1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LA03 059 giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử ở việt nam

183 119 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 183
Dung lượng 2,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT DANH MỤC HÌNH, BIỂU, BẢNG, HỘP MỞ ĐẦU Trang 1 2 5 7 8 CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHỦ YẾU VỀ HIỆU LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐẢM BẢO AN TOÀN TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1.1 Tổng quan về thương mại điện tử và khuôn khổ pháp lý 1.1.1 Khái niệm về thương mại điện tử 1.1.2 Các loại hình giao dịch trong thương mại điện tử 1.1.3 Vai trò của các chủ thể trong việc phát triển thương mại điện tử 1.1.4 Thách thức và ảnh hưởng của thương mại điện tử 1.1.5 Khuôn khổ về pháp lý cho thương mại điện tử 1.1.6 Chính sách phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam 1.2 Hiệu lực quản lý nhà nước trong thương mại điện tử 1.2.1 Khái niệm, nội dung và nguyên tắc quản lý nhà nước 1.2.2 Quản lý nhà nước đảm bảo an toàn nhìn dưới góc độ kỹ thuật 1.2.3 Hiệu lực quản lý nhà nước trong thương mại điện tử 1.3 An toàn trong thương mại điện tử 1.3.1 Khái niệm về an toàn trong thương mại điện tử 1.3.2 Những hành vi gây mất an toàn trong thanh toán trực tuyến 1.3.3 Chính sách bảo mật đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử 1.4 Chiến lược, chính sách quản lý nhà nước về TMĐT ở Hàn Quốc 1.4.1 Chính sách phát triển và đảm bảo an toàn TMĐT ở Hàn Quốc 1.4.2 Bài học kinh nghiệm về quản lý nhà nước phát triển TMĐT 14 14 18 20 24 29 35 41 41 49 52 55 55 57 61 64 64 68 CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HIỆU LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐẢM BẢO SỰ AN TOÀN TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM 70 2.1 Tổng quan các quy định pháp luật về hoạt động quản lý TMĐT 2.1.1 Khung pháp lý quản lý hoạt động thương mại điện tử 2.1.2 Các quy định liên quan đến giao dịch điện tử trong các văn bản pháp luật về dân sự thương mại 2.1.3 Các quy định về giao dịch điện tử và công nghệ thông tin 2.1.4 Một số các quy định về thuế, kế toán trong giao dịch điện tử 2.2 Thực trạng về chính sách quản lý đảm bảo an toàn TMĐT tại doanh nghiệp 2.2.1 Thực trạng chính sách phát triển hạ tầng CNTT Internet 2.2.2 Bảo đảm an toàn thông tin và bảo vệ thông tin cá nhân 2.2.3 Nguồn nhân lực trong quản lý TMĐT tại doanh nghiệp 2.2.4 Đầu tư cho CNTT và TMĐT của doanh nghiệp 2.2.5 Một số những trở ngại trong việc ứng dụng TMĐT 2.2.6 Kiến nghị từ phía doanh nghiệp đối với các cơ quan quản lý 2.3 Thực trạng về hạ tầng liên quan đến an toàn trong TMĐT 2.3.1 An toàn thông tin mức hạ tầng 2.3.2 An toàn thông tin mức ứng dụng 2.3.3 An toàn dữ liệu trong các giao dịch điện tử 2.3.4 Các mối đe dọa an toàn thông tin điển hình trong giao dịch 2.3.5 Một số chính sách, cơ chế, biện pháp quản lý đảm bảo an toàn 2.3.6 Các chính sách tự bảo vệ của doanh nghiệp 2.3.7 Giải quyết tranh chấp trong thương mại điện tử 2.3.8 Thống kê thương mại điện tử 2.3.9 Một số quy định được áp dụng trong thương mại điện tử 2.4 Đánh giá tổng quát hiệu lực quản lý nhà nước đảm bảo an toàn thương mại điện tử ở Việt Nam 2.4.1 Những thành tựu chung và kết quả đạt được 2.4.2 Những tồn tại cần khắc phục và nguyên nhân 70 70 73 76 79 92 92 94 95 97 98 100 104 104 105 106 107 113 121 124 126 128 132 132 134 CH¬ƯƠNG 3. GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐẢM BẢO AN TOÀN TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM 137 3.1 Dự báo phát triển, cảnh báo nguy cơ đe dọa an toàn trong TMĐT 3.1.1 Xu thế phát triển thương mại điện tử trên thế giới 3.1.2 Dự báo về nhu cầu thị trường thương mại điện tử ở Việt Nam 3.1.3 Dự báo các nhân tố tác động tới sự phát triển thương mại điện tử trong tương lai và các mối đe dọa an ninh an toàn thông tin điển hình 3.2 Quan điểm, mục tiêu và yêu cầu đặt ra đối với nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử 3.2.1 Quan điểm, mục tiêu về công tác quản lý nhà nước 3.2.2 Yêu cầu đặt ra đối với quản lý nhà nước đảm bảo an toàn 3.2.3 Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đảm bảo an toàn 3.3 Một số giải pháp, khuyến nghị về chính sách quản lý TMĐT 3.3.1 Nâng cao hiệu lực, năng lực công nghệ, nguồn nhân lực thực thi quản lý nhà nước đảm bảo an toàn 3.3.2 Đối với các cơ quan quản lý nhà nước 3.3.3 Đối với các doanh nghiệp 3.3.4 Đối với người tiêu dùng KẾT LUẬN DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 137 137 138 140 145 145 147 151 157 161 169 171 174 177 180 181

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, được xuất phát từ yêu cầu thực tế và những đòi hỏi trong công việc để hình thành hướng nghiên cứu luận án Luận án nghiên cứu: “Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử ở Việt Nam” được thực hiện bằng các số liệu nghiên cứu có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo tuân thủ đúng nguyên tắc và kết quả nghiên cứu là trung thực chưa từng được tập thể và cá nhân nào công bố trước đây

NGHIÊN CỨU SINH

Nguyễn Đức Tài

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

NHÀ NƯỚC ĐẢM BẢO AN TOÀN TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

14

1.1 Tổng quan về thương mại điện tử và khuôn khổ pháp lý

1.1.1 Khái niệm về thương mại điện tử

1.1.2 Các loại hình giao dịch trong thương mại điện tử

1.1.3 Vai trò của các chủ thể trong việc phát triển thương mại điện tử

1.1.4 Thách thức và ảnh hưởng của thương mại điện tử

1.1.5 Khuôn khổ về pháp lý cho thương mại điện tử

1.1.6 Chính sách phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam

1.2 Hiệu lực quản lý nhà nước trong thương mại điện tử

1.2.1 Khái niệm, nội dung và nguyên tắc quản lý nhà nước

1.2.2 Quản lý nhà nước đảm bảo an toàn nhìn dưới góc độ kỹ thuật

1.2.3 Hiệu lực quản lý nhà nước trong thương mại điện tử

1.3 An toàn trong thương mại điện tử

1.3.1 Khái niệm về an toàn trong thương mại điện tử

1.3.2 Những hành vi gây mất an toàn trong thanh toán trực tuyến

1.3.3 Chính sách bảo mật đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử

1.4 Chiến lược, chính sách quản lý nhà nước về TMĐT ở Hàn Quốc

1.4.1 Chính sách phát triển và đảm bảo an toàn TMĐT ở Hàn Quốc

1.4.2 Bài học kinh nghiệm về quản lý nhà nước phát triển TMĐT

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐẢM

BẢO SỰ AN TOÀN TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM

70

Trang 3

2.1 Tổng quan các quy định pháp luật về hoạt động quản lý TMĐT

2.1.1 Khung pháp lý quản lý hoạt động thương mại điện tử

2.1.2 Các quy định liên quan đến giao dịch điện tử trong các văn bản

pháp luật về dân sự- thương mại

2.1.3 Các quy định về giao dịch điện tử và công nghệ thông tin

2.1.4 Một số các quy định về thuế, kế toán trong giao dịch điện tử

2.2 Thực trạng về chính sách quản lý đảm bảo an toàn TMĐT tại

doanh nghiệp

2.2.1 Thực trạng chính sách phát triển hạ tầng CNTT & Internet

2.2.2 Bảo đảm an toàn thông tin và bảo vệ thông tin cá nhân

2.2.3 Nguồn nhân lực trong quản lý TMĐT tại doanh nghiệp

2.2.4 Đầu tư cho CNTT và TMĐT của doanh nghiệp

2.2.5 Một số những trở ngại trong việc ứng dụng TMĐT

2.2.6 Kiến nghị từ phía doanh nghiệp đối với các cơ quan quản lý

2.3 Thực trạng về hạ tầng liên quan đến an toàn trong TMĐT

2.3.1 An toàn thông tin mức hạ tầng

2.3.2 An toàn thông tin mức ứng dụng

2.3.3 An toàn dữ liệu trong các giao dịch điện tử

2.3.4 Các mối đe dọa an toàn thông tin điển hình trong giao dịch

2.3.5 Một số chính sách, cơ chế, biện pháp quản lý đảm bảo an toàn

2.3.6 Các chính sách tự bảo vệ của doanh nghiệp

2.3.7 Giải quyết tranh chấp trong thương mại điện tử

2.3.8 Thống kê thương mại điện tử

2.3.9 Một số quy định được áp dụng trong thương mại điện tử

2.4 Đánh giá tổng quát hiệu lực quản lý nhà nước đảm bảo an toàn

thương mại điện tử ở Việt Nam

2.4.1 Những thành tựu chung và kết quả đạt được

2.4.2 Những tồn tại cần khắc phục và nguyên nhân

Trang 4

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU LỰC

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐẢM BẢO AN TOÀN TRONG THƯƠNG MẠI

ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM

137

3.1 Dự báo phát triển, cảnh báo nguy cơ đe dọa an toàn trong TMĐT

3.1.1 Xu thế phát triển thương mại điện tử trên thế giới

3.1.2 Dự báo về nhu cầu thị trường thương mại điện tử ở Việt Nam

3.1.3 Dự báo các nhân tố tác động tới sự phát triển thương mại điện tử

trong tương lai và các mối đe dọa an ninh an toàn thông tin điển hình

3.2 Quan điểm, mục tiêu và yêu cầu đặt ra đối với nâng cao hiệu lực

quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử

3.2.1 Quan điểm, mục tiêu về công tác quản lý nhà nước

3.2.2 Yêu cầu đặt ra đối với quản lý nhà nước đảm bảo an toàn

3.2.3 Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đảm bảo an toàn

3.3 Một số giải pháp, khuyến nghị về chính sách quản lý TMĐT

3.3.1 Nâng cao hiệu lực, năng lực công nghệ, nguồn nhân lực thực thi

quản lý nhà nước đảm bảo an toàn

3.3.2 Đối với các cơ quan quản lý nhà nước

3.3.3 Đối với các doanh nghiệp

3.3.4 Đối với người tiêu dùng

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nguyên bản Tiếng Anh Nguyên bản Tiếng Việt

ADSL Asymmetric Digital Subscriber

Line

Đường thuê bao số không đối xứng

APEC Asia - Pacific Economic

Cooperation

Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương

ATA Asia - Pacific Trustmark Alliance Liên minh các tổ chức cấp chứng nhận

website thương mại điện tử uy tín Châu Á - Thái Bình Dương

ATM Automatic Teller Machine Máy rút tiền tự động

B2B Business to Business Giao dịch giữa doanh nghiệp với

doanh nghiệp

B2C Business to Consumer Giao dịch giữa doanh nghiệp với cá

nhân

BKIS Bach Khoa Internet Security Trung tâm an ninh mạng Đại học

Bách khoa Hà Nội

eC/O Electronic Certificate of Origin Chứng nhận xuất xứ điện tử

C2C Consumer to Consumer Giao dịch thương mại điện tử giữa cá

nhân với cá nhân

CNTT Information Technology Công nghệ thông tin

CP Content Provider Nhà cung cấp dịch vụ nội dung

Ecombiz Forum e-commerce Expo Viet

EDI Electronic Data Interchange Trao đổi dữ liệu điện tử

ERP Enterprise Resources Planning Giải pháp hoạch định nguồn lực doanh

nghiệp

Trang 6

FTA Free Trade Area Hiệp định Khu vực thương mại tự do

G2B Government to Business Giao dịch thương mại điện tử giữa

chính phủ, doanh nghiệp

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm nội địa

ICANN Organization of International

domain names

Tổ chức tên miền quốc tế

IP Internet Protocol Giao thức Internet

ISP Internet Service Provider Nhà cung cấp dịch vụ Internet

IXP Internet Provider Dịch vụ kết nối Internet

OSP Online Service Provider Nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến

DBMS Database Management System Hệ quản trị cơ sở dữ liệu

TMĐT E- commerce Thương mại điện tử

UNCITRAL United nation Commission on

International Trade Law

Uỷ ban Liên Hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế

VCCI Champer of commerce and

Industry of VietNam

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

VNCERT Center for Computer Emegency

Response Team VietNam

Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp Máy tính Việt Nam

VNNIC VietNam Internet Network

Information Center

Trung tâm Internet Việt Nam

WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế giới

XML Extensible Markup Language Ngôn ngữ đánh dấu mở rộng

Trang 7

DANH MỤC BẢNG, HÌNH, HỘP

Bảng 1.1 Phân loại doanh nghiệp có nguy cơ bị gian lận trực tuyến

Bảng 2.1 Các văn bản liên quan đến khung pháp lý của giao dịch điện tử

Hộp 2.1 Tài liệu điện tử thừa nhận giá trị pháp lý trong Bộ luật dân sự và

Luật thương mại

Hộp 2.2 Quy định hợp đồng điện tử trong Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Hộp 2.3 Quy định liên quan tới việc lưu trữ và truyền đạt tác phẩm bằng

phương tiện điện tử trong Luật sở hữu trí tuệ

Hình 2.1 Hệ thống Luật, Nghị định về giao dịch điện tử và CNTT

Hình 2.2 Các văn bản về xử phạt hành chính áp dụng xử lý vi phạm

Hộp 2.4 Những hành vi xâm phạm đến quyền lợi người tiêu dùng trong

TMĐT

Hộp 2.5 Các hành vi tội phạm về CNTT tại Bộ Luật hình sự năm 1995

Hộp 2.6 Các hành vi tội phạm về CNTT và TMĐT trong Luật sửa đổi, bổ

sung Bộ luật hình sự năm 2009

Hình 2.3 Tần suất sử dụng Internet của hộ gia đình tại Hà Nội năm 2010

Hình 2.4 Các biện pháp bảo đảm an toàn thông tin quy mô doanh nghiệp

Hình 2.5 Tỷ lệ cán bộ chuyên trách về TMĐT theo các lĩnh vực

Hình 2.6 Thống kê của VNISA về các hình thức tấn công Internet

Hình 2.7 Thống kê của VNISA về công nghệ đảm bảo an toàn

Hình 2.8 Các tấn công mà tổ chức gặp phải kể từ tháng 1/2008

Hình 2.9 Kết quả thăm dò hoạt động gửi tin nhắn rác

Hộp 2.7 Một số quy định liên quan đến bảo vệ thông tin cá nhân

Hình 2.10 Đánh giá mức trở ngại với ứng dụng TMĐT 2010

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận án

Ngày nay, giao dịch điện tử trong hoạt động thương mại đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống trên toàn thế giới Công nghệ thông tin, Internet ra đời và phát triển, đồng thời thương mại điện tử cũng xuất hiện, phát triển với tốc độ rất nhanh dù ở các hình thức, các mức độ khác nhau tuỳ theo từng quốc gia, từng khu vực Từ khi xuất hiện khái niệm và thuật ngữ “thương mại điện tử”, nó luôn trở thành một chủ đề mang tính thời sự trong đời sống kinh tế trên phạm vi toàn cầu Sự xuất hiện và phổ biến thương mại điện tử ở Việt Nam cũng trở thành một phần tất yếu của một đất nước với gần 90 triệu dân và hàng trăm triệu thuê bao điện thoại cùng hệ thống hạ tầng tương đối rộng khắp Muốn gọi một dịch vụ nào đó, người ta có thể nhấc điện thoại lên gọi và thế là một giao dịch được hình thành hay muốn mua một món đồ gì đó, có thể là dịch vụ hay sản phẩm cụ thể, hay thậm chí là sản phẩm số hóa người ta cũng chỉ cần một cú “nhấp chuột” trên trang Web là đã có thể sở hữu sản phẩm hay thụ hưởng dịch vụ mình mong muốn một cách rất nhanh chóng và thuận tiện Do sự phát triển nhanh, tính phổ cập, tính thanh toán quốc tế nên thương mại điện tử đem lại những lợi ích to lớn như sự tiếp cận, tìm kiếm dịch

vụ nhanh chóng cho khách hàng là doanh nghiệp tư nhân thậm chí cả chính phủ và bên cung cấp dịch vụ cũng tiếp cận khách hàng nhanh trong môi trường không biên giới, xóa nhòa khoảng cách về địa lý, thời gian Điều này cũng tạo ra một mặt trái của thương mại điện tử là hiện tượng tội phạm sử dụng công nghệ cao ở tại bất cứ khu vực nào trên thế giới có kết nối Internet đều có thể tạo ra những thông tin thương mại sai lệch hoặc lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng nhiều hình thức, thủ đoạn tinh vi, luôn được cập nhật và trao đổi trên các diễn đàn có mục đích xấu Có rất nhiều ví dụ tại Việt Nam như lừa đảo trúng thưởng qua tin nhắn điện thoại di động, trộm cắp mật khẩu, chiếm quyền truy nhập địa chỉ các thư điện tử, lừa đảo trực tuyến hoặc lắp đặt các thiết bị theo dõi các thông tin cá nhân trên hệ thống ATM để sản xuất thẻ giả nhằm chiếm đoạt tiền hoặc thanh toán mua hàng bất hợp pháp

Trang 9

Nguy hiểm hơn, do cạnh tranh không lành mạnh, giới tội phạm công nghệ cao có thể đánh sập các trang web hay các sàn giao dịch thương mại điện tử

Đặt trong thực trạng các điều kiện để hình thành Chính phủ điện tử tại Việt Nam, tội phạm công nghệ cao trên môi trường mạng vẫn tiếp tục gia tăng với xu hướng có tính quốc tế rõ rệt, việc tấn công cơ sở dữ liệu của các cơ quan nhà nước, e-banking, các công ty thương mại điện tử liên tục xảy ra Số lượng lớn các vụ tấn công gây thiệt hại về kinh tế nhưng rất khó ước tính cũng trở thành mối đe doạ cho

sự cạnh tranh, phát triển của nền kinh tế Ngoài ra, sự phổ biến của web 2.0 với các mạng xã hội như Facebook, Twitter… cũng làm nảy sinh hàng loạt thách thức cho đảm bảo an toàn thông tin và giao dịch trực tuyến đối với người dùng cá nhân trong các tổ chức, doanh nghiệp Trong thời gian qua, Cục An ninh thông tin truyền thông, Tổng cục an ninh II, Bộ Công An đã phát hiện một số trang web trên mạng Internet bán hàng loạt thông tin cá nhân, cụ thể là họ tên, tuổi, nơi làm việc, địa chỉ,

số điện thoại di động của cả trăm nghìn người, hành vi này có dấu hiệu vi phạm điều 226 Bộ Luật hình sự Trước một loại hình tội phạm rất mới này, Tổng cục An ninh II kiến nghị xử lý và đẩy mạnh việc kiểm soát các băng nhóm phạm pháp hình

sự tiến hành mua bán thông tin cá nhân trên mạng Internet để sử dụng trong mục đích phạm tội như: tống tiền, đe dọa, ăn cắp… Bên cạnh đó là những lo lắng về vấn

đề bảo mật, về an ninh, an toàn trong thanh toán trực tuyến qua ngân hàng khi tiến hành giao dịch thương mại điện tử khiến cho các chủ thể tham gia trở thành nạn nhân của gian lận trực tuyến và mất an toàn thông tin Mỗi sự cố, dù là nhỏ nhưng qua các phương tiện truyền thông sẽ lan tỏa và làm giảm lòng tin của khách hàng

Trước những nguy cơ, rủi ro về sự mất an toàn trong thương mại điện tử, cần thiết phải hoàn chỉnh khung pháp lý đủ mạnh, các biện pháp thực thi có hiệu quả, các công tác thanh, kiểm tra, giám sát chặt chẽ để nhằm xử lý, răn đe, phòng ngừa những đối tượng là tội phạm trong nước và quốc tế lấy Việt Nam làm nơi thực hiện hoạt động phạm pháp Vì thế, đòi hỏi sự nghiên cứu, thống nhất về mặt lý luận, làm

rõ các vấn đề liên quan đến tính hiệu lực của công tác quản lý nhà nước trong việc đảm bảo an toàn trong các hoạt động giao dịch thương mại điện tử ở Việt Nam

Trang 10

2 Tình hình nghiên cứu

Thương mại điện tử đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tổ chức quốc tế trên thế giới và đông đảo các nhà nghiên cứu, các viện nghiên cứu, các trường đại học rất chú ý quan tâm tới thương mại điện tử

Liên hiệp quốc cũng đã nghiên cứu và phổ biến về “Chính phủ điện tử và Thương mại điện tử” thông qua tài liệu giảng dạy tới các quốc gia do Trung tâm đào tạo phát triển công nghệ thông tin và truyền thông Châu Á- Thái Bình Dương (APCICT) nghiên cứu với mục tiêu truyền đạt các kiến thức cho các nhà lãnh đạo Chính phủ tại các Quốc gia Châu Á- Thái Bình Dương nhằm hoạch định chính sách quản lý và các sáng kiến về chính phủ điện tử và thương mại điện tử một cách hiệu quả hơn Ủy ban Châu Âu- Viện bảo vệ và an ninh công dân thuộc Trung tâm nghiên cứu hỗn hợp ISPRA- Italia cũng đã nghiên cứu về: “Chiến lược tin cậy và an toàn B2C trong thương mại điện tử” Nghiên cứu này đã đi sâu phân tích một cách có hệ thống về mối quan hệ giữa công nghệ, xã hội, kinh tế và chính sách nhằm đem lại sự an toàn và tin tưởng trong thương mại điện tử Stayling Wen, một doanh nhân Đài Loan cũng nghiên cứu và cho ra đời cuốn sách “Tương lai của thương mại điện tử” Cùng với rất nhiều các tác giả khác trên thế giới cũng có các công trình nghiên cứu về về mạng xã hội, kinh doanh, công cụ trực tuyến, công cụ tìm kiếm,

an ninh mạng, bảo mật, khung pháp lý, công nghệ và cơ sở hạ tầng cho thương mại điện tử của các quốc gia trên thế giới

Việt Nam đã thống nhất về mặt quản lý nhà nước về thương mại điện tử bằng việc thành lập Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin thuộc Bộ Công Thương Nhiều công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động thương mại điện tử được Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin cùng các Tổ chức, Hiệp hội thực hiện Tuy nhiên, nghiên cứu cụ thể về quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử thì chưa có nhiều Một số công trình nghiên cứu thương mại điện tử về bảo mật, an toàn và pháp lý đã được biết tới như: Báo cáo đề tài nhánh KC01-05 của Ban cơ yếu Chính phủ năm 2004: “Nghiên cứu, xây dựng giải pháp bảo mật thông tin trong thương mại điện tử” Đề tài: “Pháp luật về thương mại điện

Trang 11

tử tại Việt Nam: thực trạng và một số khuyến nghị” do Tiến sĩ Nguyễn Anh Sơn – Phó vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Công Thương Công trình: “Luật thương mại quốc

tế, các văn bản nền tảng của Ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế của UNCITRAL Sách kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế “Thương mại điện tử và phát triển nguồn nhân lực” do Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Quyền- Phó Cục trưởng Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin chủ biên Các công trình nghiên cứu về thương mại điện tử hiện nay có nhiều nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về hiệu lực quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử

Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật giao dịch điện tử, Luật Công nghệ thông tin, Quốc hội khóa XII thông qua Luật Bảo vệ người tiêu dùng Trên cơ sở đó, Chính phủ cũng phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử 2006-2010 (Quyết định số 222/2005/QĐ-TTg), giai đoạn 2011-2015 (Quyết định số 1073/ QĐ-TTg) để xác định rõ kế hoạch thực hiện triển khai thương mại điện tử ở Việt Nam Tổng quan tình hình nghiên cứu như trên có thể đánh giá rằng cần thiết phải có những nghiên cứu cụ thể đánh giá về tính hiệu lực công tác quản lý nhà nước để đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử Với mong muốn đi sâu nghiên cứu vấn đề đó đồng thời dự báo sự phát triển thương mại điện tử, quản lý nhà nước một cách hiệu lực nhằm đảm bảo an toàn, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử ở Việt Nam” để nghiên cứu luận án tiến sĩ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở khoa học, lý luận về hiệu lực quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử ở Việt Nam từ đó luận án đề xuất một số giải pháp và nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử Song song với việc nghiên cứu làm rõ các giá trị nội hàm về quản lý nhà nước, hiệu lực quản lý nhà nước, về an toàn trong thương mại điện tử, luận án cũng dự báo về sự phát triển thương mại điện tử và vấn đề quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này ở Việt Nam, với mục tiêu:

“Quản lý phải theo kịp với sự phát triển”

Trang 12

Nhiệm vụ cụ thể của Nghiên cứu sinh đặt ra trong luận án là:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận, khoa học về các nội dung quản lý nhà nước và an toàn trong thương mại điện tử Đánh giá thực trạng về hiệu lực công tác quản lý nhà nước để đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử ở Việt Nam

- Tiếp cận vấn đề nghiên cứu luận án dưới góc độ doanh nghiệp đánh giá về vấn đề quản lý nhà nước và những kiến nghị từ phía doanh nghiệp đối với cơ quan xây dựng chính sách, thực thi pháp luật để nhằm nâng cao hiệu lực của quản lý nhà nước đảm bảo an toàn cho thương mại điện tử

- Nghiên cứu, đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước nhằm tăng cường độ an toàn trong thương mại điện tử để tạo môi trường, điều kiện phát triển cho thương mại điện tử ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là hiệu lực của công tác quản lý nhà nước nhằm giảm thiểu rủi ro trong thương mại điện tử ở Việt Nam Vì thương mại là hoạt động mang tính toàn cầu, chịu sự điều khiển, chi phối của hệ thống luật pháp nhiều quốc gia liên quan nên đối tượng nghiên cứu còn là các quy định, luật pháp quốc tế liên quan đến thương mại điện tử

Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu về tính hiệu lực của công tác quản lý nhà nước nhằm mục đích đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử Nghiên cứu nhìn dưới góc độ doanh nghiệp và hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước

Luận án nghiên cứu hiệu lực quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử kể từ năm 2000 cho đến nay Khi đề xuất các giải pháp, luận án lấy mốc từ năm 2005- Luật giao dịch điện tử số 51/2005/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 đồng thời cũng là năm Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006-2010 theo Quyết định số 222/2005/QĐ-TTg, ngày 27/12/2005 căn cứ theo Chỉ thị số 58/CT-TW, ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh và ứng dụng công nghệ thông tin trong

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trang 13

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận án, nghiên cứu sinh ứng dụng đồng thời và hài hòa những phương pháp nghiên cứu chủ đạo trong kinh tế chính trị như: Phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lê Nin

Trong đó, chú trọng sử dụng các phương pháp để thu thập số liệu như: Phương pháp điều tra, khảo sát đánh giá thực tiễn, nghiên cứu định tính; Phương pháp thống kê, so sánh, diễn giải, quy nạp, phân tích và phỏng vấn sâu chuyên gia

Do lượng thông tin dàn trải, vấn đề nghiên cứu mới, khá phức tạp, đa phần tính pháp lý, thương mại cùng kết hợp với công nghệ, hơn nữa các tài liệu nhiều và phân tán, việc thu thập thông tin, tài liệu có khó khăn nên việc phân tích các số liệu chủ yếu dựa trên các phân tích thông tin mang tính chất định tính được thu thập qua nghiên cứu thực địa và phỏng vấn sâu các chuyên gia về vấn đề này

6 Những đóng góp mới của luận án

Là một công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về hiệu lực quản

lý nhà nước nhằm đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử ở Việt Nam, luận án có những đóng góp sau: Thứ nhất là, hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận quản lý nhà nước, hiệu lực quản lý nhà nước, hiệu quả của pháp lý tạo sự chuyển biến sâu về an toàn trong giao dịch Thứ hai là, phân tích và làm rõ nội hàm của phạm trù: “An toàn trong giao dịch thương mại điện tử ở Việt Nam” cùng thực trạng về hiệu lực quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử ở Việt Nam, giai đoạn 2006-2012 Thứ ba là, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử ở Việt Nam

7 Bố cục của luận án

Nội dung của luận án được kết cầu gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước và an toàn trong thương mại điện tử Chương 2: Thực trạng về hiệu lực quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử

Chương 3: Giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHỦ YẾU VỀ HIỆU LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐẢM

BẢO AN TOÀN TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1.1 Tổng quan về thương mại điện tử và khuôn khổ pháp lý

1.1.1 Khái niệm về thương mại điện tử

Thương mại điện tử, hiểu theo nghĩa thông thường nhất là giao dịch thương mại thông qua môi trường điện tử Xét về mặt kỹ thuật đó là nhờ thành quả của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là mạng Internet, sự ra đời của các sản phẩm kỹ thuật số cầm tay hay các thiết bị di động Xét về mặt phát triển kinh tế thì công nghệ thông tin vừa là sản phẩm, vừa là công cụ tất yếu cho sự phát triển kinh tế thế giới trong quá trình toàn cầu hóa dần hướng tới một nền kinh tế tri thức trong đó thông tin là yếu tố chủ đạo

Lịch sử ra đời và phát triển thương mại điện tử gắn liền tới tiến bộ của công nghệ thúc đẩy thế giới theo xu thế toàn cầu hóa Công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là sự phát triển mạnh của công nghệ lưu trữ dành cho máy tính cá nhân đã tạo ra cơ sở hạ tầng là mạng máy tính toàn cầu cho phép kết nối Internet liên tục dẫn đến sự thu hẹp không gian và thời gian cho các hoạt động giao dịch thương mại, kinh tế Người làm thương mại cần các giao dịch thỏa thuận giữa người mua và người bán đã nhanh chóng áp dụng công nghệ này tạo ra những giao dịch nhanh chóng, thuận tiện, không bị giới hạn bởi thời gian, khoảng cách địa lý, địa điểm giao dịch Do đó, công nghệ thông tin mà nền tảng là Internet đã đem lại nhiều yếu tố thuận lợi để thay đổi phương thức giao dịch cũ tạo ra một chương mới trong lịch sử thương mại, đó là một thành quả công nghệ sẽ được ứng dụng rộng rãi trong tương lai của ngành thương mại điện tử

Hiện nay, ngoài Inetrnet, các phương thức truyền dẫn khác cũng là môi trường cho sự phát triển của thương mại điện tử Ví dụ: Truyền hình cáp trả tiền, truyền hình kỹ thuật số mặt đất, công nghệ viễn thông 3G… Thương mại điện tử ra đời đã và đang tiếp tục phát triển và hoàn thiện các dịch vụ của mình trên Internet

Trang 15

theo các mục đích kinh doanh khác nhau: trò chuyện trực tuyến, video trực tuyến, mở gian hàng ảo trưng bày sản phẩm, trao đổi đàm phán qua thư điện tử, ký hợp đồng mua bán có sử dụng chữ ký điện tử, thanh toán trực tuyến quốc tế các dịch vụ sau bán hàng Thương mại điện tử cũng góp phần thúc đẩy số người sử dụng Internet tạo ra một môi trường mới cho thương mại, điều đó phát sinh nhu cầu thực

tế về việc nghiên cứu thói quen tiêu dùng theo nhóm người, độ tuổi, nghiên cứu thị trường trên mạng…Internet ra đời cho khả năng kết nối rộng rãi, với chi phí thấp hơn nhiều so với các mạng chuyên dụng trước kia tạo ra những thuật ngữ và khái niệm khác nhau để mô tả phương thức mua bán qua mạng Buôn bán qua phương tiện điện tử, buôn bán trong không gian điều khiển học, thương mại không cần giấy, thương mại điện tử, kinh doanh điện tử Mỗi thuật ngữ đều phản ảnh một khía cạnh của một phương thức kinh doanh thương mại mới trên cơ sở là nền tảng kỹ thuật công nghệ thông tin Khái niệm thương mại điện tử là khái niệm được nhiều người sử dụng nhất, nhiều những thuật ngữ khá cũng được sử dụng phản ảnh các khía cạnh của khái niệm thương mại điện tử Đó là các giao dịch B2B chỉ các giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, B2C chỉ giao dịch giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng, G2C chỉ giao dịch giữa các cơ quan chính phủ với người tiêu dùng Bán lẻ điện tử là một khái niệm trong thương mại điện tử chỉ doanh nghiệp áp dụng hình thức bán trưng bày, quảng bá, giới thiệu sản phẩm qua mạng đến người có nhu cầu và giao hàng hóa cụ thể tận tay người tiêu dùng

Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về “thương mại điện tử” nhưng tựu trung lại có hai quan điểm lớn trên thế giới

Thương mại điện tử theo nghĩa rộng được định nghĩa trong Luật mẫu về Thương mại điện tử của Ủy ban Liên Hợp quốc về Luật Thương mại Quốc tế (UNCITRAL): “Thuật ngữ Thương mại cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng Các quan hệ mang tính thương mại bao gồm các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng; cho

Trang 16

thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành

khách bằng đường biển, đường không, đường sắt, đường bộ” Như vậy, có thể thấy

rằng phạm vi của thương mại điện tử rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, việc mua bán hàng hóa, dịch vụ chỉ là một trong hàng ngàn lĩnh vực áp dụng của thương mại điện tử

Ủy ban Châu Âu đưa ra định nghĩa về Thương mại điện tử như sau: “Thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữ liệu điện tử dưới dạng text, âm thanh và hình ảnh Thương mại điện tử gồm nhiều hành vi trong đó hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ qua phương tiện điện tử, giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng, chuyển tiền điện tử, mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử, đấu giá thương mại, hợp tác thiết kế, tài nguyên mạng, mua sắm công cộng, tiếp thị trực

tiếp tới người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng” Thương mại điện tử được

thực hiện đối với cả thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ; các hoạt động như chăm sóc sức khỏe, giáo dục và các hoạt động mới như siêu thị ảo Tóm lại, theo nghĩa rộng thì thương mại điện tử có thể được hiểu là các giao dịch tài chính và thương mại bằng phương tiện điện tử như: trao đổi dữ liệu điện tử; chuyển tiền điện tử và các hoạt động gửi rút tiền bằng thẻ tín dụng

Thương mại điện tử theo nghĩa hẹp bao gồm các hoạt động thương mại được thực hiện thông qua mạng Internet Các tổ chức như: Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế đưa ra các khái niệm về thương mại điện tử theo hướng này Thương mại điện tử được nói đến ở đây là hình thức mua bán hàng hóa được bày tại các trang Web trên Internet với phương thức thanh toán bằng thẻ tín dụng Có thể nói rằng Thương mại điện tử đang trở thành một cuộc cách mạng làm thay đổi cách thức mua sắm của con người

Theo Tổ chức Thương mại Thế giới: “Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên

Trang 17

mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình cả các sản phẩm được giao

nhận cũng như những thông tin số hóa thông qua mạng Internet”

Khái niệm về Thương mại điện tử do Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế của Liên Hợp quốc đưa ra là: “Thương mại điện tử được định nghĩa sơ bộ là các giao

dịch thương mại dựa trên truyền dữ liệu qua các mạng truyền thông như Internet”

Theo các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu được rằng theo nghĩa hẹp Thương mại điện tử chỉ bao gồm những hoạt động thương mại được thực hiện thông qua mạng Internet Qua nghiên cứu các khái niệm về thương mại điện tử như trên, hiểu theo nghĩa rộng thì hoạt động thương mại được thực hiện thông qua các phương tiện thông tin liên lạc đã tồn tại hàng chục, thậm chí hàng trăm năm nay như: điện thoại, fax, telex Theo nghĩa hẹp thì thương mại điện tử chỉ mới tồn tại được khoảng thời gian chưa lâu nhưng nhờ tiến bộ công nghệ đã đạt được những kết quả rất đáng quan tâm Trên thực tế, chính các hoạt động thương mại thông qua mạng Internet đã làm phát sinh thuật ngữ “Thương mại điện tử” Ngoài ra, từ các giác độ khác nhau, người ta có những khái niệm khác nhau về thương mại điện tử

Từ góc độ viễn thông: “Là sự cung cấp thông tin sản phẩm, hàng hóa, dịch

vụ hay thanh toán các sản phẩm, dịch vụ, hàng hóa thông qua mạng máy tính hay

các phương tiện điện tử khác”

Từ góc độ quản trị kinh doanh: “Là sự ứng dụng công nghệ hướng tới việc tự

động hóa trong những giao dịch thương mại và quản lý”

Từ góc độ dịch vụ: “Là một công cụ mà qua đó có thể gửi đơn hàng của các

hãng, của khách hàng để giảm chi phí và nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa và

dịch vụ, giảm thời gian vận chuyển hàng hóa, dịch vụ tới tay người tiêu dùng”

Từ viễn cảnh trực tuyến: “Thương mại điện tử là khả năng mua bán trao đổi các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trên Internet”

Trong thương mại điện tử, khái niệm thương mại được mở rộng hơn khái niệm thương mại truyền thống Phạm vi của thương mại điện tử rất rộng Nó phản ảnh xu thế phát triển của nền kinh tế số hóa trong đó mọi hình thái hoạt động kinh tế đang có xu hướng được hội tụ trên mạng máy tính Tuy nhiên, khái niệm thương

Trang 18

mại điện tử được nghiên cứu trong luận án chỉ hạn chế vào nội dung mua bán hàng

hóa trực tuyến và dịch vụ qua mạng

1.1.2 Các loại hình giao dịch trong thương mại điện tử

Mọi tổ chức hay bất kỳ cá nhân nào đều có thể tham gia thương mại điện tử nếu sử dụng thiết bị đầu cuối có thể kết nối mạng Tuy nhiên, nếu phân loại các thành phần tham gia thương mại điện tử có thể chia làm 3 thành phần cơ bản tham gia: người tiêu dùng, doanh nghiệp và các cơ quan chính phủ

Người tiêu dùng là chủ thể quan trọng nhất, có vai trò quyết định đến sự phát triển của thương mại điện tử Là điểm cuối trong chuỗi tiêu thụ hàng hóa và các dịch vụ, mục tiêu và đối tượng để doanh nghiệp và cơ quan chính phủ phục vụ nhằm thỏa mãn ngày càng cao các nhu cầu chính đáng của cá nhân hoặc cộng đồng

Doanh nghiệp là các tổ chức kinh doanh hàng hóa hoặc tạo ra các sản phẩm hàng hóa cũng như dịch vụ phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng và cộng đồng Doanh nghiệp giữ vai trò chủ động tiên phong trong tham gia thương mại điện tử

Các cơ quan chính phủ vừa là người tiêu thụ hàng hóa, vừa là người cung cấp hàng hóa là dịch vụ công trong thương mại điện tử cũng là người quản lý điều chỉnh các hoạt động thương mại điện tử thông qua hệ thống pháp luật

Dưới đây là mối quan hệ tác động giữa các chủ thể với nhau trong môi trường mạng máy tính hình thành các phạm trù giao dịch khác nhau trong thương mại điện tử:

- Giao dịch giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp (B2B): Đây là giao dịch mua

bán các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ giữa các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh kèm theo các dịch vụ tư vấn, bảo trì, nâng cấp sau bán hàng Doanh nghiệp cần lựa chọn nguồn hàng, đặt hàng từ các nhà cung cấp, nhận hóa đơn và thanh toán Các quá trình trên trước đây mất rất nhiều thời gian và nhân công do phải làm việc, đàm phán và gặp mặt trực tiếp, nay toàn bộ quá trình trên đều có thể thực hiện tại bất cứ đâu và vào bất cứ thời gian nào được cho là phù hợp với hai bên thông qua mạng Internet Điều này giúp giảm thiểu chi phí, tận dụng thời gian, nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Thực tế, loại giao dịch này đã được sử

Trang 19

dụng từ nhiều năm ở các mức độ khác nhau, trước khi ra đời mạng Internet, ví dụ như giao dịch thanh toán điện tử EDI đã được sử dụng trên các mạng riêng từ năm

1970 tại Mỹ B2B giúp các doanh nghiệp tiết kiệm được nhiều chi phí, lựa chọn đầu vào tốt hơn, quản lý tốt việc cung tiêu hàng hóa, thay đổi nhanh sản phẩm mẫu mã, đưa hàng ra thị trường Sau này, xuất hiện website trung gian để các doanh nghiệp giới thiệu, báo giá sản phẩm, tạo sân chơi mua bán hàng hóa, trang web này được gọi là sàn giao dịch điện tử Bên cạnh việc tạo ra một sân chơi cho các doanh nghiệp thực hiện việc mua bán, sàn giao dịch có thể thực hiện các giá trị gia tăng như cung cấp thông tin cần thiết do các doanh nghiệp tự quảng bá, tổ chức hội thảo, cung cấp các nghiên cứu điều tra thị trường cho doanh nghiệp

- Giao dịch giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng (B2C): Đây là giao dịch

mà ở đó người tiêu dùng mua hàng trực tiếp và các doanh nghiệp thực hiện việc bán

lẻ qua mạng thông qua website của doanh nghiệp hoặc sàn giao dịch Các giao dịch B2C không chỉ dừng ở mục tiêu cung cấp sản phẩm tới tận tay người tiêu dùng mà mở rộng thêm các hoạt động dịch vụ như thông tin chất lượng sản phẩm, độ tin cậy thông qua các diễn đàn thuộc sàn giao dịch, ngân hàng, đấu giá, bất động sản, du lịch Hình thức bán lẻ điện tử ngày càng được các doanh nghiệp chú ý và đầu tư triển khai áp dụng vì tiếp cận khách hàng nhanh chóng và thuận lợi Bán hàng trong B2C khác với B2B bởi giá cả thường cố định, doanh nghiệp chỉ cần xây dựng catalog, hệ thống duyệt dễ dàng cho khách hàng thăm quan, tìm kiếm sản phẩm, tìm

ra giải pháp thu tiền bằng nhiều hình thức thanh toán để giao hàng nhanh, hiệu quả đến tận khách hàng

- Giao dịch giữa doanh nghiệp và cơ quan chính phủ (B2G): Đây là các giao

dịch giữa các doanh nghiệp và chính phủ Các cơ quan chính phủ có thể thực hiện mua sắm trang thiết bị, hàng hóa dạng kỹ thuật số như phần mềm, ứng dụng cho chính phủ thông qua mạng như người tiêu dùng Các doanh nghiệp thực hiện nộp báo cáo, khai tờ khai hải quan điện tử, nộp hồ sơ xin phép đăng ký kinh doanh qua mạng thông qua các dịch vụ công mà các cơ quan chính phủ cung cấp Khi đó, các

cơ quan chính phủ giữ vai trò người cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cho doanh

Trang 20

nghiệp cũng như công dân Để thúc đẩy doanh nghiệp nhanh chóng tham gia thương mại điện tử, chính phủ lên kế hoạch xây dựng chính phủ điện tử để tăng cường các giao dịch giữa chính phủ và doanh nghiệp cũng như công dân qua đó nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước Giao dịch loại này phụ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội của chính phủ, vấn đề về nhận thức và quyết tâm áp dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động quản lý, thúc đẩy thương mại điện tử nhằm giảm chi phí cho xã hội

- Các giao dịch người tiêu dùng (công dân) với chính phủ (C2G): Đây là các

giao dịch cung cấp thông tin chính sách, trả lương hưu, trợ cấp, giải đáp thắc mắc, xin giấy phép…mà các cơ quan thuộc chính phủ sử dụng phương thức thương mại điện tử làm phương tiện Điều đó hình thành một chính phủ mở, tương tác 2 chiều giữa Chính phủ và người dân thông qua mạng Internet, nó chính là một phần của chính phủ điện tử

- Giao dịch giữa người tiêu dùng với người tiêu dùng (C2C): Đây là các giao

dịch giữa các người tiêu dùng có nhu cầu mua hoặc bán các hàng hóa dịch vụ mà mình sở hữu Thương mại điện tử cho phép thông qua website của cá nhân tổ chức các sàn đấu giá Các giao dịch dân sự như tìm việc, cho thuê nhà, cần thuê nhà, mua bán ô tô, xe máy, sửa chữa đồ điện tử, gia dụng cũng được đưa lên mạng Internet thông qua website cá nhân hoặc trung gian

- Giao dịch giữa các cơ quan chính phủ (G2G): Đây là các giao dịch giữa

các cơ quan chính phủ giữa các ngành các cấp với nhau để trao đổi, quản lý thông tin phục vụ công tác điều hành, quản lý vĩ mô Đó là các giao dịch như các báo cáo thống kê, xuất nhập khẩu, tra cứu đối chiếu thông tin, nhận, gửi, trả các công văn, thông báo quyết định…Các giao dịch này là một bộ phận của Chính phủ điện tử

1.1.3 Vai trò của các chủ thể tham gia thương mại điện tử

1.1.3.1 Vai trò của các doanh nghiệp

Doanh nghiệp đóng một vai trò chủ động, thúc đẩy thương mại điện tử phát triển Với đặc tính năng động, luôn tìm cách giảm thiểu chi phí, tối ưu hóa phương thức hoạt động, nâng cao hiệu quả, tạo lợi thế cạnh tranh nên doanh nghiệp luôn

Trang 21

phải tìm tòi đổi mới các phương thức kinh doanh Với điều kiện cơ sở hạ tầng thông tin phát triển, kèm theo an ninh, an toàn, hạ tầng các doanh nghiệp sẽ nhận thức tốt hơn về lợi ích của thương mại điện tử và từ đó nhanh chóng tìm hiểu nắm bắt công nghệ tạo xu hướng tích cực đầu tư triển khai thương mại điện tử theo cách của mình Thương mại điện tử sẽ cung cấp cho doanh nghiệp thông tin phong phú về các nhà sản xuất kinh doanh, thị trường đầu vào, đầu ra tiếp cận nhanh với các phản hồi của khách hàng từ đó giúp cho doanh nghiệp xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh thích hợp với nhu cầu thị trường, thậm chí sản xuất theo đơn hàng nhằm giảm thiểu chi phí tồn kho, đây là xu thế phát triển của ngành hàng trong khu vực và thế giới Thông qua thương mại điện tử, doanh nghiệp tìm kiếm nắm bắt được công nghệ sản xuất mới, nhanh, tìm đối tác, nắm chắc thông tin thị trường từ đó tác động lại quá trình sản xuất, nâng cao hiệu quả hoạt động với mức chi phí phù hợp

Thương mại điện tử giúp doanh nghiệp điều hành sản xuất, loại bỏ nhiều khâu trung gian, tiết kiệm chi phí đi lại, thông tin liên lạc Nó mở ra cho doanh nghiệp một kênh bán hàng mới, quy mô toàn cầu bằng cách thiết lập trang web trên mạng, giới thiệu hàng hóa và dịch vụ của mình 24/24 để khách hàng vào thăm trang web và có được thông tin cần thiết, đầy đủ

Thương mại điện tử tạo ra sự thay đổi trong mối quan hệ với khách hàng, đó là mối quan hệ trực tuyến, đến từng khách hàng cá nhân, từng đối tác doanh nghiệp với các đặc điểm khác nhau Doanh nghiệp biết được nhu cầu, thị hiếu của khách hàng với các sản phẩm để từ đó có những cải tiến cần thiết để nâng cao chất lượng hàng hóa và dịch vụ Khi nhận thức được những lợi ích to lớn của thương mại điện tử, các doanh nghiệp sẽ là người đi tiên phong trong một môi trường mở, năng động, hiệu quả của thương mại điện tử

1.1.3.2 Vai trò của nhà nước trong phát triển thương mại điện tử

Nhà nước trong vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế, nên là một yếu tố quan trọng quyết định đối với việc phát triển thương mại điện tử Bằng các công cụ quản lý, Nhà nước xây dựng hành lang pháp lý cho giao dịch thương mại điện tử Tại các nước phát triển, khi cơ sở hạ tầng của thương mại điện tử phát triển, các nhà lập

Trang 22

pháp quan tâm tới việc tạo dựng các hành lang pháp lý điều chỉnh các quan hệ giao dịch trên mạng, tạo ra môi trường an toàn, công bằng, hạn chế các rủi ro hay tranh chấp thương mại Bằng cách đó khuyến khích các doanh nghiệp chủ động tham gia thương mại điện tử, tìm kiếm kênh bán hàng mới

Thương mại điện tử là việc thực hiện các giao dịch mua bán, thanh toàn qua mạng nên đặt ra nhiều vấn đề pháp lý mà Nhà nước phải là người đứng ra giải quyết Tính pháp lý của chứng từ điện tử, hợp đồng điện tử, chữ ký điện tử, thanh toán điện tử phải được thực nhận thông qua các dự luật liên quan, gọi chung là đạo luật thương mại điện tử Ngoài ra, một số khía cạnh pháp lý mà Nhà nước cần điều chỉnh đó là Luật sở hữu trí tuệ, vấn đề bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ sự riêng tư, chống gian lận mua bán, chống tin tặc và những vấn đề khác có thể xảy ra trong giao dịch thương mại là những vấn đề được nhà nước xem xét xây dựng thành bộ luật để điều chỉnh các quan hệ giao dịch thương mại và người sử dụng dịch vụ Thương mại điện tử đòi hỏi một cơ sở hạ tầng pháp lý nhằm điều chỉnh các giao dịch trong và ngoài nước

Việc điều tiết nền kinh tế vĩ mô của nhà nước còn thể hiện trong việc xây dựng các dự án cụ thể để phát huy sức mạnh thúc đẩy phát triển thương mại công nghệ cao Đó là các chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển hạ tầng bằng các công cụ về thuế, ưu đãi dự án của nhà nước trong từng thời kỳ để phát triển thương mại điện tử Thông qua các chính sách đó, nhà nước tạo ra những đòn bẩy tăng hiệu quả cho nền kinh tế, cho doanh nghiệp và khiến người tiêu dùng tham gia tích cực hơn vào môi trường thương mại điện tử

1.1.3.3 Vai trò của người tiêu dùng trong phát triển thương mại điện tử

Người tiêu dùng trong thương mại điện tử là người trực tiếp sử dụng mạng Internet để tìm kiếm mua hàng hóa Số lượng cá nhân tham gia thương mại điện tử luôn phụ thuộc vào số người sử dụng Internet Lượng cá nhân tham gia thương mại điện tử càng lớn thì mức độ xã hội hóa càng cao Điều này tạo ra một thị trường rộng lớn hơn cho các doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp thấy cần thiết khi lựa chọn thương mại điện tử để thực hiện phân phối sản phẩm của mình Chính vì thế, phát

Trang 23

triển số người tiêu dùng trong thương mại điện tử thực chất phụ thuộc vào sự phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông hiện đại và khả năng phủ rộng của mạng Internet

Thương mại điện tử cho phép người tiêu dùng mua sắm mọi nơi, mọi lúc trên khắp thế giới, không có giới hạn về không gian và thời gian Người dùng được tiếp cận nhiều lựa chọn về sản phẩm, dịch vụ, giá cả ở khắp mọi nơi trên thế giới với chi phí thấp nhất Thương mại điện tử cho phép các cá nhân tham gia có nhiều lựa chọn hơn vì tiếp cận được nhiều nguồn cung cấp Do thông tin thuận tiện, dễ dàng và phong phú hơn nên đa phần người tiêu dùng chỉ cần một cú nhấp chuột là có thể so

sánh giá cả giữa các nguồn hàng và từ đó tìm được mức giá phù hợp nhất Đối với

các sản phẩm số hóa được như phim, nhạc, sách điện tử, phần mềm,v.v việc giao hàng và thanh toán được thực hiện một cách dễ dàng thông qua mạng Internet

Thông tin trên Internet phong phú, thuận tiện, được cập nhật thường xuyên, chất lượng cao do vậy người sử dụng có thể dễ dàng tìm được vấn đề quan tâm thông qua các công cụ tìm kiếm Thương mại điện tử giúp cho các cá nhân dễ dàng tham gia mô hình đấu giá trực tuyến, mua và bán trên các sàn đấu giá cũng như tìm kiếm, sưu tầm những món hàng quan tâm tại hầu hết các quốc gia trên thế giới

1.1.3.3 Vai trò của xã hội

Mặc dù lúc đầu chỉ là một hiện tượng kinh tế, thương mại điện tử nay đã trở thành bộ phận của cả quá trình cải biến xã hội rộng lớn trên nền tảng xu thế toàn cầu hoá, của quá trình dịch chuyển nền kinh tế theo xu hướng cơ sở tri thức và thông tin, công nghệ phát triển nhanh chóng, thời gian từ nghiên cứu đến ứng dụng ngày càng rút ngắn Có ít nhất hai yếu tố xã hội dùng để xem xét trình độ phát triển

và hiệu quả của thương mại điện tử: một là, khả năng liên kết bởi thương mại điện tử; hai là, niềm tin về thương mại điện tử

Các điều kiện để sử dụng Internet và máy tính ảnh hưởng tới mức độ chấp nhận của xã hội và của nền kinh tế, đặc biệt là các điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở cả các nền kinh tế phát triển và đang phát triển Do đó nhà nước cũng cần có những chính sách phù hợp hơn nhằm nâng cao số lượng người có đủ khả năng truy cập, điều này sẽ được trình bày rõ hơn trong phần kiến nghị và giải pháp

Trang 24

Thương mại điện tử giúp giảm thời gian giao dịch, dẫn tới nhiều thay đổi quan trọng và thời gian trong hoạt động kinh tế và xã hội Đối với xã hội, các hoạt động trực tuyến tạo ra môi trường để làm việc, mua sắm, giao dịch,v.v… từ xa nên giảm việc đi lại, ô nhiễm, tai nạn Mức sống được nâng cao do việc tiếp cận một cách đa dạng nhiều hàng hóa, nhiều nhà cung cấp, điều này gây nên áp lực giảm giá cạnh tranh, do đó khả năng và nhu cầu mua sắm của khách hàng cao hơn Thương mại điện tử nếu làm tăng thêm lòng tin của người dân thì sẽ tạo điều kiện cho các dịch

vụ khác phát triển

Dịch vụ trong thương mại điện tử đem lại lợi ích cho các nước nghèo thông qua việc tiếp cận với các sản phẩm, dịch vụ từ các nước phát triển hơn qua Internet Việc học tập kinh nghiệm, kỹ năng,v.v… thông qua việc đào tạo qua mạng cũng trở nên dễ dàng hơn Thương mại điện tử cũng làm cho dịch vụ công được cung cấp một cách thuận tiện Các dịch vụ như y tế, giáo dục, các dịch vụ công của chính phủ,v.v… được thực hiện qua mạng với chi phí thấp, thuận tiện Việc tương tác để cấp và được cấp các loại giấy phép qua mạng, tư vấn y tế,v.v là các ví dụ thành công điển hình về lợi ích đối với xã hội của thương mại điện tử Tuy nhiên, mặt trái của nó là một xã hội với những người dân ít vận động, một số giới trẻ ham mê các trò chơi trực tuyến, đôi khi việc truyền bá những tư tưởng, kiến thức không lành mạnh cũng là một yếu tố khiến nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam buộc phải dùng một số biện pháp cứng rắn hơn trong việc ngăn chặn nguy cơ Điều này sẽ được phân tích sâu hơn trong phần kiến nghị và giải pháp

1.1.4 Thách thức và ảnh hưởng của thương mại điện tử

1.1.4.1 Thách thức của thương mại điện tử

Do sự phổ cập tạo nên tốc độ toàn cầu hóa nhanh chóng, việc áp dụng thương mại điện tử không còn là điều tùy chọn mà là lựa chọn duy nhất lien quan tới sự phát triển của nhiều doanh nghiệp Thách thức lớn nhất mang yếu tố quyết định tới sự phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam là việc Chính phủ ứng dụng thương mại điện tử như thế nào dưới các quy định về luật pháp do chính mình đặt

ra, ngoài một số các rào cản tạo nên những thách thức đối với sự phát triển thương

Trang 25

mại điện tử ở Việt Nam Những thách thức ngoài chính sách, pháp luật còn là độ tin cậy của hệ thống bao gồm nhà cung cấp ứng dụng, cung cấp đường truyền, khả năng chất lượng của thiết bị đầu cuối điều này là nhân tố quan trọng trong vấn đề cảm nhận độ an toàn hay mức độ rủi ro mà xã hội chấp nhận được Thứ hai là các vấn đề liên quan tới nhân lực và trình độ nhân lực, các nhà quản lý lập trình hệ thống để đưa ra những sản phẩm thương mại dễ sử dụng, tương tác tố, an toàn và phòng ngừa rủi ro tới mức thấp nhất Vấn đề nhân sự còn thể hiện ở việc xã hội hóa đào tạo và tự đào tạo trong môi trường công nghệ nói riêng, điều này sẽ được đề cập rõ hơn trong phần thực trạng và giải pháp Thứ ba là, về văn hóa đôi khi xã hội thiếu

sự tin tưởng vào một vấn đề khi chưa có kiểm chứng thực tế thói quen tiêu dùng, sự

e ngại trong tiếp cận công nghệ mới, sự lo lắng rủi ro và khả năng kiểm soát rủi ro khiến một bộ phận trong xã hội còn dè dặt trong sử dụng thương mại điện tử Điều này được củng cố và chứng thực bởi các gian lận thương mại qua môi trường điện tử ngày càng tăng về số lượng cũng như giá trị Đây là vấn đề nhạy cảm cần có khung pháp lý và chế tài răn đe đủ mạnh để tạo sự tin tưởng của xã hội trong vấn đề thương mại điện tử Thứ tư là, chúng ta còn gặp nhiều vướng mắc bởi các rào cản thương mại quốc tế, các rào cản về thuế quan trong thương mại truyền thống, nhưng trong thương mại điện tử có thực tế là một số trang web không chấp nhận các truy cập có xuất xứ từ Việt Nam do lo ngại tính thanh khoản hay lừa đảo Tất nhiên, mấu chốt của vấn đề là việc xây dựng mối quan hệ giữa bên cung cấp hàng hóa và bên tiêu thụ hàng hóa, trong thương mại điện tử, mối quan hệ này thường diễn ra trên trang Web của doanh nghiệp với những nội dung và có thể tìm kiếm một cách thuận tiện Nội dung trang Web của daonh nghiệp luôn phải được cập nhật, chăm sóc và có nhiều bài viết mang tính chuyên nghiệp nhằm thu hút độc giả để tự quảng bá hình ảnh người thăm quan Web Điều này ngoài một số doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực tài chính, văn phòng luật, báo chí thì đa phần doanh nghiệp vừa và nhỏ không chú trọng, chưa quan tâm tới nội dung, hình thức, cập nhật và đặc biệt chưa có nhân viên chuyên nghiệp trong lĩnh vực này Điều đó khiến cho một bộ phận lớn khách hàng tiềm năng tìm kiếm thị trường từ các tổ chức, cá nhân khác

Trang 26

Thách thức cho sự phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam trong khu vực các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nơi mà ở đó sử dụng tới 60-70% lực lượng lao động của xã hội Chính các doanh nghiệp thuộc nhóm này có khả năng thay đổi công nghệ mới nhanh hơn các công ty lớn, tính linh động cao nên cạnh tranh tốt và có nhu cầu phát triển để tồn tại Đầu những năm 2000, các chuyên gia hay đề cập tới những điểm hạn chế của thương mại điện tử gồm vấn đề an ninh, mức độ rủi ro, trình độ khai thác, mô hình kinh doanh, rào cản văn hóa, sự hạn hẹp về đối tượng, gian lận thương mại nhưng quan trọng nhất vẫn là chính sách chưa đồng bộ, chưa có được những chuẩn mực quốc tế Tuy nhiên, ngày nay các chuyên gia nhận diện nhu cầu phát triển thương mại điện tử dưới những thách thức khác Trước hết là năng lực tiếp cận của mỗi doanh nghiệp, thứ hai là vai trò tiên phong của chính phủ trong việc ứng dụng thương mại điện tử trong lĩnh vực công, cuối cùng là kỹ năng xây dựng chiến lược phát triển thương mại điện tử hợp lý cho mỗi doanh nghiệp dựa trên những điểm đặc thù Cả ba thách thức này phải được giải quyết thì mới đạt được kết quả tốt nhất Không phải tất cả các doanh nghiệp hay ngành kinh tế có cùng năng lực tiếp nhận thương mại điện tử giống nhau vào cùng thời điểm và với cùng phương cách như nhau Thực tế cho thấy rằng các ngành có mối quan hệ mật thiết với thông tin và công nghệ thông tin có điều kiện triển khai thương mại điện tử

dễ dàng hơn Đó là các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, giáo dục, tư vấn và nhất là dịch vụ công từ hành chính đến thuế vụ, từ đấu thầu đến mua sắm công Trong lĩnh vực sản xuất, các nhà máy công nghiệp nặng và các nhà sản xuất hàng hóa dễ vỡ hay dễ thay đổi giá lại tập trung thương mại điện tử vào dây chuyền tiếp liệu và hệ thống phân phối, song song với việc sẵn sàng điều chỉnh chất lượng và kiểu dáng đáp ứng nhu cầu cạnh tranh

Nền tảng của môi trường kinh doanh là tập quán văn hóa, thói quen thương mại và hệ thống pháp luật nhà nước Hiện nay, Chính Phủ nhận thấy rằng phát huy thương mại điện tử là nhu cầu của mỗi quốc gia nhằm góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế bền vững và sự ổn định của thị trường chống lại các biến động giá đột ngột

do thiếu thông tin hoặc bị đầu cơ Thách thức hiện tại là chính phủ có điều chỉnh hệ

Trang 27

thống luật kịp thời để đáp ứng yêu cầu môi trường kinh doanh của xã hội cũng như các dịch vụ mà Chính phủ cung cấp qua phát triển chính phủ điện tử Sự thách thức này căn bản dựa trên ba luận điểm: Chính Phủ là người mua sắm lớn nhất, là nhà cung cấp dịch vụ nhiều nhất và là người có quyền thay đổi các luật lệ thương mại Trong thập kỷ trước các chính phủ Romania, Philippines, Chile, Nga… đã đi đầu trong vai trò ứng dụng thương mại điện tử Một số Chính Phủ khác tập trung vào cải cách hành chính để thực hiện chính phủ điện tử song song với việc thúc đẩy thương mại điện tử Thành công nhất trong các nước lân cận Việt Nam là Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore Ở đó mọi việc mua sắm công và các dịch vụ công đều được thực hiện trực tuyến Chữ ký số không chỉ được khuyến khích mà còn là quy định trong mọi giao dịch nhà nước

1.1.4.2 Ảnh hưởng của thương mại điện tử đối với doanh nghiệp

Một là, sự tác động đến hoạt động marketing Một mặt thương mại điện tử hoàn thiện, nâng cao hiệu quả các hoạt động nghiên cứu thị trường truyền thống, một mặt tạo ra các hoạt động mới giúp nghiên cứu thị trường hiệu quả hơn Các hoạt động như phỏng vấn theo nhóm, phỏng vấn sâu được thực hiện trực tuyến thông qua Internet, điều tra bằng bảng câu hỏi được thực hiện nhanh và chính xác hơn Hành vi khách hàng trong thương mại điện tử thay đổi nhiều so với trong thương mại truyền thống do đặc thù của môi trường kinh doanh mới Các giai đoạn xác định nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá lựa chọn, hành động mua và phản ứng sau khi mua hàng đều bị tác động bởi Internet và Web Các tiêu chí để lựa chọn thị trường mục tiêu dựa vào tuổi tác, giới tính, giáo dục, thu nhập, vùng địa lý… được bổ sung thêm bởi các tiêu chí đặc biệt khác của thương mại điện tử như mức

độ sử dụng Internet, thư điện tử, dịch vụ trên web…Bên cạnh các tiêu chí để định vị sản phẩm như giá rẻ nhất, chất lượng cao nhất, dịch vụ tốt nhất, phân phối nhanh nhất, việc định vị sản phẩm ngày nay còn được bổ sung thêm những tiêu chí riêng của thương mại điện tử như nhiều sản phẩm nhất, đáp ứng nhu cầu của cá nhân và doanh nghiệp nhanh nhất Bốn chính sách của marketing là sản phẩm, giá, phân phối, xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh cũng bị tác động của thương mại điện tử Việc

Trang 28

thiết kế sản phẩm mới hiệu quả hơn, nhanh hơn, nhiều ý tưởng mới hơn nhờ sự phối hợp và chia sẻ thông tin giữa nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà cung cấp và khách hàng.Việc định giá cũng chịu tác động của thương mại điện tử khi doanh nghiệp tiếp cận được thị trường toàn cầu, đồng thời đối thủ cạnh tranh và khách hàng cũng tiếp cận được nguồn thông tin toàn cầu đòi hỏi chính sách giá toàn cầu và nội địa cần thay đổi để có sự thống nhất và phù hợp giữa các thị trường Việc phân phối đối với hàng hóa hữu hình và vô hình được thực hiện nhanh hơn hẳn so với thương mại truyền thống Đặc biệt hoạt động xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh có sự tiến bộ vượt bậc với các hoạt động mới như quảng cáo trên website, quảng cáo bằng e-mail, diễn đàn cho khách hàng trên mạng, dịch vụ hỗ trợ khách hàng 24/7,v.v…

Hai là, tác động đến mô hình và hoạt động sản xuất, kinh doanh Việc xuất hiện thương mại điện tử đã dẫn đến trào lưu hàng loạt doanh nghiệp phát triển các

mô hình kinh doanh từ truyền thống sang mô hình kinh doanh thương mại điện tử Bên cạnh đó cũng đã hình thành các sàn giao dịch điện tử dạng B2B Việc áp dụng thương mại điện tử vào các hoạt động sản xuất kinh doanh đã giúp công ty giảm lượng hàng lưu kho và độ trễ trong phân phối hàng hoá Hệ thống cửa hàng giới thiệu sản phẩm được thay thế hoặc hỗ trợ bởi các showroom trên mạng, tiết kiệm được rất nhiều chi phí từ giảm chi phí lưu kho Với mô hình của của doanh nghiệp bán hàng trên Internet, mua hàng theo nhóm hay đấu giá sản phẩm qua mạng đến các sàn giao dịch B2B là điển hình của những thành công từ việc tạo ra các lợi thế và giá trị mới cho khách hàng bằng thương mại điện tử Các hãng sản xuất lớn nhờ ứng dụng thương mại điện tử có thể giảm chi phí sản xuất đáng kể, một số mô hình phát huy rõ hiệu quả của thương mại điện tử trong sản xuất Hàng loạt các dịch vụ ngân hàng điện tử được hình thành và phát triển mở ra cơ hội mới cho cả các ngân hàng và khách hàng như Internet banking, thanh toán thẻ tín dụng trực tuyến, thanh toán bằng thẻ thông minh, mobile banking, v.v… Do đặc thù của Internet là rộng lớn trên toàn cầu, rất phù hợp với các giao dịch thương mại quốc tế Mọi hoạt động trong quy trình kinh doanh thương mại quốc tế đều chịu tác động và ảnh hưởng sâu sắc của thương mại điện tử

Trang 29

1.1.5 Khuôn khổ pháp lý cho thương mại điện tử

Trong bối cảnh công nghệ phát triển với một tốc độ nhanh chóng, pháp luật cần phải được xây dựng để kịp thời điều chỉnh những hiện tượng xã hội mới phát sinh Việc thiếu khung khổ pháp lý trong nhiều hệ thống xét xử để điều chỉnh những vấn đề liên quan tới hiệu lực pháp lý của các giao dịch điện tử là rào cản rất lớn đối với sự phát triển của thương mại điện tử Thực tế, trong những giao dịch thương mại điện tử, chào hàng, đặt hàng hoặc hợp đồng được giao kết bằng phương tiện điện tử đã tạo nên một giao dịch điện tử hoàn chỉnh Tuy nhiên, rất nhiều quy định pháp lý, liên quan tới hợp đồng và những giao dịch thương mại khác đưa ra đòi hỏi tài liệu phải ở dạng văn bản, được ký, lưu trữ hoặc dưới hình thức bản gốc

1.1.5.1 Luật mẫu về thương mại điện tử của UNCITRAL

Nhằm tạo khung pháp lý cho phát triển thương mại điện tử, năm 1996 Uỷ ban Luật Thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL) đã soạn thảo một luật mẫu về thương mại điện tử, hình thành những quy định mẫu về thừa nhận giá trị pháp lý của các thông điệp dữ liệu nhằm bảo vệ về mặt pháp lý cho những tổ chức, cá nhân mong muốn tham gia thương mại điện tử Luật mẫu có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo cho các nước trong quá trình xây dựng pháp luật

về thương mại điện tử của mình Tinh thần của Luật mẫu là bảo đảm những giao dịch thương mại điện tử được thừa nhận giá trị pháp lý và nếu cần thiết thì sẽ có những hành động thích hợp để tăng cường khả năng thi hành cho những giao dịch bằng phương tiện điện tử

Luật mẫu được soạn thảo dựa trên sáu nguyên tắc cơ bản, gồm:

- Tương đương thuộc tính: tài liệu điện tử có thể được coi có giá trị pháp lý như tài liệu ở dạng văn bản nếu thoả mãn các yêu cầu kỹ thuật nhất định;

- Tự do thoả thuận hợp đồng;

- Tôn trọng việc sử dụng tự nguyện phương thức truyền thông điện tử;

- Giá trị pháp lý của hợp đồng và tính ưu việt của những quy định pháp lý về hình thức hợp đồng: những đòi hỏi đối với hợp đồng để có giá trị pháp lý và khả năng được thi hành phải được tôn trọng;

Trang 30

- Áp dụng về mặt hình thức hơn là quan tâm tới nội dung: luật chỉ áp dụng đối với hình thức hợp đồng, mà không đề cập nội dung, trên cơ sở phải thoả mãn những đòi hỏi pháp lý nhất định;

- Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng phải đi trước Nhiều quốc gia đã thể hiện các nguyên tắc và nội dung của Luật mẫu UNCITRAL vào hệ thống pháp luật quốc gia của mình

Bên cạnh đó, các nghiên cứu trên thế giới đã khái quát năm vấn đề pháp lý

về thương mại điện tử cần được quy định trong pháp luật quốc gia gồm:

- Thừa nhận các thông điệp dữ liệu: đưa ra các quy định pháp lý đối với các nội dung giao dịch thương mại qua các phương tiện điện tử;

- Quy định kỹ thuật về chữ ký điện tử nhằm bảo đảm tính xác thực, toàn vẹn, bảo mật của thông tin được trao đổi trong thương mại điện tử;

- Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử;

- Bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử;

- Tội phạm và vi phạm trong thương mại điện tử

1.1.5.2 Sự thừa nhận pháp lý đối với thông điệp dữ liệu

Thông điệp dữ liệu là hình thức thông tin được trao đổi qua phương tiện điện tử trong các giao dịch thương mại điện tử Thừa nhận giá trị pháp lý của các thông điệp dữ liệu là cơ sở cho việc thừa nhận các giao dịch thương mại điện tử, thể hiện dưới các khía cạnh: có thể thay thế văn bản giấy (hoặc văn bản kèm chữ ký), có giá trị như bản gốc, có giá trị lưu trữ và chứng cứ, xác định trách nhiệm các bên và thời gian, địa điểm gửi, nhận thông điệp dữ liệu Tài liệu giấy thông thường luôn được coi là cơ sở pháp lý đáng tin cậy, sao chụp được và không thể biến đổi trong các giao dịch sử dụng nó Những cơ sở nêu trên cũng được thừa nhận đối với một tài liệu điện tử khi thoả mãn những quy định pháp luật yêu cầu thông tin phải dưới dạng chữ viết và có thể truy cập được Để bảo đảm khả năng truy cập được, phần mềm sử dụng cho việc truy cập phải có khả năng bảo đảm việc lưu giữ tài liệu đó Nhằm chứng minh ý định giao kết hợp đồng dưới dạng văn bản thông thường, toà án có thể căn cứ vào các bằng chứng ngoài hợp đồng như biên bản ghi những cuộc

Trang 31

đàm phán giữa các bên Theo cách này, pháp luật cần thừa nhận giá trị bằng chứng của thư điện tử hoặc bản ghi được lưu trữ trên phương tiện điện tử thể hiện ý định giao kết hợp đồng giữa các bên

Để xác định thời điểm và địa điểm gửi, nhận thông tin bằng phương tiện điện tử, pháp luật đưa ra phương pháp giả định Theo đó, thời gian gửi tài liệu điện tử phụ thuộc việc người nhận có thông báo với người gửi về hệ thống thông tin được chỉ định trước hay không Nếu có chỉ định trước, tài liệu điện tử sẽ được truyền theo thoả thuận đó, tài liệu coi là được nhận khi nó vào hệ thống thông tin được chỉ định Trong các trường hợp khác, tài liệu sẽ được nhận khi nó lọt vào phạm vi kiểm soát của người nhận Vị trí gửi, nhận được xác định là tại trụ sở kinh doanh Việc gửi tài liệu điện tử sẽ được coi là diễn ra tại trụ sở kinh doanh của người gửi (hoặc nơi cư trú trong trường hợp không có trụ sở kinh doanh) Tương tự, việc nhận tài liệu được coi là diễn ra tại trụ sở kinh doanh của người nhận Nếu một bên có nhiều trụ sở kinh doanh, vị trí gửi hoặc nhận sẽ là trụ sở kinh doanh có quan hệ gần gũi nhất với giao dịch được thực hiện

1.1.5.3 Quy định về chữ ký điện tử

Chữ ký điện tử là một công nghệ cho phép xác nhận người gửi và bảo đảm tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu Về bản chất, chữ ký điện tử tương đương chữ ký tay, có các thuộc tính như: khả năng nhận dạng một người, tạo tính chắc chắn về mối quan hệ của người đó với hành vi ký và cho thấy việc người đó chấp nhận nội dung tài liệu ký Có nhiều loại chữ ký điện tử khác nhau như chữ ký số, chữ ký sinh trắc học, chữ ký dựa trên số nhận dạng cá nhân (số PIN), chữ ký tạo bằng thẻ thông minh … Pháp luật thương mại điện tử cần có các quy định thừa nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử, cụ thể hoá các tiêu chí kỹ thuật và xác định trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ chứng thực điện tử Có hai phương pháp xây dựng pháp luật về chữ ký điện tử: quy định chung dựa trên nguyên tắc trung lập về mặt công nghệ và quy định cụ thể về chữ ký số UNCITRAL khuyến nghị sử dụng phương pháp thứ nhất để dự trù khả năng hình thành các công nghệ chữ ký điện tử mới Hầu hết các nước theo khuyến nghị này

Trang 32

1 1.5.4 Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử

Với sự xuất hiện của nhiều công nghệ mới, đặc biệt là các ứng dụng công nghệ thông tin, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có ý nghĩa quan trọng Phần lớn các đối tượng thuộc quyền sở hữu trí tuệ như tác phẩm văn học - nghệ thuật, tài liệu khoa học - kỹ thuật, chương trình máy tính, cơ sở dữ liệu có tính sáng tạo, nhãn hiệu thương mại, bí mật thương mại, chỉ dẫn địa lý, thiết kế kiểu dáng công nghiệp

… đều có thể xuất hiện dưới hình thức cho phép truyền tải dễ dàng qua Internet và các mạng mở khác Nhiều vấn đề mới liên quan tới tên miền; tính năng liên kết, dẫn chiếu giữa các tài liệu trên môi trường nối mạng, trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ mạng… khiến các quy định về phạm vi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trước đây không còn phù hợp

Để có thể bảo hộ tốt trong thương mại điện tử, pháp luật về sở hữu trí tuệ cần được điều chỉnh Thứ nhất, việc hình thành những đối tượng quyền sở hữu trí tuệ mới như phần mềm máy tính và cơ sở dữ liệu nguồn đòi hỏi phải có những quy định mới thừa nhận và bảo hộ chúng, cách thức bảo hộ có thể như với đối tượng của quyền tác giả hay quyền sở hữu công nghiệp Pháp luật cần chỉ rõ các thuộc tính cơ bản phân biệt với các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ khác, xác lập các quyền nhân thân, quyền sở hữu và các nghĩa vụ liên quan, đưa ra các giới hạn, ngoại lệ đối với các quyền và nghĩa vụ, hình thành cơ chế xử lý vi phạm Thứ hai, nhiều đối tượng quyền sở hữu trí tuệ có thể được biểu hiện dưới dạng các ứng dụng công nghệ thông tin như tên miền, giao diện website, từ khoá sử dụng để tìm kiếm thông tin và các ứng dụng công nghệ thông tin khác Do pháp luật chưa quy định cụ thể (chưa xác định chúng thuộc đối tượng quyền sở hữu trí tuệ nào) nên không biết cơ chế bảo hộ

Ví dụ: website có nên coi là hình thức biểu hiện của một tác phẩm nghệ thuật không? Tên miền của một công ty có được hưởng các cơ chế bảo hộ như nhãn hiệu thương mại không?

Ngoài ra, Internet và các mạng mở khác là môi trường lý tưởng cho việc trao đổi, chia sẻ các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ Một tác phẩm văn học có thể nhanh chóng bị phát tán trên Internet; các bí mật kinh doanh được lưu trên máy tính

Trang 33

một công ty có thể bị tiết lộ ra bên ngoài qua kết nối Internet; một bản nhạc mới được phát hành, nếu đưa lên mạng thì ai cũng có thể tải về sử dụng… Môi trường mới tác động đến các quyền và nghĩa vụ liên quan tới mọi đối tượng quyền sở hữu trí tuệ Vì vậy, pháp luật sở hữu trí tuệ phải hình thành các quy định thêm về giới hạn, ngoại lệ thực hiện các quyền và nghĩa vụ cho phù hợp

Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) đã có những nghiên cứu sâu về tác động của môi trường số hoá đối với các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ Năm

1996, WIPO đã thông qua hai hiệp định là Hiệp định về Quyền tác giả và Hiệp định

về Tín hiệu ghi âm và biểu diễn, cùng có đủ thành viên tham gia và bắt đầu có hiệu lực trong năm 2002 Các hiệp định này có điều chỉnh những vấn đề mới nảy sinh trong môi trường Internet Nhiều quốc gia đã chuyển tải các quy định của WIPO vào pháp luậtquốc gia như Mỹ, châu Âu, Canađa

1.1.5.5 Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Các đối tác tham gia vào một giao dịch thương mại điện tử trên Internet hoặc các mạng mở khác không nhất thiết hoặc không thể gặp mặt nhau, họ tiến hành các giao dịch chủ yếu thông qua những công nghệ mới và trong một môi trường khác biệt so với truyền thống Thông thường, người tiêu dùng không biết rõ các thông tin

về hàng hoá, dịch vụ được cung cấp như người bán, khả năng bị thiệt hại cao hơn, vì vậy cần có những quy định pháp luật bảo vệ họ

Năm 2000, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã ban hành Hướng dẫn về Bảo vệ người tiêu dùng trong bối cảnh thương mại điện tử với những nguyên tắc cơ bản sau:

- Bảo vệ minh bạch và hiệu quả;

- Phù hợp với thông lệ thị trường, quảng cáo và kinh doanh trung thực;

- Cung cấp các thông tin rõ ràng về doanh nghiệp, hàng hoá, dịch vụ, chi tiết giao dịch, quy trình xác nhận;

- Cơ chế thanh toán an toàn, dễ sử dụng và phải thông tin cho khách hàng về mức độ an toàn của cơ chế đó;

- Có các quy định về giải quyết tranh chấp và được bảo vệ bí mật cá nhân

Trang 34

1.1.5.6 Tội phạm và những vi phạm trong thương mại điện tử

Mạng Internet là một trong những thành tựu lớn nhất của loài người Viễn thông, hệ thống ngân hàng, tiện ích công cộng và hệ thống xử lý khẩn cấp đều hoạt động trên mạng Nhưng có những người sử dụng Internet vào mục đích xấu Lịch sử tồn tại chưa lâu của Internet đã chứng kiến nhiều hành vi vi phạm Mặc dù thường rất khó để xác định những động cơ của những hành vi vi phạm này, nhưng hậu quả của chúng làm giảm niềm tin vào hệ thống Internet

Tội phạm trên mạng là những hành vi xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thông qua việc sử dụng máy tính Tội phạm trên mạng có thể được phân thành: tội phạm trên mạng chống lại con người, tài sản và chính phủ

Tội phạm trên mạng chống lại con người bao gồm việc truyền gửi những văn hoá phẩm đồi truỵ hoặc quấy rối tình dục có sử dụng một máy tính Tội phạm trên mạng chống lại tài sản bao gồm việc xâm phạm máy tính bất hợp pháp qua không gian trên mạng, phá hoại hệ thống máy tính, truyền gửi những chương trình gây hại, sở hữu những thông tin máy tính bất hợp pháp

Hiện đang nổi lên những loại hình tội phạm chống lại chính phủ như nạn khủng bố trên mạng, những tổ chức, cá nhân xâm nhập vào website của cơ quan công quyền để đe doạ chính phủ và khủng bố người dân của một nước Hành vi xâm phạm có mức độ nhẹ hơn gọi là các vi phạm trên mạng và bị xử lý hành chính

1.1.5.7 Tình hình luật thương mại điện tử trên thế giới

Trong thương mại điện tử, người mua và người bán giao tiếp trong thế giới ảo, họ không thấy mặt nhau, không biết rõ về nhau, vậy, làm sao họ có thể tin tưởng

mà giao dịch với nhau? Cho nên, trong thương mại điện tử cần có 3 yếu tố sau để đảm bảo sự tin tưởng và minh bạch:

- Tính rõ ràng (Transparency): trên website của người bán phải đăng tải mọi thông tin về các điều khoản mua bán và người mua cũng nên đọc kỹ những thông tin này trước khi quyết định mua

- Tính tin cậy (Reliability): bao gồm tính tin cậy trong thông tin đăng tải (người bán phải nỗ lực trong việc đưa tin trung thực và cập nhật những thông tin

Trang 35

này thường xuyên), tính tin cậy trong giao dịch điện tử (người bán phải đảm bảo sử dụng công nghệ truyền tin an toàn), tính tin cậy về hệ thống hoạt động (đảm bảo không gây ra sai sót nghiêm trọng) và tính tin cậy trong vấn đề chứng thực (như chữ ký điện tử, hợp đồng điện tử)

- Tính bảo mật và riêng tư (Confidentiality và Privacy): những thông tin về khách hàng, đặc biệt là những thông tin quan trọng như thẻ tín dụng, email, điện thoại v.v… phải được bảo mật và tôn trọng, có nghĩa người bán không được tự ý lưu trữ và bán hay sử dụng trái phép những thông tin này

Ngoài ra, quyền sở hữu trí tuệ hay bản quyền là những vấn đề đang được quan tâm rất nhiều trên mạng

Có 4 yêu cầu đảm bảo cho một giao dịch thành công, an toàn đó là:

- Privacy (tính riêng tư): làm sao để đảm bảo rằng thông tin truyền tải trên mạng không được copy hay truy cập bởi bên thứ ba ngoài người nhận và người gửi? Giải pháp: mã hóa và giải mã ở người nhận

- Integrity (tính trọn vẹn): làm sao đảm bảo rằng thông tin gửi đi không bị thay đổi trong quá trình gửi?

- Authentication (sự chứng thực): làm sao để người nhận và người gửi có thể chứng thực tư cách của nhau? Giải pháp: chữ ký số (digital signature)

- Non-repudiation (sự không thể phủ nhận): làm sao chứng minh thông điệp

đã được gửi hay đã được nhận?

Bốn yêu cầu trên chính là những vấn đề cốt lõi của luật thương mại điện tử

1.1.6 Chính sách và pháp luật của Việt Nam về thương mại điện tử

1.1.6.1 Chính sách phát triển chung về thương mại điện tử

Thương mại điện tử đã được nhắc tới trong những văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước, thể hiện chủ trương phát triển thương mại điện tử như một phương thức quan trọng thúc đẩy kinh tế trong nước và hội nhập với thế giới Tháng 10-2000, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 58-CT/TW về việc đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong đó yêu cầu tập trung phát triển các dịch vụ điện tử trong các lĩnh vực

Trang 36

dịch vụ và thương mại Tháng 4-2001, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, thương mại điện tử đã được nhắc tới như một yếu tố thị trường quan trọng cần phát triển nhằm hỗ trợ các ngành thương mại, dịch vụ khác, thể hiện trong văn kiện về định hướng phát triểnkinh tế, xác định tư tưởng chỉ đạo của Đảng đối với thương mại điện tử Tháng 5-2001, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 81/2001/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình hành động, triển khai Chỉ thị số 58-CT/TW Văn bản này đặt mục tiêu, đề xuất các biện pháp, chương trình, kế hoạch, xác định trách nhiệm các bộ, ngành trong việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, trong đó bao gồm việc phát triển thương mại điện tử

Ngày 25-7-2002, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 95/2002/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch tổng thể về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam đến năm 2005

Ngày 06-10-2005, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 (246/2005/QĐ-TTg)

Tháng 1/2002, Bộ Thương mại chủ trì xây dựng Pháp lệnh thương mại điện tử nhằm hình thành cơ sở pháp lý toàn diện cho thương mại điện tử

Ngày 15-9-2005, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định phê duyệt “Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006-2010” (222/2005/QĐ-TTg) Quyết định 1073/QĐ-TTg, ngày 12/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2011-2015”

“Luật Giao dịch điện tử” được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005

“Luật Công nghệ thông tin” được Quốc hội khóa XI, thông qua ngày 29/6/2006

Ngày 9-6-2006 Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành "Nghị định về thương mại điện tử" (57/2006/NĐ-CP) Tiếp theo, từ 2006-2011, 12 Nghị định nữa Thủ tướng Chính phủ được ban hành với các quy định về quản lý và xử phạt liên quan đến thương mại điện tử

Trang 37

Các văn bản cụ thể hoá chủ trương, đường lối phát triển các ứng dụng công nghệ thông tin và thương mại điện tử đã được xây dựng là Chiến lược phát triển Công nghệ thông tin và Truyền thông, Kế hoạch tổng thể phát triển Chính phủ điện tử tới năm 2010 và Kế hoạch tổng thể phát triển Thương mại điện tử giai đoạn 2006-2010, 2011-2015

1.1.6.2 Luật giao dịch điện tử

Đầu năm 2004, Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội khởi động dự án xây dựng Luật Giao dịch điện tử Tới tháng 5-2005, Ban Soạn thảo

đã hoàn thành dự thảo 8 với cấu trúc gồm tám chương, 55 điều, quy định về: Giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu; Giá trị pháp lý của chữ ký điện tử và thị trường chứng thực điện tử; Hợp đồng điện tử; Giao dịch điện tử của các cơ quan nhà nước; Vấn đề bảo mật, an toàn, an ninh; Vấn đề sở hữu trí tuệ trong giao dịch điện tử thuộc các lĩnh vực dân sự, thương mại, hành chính và lĩnh vực khác do pháp luật quy định Luật Giao dịch điện tử đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua và có hiệu lực từ ngày 1/3/2006, với 8 chương, 54 điều Đây được coi là thời điểm lịch sử của các giao dịch điện tử tại Việt Nam, bao gồm các giao dịch điện tử trong lĩnh vực thương mại Luật Giao dịch điện tử sẽ thừa nhận giá trị pháp lý của các thông điệp dữ liệu và chữ ký điện tử được sử dụng trong các quan hệ dân sự, thương mại và hành chính; đồng thời cụ thể hoá các quy định áp dụng cho hợp đồng điện tử và các giao dịch điện tử của khối cơ quan nhà nước Tổ chức, cá nhân sẽ yên tâm khi tiến hành các giao dịch điện tử, vừa giảm các chi phí giao dịch, tiết kiệm thời gian xử lý và vẫn có thể yêu cầu toà án bảo vệ quyền lợi của mình một khi có tranh chấp xảy ra Nguyên tắc chung tiến hành giao dịch điện tử được quy định trong Điều 5 của Luật Giao dịch điện tử là:

- Tự nguyện lựa chọn sử dụng phương tiện điện tử để thực hiện giao dịch

- Tự thỏa thuận việc lựa chọn loại công nghệ để thực hiện giao dịch điện tử

- Không có công nghệ nào được xem là duy nhất trong giao dịch điện tử

- Bảo đảm sự bình đẳng và an toàn trong giao dịch điện tử

Trang 38

- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng

- Giao dịch điện tử của cơ quan nhà nước phải tuân thủ các nguyên tắc quy định tại Điều 40 của Luật giao dịch điện tử

1.1.6.3 Các văn bản dưới luật nhằm hướng dẫn thi hành Luật GDĐT

Nghị định về Thương mại điện tử là nghị định đầu tiên hướng dẫn Luật Giao dịch điện tử, được ban hành vào ngày 9/6/2006 Với việc thừa nhận chứng từ điện tử có giá trị pháp lý tương đương chứng từ truyền thống trong mọi hoạt động thương mại từ chào hàng, chấp nhận chào hàng, giao kết hợp đồng cho đến thực hiện hợp đồng, Nghị định này đã tạo hành làng pháp lý để các doanh nghiệp yên tâm tiến hành giao dịch thương mại điện tử, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia, đồng thời cũng là căn cứ pháp lý để xét xử khi có tranh chấp liên quan đến hoạt động thương mại điện tử

Trong năm 2007 các cơ quan quản lý nhà nước đã tiến hành soạn thảo hai thông tư hướng dẫn Nghị định Thương mại điện tử Đó là Thông tư của Bộ Công Thương về giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử và Thông tư liên tịch

Bộ Công Thương – Bộ Y tế hướng dẫn việc bán buôn thuốc qua các phương tiện điện tử Đến cuối năm 2007, hai thông tư này đã cơ bản hoàn thành về mặt nội dung và được đưa ra xin ý kiến rộng rãi của doanh nghiệp trước khi chính thức ban hành Thông tư hướng dẫn Nghị định Thương mại điện tử về giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử được xây dựng trong bối cảnh số lượng website thương mại điện tử đang gia tăng nhanh chóng tại Việt Nam Tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện vẫn chưa điều chỉnh về quy tắc giao dịch cũng như mô hình hoạt động của các website thương mại điện tử Mọi giao dịch được tiến hành một cách tự phát và không có cơ sở pháp lý để giải quyết những tranh chấp phát sinh Vì vậy, Thông tư được xây dựng nhằm thiết lập những nguyên tắc và chuẩn mực chung cho các website thương mại điện tử, nâng cao tính minh bạch của môi trường giao dịch, đồng thời giúp bảo vệ và cân bằng lợi ích của các bên tham gia

Trang 39

Văn bản thứ hai hướng dẫn Nghị định về Thương mại điện tử được xây dựng trong năm 2007 là Thông tư liên tịch Bộ Công Thương – Bộ Y tế hướng dẫn việc bán buôn thuốc qua các phương tiện điện tử Thuốc là mặt hàng thích hợp cho mua bán trực tuyến vì có giá trị cao, khối lượng nhỏ Việc bán thuốc và công khai giá thuốc trên mạng Internet sẽ giúp người dân cũng như doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận các nguồn thuốc khác nhau, góp phần bình ổn giá thuốc trên thị trường Mặt khác, thuốc chữa bệnh là mặt hành kinh doanh đặc biệt, trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng con người nên cũng cần có những quy định riêng, tránh việc lợi dụng bán thuốc qua mạng để có hành vi gian lận, lừa dối khách hàng Cho tới nay đã có một số doanh nghiệp đầu tư thiết lập website bán thuốc qua mạng Tuy nhiên, do chưa có cơ sở pháp lý để điều chỉnh hoạt động bán thuốc qua mạng nên những doanh nghiệp này mặc dù đã thiết lập website vẫn chưa thể tiến hành kinh doanh trong thực tế

Nghị định số 26/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về Chữ ký số và Dịch vụ chứng thực chữ ký số được ban hành ngày 15/2/2007 Nghị định này quy định về chữ ký số và các nội dung cần thiết liên quan đến sử dụng chữ ký số, bao gồm chứng thư số và việc quản lý, cung cấp và sử dụng dịch

vụ chứng thực chữ ký số Đây là những quy định nền tảng để thiết lập một cơ chế đảm bảo an ninh an toàn cũng như độ tin cậy của các giao dịch điện tử, thúc đẩy thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ hơn

Với chủ trương của Ban soạn thảo xây dựng Nghị định thật chi tiết để có thể đưa vào triển khai ngay trong thực tế mà không cần các văn bản hướng dẫn thi hành, Nghị định này đi sâu vào những vấn đề mang tính kỹ thuật về quản lý và cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số

Giá trị pháp lý của chữ ký số: Chữ ký số là dạng chữ ký điện tử cho phép xác nhận sự chấp thuận của người ký đối với nội dung thông điệp, đồng thời chứng thực

sự toàn vẹn của thông điệp dữ liệu từ thời điểm được ký Điều 8 Nghị định về Chữ ký số và Dịch vụ chứng thực chữ ký số đã chính thức thừa nhận giá trị pháp lý của chữ ký số trong các giao dịch điện tử: “Trong trường hợp pháp luật quy định văn

Trang 40

bản cần có chữ ký thì yêu cầu đối với một thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu thông điệp dữ liệu đó được ký bằng chữ ký số”

Nghị định về Giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính ngày 23/2/2007, được Chính phủ ban hành Nghị định số 27/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính Nghị định này ra đời nhằm đảm bảo các điều kiện cần thiết để hình thành và phát triển một môi trường giao dịch điện tử an toàn, hiệu quả, giúp Chính phủ quản lý được giao dịch điện tử trong hoạt động nghiệp vụ tài chính, giảm thiểu hậu quả xấu phát sinh trong giao dịch điện tử như trốn thuế, gian lận khi lập hóa đơn chứng từ, v.v…, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho tiến trình cải cách của ngành tài chính trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin

Nghị định số 35/2007/NĐ-CP ngày 8/3/2007 về Giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng là nghị định thứ ba liên tiếp được ban hành trong năm 2007 nhằm hướng dẫn Luật Giao dịch điện tử Nghị định này tập trung hướng dẫn việc áp dụng Luật Giao dịch điện tử cho các hoạt động ngân hàng cụ thể, bảo đảm những điều kiện cần thiết về môi trường pháp lý để củng cố, phát triển các giao dịch điện tử an toàn và hiệu quả đối với hệ thống ngân hàng

Ngày 10/4/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 64/2007/NĐ-CP về Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước Đây là văn bản hướng dẫn đồng thời Luật Giao dịch điện tử và Luật Công nghệ thông tin với phạm

vi rất rộng, bao gồm xây dựng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, đầu tư cho ứng dụng và hoạt động của cơ quan nhà nước trên môi trường mạng Nghị định về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước đưa ra những quy định mang tính nguyên tắc nhằm đẩy mạnh giao dịch điện tử trong khu vực hành chính công Các quy định về cung cấp, tiếp nhận thông tin trên môi trường mạng, kết nối và chia

sẻ thông tin số, tăng cường sử dụng văn bản điện tử, bảo đảm truy nhập thông tin và khai thác dịch vụ hành chính công, v.v… góp phần đẩy nhanh quá trình cải cách hành chính, minh bạch hóa môi trường giao dịch, đẩy nhanh việc cung cấp trực tuyến các dịch vụ công và qua đó thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử

Ngày đăng: 23/07/2018, 17:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Nguyễn Đăng Đào (2012), Triển khai giải pháp chứng thực chữ ký số và hệ thống chứng thực trong các cơ quan Chính phủ, Ban cơ yếu Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển khai giải pháp chứng thực chữ ký số và hệ thống chứng thực trong các cơ quan Chính phủ
Tác giả: Nguyễn Đăng Đào
Năm: 2012
18. Nguyễn Đăng Hậu (2004), Kiến thức thương mại điện tử, Viện đào tạo công nghệ và quản lý quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức thương mại điện tử
Tác giả: Nguyễn Đăng Hậu
Năm: 2004
19. Đinh Duy Hòa (2012), Cải cách hành chính hướng tới nền hành chính phục vụ, Vụ Cải cách hành chính – Bộ Nội vụ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách hành chính hướng tới nền hành chính phục vụ
Tác giả: Đinh Duy Hòa
Năm: 2012
21. Lê Văn Lợi (2012), Doanh nghiệp điện tử: Mô hình khung cho kết nối Chính phủ- Doanh nghiệp, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam- VCCI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp điện tử: Mô hình khung cho kết nối Chính phủ- Doanh nghiệp
Tác giả: Lê Văn Lợi
Năm: 2012
23. Nguyễn Thành Phúc (2012), Hiện trạng triển khai và định hướng ứng dụng CNTT trong hoạt động của Cơ quan nhà nước, Cục ứng dụng CNTT- Bộ TTTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng triển khai và định hướng ứng dụng CNTT trong hoạt động của Cơ quan nhà nước
Tác giả: Nguyễn Thành Phúc
Năm: 2012
25. Trần Công Sách (2002), Kỷ yếu hội thảo khoa học thương mại điện tử với đổi mới và phát triển đào tạo kinh tế, quản trị kinh doanh của các trường đại học ởnước ta: Một số vấn đề về luật pháp và chính sách đối với phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam, Viện nghiên cứu thương mại, Bộ Công Thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về luật pháp và chính sách đối với phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam
Tác giả: Trần Công Sách
Năm: 2002
26. Nguyễn Anh Sơn (2009), Pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam- Thực trạng và một số khuyến nghị, Vụ Pháp chế- Bộ Công Thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam- Thực trạng và một số khuyến nghị
Tác giả: Nguyễn Anh Sơn
Năm: 2009
27. Đinh Văn Thành (2002), Kỷ yếu hội thảo khoa học thương mại điện tử với đổi mới và phát triển đào tạo kinh tế, quản trị kinh doanh của các trường đại học ởnước ta, Chiến lược và lộ trình hội nhập về thương mại điện tử ở nước ta, Viện nghiên cứu thương mại, Bộ Công Thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược và lộ trình hội nhập về thương mại điện tử ở nước ta
Tác giả: Đinh Văn Thành
Năm: 2002
30. Moira Patterson (2010), Hiệu quả của luật pháp trong TMĐT quốc tế trong quan hệ TMĐT Mỹ - Úc, Trường Luật Đại học Monash Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả của luật pháp trong TMĐT quốc tế trong quan hệ TMĐT Mỹ - Úc
Tác giả: Moira Patterson
Năm: 2010
31. Stayling Wen (2011), Tương lai của Thương mại điện tử, Inventec Group- Đài Loan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tương lai của Thương mại điện tử
Tác giả: Stayling Wen
Năm: 2011
1. Bộ Công Thương, Cục Thương mại điện tử (2006, 2007,2008,2009,2010,2011), Báo cáo Thương mại điện tử Việt Nam Khác
2. Bộ Công Thương, Cục Thương mại điện tử (2008), APEC những nguyên tắc cơ bản về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong TMĐT Khác
3. Bộ Công Thương (2010), Quyết định số 3916/QĐ-BCT, ngày 23/7/2010 phê duyệt kế hoạch tổng thể ứng dụng công nghệ thông tin của Bộ Công Thương giai đoạn 2011-2015 Khác
4. Bộ Công Thương (2010), Quyết định số 3916/QĐ-BCT, ngày 23/7/2010 phê duyệt kế hoạch tổng thể ứng dụng công nghệ thông tin của Bộ Công Thương giai đoạn 2011-2015 Khác
5. Bộ Công Thương, Cục Thương mại điện tử (2010), Báo cáo tình hình đào tạo Thương mại điện tử tại các trường đại học và cao đẳng 2010 Khác
6. Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Kế hoạch triển khai dịch vụ công điện tử của ngành thuế 2012-2015 Khác
7. Bộ Thương mại, Đề án phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2001-2005, 2006-2010 Khác
8. Chính phủ, Ban Cơ yếu (2004), Đề tài nghiên cứu một số vấn đề kỹ thuật, công nghệ chủ yếu trong thương mại điện tử và triển khai thử nghiệm- mã số KC.01.05, Nghiên cứu, xây dựng giải pháp bảo mật thông tin trong thương mại điện tử Khác
9. Chính phủ (2005), Quyết định số 222/2005/QĐ-TTg phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006- 2010 Khác
10. Chính phủ (2010), Quyết định số 1073/QĐ-TTg, ngày 7/12/2010 phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2011-2015 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w