1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thuật cai trị trong tư tưởng hàn phi tử và việc vận dụng trong quản lý cán bộ ở nước ta hiện nay

26 228 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 145 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Học thuyết Pháp trị của Trung Quốc ra đời đã trên 2000 năm, mặc dù có nhiều hạn chế do lịch sử, do bản chất giai cấp nhưng vẫn toát lên được những giá trị thực tiễn mà ngày nay vẫn áp dụng và phát huy được trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền. Học thuyết Pháp trị bên cạnh việc nêu ra vai trò của pháp luật và vị thế của người đúng đầu nhà nước còn có một thành tố hết sức cơ bản là đưa ra những phương pháp, cách thức để quản lý nhà nước, đó là thuật cai trị. Trong sự vận hành của nhà nước dù là chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa thì những người đứng đầu nhà nước đều cần có sự quản lý, đặc biệt là vấn đề quản lý con người, đó được xem như nhân tố quyết định của quản lý nhà nước. Ngày nay, trước xu thế hội nhập của thế giới, Việt Nam đang chuyển mình để hoà chung vào xu thế đó, vì vậy đòi hỏi phải có một nền chính trị khoa học, hiện đại. Nền chính trị đó phải được xây dựng bởi những con người có tri thức, có tài năng như thế nào thì tất cả phải được vận hành dưới sự quản lý từ cao đến thấp. Trong nhà nước Pháp quyền XHCN như ở nước ta đội ngũ cán bộ chính là những người chịu trách nhiệm quản lý đó, nên cần và rất cần thiết trong quản lý phải có một nghệ thuật quản lý sử dụng người hiện đại. Ta có thể tìm thấy rất nhiều kinh nghiệm phong phú và bổ ích, cũng như hoàn toàn có thể áp dụng một cách linh hoạt nghệ thuật quản lý con người trong tư tưởng về thuật cai trị của Hàn Phi Tử. Hơn nữa, tư tưởng chính trị của Hàn Phi Tử cũng là một nội dung quan trọng trong nghiên cứu lịch sử tư tưởng chính trị. Chính vì lý do đó mà em chọn đề tài: Thuật cai trị trong tư tưởng Hàn Phi Tử và việc vận dụng trong quản lý cán bộ ở nước ta hiện nay.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Học thuyết Pháp trị của Trung Quốc ra đời đã trên 2000 năm, mặc dù cónhiều hạn chế do lịch sử, do bản chất giai cấp nhưng vẫn toát lên được nhữnggiá trị thực tiễn mà ngày nay vẫn áp dụng và phát huy được trong công cuộcxây dựng nhà nước pháp quyền Học thuyết Pháp trị bên cạnh việc nêu ra vaitrò của pháp luật và vị thế của người đúng đầu nhà nước còn có một thành tốhết sức cơ bản là đưa ra những phương pháp, cách thức để quản lý nhà nước,

đó là thuật cai trị Trong sự vận hành của nhà nước dù là chiếm hữu nô lệ,phong kiến, tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa thì những người đứng đầunhà nước đều cần có sự quản lý, đặc biệt là vấn đề quản lý con người, đó đượcxem như nhân tố quyết định của quản lý nhà nước

Ngày nay, trước xu thế hội nhập của thế giới, Việt Nam đang chuyểnmình để hoà chung vào xu thế đó, vì vậy đòi hỏi phải có một nền chính trịkhoa học, hiện đại Nền chính trị đó phải được xây dựng bởi những con người

có tri thức, có tài năng như thế nào thì tất cả phải được vận hành dưới sự quản

lý từ cao đến thấp Trong nhà nước Pháp quyền XHCN như ở nước ta đội ngũcán bộ chính là những người chịu trách nhiệm quản lý đó, nên cần và rất cầnthiết trong quản lý phải có một nghệ thuật quản lý sử dụng người hiện đại Ta

có thể tìm thấy rất nhiều kinh nghiệm phong phú và bổ ích, cũng như hoàntoàn có thể áp dụng một cách linh hoạt nghệ thuật quản lý con người trong tưtưởng về thuật cai trị của Hàn Phi Tử Hơn nữa, tư tưởng chính trị của Hàn Phi

Tử cũng là một nội dung quan trọng trong nghiên cứu lịch sử tư tưởng chính

trị Chính vì lý do đó mà em chọn đề tài: " Thuật cai trị trong tư tưởng Hàn Phi Tử và việc vận dụng trong quản lý cán bộ ở nước ta hiện nay"

Trang 2

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Về vấn đề quản lý nhà nước cũng như quản lý con người trước nay đã cónhiều công trình khoa học, bài viết đề cập đến như:

- Đặng Huy Trú: "Bàn về vấn đề trị nước của người xưa", Nxb văn hóathông tin, Hà nội, 2002

- Lương Xuân Quý (chủ biên): "Quản lý nhà nước trong nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam", Nxb lý luận chính trị, Hànội, 2006

- Nguyễn Anh Tuấn (chủ biên): "Vấn đề quản lý nhà nước trong triếthọc Trung Quốc cổ đại, Nxb Đồng Nai, 2002

Tuy nhiên, do quá trình tìm kiếm tài liệu của em chưa thu thập đầy đủhết những tài liệu và bài viết về vấn đề em nghiên cứu nên trong quá trình viết

có thể chưa cập nhật đầy đủ và phản ánh trọn vẹn, chính xác ý nghĩa của vấn

đề, em cũng mong rằng qua những gì em sưu tầm và trình bày sẽ góp phần tìm

ra những giá trị trong tư tưởng của Hàn Phi Tử về "Thuật cai trị" mà đến nayvẫn còn có ý nghĩa thực tiễn đối với việc quản lý con người ở nước ta hiện nay

3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

a Mục tiêu

Đề tài góp phần nghiên cứu tìm hiểu rõ về nội dung của thuật cai trịtrong tư tưởng của Hàn Phi Tử Đồng thời phân tích, làm rõ thực trạng của độingũ cán bộ ở nước ta Từ đó đề tài tập trung vào việc đưa ra những giải pháp

để vận dụng những ý nghĩa của tư tưởng đó vào việc quản lý và xây dựng độingũ cán bộ ở nước ta hiện nay

b Nhiệm vụ

Để thực hiện được mục tiêu trên đề tài cần thực hiện tốt những nhiện vụsau:

Trang 3

- Nêu nội dung tư tưởng về thuật cai trị của Hàn Phi Tử

- Đánh giá tình hình quản lý cán bộ ở nước ta hiện nay

- Đưa ra những giá trị thực tiễn và những giải pháp để vận dụng tư tưởng

về "Thuật" vào quản lý cán bộ hiện nay

4 Phạm vi nghiên cứu

Với đề tài "Thuật cai trị trong tư tưởng Hàn Phi Tử và việc vận dụngtrong quản lý cán bộ ở nước ta hiện nay" thì phạm vi nghiên cứu chính là lịch

sử xã hội Trung Quốc thời cổ đại với sự xuất hiện tư tưởng chính trị, đặc biệt

là tư tưởng chính trị của Hàn Phi Tử về thuật cai trị và để vận dụng trong quản

lý cán bộ ở nước ta hiện nay thì tác giả cũng đã tham khảo nhiều tư liệu để biết

về tình trạng quản lý cán bộ nước ta Từ đó tác giả có đưa ra một số những ýkiến, giải pháp để vận dụng những giá trị thiết thực của tư tưởng về thuật vàonghệ thuật quản lý cán bộ nước ta hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: đề tài sử dụng phương pháp luận Macxit là chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

- Phương pháp chung: lôgic - lịch sử, phân tích hệ thống

- Ngoài ra đề tài còn sử dụng một số phương pháp đặc thù như khảo sát,quan sát trực tiếp, nghiên cứu tài liệu đưa ra đánh giá kết luận, phân tích tổnghợp, đánh giá so sánh

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì nộidung của đề tài gồm 3 chương:

Chương I: Tình hình kinh tế xã hội Trung Quốc cổ đại và sự xuất hiện tưtưởng về thuật cai trị của Hàn Phi Tử

Chương II: Nội dung của thuật cai trị trong tư tưởng của Hàn Phi Tử.Chương III: Vận dụng giá trị của thuật cai trị trong việc quản lý cán bộ ởnước ta hiện nay

Trang 4

B PHẦN NỘI DUNG

Chương I

TÌ NH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI

VÀ SỰ XUẤT HIỆN TƯ TƯỞNG

VỀ THUẬT CAI TRỊ CỦA HÀN PHI TỬ

1 Tình hình kinh tế - xã hội Trung Quốc cổ đại

1.1 Về kinh tế

Trong suốt chiều dài lịch sử của mình, Trung Quốc luôn là quốc gia lớn

ở Đông Nam á Trên lãnh thổ Trung Quốc có hai con sông lớn chảy qua làTrường Giang ở phía nam và Hoàng Hà ở phía Bắc Lưu vực của hai con sôngnày sớm trở thành cái nôi của nền văn minh Trung Quốc

Trung Quốc cổ đại kéo dài từ thế kỷ XXI TCN đến cuối thế kỷ III TCN,lịch sử Trung Quốc cổ đại được chia làm ba thời kì tương ứng với ba vươngtriều: Hạ, Thương, Chu

- Hạ (thế kỷ XXI - XVI TCN) : Thời kì này Trung Quốc mới chỉ biếtđến đồng đỏ, chưa có chữ viết Sau bốn thế kỷ, đến dời vua kiệt, bạo chúa nổitiếng đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, triều Hạ bị diệt vong và không để lạichứng tích cụ thể

- Thương (thế kỷ XVI - XII TCN) còn gọi là Ân Thời kì này TrungQuốc biết sử dụng đồng thau, chữ viết ra đời và họ đã làm ra lịch nông nghiệp,biết quan sát sự vận hành của mặt trăng, tính chu kì của nước sông dâng lên

- Chu (thế kỷ XI - III TCN) triều Chu được chia làm hai thời kì: TâyChu và Đông Chu.Từ khi thành lập cho đến năm 771 TCN triều Chu đóng đô ởCảo Kinh; phía tây nên gọi là tây Chu.Thời tây Chu, nhìn chung xã hội TrungQuốc tương đối ổn định.Từ năm 771 TCN, nhà Chu rời đô về lạc ấp ở phía

Trang 5

đông,nên gọi là Đông Chu Thời Đông Chu tương ứng với hai thời kì :XuânThu (772 - 481 TCN) và Chiến Quốc (403 - 221 TCN).

1.2 Về chính trị - xã hội

Bắt tay xây dựng nền thống trị của mình,nhà Chu đã " thiết lập trật tự xãhội theo kiểu Tông" Theo tinh thần của tông pháp, Chu thiên tử là người đứngđầu thay trời trị dân, các nước chư hầu do thiên tử lập ra gọi là tông quốc(nghĩa là cùng một tổ tiên chung) Thực chất, "Tông pháp là chế độ thống trịdựa trên cơ sở huyết thống của một dòng họ"(1)

Dựa trên chế độ Tông pháp, nhà Chu đã thiết lập và củng cố nền thốngtrị của mình qua nhiều thế kỷ và đã đưa chế độ CHNL lên đến đỉnh cao ở thờiTây Chu Nhưng từ năm 770 TCN, do những nguyên nhân khách quan và chủquan; nhà Chu phải dời đô sang đất Lạc ấp ở phía Đông Từ đó, nhà Chu suyyếu dần và không còn ước thúc được các nước chư hầu nữa Nhân cơ hội này,các nước chư hầu mượn danh nghĩa "tôn Vương" (Tôn phò nhà Chu) để độngbinh thôn tính các nước khác, giành quyền làm bá chủ Chế độ Tông pháp - cơ

sở tổ chức xã hội của nhà Chu - bị phá vỡ và Trung Quốc bước vào thời kỳkhủng hoảng xã hội ngày càng trầm trọng và thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốcchiến tranh giữa các nước chư hầu kéo dài liên tục suốt 5 thế kỷ, từ cục diệnngũ bá thời Xuân Thu đến thất hùng thời chiến quốc Đặc biệt sự ra đời của đồsắt đã tạo ra bước nhảy vọt của công cụ sản xuất, làm cho lực lượng sản xuấttrở nên mâu thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất thống trị ban đầu Sự tan rã củachế độ Tông pháp là hệ quả tất yếu của những mâu thuẫn đó; đồng thời, nhữngmâu thuẫn về kinh tế là nguyên nhân của những tình trạng các cứ tiếm ngôi vị,tranh giành bá chủ và khủng hoảng xã hội triền miên Những biến động của xãhội Trung Hoa cổ đại được bắt đầu từ những nguyên nhân bên trong của nó vàthực chất của những biến động ấy là bước chuyển từ hình thái xã hội nô lệ suy

(1) Đ m Gia Khiªm: L àm Gia Khiªm: L ịch sử văn hãa Trung Quốc – Nxb KHXH, H.1993, tr.34

Trang 6

tàn và phong kiến sơ kỳ sang hình thái xã hội phong kiến tập quyền đang trongquá trình xác lập.

Trong bối cảnh xã hội giao thời những giá trị chuẩn mực cũ bị bănghoại, những chuẩn mực mới chưa định hình, cho nên trật tự lễ nghĩa bị phá bỏ,cường xã hội bị đảo lộn, bức tranh toàn cảnh của xã hội Trung Quốc ở giaiđoạn này là sự khủng hoảng hết sức sâu sắc về chính trị - xã hội và đạo đức,luân lý Do tác động của những biến đổi kinh tế xã hội, một bộ phận quý tộc cũ

bị sa sút, mất địa vị; không còn được làm quan lại mà đi làm thầy trong thiên

hạ Một cách không tự giác, họ đóng vai trò tích cực trong việc chuyển tải vănhoá quan phương Từ phong trào này, xuất hiện tầng lớp kẻ sỹ cùng với mộttrào lưu học thuật và tự do tư tưởng rộng rãi đại diện cho lợi ích của các tầnglớp, giai cấp xã hội khác nhau như Lão Tử, Khổng Tử, Mặc Tử, Hàn Phi Tửvới các học thuyết Lão Gia, Nho Gia, Mặc Gia, Pháp Gia…

"Hiện thực xã hội nóng bỏng đương thời đã đòi hỏi các học thuyết phảiquan tâm lý giải và đề xuất những giải pháp để vãn hồi trật tự"(1) Xuất phát từquan niệm nền tảng "đạo" Lão Tử cho rằng: xã hội loạn là do con người viphạm quy luật tự nhiên, nên ông chủ chương "vô vi", khuyên mọi người từ bỏmọi thành quả văn minh và chạy trốn vào tự nhiên, thoát ly thực tế Trang Tửlại muốn đi về một nẻo xa hơn, bi quan, yếm thế gần như thoát tục, chỉ cònmong được "làm con rùa để lết cái đuôi trong bùn" Theo Khổng Tử, xã hộiloạn là do lễ chế nhà Chu bị buông lỏng, nên ông chủ trương khôi phục lễ đềxuất chủ trương đức trị Gần 200 năm sau, trong khi chiến tranh loạn lạc vẫndiễn ra gay gắt, Mạnh Tử tiếp tục tư tưởng của thầy Nhiệt tình say mê với lýtưởng, ông cũng không tiếc sức mình khuyên răn các bậc cầm quyền đi theocon đường Vương Đạo Còn Mặc Tử, ông là người đề xuất chủ trương kiêm ái,kêu gọi xây dựng xã hội trên cơ sở tình thương không phân biệt giai cấp; Mặc

(1) Đỗ Đức Minh: Về nguyên nhân ra đời của học thuyết Pháp trị ở Trung Quốc, Tạp chí Lý luận chính trị, 12/2003

Trang 7

Tử cùng với hàng nghìn đệ tử bôn ba truyền thuyết một thời, song cuối cùngchẳng được ai trọng dụng.

Lịch sử Trung Quốc đã từng kiểm nghiệm vai trò các học thuyết "Đứctrị", "Vô Vi trị", "Kiêm ái"…song chúng đều tỏ ra bất lực vì không đáp ứngđược yêu cầu thời cuộc Vào lúc tưởng chừng bế đó, học thuyết Pháp trị xuấthiện trên vũ đài chính trị như là đại biểu ra đời sau cùng, nhưng đã nhanhchóng được đón nhận; trở thành vũ khí lý luận sắc bén của nhà Tần trong việcgiải quyết cục diện hỗn loạn và thống nhất Trung Quốc Nó xuất hiện muộnmàng; nhưng đã bắt kịp yều cầu lịch sử; nhanh chóng chiếm lĩnh vũ đài chínhtrị và cũng sớm ra đi cùng với sự sụp đổ của nhà Tần Như tia chớp loé sángtrong cơn giông, tuy tồn tại ngắn ngủi, nhưng tư tưởng của học thuyết pháp trị

đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử

Học thuyết Pháp trị là học thuyết đạt đến đỉnh cao tư tưởng chính trị - pháp

lý thời cổ đại với vai trò Tập Đại Thành của Hàn Phi Tử được hình thành trên cơ

sở thống nhất của ba học phái: Pháp của Thương Ưởng, Thế của Thận Đáo, Thuậtcủa Thân Bất Hại, đã phát triển rực rỡ ở thời kỳ Tiên Tần và tuy không được bổsung phát triển liên tục trong lịch sử như các học thuyết khác; song hiện nay dướigóc độ của "khoa học pháp lý hiện đại"(1) để tìm hiểu về học thuyết này chúng tavẫn thấy toát lên những giá trị tư tưởng bổ ích

2 Thuật cai trị - một trong ba thành tố cơ bản của học thuyết Pháp trị

2.1 Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng về thuật cai trị

- Đạo Gia: người sáng lập là Lão Tử (580 - 500 TCN) bao trùm tư tưởngcai trị xã hội của Lão Tử là chủ trương "Vô vi nhi trị" nghĩa là để cho xã hội tựnhiên như vốn có, không can thiệp bằng bất cứ cách nào; xã hội sẽ được ổnđịnh Ông vừa nêu ra vừa tổng kết có 4 hình thức cai trị là:

+ Dùng Vô vi: dân sống tự nhiên; yên ổn; cai trị đơn giản

+ Dùng đức: giáo hoá dân; dân nghe theo mà ca ngợi

(1) Đỗ Đức Minh: Học thuyết Ph¸p trị Trung Quốc cổ đại – một số tư tưởng cơ bản, Tạp chÝ nghiªn cứu ph¸p luật số 2, 2/2002

Trang 8

+ Dùng pháp: dân theo; nhưng vì sợ hãi mà theo

+ Dùng mưu lừa gạt: dân theo vì bị lừa; khi biết sẽ phản đối

- Nho gia:

Khổng Tử: (551 - 478 TCN) là người sáng lập Nho giáo; tên là KhổngKhâu; tự là Trọng Ni, người nước Lỗ Về vấn đề cai trị con người, Khổng Tửđưa ra thuyết "chính danh định phận" với một số nội dung cơ bản sau:

Theo ông, mỗi người phải biết giữ danh phận của mình mới có thể gâyđược nền chính trị của thời "Thiên hạ có đạo" Đối với người cai trị thì "nếuthân mình mà chưa chính được rồi thì đối với mọi việc chính sự còn có gì khó.Không thể chính được thân mình thì chính người khác thế nào?"

Mạnh Tử: (372 - 289 TCN) là người kế thừa và phát triển sáng tạo tưtưởng của Khổng Tử, được coi là "chính phái" Về vấn đề cai trị ông đưa raquan điểm "thi hành chính trị theo vương đạo và được lòng dân" Mạnh Tửcũng phát triển triết thuyết tôn trọng người hiền của Khổng Tử với những luậnđiểm tích cực hơn

Tuân Tử (315_230TCN) Có tên là Huống, tự là Khanh,người nướcTriệu Ông sống vào cuối thời chiến quốc; là thời kì cục diện chiến tranh “thấthùng” đi vào giai đoạn cuối; xã hội càng loạn lạc; dân lành khổ sở vì chiếntranh Cho nên ông coi trọng nền chính trị trọng hiền tài và cai trị bằng “lễ” và

Trang 9

của người xa nên tác giả chỉ xin được nêu những tư tưởng chính liên quan đếnthuật cai trị đất nước.

Quản Trọng (Quản Di Ngô) là đại biểu tiêu biểu đầu tiên của phái phápgia Muốn thực hiện được pháp luật thì dân chúng phải biết pháp luật; biếtđúng mà làm; biết sai mà tránh; nên được thưởng không phải mang ơn, bị phạtkhông dám trách.Thậm chí ông còn cho rằng dân có thể dùng pháp luật đểtranh luận với người coi canh pháp luật…

Thận Đáo (370_290 TCN) ông là người nước Triệu, chịu ảnh hưởng củatriết học Lão Tử, ông chủ trương cai trị bằng pháp luật, coi pháp luật khách quan

vô tình nh vật vô tri Ông chủ trương đề cao “thế” của người đứng đầu chinhthể;nghĩa là đề cao quyền lực ; sử dụng quyền lực để giữ quyền và điều khiểnthiên hạ Đả kích chủ nghĩa nhân trị của nho giáo, Thận Đáo đặc biệt đề cao uyquyền

Thương Ưởng (? – 338 TCN) :Tư tưởng pháp trị của Thương Ưởng ược nêu trong sách “Thương Quân”

đ-Ông đề ra phương châm pháp luật ba điểm: 1) Xác nhận tính chất hợppháp của việc chiếm hữu ruộng đất bằng mua bán 2) Xác nhận quyền bìnhđẳng của các tầng lớp trong giai cấp địa chủ phong kiến trước pháp luật.3)Thiết lập chủ nghĩa chuyên chế trung ương tập quyền cai trị bằng pháp luật

Hàn Phi Tử (280_233 TCN)

Hàn Phi Tử là công tử nước Hàn, ông theo học Tuân Tử; cùng học có Lý

Tư sau này là thừa tướng nước Tần Ông học rộng, biết sâu, yêu nước, muốnnước Hàn vững mạnh bằng chủ trương pháp trị của mình nhưng không thành

Quan điểm của Hàn Phi về thuật có một cơ sở triết lí của nó là thuyếtdanh thực vốn thoát thai từ thuyết chính danh cũ của các nhà triết học trước đó.Thuyết này được diễn đạt trong văn thức; “ Theo danh mà trách thực “ Thựctheo pháp gia là giữ những chức vụ trong chính quyền; còn danh, tức là chức vị

về những chức vụ ấy Những chức vị ấy cho ta biết những gì người có chức vụ

Trang 10

phải làm theo lí tưởng”(4) Như vậy,theo danh mà trách thực nghĩa là buộc cácquan chức phải chịu trách nhiệm thực thi những bổn phận bao gồm trong chức

vụ đó Bổn phận vua là trao một danh riêng cho một người riêng, tức là giaomột nhiệm vụ nhất định cho một người nhất định Pháp luật quy định cácnhiệm vụ thuộc về chức vụ ấy, danh đặt ra cho mỗi nhiệm vụ ấy, chỉ rõ nhữngnhiệm vụ

Trong tư tưởng của Hàn Phi có rất nhiều nghệ thuật là những quyền mưutâm thuật được sử dụng trong việc sử dụng các quan lại Các quyền mưu nàyrất đa dạng, không theo một nguyên tắc nào,tùy thuộc vào từng hoàn cảnh mà

áp dụng

2.2 Sự cần thiết của thuật cai trị đối với hoạt động quản lí đất nước.

a) Vua muốn cai trị phải nắm quyền dùng người.

Sau khi xác định phương châm trị quốc, nhân lực chính là nhân tố mangtính quyết định Muốn bảo đảm cho pháp trị tiến hành thuận lợi, vua phải nắmđại quyền dùng người Người được tuyển chọn phải hội đủ tố chất nhiều mặt,quán triệt ý đồ của nhà vua,nỗ lực giúp vua thực thi thế trị,pháp trị, thuật trị.Nguyên tắc dùng người của vua là nắm pháp thuật, dụng hình danh, bỏ tâm trị

- đó là cách tổ chức và dùng người của Hàn Phi Tử

Việc dùng người như thế nào liên quan tới sự tồn vong, trị loạn của quốcgia đó,Hàn Phi Tử viết :”dùng công việc để sử dụng người,đó là cái then chốtcủa sự còn hay mất, trị hay loạn Nếu không có cái thuật để bổ nhiệm người thìdùng người nào cũng hỏng”(1) Cái lo của tình trạng không có thuật chính lànếu vua dùng người khôn thì người khôn sẽ lừa nhà vua, còn nếu như dùngngười trau giồi thân mình thì công việc của nhà vua sẽ vì thế mà rối loạn

b) Trị nước dùng người không dùng thuật sẽ đem đến tai họa.

Thuật trị theo Hàn Phi Tử chính là phương pháp và thủ đoạn của vuaquản lý bề tôi,là căn cứ năng lực của mỗi người mà trao cho chức quan tương

(4) Phùng Hữu Lan: Đại cương triết học sử Trung Quốc, Nxb Thanh niªn, H.1999, tr.168

(1) Phan Ngọc (Dịch): H n Phi T àm Gia Khiªm: L ử, Nxb Văn hoá, HN-2005, tr.515

Trang 11

ứng,theo cái danh mà truy cứu cái thực, nắm quyền sinh sát xét khả năng củaquần thần Đó là cái bậc mà vua chúa phải nắm trong tay nhưng trong việc trịnước nếu chỉ dung người mà không dùng thuật sẽ đem đến tai họa bởi vì bổnhiệm người làm việc là điểm then chốt của sự tồn vong, trị loạn.

Trang 12

1.2 Dùng thuật “vô vi” quản lí bề tôi.

Hàn Phi Tử là ngươi duy nhất của Trung Quốc thực hiện được sự tổnghợp của ba học thuyết Nho, Lão, Pháp ở đó Nho là tài liệu xây dựng, Pháp làcái bản thiết kế, nhưng Lão mới là kĩ thuật thi công của cái ngôi nhà độc đáo

đó Khái niệm chủ đạo của ông là”vô vi”nghĩa là vua chỉ cần quan sát, quảnquan lại, điều khiển sắp xếp bộ máy làm việc không sa vào việc vụn vặt Nếudùng thuật vô vi để quản lí thì vua chúa không nên để lộ khuynh hướng yêughét trước mặt bề tôi, bởi lẽ nếu bậc vua chúa để lộ cái yêu và cái ghét củamình thì những người dưới sẽ nhân đó làm cho vua chúa bị lừa

1.3 Thưởng phạt nghiêm minh là biện pháp quản lí hữu hiệu.

Thưởng phạt nghiêm minh trong thuật cai trị nước còn là thuận theo tựnhiên, Hàn Phi viết:”những người xưa khéo dùng người thế nào cũng thuậntheo trời, thuận theo người mà làm sáng tỏ việc thưởng và phạt Thuận theotrời thì dùng sức ít mà công được lập, thuận theo người thì hình phạt giản dị

mà mệnh lệnh được thi hành Soi sáng việc thưởng và phạt thì Bá Di, ĐạoChích không lẫn lộn Như vậy, thì trắng đen phân biệt”(3)

(1) Sđd: quyển IV, tr.136

(3) Sđd: Quyển VIII, tr.251

Trang 13

1.4 Căn cứ vào tài năng và công lao để trao chức việc và bổng lộc

Theo quy tắc danh thực hợp nhau thì việc tuyển dụng người không đượcnghe theo lời giới thiệu của người khác mà phải đích thân mình khảo sát đốitượng Vì người giới thiệu có thể vì tư tình, tư lợi mà giới thiệu người không

có khả năng Cho nên việc dùng người phải có nghệ thuật để xét dùng đúngkhả năng của họ và bố trí họ vào những công việc phù hợp

Trong khi giao chức phải phân công rõ ràng mỗi người lãnh đạo mộtchức vụ, hoàn toàn chịu trách nhiệm về chức vụ đó Không phải công việcthuộc chức vụ của mình thì không được làm dù có thể biết rằng việc đó có lợicho nước

Ngày đăng: 23/07/2018, 13:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w