đại trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng có giá trị vô cùng to lớn cả về mặt lý luận và mặt thực tiễn. Triết học cung cấp cho nhà khoa học thế giới quan và phương pháp luận chung nhất để nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên, mặt khác, bản thân triết học đến lượt nó cũng được phong phú thêm bằng những phát minh của khoa học tự nhiên. Cho nên, hiện nay vấn đề nghiên cứu về mối liên hệ giữa triết học với khoa học tự nhiên, trong đó có sinh vật học là một trong những vấn đề trung tâm của công tác nghiên cứu, học tập và giảng dạy triết học. Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã góp phần định hướng cho sự phát triển của sinh học. Từ khi tách ra khỏi triết học và trở thành một khoa học độc lập, sinh học ngày càng đạt được nhiều thành tựu có giá trị, là căn cứ tin cậy, là bằng chứng khoa học sáng giá chứng minh cho các nguyên lý, các quy luật của triết học. Nắm vững các kiến thức cơ bản của sinh học hiện đại sẽ giúp cho con người có cơ sở vững chắc để nhận thức, làm sáng tỏ các khía cạnh của triết học, ngược lại các kết luận của triết học sẽ được củng cố và hoàn thiện, đó là nhiệm vụ của triết sinh học. Với lý do trên, em đã chọn vấn đề “Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật biểu hiện trong sinh học” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp đại học.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Như chúng ta đã biết, triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất

của con người về thế giới; về vị trí của con người trong thế giới ấy [17] Còn

sinh học là ngành khoa học tự nhiên nghiên cứu về giới tự nhiên hữu cơ và

các quy luật của sinh giới [15].

Từ rất xa xưa, các nhà triết học cổ đã xem khoa học tự nhiên, trong đó

có sinh học là một bộ phận của triết học, các vấn đề của sinh học đồng thờicũng là các vấn đề của triết học, triết học và khoa học tự nhiên luôn gắn bómật thiết và làm tiền đề tồn tại cho nhau

Đến thế kỷ XV sinh học đã tách ra khỏi triết học và phát triển thành mộtngành khoa học độc lập: nghiên cứu về giới tự nhiên hữu cơ và các quy luậtcủa nó – một dạng vật chất phức tạp, thì việc sử dụng những hiểu biết về sinhhọc để nhận thức một cách toàn diện về triết học lại càng cần thiết và có ýnghĩa thực tiễn lớn lao Các kiến thức cơ bản, hiện đại của sinh học sẽ giúpchúng ta có kiến thức cơ sở vững chắc để nhận thức làm sáng tỏ các khía cạnh

của triết học [15].

Trong thời đại khoa học công nghệ đang phát triển mạnh mẽ và trởthành lực lượng sản xuất trực tiếp, thì việc nghiên cứu các vấn đề triết học củakhoa học tự nhiên hiện đại trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng có giá trị

vô cùng to lớn cả về mặt lý luận và mặt thực tiễn Triết học cung cấp cho nhàkhoa học thế giới quan và phương pháp luận chung nhất để nghiên cứu cáchiện tượng tự nhiên, mặt khác, bản thân triết học đến lượt nó cũng đượcphong phú thêm bằng những phát minh của khoa học tự nhiên Cho nên, hiệnnay vấn đề nghiên cứu về mối liên hệ giữa triết học với khoa học tự nhiên,

Trang 2

trong đó có sinh vật học là một trong những vấn đề trung tâm của công tácnghiên cứu, học tập và giảng dạy triết học.

Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã góp phần định hướng cho sự phát triểncủa sinh học Từ khi tách ra khỏi triết học và trở thành một khoa học độc lập,sinh học ngày càng đạt được nhiều thành tựu có giá trị, là căn cứ tin cậy, làbằng chứng khoa học sáng giá chứng minh cho các nguyên lý, các quy luậtcủa triết học Nắm vững các kiến thức cơ bản của sinh học hiện đại sẽ giúpcho con người có cơ sở vững chắc để nhận thức, làm sáng tỏ các khía cạnhcủa triết học, ngược lại các kết luận của triết học sẽ được củng cố và hoànthiện, đó là nhiệm vụ của triết - sinh học

Với lý do trên, em đã chọn vấn đề “Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật biểu hiện trong sinh học” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp đại

Trang 3

- Nguyễn Trọng Chuẩn Một số khía cạnh về vai trò của sinh học hiệnđại với sự hình thành và củng cố thế giới quan khoa học Tạp chí triết học số

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

Mục đích của đề tài

Thông qua việc tiếp cận kiến thức cơ bản và các thành tựu của sinh họchiện đại giúp cho người học tập và nghiên cứu triết học hình thành được thếgiới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng trong việc nghiên cứu giới

tự nhiên hữu cơ; đồng thời có cơ sở khoa học đáng tin cậy để nhận thức đúngđắn các vấn đề cơ bản trong triết học theo quan điểm duy vật biện chứng, từ

đó có khả năng vận dụng hiệu quả các tri thức khoa học đó vào thực tiễn laođộng sản xuất

Trang 4

Nhiệm vụ của đề tài

Với mục tiêu trên đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:

+ Phân tích hai nguyên lý của phép biện chứng một cách cơ bản nhất, từ

đó thấy được vai trò của các nguyên lý

+ Phân tích sự biểu hiện của hai nguyên lý triết học trong sinh học ở cáccấp độ của sinh giới: dưới cơ thể, cơ thể và trên cơ thể

Phạm vi nghiên cứu

Những vấn đề triết học trong sinh học vẫn còn là một vấn đề khó và vôcùng rộng, cần nhiều thời gian và tập trung trí tuệ của nhiều nhà nghiên cứu.Với thời gian nghiên cứu không nhiều và trình độ của người nghiên cứu cònhạn chế, cho nên trong một giới hạn của một khóa luận tốt nghiệp thì em chỉxin phép đi sâu vào tìm hiểu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý

về sự phát triển biểu hiện trong sinh học

4 Phương pháp nghiên cứu

Ngoài phương pháp luận Duy vật biện chứng định hướng cho tất cả cáckhoa học trong lĩnh vực tự nhiên cũng như trong xã hội, đề tài còn sử dụngphương pháp nghiên cứu lý thuyết trong đó gồm có một số phương pháp cụthể như sau:

 Phương pháp lịch sử cụ thể

 Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu

 Phương pháp thống kê

 Phương pháp so sánh…

Trang 5

5 Đóng góp mới của đề tài

- Thấy được mối liên hệ mật thiết giữa triết học và sinh học Trong đó,triết học đóng vai trò phương pháp luận, định hướng cho sinh học phát triển.Còn sinh học là các dẫn liệu khoa học để làm sáng tỏ các quan niệm triết học

- Làm rõ sự vận động của các nguyên lý của phép biện chứng duy vậttrong sinh học ở các cấp độ của sinh giới

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đềtài gồm 2 chương, 5 tiết:

 Chương 1: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến biểuhiện trong sinh học

 Chương 2: Nguyên lý về sự phát triển biểu hiệntrong sinh học

Trang 6

CHƯƠNG 1 NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN

BIỂU HIỆN TRONG SINH HỌC

Phép biện chứng duy vật là kết quả của sự nghiên cứu rút ra từ giới tựnhiên, cũng như lịch sử xã hội loài người Mỗi nguyên lý, quy luật, phạm trùcủa phép biện chứng đều được khái quát và giải thích trên cơ sở khoa họcvững chắc Vì thế, phép biện chứng duy vật ngay từ khi mới ra đời thực sự đãtrở thành phương pháp luận chung nhất để nhận thức khoa học và các vấn đềthực tiễn

Phép biện chứng duy vật dựa trên cơ sở một hệ thống những nguyên lý,những phạm trù cơ bản, những quy luật phổ biến, phản ánh đúng đắn hiện

thực khách quan Trong hệ thống đó, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và

nguyên lý về sự phát triển là hai nguyên lý khái quát nhất Vì thế Angghen đãkhẳng định: "Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quyluật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài

người và cả tư duy" [17].

1.1 Những vấn đề chung của nguyên lý mối liên hệ phổ biến

Thế giới được tạo thành từ những sự vật, những hiện tượng, những quátrình khác nhau Vậy giữa chúng có mối liên hệ qua lại với nhau, ảnh hưởnglẫn nhau hay chúng tồn tại biệt lập, tách rời nhau? Nếu chúng tồn tại trong sựliên hệ qua lại thì nhân tố gì quy định sự liên hệ đó?

Để trả lời cho câu hỏi thứ nhất, những người theo quan điểm siêu hìnhcho rằng các sự vật và các hiện tượng tồn tại một cách tách rời nhau, cái nàybên cạnh cái kia; giữa chúng không có sự phụ thuộc, không có sự ràng buộclẫn nhau; có chăng chỉ là sự liên hệ hời hợt bên ngoài, mang tính ngẫu nhiên

Trang 7

Tuy nhiên cũng có người thừa nhận sự liên hệ và đặc tính đa dạng của nó,nhưng lại phủ nhận khả năng chuyển hóa lẫn nhau giữa các hình thức liên hệkhác nhau

Ngược lại những người theo quan điểm biện chứng coi thế giới như mộtchỉnh thể thống nhất Các sự vật, hiện tượng và quá trình cấu thành thế giới

đó vừa tách biệt nhau, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hóa lẫn

nhau Và khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ tính phổ biến của các

mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới, đồng thời cũng dùng để chỉ các mối quan hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới trong đó những mối liên hệ phổ biến nhất là những mối liên hệ tồn tại ở trong mọi sự

vật, hiện tượng của thế giới [21].

Khi trả lời câu hỏi thứ hai, những người theo chủ nghĩa duy tâm tìm cơ

sở của sự liên hệ, sự tác động qua lại giữa các sự vật và hiện tượng ở các lựclượng siêu tự nhiên hay ở ý thức, ở cảm giác của con người, chẳng hạn nhưnhà duy tâm chủ quan Beccơli coi cơ sở của sự liên hệ giữa các sự vật, hiệntượng là cảm giác; hay nhà duy tâm khách quan Hêghen tìm cơ sở của sự liên

hệ qua lại giữa các sự vật, hiện tượng ở ý niệm tuyệt đối

Trong khi đó những người theo quan điểm duy vật biện chứng thì khẳng

định rằng cơ sở của sự liên hệ qua lại giữa các sự vật và hiện tượng là tính

thống nhất vật chất của thế giới Theo quan điểm này các sự vật, các hiện

tượng trên thế giới dù có đa dạng hay khác nhau như thế nào đi nữa thì chúngcũng chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của một thế giới duy nhất là thế giớivật chất Ngay cả tư tưởng, ý thức của con người vốn là những cái phi vậtchất cũng chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ ócngười, nội dung của chúng cũng chỉ là kết quả phản ánh của các quá trình vật

chất khách quan [22].

Trang 8

Quan điểm duy vật biện chứng còn khẳng định tính khách quan, tính

phổ biến của sự liên hệ giữa các sự vật, các hiện tượng, các quá trình Khách

quan tức là các mối liên hệ này tồn tại một cách độc lập không phụ thuộc vào

ý thức con người Theo quan điểm biện chứng thì không có bất kỳ sự vật, hiệntượng hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối biệt lập với các sự vật, hiện tượnghay quá trình khác Như vậy, tính phổ biến được hiểu là không có bất kỳ sựvật, hiện tượng không phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm những yếu tốcấu thành với những mối liên hệ bên trong của nó, tức là bất cứ một tồn tạinào cũng là một hệ thống, hơn nữa là hệ thống mở, tồn tại trong mối liên hệvới hệ thống khác, tương tác và làm biến đổi lẫn nhau

Mặt khác, quan điểm duy vật biện chứng cũng thừa nhận tính đa dạng

của sự liên hệ qua lại đó Có mối liên hệ bên ngoài-bên trong; mối liên hệ chủyếu-thứ yếu; mối liên hệ bản chất-không bản chất; mối liên hệ tất yếu-ngẫunhiên; mối liên hệ giữa các sự vật khác nhau-các mặt khác nhau của cùng một

sự vật tính đa dạng của sự liên hệ đó do tính đa dạng trong sự tồn tại, sự vậnđộng và phát triển của chính các sự vật, hiện tượng quy định

Các loại liên hệ khác nhau có vai trò khác nhau đối với sự vận động và

phát triển của các sự vật và hiện tượng [22].

Mối liên hệ bên trong là mối liên hệ qua lại, là sự tác động lẫn nhau

giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt khác nhau của một

sự vật; nó giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của

sự vật Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, các hiện tượng

khác nhau; nói chung nó không có ý nghĩa quyết định và nó thường phảithông qua mối liên hệ bên trong mà phát huy tác dụng đối với sự vận động vàphát triển của sự vật

Trang 9

Mối liên hệ bản chất và không bản chất, mối liên hệ tất nhiên và ngẫu nhiên cũng có tính chất tương tự như đã nêu ở trên, ngoài ra chúng cũng có

một số nét đặc thù Chẳng hạn, cái là ngẫu nhiên khi xem xét trong mối quan

hệ này, nhưng là cái tất nhiên trong mối quan hệ khác; hiện tượng là hình thứcbiểu hiện ít nhiều của bản chất

Như vậy, quan điểm duy vật biện chứng về sự liên hệ đòi hỏi phải thừanhận tính tương đối trong sự phân loại đó Các loại liên hệ khác nhau có thểchuyển hóa lẫn nhau, sự chuyển hóa như vậy có thể diễn ra hoặc do thay đổiphạm vi bao quát khi xem xét, hoặc do kết quả vận động khách quan củachính sự vật và hiện tượng

Từ việc nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của các sự vật và

hiện tượng chúng ta rút ra được quan điểm toàn diện trong việc nhận thức,

xem xét các sự vật và hiện tượng cũng như trong hoạt động thực tiễn

Với tư cách là một nguyên tắc phương pháp luận trong việc nhận thứccác sự vật và hiện tượng, quan điểm toàn diện đòi hỏi để có được nhận thứcđúng đắn về sự vật, chúng ta phải xem xét nó: trong mối liên hệ qua lại giữacác bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật đó;trong mối liên hệ qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác (kể cả trực tiếp vàgián tiếp) Đề cập tới nội dung vừa nêu trong phương pháp nhận thức sự vật,Lênin viết: “muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiêncứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vậtđó”

Tính chất đa dạng, phong phú của các mối liên hệ đã cho thấy tronghoạt động nhận thức và thực tiễn khi thực hiện quan điểm toàn diện thì đồng

thời cũng cần phải kết hợp với quan điểm lịch sử - cụ thể Quan điểm này yêu

cầu trong nhận thức và xử lý các tình huống trong hoạt động thực tiễn cần

Trang 10

phải xét đến những tính chất đặc thù của đối tượng nhận thức và tình huốngphải giải quyết khác nhau trong thực tiễn Phải xác định rõ vị trí, vai trò khácnhau của mỗi mối liên hệ cụ thể trong những tình huống cụ thể để có nhữnggiải pháp đúng đắn và hiệu quả trong việc xử lý các vấn đề trong thực tiễn.

1.2 Nguyên lý mối liên hệ phổ biến biểu hiện trong sinh học

1.2.1 Đặc trưng của mối liên hệ phổ biến biểu hiện trong sinh học

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đã khái quát được bức tranh toàncảnh về thế giới trong những mối liên hệ chằng chịt giữa các sự vật, hiệntượng của nó Theo quan điểm của triết học duy vật biện chứng: Mối liên hệ

là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sựchuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự

vật, hiện tượng trong thế giới [21] Mối liên hệ phổ biến được biểu hiện rất đa

dạng ở các cấp độ của sự sống, cấp độ dưới cơ thể, cơ thể và trên cơ thể

a Cấp độ dưới cơ thể

Mối liên hệ phổ biến biểu hiện ở cấp độ dưới cơ thể cũng thể hiện rất rõkhi phân tích các thành phần hóa học của sự sống, người ta đã phát hiện 74nguyên tố trong tổng số 104 nguyên tố hóa học có trong tự nhiên Trong đónhóm nguyên tố đa lượng chiếm 99,95% trọng lượng khô của tế bào (với cácnguyên tố C, H, O chiếm 65%; K, Na, Ca, Mg, Fe, Cl, Si, Al chiếm 0,05 -1%) các nguyên tố đa lượng có vai trò chủ yếu là thành phần cơ bản xây dựngnên các hợp chất hữu cơ của tế bào để kiến tạo cơ thể sống Mặt khác, cácnguyên tố đa lượng còn có vai trò điều hòa các quá trình sinh lý của cơ thểsống thông qua việc là thành phần cấu tạo nên các hệ enzim Cho nên, nếuthiếu hoặc thừa các nguyên tố này đều không có lợi cho quá trình hình thành

và đổi mới tế bào của cơ thể sống Chẳng hạn, trong cơ thể canxi là chấtkhoáng có nhiều nhất, nếu thiếu canxi sẽ gây hiện tượng tê cứng các ngón tay

Trang 11

và chân, chuột rút, loãng xương; thiếu Mg sẽ gây chán ăn, buồn nôn, mệtmỏi…nhưng nếu thừa sẽ gây hiện tượng ngất, phản xạ gân và xương giảm,yếu cơ

Sau các nguyên tố đa lượng là nhóm nguyên tố vi lượng và siêu vilượng, nhóm nguyên tố vi lượng là những nguyên tố có lượng chứa chiếm rấtnhỏ, từ 10-5 đến 10-3% trọng lượng khô như Fe, Mo, Cu, Zn, B, Ni, I, Br,Co và các nguyên tố siêu vi lượng như Cs, Se, Cd, Ag, Au, Hg, Ra có hàmlượng ít hơn 10-6 (ví dụ, lượng chứa của Hg trong cây khoảng 10-7%) Tuylượng chứa nhỏ nhưng chúng lại có giá trị sinh học cao, chúng chủ yếu đóngvai trò là cầu nối trong sự hình thành các cao phân tử và các tổ hợp đa phân

tử, điều hòa và thúc đẩy các quá trình trao đổi chất, là thành phần cấu trúc nên

tế bào của cơ thể sống Do đó, việc thiếu hoặc thừa các nguyên tố này đều dẫnđến rối loạn quá trình trao đổi chất, không có lợi cho cơ thể sinh vật chẳnghạn, thiếu Fe sẽ gây thiếu máu cho cơ thể, thiếu Cu, Mo, Zn sẽ làm giảm chứcnăng miễn dịch, khả năng thích nghi với môi trường

Tuy nhiên sự sống không tồn tại ở những phân tử riêng lẻ mà luôn có sựtương tác giữa các nguyên tố cấu tạo nên nó Sự tác động qua lại, ràng buộclẫn nhau giữa các nguyên tố đa lượng, vi lượng và siêu vi lượng cấu tạo nên

cơ thể sống chính là biểu hiện của mối liên hệ biện chứng giữa các sự vật,hiện tượng trong thế giới khách quan

b Cấp độ cơ thể

Tương tự như trên, khi nghiên cứu ở cấp độ cơ thể người ta cũng nhậnthấy giũa các thành phần, các cơ quan, các bộ phận trong cơ thể cũng có mốiliên hệ qua lại, mật thiết với nhau

Trang 12

Các cơ quan khác nhau có cùng một chức năng tạo thành một hệ cơquan Trong cơ thể có nhiều hệ cơ quan, nhưng chủ yếu là: hệ vận động, hệtuần hoàn, hệ hô hấp, hệ tiêu hóa, hệ bài tiết, hệ thần kinh, hệ nội tiết

Cơ thể là một khối thống nhất Sự hoạt động của các cơ quan trong một

hệ cũng như sự hoạt động của các hệ cơ quan trong cơ thể đều luôn luônthống nhất với nhau Ví dụ: khi chạy, hệ vận động làm việc với cường độ lớn.Lúc đó, các hệ cơ quan khác cũng tăng cường hoạt động, tim đập nhanh vàmạnh hơn, mạch máu dãn (hệ tuần hoàn), thở nhanh và sâu (hệ hô hấp), mồhôi tiết nhiều (hệ bài tiết) Điều đó chứng tỏ các hệ cơ quan trong cơ thể có

sự phối hợp hoạt động Các cơ quan trong cơ thể có một sự phối hợp hoạtđộng nhịp nhàng, đảm bảo tính thống nhất Sự thống nhất đó được thực hiệnnhờ sự điều khiển của hệ thần kinh (cơ chế thần kinh) và nhờ dòng máu chảytrong hệ tuần hoàn mang theo các hooc-môn do các tuyến nội tiết tiết ra (cơchế thể dịch)

c Cấp độ trên cơ thể

Ở cấp độ trên cơ thể, mối liên hệ phổ biến thể hiện rõ trong mối liên hệgiữa các sinh vật trong quần thể, quần xã sinh vật hay giữa quần thể, quần xãvới môi trường bên ngoài

Ta thấy mọi sinh vật sống đều có mối quan hệ với các sinh vật khác vàmôi trường của chúng Một trong những nguyên nhân dẫn tới sự phức tạp khinghiên cứu các hệ thống sinh học là do mối tương tác phức tạp này Đối vớitừng loài cụ thể mối quan hệ hữu cơ (giữa các sinh vật với nhau) có thể làquan hệ hợp tác, cộng sinh, vật ăn thịt - con mồi hay vật chủ - vật ký sinh.Các vấn đề sẽ trở nên phức tạp hơn nữa khi có nhiều loài sinh vật chịu tácđộng qua lại lẫn nhau trong một hệ sinh thái

Trang 13

Giữa các quần thể sinh vật có rất nhiều mối quan hệ Tương tác giữa cácquần thể sinh vật trong hệ sinh thái về nguyên tắc là tổ hợp tương tác của cáccặp quần thể Có các loại quan hệ sau đây:

Quan hệ trung lập: quan hệ của các loài sinh vật sống bên cạnh

nhau nhưng loài này không làm lợi hoặc gây hại cho loài kia Ví dụ: chim vàđộng vật ăn cỏ

Quan hệ lợi một bên: là quan hệ giũa hai loài sinh vật sống chung

trên một địa bàn, một loài lợi dụng điều kiện do loài kia đem lại nhưng khônggây hại cho loài thứ hai Ví dụ: Vi khuẩn cố định đạm, vi khuẩn sống trongđường ruột động vật lợi dụng thức ăn và môi trường sống của cơ thể động vậtnhưng không gây hại hoặc ít gây hại cho vật chủ

Quan hệ ký sinh: là quan hệ của loài sinh vật sống dựa vào cơ thể

sinh vật chủ với vật chủ có thể gây hại và giết chết vật chủ: giun, sán trong cơthể động vật và con người

Quan hệ thú dữ - con mồi: là quan hệ giữa một loài là thú ăn thịt

và loài kia là con mồi như giữa sư tử, hổ, báo và các loài động vật ăn cỏ

Quan hệ cộng sinh: là quan hệ của hai loài sinh vật sống dựa vào

nhau, loài này đem lại lợi ích cho loài kia và ngược lại Ví dụ: Tảo và địa y,tảo cung cấp thức ăn cho địa y, còn địa y tạo ra môi trường cư trú cho tảo

Quan hệ cạnh tranh: là quan hệ giữa hai hay nhiều loài cạnh tranh

với nhau về nguồn thức ăn và không gian sống có thể dẫn tới việc loài nàytiêu diệt loài kia Ví dụ: quan hệ giữa thỏ và vật nuôi ở châu Úc trong cuộccạnh tranh giành các đồng cỏ

Quan hệ giữa nhiều loài: trong thực tế các loài sinh vật có thể

thay đổi quan hệ theo thời gian Ví dụ: quan hệ giữa chuột và rắn trong một

Trang 14

quần đảo Thái bình dương trong một năm có thể thay đổi: Mùa đông - chuộtbắt rắn, chuột là thú ăn thịt; Mùa hè - rắn bắt chuột, rắn là thú ăn thịt

Trong các quan hệ trên 2 loại quan hệ giữ vai trò quan trọng trong việcduy trì cân bằng sinh thái tự nhiên là quan hệ thú dữ - con mồi và quan hệ kýsinh Quan hệ thú dữ - con mồi giúp cho quần thể con mồi duy trì tính chốngchịu cao với thiên nhiên, không phát triển bùng nổ về số lượng cá thể Quan

hệ ký sinh giúp cho việc diệt trừ sâu bệnh và các loài có hại đối với con ngườigiữ cho số lượng sâu bệnh nằm trong giới hạn nhất định

Tất cả các mối quan hệ như: quan hệ giữa các nguyên tố cấu tạo nên cơthể; quan hệ giữa các bộ phận, cơ quan trong cơ thể người; quan hệ giữa cácquần thể với nhau đã thể hiện được đặc trưng của mối liên hệ phổ biến biểuhiện trong sinh học ở các cấp độ của sinh giới

1.2.2 Tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ phổ biến

Các sự vật hiện tượng trong thế giới sống tuy rất đa dạng phong phú vàgiữa các sự vật, hiện tượng sống luôn có những mối liên hệ với nhau Nhưng

dù đa dạng và nhiều đến mức nào đi nữa thì các sự vật, hiện tượng này cũng

có nguồn gốc chung đó là thế giới vật chất Trong sinh học người ta cũngchứng minh được rằng tất cả sự sống trên Trái đất này dù ở cấp độ nào đi nữacũng đều được cấu tạo từ tế bào

Trang 15

nhau nhưng cùng có một vai trò là duy trì sự sống Tuy khác nhau về sốlượng, về chi tiết trong cấu tạo và về tính chất đặc trưng, nhưng các phân tửnày ở các cơ thể khác nhau đều tuân theo một cấu trúc nhất định Đồng thời

cơ chế tổng hợp nên chúng ở mọi cơ thể về cơ bản đều giống nhau

Chẳng hạn, protein là thành phần cấu trúc bắt buộc chiếm lượng nhiềunhất và có vai trò sinh lý quan trọng nhất trong số các hợp chất hữu cơ cấu tạonên tế bào sống Tất cả các protein đều chứa C (50-55%), O (21-24%), H(6,5-7,3%), N (15-18%) và một lượng nhỏ S (0-0,24%), ngoài ra một sốprotein còn chứa các nguyên tố P, Fe, Cu, Mn, Zn, Co Protein có cấu tạo đaphân tử gồm nhiều đơn phân, mỗi đơn phân là một loại axit amin Mỗi axitamin có công thức khái quát là: R – C – H (NH2) – COOH Cấu trúc của phân

tử protein được tạo thành do gắn kết giữa nhóm caboxyl của axit amin này vớinhóm amin của axit amin khác - gọi là liên kết peptit

R1 - CH (NH2) CO OH + H NH - C - COOH - R2

Như vậy, sự giống nhau của các phân tử protein bởi nhóm amin vànhóm cacboxyl (COOH) đã giữ được các đặc tính sinh học tốt, có tính ditruyền ổn định là nhân tố quan trọng trong quá trình tiến hóa của loài Tínhđặc trưng của protein được quy định bởi 3 yếu tố: thành phần khác nhau ở gốc

R, số lượng từng loại axit amin và trình tự sắp xếp các axit amin trong phân tửprotein Đây là cơ chế phổ biến đối với mọi loại protein của các cơ thể khácnhau từ đơn bào đến đa bào, điều này nói lên sự thống nhất về cấu trúc củacác cơ thể khác nhau, tuy nhiên nếu có sự thay đổi về cấu trúc, trình tự sắpxếp các axit amin trong phân tử protein sẽ gây ra những tác hại xấu cho người

và sinh vật Như vậy có thể nói sự thống nhất về cấu trúc của protein là sựthống nhất trong đa dạng của thế giới sống

Một trường hợp điển hình nữa là Axit deoxiribonucleic (ADN), ADN làmột chất đại phân tử mang cơ sở vật chất cho tính di truyền của mọi sinh vật,tồn tại chủ yếu trong nhân tế bào ADN là một loại axit hữu cơ có thành phần

Trang 16

chủ yếu là các nguyên tố C, H, O, N, S, P; ADN có cấu tạo chuỗi xoắn kép,

đa phân gồm nhiều đơn phân, mỗi đơn phân là 1 trong 4 loại nucleotit, mỗinucleoit gồm 3 thành phần: đường, axit photphoric và bazonito, ba thành phầnnày nối với nhau bằng liên kết hóa trị và các nucleotit nối với nhau thành mộtchuỗi dài gọi là polynucleotit Như vậy cấu trúc ADN gồm một chuỗi xoắnkép dài gồm các polynucleotit Tính thống nhất vật chất của ADN được thểhiện ở cấu tạo của nó gồm 3 thành phần liên kết với nhau, thống nhất vớinhau trong mối liên hệ giữa chúng

Hình - Cấu trúc ADN [24]

Đặc biệt, ở cấp độ dưới cơ thể tính thống nhất vật chất còn biểu hiện ởcấu trúc của nhiễm sắc thể, đó là những cấu trúc hiển vi nằm trong nhân tếbào và là cơ quan chứa thông tin di truyền Nhiễm sắc thể có cấu tạo bênngoài là lớp protein, trong lõi là bó sợi ADN nối tiếp Mỗi loài sinh vật lại cómột bộ nhiễm sắc thể đặc trưng, chúng giống nhau về hình dạng, số lượng,cấu trúc và được duy trì qua các thế hệ một cách ổn định

Trang 17

Qua việc khẳng định nguồn gốc chung của thế giới sinh vật, chứng tỏ

sự sống không phải là một hiện tượng bí ẩn mà cơ sở vật chất của nó là cấutạo tế bào ở mức phân tử là ADN và nhiễm sắc thể, con người đồng thời cũngchứng minh được tính thống nhất vật chất của thế giới cao hơn, đó là tế bào

Ở cấp độ dưới cơ thể, tính thống nhất vật chất của thế giới còn biểu hiện

rõ nét ở cấu tạo tế bào Nhờ sự ra đời của kính hiển vi mà các nhà khoa học đãchỉ ra rằng, tất cả mọi sinh vật trên trái đất rất đa dạng, phong phú chúng khácnhau ở nhiều chi tiết nhưng lại thống nhất với nhau là có cấu tạo tế bào

Mỗi tế bào gồm có 3 phần chính: màng tế bào, nguyên sinh chất vànhân tế bào

Màng tế bào là lớp ngoài cùng của tế bào, là một khối chất rắn có khảnăng đàn hồi, gồm 3 lớp nhỏ lớp ngoài cùng là các phân tử lipo-protein, lớpgiữa là các phân tử photpho-lipit, trong cùng là các phân tử protein

Tế bào chất gồm các bào quan chủ yếu như ty thể, lạp thể, bộ máygôngi, trung thể, mạng lưới nội chất, riboxom, các thể hoà tan là các hạt dựtrữ

Nhân tế bào có cấu tạo giống màng sinh chất có 2 lớp lipit và protein,trong nhân có chứa nhiễm sắc thể, trong nhiễm sắc thể có chứ ADN và ARNngoài ra còn có nhân con chứa ARN-riboxom làm nhiệm vụ tổng hợp protein.Như vậy, ở tế bào động vật cũng như thực vật có cấu trúc vô cùng phứctạp gồm nhiều cơ quan nhỏ, mỗi cơ quan có những nhiệm vụ rất khác nhau,nhưng tế bào là một thể thống nhất trong đó nhân đóng vai trò là trung tâm.Điều đó đã khẳng định nguồn gốc chung của thế giới sinh vật, cũng như mốiliên hệ phổ biến giữa các bộ phận trong tế bào – đơn vị cơ bản của sự sống

Trang 18

Hình - Cấu tạo của tế bào [24]

Nghiên cứu thành phần hóa học và cấu trúc tế bào của sự sống đã chothấy: sự sống muôn màu muôn vẻ đa dạng và phong phú, chúng khác nhau ởnhiều chi tiết như thành phần cấu tạo, chức năng sinh lý…nhưng lại thốngnhất với nhất với nhau là có cấu tạo tế bào và được xây dựng nên từ cácnguyên tố hóa học, các hợp chất hữu cơ và vô cơ Điều đó khẳng định nguồngốc chung của thế giới sinh vật, chứng tỏ sự sống không phải là hiện tượng bí

ẩn mà cơ sở vật chất của chúng là có cấu tạo tế bào ở mức phân tử đó là gen –AND và nhiễm sắc thể Thực tế sinh động này là dẫn liệu khoa học sáng giáchứng minh cho nguyên lý quan trọng của triết học mácxít: tính thống nhấtvật chất ở cấp độ phân tử và tế bào Nghĩa là gen – ADN – nhiễm sắc thể - tếbào là những đơn vị của vật chất ở các cấp độ khác nhau nhưng đã tạo nêntính thống nhất đa dạng của vật chất

Từ những phân tích trên đây ta thấy rằng thế giới này là thống nhất vàthế giới thống nhất ở tính vật chất của nó, vì suy cho cùng tất cả sự sống đềucấu tạo từ tế bào mà tế bào cũng không gì khác đó chính là vật chất

Trang 19

b Cấp độ cơ thể

Ở cấp độ cơ thể, tính thống nhất vật chất của thế giới còn được biểuhiện trong sinh giới ở cấu trúc của cơ thể sống Dù các mối liên hệ này cónhiều đến đâu nhưng chúng luôn nằm trong tính thống nhất vật chất của thếgiới, khi nghiên cứu các hình thức tổ chức của sự sống ta thấy tính thống nhấtvật chất của thế giới được biểu hiện trong sinh giới ở cấp độ cơ thể như sau:

Từ những tổ chức tiền tế bào như virút, thể ăn khuẩn chỉ có cấu tạo đơngiản gồm 1 lõi ADN hay ARN và 1 lớp vỏ protein; hay tổ chức tế bào chưahoàn chỉnh đại diện là vi khuẩn chỉ có ADN tập trung ở phần giữa của tế bàođến các tổ chức có cấu tạo tế bào hoàn chỉnh gồm màng, nguyên sinh chất vànhân; tổ chức đa bào đơn giản và sự phát triển cao nhất của sinh giới là tổchức cơ thể đa bào, ở đây các tế bào đã có sự phân hóa về cấu tạo và chuyênhóa về chức năng Nhưng dù hình thức cấu tạo nào thì các tổ chức sống đềumang 4 đặc trưng cơ bản là: trao đổi chất và năng lượng với môi trường; sinhsản và di truyền; sinh trưởng và phát triển; cảm ứng và thần kinh Những đặctrưng này có mối liên hệ mật thiết với nhau và được biểu hiện ở các mức độ

khác nhau tùy thuộc vào trình độ tổ chức của cơ thể [15] Điều này chứng

minh cho tính thống nhất, cho sự liên hệ mật thiết giữa các hình thức tổ chứccủa cơ thể và môi trường

Cơ thể người cũng như mọi động vật là một khối thống nhất, bao gồmrất nhiều cơ quan, hệ cơ quan khác nhau Mỗi cơ quan đảm nhận một nhiệm

vụ riêng, nhưng tất cả đều được cấu tạo bằng các tế bào, nên tế bào được coi

là đơn vị cấu trúc và chức năng của cơ thể sống

Các tế bào tồn tại, luôn luôn đổi mới thành phần, lớn lên và phân chia là

do thường xuyên được cung cấp các chất dinh dưỡng dưới dạng các hợp chấtđơn giản, nhờ đó các tế bào có thể tổng hợp nên những chất phức tạp cho từng

Trang 20

cơ quan và cơ thể (quá trình đồng hóa) với sự tham gia của các hệ enzim cótrong tế bào Chính những hợp chất đơn giản này lại là kết quả của quá trìnhbiến đổi những hợp chất phức tạp có trong thành phần thức ăn lấy ở môitrường ngoài nhờ các cơ quan tiêu hóa

Trong quá trình hoạt động của các tế bào (co rút của tế bào cơ, tiết của

tế bào tuyến, truyền hưng phấn của tế bào thần kinh, hoạt động đổi mới thànhphần của tế bào ) đòi hỏi phải tiêu dùng năng lượng Nguồn năng lượng nàychính là do quá trình ôxi hóa các hợp chất tích năng lượng có trong thànhphần của tế bào cung cấp (quá trình dị hóa), nhờ ôxi của không khí bên ngoàiđược cơ quan hô hấp tiếp nhận theo dòng máu và thông qua nước mô tới tậncác tế bào Kết quả của quá trình dị hóa, một mặt tạo ra năng lượng, nhưngmặt khác cũng tạo ra các sản phẩm phân hủy, không cần thiết cho cơ thể,thậm chí còn có hại Cuối cùng các chất này sẽ được thải ra ngoài qua các cơquan bài tiết

Sự vận chuyển các chất dinh dưỡng do cơ quan tiêu hóa cung cấp cùngô-xi từ cơ quan hô hấp tới các tế bào đảm bảo cho quá trình đồng hóa và dịhóa ở tế bào, đồng thời chuyển các sản phẩm phân hủy từ tế bào đến các cơquan bài tiết theo dòng máu là nhờ các cơ quan tuần hoàn

Như vậy, hoạt động của các cơ quan trong cơ thể không biệt lập màphối hợp, ăn khớp với nhau một cách nhịp nhàng để thực hiện một quá trìnhsinh lý cơ bản, đó là quá trình trao đổi chất ở phạm vi tế bào, giữa tế bào vớimôi trường trong cơ thể (máu, nước mô và bạch huyết) để đảm bảo cho quátrình đồng hóa và dị hóa (quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng) ởtrong tế bào có thể được thực hiện một cách liên tục

Các quá trình trên thực hiện được lại nhờ chính sự trao đổi chất với môitrường ngoài thông qua các cơ quan tiêu hóa, hô hấp, bài tiết và nhờ cơ quan

Trang 21

tuần hoàn làm môi giới trung gian Sự thay đổi hoạt động sống của cơ thể liênquan đến sự tăng giảm nhu cầu vật chất và năng lượng của các tế bào, từ đó sẽảnh hưởng tới toàn bộ hoạt động của các cơ quan của cơ thể Điều khiển, điềuhòa và phối hợp hoạt động của các cơ quan trong đời sống của cơ thể cho phùhợp với sự thay đổi hoạt động từng lúc, ở từng nơi, phù hợp với nhu cầu traođổi chất của cơ thể là do hệ thần kinh đảm nhiệm, thực hiện bằng cơ chế phảnxạ: phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều kiện (ảnh hưởng thần kinh)

và có sự tham gia, hỗ trợ của các tuyến nội tiết (ảnh hưởng thể dịch) trong sựđiều hòa hoạt động của các cơ quan, đảm bảo cho cơ thể là một khối thốngnhất toàn vẹn

c Cấp độ trên cơ thể

Ở cấp độ trên cơ thể, là một phần của trái đất, bao gồm khí quyển, thủyquyển, thạch quyển là nơi sinh sống của các sinh vật, sinh quyển được xemnhư một hệ vật chất toàn vẹn Sinh vật của trái đất bao gồm các loài động vật,thực vật, vi khuẩn, nấm từ sinh vật đơn bào nguyên thủy đến đa bào tiến hóacao, do đó nó cũng là sự thể hiện của tính thống nhất vật chất của thế giới vàmối liên hệ phổ biến giữa các yếu tố cấu tạo nên nó

Như vậy, qua việc nghiên cứu sự vận động của sinh học từ thấp đếncao: cấp độ dưới cơ thể -> cơ thể -> trên cơ thể, ta thấy được cơ sở khoa họccủa tính thống nhất vật chất của thế giới và sự biểu hiện của nguyên lý về mốiliên hệ phổ biến trong đó

1.2.3 Sự thống nhất vật chất trong sinh giới là sự thống nhất trong tính đa dạng, phong phú

a Cấp độ dưới cơ thể

Trang 22

Mặc dù, tính thống nhất vật chất của thế giới đã chỉ ra các sinh vật đều

có một nguồn gốc chung là cùng có cấu tạo tế bào, nhưng sự thống nhất vậtchất của thế giới được biểu hiện trong giới hữu cơ là sự thống nhất trong đadạng, điều này được biểu hiện rất rõ trong giới sinh vật, bởi vì trong quá trìnhphát triển của lịch sử, sự sống đã tiến hóa theo những hướng khác nhau do cáctác động bên trong lẫn bên ngoài Hay nói cách khác, nhờ 3 cơ chế nguyênphân, giảm phân và quá trình thụ tinh mà loài người đã giải thích được tại saothế giới sinh vật từ một tổ tiên chung mà ngày nay đã phát triển và trở nên đadạng, phong phú Cụ thể:

Nguyên phân là quá trình phân chia tế bào để hình thành tế bào sinhdưỡng, kết quả của quá trình này là từ 1 tế bào mẹ sau 1 lần phân chia cho ra

2 tế bào con có bộ nhiễm sắc thể giống hệt mẹ (2n) Như vậy, nhờ quá trìnhnguyên phân đã hình thành được tế bào sinh dưỡng và ổn định bộ nhiễm sắcthể của loài cả về số lượng và chất lượng Cơ chế phân chia tế bào giúp cơ thể

phát triển nhanh về sinh khối [15].

Giảm phân là quá trình hình thành tế bào sinh sản diễn ra dưới 2 lầnphân bào liên tiếp: lần 1 được diễn ra giống như sự hình thành tế bào sinhdưỡng, nghĩa là từ 1 tế bào mẹ nguyên phân lần 1 cho ra 2 tế bào con có bộnhiễm sắc thể giống hệt mẹ (2n); lần 2 thực hiện giảm phân, từ 2 tế bào conmang bộ nhiễm sắc thể 2n cho ra 4 tế bào con có bộ nhiễn sắc thể đơn bội (n).Như vậy, nhờ quá trình giảm phân đã hình thành được tế bào sinh sản có bộnhiễm sắc thể giảm đi một nửa và tồn tại dưới dạng tổ hợp mới Quá trình nàychính là cơ sở tạo nên các biến dị tổ hợp cung cấp nguyên liệu cho quá trình

chọn lọc tự nhiên, tạo nên tính đa dạng của sinh giới [15].

Ngoài ra, nhờ kết hợp với quá trình thụ tinh làm cho bộ nhiễm sắc thểphục hồi lại như cũ, nhưng dưới một tổ hợp mới dẫn đến xuất hiện những tính

Trang 23

trạng mới ở đời sau Và chính nhờ có sự xuất hiện tổ hợp mới này mà conngười có thể tạo ra những giống phù hợp đem lai cho hiệu quả kinh tế cao.Các kiến thức về quá trình hình thành tế bào bằng con đường nguyênphân, giảm phân, và thụ tinh là các dẫn liệu khoa học tin cậy để giải thích bảnchất của sự sống theo quan điểm duy vật biện chứng đó là: bản chất của sựsống là sự tồn tại và thường xuyên tự đổi mới của phân tử protein và axitnucleic Điều đó cũng chính là nguyên nhân để giải thích tại sao thế giới sinhvật ngày càng phong phú và đa dạng, đồng thời đã góp phần bác bỏ quanđiểm duy tâm cho rằng sự sống trong đó có con người là do một đấng siêunhiên nào đó tạo ra.

Định luật hoán vị gen của Menđen cũng góp phần giải thích được tính

đa dạng và phong phú của giới sinh vật

Trong lai phân tích Moocgan cho ruồi cái F1 lai với ruồi đực đồng hợplặn Kết quả FB cho 4 loại kiểu hình theo tỉ lệ, xám dài 0,41 : đen cụt 0,41 :xám cụt 0,09 : đen dài : 0,09 Tỷ lệ kiểu hình giống bố mẹ là 82%, khác với

bố mẹ là 18%

Sơ đồ lai:

P: AB//AB (con cái) x ab//ab (con đực)

Gp AB ab

F1 AB//ab (thân xám cánh dài)

Cho F1 AB//ab x ab//ab (con đực đồng hợp lặn)

GF1 cho 4 loại: AB, Ab, aB, ab x ab (đực 1 loại)

F2 có:

Trang 24

AB Ab aB Ab

Tỷ lệ: 4

Ab//ab1

aB//ab1

Ab//ab4

Hoán vị gen là trong quá trình hình thành giao tử có sự trao đổi chéo ởtừng đoạn tương ứng của cặp nhiễm sắc thể kép Cho nên F1 cho 4 loại giao

tử, trong đó có 2 loại giao tử có gen liên kết luôn bằng nhau (%AB = %ab), có

2 loại giao tử có gen hoán vị luôn bằng nhau (%Ab = % aB)

Trong quá trình giảm phân và phát sinh giao tử 2 gen tương ứng trên 1cặp nhiễm sắc thể kép có thể đổi chỗ cho nhau, do đó gây nên hiện tượnghoán vị gen

Như vậy, khi liên kết gen hạn chế biến dị tổ hợp (vì có 2 loại giao tử),còn hoán vị gen lại làm tăng các biến dị tổ hợp (vì có 4 loại giao tử + 1 loạicủa bố) làm cho loài ngày càng đa dạng Đây cũng là một trong các nguyên

nhân cắt nghĩa tại sao thế giới sinh vật ngày càng đa dạng phong phú [14, 15] 1.2.4 Biểu hiện mối quan hệ bản chất và hiện tượng trong triết học

Trong tự nhiên có rất nhiều mối quan hệ khác nhau Bất kỳ sự vật, hiệntượng nào cũng nằm trong những mối quan hệ chằng chịt, không có sự vật,hiện tượng nào là đứng cô lập một mình Và các loại liên hệ khác nhau cũng

có vai trò khác nhau đối với sự vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng.Trong những mối quan hệ đó có mối quan hệ giữa bản chất và hiệntượng Triết học mácxít khẳng định rằng: bản chất là tổng hợp tất cả nhữngmặt, những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định ở bên trong sự vật, quyđịnh sự vận động và phát triển của sự vật đó Còn hiện tượng dùng để chỉ biểu

Trang 25

hiện của những mặt, những mối liên hệ ấy ra bên ngoài Giữa bản chất và hiện

tượng có mối liên hệ biện chứng với nhau [22] Mối quan hệ này biểu hiện

trong sinh học như sau:

a Cấp độ dưới cơ thể

Các hiện tượng đột biến của sự sống đã cho ta thấy sự biểu hiện mốiliên hệ bản chất và hiện tượng của sự sống ở cấp độ dưới cơ thể Chẳng hạnhiện tượng lặp đoạn ở nhiễm sắc thể ở người sẽ dẫn đến vô sinh, mù màu;mất đoạn sẽ làm cho sinh vật thay đổi một số đặc điểm sinh lý, giảm sức sốnghoặc chết; đảo đoạn làm tăng sự sai khác giữa các nhiễm sắc thể tương ứngcủa các cá thể trong cùng một loài; chuyển đoạn lớn có thể gây chết hoặc mấtkhả năng sinh sản nhưng chuyển đoạn nhỏ lại có lợi cho một số loài sinh vật.Nếu có những hiện tượng như: lặp đoạn, mất đoạn, đảo đoạn, chuyểnđoạn (là bản chất vì nó là các quá trình sinh lý diễn ra trong cơ thể) thì sẽ biểuhiện ra bên ngoài là những hiện tượng tương ứng Như vậy, hiện tượng độtbiến đã góp phần làm rõ mối liên hệ bản chất và hiện tượng của nguyên lýmối liên hệ phổ biến trong triết học mácxít

Bản chất và hiện tượng còn biểu hiện trong di truyền, chẳng hạn nhưđịnh luật 3 của menđen, cặp nhiễm sắc thể tương đồng có gen A (xác địnhthân cao), gen a (xác định thân thấp); một cặp khác mang gen B (xác địnhthân vàng), gen b (xác định hạt xanh) Những gen A, a, B, b là bản chất, cònnhững xác định thân cao, thân thấp, hạt vàng, hạt xanh là biểu hiện ra bênngoài Trong trường hợp này bản chất và hiện tượng thống nhất với nhau

b Cấp độ cơ thể

Ở cấp độ cơ thể, cấu trúc phù hợp với chức năng của các tổ chức sống

đã góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng

Trang 26

Chẳng hạn, khi xem xét tổ chức cơ thể đa bào là tổ chức có cấu tạo tếbào hoàn chỉnh: màng tế bào – tế bào chất – nhân Vật liệu di truyền nằmtrong nhân chứa nhiễm sắc thể (là tổ chức phức tạp chứa ADN và protein), cóhình thức sinh sản hữu tính, thức ăn được hấp thụ và tiêu hóa bên trong cơthể.

Các tế bào đã có sự phân hóa về cấu tạo và chuyên hóa về chức năng.Từng nhóm tế bào giống nhau về cấu tạo và thực hiện cùng một chức năngnhư nhau gọi là mô

Ví dụ: mô liên kết, mô cơ, mô mỡ, mô thần kinh…

Nhiều mô hợp thành một cơ quan, nhiều cơ quan cùng thực hiện mộtchức năng hợp thành hệ cơ quan, nhiều hệ cơ quan hợp thành cơ thể Càng lêntrên cao của thang tiến hóa thì mức độ chuyên hóa về chức năng và phân hóa

về cấu tạo ngày càng phức tạp, đồng thời sự liên kết thống nhất giữa cấu tạo

và chức năng ngày càng chặt chẽ

Ví dụ: động vật đa bào đầu tiên là bọt biển (cơ thể chưa phân hóa rõ rệt)-> Ruột khoang (đã xuất hiện tế bào thần kinh nhưng chưa có hệ tiêu hóa, hệtuần hoàn và hệ bài tiết chính thức) -> Giun đốt (cơ thể đã hình thành hệ cơquan hoàn chỉnh)

Trường hợp khác, ở động vật có xương sống, sự phân hóa của các hệ cơquan ngày càng phức tạp và hoàn thiện Chẳng hạn: Lớp cá (tim 2 ngăn, tâmnhĩ ở trên, tâm thất ở dưới, 1 vòng tuần hoàn) -> Lưỡng cư (tim 3 ngăn, 2 tâmnhĩ, 1 tâm thất) -> Bò sát (tim 3 ngăn, 2 tâm nhĩ, 1 tâm thất, có vách hụt chiatâm thất thành 2 ngăn chưa hoàn toàn, nên máu pha) -> Chim và thú (tim 4ngăn, 2 vòng tuần hoàn khép kín, máu đỏ thẫm ở nửa phải, máu đỏ tươi ở nửatrái Máu từ phổi + oxi -> máu đỏ tươi đi khắp cơ thể, máu từ tim về phổi cómáu đỏ thẫm)

Trang 27

Mối liên hệ bản chất hiện tượng thể hiện ở đây là cấu trúc phù hợp vớichức năng Ta thấy, lớp cá, lưỡng cư do là tim có cấu tạo 2 ngăn và 3 ngănnên máu đi nuôi cơ thể vẫn là máu pha, còn lớp chim và thú do cấu tạo tim có

4 ngăn nân máu đi nuôi cơ thể là máu đỏ tươi

Hiện tượng cảm ứng cũng là sự biểu hiện của mối liên hệ hiện tượng(các phản ứng) và bản chất (các cơ chế của phản ứng) Cảm ứng của sinh vật

là những khả năng nhận biết của cơ thể sống để trả lời các kích thích của môitrường bên ngoài bằng những phản ứng có lợi, nhằm giúp cho sinh vật thíchnghi với điều kiện sống Chẳng hạn, phản xạ ở động vật đa bào (hiện tượng)

là phản ứng của cơ thể trả lời các kích thích của môi trường nhờ hệ thần kinh,được thực hiện nhờ hai cơ chế thần kinh và thể dịch (bản chất) Trong đó cơchế thể dịch được thực hiện qua đường máu nhờ tác nhân kích thích là cácchất hoá học làm cho cơ thể phản ứng, chẳng hạn như hooc môn axetylcolin

có tác dụng làm cho tim đập chậm lại, adrenalin giúp cho tim đập nhanh vàmạnh Cơ chế thần kinh về thực chất là các xung điện lan truyền trên các tếbào thần kinh, chẳng hạn như điện não đồ: là phương pháp dùng các điện kếcực nhạy ghi các xung điện lan truyền trên các dây thần kinh hay các sóngđiện trên não được ghi bằng đồ thị

Hiện tượng cảm ứng gắn liền với sự vận động của chất nguyên sinh mà

cơ sở của cảm ứng là sự biến đổi của các phản ứng sinh, hóa, lý diễn ra trong

cơ thể Như vậy, nguyên nhân ở đây là các tác nhân gây ra phản ứng cho sinhvật, gọi là các kích thích, chẳng hạn nguyên nhân bên ngoài như sự tác độngcủa môi trường, chất kích thích…; nguyên nhân bên trong như ở thực vật làhiện tượng đóng mở của tế bào khí khổng, ở động vật là sự co cơ, phản xạ…các phản ứng có lợi cho sinh vật như hiện tượng cụp lá ở thực vật hay các loạiphản xạ không có điều kiện (ong làm tổ, phản xạ run rẩy để chống rét, phản

Trang 28

xạ toát mộ hôi để chống nóng…), phản xạ có điều kiện (dạy động vật làmxiếc, dạy chó trinh sát, phản xạ tiết nước bọt ở chó…) ở động vật.

Thực vật vốn bất động nên cảm ứng của chúng rất đơn giản, phản ứngkhó nhận thấy (như tác động của ánh sáng đến hiện tượng quang hợp) vàchậm chạp, có khi phải mất thời gian dài mới phát hiện được (hoa bị cắt vàingày sau mới bị héo) Cảm ứng ở thực vật và động vật đơn bào thường biểuhiện ở một số dạng sau: tính hướng sáng, tính hướng đất, tính cảm

Ngày đăng: 24/07/2018, 13:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. F. Angghen. Chống Đuy Rinh. Nxb Sự thật. Hà Nội, 1971 Khác
3. Nguyễn Trọng Chuẩn. Di truyền học và một số vấn đề nhận thức khoa học hiện đại về giới tự nhiên sống. Tạp chí triết học số 4, năm 1978 Khác
4. Nguyễn Trọng Chuẩn. Một số khía cạnh về vai trò của sinh học hiện đại với sự hình thành và củng cố thế giới quan khoa học. Tạp chí triết học số 3, năm 1988 Khác
5. Bùi Huy Đáp. Chủ nghĩa Mác và một số vấn đề về triết học trong sinh học.Nxb Sự thật. Hà Nội, 1962 Khác
6. Bùi Huy Đáp. Một số vấn đề về chủ nghĩa duy vật trong lịch sử sinh vật học. Nxb Sự thật, 1960 Khác
7. E.T. Frolov và cộng sự. Menđen, chủ nghĩa Menđen và phép biện chứng.Nxb Khoa học và kỹ thuật. Hà Nội, 1976 (tài liệu dịch) Khác
12. K.M. Pha Ta Li ep. Chủ nghĩa duy vật biện chứng và khoa học tự nhiên.Nxb Sự thật. Hà Nội, 1961 Khác
13. A.E. Phu rơ man. Quan niệm biện chứng về sự phát triển trong sinh học hiện đại. Nxb Giáo dục. Hà Nội, 1990 Khác
14. Nguyễn Đức Thành, Trần Bá Hoành. Bài giảng sinh triết. Đại học sư phạm Hà Nội, năm 2000 Khác
15. Hà Thị Thành. Sinh học đại cương. Nxb Giao thông vận tải, 2008 Khác
16. Hà Thị Thành. Môi trường & phát triển bền vững. Nxb Giao thông vận tải, 2008 Khác
17. Nguyễn Hữu Vui và cộng sự. Giáo trình triết học Mác - Lênin. Nxb Chính trị Quốc gia. Hà Nội, 2005 Khác
19. Tập thể tác giả. Di truyền học ở người. Giáo trình bộ môn di truyền. Trường Đại học Y Hà Nội, 2006 Khác
20. Tập thể tác giả. Dinh dưỡng học. Giáo trình bộ môn dinh dưỡng. Trường Đại học Y Hà Nội, 2006 Khác
21. Tập thể tác giả. Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Nxb Chính trị Quốc gia. Hà Nội, 2009 Khác
22. Tập thể tác giả. Giáo trình triết học Mác - Lênin. Nxb Chính trị Quốc gia. Hà Nội, 2004 Khác
23. Tập thể tác giả. Triết học, tập 3. Nxb Chính trị Quốc gia. Hà Nội, 1995 24. www.google.com.vn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w