1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận cao học Quan điểm giáo dục của khổng tử và sự kế thừa, phát triển nó trong việc xây dựng con người việt nam thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

29 338 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 195,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh xuất hiện sớm nhất trên thế giới với hơn 4000 năm phát triển liên tục, với nhiều phát minh vĩ đại trong lịch sử trên nhiều lĩnh vực khoa học. Có thể nói, văn minh Trung Hoa là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại. Bên cạnh những phát minh, phát kiến về khoa học, văn minh Trung Hoa còn là nơi sản sinh ra nhiều học thuyết triết học lớn có ảnh hưởng đến nền văn minh Châu Á cũng như toàn thế giới. Trong số các học thuyết, tư tưởng lớn đó phải kể đến tư tưởng Nho giáo. Nho giáo là tư tưởng quan trọng nhất của Trung Quốc trong hơn 2000 năm lịch sử và Người đặt cở sở đầu tiên cho tư tưởng này là Khổng Tử. Đối với người Trung Quốc khi nói đến sự ảnh hưởng của Khổng Tử có thể phải xếp thứ nhất. Mỗi con người ít nhiều đều chịu sự ảnh hưởng của học thuyết Khổng Tử. Số kinh điển mà bậc thầy “cổ nhân thánh hiền” này san định và viết để lại cho đời sau không chỉ là trí tuệ dẫn đường, đánh thức tiềm năng của con người mà còn đại diện tiêu biểu cho nền văn hóa Trung Hoa. Khổng Tử là một nhà giáo dục chân chính, một bậc thầy vĩ đại không phải của riêng Trung Hoa mà còn của cả thế giới loài người. Hậu thế tôn sùng ông là bậc thầy của muôn đời bởi chủ trương, đường lối, mục tiêu, phương pháp giáo dục của ngài chứa đựng nhiều giá trị mà người đời sau phải công nhận, đề cao và học hỏi. Trong kỉ nguyên toàn cầu hóa, giáo dục luôn là vấn đề thời sự, mối quan tâm của hầu hết các nước. Ở Việt Nam, giáo dục là sự nghiệp của toàn dân. Khi cánh cửa của nền kinh tế tri thức đang mở ra, hướng cả dân tộc vào kỉ nguyên tin học, kỉ nguyên khoa học – kỹ thuật thì việc học tập, giáo dục càng trở nên quan trọng với con người, là một trong những động lực phát triển xã hội, góp phần sâu sắc vào sự lớn mạnh của đất nước. Với mục tiêu cao cả và thước đo nhân văn đó, giáo dục Việt Nam luôn tìm hướng đi phù hợp với mình, tiếp cận và lực chọn những tư tưởng tiến bộ đậm nét của Khổng Tử để kế thừa. Những tư tưởng giáo dục đó là bức tranh phác thảo đa dạng cho hậu thế chắt lọc, tiếp thu và phát triển. Chính vì vậy trong tiểu luận này em xin chọn đề tài “Quan điểm giáo dục của Khổng Tử và sự kế thừa, phát triển nó trong việc xây dựng con người Việt Nam thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước” để nghiên cứu.

Trang 1

Quan điểm giáo dục của Khổng Tử và sự kế thừa, phát triển

nó trong việc xây dựng con người Việt Nam thời kì công

nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

MỞ ĐẦU

Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh xuất hiện sớmnhất trên thế giới với hơn 4000 năm phát triển liên tục, với nhiều phát minh vĩđại trong lịch sử trên nhiều lĩnh vực khoa học Có thể nói, văn minh TrungHoa là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại Bên cạnh những phátminh, phát kiến về khoa học, văn minh Trung Hoa còn là nơi sản sinh ranhiều học thuyết triết học lớn có ảnh hưởng đến nền văn minh Châu Á cũngnhư toàn thế giới

Trong số các học thuyết, tư tưởng lớn đó phải kể đến tư tưởng Nho giáo.Nho giáo là tư tưởng quan trọng nhất của Trung Quốc trong hơn 2000 nămlịch sử và Người đặt cở sở đầu tiên cho tư tưởng này là Khổng Tử Đối vớingười Trung Quốc khi nói đến sự ảnh hưởng của Khổng Tử có thể phải xếpthứ nhất Mỗi con người ít nhiều đều chịu sự ảnh hưởng của học thuyếtKhổng Tử Số kinh điển mà bậc thầy “cổ nhân thánh hiền” này san định vàviết để lại cho đời sau không chỉ là trí tuệ dẫn đường, đánh thức tiềm năngcủa con người mà còn đại diện tiêu biểu cho nền văn hóa Trung Hoa

Khổng Tử là một nhà giáo dục chân chính, một bậc thầy vĩ đại khôngphải của riêng Trung Hoa mà còn của cả thế giới loài người Hậu thế tôn sùngông là bậc thầy của muôn đời bởi chủ trương, đường lối, mục tiêu, phươngpháp giáo dục của ngài chứa đựng nhiều giá trị mà người đời sau phải côngnhận, đề cao và học hỏi

Trong kỉ nguyên toàn cầu hóa, giáo dục luôn là vấn đề thời sự, mối quantâm của hầu hết các nước Ở Việt Nam, giáo dục là sự nghiệp của toàn dân Khi

Trang 2

cánh cửa của nền kinh tế tri thức đang mở ra, hướng cả dân tộc vào kỉ nguyêntin học, kỉ nguyên khoa học – kỹ thuật thì việc học tập, giáo dục càng trở nênquan trọng với con người, là một trong những động lực phát triển xã hội, gópphần sâu sắc vào sự lớn mạnh của đất nước Với mục tiêu cao cả và thước đonhân văn đó, giáo dục Việt Nam luôn tìm hướng đi phù hợp với mình, tiếp cận

và lực chọn những tư tưởng tiến bộ đậm nét của Khổng Tử để kế thừa Những

tư tưởng giáo dục đó là bức tranh phác thảo đa dạng cho hậu thế chắt lọc, tiếp

thu và phát triển Chính vì vậy trong tiểu luận này em xin chọn đề tài “Quan điểm giáo dục của Khổng Tử và sự kế thừa, phát triển nó trong việc xây dựng con người Việt Nam thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước” để

nghiên cứu

Trang 3

Triết học Trung Quốc cổ đại nảy sinh trong thời kì xã hội rất đặc biệt:thời Xuân Thu – Chiến Quốc Thời kì này đánh dấu bước chuyển của xã hộiTrung Quốc từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến trung ương tậpquyền Đây là giai đoạn với những biến động xã hội to lớn: Trung Quốc đangnằm trong sự chuyển giao hình thái kinh tế xã hội, sự thống trị của chế độ Tôngpháp nhà Chu đang suy tàn Chính thời đại lịch sử đặc biệt này có ý nghĩa vạchđường, tạo tiền đề cho sự nảy sinh, phát triển vô cùng rực rỡ của các trườngphái triết học khác nhau, là tấm gương phản chiếu sự biến đổi của đời sống xãhội.

Thời Xuân Thu, Chu thiên tử trên danh nghĩa thống trị toàn Trung Quốcnhưng đã mất hết thực quyền, các nước chư hầu tranh giành quyền lực, mệnhlệnh của “thiên tử” nhà Chu không còn được tuân thủ Quyền sở hữu tối cao vềđất đai thuộc về tầng lớp địa chủ Chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuấtxuất hiện Giai cấp quý tộc nhà Chu dần dần sa sút, mất địa vị, nghi lễ phápluật nhà Chu bị xâm phạm, “vương đạo suy vi” Trật tự lễ nghĩa cương thường

bị đảo lộn, nhân luân suy đồi Vương hầu không chịu thuần phục vương chủ,thôn tính lẫn nhau Tầng lớp địa chủ mới ngày càng giàu có, lán át quý tộc cũ,thậm chí tiếm quyền Khổng Tử gọi đây là thời “loạn”

Thời Chiến Quốc, chiến tranh nổ ra liên miên Các nước chư hầu cát cứ,thôn tính lẫn nhau, tranh giành quyền bá chủ thống trị Đạo đức trật tự xã hộisuy thoái quan ức hiếp dân, dân vì cực khổ bất chấp tất cả để có miếng cơmmanh áo Thời kì này con người ham danh lợi, bỏ nhân nghĩa,… “Loạn” đã đẩylên tới đỉnh điểm “Lễ hoại nhạc băng” đã trở thành căn bệnh trầm kha của xãhội Trung Quốc thời đó Một nhu cầu xã hội bức thiết được đặt ra là phải cónhững học thuyết, tư tưởng phản ánh được xu thế thời cuộc, thỏa mãn được lợiích các giai cấp, các tầng lớp khác nhau Vì vậy những bậc kẻ sĩ, người quân

Trang 4

tử đua nhau đưa ra các học thuyết của mình nhằm tìm nguyên nhân loạn lạc vàđưa ra phương án giải quyết mâu thuẫn trong xã hội Họ đi du thuyết khắp nơivới hy vọng được các nhà cầm quyền sử dụng để cứu vãn tình trạng bi đátđương thời Từ đó tạo nên thời kì “Bách gia tranh minh, chư tử phong khởi”(trăm nhà đua tiếng, các bậc thầy nổi lên) gọi tắt là “Bách gia chư tử” Hàngloạt các trường phái triết học đã xuất hiện với những cách giải quyết vấn đề xãhội khác nhau như: Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia, Âm dương – Ngũhành gia…Song dòng nho Khổng Mạnh có ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài nhấtkhông những đối với dân tộc Trung Quốc mà còn với cả các khu vực lân cận.

1.2 Nhà giáo dục vĩ đại Khổng Tử

Xã hội đương thời thối nát, nhũng nhiễu, Nhân muốn vươn lên, muốn

“tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” thì phải không ngừng nỗ lực phấn đấu,rèn luyện, tu dưỡng để vượt qua khó khăn Khổng Tử cho rằng: “Hiếu học cận

hồ tri, lực hành cận hồ nhân, tri sỉ cận hồ dũng Tri tư tam giả, tắc tri sở dĩ tuthân” Nghĩa là: yêu thích học tập sẽ tiếp cận với hiểu biết đạo lí, gắng thựchành sẽ tiếp cận với lòng yêu thương nhân ái, biết được hổ thẹn sỉ nhục thì sẽtiếp cận với dũng cảm Biết được ba điều này thì sẽ biết thế nào là tu thân Vàchính bản thân Khổng Tử đã sống và lập thân theo con đường đó, để đạt đến sựkết tinh tư tưởng và trí tuệ của bậc “thánh hiền” thời cổ đại

Khổng Tử (551- 479 TCN), người làng Xương Bình, huyện Khúc Phụ,tỉnh Sơn Đông Ông tổ ba đời của ông từ nước Tống rời sang nước Lỗ Bố làThúc Lương Ngột, quan võ Vợ trước sinh được 9 con gái, vợ hai sinh đượcmột con trai bị tật què chân Đến khi già 70 tuổi mới lấy bà Nhan Thị và sinhđược Khổng Tử Khi mới sinh trên đầu có cái gồ nhỏ, nên bố mẹ đặt ông làKhâu, tên chữ là Trọng Nhi Khổng Tử rất chịu khó học, học bất cứ ai, bất cứlúc nào Thời trẻ, ông mở trường dạy học, sau đó ra làm quan Vì không đượctrọng dụng, ông đi chu du thiên hạ truyền bá đạo lí Cuối đời ông trở về nướcLỗ dạy học, sau định chỉnh lí các thư tịch cổ như Ngũ kinh: Thi,Thư, Lễ, Nhạc,Dịch và viết kinh Xuân Thu Luận ngữ là bộ sách quan trọng được học tròKhổng Tử ghi lại những lời nói, việc làm của Người

Khổng Tử không những được đánh giá là một nhà hiền triết tiêu biểu củaTrung Quốc mà còn được tôn vinh là người thầy của muôn đời “vạn thế sưbiểu” Tư tưởng giáo dục của Khổng Tử tuy còn mặt hạn chế bởi xã hội đươngthời, nhưng Người đã để lại cho hậu thế những quan điểm, câu nói bất hủ trongvấn đề giáo dục con người, đối nhân xử thế… rất mẫu mực

Trang 5

Vì Nhân, vì Đạo, nhà hiền triết đã dành cả cuộc đời mình tìm tòi khổluyện để cống hiến cho đời sau biết bao tư tưởng giáo dục sáng ngời Nhan Hồi– người học trò xuất sắc của Khổng Tử đánh giá “Đạo của thầy càng trôngcàng thấy cao, đục vào càng đục càng thấy rắn” (Luận Ngữ) Khổng Tử rất coitrọng việc giáo dục, coi đó là cái gốc sâu xa lâu bền để đào tạo ra con người:nhân, lễ, trí, tín, nghĩa (ngũ thường) thực hiện được mối quan hệ “tam cương”

là cho đạo trời, đạo người hòa nhập một cách thanh bình Việc giáo dục conngười của Khổng Tử lấy đức làm gốc, trí dục làm ngọn Cái gốc có bền chặt thìcái ngọn mới tươi tốt Khổng Tử dạy học trò chủ yếu không phải truyền thụ trithức mà bồi dưỡng đức hạnh để con người tự mình bỏ cái xấu, đặc biệt caonhất là đức “Nhân”, lòng “Nhân”, biểu hiện là “Khắc kỉ phục lễ vi nhân” (sửamình theo lễ tức là Nhân) Đây là một phương cách gây dựng nên những nềnếp tốt trong xã hội đương thời Ông chủ trương nền giáo dục là cần thiết chomọi người, bởi nếu không được học tập thì không mở mang sự hiểu biết về đạolí làm người, cũng như “viên ngọc không mài dũa thì không thành đồ dùngđược, người không học thì không biết đạo” (Lễ Kí) và kể cả những người cóthiện tâm, thiện chí làm điều Nhân nhưng do không học cho nên nhiều khicũng tăm tối không phân tích, không cân nhắc được lẽ phải trái Ông cho rằng:

“Muốn làm điều nhân nghĩa nhưng không thích học thì bị sự ngu dốt che lấpđi” (Luận Ngữ)

Nhìn tổng quát vấn đề, giáo dục của Khổng Tử là bồi dưỡng đức Nhâncho người quân tử, bồi dưỡng tư cách đạo đức người quân tử, dạy cho người tathành người nhân nghĩa trung chính để ra làm quan cứu đời, đưa xã hội từ

“loạn” thành “trị”, phục vụ cho mục đích chính trị Quan điểm giáo dục conngười của Khổng Tử có nhiều nét tiến bộ, tích cực Đó là sự phản ánh kinhnghiệm cũng như thực tiễn dạy học của cả một đời hy sinh cho sự nghiệp giáodục con người Những nhà Nho đã kế thừa hợp lí những tư tưởng giáo dục củaKhổng Tử để phát triển nền giáo dục như: Chu Văn An, Ngô Thì Nhậm… Đặcbiệt hơn, những quan điểm giáo dục của Khổng Tử đã có ảnh hưởng tới hệthống tư tưởng giáo dục của các nhà triết học ngoài Nho giáo, góp phần đưagiáo dục thâm nhập rộng, sâu vào xã hội, trở thành vấn đề quốc sách của cácnước, nhất là các nước phương Đông Tuy nhiên, trong tư tưởng của Khổng Tửvẫn còn một số hạn chế do ảnh hưởng yếu tố thời đại Song xét một cách toàndiện Khổng Tử vẫn xứng đáng là bậc thầy giáo dục của muôn đời - “Vạn thế

sư biểu”

Trang 6

Chương 2

TƯ TƯỞNG CỦA KHỔNG TỬ VỀ GIÁO DỤC CON NGƯỜI

2.1 Vai trò, đối tượng, mục đích giáo dục

2.1.1 Vai trò của giáo dục

Cái chủ đích của Khổng Tử là dạy cho con người ta thành người nhânnghĩa trung chính – tức quân tử, nên Khổng giáo lấy học và dạy là một điềutrọng yếu, giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng với sự hình thành và pháttriển con người

Khổng Tử là người đầu tiên nêu lên tư tưởng “tính người” trong “Luậnngữ” Đó là tư tưởng cơ bản, đặt nền tảng ban đầu cho hệ thống các quan điểmgiáo dục sau này kế thừa và phát triển Khổng Tử đưa ra quan điểm rất xácđáng: khẳng định vai trò của giáo dục và môi trường sống với con người, bảntính con người vốn đều gần giống nhau nhưng do sự khác nhau của điều kiệnmôi trường giáo dục, tập quán…mới làm cho đạo đức, tri thức và năng lực giữamọi người khác xa nhau Người nói “tính tương cận dã, tập tương viễn dã”(Dương Hóa) Quan điểm trên khẳng định: con người hiện thực chịu sự tácđộng của các yếu tố tự nhiên bẩm sinh và yếu tố xã hội, tức là đã thừa nhận haimặt tự nhiên và xã hội của con người Và quan trọng hơn mặt xã hội ở đâychính là vai trò to lớn của giáo dục, chính giáo dục là chìa khóa khám pháphẩm chất đạo đức của con người, đánh thức tiềm năng đang ngủ say của conngười Và nỗ lực vận dụng công tác giáo dục một cách rộng rãi là phương diệntrọng yếu nhằm nâng cao tố chất con người, thay đổi bộ mặt xã hội Vì vậy,ông nói “Từ người đem một gói nem trở lên đến xin học, ta chưa từng khôngdạy một ai” Nói như thế để thấy được giáo dục có vai trò quan trọng then chốtvới con người

Khổng Tử đặc biệt chú ý hướng con người tới cái Thiện Hướng Thiện

để xa rời cái xấu, vươn tới “Nhân”, tạo lập các quan hệ đạo đức tốt đẹp Bởithế, vai trò của giáo dục lại càng to lớn hơn bao giờ hết Giáo dục hướng conngười tới tính Thiện, thay đổi bản chất con người Khổng Tử nói “Ngã phi sinhnhi tri chi giả, hiếu cổ, mần dĩ cầu chi giả dã” (Thuật Nhi), nghĩa là: ta khôngphải là người thượng đẳng sinh ra đã có tri thức, ta chỉ là người yêu thích vănhóa cổ đại, thông qua việc cần cù, nhẫn nại học tập mà có được tri thức đó thôi.Hay: “Nếu không học thì dù có thiện tâm, nhân đức, trung tín đến đâu cũng bịcái ngu muội, phản loạn che mờ”…(Luận Ngữ - Dương Hóa) Hoặc: “Ngô

Trang 7

thường chung nhật bất thực, chung dạ bất tẩm, dĩ tư, vô ích, bất như học dã”(Luận Ngữ - Vệ Linh Công), nghĩa là: ta suốt ngày không ăn, suốt đêm khôngngủ, chỉ suy nghĩ đều chẳng thu lợi ích gì, không sao bằng đi học.

Tuy nhiên, Khổng Tử vẫn chưa thoát ra khỏi được “cái nhìn thời đại”.Dưới quan điểm đẳng cấp nghiệt ngã vẫn còn ngự trị, tư tưởng của Khổng Tửvẫn không tránh khỏi hạn chế, thậm chí có mâu thuẫn nhau: ông cho rằng giáodục là chiếc chìa khóa hun đúc nên con người, thay đổi con người nhưng bêncạnh đó có một số bộ phận không chịu ảnh hưởng của giáo dục: ông căn cứ vàonăng lực nhận thức chia con người thành ba hạng: “Thánh là bậc sinh ra đã biết– bậc Thượng trí Quân tử là người học thì biết Tiểu nhân thì không học được.Tiểu nhân gồm dân và chúng Dân là hạng không học được nhưng có thể saikhiến được Chúng là hạng học cũng không được, sai khiến cũng không được –gọi là Hạ Ngu” (Quý Thị 9) Khổng Tử không chú ý đến Thượng Trí và HạNgu bởi “Duy Thượng Trí, dị Hạ Ngu bất di” (chỉ có bậc Thượng Trí và kẻ HạNgu là không đổi nết của mình) Ông chỉ chú ý đến việc học của người quân tử,chú trọng đến giáo dục người quân tử

Nhưng xét đến cùng, Khổng Tử rất coi trọng vai trò của giáo dục đúngnhư học giả Nguyễn Hiển Lê nhận xét: “Hầu hết các nhà Nho dù chủ trươngthiện hay ác, hay vừa thiện vừa ác…đều đưa ra một quy kết chung là rất coitrọng giáo dục” Thừa nhận đánh giá cao vai trò của giáo dục, của các yếu tố xãhội vào sự hình thành, phát triển con người, đó là khuynh hướng đúng củaKhổng Tử, là công lao của Khổng Tử được đa số các nhà nghiên cứu hiện đạithừa nhận Đây là quan điểm khởi thủy xây dựng nên học thuyết “đức trị” vànối tiếp sau là là học thuyết “nhân chính” của Nho Gia – lí luận bình ổn xã hộichủ yếu dựa vào giáo hóa Xác định vấn đề cơ bản là vai trò của giáo dục nhưvậy nên Khổng Tử phát triển các vấn đề tiếp theo của giáo dục một cách logic,khoa học, đặt nền tảng cho các tư tưởng nối tiếp sau này

2.1.2 Đối tượng của giáo dục

Khổng Tử viết: “Hữu giáo vô loại”, nghĩa là mọi người trong xã hộiđều có quyền được học, được giáo dục, không phân biệt giầu, nghèo, sang,hèn, thiện, ác Có đặt tư tưởng Khổng Tử vào thời điểm lịch sử bấy giờ chỉtầng lớp thống trị có đặc quyền ấy mới thấy hết tính cách mạng của ngài

“Hữu giáo vô loại” như phát đại bác nã vào cái thành trì giáo dục đẳng cấp.Ngài còn đặt nền móng cho đường lối giáo dục toàn dân tồn tại và phát triểnđến ngày nay

Trang 8

Quan niệm giáo dục của Khổng Tử là chủ trương khá tiến bộ trong bốicảnh bấy giờ Đây là bước chuyển biến tư tưởng lớn Trong hơn 3000 môn sinhcủa Khổng Tử, Luận Ngữ ghi lại khoảng 30 người, trong số đó chỉ có NamCung Quát và Tư Mã Canh thuộc giới quý tộc, số còn lại đều thuộc nhữngngười bình dân Điều này khác xa thời Tây Chu chỉ có trường công để dạy con

em quý tộc, con quan mà thôi

Khổng Tử cho rằng, trong thiên hạ có bậc Thượng Trí và kẻ Hạ Ngunhưng là số ít “Thượng Trí ấy không có trong thực tế, còn kẻ Hạ Ngu khôngchịu học thì không thể thay đổi và loại người như vậy cũng chẳng nhiều”, phầnlớn là hạng trung nhân có thể dạy bảo được Vậy nên, “hữu giáo vô loại”, dạykhông phân biệt chủng loại, chú ý đến giáo hóa của Khổng Tử là rất tiến bộ.Mục đích giáo hóa là dạy con người đến bậc Nhân Người không có Nhân thìtất phải Trung Nhân với Trung là hai mục đích cơ bản Muốn đạt mục đích ấy,phải gây nên những tính cảm rất hậu và giữ hành vi có chừng mực Đặc biệt,Khổng Tử không chỉ đề xuất tư tưởng giáo dục cho mọi người bằng lời nói màcòn bằng hành động Suốt cuộc đời dạy học, ông không màng danh lợi, bổnglộc mà chỉ chuyên tâm đào tạo cho được lớp người hữu đạo Ông đã thực sự hếtlòng vì “Đạo”

Khổng Tử cũng đề cập đến giáo hóa dân chúng, thu phục dân chúngbằng cách giáo dục cho họ những điều phải Đạo, hợp Lễ Như vậy, đối tượnggiáo dục của Khổng Tử là tất cả mọi loại người Song, xét đến cùng đối tượnggiáo dục của Khổng Tử gồm hai loại: loại thứ nhất là tầng lớp quý tộc thống trị

Họ là những người cai trị dẫn dắt dân chúng nên phải được đào tạo cẩn thận vàđầy đủ, hợp với “Nhân, Lễ, Nhạc” của giới mình Và loại thứ hai là dân chúng.Những người này được giáo dục để vâng lời tầng lớp trên, nghe theo sự cai trịcủa tầng lớp trên Giáo dục là làm cho dân biết nghĩa vụ và quyền lợi, trọng lễnghĩa Làm vua, làm quan có giáo dục thì biết rõ trức trách của mình, khônglàm điều tàn bạo ZhouNanthao đã nhận định rằng: “trong lí thuyết về giáo dụccủa đạo Khổng, người cai trị học cách chăm sóc người dân, còn người dân thìhọc cách vâng lời người cai trị”

Có một số quan điểm cho rằng: tư tưởng giáo dục “hữu giáo vô loại” củaKhổng Tử thể hiện quan điểm thân dân, yêu dân nhưng không phải Khổng Tửvẫn đứng trên quan điểm giai cấp, đứng trên ý thức hệ của giai cấp phong kiến,quý tộc, và giáo dục cũng là bộ phận phục vụ cho tư tưởng giai cấp ấy, phục vụcho mục đích chính trị: giữ yên trật tự ngàn đời của xã hội phong kiến: kẻthống trị - người bị trị Tuy vậy, ta cũng không phủ nhận công lao của Khổng

Trang 9

Tử với sự nghiệp giáo dục dân chúng Nhờ đề xướng của Khổng Tử mà giáodục được mở mang, trình độ dân chúng được nâng lên rõ rệt,văn hiến nhờ vậy

mà càng rực rỡ

2.1.3 Mục đích giáo dục

Mục đích giáo dục bao trùm của Khổng Tử là tạo ra những con ngườithích nghi với địa vị của họ Xã hội tiến bộ theo quan điểm của Nho Giáo là xãhội có thể thống, kỉ cương, lễ nghĩa, luân thường đạo lí Để giữ cái nền dựngnước cho chắc chắn phải có tầng lớp thống trị cai trị tầng lớp dưới (người quântử) và tầng lớp địa vị dưới chịu sự cai trị của tầng lớp trên (kẻ tiểu nhân) Cáichủ đích cuối cùng của Khổng giáo là dạy con người ta thành người nhân nghĩatrung chính, có nhân cách - tức người quân tử “Quân tử học đạo tắc ái nhân,tiểu nhân học đạo tắc sĩ tử giã” (Luận Ngữ), nghĩa là: người quân tử ở ngôi trênnhờ học đạo mà thương mến dân chúng, kẻ tiểu nhân ở bậc dưới nhờ học đạo

mà biết tuân lệnh nhà cầm quyền

Mục đích của học theo Khổng Tử không chỉ để biết đạo “người quân tửhọc để hiểu rõ cái đạo” (Luận Ngữ - Tứ Trương) mà xét đến tận cùng, họcchính là để làm quan, tham gia chính sự quốc gia, “trong lúc xã hội rối ren,không ra làm quan, không phải là người nhân” (Luận Ngữ - Dương Hoá) Giáodục của Khổng Tử cũng nhằm mục đích phục vụ đường lối chính trị: đào tạolớp người kế tục xứng đáng, duy trì củng cố trật tự xã hội đã có từ thời Chu.Như vậy, học trước hết để làm người quân tử với chí khí của bậc đại trượngphu – hình mẫu con người lí tưởng của xã hội phong kiến Người quân tử trướchết phải tu dưỡng đạo đức cá nhân mới làm được việc lớn “Quân tử thực vôcầu bão, cư vô cầu an, mẫn ư sự nhi thận ư ngôn, tựu hữu đạo nhi chính yên,khả vị hiếu học dã dị” (Luận Ngữ - Học Nhi), nghĩa là: người quân tử chớ cótruy cầu cơm ăn được no đủ, chớ có đòi hỏi nơi ở được thanh thản, làm việccần mẫn, nói năng thận trọng, tới chỗ người có đạo để cầu xin uốn nắn sửachữa đối với phẩm chất và học vấn của mình, như thế có thể gọi là hiếu học

2.2 Mô hình con người lí tưởng trong tư tưởng giáo dục của Khổng Tử

Có thể nói, trong văn hoá Trung Quốc, nhân cách người quân tử của Nhogia là sự thể hiện quan trọng tinh thần nhân văn Trung Quốc, mà mô hình bậc

kẻ sĩ, người quân tử của Khổng Tử lại là cơ sở và hạt nhân của nhân cách Nhogia Bậc kẻ sĩ, người quân tử là mẫu người có tính lý tưởng, có tính hiện thực.Trên lý thuyết Nho giáo xây dựng con người huyền thoại “nội thánh ngoạivương” làm gương cho mọi người noi theo Và nó được chuyển hoá vào thực tế

Trang 10

là hình tượng người quân tử, bậc kẻ sĩ Kẻ sĩ là những người có học, được giáodục và trưởng thành lên từ tầng lớp thứ dân, nhờ hết lòng học đạo, học giỏi,thông qua thi cử mà ra làm quan Tiêu chí cơ bản để phân biệt kẻ sĩ với dânthường đó là sự chuyên tâm học đạo, tu dưỡng tinh thần, không chú ý mưu cầulợi ích vật chất “Sĩ bất hoài cư, bất túc dĩ vi sĩ hĩ” (Luận Ngữ - Hiến Vấn),nghĩa là: kẻ sĩ nếu luyến tiếc cuộc sống thảnh thơi thì không đáng làm kẻ sĩnữa Thế nhưng không phải kẻ sĩ nào cũng làm trọn bổn phận “tu thân”, khôngít những kẻ giả danh “kẻ sĩ” hay “giả danh đạo lí” làm lợi “vinh thân, phì gia”

đã làm xơ cứng, biến chất cái hay, cái nhân bản trong ý nghĩa giáo dục kẻ sĩ

Đặc biệt, giáo dục người quân tử là vấn đề cốt yếu Có thể hiểu “quântử” là người có địa vị trong xã hội cổ xưa Đến Khổng Tử, ngoài địa vị cònphải có nhân cách, có vai trò to lớn trong xã hội, được mọi người thừa nhận vàkính trọng Người quân tử hướng tới giá trị tinh thần mà quên đi các nhu cầuvật chất “Quân tử mưu đạo bất mưu thực Canh dã, nỗi tại kì trung hĩ Học giã,lộc tài kì trung hĩ Quân tử ưu đạo bất ưu bần” ( Luận Ngữ - Vệ Linh Công),nghĩa là: người quân tử chỉ suy tới học thuật mà không chú ý đến ăn mặc Đicày ruộng khó tránh khỏi đói rét Học tập sẽ có hy vọng được bổng lộc Điều lolắng của người quân tử là không học được chân lí, chứ không sợ bị đói nghèo.Tuy nhiên, Khổng Tử đã hạn chế khi chưa nhìn ra vai trò quyết định của hoạtđộng sản xuất vật chất Muốn đạt đến nhân cách người quân tử thì từ bên trongphải “học rộng theo văn” – bác học vu văn, mượn trí tuệ của cổ nhân để bổsung bên trong của mình, làm thanh tĩnh nội tâm của mình Từ bên ngoài thìphải “lấy lễ mà chế ước nó” - ước chi di lễ, làm một người hiểu phép tắc, giữđúng trật tự Làm như vậy là làm theo cái nhân trong lòng

Mục đích cao nhất của giáo dục Khổng Tử là tạo nên những bậc kẻ sĩ,người quân tử ham hiểu biết, kinh bang tế thế, có nhân cách, có ý thức tráchnhiệm với cộng đồng, nhằm bổ sung cho giai cấp quý tộc thực thi “chính sách”

an nước lợi dân Họ là những lực lượng hạt nhân trong cuộc sống đời thườngcùng các thế lực cầm quyền duy trì trật tự phong kiến ôn hoà Đây chính là môhình trác tuyệt về con người lí tưởng: người quân tử, bậc kẻ sĩ Song, chính họ

về phương diện nào đó lại là lực lượng bảo thủ, hạn chế, kéo dài sự trì trệ, trầmkha của chế độ phong kiến phương Đông

2.3 Nội dung giáo dục con người của Khổng Tử

Sử cũ chép lại, xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu - Chiến Quốc loạn lạc

đẫm máu, các thế lực giành giật quyền lực, người dân sống trong cảnh lầm thankhổ cực Cảnh “con giết cha, tôi giết vua” diễn ra thường xuyên Mấy trăm

Trang 11

nước chư hầu thời Chu lần lượt bị tiêu diệt, còn lại vài chục nước vào thờiXuân Thu và còn bảy nước vào thời Chiến Quốc Bối cảnh xã hội bấy giờ xuấthiện nhiều nhà tư tưởng, đưa ra nhiều học thuyết tìm cách lý giải và đề xuấtbiện pháp ổn định trật tự xã hội Nho giáo giáo dục “đạo làm người” cho tất cảmọi người, để xã hội từ “loạn” thành “trị” Khổng Tử từng nói “thiên hạ hữuđạo Khâu bất dữ dịch giã” Dạy kiến thức lấy Tứ thư, Ngũ kinh làm giáo trìnhcăn bản Tứ thư là bốn bộ sách của Khổng Tử gồm: “Dục học”, “Trungdung”, “Luận ngữ” và “Mạnh tứ” Ngũ kinh là năm bộ sách của Khổng Tửđược coi như kinh điển gồm: “Kinh dịch” (giải thích sự biến hoá của trời đất),

“Kinh thi” (chép ca, ca dao lưu truyền trong dân gian từ thời cổ đến đời Chu),

“Kinh thơ” (chép lịch sử từ đời Nghiêu tới Đông Chu), “Kinh lễ” (chép cácnghi lễ, phép tắc ) và “Kinh nhạc” (dạy nhạc theo đạo Thánh hiền) Dạy đạođức lấy Tam cương và Ngũ thường làm căn bản Tam cương gồm: Vua làrường cột của tôi Cha là rường cột của con Chồng là rường cột của vợ Ngũthường gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín

“Thiên hạ chi đạt đạo ngũ, sở dĩ hành chi giả tam, viết quân thần dã, phụ tử dã,phu phụ dã, côn đệ giãm bằng hữu chi giao dã” (Trung Dung), nghĩa là: cái đạtđạo của thiên hạ có năm điều mà mọi người thường làm được ba điều Nămđiều đạt đạo là: vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em và tình bầu bạn tương giao

Nếu “ngũ luân” là nhưng quan hệ cơ bản của đạo thì tư tưởng “chínhdanh” là điều kiện, phương thức thực hành “đạo” Thực hiện các nghĩa vụ,trách nhiệm bổn phận tương ứng với nó thì danh mới chính “Chính danh” làphương tiện là hệ quả của xã hội có trật tự kỉ cương “hữu đạo” Giáo dục conngười hữu đạo chính là dạy con người biết và sống một cách “chính danh”

Trong quan hệ gia đình, cơ bản nhất là phải có đạo Hiếu Có thể nói đạoHiếu là gốc cơ bản của con người, bởi ai sinh ra mà không có cha mẹ Tìnhcảm với cha mẹ có tính tự nhiên huyết thống, mạnh mẽ như những nhu cầu bảnnăng Người biết hiếu thảo với cha mẹ thì sẽ không trái ngược với bậc bề trên

Từ đó, cho rằng dạy con người “biết giữ gìn nết hiếu là biết nắm cái gốc đó”.Khổng Tử nói nhiều về đạo Hiếu “Lập ái tự thân thỉ, giáo dân mục giã Lập

Trang 12

kính tự trưởng thỉ, giáo dân thuận giã Giáo dĩ từ mục, nhi dân quý hữu thângiáo dĩ kính trưởng, nhi dân quý dụng mệnh Hiếu dĩ sự thân thuận dĩ thínhmệnh, thố chủ thiên hạ vô sở bất hành” (Lế ký: Tế nghĩa, XXIV) Nghĩa là:dựng lòng ái khởi đầu từ cha mẹ, là dạy dân hoà mục vậy Dựng lòng kính khởiđầu từ người huynh trưởng, là dạy dân biết quý cha mẹ Lấy kính người huynhtrưởng mà dạy dân, thì dân biết quý sự theo mệnh người trên Hiếu là để thờcha mẹ, thuận là để vâng mệnh người trên, đem những điều ấy mà thi thố rathiên hạ thì không có điều gì là không làm được.

Người có hiếu trước hết phải nuôi cha mẹ Nuôi phải kính chứ khôngkính không phải là Hiếu Khi cha mẹ còn không bao giờ làm điều gì cho cha

mẹ lo buồn Bởi vậy đi đâu xa phải nói cho cha mẹ biết chỗ đi cho cha mẹ khỏi

lo và nhỡ có việc gì còn tìm gọi được “Phụ mẫu tại, bất viễn du, du tất hữuphương” (Luận Ngữ - Lý Nhân)

Cái lễ cuối cùng của sự Hiếu là lấy Hiếu gây thành đạo Nhân, vì người

có hiếu tức là có nhân Nhân với hiếu đi liền với nhau, cho nên người có địa vịtrọng yếu trong xã hội phải chú ý về đạo hiếu lắm “Quân tử dốc ư thân, tắc dânhưng ư nhân; cố cựu bất di, tắc dân bất thân” (Luận Ngữ - Thái Bá), nghĩa là:người quân tử hậu với cha mẹ, thì dân hứng khởi làm điều nhân, không bỏ sótnhững người cố cực, thì dân không có bạc tục

Trong gia đình quan trọng nhất là đạo “hiếu”, ngoài xã hội cơ bản nhất làđạo “trung” Kẻ hiếu thảo trong gia đình thì ít ai lạc trái đạo “trung”, “hiếu” là

cơ sở của đạo “trung” Dạy đạo làm người cơ bản chú trọng đạo làm con phải

“hiếu”, đạo làm tôi phải “trung”, nên Đại học viết “hiếu là để thờ vua” Khổng

Tử luôn luôn đề cao đạo “trung” của bề tôi với vua Tuy nhiên, ông cũng nhấnmạnh “vua nhân tôi trung” hay “quân xử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung”.Làm “tôi” nhất thiết phải trung, nhưng chỉ trung thành với các bậc “vua xứng làvua” mà thôi Cả đời Khổng Tử bôn ba khắp các nước chư hầu, gặp nhiều khốnkhó, chỉ mong tìm được vị “vua đáng làm vua” nhưng đều thất bại Ông ướcmong ngày nào đó có “vua sáng” để thiên hạ thái bình Và làm tôi thì phải đemtài, đức của mình ra giúp vua hoàn thành nghiệp lớn, không kể đến bổng lộc,danh dự

Ngoài nội dung giáo dục “đạo”, Khổng Tử còn chú trọng giáo dục “đức”cho con người “Đức” là cái sở đắc do hành đạo mà ra Bởi vậy, “đạo gắn liềnvới “đức” Đạo làm người có nội dung cơ bản dựa vào quan hệ “ngũ luân”, đức

là sự khái quát cái giá trị cơ bản của con người gọi là “ngũ thường” Dạy conngười “đạo” và “đức” cũng chính là dạy “luân thường” Giáo sư Trần Văn

Trang 13

Giàu có nhận xét rất hợp lí về nội hàm của đức: “Khổng dạy điều đạt đức lànhân, trí, dũng Ưa học là gần trí, cố làm là gần nhân, biết xấu hổ là gần dũng”.Đức “nhân” là đức quan trọng nhất của con người “Lập nhân chi đạo, viếtnhân dữ nghĩa” (Kinh Dịch) Đức nhân là đức cơ bản, vì nó là nội dung lớn,bao chứa trong nó các đức khác “Nhân” vừa là tu thân, vừa là ái nhân, vừa là

sở kỷ, vừa là tiếp vật Nó là trung tâm của đạo đức Theo Khổng Tử từ đó màphát ra các đức khác, và các đức khác tụ cả ở nó Cho nên, Phùng Hữu Lan gọi

nó là “toàn đức”, Lâm Ngữ Đường gọi đó là sự minh triết lí tưởng

Khổng Tử vốn nổi tiếng là người giỏi lễ Ông không bao giờ sao nhãngdạy cho con người đức lễ Bởi lễ là một phạm trù cơ bản, nó là hình thức thểhiện trật tự kỉ cương, nề nếp ở con người và xã hội Nó phổ biến ở mọi conngười, trong gia đình và xã hội Chữ lễ trước tiên dùng để nói cách thờ thầncho được phúc, nó chỉ nghĩa thuộc phần cúng tế mà thôi Sau dùng rộng ra gồm

cả những quy củ mà phong tục tập quán xã hội thừa nhận…Sau cùng chữ lễ lạibao gồm cả quyền bính của nhà vua và cách tiết chế hành vi của dân chúng

Khổng Tử nói rất nhiều về những quy định cụ thể của lễ và cả nhữngcông cụ của lễ Giáo dục lễ là dạy cho con người những quy định về cách ứng

xử, đi đứng, giao tiếp, ăn mặc…đúng với danh vị Dạy cho con người ta tiếtchế hành động phù hợp với chuẩn mực xã hội Về tác dụng của lễ, Khổng Tửnói “Lễ quý ở chỗ dứt bỏ mọi sự xấu khi nó chưa mọc mầm, làm nảy nở lòngcung kính khi nó còn rất nhỏ bé Làm cho dân ngày càng gần với điều lành, xavới điều ác mà không biết” (Đại đái lễ kí - Lễ Tế)

Bên cạnh đó, Khổng Tử chú trọng giáo dục nhạc “nhạc giả âm chi sở dosinh giã”, nghĩa là: nhạc do âm mà sinh ra Âm khởi phát ra tự lòng người.Lòng người cảm ở ngoại vật mà động, cho nên mới hình thành ra cái thanh.Những thanh tương ứng với nhau rồi biến ra thành thương, tức là thành cungbậc cao thấp, gọi là âm Âm chia ra làm năm bậc: cung, thương, giốc, chuỷ, vũ.Đem các âm so vào nhạc khí đánh ra tiếng Vậy, nhạc chính là nói chung cảchuông trống, đàn hát, múa…

Nhạc với lòng người cảm hoá lẫn nhau Lòng người cảm xúc trước cảnh

mà thành ra nhạc Tiếng nhạc cảm lòng người khiến lòng người theo Ngoạicảnh đau đớn lòng người thương xót, âm thanh tiêu sái Ngoại cảnh tốt lành thìtất trong lòng tốt lành, vui vẻ, âm thanh thong thả, êm đềm

Thánh nhân biết nhạc có thế lực mạnh về đường đạo đức nên mới chếnhạc để dạy người, “nhạc giã giả, thánh nhân chi sở lạc giã, nhi khả dĩ thiệndân tâm, kỳ cảm nhân thân, kỳ di phong dịch tục, cố tiên vương trứ kỳ giao

Trang 14

yên” (Nhạc ký) Nghĩa là: nhạc là cái vui vẻ của thánh nhân, mà khiến cho lòngdân trở nên tốt lành, có thể cảm lòng người rất sâu và di phong dịch tục được,cho nên tiên vương muốn đặt ra dạy nhạc”.

Nhạc cũng như lễ, có ảnh hưởng về chính trị, “thanh âm chi đạo, dữchính thông hỹ” (Nhạc ký) Nghĩa là: đạo thanh âm thông với chính trị vậy Hễchính trị hay thì nghe tiếng nhạc hay, chính trị dở thì nghe nhạc dở Âm nhạcđời trị thì nghe yên tĩnh, vui vẻ, âm nhạc đời loạn thì nghe oán giận tức tối, âmnhạc lúc mất nước thì nghe bi ai, sầu thảm…Vì thế “thẩm nhạc dĩ tri chính”(Nhạc ký), nghĩa là: xét cho kỹ âm nhạc để biết chính trị hay dở

Lễ nhạc quan hệ đến luân lí, phong tục và chính trị mật thiết, cho nênKhổng Tử tìm cái căn nguyên trong đạo của trời đất, cho lễ là cái trật tự củatrời đất, nhạc là cái điều hoà của trời đất

Như vậy, nội dung bao trùm giáo dục Khổng Tử là dạy cho con ngườinhân cách làm người là “đạo” và “đức” Ông coi đó là cái thanh cao, cái

“thiện” mà con người cần hướng tới

2.3.2 Khổng Tử chú trọng giáo dục các tri thức về văn hoá, chính trị

Khổng Tử dạy: “đệ tử nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ, cẩn nhi tín, phiếm áichúng nhi nhân thân Hành hữu chỉ lực tắc dĩ học văn” (Luận Ngữ ) Nghĩa là:

kẻ đệ tử khi vào thì thảo với cha mẹ, khi ra thì kính anh chị và người lớn tuổi,làm việc gì cũng phải cẩn thận, thương tất cả mọi người, hay thân cận vớingười nhân đức Làm được bao nhiêu việc đó hãy học qua văn chương lụcnghệ

Giáo dục căn bản nhất của Khổng Tử là chú trọng giáo dục nhân cách,đạo đức thông thường Ở bước cao hơn, Khổng giáo dạy cho con người nhữngtri thức về văn hoá, chính trị nhằm đào tạo những mẫu người phục vụ thể chếchính trị phong kiến

Có thể hiểu văn là tri thức nói chung Trước hết nó là văn chương, nghệthuật, làm đẹp nhân cách phong phú tâm hồn con người Hơn thế, văn còn làcác tri thức khác về điển tích lịch sử, là văn hiến nói chung giúp con người trởnên hoàn thiện, thành người “kinh bang tế thế” tham gia vào chính sự, bình ổn

xã hội “Văn” là tri thức dành riêng cho những người có tư chất và đã đạtnhững kết quả nhất định trên con đường tu dưỡng Văn cũng được hiểu là cáiđẹp của nhân cách con người Học văn là học tu dưỡng theo các nhân cách đẹp,rèn luyện nhân cách theo cái thiện Học văn cũng là để hoàn thiện đạo người,suy nghĩ và hành động hợp với đạo trời

Ngày đăng: 23/07/2018, 13:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w