1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khóa luận vai trò của phụ nữ trong nghề dệt tryền thống

78 147 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 2,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Mai Thế Hởn và các cộng sự [36] đã tập trung nghiên cứu làm rõ phạm trù làng nghề truyền thống, đặc

Trang 1

Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến cơ quan chính quyền địa Phương làng lụaVạn Phúc cũng như người dân làng nghề Vạn Phúc đã không ngừng hỗ trợ và tạo mọiđiều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn.

Cuối cùng, chúng tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị và các bạnđồng nghiệp đã hỗ trợ cho chúng tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

và thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp một cách hoàn chỉnh

Nhóm sinh viên thực hiện

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

DANH MỤC VIẾT TẮT

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Việt Nam là một đất nước nhiệt đới khí hậu ôn hòa, con người chất phác, thiênnhiên ưu đãi với nhiều loài động thực vật quý đa dạng về chủng loại, phong phú về

số lượng.Nền kinh tế nước ta chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, cư dân Việt Nam cónhiều thời gian rảnh rỗi ngoài thời vụ chính Vốn cần cù chịu thương chịu khó và cóđôi bàn tay tài hoa, ngay từ xa xưa người việt cổ đã biết tận dụng những nguyên liệusẵn có ấy để tạo ra nhiều sản phẩm thủ công có giá trị sử dụng cao, mang đậm tínhnghệ thuật phục vục cho đời sống hàng ngày

Trong khi nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về sản phẩm thủcông ngày càng cao, yêu cầu các sản phẩm đó giá cả phù hợp, bền, đẹp lại không gâytác dụng phụ cho con người, thân thiện với môi trường Vì vậy đã có rất nhiều ngườichuyển sang làm nghề thủ công, họ truyền nghề cho nhau dần dần hình thành cáclàng nghề Làng nghề chính là một nét đặc trưng của nông thôn Việt Nam.Khắp mọimiền trên tổ quốc đâu đâu cũng có làng nghề thủ công, mỗi làng nghề lại sản xuấtmột mặt hàng thủ công truyền thống khác nhau, mang tính đơn nhất Ta có thể kể rađây những làng nghề nổi tiếng như: Làng gốm Bát Tràng (Hà Nội); làng gốm ChuĐậu, làng thêu Xuân Nẻo (Hải Dương); làng tranh Đông Hồ, làng gỗ Đồng Kị (BắcNinh),Làng Lụa Vạn Phúc ( Hà Đông ),… Du khách đến với Hà Nội không chỉ biếtđến các địa danh du lịch nổi tiếng như: Phủ Chủ Tịch , Chùa Trấn Quốc ,Đền QuánThánh ,Phố Cổ Hà nội ,…mà còn biết đến một số làng nghề thủ công truyền thốngnổi tiếng như: Làng Lụa Vạn Phúc , Làng Gốm Bát Tràng , Làng Chuồn Chuồn TreThạch Xá,… Nhưng làng nghề ở đây mang một phong thái riêng Theo thống kê của

sở văn hóa thể thao du lịch Hà Nội thì có tất cả 12 làng nghề,

Đề tài : Vai trò của người phụ nữ trong việc duy trì nghề dệt lụa truyền thống

của làng nghề Vạn Phúc, Hà Đông, Hà Nội

Trang 5

Phản ánh chân thực và khách quan về thực trạng về đời sống của người phụ nữtrong việc duy trì nghề dệt lụa

Tìm ra các giải pháp nhằm bảo tồn và thúc đẩy các làng nghề phát triển, đẩymạnh hoạt động du lịch của làng nghề truyền thống tại Làng Lụa Vạn Phúc Hà Đôngtrong thời gian tới

3 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu.

Vai trò của người phụ nữ trong viêc duy trì nghề dệt lụa truyền thống của làngnghề vạn phúc Hà Đông

Khách thể nghiên cứu : Hoạt động khai thác vai trò của người phụ nữ trongviệc duy trì và phát triển nghề dệt lụa

4.Nhiệm vụ nghiên cứu

Đưa ra được cơ sở lý luận về sự duy trì làng nghề và làng nghề truyền thống Nếu được các giá trị của phụ nữ trong việc duy trì và truyền nghề dệt

Đề xuất một số giải pháp trước mắt và lâu dài nhằm khai thác triệt tay nghềcủa nghệ nhận và truyền nghề cho phụ nữ nâng cao tay nghề và giữ gìn nghề dệt

5 Phạm vi nghiên cứu

Không gian nghiên cứu:tại làng lụa Vạn Phúc –Hà Đông thành phố Hà NộiThời gian nghiên cứu :số liệu thống kê trong giai đoan:2012-2017

6.Phương pháp nghiên cứu:

Để có thể hoàn thành khóa luận, chúng em đã sử dụng một số phương phápnghiên cứu:

6.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Em đã thu thập, tham khảo và sắp xếp tài liệu, thông tin trên các trang web,báo chí, mạng xã hội hay ở một số cuốn sách của nhiều tác giả khác nhau tìm hiểu vềnguồn gốc, lịch sử, thực trạng phát triển cung như duy trì làng nghề dệt lụa truyềnthống ở làng Vạn Phúc, Hà Đông Từ đó, tìm hiểu và nghiên cứu sâu thêm về nhữngvai trò thiết yếu của người phụ nữ trong tất cả các quá trình này

6.2 Phương pháp khảo sát thực địa

Để có những thông tin xác thực nhất về vai trò của người phụ nữ trong việcduy trì và phát triển nghề dệt truyền thống tại làng Vạn Phúc, chúng em đã có chuyến

đi khảo sát tại đây vào tháng 4 năm 2018 Trong những ngày đi thực tế, chúng em đãthu nhận được cho mình những thông tin phản ánh của người dân bản địa và một số

Trang 6

khách du lịch góp phần làm chính xác, cụ thể và rõ ràng hơn nhưng thông tin đã thuthập được qua các trang web, báo chí, trước đó.

6.3 Phương pháp phỏng vấn

Trong quá trình nghiên cứu tài liệu và đi khảo sát thực tế, em đã thu thập đượcthêm các thông tin về sự hiểu biết, nhìn nhận và đánh giá về vai trò cũng như tầmquan trọng của những người phụ nữ, cùng những đóng góp cụ thể trong việc duy trìlàng nghề truyền thống và phát triển thương hiệu lụa Hà Đông trong tương lai quabảng phỏng vấn những người dân địa phương và một số khách du lịch Qua đây, tathấy rõ hơn thực trạng của vấn đề nghiên cứu, giúp cho bài nghiên cứu được cụ thể,hoàn thiện và thuyết phục hơn

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và các tài liệu tham khảo, bài khóa luậngồm 3 chương chính:

Chương 1: Cơ sở lí luận về vai trò của người phụ nữ trong việc duy trì nghềtruyền thống

Chương 2: Thực trạng bảo tồn và phát triển làng lụa truyền thống Hà Đông.Chương 3: Giải pháp khuyến khích phụ nữ tham gia hoạt động duy trì và pháttriển nghề dệt lụa truyền thống của làng lụa Vạn Phúc Hà Đông

Trang 7

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VIỆC DUY TRÌ NGHỀ DỆT LỤA TRUYỀN THỐNG CỦA LÀNG LỤA VẠN PHÚC HÀ ĐÔNG, THÀNH

PHỐ HÀ NỘI1.1 Tổng quan đề tài nghiên cứu

Việt Nam khi tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với kinh tế nôngnghiệp thì phát triển nông nghiệp, nông thôn luôn được coi là phát huy lợi thế sosánh, nội lực của đất nước; vừa thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế vừa giải quyết

có hiệu quả các vấn đề xã hội Trong đó, làng nghề, làng nghề truyền thống, ngànhnghề ở nông thôn là những nguồn lực còn nhiều tiềm năng của đất nước Vì vậy, vấn

đề phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống, ngành nghề ở nông thôn và pháttriển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa có ý nghĩathực tiễn quan trọng đã được nghiên cứu, thảo luận tại nhiều hội thảo trong và ngoàinước Được nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học, chính quyền các cấp quan tâm, các bàibáo trên các tạp chí chuyên ngành đề cập và đã đạt được những kết quả nhất định.Sauđây là tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài như sau:

Các công trình nghiên cứu về làng nghề và môi trường :

Các công trình: “Nghề cổ truyền nước Việt” của Vũ Từ Trang [66]; "Làng

nghề thủ công truyền thống Viêt Nam" của Bùi Văn Vượng [88] Các tác giả đã 11 đềcập một cách tổng quát về các nghề và làng nghề tiêu biểu của Việt Nam trong quákhứ cũng như hiện tại Đồng thời trong đó các tác giả cũng thể hiện sự trăn trở vềnghề thủ công Việt Nam đứng trước sự thăng trầm của lịch sử

“Tác động xã hội và môi trường của việc phát triển làng nghề” của Vũ Tuấn

Anh, Nguyễn Thu Hòa [3] đã trình bày một cách tổng quan những xu hướng pháttriển các nghề phi nông nghiệp và các làng nghề ở nông thôn Việt Nam.Phân tíchnhững đặc điểm và tác động của sự phát triển làng nghề phi nông nghiệp và các làngnghề đối với những thay đổi về kinh tế, xã hội và môi trường, đặc biệt là tác động đốivới nhóm những hộ nghèo ở nông thôn.Trên cơ sở phân tích đó, đề xuất những kiếnnghị về việc phát triển và quản lý các nghề phi nông nghiệp và các làng nghề nhằmmục đích giảm nghèo nói riêng, cũng như đảm bảo sự phát triển nông thôn Việt Nam

Cùng chủ đề này còn có một số công trình: “Môi trường các làng nghề” Kỷ của Bộ

Trang 8

Khoa học Công nghệ và Môi trường [8]; “Phát triển tiểu thủ công nghiệp nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng” của Nguyễn Thị Hiền [33]; “Làng nghề công nghiệp - thủ công nghiệp với vấn đề giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo ở Nam Định” của Nguyễn Xuân Bách [4]; “Tình trạng ô nhiễm không 13 khí, đất, nước ở các làng nghề và tác động của nó đến môi trường sống và sức khỏe cộng đồng” của Nguyễn

“Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa” của

Dương Bá Phượng [45] đã đề cập những vấn đề chung về làng nghề, vai trò tác động

và những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của làng nghề Đồng thời, đi sâu phântích thực trạng tình hình sản xuất kinh doanh của các làng nghề về lao động, vốn, côngnghệ, thị trường tiêu thụ của sản phẩm và môi trường trong các làng nghề Các quanđiểm và phương hướng bảo tồn, phát triển các làng nghề trong quá trình CNH, HĐHnông thôn mang tính khả thi cao và sát thực với thực tế

“Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Mai Thế Hởn và các cộng sự [36] đã tập trung nghiên cứu làm rõ phạm trù

làng nghề truyền thống, đặc điểm hình thành và vị trí, vai trò của LNTT đối với sựphát triển kinh tế - xã hội qua các thời kỳ lịch sử; đồng thời, đi sâu phân tích nhữngkinh nghiệm phát triển LNTT tiểu thủ công nghiệp của một số nước và rút ra bài họcquý báu mà Việt Nam cần quan tâm; đánh giá tiềm năng, thực trạng của việc pháttriển LNTT trong những năm đổi mới và những hạn chế, thiếu sót cần khắc phục cáctác giả đã Đưa ra những phương hướng và đề xuất những giải pháp đồng bộ, xácthực nhằm phát triển mạnh mẽ LNTT bao gồm: Giải pháp lập quy hoạch, kế hoạch

Trang 9

phát triển LNTT; giải pháp mở rộng vàphát triển đồng bộ các loại thị trường choLNTT; giải pháp đa dạng hóa các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong LNTT;giải pháp chuyển giao công nghệ thích hợp và đổi mới công nghệ cho LNTT; giảipháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý và nâng cao tay nghề cho người lao động củacác làng nghề

“Làng nghề truyền thống đồng bằng sông Hồng sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới” của Vũ Thị Thoa [58] đã phân tích những tác động tích

cực và tiêu cực tới sự phát triển của các làng nghề truyền thống sau khi gia nhậpWTO Đồng thời, tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển của các làng nghề truyềnthống đồng bằng sông Hồng sau khi gia nhập WTO; từ đó rút ra những vấn đề cầnphải tháo gỡ và đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy sự phát triển các LNTT

ở đồng bằng sông Hồng sau khi gia nhập WTO [83] 18 Ngoài ra, còn có một số côngtrình như:

Các công trình nghiên cứu tổng quan về công nghiệp hóa – hiện đại hóa nôngnghiệp, nông thôn Các công trình nghiên cứu về thủ công nghiệp, nghề cổ truyền vàvấn đề môi trường gắn bó với làng nghề Các công trình nghiên cứu về tình hình sảnxuất và kinh doanh của làng nghề và làng nghề truyền thống Các công trình nghiêncứu về phát triển du lịch Làng nghề truyền thống luôn là một trong những đề tài hấpdẫn đối với nhiều nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam Đã có rất nhiều các công trìnhnghiên cứu về làng nghề với các đề tài như vai trò của làng nghề trong việc phát triểnkinh tế xã hội, sự biến đổi của các làng nghề trong giai đoạn mới Các công trìnhnghiên cứu tổng quát về làng nghề truyền thống Việt Nam như:

Bùi Văn Vượng, 2002 “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam”: NXB

Văn hóa thông tin Nêu lên một cách khái quát về các làng nghề truyền thống củaViệt Nam Phạm Thị Thảo, 2007 “Phát huy nghề và làng nghề truyền thống”: Viện

Văn hóa Dân tộc Của hai tác giả Trần Quốc Vượng và Đỗ Thị Hảo, 2010 Làng nghề, phố nghề Thăng Long - Hà Nội: NXB Đại học Quốc Gia Đã chỉ rõ sự hình

thành làng nghề

Luận án Tiến sỹ kinh tế của Trần Minh Yến, 2003 : Viện kinh tế học, Trungtâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia Luận án đã hệ thống những vấn đề lýluận cơ bản về làng nghề truyền thống ở nông thôn theo những quan điểm của khoa

Trang 10

học kinh tế chính trị Mác – Lênin và đường lối đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam

và làm rõ vai trò của làng nghề truyền thống ở nông thôn từ khi đổi mới đến nay

Các khóa luận tốt nghiệp Văn hóa du lịch viết về làng nghề : “Làng nghề truyền thống Hải Phòng với việc phát triển du lịch nhằm trình bày về vai trò làng nghề truyền thống “ - PGS TS Nguyễn Hữu Khải; ThS Đào Ngọc Tiến “Thương hiệu hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống” Sách chuyên khảo, Nhà xuất bản Lao động Xã hội, năm 2006 - Vũ Từ Trang “Nghề cổ đất Việt” Sách khảo cứu, Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin, năm 2007 - Phạm Côn Sơn “Làng nghề truyền thống Việt Nam” Sách tham khảo Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc, năm 2007 - Nguyễn Văn Đáng “Giải pháp phát triển làng nghề truyền thống ở Hà Nội và các vùng phụ cận đến năm 2010

và những năm tiếp theo” Mã số B2003 - 39-34 - Ngoài những công trình nghiên cứu

tương đối quy mô này, nhiều hội thảo của các bộ, ngành, Hiệp hội làng nghề cũng cónhững đề tài nghiên cứu trong từng lĩnh vực Chẳng hạn, năm 2008, Hiệp hội làng

nghề Việt Nam tổ chức Hội thảo: “Cơ hội đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trong bối cảnh mới”, và Hội thảo “Tiềm năng và thực trạng làng nghề Việt Nam hiện nay” đã

có nhiều tham luận, báo cáo nghiên cứu tình hình sản xuất và xuất khẩu hàng thủ công

mỹ nghệ và nêu ra những giải pháp phát triển làng nghề, doanh nghiệp làng nghề

Trong đó, đáng lưu ý là những tham luận như: “Bảo tồn và phát triển làng nghề”,

“Phát triển nghề, làng nghề trong điều kiện mới” của ông Vũ Quốc Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Việt Nam, “ Một số vấn đề phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các địa phương - Kết quả nghiên cứu ở 2 tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ” của ông

Lê Đức Thịnh và bà Lê Thị Phi Vân, “Định hướng bảo tồn và phát triển làng nghề” của thạc sĩ Bùi Văn Vượng, “Vài suy nghĩ về du lịch làng nghề Việt Nam” của ông Lưu

Duy Dần, Phó chủ tịch Hiệp hội làng nghề Việt Nam Bên cạnh đó, nhiều báo, tạp chícũng có những bài viết về thực trạng, vai trò, giải pháp phát triển làng nghề, doanhnghiệp làng nghề, nhưng chỉ ở từng khía cạnh riêng rẽ, không mang tính tổng kếttruyền thống trong hoạt động du lịch, thực trạng hoạt động làng nghề truyền thống Hải

Phòng trong việc phát triển du lịch Tiếp nối cho đề tài các làng nghề :khóa luận “Phát triển du lịch làng nghề tranh Đông Hồ huyện Thuận Thành – Bắc Ninh ”của bạn Lê Thị Na khoa Du lịch trường Đại học công nghiệp Hà Nội;khóa luận “Nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch tại làng gốm Chu Đậu –Hải Dương”của bạn Phùng Thị Hải

Yến,khoa Du lịch trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội,…chỉ ra các điều kiện để có

Trang 11

thể hình thành nên sự phát triển của làng nghề cũng như hoạt động du lịch tại làngnghề đang từng bước được khai thác

Nhìn chung đề tài về làng nghề đã ,đang và vẫn là đối tượng được nhiều tácgiả quan tâm ,nhưng có lẽ nghề dệt truyền thống thì vẫn chưa được khai thác nhiều

Một số đề tài về nghề dệt có thể kể đến :”Một số giải pháp phát triển nghề truyền thống tại làng nghề dệt lụa Mã Châu,Duy Xuyên, Quảng Nam”của Th.S Nguyễn Thị

Thúy Diễn;Khóa luận Nghề dệt thổ cẩm ở làng hoa Tiền, xã Châu Tiến, huyện Quỳ

Châu, tỉnh Nghệ An của nghiên cứu sinh Sầm Văn Túc ;”Nghề dệt thổ cẩm ở Lào : qua trường hợp làng Mường Xang, huyện Sầm Nưa tỉnh Hủa Phăn và làng Noỏng Bua Thoong Tạy ở thủ đô Viêng Chăn”; hay của Trần Thị Mai Lan, chuyên ngành Nhân học văn hóa, mã số 62 31 65 01, với đề tài: “Nghề dệt thủ công của người Thái Trắng ở Mai Châu, Hòa Bình trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, “Đánh giá hiện trạng ô nhiễm và đề xuất giải pháp quản lý môi trường làng nghề dệt nhuộm tại tỉnh Hà Nam ” của Trần Thị Hiền.Các nghiên cứu trên đều xoay

quanh đối tượng nghề dệt và tập trung khai thác các vấn đề có ảnh hưởng đến nghềdệt và sự phát triển nghề dệt,dưới nhiều góc độ và hoàn cảnh.Trong khi không cómấy đề tài nghiên cứu nhìn làng nghề dưới góc độ nguồn nhân lực nói chung và vaitrò của phụ nữ nói riêng,mặc dù cũng có rất nhiều trang báo,đề tài ,hội nghị nhấn

mạnh đến vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực đời sống Chủ đề “Người phụ nữ”là

chủ đề gây được sự chú ý của đông đảo các nhà nghiên cứu ,nhà phê bình,đã có rấtnhiều tác phẩm và công trình nghiên cứu về vấn đề này trong mỗi tác phẩm và

nghiên cứu đã lí giải vấn đề “Phụ nữ”ở những khía cạnh khác nhau.Nhưng mỗi tác

phẩm đều để lại cho người đọc những giá trị có ý nghĩa về cả lí luận lẫn thực tiễn

Chúng ta có thể kể đến một số đề tài như :“Vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên” th.s Vương Thị Vân “Vai trò của phụ nữ đối với việc đảm bảo an toàn thực phẩm gia đình ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay tìm hiểu về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ đối với việc đảm bảo an toàn thực phẩm gia đình

ở thành phố Huế”NCS Võ Nữ Hải Yến “Vai trò của phụ nữ trong hoạt động hoà giải tại cộng đồng: Nghiên cứu trường hợp tỉnh Hà Tây cũ” Trần Thị Xuân Lan.“Vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên ’’Luận văn Th.s Lê Thị Minh; “Nhận diện những vấn đề của phụ nữ nông

Trang 12

thôn trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình(Nghiên cứu trường hợp Phụ nữ làm

nghề mây tre đan tại xã Phú Nghia,huyện Chương Mỹ,thành phố Hà Nội) luận vănthạc sĩ Nguyễn Thị Tuyết Nhung.Vai trò của phụ nữ đã được đề cập trong khá nhiềucông trình ,bài viết của nhiều học giả,nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Tuy nhiênvai trò của người phụ nữ trong việc duy trì cũng như phát triển làng nghề thì khôngnhiều ,quan tâm về vấn đề này đã có luận văn của sinh viên Lường Thị Hường -VHDT 11A 7 -khoa Văn hóa Dân tộc, trường Đại học Văn hóa Hà Nội với đề tài :

“Vai trò của người phụ nữ Thái trong việc giữ gìn văn hóa truyền thống (Qua nghiên cứu nghề dệt, may ở Noong Bua, thành phố Điện Biên)”.Dưới góc nhìn phụ nữ trong

việc giữ gìn nghề truyền thống,nhóm chúng em nghiên cứu trường hợp làng lụa Vạn

Phúc ,Hà Đông với đề tài :“Vai trò của phụ nữ trong duy trì nghề truyền thống ( Nghiên cứu trường hợp làng dệt lụa Vạn Phúc -Hà Đông - thành phố Hà Nội)”

với mong muốn sẽ góp một phần nhỏ vào việc bảo tồn và phát huy các nghề thủ côngtruyền thống của người làng Vạn Phúc nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung

1.2 Khái niệm của đề tài

1.2.1 Khái niệm làng

Làng theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt là một khối người quây quần ở một nơi nhất định trong nông thôn Làng là một tế bào xã hội của người Việt, là tập hợp dân cư chủ yếu theo quan hệ láng giềng Đó là một không gian lãnh thổnhất định, ở đó tậ hợp những người dân quần tụ lại cùng sinh sống và sản xuất.

“Làng” là danh từ (theo tiếng Nôm), dùng để chỉ đơn vị tụ cư nhỏ nhất nhưng chặt chẽ và hoàn thiện nhất của người Việt Trong buổi đầu được gọi là các Kẻ, Chạ, Chiềng của người Việt cổ, về sau được gọi là Làng, còn ở khu vực miền núi được gọi là Bản, Mường, Buôn, Plei, Plum, Đê,…

Theo nhà nghiên cứu Hà Văn Tấn: “Làng là một đơn vị cộng cư có một vùng đất chung của cư dân nông nghiệp, một hình thức tổ chức xã hội nông nghiệp tiểu nông tự cấp tự cung, mặt khác là mẫu hình xã hội phù hợp, là cơ chế thích ứng với sản xuất tiểu nông, với gia đình-tông tộc gia trưởng, đảm bảo sự cân bằng và bền vững của xã hội nông nghiệp ấy Làng được hình thành, được tổ chức chủ yếu dựa vào 2 nguyên lý cội nguồn và cùng chỗ.Một mặt làng có sức

Trang 13

sống mãnh liệt, mặt khác xét về cấu trúc, làng là một cấu trúc động, không có bất biến Sự biến đổi của làng là do sự biến đổi chung của đất nước qua tác động của mối liên hệ làng và siêu làng” [19,tr 130]

1.2.2 Khái niệm làng nghề

Lịch sử phát triển nền văn hoá cũng như lịch sử phát triển kinh tế Việt Nam luôn gắn liền lịch sử phát triển của các làng nghề.Sự tồn tại và phát triển của các làng nghề là một quá trình tích luỹ kinh nghiệm lâu đời của những người thợ, trong số này không ít làng nghề đã có lịch sử hàng trăm năm và được truyền qua nhiều thế hệ.Nhiều làng nghề là một bộ phận kinh tế - văn hoá quan trọng góp phần phát triển kinh tế nông thôn, thậm chí có nghề được nâng lên thành "di sản vật thể" Nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ độc đáo làm bằng các vật liệu đơn giản mang đậm đặc trưng văn hoá Việt Nam đã được đông đảo khách hàng trong và ngoài nước ưu chuộng, trở thành một tiềm năng kinh tế - văn hoá - xã hội có sức sống bền vững Có thể nói làng ở Việt Nam được phát triển từ rất lâu đời Ngay từ thời vua Hùng dựng nước đã xuất hiện, những xóm làng định canh được hình thành trên cơ sở những công xã nông thôn Trong đó mỗi công xã gồm một số gia đình, có tinh thần cộng đồng, cộng cảm, sống quây quần trong một khu vực địa lý nhất định Như vậy, có thể hiểu làng là một cộng đồng dân cư tự nhiên được tập hợp theo quan hệ huyết thống, quan hệ địa

vị, quan hệ nghề nghiệp,…được ổn định nhiều mặt Lúc đầu, nguồn sống cơ bản của người dân trong các làng là sản phẩm nông nghiệp, nhưng về sau có một bộ phận dân cư sống bằng những nghề khác nhau, có những người làm nghề buôn bán, có những người chế tác công cụ lao động, sản xuất đồ mộc, đan lát đồ dùng, nuôi tằm, dệt vải… tức là chuyển sang sản xuất thủ công Trong thời kỳ đầu, nghề thủ công ở quy mô gia đình và phụ thuộc vào kinh tế tự nhiên giống như mô tả của Lênin: "ở đây, nghề thủ công với nông nghiệp chỉ là một mà thôi" [20, tr.411-412] Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, nghề thủ công từ một nghề phụ trong nông nghiệp chuyển thành một nghề độc lập.Tuy họ không làm nông nghiệp nhưng vẫn gắn chặt với làng quê.Có những thợ thủ công chuyên làm TTCN và sống bằng nghề đó, nhưng cũng có những

Trang 14

người làm nông nghiệp kiêm thợ thủ công Càng về sau số người trong làng chuyển hẳn sang sản xuất mặt hàng thủ công tăng lên dần, có đội ngũ thợ, có quy trình công nghệ và mở rộng đến mức độ nhất định thì làng đó được gọi là làng nghề Đến nay, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các quan niệm khác nhau về làng nghề.Sau đây xin nêu ra một số quan niệm tiêu biểu về làng nghề.

Quan niệm thứ nhất.Theo GS Trần Quốc Vượng thì làng nghề được định nghĩa như sau: Làng nghề là làng ấy vẫn có trồng trọt theo lối tiểu nông

và chăn nuôi nhỏ (lợn, gà…) cũng có một số nghề phụ khác (đan lát, làm tương, làm đậu phụ…) song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông phó cả… cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm,

có quy trình công nghệ nhất định "sinh ư nghệ, tử ư nghệ", " nhất nghệ tinh, nhất thân vinh" sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hoá và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng xung quanh và với thị trường đô thị, thủ đô (Kẻ Chợ, Huế, Sài Gòn…) và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra cả thị trường nước ngoài

Những làng nghề ấy ít nhiều đã nổi danh từ lâu (có một quá khứ trăm ngàn năm) "dân biết mặt, nước biết tên, tên làng đã đi vào lịch sử, vào ca dao tục ngữ trở thành di sản văn hoá dân gian" [21, tr 38-39] Quan niệm này đúng với làng nghề truyền thống, nhưng lại không thích hợp đối với với làng nghề nói chung và làng nghề mới hoạt động, với yêu cầu phải có nghề cổ truyền nổi trội, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp là rất khó thực hiện

Quan niệm thứ hai: Theo nhà nghiên cứu Bùi Văn Vượng thì: Làng nghề truyền thống là làng cổ truyền làm nghề thủ công ở đấy không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời là người làm nghề nông (nông dân) Nhưng yêu cầu chuyên môn hoá cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng nghề truyền thống ngay tại làng quê của mình… [22, tr.13] Quan niệm này cũng chỉ

Trang 15

mới dừng lại ở một khía cạnh của làng nghề truyền thống chưa đưa ra được khái niệm bao quát về làng nghề nói chung

Quan niệm thứ ba: Theo đề tài "Khảo sát một số làng nghề truyền thống

- chính sách và giải pháp" năm 1996 của Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học thì " làng nghề là một cộng đồng dân cư, một cộng đồng sản xuất nghề tiểu thủ công nghiệp và nông nghiệp ở nông thôn "[23] Quan niệm này chưa đủ bởi theo phân tích ở trên, các địa phương ở nước ta có rất nhiều làng có nghề nhưng chưa đạt đến mức độ được gọi là làng nghề

Quan niệm thứ tư: Theo TS Dương Bá Phượng thì "Làng nghề là làng ở nông thôn có một (hay một số) nghề thủ công tách hẳn khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập" [24, tr.13-14] Quan niệm này đã nêu lên được hai yếu tố cấu thành của làng nghề là làng và nghề, nêu lên được vấn đề nghề trong làng tách khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập nên phù hợp với điều kiện mới hơn, tránh được hạn chế của quan niệm thứ nhất, song vẫn mắc phải hạn chế của quan niệm thứ ba

Quan niệm thứ năm: Một số nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm làng nghề kèm theo các tiêu chí về lao động và việc làm Chẳng hạn như: "làng nghề là những làng đã từng có từ 50 hộ hoặc từ 1/3 tổng số hộ hay lao động của địa phương trở lên làm nghề chiếm phần chủ yếu trong tổng thu nhập của họ trong năm"[25, tr.15] Hay như trong Dự thảo Nghị định của Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn được Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đệ trình tháng 5-2005 thì " Làng nghề là thôn,

ấp, bản có trên 35% số hộ tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn và thu nhập từ ngành nghề nông thôn chiếm trên 50% tổng thu nhập của làng " v.v Các quan niệm này đã quan tâm đến tỷ lệ người làm nghề và thu nhập từ ngành nghề, nhưng lại cố định tiêu chí xác định làng nghề điều này sẽ làm cho các nhà hoạch định chính sách khó xử lý khi các chế độ ưu đãi đối với làng nghề thay đổi

Từ các quan niệm trên cho thấy khái niệm về làng nghề được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề.Song, không phải bất cứ quy mô nào của nghề cũng được gọi làng đó là làng nghề.Quan niệm về làng nghề phải thể hiện được cả

Trang 16

mặt định tính và định lượng.Xét về mặt định tính, làng nghề phải thể hiện được

sự khác biệt so với làng thuần nông hoặc so với phố nghề ở thành thị.Xét về mặt định lượng, làng nghề phải đạt đến quy mô nhất định và có tính ổn định tương đối cao.Vì có điểm xuất phát là làng gắn với nông nghiệp nên khi quy

mô làm nghề của làng phải phát triển đến mức độ nào đó mới được gọi là làng nghề Việc xác định sự phát triển của làng nghề vừa phải đặt nó trong quy mô làng về số hộ, số lao động, thu nhập từ hoạt động kinh tế của nghề, vừa phải xem xét bản thân hoạt động nghề của làng

Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu các điểm hợp lý của các quan niệm nêu trên chúng tôi đưa ra khái niệm về làng nghề như sau: Làng nghề là một làng mà ở

đú tập trung một số lượng lớn lao động của làng vào làm một hoặc một số nghề nào đú và thu nhập của họ chủ yếu dựa vào việc làm nghề, thời gian làm việc của họ chiếm nhiều hơn hẳn so với thời gian làm nghề nụng nghiệp Hiện nay trờn phạm vi cả nước cú rất nhiều loại làng nghề như: làng nghề tiểu thủ cụng nghiệp truyền thống, làng nghề tiểu thủ cụng nghiệp, làng nghề trồng cây hoa, làng nghề trồng cõy cảnh, làng nghề nuụi cỏ cảnh, … Dưới gúc độ nghiờn cứu của luận văn chỳng tụi đưa ra khỏi niệm; Làng nghề tiểu thủ công nghiệp

là một làng mà ở đó tập trung phần lớn lao động của làng vào làm nghề tiểu thủ công nghiệp, thu nhập từ các nghề tiểu thủ công nghiệp của làng chiếm tỷ trọng lớn hơn so với thu nhập từ nông nghiệp và các ngành nghề khác mang lại Làng nghề ở nước ta hiện nay rất phong phú và đa dạng, do vậy tuỳ theo mục đích nghiên cứu và nhu cầu quản lý mà người ta có các cách phân loại làng nghề khác nhau

Phân theo số lượng nghề:

Làng một nghề: Là những làng nghề ngoài nghề nông ra chỉ làm một nghề thủ công

Làng nhiều nghề: Là những làng ngoài nghề nông còn có một số hoặc nhiều nghề khác

Phân theo thời gian làm nghề:

Làng mới làm nghề: Là những làng mới làm nghề tiểu thủ công nghiệp trong vòng 20-30 năm trở lại đây

Trang 17

Làng làm nghề lâu đời: Làng nghề truyền thống

Phân theo trình độ kỹ thuật:

Làng nghề làm nghề có kỹ thuật giản đơn như đan lát, chế biến lương thực, thực phẩm, làm gạch, nung vôi… Sản phẩm của các làng nghề này có tích chất thông dụng, rất phù hợp với một nền kinh tế tự cấp tự túc + Làng nghề làm nghề có kỹ thuật phức tạp như các nghề: kim hoàn, đúc đồng, làm gốm, khảm gỗ, dệt lụa, thêu thùa… Các nghề này không chỉ có kỹ thuật phức tạp, mà đòi hỏi sự khéo léo.Sản phẩm của nó vừa có giá trị kinh tế cao, vừa có giá trị nghệ thuật cao.

1.2.3 Khái niệm làng nghề truyền thống

Hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về làng nghề truyền thống, nhưng ta có thể hiểu làng nghề truyền thống là làng cổ truyền làm nghề thủ công truyền thống Theo Giáo sư Trần Quốc Vượng thì làng nghề là: “Làng nghề là làng , tuy có trồng trọt theo lối thủ nông và chăn nuôi (gà, lợn, trâu,…) làm một số nghề phụ khác (thêu, đan lát,…) song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có ông trùm, ông phó cả cùng một số thợ và phó nhỏ đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu bằng nghề đó và sản xuất ra những hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với thị trường là vùng rộng xung quanh với thị trường đô thị, thủ đô và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra nước ngoài.[26]

Làng nghề ở đây không nhất thiết là tất cả mọi người dân trong làng đều sản xuất thủ công, người thợ thủ công cũng có thể là người nông dân làm thêm nghề phụ trong lúc nông nhàn Tuy nhiên do yêu cầu về tính chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ thủ công chuyên nghiệp, chuyên sản xuất hàng thủ công truyền thống ngay tại quê hương của mình

Nghiên cứu một làng nghề thủ công truyền thống là phải quan tâm đến nhiều mặt, tính hệ thống, toàn diện của làng nghề thủ công truyền thống đó, trong đó yếu tố quyết định là nghệ nhân của làng, sản phẩm thủ công, thủ pháp

Trang 18

kĩ thuật sản xuất và nghệ thuật Làng nghề thủ công truyền thống là trung tâm sản xuất hàng thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính lâu đời, được truyền đi truyền lại qua các thế hệ, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí là bán lẻ, họ có cùng tổ nghề, các thành viên luôn

có ý thức tuân theo những 6 ước, chế độ, gia tộc, cùng phường nghề trong quá trình lịch sử phát triển đã hình thành nghề ngay trên đơn vị cư vị cư trú của xóm của họ

Làng nghề thủ công truyền thống thường có đại đa số hoặc một số lượng lớn dân cư làm nghề cổ truyền, thậm chí là 100% dân cư làm nghề thủ công hoặc một vài dòng họ chuyên làm nghề lâu đời, kiểu cha truyền con nối Sản phẩm của họ không những có tính ứng dụng cao mà còn là những sản phẩm độc đáo, ấn tượng, tinh xảo.Ngày nay trong quá trình phát triển của kinh tế xã hội Làng nghề đã thực sự thành đơn vị kinh tế tiểu thủ công nghiệp, có vai trò, tác dụng tích cực rất lớn đối với đời sống kinh tế xã hội

1.3 Lý thuyết, phương pháp nghiên cứu, địa bàn nghiên cứu

1.3.1 Phương pháp nghiên cứu

Để có thể hoàn thành bài khóa luận, nhóm em đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau

1.3.1.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Nhóm em đã thu thập, sắp xếp và tham khảo tài liệu, thông tin ở những cuốn sách nghiên cứu chuyên sâu về làng nghề truyền thống, làng dệt cổ, các giáo trình về du lịch hay những thông tin trên các trang web báo trí, mạng xã hội của các tác giả khác nhau Tìm hiểu nguồn gốc, lịch sử, thực trạng phát triển và các chương trình du lịch có liên quan đến làng lụa Vạn Phúc Hà Đông và từ đó tìm hiểu được vị trí của người phụ nữ trong quá trình gìn giữ và phát triển nghề dệt lụa truyền thống tại làng lụa Vạn Phúc, Hà Đông, Hà Nội.

1.3.1.2 Phương pháp khảo sát thực địa

Để có những thông tin xác thực nhất về sự phát triển du lịch tại làng nghề dệt lụa Vạn Phúc Hà Đông, nhóm em đã có chuyển đi khảo sát thực địa tại đây vào tháng 4 năm 2018 Trong chuyển đi thực tế, nhóm em đã thu nhận cho mình

Trang 19

được những thông tin, những phản ánh của người dân địa phương, khách du lịch nhằm góp phần làm chính xác và cụ thể hơn cơ sở dữ liệu đưa ra, mở mang hơn lượng thông tin có trên Internetm, báo, đài, tạp chí,…

1.3.1.3 Phương pháp phỏng vấn

Trong quá trình nghiên cứu tài liệu, cùng với việc đi khảo sát thực tế, nhóm em

đã thu thập thêm các thông tin về các giá trị của Làng lụa Vạn Phúc, Hà Đông, đặc biệt là vai trò của người phụ nữ trong quá trình gìn giữ và phát triển nghề dệt lụa truyền thống thông qua bảng phỏng vấn người dân địa phương, một số khách du lịch Qua đây cũng thấy được độ phát triển hiện nay của làng nghề này.Các nguồn giữ liệu này giúp cho bài viết được cụ thể, hoàn thiện và mang tính thuyết phục cao hơn.

1.3.2 Đối tượng và địa bàn nghiên cứu khóa luận

1.3.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Tầm quan trọng của những người phụ nữ trong quá trình duy trì và phát triển nghề dệt truyền thống tại làng lụa Vạn Phúc, Hà Đông.

1.3.2.2 Địa bàn nghiên cứu

Về không gian: tại địa bàn làng lụa Vạn Phúc, Hà Đông,.

Về thời gian: thời gian nghiên cứu trong khoảng từ 3/2018 - 5/2018, khảo sát số liệu tài liệu từ năm 2005 đến nay, tầm nhìn đến năm 2020.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trên cơ sở kế thừa lý luận của các học giả đi trước, Luận án đã phân tích và làm

rõ thêm các khái niệm làng nghề, văn hóa làng nghề và biến đổi văn hóa làng nghề Luận án xác định, làng nghề là các làng có phần đông cư dân sống bằng một nghề hoặc nhiều nghề thủ công, có khi chỉ là một công đoạn của nghề, tạo

ra các sản phẩm mang những nét riêng, thời gian làm nghề và thu nhập của nghề chiếm tỷ lệ lớn nhất so với các hoạt động kinh tế khác Văn hóa làng nghề được

Trang 20

đề cập, không đơn thuần là số cộng giữa văn hóa làng và văn hóa nghề, mà là một dạng đặc thù, là một phức thể các yếu tố văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần của làng nghề, giữa nghề và làng, giữa con người và các yếu tố ngoài con người, có quan hệ mật thiết, ràng buộc và tác động vào nhau Văn hóa làng nghề cũng như văn hóa làng, được cấu thành bởi văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần của làng; các yếu tố đó có quan hệ mật thiết, ràng buộc và phụ thuộc nhau, trong đó nghề giữ vị trí trung tâm Ngoài các yếu

tố chung của văn hóa làng, văn hóa làng nghề có một số yếu tố đặc thù, như nhịp sống làng nghề, tâm lý và tính cách của người làng nghề… Song, văn hóa làng nghề là một chỉnh thể thống nhất, không thể phân chia Việc phân chia một cách

cơ học các thành tố trên nhằm giúp chúng tôi nghiên cứu sâu hơn về sự vận động, biến đổi của văn hóa làng nghề.

CHƯƠNG 2: NGHỀ DỆT TRUYỀN THỐNG CỦA LÀNG VẠN

PHÚC,HÀ ĐÔNG,HÀ NỘI2.1 Giới thiệu tổng quan về làng Vạn Phúc

2.1.1 Vị trí địa lý

Hà Tây là một tỉnh nằm sát thủ đô Hà Nội có tiềm năng du lịch vô cùnglớn.Ngoài hệ thống chùa chiền nổi tiếng vào bậc nhất toàn quốc, Hà Tây còn đượcmệnh danh là đất “trăm nghề” Bởi Hà Tây hội tụ rất nhiều làng nghề truyền thống

Hiện nay, theo thống kê Hà Tây có trên 1300 làng, Thời xưa, làng được coi làđơn vị hành chính của nước Thời nay, làng là một đơn vị văn hóa (làng văn hóa),đơn vị kinh tế (làng nghề), một đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học

Mỗi một làng ở Hà Tây đều mang những hằng số chung nhất của một làngViệt Nam ở vùng tam giác châu thổ song Hồng Tuy nhiên, tùy thuộc vào hoản cảnhlịch sử, môi trường địa lý mỗi làng ngoài những nét chung đã hình thành những sắc

Trang 21

thái văn hóa riêng Trải qua thời kỳ dài xây dựng và phát triển, các thế hệ người làng

đã hun đúc, đắp bồi những sắc thái văn hóa ấy trở thành thuần phong mỹ tục Yếu tốtruyền thống của quá khứ ở mỗi làng đọng dấu ấn không phai mờ vào mỗi hoạt độngkinh tế xã hội

Cho dù trình độ phát triển ở mỗi làng nghề khác nhau song dân làng nào cũng

có quyền tự hào về làng mình với sự phong phú đa dạng của văn hóa làng Vạn Phúc

đã từ lâu đời được nhiều người biết đến với nghề dệt lụa nổi tiếng và giầu truyềnthống cách mạng Có nhà thơ đã phải thốt lên:

“Vạn Phúc quê lụa của ta ơi!

Nuôi ra từ buổi khóc chào đờiLớn lên theo Đảng đi hoạt độngLiên tục đên nay chưa nghỉ ngơi.”

(Vạn Phúc quê ta.)Vạn Phúc ở ngay cửa ngõ Tây Bắc thị xã Hà Đông – thị xã tỉnh lỵ của tỉnh HàTây bây giờ.Thiên nhiên ưu ái Vạn Phúc một không gian thoáng đãng, một dải hìnhthoi hàng cây vươn cao, thấp thoáng mãi tranh, mãi ngói trải dài giữa hai đường giaothông thủy bộ Phía đông là dòng song Nhuệ Giang Phía tây là đường quốc lộ 70(nay gọi là đường 430) Phía nam là thị xã Phía bắc là hai làng Ngọc Trục, Đại Mỗ

và đồng lúa mênh mông

Từ năm 1945 về trước, Vạn Phúc thuộc tổng Đại Mỗ Phủ Hoài Đức Sau cáchmạng tháng tám Vạn Phúc thuộc thị xã Hà Đông Năm 1948, theo yêu cầu chỉ đạovùng địch tạm chiến, Vạn Phúc lại thuộc thị xã Hà Đông

Lợi thế của Vạn Phúc là làng quê nhất xã nhất thôn Xã chỉ chia thành nămxóm với những cái tên mộc mạc thân quen: xóm Ngoài, xóm Trong, xóm Giữa, xóm

Lẻ và xóm Quán Nay các xóm đã thay đổi và mang tên: Đoàn Kết, Quyết Tiến, BạchĐằng, Hồng Phong, Hạnh Phúc, Chiến Thắng và Độc Lập

Vạn Phúc như đất lành chim đậu Làng chưa đầy 2000m2 nhưng có tới 5012dân Trong đó độ tuổi lao động 1860 người gồm 1187 hộ Trước cách mạng thángTám 1945 chỉ có 678 hộ Đó là chưa kể những cơ quan, đơn vị, khu tập thể của nhànước ở trên đất địa phương

Người ta ví Vạn Phúc như “ bông hoa ngoại thành” bởi một làng nghề đẹp có

vị trí trọng yếu, là xã liền kề với thị xã Hà Đông, cách trung tâm Hà Nội 11 km, nằm

Trang 22

trong vòng cung đường 70 boa quanh phía tây nam thủ đô, nơi tập trung nghề thủcông lâu đời quanh cố đô lịch sử Do điều kiện địa lý, lại thêm có nghề lụa nổi tiếngtrong nước và nước ngoài Vạn Phúc rất thuận lợi giao lưu với thành thị và các vùngxung quanh và xa hơn nữa, nhiều miền của đất nước, đặc biệt đã chịu ảnh hưởng sâusắc về chính trị văn hóa của Hà Đông, Hà Nội và trở thành nơi có vị trí quan trọngtrên nhiều mặt: chính trị,kinh tế, an ninh, quốc phòng v.v…

2.1.2 Lịch sử làng nghề:

Văn hóa là mục đích mà du lịch hướng tới, là bản chất nhân văn của thời đạichúng ta Dù người đi du lịch nhằm mục đích gì: thăm dân vãn cảnh, nghỉ ngơi…hoặc theo phương thức nào: đường biển, đường bộ… thì mục đích cuối cùng là đểcảm nhận, thụ hưởng những giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra Nói cáchkhác du lịch là hành vi ứng xử của con người với môi trường tự nhiên và xã hội nhằmphục vụ lợi ích cho riêng họ Đó chính là văn hóa

Thông thường trong những sách viết về du lịch, người ta sắp xếp các thành tổvăn hóa vào tài nguyên nhân văn Tài nguyên(nguồn lực) nhân văn bao gồm bề dàylịch sử và truyền thống văn hóa Nói cụ thể là hệ thống các di tích lịch sử văn hóa,phong tục tập quán, lễ hội, các mon ăn thức uống của dân tộc, các loại hình nghệthuật, các lối sống nếp sống của các tộc người mang bản sắc độc đáo còn lưu giữ đếnngày nay

Đối với nước ta có thể khẳng định rằng chúng ta có nguồn lực nhân văn phongphú, đặc sắc, độc đáo để phát triển du lịch, trải dài từ cổ đại đến hiện đại, phân bốtrên phạm vi cả nước Tất cả tạo thành một tổng thể vừa mang tính thống nhất, vừa

có bản sắc riêng độc đáo - là tiềm năng dồi dào cho ngành du lịch phát triển Mộttrong những tiềm năm dồi dào đó là du lịch văn hóa – làng nghề truyền thống Bởinhiều nghề và làng nghề truyền thống của ta đã nổi bật hẳn lên trong lịch sử văn hóa,văn minh Việt Nam, ở đó không chỉ tập trung một hay nhiều nghề thủ công, trở thànhmột trung tâm sản xuất lớn hơn, khá hơn, mà còn là nơi hội tụ các thợ và nghệ nhântài khéo, tạo ra những sản phẩm có bản sắc riêng,nới khác khó bề bắt chước được

Làng nghề thủ công là trung tâm sản xuất hàng thủ công, nơi qui tụ các nghenhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính truyền thống lâu đời, có lienkết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệ thống doanhnghiệp vừa và nhỏ, có cùng tổ nghề, và các thành viên luôn ý thức tuân thủ những

Trang 23

ước chế xã hội và gia tộc Sự liên kết, bổ trợ nhau về nghề, kinh tế, kỹ thuật, đào tạothợ trẻ giữa các gia đình cùng dòng tộc, cùng phường nghề trong quá trình lịch sửhình thành, phát triển nghề nghiệp đã hình thành làng nghề ngay trên đơn vị cư trú,làng xóm truyền thống của họ.

Làng nghề thủ công truyền thống thường có tuyệt đại bộ phận dân số làm nghề

cổ truyền (sản xuất và dịch vụ phi nông nghiệp), hoặc một vài dòng họ chuyên làmnghề lâu đời, kiểu cha truyền con nối Sản phẩm của họ làm chẳng những thiết dụng

mà lâu hơn nữa còn là hang cao cấp, tinh xảo, độc đáo, nổi tiếng và dường nhưkhông đâu sánh bằng Có thể nói, đồng bằng Bắc Bộ là cái nôi của rất nhiều nghề thủcông truyền thống Việt Nam Hầu như trên khắc các tỉnh, thành phố đều có mật độlàng nghề truyền thống khá cao Nơi đông đặc làng nghề là các tỉnh Hải Dương,Hưng Yên, Hà Tây,Hà Bắc, Nam Hà, Thái Bình và thành phố Hà Nội

Những nghề thủ công truyền thống quan trọng và nổi tiếng bậc nhất của nước

ta, phần lớn đã ra đời và phát triển rực rỡ tên các miền quê thuộc đồng bằng Bắc Bộ:làm giấy dó, dệt tơ lụa, làm đồ gốm,đúc đồng, khắc gỗ, sơn thiếp, sơn mài, khảm trai,thêu ren, tranh dân gian, đóng thuyền,in mộc bản, làm con rối nước, làm nón, làmquạt giấy, nghề kim hoàn… Các làng nghề nổi tiếng nhất ở đồng bằng Bắc Bộ dườngnhư có tuổi nghề rất cao, từ một vài trăm năm đến hàng nghìn năm.Nghề dệt lụa nuôitằm là một nghềnhư vậy:

“Dệt vải thanh vóc hoa dâuDệt tơ thành muôn màu sặc sỡ”

(Tình ca dân tộc Thái)Ngay từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc, nhân dân ta đã cố gắng từng bước

giải quyết nhu cầu về mặc Theo sách “ Lĩnh năm chích quái” thời ấy các bộ tộc Việt

“ phải lấy vỏ cam làm áo, dệt cỏ làm chiếu” Thư tịch cổ còn cho biết, sau hình thức

dùng vỏ cây sui, bẹ chuối làm vải mặc, người Việt cổ đã biết sớm trồng bông gai lấysợi.Vào đầu Công nguyên, nhân dân ta đã trồng khá nhiều bông, khi ấy một số nướcláng giềng chưa có bông để dệt vải Có lẽ trong những thế kỷ xa xưa ấy, khái niệm vềcác khung cửi chưa thực sự ra đời Như ta đã biết, nhiều dấu vết nguyên thủy đến nayvẫn còn được bảo lưu ở một số vùng dân tộc thiểu số với hình thức dệt vải cổ xưa

Khoảng thế kỷ III sau Công nguyên, thợ thủ công Việt Nam đã dung bông kéosợi và dệt vải “ cát bà nhỏ” Trong thời Bắc thuộc, loại vải cát bà này đã dủ tốt để

Trang 24

trở thành một loại cống phẩm cho triều đình phương Bắc Sử cũ còn ghi: Trongnhững cống phẩm hàng năm mà Sĩ Nhiếp nộp cho nhà Ngô có hàng nghìn tấm vải cát

bà nhỏ của Giao Châu Và theo truyền thuyết dân gian, vào thời Cao Biền làm tiết độ

xứ ở nước ta, khoảng thế kỷ thứ IX sau Công nguyên, tại Vạn Phúc gần kinh thànhThăng Long, đã xuất hiện bà tổ nghề dệt tên là A Lã Thị Nương ( Bảo tồn di tích lịch

sử van hóa,trang 23)

Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa ở nước tangày càng phát triển và đã hình thành nên nghề truyền thống Ngay từ đầu thời Lý,khi Lý Công Uẩn định đô ở Thăng Long (1010), theo truyền thuyết dân gian thì ở đây

đã có một số làng nghề thủ công chuyên nghiệp như: xóm nghề, xóm bãi, xóm dâuchuyên dệt lụa, làng vẽ làm giấy, tại Vạn Bảo ( Vạn Phúc) chuyên dệt vải hoa…

Dưới triều Trần, đất nước ta bị tan phá nặng nề trong cuộc chiên tranh xâmlược tàn bạo của quan Nguyên Mông, nhưng nhân dân ta vẫn kiên trì giữ vững vàphat triển sản xuất Nghề dệt không vì chiến tranh mà tàn lụi đi, trái lại,còn phát triểnhơn về mặt kĩ thuật Vào cuối thế kỷ XII, thợ dệt Đại Việt bên cạnh việc tiếp tục dệtlụa thong thường, đã cải tiến kỹ thuật, làm thêm các mặt hàng mới, dệt được loại lụasợi nhỏ ngũ sắc Ngoài ra, việc dệt lụa cũng rất phát triển dưới thời Trần Nhu cầudung loại hàng này khá phổ biến và đa dạng trong nhân dân, ai cũng mặc loại lụathâm cổ ái tròn khâu bằng là Dân thì đội khăn dệt bằng tơ nhuộm màu thấm Nhàvua thì búi tóc và phủ bằng lụa là trên tóc, rồi để tỏa rộng sang hai bên

Các trung tâm dệt lớn và rất nổi tiếng xuất hiện dưới triều Lê suốt hai thế kỷ

XV – XVI Các trung tâm này sản xuất một số mặt hàng được coi là đặc sản, khó nơinào bắt chước được như ở Hà Đông, Hà Nội lúc đó các phường thợ tài giỏi về dệt vảinhỏ mặt và dệt lụa mịn màng

Từ thế kỷ XVII trở đi, mật độ các làng nghề thủ công chuyên nghiệp ngàycàng dày đặc Sự hình thành sớm của các làng nghề và những trung tâm dệt nổi tiếngcùng sức sống mãnh liệt của nó trong tiến trình lịch sử trước hết là nó đáp ứng đượcnhu cầu tiêu dùng của xã hội Đăc biệt là trong tầng lớp vua chúa, quí tộc, quan lạiphong kiến và một số tầng lớp bình dân Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa trongnước và giao lưu buôn bán với nước ngoài trong các thế kỷ XVI – XVII đã kích thíchhoạt động của nghề dệt lụa tơ tằm ở nước ta Có thể nói, sản phẩm tơ tằm là mặt hàng

mà khách buôn nước ngoài rất ưa dung Dưới triều Nguyễn và dưới sự thống trị của

Trang 25

thực dân Pháp, nghề dệt thủ công của nước ta bước đi những bước chậm chạp, chậtvật.Phải ghi nhận rằng, trong suốt nửa đầu thế kỷ XX, người Phap ở Đông Dương cótiến hàng cuộc chấn hưng kinh tế, chấn hưng tiểu công nghệ Nhưng thực chất họ chỉtập trung chú trọng việc sản xuất nguyên liệu thô để đem về Pháp và xuất khẩu Cáccông xứ, thống đốc nối tiếp nhau thống trị các tỉnh, nhất là các tỉnh có nghề cổ truyềnquan trọng của ta như Hà Đông, Hà Nội đã lợi dụng danh nghĩa “ chấn hưng tiểucông nghệ” để gây ơn nghĩa với nhân dân và để dễ thu lợi cho bản thân mình.

Từ giữa những năm 80 trở lại đây, trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tếbao cấp theo chế độ ưu đãi sang nền kinh tế hành hóa kinh tế thị trường thì nghề dệtlụa tơ tằm đã có những bước chuyển quan trọng: đó là sự tan rã nhanh chóng củaphương thức sản xuất loại kinh tế thị trường thì nghề dệt lụa theo phương thức sảnxuất cổ truyền

Đó là một số nét khái quát về quá trình hình thành của nghề lụa tơ tằm ở nước

ta cũng như bước thăng trầm của nó theo dòng lịch sử Trải qau những thử thách gay

go, giờ đây nghề dệt lụa tơ tằm đang hứa hẹn những triển vọng mới Trong sự nghiệpđổi mới đất nước, nhiều làng dệt truyền thống đã thực sự vươn lên, thoát khỏi tìnhtrạng khủng hoảng bằng chính nỗ lực của cính mình Một trong nhưng cơ sở tiênphong và đạt được những thành tựu to lớn là dệt cổ truyền Vạn Phúc Làng Vạn Phúctheo truyền thuyết có nghề dệt trước cả làng La, làng Mỗ Phường cửi Vạn Phúc thờ

bà tổ nghề là Lã Thị Nga được phong thành hoàng làng Bà Lã Thị Nga sống vàokhoảng thế kỷ VII – VII khi nước ta bị nhà đường đô hộ, gọi là “ An Nam đô hộphủ” Thời ấy, nhân dân ta luôn phải đem những sản phẩm quí giá của đất nước mìnhlàm cống phẩm nộp cho bọn đô hộ Sử chép: Trong các cống phẩm thời ấy có: “ tơ,lụa, sa, the, đồ mây, bạch lạp…” Bà Lã Thị Nga có thể là người giỏi dệt lụa, sa, the

về Vạn Phúc truyền nghề cho dân Có điều đáng chú ý là trong hậu cung của đìnhlàng – nơi thờ bà họ Lã có bày thúng sơn, các thước sơn, cái kéo bằng sắt, cái vạchbằng ngà toàn là đồ dung của thợ may Có thể bà vừa là thợ dệt, vừa là thợ maychăng? Có cụ nói: Khi bà ấy về làng có đưa một ông thợ dệt về, một người chuyêndệt vải lụa, một người chuyên may áo

Bà Lã Thị Nga tuy không phải là người đầu tiên tìm ra con tằm và phát minh

ra nghề dệt lụa như công chúa Thiều Hoa con gái vua Hùng Vương thứ sáu nhưngcông lao của bà đem nghề dệt về truyền cho dân thì dân làn Vạn Phúc mãi mãi tôn

Trang 26

trọng và biết ơn Công lao của bà luôn ở trong tâm trí người dân Vạn Phúc Họ lạiviết tiếp lên những trang sử của làng nghề những bước phát triển mới của nghề dệt.Sau này, có rất nhiều người có công lớn trong việc nghiên cứu chuyển đổi các mặthàng ở đây như: Dệt gấm có cụ Đỗ Văn Sửu, Đỗ Văn Ái Cụ Từ Lọ là cụ có rất nhiềukinh nghiệm về làm hoa như các loại hoa hương, the, vân xuyến, lương hoa bèo… Cụ

là người có kỹ thuật cao nhưng lại có tinh thần giúp đỡ anh em nói riêng, cả phườngnói chung Cụ Hương Mưa tên thật là Lê Xuân Khanh, gia đình cụ có mặt hàng độcđáo tên gọi là lụa tơ tằm nên trơn có kẻ sọc, trong kẻ có hoa văn chủ yếu may áoPirama là chính.(Vạn Phúc làng lụa ,làng cách mạng ,Báo nhân dân ,ngày22/8/1998,trang 3)

Từ những năm đầu của thế kỷ XX này, lụa Vạn Phúc không chỉ có người ViệtNam ưa chuộng mà nó vượt biên giới đến phục vụ cho các nước láng giềng như Lào,Campuchia và Thái Lan Đặc biệt, lụa tơ tằm Vạn Phúc còn được dự hội chợ Mác-xây(Pháp) và được chính phủ Pháp năm 1937 tặng danh hiệu Bá hộ cử phẩm cho ngườitrực tiếp sản xuất ra hàng lụa đó… Lụa Vạn Phúc thời kỳ phát đạt nhất là những năm

1930 – 1941, sản lượng đã lên tới gần 1 triệu m/ năm

Từ sau hòa bình lập lại, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng thì làng dệt VạnPhúc lại chuyển mình sang thời kỳ mới – Thời kỳ xây dựng hợp tác xã thủ côngnghiệp theo con đường làm ăn tập thể Cái trị trệ, tù túng, cái ỷ lại và cái hy vọng quásớm ở ngày mai nó có làm cho Vạn Phúc chậm phát triển song nó không thể nào làmmất đi tình tốt đẹp của một làng quê có tình cảm thân thương sâu sắc và có ý chí cáchmạng, kiên cường Nhà nước có chủ trương mở rộng thị trường, giải phóng chongười lao động và chấm dứt chế độ bao cấp nó lại nẩy lộc đâm chồi vươn lên vượtbao giông tố của cơ chế thị trường nhiều thành phần trong những năm qua Nó tựnuôi sống và đã phát triển đến đỉnh cao, lụa hoa vẫn dệt ra nhiều mặt hàng để vượtđại dương đi đến Châu Âu và nhiều nước ở vùng Đông Nam Á

Khí miền nam hoàn toàn giải phóng, làng dệt Vạn Phúc vô cùng phấn khởi, bàcon trong xã được gặp lại nhau sau 30 năm xa cách vì phải tha phương cầu thực, chạynạn đói năm 1945 do Nhật, Pháp gây ra Thế rồi, tình làng nghĩa xóm trong họ ngoàilàng thương mến nhau truyền thêm nghề nghiệp chon hay giúp cơ sở vật chất, kỹthuật mới để đưa ngành dệt của Vạn Phúc đi lên

Trang 27

Hàng tram máy dệt Hồng Kông được chuyển về làng dệt, được bà con làng dệttiếp thu và dồn hết tâm trí vào cải tiến tơ sợi tổng hợp sang dệt tơ tằm thành công.Thế là làng nghề Vạn Phúc mở ra thời kỳ mới, thời kỳ được trao đổi hai miền vềcông nghệ tiến bộ của nghề dệt làm cho nghề dệt Vạn Phúc có bước tiến mới hết sứcquan trọng để tạo tiền đề cho công việc đổi mới cơ chế sản xuất kinh doanh của cuốithập kỷ 80,120 máy dệt Hông Kong được cải tiến cùng với 80 khung dệt tay trongcác gia đình ngày đêm reo vui ,sản xuất ra hàng triệu mét lụa tớ tằm và vải các loạiphục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu Lụa sa tanh hoa của Vạn Phúc đượcđến với thị trường Nhật Bản qua con đường kinh doanh của nhà nước và lụa đũi vạnPhúc được tiêu dùng tại thị trường Hông Kong ,Trung Quốc bằng con đường tự sảnxuất và xuất khẩu của hàng dệt ,Vạn Phúc mang lại nguồn lợi lớn cho quê hương vàđóng góp cho nhà nước

Tình hình biến đổi của Đông Âu khiến cho các hợp đồng sản xuất không cònnữa Dân và Đảng ở Vạn Phúc họp bàn để tìm ra lối thoát đi ra khỏi cuộc khủnghoảng đó.Thế là xí nghiệp liên hợp dệt lụa xuất khẩu Vạn Phúc được ra đời tháng12/1989 và bước đầu chuyển đổi từ hình thức quản lý gia công đặt hàng sang hìnhthức thức bán nguyên liệu thu mua sản phẩm đến từng lao động.Cho các phân xưởngđược tự hạch toán và tự tìm thị trường ,tìm việc làm cho dân

Với kinh nghiệm chuyển đổi thắng lợi làng nghề Vạn Phúc đã từng bước vữngchắc mặc cho những khó khăn ,trắc trở của những điều kiện khách quan Và càngngày càng có nhiều sản phẩm với mẫu mã đẹp ,hấp dẫn biết bao người trong nước và

cả khách nước ngoài khi tham quan làng nghề

2.2 Nghề dệt truyền thống của làng Vạn Phúc, Hà Đông

Ở Hà Đông có rất nhiều làng dệt lụa, tuy nhiên sản phẩm dệt lụa của làng VạnPhúc bao giờ cũng bền đẹp và phong phú về màu sắc, kiểu dáng hơn cả Có lẽ vì họ

có bí quyết riêng biệt?

2.2.1 Nguyên liệu dêt, nhuộm

2.2.1.1 Nguyên liệu dệt

Nguyên liệu chính để tạo ra sản phẩm lụa của làng Vạn Phúc chính là sợi tơtằm, người dân ở làng Vạn Phúc có được sản phẩm tốt nhất bởi chính những nguyênliệu tốt nhất, và ở đây đó chính là sợi tơ tằm, quy trình để có thể tạo ra được sợi tơtằm đạt chuẩn trải qua rất nhiều công đoạn :

Trang 28

Nuôi tằm :

Tằm ưa khí hậu mát mẽ, thời gian thich hợp nuôi tằm vào mùa thu và mùaxuân Vòng đời của con tằm từ khi nở đến khi nhả tơ, tạo két từ 23 - 25 ngày, chiathành 5 độ tuổi, trải qua bốn lần lột xác, tằm nhỏ được nuôi riêng và cho ăn lá dâunon, lá dâu là thức ăn chính của tằm và cũng là nguyên liệu để tằm tạo ra tơ Dâuthường được trồng trên những ruột đất phù sa màu mỡ và mỗi năm được đốn 2 lần

để phát triển nhanh và khoẻ, đủ cung cấp lá cho các lứa tằm, việc hái lá dâu cònphải căn cứ vào tuổi lớn của tằm, bao giờ cũng hái từ trên ngọn xuống, tằm nhỏ hái

lá non, tằm lớn hái lá bánh tẻ, cây dâu có sức sinh trưởng kì lạ, nếu hái hết lá trêncành thì sau một tuần cây lại mọc kín lá Lá dâu cho tằm ăn phải là loại lá dâusạch, không có mùi thuốc trừ sâu nhưng lại không được rửa nước Tằm ăn suốtngày đêm, tằm ăn 4 ngày thì nằm yên không ăn nữa, gọi là tằm ngủ, tằm ngưng ăndâu ít động đậy, đầu ngẩng cao Sau 2 ngày ngủ, tằm sẽ lột xác và chuyển sang tuổisau, tằm lên 5 là tằm ăn nhiều nhất để tích luỹ dinh dưỡng trước khi nhả tơ gọi là

ăn rỗi, thời kì ăn rỗi lượng thức ăn tiêu thụ bằng 80% các tuổi khác Sau khoảng 3tuần tằm phát triển đến kích thước tối đa của nó, mình tròn, da căng bóng, trongsuốt, tằm ngừng ăn, đó là lúc tằm chín, cơ thể nó chứa đầy chất lịch trong suốt, lúcnày tằm có xu hướng ngoi đầu lên, bò đi tìm nơi thích hợp để làm tổ, sẵn sàng đểnhả tơ, tạo kén

Nhả tơ tạo kén

Tằm chín bắt tằm lên né để tằm nhả tơ tạo kén Né là chiếc khung làm từthân cây đay, gồm có 5 lớp, các thân cây đay được xếp tạo thành các ô hình chữnhật thông thoáng Tằm nhả tơ tạo két từ ngoài vào trong, đầu tiên là vài vòng tơthô bao bọc bên ngoài để định hình tổ kén gọi là áo kén, trong vòng 4 ngày liêntiếp, con tằm xoay cơ thể theo chuyển động hình số 8 khoảng 300 ngàn lần liêntục, nhả thành sợ tơ dài gần 1km, quấn quanh mình tạo thành cái kén Tơ thật chấtchính là một loại sợi protein dạng lỏng, nhớt và trong suốt, được tiết ra từ tuyếnnước bọt của tằm, khi tiếp xúc với không khí, chất lỏng này đong cứng lại, và tạothành sợi tơ Tằm chín tiết ra chất lỏng thứ 2 gọi là sericin, chính là một loại keodính chặt hai nhánh tơ mảnh với nhau thành một sợi tơ Sau khi nhả hết tơ, tằmkiệt sức nằm yên trong kén và hoá thành nhộng, lúc này có thể bắt đầu gỡ kén đểđem đi ươm tơ

Trang 29

Ươm tơ

Ươm tơ chính là việc kéo sợi tơ từ kén thành sợi tơ tằm, từ khi bắt tằm chínlên né khoảng 7 ngày sau, thì bắt đầu ươm tơ, trong khoảng 5 ngày phải ươm tơ hếtcác kén đã đóng, bởi nếu chậm tằm sẽ biến thành con ngài, ngài sẽ cắn kén chui ra,làm sợi tơ bị cắn đứt, không ươm được tơ nữa

Để ươm tơ, đầu tiên thả kén vào nồi nước sôi, đảo kén làm lớp keo sericintan ra một phần, kén mềm, lớp áo kén ngoài bong ra thì mới tìm được mối tơ gốc

để rút sợi tơ, khoảng 10 sợi tơ được người thơ ươm tơ kéo rút từ 10 cái kén chậplại với nhau thành một sợi chỉ tơ, tuỳ theo loại tơ lấy đầu lấy giữa hay lấy xác connhộng mà người ta phân thành tơ nón, tơ nái, tơ đuối hay tơ gốc Sợi chỉ tơ đượcquấn vào những con suốt giống như lõi ống chỉ xếp thẳng đứng thành hàng ngangrồi cho chạy vào những guồng tơ tròn bẳng gỗ nằm bắt ngang trên nồi nước sôi đểcuộn thành các vỏ tơ sống rồi mang ra phơi nắng

Sợi tơ tằm là một trong những loại sợi tự nhiên có độ chắc cao, về tính chấtsợi tơ gần giống sợi len và tóc người, theo nghiên cứu của các nhà khoa học, mặtcăt ngang sợi tơ có hình tam giác với các góc tròn nên ánh sáng có thể rọi vào ởnhiều góc độ khác nhau, giúp cho sợi tơ có vẻ óng ánh tự nhiên

2.2.1.2.Nguyên liệu nhuộm

Ngày nay xã hội đã công nghiệp hóa, hiện tại hóa ngày nay người ta thườngdùng một số hóa chất và màu để nhuộm đối với sợi bông và nhuộm tơ lụa Nhưng

để tạo ra một sản phẩm lụa truyền thống chúng ta sẽ nhuộm theo phương pháp thủcông và dùng những nguyên liệu tự nhiên (màu sắc cỏ cây, hoa lá, đất đá trongthiên nhiên)

Đó là các loại lá chàm,, củ nâu, nghệ, phèn chua, than, bồ hóng, bùn ao, đámàu, đất đồi,… Rồi từ những màu nguyên liệu đó pha chế thành vô số gam màukhác nhau để nhuộm, để vẽ, để “ chiết màu”

2.2.2 Công cụ và quy trình tạo ra vải

Quy trình, dệt lụa bao gồm nhiều bước cũng gọi à các công đoạn hay các khâucông việc : Khâu tơm, khâu hồ sợi, khâu dệt, khâu nhuộm Mỗi khâu sản xuất đềuphải tiến hành theo những quy trình khá nghiêm ngặt

Trang 30

2.2.2.1 Khâu tơ

Từ con tơ hay còn gọi là bối tơ, trướ khi dệt phải quay tơ thành sợi Thiết bịdùng để quay tơ gọi là “ Xa quyaa” Người thợ sử dungjxa để quấn sợi tơ vào ốngsợi Trong việc dệt lụa nói chung, khâu tơ không đơn thuần chỉ có quán sợi tơ vàoống sợi thật đều và liên tục như xe sợi, quấn sợi dệt vải Tơ lụa đòi hỏi ngày ở khâu

tơ phải chọn sợi, đẽo sợi, mắc sợi nhằm lựa chọn ra những sợi dọc và sợi ngang.Công việc tỷ mỷ và công phú nên các cụ xưa đã làm thành ca dao để các thế hệ saunhớ mà làm theo :

“ Quay tơ ra mắc, ra mànhMắt thì mắt dọc, mành thì dệt ngangMốt soi thì dệt đầu hàngMốt cục thì gánh go ngang cho bền”

2.2.2.2 Khâu hồ

Sau khâu tơ, sợi tơ phải đem hồ Việc hồ sợi chỉ được thực hiên đối với sợidọc Khâu này đòi hỏi kỹ thuật đạt đến trình độ cao Nhu đã biết, Hà Đông là nơi dệtlụa nổi tiếng nhất trong nước Nhưng ở Hà Đông lại không có làng dệt lụa nào có kỹthuật cao như làng Vạn Phúc Người thợ ở đây nấu hồ hết sức công phu Khi nấy hồ,người ta thường cho thêm một ít sáp ong để hồ sợi, đồng thời sử dụng bí quyết kỹthuật riêng, giữ bí mật lâu đời làm cho sợi hồ vừa dẻo, vừa dai, vừa bóng Kỹ thuật

hồ sợi Vạn Phúc nhất là của các nghệ nhân bậc thầy ở đây không bao giừ tiết lộ bíquyết ra ngoài Có thể khâu hồ là công đoạn chứa đựng cái riêng” trong cái chungcủa kỹ thuật dệt lạu, làm nên cái độc đáo mà không làng nào có được Chính vì thế,sợi hồ của Vạn Phúc bao đời nay vẫn đẹp hơn sợi hồ của các nơi khác

2.2.2.3 Khâu dệt

Dệt là khâu quan trọng nhất của nghè dệt lụa thủ công Tùy mỗi loại sản phẩm

tơ lụa mà người ta có cách dệt khác nhau Bằng khung cửi cổ truyền, nhiều lần đã cócải tiến nhưng ngày nay khung dệt vẫn không khác xưa là mấy Tất cả các lại hàng tơlụa được chia thành hai loại chủ yếu là: hàng dệt lụa trơn và hàng dệt lụa hoa

Dệt lụa trơn loại không có hoa cần phải sư dụng loại go: go thẳng và go vòng

Go thẳng để dệt loại lụa mỏng, mịn CÒn go vòng thì để dệt loại lụa mỏng có châmthủng hay dệt thủng

Trang 31

Điều quyết định tạo ra được các loại sản phẩm lụa khác nhau chính là việc sửdụng số lượng sợi dọc nhiều hay ít, cũng như độ nhỏ cần thiết của sợi ngang, ta chỉviệc chập đôi, chập ba hay chập bống sợi nhỏ lại với nhau.

Đối với các dệt hoa, thao tác cũng như dệt hàng trơn, nhưng dệt hoa khác dệttrơn ở chỗ : trước khi dệt hoa gì cần phải vẽ loại hoa đó trên giấy hoặc có mẫu vẽ sẵn.Người thợ dệt đặt mẫu hoa ấy lên bàn khâu hoa Dệt cái hoa phải có hai người, mộtngười dệt, 1 người kéo hay cài hoa Động tác dệt cài hoa như sau : Giữ vai trò điềukhiển chính là người dệt, còn người cài hoa chỉ có nhiệm vụ kéo go xà thật ăn ý vớiđộng tác của người dệt chính Khi người dệt ngồi dưới dậm chân lên đòn kêu “ cắc”một tiếng, thì khi đó người kéo hoa ở phía trên đồng thời kéo go xà lên Có lẽ docách dệt như thế mà dân gian gọi là hàng dệt trơn là hàng đơn, gọi hàng dệt hoa làhàng kép

Một trong những mặt hàng dệt đồi hỏi kxy thuật và tay nghề cao là lĩnh hoa vàdệt gấm Chẳng hạn như lĩnh hoa chanh, một sản phẩm dệt tơ, nhuộm đen khá dày,nhưng không thô, một mặt mờ, một mặt bóng, có điểm những bông chanh, chấm hoakín đáo, mịn màng Kỹ thuật dệt lĩnh hoa chnah khá phức tạp Chỉ một chi tiết nhỏsau đây cũng cho thấy biết mấy khó khăn, công phu để dệt lên từng vuông lĩnh hoađen nhỏ bé : Số sợi dọc của mỗi tấm lĩnh thường tới 5400 sợi dậm mắc, tức là nhữngsợi tơ to vừa phải ( khách với dặm mành là loại tơ nhỏ sợi hơn, còn dặm son là sợi tơ

to hơn cả) Người thọ dệt lĩnh nhất thiết phải đếm đủ số sợi rồi mắc lên khung dệt,

mà không được đếm sa, mắc lầm, lại không được làm rối tơ Dệt linh trơn đã khó, dệtlĩnh hoa lại càng khó hơn Khung dệt phải thêm một vài thứ go hoa tức là một bộphận dụng cụ gá lắp và phải có thêm một thợ cài hoa bên canh người thợ dệt chính

Nhưng dệt xong rồi thì cũng là dược một tấm lĩnh mộc mà thôi Người ta cònphải tiến hành công đoạn chuội trắng và nhuộm đen thật vất vả, khó khăn thì mới cóđược tấm lĩnh hoa thật sự, một thớ vải tơ đen nhá, mềm mại, óng mướt

Khung dệt : Nói về công cụ sản xuất thì chiếc khung dệt đã phải trải qua nhiềuđợt cải tiến Ngày xưa khung dệt vải lụa cũng đơn giản như khung dệt chiếu bây giờ,Người thợ dệt ngồi vào khung cửi không ngừng tay đưa chân dận Con thoi đưa sợingang cứ thoan thoắt lao đi lao lại

Khung dệt xưa có hai còn cò và hai lá go, một lá go buộc vào đầu con cò, một

lá go buộc vào đuôi con cò Khi người thợ dệt hoạt động, con cò làm cho hai lá go

mở miệng Một nâng lên, một hạ xuống, cứ tiếp tục như thế mà đan sợi ngang sọi dọc

Trang 32

vào nhau Chiếc khung dệt cổ truyền ấy được sử dụng qua nhiều đời Tiến lên mộtbước người ta dùng cái khung “ ba lăng” rộng hơn, có con cuốn thay cho con cò Concuốn mắc được nhiều lá go Người thợ dệt vẫn tay đưa chân dạn Về sau không đưacon thoi nữa mà giật thoi Khi giật thoi, có một phận đẩy thoi đi , được buộc vào sợidây phía trên khung dệt Chân dận go, tay giật go, thoi lao đi nhanh hơn Lại tiếnthêm một bước nữa,người ta dùng “tay cày” Chân đưa, tay bẩy cái tay “ tay cày”, taycày truyền lực đến bộ phận mở go, và lao thoi “ tự động” Khung “ tay cày” có thể

“điện khí hóa” một phần khung dệt Chân dận go, tay giật go, thoi lao đi nhanh hơn.Lại tiến thêm một bước nữa,người ta dùng “tay cày” Chân đưa, tay bẩy cái tay “ taycày”, tay cày truyền lực đến bộ phận mở go, và lao thoi “ tự động” Khung “ tay cày”

có thể “điện khí hóa” một phần

Dệt các mặt hàng hoa như gấm và lụa vân, người ta thường vẫn phải dùng cáikhung dệt thủ công Mà gấm và lụa vân là mặt hàng cao cấp, là đặc sản của làng dệtlụa Vạn Phúc nên thu hút được rất nhiều người đến thăm quan và mua ở đó

Xưa dệt lụa vân hay dệt gấm phải một người kéo hoa, một người dệt Hiện nay

có máy Giắc ca, mỗi máy chỉ cần một thợ điều khiển Riêng về kéo hoa không cầnbận phải đến người Đã có một bộ phận máy tua tủa những kim ngang, kim dọc cosợi cửi lên một cách có trật tự mà đan thành những lỗ tổ ong ở miếng “các tông” chokim ngang kim dọc biết đường hoạt động

Khung cửi có hai loại khung cửi dệt hàng trơn và khung cửi dệt hàng hoa

2.2.3 Khâu nhuộm

Không phải sản phẩm dệt tơ nào cũng đều phải nhuộm cả, mà chỉ có một sốsản phẩm cần nhuộm Vì có loại để trắng tinh khiết, ngả vàng ngà, như lụa nõn Cóloại chỉ dệt xong là được, nhuộm mầu chỉ ở ngay khau sợi như gấm, vóc Nhưng cóloại như lĩnh, the v.v., chỉ nhuộm và hồ khi đã dệt xong Nhuộm hàng tơ lụa là cảmột quy trình kỹ thuật hết sức phức tạp, nghiêm ngặt, không thể bỏ một công việcnào

Kỹ thuật nhuộm có nhiều phương pháp khác nhau, tuỳ theo việc sử dụng cáchnhuộm thủ công hay nhuộm công nghiệp Trong các xí nghiệp nhuộm hiện nay người

ta thường dùng một số hoá chất và máu để nhóm đôi với sợi bông và nhuộm tơ lụa

Trước khi nhuộm cán nhúng vật liệu nhuộm vào nước xà phòng, rổi giũ thậtsạch, nhúng trở lại vào nước nóng, sau đó mới đưa vào nhuộm hoặc cán màu Vải,sợi, lụa nhuộm xong phải giũ thạt sạch và treo ở nơi thoáng gió, hoặc đưa qua thiết bị

Trang 33

sấy khô Tuyệt đối không bao giờ trộn lẫn các màu cổ bản chất khác nhau, vì trộn lănvào sẽ gây ra kết tủa, các bột màu sỗ không hoà tan, làm cho vật liệu nhuộm bị vệtmàu, gây loang lổ.

Công nghiệp nhuộm tơ lụa: Tơ lụa “nấu” ở 90 độ c đến 95 độ c trong nước có

xà phòng (loại xà phòng có độ sút 40 độ B), rồi đưa vải vào nhuộm

Trong dung dịch axít, tơ lụa được làm mểm mại ra Thông thường người tacho thêm phụ gia, thiếc, clorua vào tơ lụa sau khi đã được nấu bằng một hoá chất(natri phốt phát), và đem giặt thật kỹ

Để giữ được màu sắc nhuộm cần thiết phải xử lý tơ lụa bằng cao su- mác, haygọi là “chiết màu” Nhuộm tơ lụa người ta hay dùng các loại phẩm màu axít theo mộttrong hai công thức: dung dịch axít; đung địch trung tính

Nếu dùng các phẩm màu bazic để nhuộm tơ lụa, người ta cũng cho nhuộmtrong dung dịch axít, hoặc dụng dịch trung tính

Thực tế cho thấy trong công nghiệp nhuộm, nếu dùng phẩm màu để nhuộm thì

tơ lụa không chỉ bén màu mà màu lại rất tươi sáng, chói lọi

ao, đá màu, đất đồi rồi từ những màu nguyên thuỷ của các chất liệu đó pha chếthành vô số gam màu khác nhau để nhuộm, để vẽ, dể “chiết màu”

Nhuộm thủ công là cả một công nghệ phức tạp được tiến hành qua nhiều côngđoạn đòi hỏi người thợ phải có tính kiên trì, cẩn thận và không thể bỏ qua một công

Trang 34

đoạn nào Tuỳ màu sắc của từng loại sẩn phẩm mà áp dụng kỹ thuật nhuộm có khácnhau, tuân theo một quy trình rất nghiêm ngăt Chẳng hạn như việc nhuộm lĩnh đen.Lĩnh mộc trước tiên được chuội trắng, nhuộm chàm, sau đó suốt trong 7 ngày mỗingày phải nhuộm 5 lán nước lá bàng rồi trát bùn phơi khô Hôm sau đem giặt rồi lạitiếp tục nhuộm nước lá bàng, như vậy tấm lĩnh phải trải qua “35 thâm, 7 thổ” Lĩnhđược đem hổ để tăng độ bền của sợi rồi cả tấm được cuộn lại, và lấy chầy ghè chomếm Sau quá trình khá phức tạp đó, người ta mới được một tấm lĩnh đen nhánh, óngmuốt.

Kỹ thuật và sức lao động khó nhọc, sáng tạo như, các sản phẩm tơ lụa HàĐông xưa nay đã đạt tới tuyệt mỹ, nổi tiếng khắp nơi

2.3 Mô típ hoa văn trên các sản phẩm dệt

Từ thế kỷ 16 nghề dệt vạn Phúc được cải tiến, phát triển mạnh mẽ và cho ra đờinhiều mặt hàng độc đáo, cao cấp như gấm, lụa, the, lĩnh với nhiều hoa văn sinh độngtinh tế Làng Vạn Phúc từ đó trải qua thăng trầm lịch sử, làng vẫn còn tồn tại và pháttriển đến ngày nay Đối với người dân Vạn Phúc, nghề dệt và những sản phẩm làm từLụa là một niềm tự hào của người dân trong vùng, nó là kết tinh của nền văn hóa, làxương máu, là tâm hồn, là lối sống và truyền thống của người dân Trong thập kỷ 40,

50 TK XX, lụa Vạn Phúc nổi tiếng trên thị trường Đông Dương, tham gia nhiều hộichợ tổ chức khắp các xứ Bắc, Trung, Nam Tơ lụa Vạn Phúc có nhiều mẫu mã đa dạng,khoảng 70 loại the, lụa, gấm, lĩnh với nhiều tên gọi khác nhau như: băng hoa, longphượng, mây bay, tứ quế, sa trơn, the trơn, đũi hoa, vân thọ đỉnh…

Vân là mặt hàng lụa mỏng có hoa nổi, hoa chìm Hoa nổi trên mặt lụa thì phải bóng mịn, còn hoa chìm thì phải soi lên sáng mới thấy được Trong các loại lụa cổ truyền Vạn Phúc, nổi tiếng nhất là lụa Vân, một loại lụa tưởng chừng như

đã thất truyền, nếu không có sự khôi phục của các nghệ nhân làng nghề Lụa Vân Vạn Phúc mỏng hơn gấm, kiểu hoa và màu sắc tự nhiên có hình bướm, bông hồng, hạc trắng trong mây, chữ “thọ” in trên lụa, khiến cho các bộ trang phục trở nên duyên dáng, sống động Chả thế mà người ta vẫn thường kháo nhau

“dùng lụa Vạn Phúc người già trẻ lại, người xấu đẹp lên” Lụa bao gồm các loại lụa trơn, lụa hoa Đây là mặt hàng dệt theo kiểu đan lóng mốt, nhưng mặt lụa rất mịn màng, óng ả.

Trang 35

Các thế hệ nghệ nhân và thợ dệt làng nghề Vạn Phúc không ngừng cải tiến kỹ thuật sản xuất mẫu hàng và những thủ pháp nghệ thuật Các sản phẩm nghệ thuật, ở bất cứ loại nào cũng đạt tới mức hoàn mỹ Hàng trơn thì mịn óng, mềm mại, nuột nà, hàng dệt hoa thì tới độ cực kỳ tinh tế, với màu sắc khi óng ánh, khi trang nhã, có khi còn rực rỡ, khi nổi, khi chìm những hoa văn, đồ án trang trí bằng kỹ thuật sợi dọc, sợi ngang phức tạp, thay bằng nghệ thuật cài hoa, dệt thủng tinh vi Nghệ thuật trang trí và hoa văn trên lụa được xem như mẫu mực của phong cách tạo hình trên chất liệu mỏng, bằng tơ sợi của các nghệ nhân Các nghệ nhân tạo mẫu và những người thợ dệt đã sử dụng những đề tài trang trí từ kho tàng nghệ thuật truyền thống dân tộc, nhưng sáng tạo, chứ không dập khuôn, nhằm thích ứng nhất với chất liệu dệt Nhìn chung, hoa văn dệt truyền thống bao giờ cũng bố trí đối xứng Đường nét trang trí không rườm rà, phức tạp, mà luôn mềm mại, phóng khoáng và dứt khoát Đặc biệt, hoa văn, lá thì theo thế liên hoàn, cân đối, thoáng đạt Cầm trên tay hay ngắm xa, gần, sản phẩm dệt hoa, dù dệt nổi hay chìm đều mang lại cho chúng ta khoái cảm thẩm

mỹ và cảm giác cao sang.

Do được dệt thủ công theo phương pháp truyền thống nên những tấm luạ Vạn Phúc có những điểm khác biệt Nét hoa văn trang trí trên những tấm lụa gần gũi với người Việt Nam: hình ảnh trống đồng, hoa mai, hoa ban, cây trúc, đèn lồng, chữ thọ,… Đây là những thứ rất gần gũi với văn hóa của người Việt Nam, tất cả được cách điệu đi để làm vật trang trí Người thợ làng lụa Vạn Phúc còn đòi hỏi phải khéo léo và điêu luyện, để hoàn thiện trang trí hoa văn trên lụa một cách tinh xảo Họ sử dụng những đề tài trang trí từ nghệ thuật truyền thống rồi sáng tạo thêm để thích ứng với từng chất liệu dệt, như Ngũ Phúc (năm con dơi quanh chữ Thọ), Long Vân (rồng và mây), Thọ Đỉnh (lư hương và chữ Thọ), Quần Ngư Vọng Nguyệt (đàn cò trông trăng), Hoa Lộc (bông hoa trên chồi biếc) và cho ra đời những sản phẩm đẹp mắt Hoa văn trên lụa Vạn Phúc nhìn chung gồm bốn loại: động vật, thực vật, đồ vật, hình họa

Động vật thể hiện các hình tượng tứ linh, lưỡng long chầu nguyệt, lưỡng long song phượng, long vân, long hý thủy, phượng trong mây, phượng ngậm

Trang 36

cuốn thư, rùa ngậm cuốn thư, song hạc, ngũ phúc, quần ngư vọng nguyệt Thực vật gồm: cúc, trúc, mai, lan, hoa chanh, hoa hồng… Đồ vật: cuốn thư, đồng tiền, lẵng hoa, bình cổ, đèn lồng… Hình họa: chữ thọ, triện, vạn, quả trám, hình vuông…

Ngày này với việc ứng dụng kỹ thuật hiện đại đã mang đến cho lụa những màu sắc vô cùng phong phú, đa dạng và rực rỡ hơn Nhưng dù sao trong sâu thẳm tâm hồn người Việt thì những màu sắc đơn giản, mộc mạc vẫn được ưu ái

và tìm lại Công nghệ hiện đại được đưa vào dệt lụa đã giúp các nghệ nhân dễ dàng hơn trong khâu thiết kế bằng phần mềm đồ họa, kẻ ô, vẽ họa tiết, tổ chức nền Nếu trước kia hoa văn trang trí trên vải lụa là các mẫu Song Hạc, mẫu Thọ Đỉnh, mẫu Tứ Quý trang trí đối xứng, đường nét không rườm rà, phức tạp mà phóng khoáng, dứt khoát Thì nay công nghệ mới không chỉ giúp tạo hoa văn nhanh chóng mà còn giúp người thợ thỏa sức sáng tạo, thực hiện ý tưởng của mình Tất cả hình dạng hoa văn trên lụa Vạn Phúc được trí tưởng tượng phong phú, bàn tay tài hoa nghệ nhân dệt thành sản phẩm độc đáo, thể hiện sức sáng tạo tinh tế, giàu thẩm mỹ của cộng đồng dân thị tứ Hà Nội cuối TK XIX, đầu TK XX

2.4 Thành phẩm và tiêu thụ

2.4.1 Các sản phẩm lụa truyền thống

Hiện nay lụa Vạn Phúc thông thường chia làm hai loại chính, loại cao cấp

là sa tanh được làm từ 100% sợi tơ nguyên chất, có thể chập đôi hoặc chập ba rồi se lấy sợi để dệt Hoặc loại được pha với tỷ lệ 30%, 50%, 70% giữa tơ tự nhiên với sợi tổng hợp như cotton hay tơ nhân tạo (được làm từ sợi visco, polyester) Thị trường lụa Vạn Phúc đa dạng, phù hợp với thị hiếu của du khách trong, ngoài nước.

Tơ lụa Việt Nam từ lâu đã trở thành loại sản phẩm hàng hóa nổi tiếng Hàng tơ lụa của ta bền, đẹp, lại phong phú về kiểu dáng, được thị trong và ngoài nước ưa chuộng Lụa Việt Nam, nhất la lụa Hà Đông thương mịn màng với đủ các loại màu sắc: tím huế, cá vàng, hoa lý, hoa đào, xanh lơ, hồng tươi, long đỏ

Trang 37

trứng gà, vàng chanh, sữa,… Tất cả màu sắc rực sỡ hay trang nhã kín đáo, bình

dị đó đã tạo nên tính hấp dẫn kì lạ của tơ lụa Vạn phúc.

Ngoài vải, quần áo, lụa Vạn Phúc biến hóa vào các sản phẩm cao cấp: chăn, ga, gối, khăn, túi, ví, hay dây buộc tóc từ lụa, vòng cổ hạt lụa, nón,cà vạt, tranh lụa… Những mặt hàng này có giá thấp nhất từ 15-35 nghìn đồng, là những mặt hàng nhỏ từ lụa như dây buộc tóc hay những chiếc ví nhỏ; những chiếc vòng hạt từ lụa hay khăn lụa tùy vào chất liệu và độ dài giá dao động từ hơn 100 nghìn đến hơn 200 nghìn đồng một chiếc, bộ đồ từ lụa tùy kiểu dáng dài ngắn và chất liệu giá có thể lên tới trên dưới 1 triệu đồng Dọc theo con đường tơ lụa, các cửa hàng bày bán tơ tằm liên tiếp nối nhau thành cảnh quan sầm uất, nhộn nhịp, đáp ứng mọi nhu cầu, sở thích khác nhau của du khách Sản phẩm lụa Vạn Phúc đa dạng nhiều mẫu mã khác nhau như: hàng trơn, hàng khổ rộng, hàng tơ tằm nguyên chất, hàng vân, lụa thường, ngang xe, dọc tơ chập, ngang tơ chập…làm hài lòng du khách khi tới đây.

Với bàn tay tinh tế và sự sáng tạo không ngừng của người dân Vạn Phúc, các sản phẩm dệt ra từ tơ tằm rất phong phú, đa dạng như: lụa, là, gấm, vóc, vân, the, lĩnh, băng, sa, xuyến, đoạn, nhiễu, đũi, cấp, kỳ cầu … Xưa kia người dân làng Vạn Phúc đã làm ra đủ các thứ hàng: Hàng đơn, hàng kép dọc ngang tinh ường Lượt, là, lĩnh, lụa, xuyến, lương Đoạn, vân, gấm, vóc,

sa, băng, kỳ cầu Những mặt hàng có nền dày gồm: Gấm: Nền dày, bóng như

xa tanh Nền gấm thường có những hoa văn, chữ triện hay chữ thọ với sắc màu tươi, sặc sỡ bằng kim tuyến, ngân tuyến được dệt như thêu Một tấm gấm thường có nhiều màu, phổ biến là năm màu: xanh, đỏ, tím, vàng,trắng hay bảy màu, gọi là gấm ngũ thể hay thất thể Do sợi ngang ( tạo hoa nổi lên trên ) và sợi dọc ( tạo nền chìm ở dưới ) đều được nhuộm màu nên khi có ánh sáng, đứng ở mỗi góc cạnh khác nhau, ta sẽ thấy mình gấm có các màu sắc khác nhau Gấm

có vẻ đẹp lộng lẫy, rực rỡ nên ngày xưa dân thường không được dùng, chỉ có vua, quan mặc được mà thôi.Vua mặc gấm vàng có hai rồng chầu mặt nguyệt hay hổ phù Còn gấm may lễ phục cho các quan thường là gấm hoa tròn hay gấm hoa bạ

Trang 38

Vân là mặt hàng xếp thứ nhì sau gấm Hàng vân có nền lụa, mỏng hơn xa tanh, bao giờ cũng có hai kiểu hoa dệt trên một tấm vân: hoa nổi và hoa chìm; Hoa nổi bóng mịn, còn hoa chìm phải đưa lên ánh sáng mới thấy được Đó là nét độc đáo của hàng vân, nhờ có hoa thủng như vậy, nên các áo lót bên trong sẽ nổi màu lên rất đẹp khi mặc áo ngoài may bằng vân.Vân được dùng dễ may áo dài mặc vào dịp hội hè, đình đám

Những mặt hàng dày có số lượng sợi dọc nhiều:

Lĩnh (lãnh): Sợi mịn, một mặt bóng, một mặt mờ do khi dệt đưa sợi dọc lên nhiều tạo nên sự bóng loáng cho mặt hàng Lĩnh thâm (đen ) trơn rất thông dụng, dùng may váy, quần cho phụ nữ, ngoài lĩnh trơn còn có lĩnh hoa dầy dặn,

có điểm lấm tấm hoa mịn màng, kín đáo, có tên riêng là lĩnh hoa chanh, nổi tiếng nhất là lĩnh Bưởi đen nhánh, óng mượt

Đoạn cũng được dệt theo cách thức của lĩnh, nhưng dày hơn, sợi dọc nhiều hơn cả gấm Đặc biệt sợi dọc, sợi ngang nổi đều nhau, mịn màng, óng ả Đoạn dùng

để may áo dài cho nam giới mặc vào những dịp long trọng Do hàng đoạn dày nên người ta thường may áo đoạn bọc lụa bên trong mặc vào mùa lạnh Vóc là một thứ đoạn mỏng, có hoa, dệt bằng sợi đồng màu, dùng làm tán thờ thần hay may y phục cho vua chúa, quan lại Vóc thường đi chung với gấm: gấm vóc.

Sa, xuyến, băng cũng tựa như the, là các loại hàng mỏng, bóng và bền: vì khi giặt không bị xô dạt sợi, dù mỗi mặt hàng mỗi vẻ khác nhau Sa được dệt rất mỏng nên trong suốt, tạo nên những đường vân óng ánh rất đẹp nếu mặc áo trong màu trắng Sa mỏng và mát nên thường được mặc vào mùa hè Có sa đơn

Trang 39

và xa hoa Xa hoa có nhiều loại: đặc biệt là sa thất thể và sa cung đình ( dùng may áo long bào cho vua mặc vào mùa nóng) Xuyến cũng như sa, có cát nổi ngang, mỏng hơn the trơn và thoáng trông tựa mành mành do sợi dầy xen lẫn sợi thưa Xuyến đắt hơn the Băng là mặt hàng thủng, trong suốt, có hoa lác đác, nhẹ hơn the

Ngoài ra còn có Cấp: Mỏng gần giống như the, lượt và thường có hoa; Lượt: Mặt hàng dệt thưa, mỏng, mịn, rất mềm, dùng may khăn, áo; Lương: Có lương đơn và kép, dùng để may áo dài, làm khăn

Các sản phẩm dệt khác:

Lụa: Có hai loại: lụa trơn và lụa hoa , dệt bằng tơ nõn sao cho sợi dọc và sợi ngang khít với nhau, tạo nên vẻ mịn màng, óng ả và độ dày vừa phải Là: Cùng họ với lụa, dệt bằng tơ nõn, có những đường dọc nhỏ đều, thường được dùng làm khăn màu hay nhuộm màu để làm các phần đổi màu trong y phục.

2.4.2 Tiêu thụ

Trước đây, người dân làng lụa Vạn Phúc chủ yếu dệt lụa xuất khẩu với đủ các mặt hàng như: Lụa trơn, lụa hoa, vân, satanh, lanh, đũi, the, gấm…những mặt hàng lụa tơ tằm của Vạn Phúc như vân, sa quế, sa-tanh hoa các loại không chỉ được tiêu thụ rộng rãi trong nước mà còn xuất khẩu đi Thái Lan, Lào và các nước trong khu vực Đông Nam Á Nét đặc biệt của lụa Vân nói riêng và lụa Vạn Phúc nói chung là ấm áp vào mùa đông và mát mẻ vào mùa hè Hoa văn trang trí trên vải lụa rất đa dạng như mẫu Song hạc, mẫu Thọ Đỉnh, mẫu Tứ Quý khiến cho các bộ trang phục trở nên duyên dáng, sống động.

Bởi vậy, lụa Vạn Phúc không chỉ được ưa chuộng ở trong nước mà đã vượt ra ngoài lãnh thổ Việt Nam Lụa Vạn Phúc được giới thiệu lần đầu ra quốc

tế tại các hội chợ Marseille (1931) và Paris (1938), được người Pháp đánh giá là loại sản phẩm tinh xảo của vùng Đông Dương thuộc Pháp, rất được ưa chuộng tại các nước Pháp, Thái Lan, Indonesia Từ 1958 đến 1988, sản phẩm lụa Vạn Phúc hầu hết được xuất sang các nước Đông Âu; từ 1990 xuất khẩu ra nhiều quốc gia trên thế giới, thu ngoại tệ về cho đất nước.

Nhưng từ đầu thập niên 1990 đến nay, làng nghề phải tự bươn chải tìm

Ngày đăng: 23/07/2018, 15:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w