MỞ ĐẦU 1. Định nghĩa Dư luận xã hội Dư luận xã hội (hay công luận) là một hiện tượng đời sống xã hội quen thuộc mà mỗi cá nhân, tổ chức (bao gồm cả quốc gia), trong cuộc sống hàng ngày, thường phải quan tâm và tính toán đến. Những người theo học ở Liênxô (cũ) thường sử dụng thuật ngữ “dư luận xã hội” (dịch trực tiếp từ thuật ngữ tiếng Nga). Những người biết tiếng Anh thường sử dụng thuật ngữ “công luận” (dịch từ thuật ngữ tiếng Anh: “public opinion”). Phần đông các nhà nghiên cứu dư luận xã hội Liên Xô (cũ) định nghĩa dư luận xã hội là sự phán xét, đánh giá của các giai cấp, tầng lớp, cộng đồng xã hội đối với các vấn đề mà họ quan tâm. Ví dụ, theo B. K. Paderin: “Dư luận xã hội là tổng thể các ý kiến, trong đó chủ yếu là các ý kiến thể hiện sự phán xét đánh giá, sự nhận định (bằng lời hoặc không bằng lời), phản ánh ý nghĩa của các thực tế, quá trình, hiện tượng, sự kiện đối với các tập thể, giai cấp, xã hội nói chung và thái độ công khai hoặc che đậy của các nhóm xã hội lớn nhỏ đối với các vấn đề của cuộc sống xã hội có động chạm đến các lợi ích chung của họ”. Nhiều nhà nghiên cứu Mỹ cũng nêu ra định nghĩa tương tự. Ví dụ “Công luận là sự phán xét đánh giá của các cộng đồng xã hội đối với các vấn đề có tầm quan trọng, được hình thành sau khi có sự tranh luận công khai” (Young, 1923). Nhà nghiên cứu Mỹ khác lại định nghĩa: “Công luận là kết quả tổng hợp các ý kiến trả lời của mọi người đối với các câu hỏi nhất định, dưới điều kiện của cuộc phỏng vấn” (Warner, 1939). Có những định nghĩa rất đơn giản, nhưng rất phổ biến trong giới nghiên cứu Mỹ: “Công luận là các tập hợp ý kiến cá nhân ở bất kỳ nơi đâu mà chúng ta có thể tìm được” (Childs, 1956). Về mặt ngôn ngữ, không có cơ sở để nói rằng dư luận xã hội là ý kiến của đa số. Thuật ngữ “xã hội” không đồng nhất với thuật ngữ “đa số”. Có thể lấy ví dụ: Không ai cho rằng đã gọi là tổ chức xã hội thì phải là tổ chức của đa số; đã gọi là chính sách xã hội thì phải là chính sách đối với đa số... Về mặt lý luận, cũng không có cơ sở nào để coi trọng dư luận của đa số hơn dư luận của thiểu số, đến mức phải loại bỏ dư luận của thiểu số ra khỏi phạm trù “dư luận xã hội”. Ví dụ dưới góc độ về khả năng phản ánh chân lý, dư luận của đa số không phải khi nào cũng đúng, dư luận của thiểu số, không nhất thiết khi nào cũng sai. Thực tế cho thấy, trước các vấn đề mới, dư luận của thiểu số, nhiều khi, đúng hơn dư luận của đa số. Giữa dư luận của đa số và dư luận của thiểu số cũng không có một hàng rào ngăn cách không thể vượt qua được. Dư luận ngày hôm nay là thiểu số, ngày mai có thể trở thành đa số hoặc ngược lại, dư luận ngày hôm nay là đa số, ngày mai có thể chỉ còn là thiểu số. Về mặt thực tiễn, quan điểm coi dư luận xã hội chỉ là ý kiến của đa số lại càng không thể chấp nhận được. Chúng ta đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và thực hiện chủ trương “Đại đoàn kết toàn dân tộc”. Tiếng nói của mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp, nhóm xã hội đều cần được coi trọng cho dù thành phần kinh tế, tầng lớp, nhóm xã hội đó chỉ là thiểu số trong xã hội. Mặt khác, nếu dư luận xã hội chỉ là ý kiến của đa số không thôi, thì cần gì phải thành lập các cơ quan làm công tác nắm bắt dư luận xã hội bởi vì ý kiến của đa số là cái mà người dân bình thường cũng có thể dễ dàng nắm được, huống hồ là lãnh đạo. Báo cáo tình hình dư luận xã hội của một số địa phương chưa được lãnh đạo coi trọng, có phần chính là do mới chỉ phản ánh được ý kiến của đa số. Những báo cáo phiến diện, không phản ánh được đầy đủ các luồng ý kiến khác nhau trong xã hội trước một vấn đề, sự kiện, hiện tượng nào đó, không những ít có giá trị cho sự chỉ đạo của các cấp uỷ đảng, chính quyền, ngược lại, có khi còn có hại, nhất là trong trường hợp vấn đề, sự kiện, hiện tượng là cái mới, bởi lẽ, đối với cái mới, dư luận của đa số lúc đầu thường không đúng, thường có tính “bảo thủ”. Đa số các nhà nghiên cứu khẳng định, dư luận xã hội không chỉ là các phát ngôn thể hiện sự phán xét đánh giá mà còn là các phát ngôn thể hiện tâm tư, nguyện vọng, đề xuất, kiến nghị, lời khuyên can... của công chúng.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Định nghĩa Dư luận xã hội
Dư luận xã hội (hay công luận) là một hiện tượng đời sống xã hội quen thuộc mà mỗi cá nhân, tổ chức (bao gồm cả quốc gia), trong cuộc sống hàng ngày, thường phải quan tâm và tính toán đến Những người theo học ở Liên-xô (cũ) thường sử dụng thuật ngữ “dư luận xã hội” (dịch trực tiếp từ thuật ngữ tiếng Nga) Những người biết tiếng Anh thường sử dụng thuật ngữ “công luận” (dịch từ thuật ngữ tiếng Anh: “public opinion”)
Phần đông các nhà nghiên cứu dư luận xã hội Liên Xô (cũ) định nghĩa dư luận xã hội là sự phán xét, đánh giá của các giai cấp, tầng lớp, cộng đồng xã hội đối với các vấn đề mà họ quan tâm Ví dụ, theo B K Paderin: “Dư luận xã hội là tổng thể các ý kiến, trong đó chủ yếu là các ý kiến thể hiện sự phán xét đánh giá, sự nhận định (bằng lời hoặc không bằng lời), phản ánh ý nghĩa của các thực tế, quá trình, hiện tượng, sự kiện đối với các tập thể, giai cấp, xã hội nói chung và thái độ công khai hoặc che đậy của các nhóm xã hội lớn nhỏ đối với các vấn đề của cuộc sống xã hội có động chạm đến các lợi ích chung của họ”
Nhiều nhà nghiên cứu Mỹ cũng nêu ra định nghĩa tương tự Ví dụ
“Công luận là sự phán xét đánh giá của các cộng đồng xã hội đối với các vấn đề có tầm quan trọng, được hình thành sau khi có sự tranh luận công khai” (Young, 1923) Nhà nghiên cứu Mỹ khác lại định nghĩa: “Công luận
là kết quả tổng hợp các ý kiến trả lời của mọi người đối với các câu hỏi nhất định, dưới điều kiện của cuộc phỏng vấn” (Warner, 1939) Có những định nghĩa rất đơn giản, nhưng rất phổ biến trong giới nghiên cứu Mỹ:
“Công luận là các tập hợp ý kiến cá nhân ở bất kỳ nơi đâu mà chúng ta có thể tìm được” (Childs, 1956)
Về mặt ngôn ngữ, không có cơ sở để nói rằng dư luận xã hội là ý kiến của đa số Thuật ngữ “xã hội” không đồng nhất với thuật ngữ “đa số”
Trang 2Có thể lấy ví dụ: Không ai cho rằng đã gọi là tổ chức xã hội thì phải là tổ chức của đa số; đã gọi là chính sách xã hội thì phải là chính sách đối với đa số
Về mặt lý luận, cũng không có cơ sở nào để coi trọng dư luận của đa
số hơn dư luận của thiểu số, đến mức phải loại bỏ dư luận của thiểu số ra khỏi phạm trù “dư luận xã hội” Ví dụ dưới góc độ về khả năng phản ánh chân lý, dư luận của đa số không phải khi nào cũng đúng, dư luận của thiểu
số, không nhất thiết khi nào cũng sai Thực tế cho thấy, trước các vấn đề mới, dư luận của thiểu số, nhiều khi, đúng hơn dư luận của đa số Giữa dư luận của đa số và dư luận của thiểu số cũng không có một hàng rào ngăn cách không thể vượt qua được Dư luận ngày hôm nay là thiểu số, ngày mai
có thể trở thành đa số hoặc ngược lại, dư luận ngày hôm nay là đa số, ngày mai có thể chỉ còn là thiểu số
Về mặt thực tiễn, quan điểm coi dư luận xã hội chỉ là ý kiến của đa
số lại càng không thể chấp nhận được Chúng ta đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và thực hiện chủ trương “Đại đoàn kết toàn dân tộc” Tiếng nói của mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp, nhóm xã hội đều cần được coi trọng cho dù thành phần kinh tế, tầng lớp, nhóm xã hội đó chỉ là thiểu số trong xã hội Mặt khác, nếu dư luận xã hội chỉ là ý kiến của
đa số không thôi, thì cần gì phải thành lập các cơ quan làm công tác nắm bắt dư luận xã hội bởi vì ý kiến của đa số là cái mà người dân bình thường cũng có thể dễ dàng nắm được, huống hồ là lãnh đạo Báo cáo tình hình dư luận xã hội của một số địa phương chưa được lãnh đạo coi trọng, có phần chính là do mới chỉ phản ánh được ý kiến của đa số Những báo cáo phiến diện, không phản ánh được đầy đủ các luồng ý kiến khác nhau trong xã hội trước một vấn đề, sự kiện, hiện tượng nào đó, không những ít có giá trị cho
sự chỉ đạo của các cấp uỷ đảng, chính quyền, ngược lại, có khi còn có hại, nhất là trong trường hợp vấn đề, sự kiện, hiện tượng là cái mới, bởi lẽ, đối
Trang 3với cái mới, dư luận của đa số lúc đầu thường không đúng, thường có tính
“bảo thủ”
Đa số các nhà nghiên cứu khẳng định, dư luận xã hội không chỉ là các phát ngôn thể hiện sự phán xét đánh giá mà còn là các phát ngôn thể hiện tâm tư, nguyện vọng, đề xuất, kiến nghị, lời khuyên can của công chúng
Về khả năng phản ánh chân lý, lẽ phải của dư luận xã hội, cũng có những quan niệm khác nhau Có ý kiến cho rằng dư luận xã hội chịu ảnh hưởng nặng nề của các thành kiến, định kiến cho nên nó không có khả năng phản ánh chân lý, lẽ phải Có ý kiến lại “sùng bái” dư luận của đa số, theo
họ, dư luận của đa số bao giờ cũng đúng, dư luận của thiểu số bao giờ cũng sai Tất cả các quan niệm trên đều sai Dư luận xã hội không phải là các kết luận khoa học, nhưng ít nhiều đều có khả năng phản ánh chân lý, lẽ phải
Dư luận xã hội có thể đúng nhiều, đúng ít Dù có đúng đến mấy thì dư luận
xã hội vẫn có những hạn chế, không nên tuyệt đối hoá khả năng nhận thức của dư luận xã hội Dù có sai đến mấy, trong dư luận xã hội cũng có những hạt nhân hợp lý, không thể coi thường, bỏ qua Chân lý của dư luận xã hội không phụ thuộc vào tính chất phổ biến của nó Không phải lúc nào dư luận của đa số cũng đúng, dư luận của thiểu số cũng sai Cái mới, lúc đầu, thường chỉ có một số người nhận thấy và do đó dễ bị đa số phản đối
Về đối tượng của dư luận xã hội, đa số các nhà nghiên cứu cho rằng
đó là các hiện tượng, sự kiện, quá trình xã hội có tính thời sự, cập nhật trình
độ hiểu biết của công chúng, được công chúng quan tâm Ví dụ: Những vấn
đề khoa học trừu tượng liên quan đến tương lai xa xôi của loài người sẽ khó trở thành đối tượng phán xét của dư luận xã hội, trong khi đó những vấn đề
cụ thể, dễ hiểu có liên quan trực tiếp đến lợi ích của công chúng, được công chúng rất quan tâm như vấn đề giá cả, thiên tai, lũ lụt, vệ sinh môi trường luôn luôn là đối tượng phán xét của dư luận xã hội
Trang 4Đối với câu hỏi: Dư luận xã hội là tập hợp các ý kiến cá nhân, có tính tự phát hay là một dạng thức ý kiến tập thể, có tính tổ chức? Cũng có những quan niệm khác nhau Có người khẳng định vế thứ nhất, có người khẳng định vế thứ hai Sự vô lý của quan niệm coi dư luận xã hội là một dạng thức ý kiến tập thể, có tính tổ chức là rất rõ Ý kiến chung của một tổ chức là chính kiến của tổ chức đó chứ không phải là dư luận xã hội của các thành viên trong tổ chức (không thể gọi chính kiến của Hội Nông dân, Hội Phụ nữ hay Hội Cầu lông… là dư luận xã hội) Chỉ có các luồng ý kiến được hình thành theo con đường tự phát mới được gọi là dư luận xã hội Tuy nhiên ở đây cần phải làm rõ một ý: Dư luận xã hội không phải là một phép cộng thuần tuý, không phải là “bao gạo”, gồm các “hạt gạo” ý kiến cá nhân rời rạc, không có mối quan hệ gì với nhau Dư luận xã hội là các luồng ý kiến cá nhân, tự phát, nhưng có mối quan hệ hữu cơ với nhau, cộng hưởng với nhau Nói cách khác, đó là một chỉnh thể tinh thần xã hội, thể hiện nhận thức, tình cảm, ý chí của các lực lượng xã hội nhất định
Dư luận xã hội là hiện tượng đời sống xã hội phức tạp, nên khó có thể lột tả hết trong một vài dòng định nghĩa ngắn gọn Theo Lênin, đối với những sự vật phức tạp, có nhiều góc nhiều cạnh, mọi định nghĩa đều phiến diện Tuy nhiên, dù có phiến diện đến đâu, định nghĩa cũng không mất đi mặt khẳng định, vai trò quan trọng, sự cần thiết của nó đối với hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn của con người: Đó là những chỉ dẫn sơ bộ, những nét phác thảo ban đầu, không có nó, chúng ta không thể tiếp tục đi sâu hơn vào bản chất của sự vật cũng như không thể đưa ra đuợc những phương hướng hành động cụ thể nào cả
Vì lẽ đó, chúng ta có thể định nghĩa rất ngắn gọn về dư luận xã hội như sau: Dư luận xã hội là tập hợp các luồng ý kiến cá nhân trước các vấn
đề, sự kiện, hiện tượng có tính thời sự Tuy nhiên, cần phải lưu ý đến các nội hàm sau đây của định nghĩa này:
1) Mỗi luồng ý kiến là một tập hợp các ý kiến cá nhân giống nhau;
Trang 52) Dư luận xã hội có thể bao gồm nhiều luồng ý kiến khác nhau, thậm chí đối lập nhau;
3) Luồng ý kiến có thể rộng (tuyệt đại đa số, đa số, nhiều ý kiến) hoặc hẹp (một số ý kiến);
4) Dư luận xã hội là tập hợp các ý kiến cá nhân, tự phát, chứ không phải là ý kiến của một tổ chức, được hình thành theo con đường tổ chức (hội nghị, hội thảo…);
5) Dư luận xã hội không phải là một phép cộng các ý kiến cá nhân,
tự phát mà là một chỉnh thể tinh thần xã hội, thể hiện nhận thức, tình cảm, ý chí của các lực lượng xã hội nhất định;
6) Chỉ có những sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội có tính thời sự (động chạm đến lợi ích, các mối quan tâm hiện có của nhiều người) mới có khả năng tạo ra dư luận xã hội./
2 Vai trò của dư luận xã hội
Dư luận xã hội có ý nghĩa quan trọng trong quản lý nhà nước, đặc biệt là trong công tác vận động quần chúng Nắm được dư luận xã hội nhằm tham mưu cho Đảng, Nhà nước đề ra những chủ trương, chính sách
cụ thể trong từng thời điểm nhất định Bởi vì trong đời sống xã hội đòi hỏi chúng ta phải hiểu sâu sắc nhu cầu và lợi ích của quần chúng Nắm dư luận
xã hội là một trong những hình thức tốt nhất để thu thập thông tin, phản ảnh những tâm tư, nguyện vọng cũng như những suy nghĩ và cảm xúc của các tầng lớp nhân dân trong xã hội Đồng thời, giúp những người làm công tác vận động quần chúng nắm bắt kịp thời thực trạng cũng như diễn biến tư tưởng của các nhóm người trong xã hội khác nhau Đây là những nguồn thông tin quý giá giúp ta khắc phục được bệnh quan liêu, xa rời quần chúng, xa rời thực tiễn, khắc phục bệnh duy ý chí trong lãnh đạo, quản lý
Trang 6Điều hòa các mối quan hệ xã hội ngay cả khi xã hội chưa phân chia thành các giai cấp Trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị luôn luôn tìm cách sử dụng dư luận xã hội phục vụ của giai cấp mình
Dư luận xã hội điều hòa cả hành vi xã hội Trên cơ sở phán xét, đánh giá các sự kiện, hiện tượng, dư luận xã hội nêu ra các chuẩn mực xã hội, hướng dẫn những việc nên làm, nên tránh Nó làm cho các truyền thống, phong tục đã hình thành phát huy ảnh hưởng của mình trong xã hội
Dư luận xã hội một khi đã được hình thành thì nó tác động vào ý thức con người, chi phối ý thức cá nhân Giáo dục con người nhiều khi mạnh hơn cả biện pháp hành chính Về phương diện này, dư luận xã hội có thể động viên, khuyến khích hoặc phê phán, công kích những biểu hiện đạo đức hoặc hành cá nhân, của nhóm người trong xã hội, phòng ngừa các hành
vi phạm pháp, nó buộc từng cá nhana phải thu mình vào lễ nghi, phong tục
Dư luận xã hội giám sát các hoạt động của các tổ chức xã hội, các nhóm dân cư và từng cá nhân Dư luận xã hội đưa ra sự phán xét, đánh giá
Cố vấn cho các tổ chức, cho cơ quan chức năng giải quyết các vấn đề
có liên quan đên cộng đồng
Dư luận xã hội có vai trò to lớn trong đời sống xã hội nên việc nghiên cứu nó có ý nghĩa quan trong trong việc phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, mở rộng xã hội chủ nghĩa, tăng cường mối quan
hệ giữa Đảng, Nhà nước và quốc chúng
3 Phân biệt dư luận và tin đồn
Tin đồn là một hiện tượng tâm lý xã hôị, giống với dư luận xã hội ở hình thức thể hiện nhưng khác về bản chất
3.1 Giống nhau
Trang 7Về hình thức thể hiện, tin đồn và dư luận xã hội có một số điểm giống nhau:
Tin đồn và dư luận xã hội đều là những kết cấu tinh thần, tâm lý đặc trưng cho những nhóm xã hội nhất định Trong cấu trúc của chúng đều có
cả thành phần trí tuệ lẫn cảm xúc và ý chí Tuy nhiên, trong tin đồn yếu tố cảm xúc nổi lên hàng đầu, yếu tố lý trí ít
Cả hai dường như có chung nguồn gốc Từ một sự việc, sự kiện ban đầu có liên quan đến lợi ích, cảm xúc của một số người, được tổ chức lại theo những quy luật tâm lý xã hội nhất định Các yếu tố như nhu cầu, lợi ích của cá nhân, nhóm xã hội, giai cấp đều chi phối rất mạnh quá trình hình thành dư luận xã hội và tin đồn
Dư luận xã hội và tin đồn đều lan truyền tranh và dễ biến dạng Trên thực tế, có một số tin đồn được trở thành dư luận xã hội, nếu như tin đồn đó
là những sự kiện có thật và đụng chạm đến lợi ích, hoặc sự quan tâm của nhiều người
3.2 Khác nhau
Dư luận xã hội dễ bị nhầm lẫn với tin đồn Tuy vậy, chúng có những sự khác nhau rất cơ bản:
- 1) Tin đồn là lời truyền miệng không chắc chắn, không có nguồn gốc
xác thực Tin đồn khởi phát trong những trường hợp không có tổ chức khi người ta cần đến tin tức, nhưng không có đường lối đáng tin cậy
Chính vì vậy, điểm mạnh của tin đồn là nó xuất hiện khi có vấn đề thời sự,
dư luận quan tâm nhưng chưa có phát ngôn chính thức từ cơ quan đáng tin cậy Mang tính quy luật, tin đồn thường ăn theo các sự kiện thời sự nóng bỏng, được dư luận đặc biệt chú ý ở nhiều phương diện: chính trị, khoa
Trang 8học, công nghệ, các vấn đề kinh tế - xã hội… Những kẻ gieo rắc tin đồn dựa vào thời điểm nhạy cảm để tung tin nhảm Khi Nhật Bản xảy ra động đất gây thiệt hại vô cùng lớn, hàng loạt tin đồn ăn theo làm cả châu Á lao đao: tin đồn mưa axit, mây phóng xạ, núi lửa phun trào, sóng thần bất ngờ tại nhiều bờ biển… Tại ViệtNam, tin đồn nóng bỏng tính thời sự cũng đã
có tiền lệ Năm 2010, tại mỗi thời điểm khác nhau đều rộ lên những tin đồn nguy hiểm: tin đồn "dự báo sập cầu", tin đồn thực phẩm chứa chất gây ung thư, tin đồn đổi tiền… Năm 2011, nhiều tin đồn lan rộng như: ăn cá rô đầu vuông sẽ bị ung thư; tin đồn nước mưa có chứa axít; tin đồn tăng giá xăng, phát hành tiền mệnh giá lớn… Do tính thời sự nóng bỏng (gồm tính thời sự thế giới và thời sự trong nước) đã hút lượng người quan tâm vô cùng lớn,
nó cũng gây tò mò đặc biệt với người tiếp nhận tin đồn, bất luận độ tuổi, giới tính, vùng miền Trước đây, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, tin đồn thất thiệt chỉ dễ lây lan ở vùng lạc hậu, người dân nhận thức kém Nhưng ngày nay, qua hàng loạt tin đồn nóng bỏng cho thấy, tin đồn thậm chí còn gây sốt mạnh ở vùng đô thị, làm chính những người có nhận thức cũng dễ rơi vào tâm lý hoang mang không rõ thực hư
- 2) Tin đồn có tốc độ lây lan nhanh chóng Tin đồn loang càng xa thì
càng có nhiều biến thái, do nó không ngừng được thêm thắt Lúc ban đầu, dư luận xã hội thường rất phân tán, nhưng sau đó, thông qua sự trao đổi, tranh luận, tính thống nhất của dư luận xã hội thường tăng lên:
Trước kia, tin đồn chủ yếu qua truyền miệng, thường chỉ lây lan trong phạm vi hẹp làng xã, vùng miền Do tính truyền miệng, tốc độ tán phát cũng chậm Tin đồn hay xuyên tạc và sai vì nhận thức hẹp trong trường hợp đầy tình cảm Tin đồn trở nên sai lạc nhiều vì truyền khẩu dễ bị sai lầm Ngay cả khi thiếu sót những yếu tố tình cảm, những tin tức thực sự
Trang 9càng ngày càng trở nên ngắn và giản dị hơn, “một đồn mười, mười đồn trăm”, tin đồn lây lan nhanh như cấp số nhân Khi được truyền từ người này qua người khác, những chi tiết bị xuyên tạc theo khuynh hướng cá nhân và văn hóa
Công nghệ số đang làm điên đảo tin đồn, không phải “một đồn mười, mười đồn trăm như trước” mà ngay lập tức có thể “một đồn hàng nghìn, nghìn đồn hàng triệu” Ví dụ như sau sự kiện động đất lịch sử tại Nhật Bản, chỉ có một đêm, tin đồn mưa axít đã ào ạt tấn công toàn châu lục, bất luận ranh giới địa lý và thể chế xã hội của quốc gia, vùng miền Tin nhắn qua chat, điện thoại với nội dung cảnh báo mọi người không nên ra ngoài khi trời mưa vì đó là mưa axít phát sinh từ sự cố hạt nhân tại Nhật Bản lan truyền khắp nơi, có cả Việt Nam Kiểu tán phát bằng chat, điện thoại khiến
kể cả người không mấy quan tâm, không tò mò cũng bị tấn công bằng phương thức tung tin nhắn tự động Hàng loạt máy điện thoại trong buổi sáng nhận được vô số tin nhắn "cảnh báo nguy hiểm", và phương thức này cùng với truyền miệng, nó nhanh chóng tạo thành "bão tin đồn"
- 3) Nguồn thông tin: nguồn thông tin của tin đồn bao giờ cũng xuất
phát từ người khác (tôi nghe người này nói, người kia nói); nguồn thông tin của dư luận xã hội lại xuất phát từ chính là bản thân người phát ngôn
Tin đồn được lan truyền qua các kênh không chính thống, cơ bản là truyền miệng
Dư luận xã hội xuất hiện từ thông tin đã được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, là thông tin chính thức
Người Mĩ đã từng nói: “Sẽ không tin bất cứ điều gì nếu điều đó chưa xuất hiện trên truyền hình”
Để gây dựng cơ sở và tạo độ tin cậy cho tin đồn, người tung tin đồn
cố gán ghép cái gọi là cơ sở khoa học, gắn với các dấu mốc, sự kiện có thật
Trang 10Chính sự thật giả hỗn hợp này đã tạo tin đồn có "móng" bám trụ Chẳng hạn, khi tung tin đồn về mưa axít, đoạn tin được nhồi nặn như sau:
"Một nhà máy hạt nhân tại Fukumi, Nhật đã phát nổ lúc 4h30' sáng nay Nếu ngày mai hoặc ngày kia trời mưa, đừng ra khỏi nhà Nếu bạn đang ở ngoài, hãy đảm bảo rằng bạn được bảo vệ khỏi những giọt mưa Đấy là mưa axít Đừng để nó rơi vào người bạn Bạn có thể bị bỏng, rụng tóc và bị ung thư Xin hãy chuyển thông điệp này cho mọi người và giữ an toàn, nhắc nhở những người quen của bạn" Tin đồn xuất phát từPhilippinesvà
đã lan truyền với tốc độ chóng mặt khắp châu Á, trong đó có cả Việt Nam Thời điểm đó, không ít người đã lo lắng, thông báo cho con em mình không được ra ngoài trời khi phát hiện có mưa Đọc đoạn tin trên, có thể thấy, kẻ tung tin đồn đã khéo léo gán ghép những sự kiện nóng bỏng có thật
để cài chuyện huyễn hoặc Sự kiện nóng bỏng có thật là sự cố nhà máy điện hạt nhân ở Nhật, đúng cả về thời gian và địa điểm Vì vậy, khi nó được cài đoạn mưa axít, hiển nhiên độ tin cậy tăng lên Hơn nữa, cách truyền tin dưới dạng nhắc nhở, khuyến cáo chứ không phải đe dọa khiến người nhận tin cảm nhận đây là tin hữu ích: đừng để mưa rơi vào người bạn!
Tại ViệtNam, những kiểu tin đồn "cài khoa học" hoặc cố tình gán cho người có uy tín như nhà khoa học VD tin đồn về mây phóng xạ, kẻ tung tin đã chụp mũ nguồn tin từ nhà khoa học, Giáo sư Phạm Duy Hiển Nhiều người đã nhận được tin nhắn qua hệ thống chat hoặc email của một người xưng là cháu của Giáo sư Phạm Duy Hiển, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu năng lượng hạt nhân, nói rằng: "Mây phóng xạ từ Nhật đã vào Việt Nam với mức độ nhiễm rất cao, gần tới mức ảnh hưởng tới con người, Chính phủ chưa công bố ngay vì sợ mọi người hoang mang và viện cần tiến hành thêm một vài xét nghiệm" Giáo sư Phạm Duy Hiển sau đó đã bác bỏ tin đồn chụp mũ, bịa đặt này
Ở lĩnh vực tài chính, tiền tệ, chúng ta cũng từng chứng kiến những tin đồn nguy hiểm như: tin đồn cho rằng ngân hàng sắp đổi tiền, sắp phát