1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lý luận Mác – Ăngghen về vai trò lịch sử của giai cấp tư sản trong tác phẩm “tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản và ý nghĩa của nó đối với cách mạngViệt Nam

38 336 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 205,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Đầu tác phẩm “Tuyên Ngôn Của Đảng Cộng Sản” C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định một kết luận vừa mang tính chất phương pháp luận và tính quy luật của xã hội loài người. Đó là “Lịch sử tất cả các xã hội từ trước cho đến nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp”. Từ khi chế độ tư hữu ra đời, xã hội loài người luôn là mâu thuẫn giai cấp, đối kháng giai cấp giữa người giàu và người nghèo, nô lệ và chủ nô, tự do và người nô lệ…nhìn nhận quy luật này lại càng rõ nét và chính xác hơn khi nó được biểu hiện hay bộc lộ trong nền sản xuất đại công nghiệp. Nơi mà có nhà tư bản (giai cấp tư sản) và công nhân làm thuê (giai cấp vô sản). Tác phẩm có viết giai cấp vô sản chỉ có tự giải phóng mình thì mới thoát khỏi áp bức của giai cấp bóc lột của giai cấp tư sản. Là giai cấp mà đã làm giàu chính trên máu và nước mắt của người công nhân hay chính là người chiếm không giá trị thặng dư của người công nhân làm ra. Đó là một giai cấp nó chỉ phục vụ nhu cầu lợi ích cho giai cấp nó. Tuy nhiên, không thể nào mà có thể phủ nhận được vai trò hết sức cách mạng trong lịch sử “giai cấp tư sản trong quá trình thống trị chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra được một lưc lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả thế hệ trước kia gộp lại”, chính giai cấp tư sản đã làm cuộc cách mạng thay thế giai cấp phong kiến và thay vào đó một xã hội văn minh hơn, phát triển hơn. Điều đó là không thể nào trối cãi được. Nhưng thông qua quá trình “giải phẫu” xã hội tư bản mà Mác – Ăng-ghen đã chỉ ra sứ mệnh giai cấp công nhân là người đào mồ trôn chủ nghĩa tư bản. Hiện nay với sự phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ, đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Nhưng nó lại nằm trong tay giai cấp tư sản là phần nhiều. Chủ nghĩa tư bản phát triển vượt giới hạn của nó với những hình thức mới hơn và tinh vi hơn. Rõ ràng chúng không dãy chết mà chúng đang mạnh lên rất nhiều. Nhưng với sự phát triển đó chính nó đang tự “phủ định chính mình”. Bởi, ngày nay với sự phát triển của đội ngũ công nhân tri thức cộng với những mâu thuẫn vốn có trong lòng xã hội tư bản tất yếu xã hội đó phải thay bằng một xã hội mới hơn. Đó là xã hội Cộng sản chủ. Xuất phát từ những lý do đó việc học tập và nghiên cứu tác phẩm nói chung và giai cấp Tư sản nói riêng có ý nghĩa cả về mặt lý luận và mặt thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Không chỉ khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta mà chúng ta cần có những cái nhìn mới mẻ hơn và xác thực hơn. Nước ta đang trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thì việc phát huy hay thừa nhận vai trò giai cấp tư sản cùng tham gia vào sự nghiệp chung của cả nước là một tất yếu. Đặc biệt tham gia vào các thành phần kinh tế, có sự đóng góp quan trọng vào việc phát triển khoa học – công nghệ, góp phần rút ngắn quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Trong cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc đổi mới hiện nay. Nhưng dù sao dưới bất cứ hình thức nào thì vẫn phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam – đội tiên phong của giai cấp công nhân thì con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta sẽ không rơi vào chệch hướng. Với ý nghĩa đó em xin chọn vấn đề “Lý luận Mác – Ăngghen về vai trò lịch sử của giai cấp tư sản trong tác phẩm “tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản và ý nghĩa của nó đối với cách mạngViệt Nam”. Làm đề tài kết thúc học phần này.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đầu tác phẩm “Tuyên Ngôn Của Đảng Cộng Sản” C.Mác vàPh.Ăngghen đã khẳng định một kết luận vừa mang tính chất phương pháp

luận và tính quy luật của xã hội loài người Đó là “Lịch sử tất cả các xã hội

từ trước cho đến nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp” Từ khi chế độ tư hữu

ra đời, xã hội loài người luôn là mâu thuẫn giai cấp, đối kháng giai cấp giữangười giàu và người nghèo, nô lệ và chủ nô, tự do và người nô lệ…nhìn nhậnquy luật này lại càng rõ nét và chính xác hơn khi nó được biểu hiện hay bộc lộtrong nền sản xuất đại công nghiệp Nơi mà có nhà tư bản (giai cấp tư sản) vàcông nhân làm thuê (giai cấp vô sản) Tác phẩm có viết giai cấp vô sản chỉ có

tự giải phóng mình thì mới thoát khỏi áp bức của giai cấp bóc lột của giai cấp

tư sản Là giai cấp mà đã làm giàu chính trên máu và nước mắt của ngườicông nhân hay chính là người chiếm không giá trị thặng dư của người côngnhân làm ra Đó là một giai cấp nó chỉ phục vụ nhu cầu lợi ích cho giai cấp

nó Tuy nhiên, không thể nào mà có thể phủ nhận được vai trò hết sức cách

mạng trong lịch sử “giai cấp tư sản trong quá trình thống trị chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra được một lưc lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả thế hệ trước kia gộp lại”, chính giai cấp tư sản đã

làm cuộc cách mạng thay thế giai cấp phong kiến và thay vào đó một xã hộivăn minh hơn, phát triển hơn Điều đó là không thể nào trối cãi được Nhưngthông qua quá trình “giải phẫu” xã hội tư bản mà Mác – Ăng-ghen đã chỉ ra

sứ mệnh giai cấp công nhân là người đào mồ trôn chủ nghĩa tư bản

Hiện nay với sự phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ, đãtrở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Nhưng nó lại nằm trong tay giai cấp tưsản là phần nhiều Chủ nghĩa tư bản phát triển vượt giới hạn của nó với nhữnghình thức mới hơn và tinh vi hơn Rõ ràng chúng không dãy chết mà chúngđang mạnh lên rất nhiều Nhưng với sự phát triển đó chính nó đang tự “phủ

Trang 2

định chính mình” Bởi, ngày nay với sự phát triển của đội ngũ công nhân trithức cộng với những mâu thuẫn vốn có trong lòng xã hội tư bản tất yếu xã hội

đó phải thay bằng một xã hội mới hơn Đó là xã hội Cộng sản chủ

Xuất phát từ những lý do đó việc học tập và nghiên cứu tác phẩm nóichung và giai cấp Tư sản nói riêng có ý nghĩa cả về mặt lý luận và mặt thựctiễn của cách mạng Việt Nam Không chỉ khẳng định con đường đi lên chủnghĩa xã hội của chúng ta mà chúng ta cần có những cái nhìn mới mẻ hơn vàxác thực hơn Nước ta đang trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, pháttriển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Thì việc phát huyhay thừa nhận vai trò giai cấp tư sản cùng tham gia vào sự nghiệp chung của

cả nước là một tất yếu Đặc biệt tham gia vào các thành phần kinh tế, có sựđóng góp quan trọng vào việc phát triển khoa học – công nghệ, góp phần rútngắn quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Trong cách mạng giảiphóng dân tộc cũng như trong công cuộc đổi mới hiện nay Nhưng dù saodưới bất cứ hình thức nào thì vẫn phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộngsản Việt Nam – đội tiên phong của giai cấp công nhân thì con đường đi lênchủ nghĩa xã hội của chúng ta sẽ không rơi vào chệch hướng Với ý nghĩa đó

em xin chọn vấn đề “Lý luận Mác – Ăngghen về vai trò lịch sử của giai cấp

tư sản trong tác phẩm “tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản và ý nghĩa của nó đối với cách mạngViệt Nam” Làm đề tài kết thúc học phần này.

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu: trên cơ sở lý luận của các nhà kinh điển về vai

trò của giai cấp tư sản trong tác phẩm Từ đó, Đề tài đi tìm ý nghĩa và phântích quá trình hình thành cũng như vai trò của giai cấp tư sản Việt Nam quatừng giai đoạn của lịch sử, đặc biệt trong công cuộc đổi mới hiện nay

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

Đề tài xin được trình bày sơ lược về tiểu sử và sự nghiệp của Mác –Ăng-ghen và vai trò của giai cấp tư sản trong tác phẩm “Tuyên ngôn của

Trang 3

Đảng cộng sản” Từ đó chỉ ra nghiên cứu tác phẩm có ý nghĩa gì với cáchmạng Việt Nam, đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.

.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Lý luận của Mác –Ăng-ghen về vai trò giai

cấp tư sản trong tác phẩm “Tuyên ngôn Đảng cộng sản” và ý nghĩa của nó đốivới cách mạng Việt Nam hiện nay

* Phạm vi nghiên cứu: vai trò của giai cấp tư sản trong tác phẩm

“TNĐCS” của Mác – Ăng-ghen Hình thành và vai trò của giai cấp tư sảntrong thực tiễn cách mạng Việt Nam (1858-nay)

4 Cơ sở lý luận và phương pháp luận

* Cơ sở lý luận: chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Các

quan điểm đường lối chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam

* Phương pháp luận: Đề tài sử dụng chủ yếu là phương pháp khoa học

của chủ nghĩa Mác – Lênin, phương pháp phân tích, tổng hợp, nghiên cứu tàiliệu…

5 Kết cấu tiểu luận: Ba phần ba chương Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 4

NỘI DUNG

Chương I: Lý luận của Mác – Ăng-ghen về vai trò của giai cấp tư sản trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”

1.1 Khái quát tác giả, tác phẩm

1.1.1 Khái quát về C.Mác – Ăng-ghen

* Tiểu sử và sự nghiệp của C.Mác (1818-1883)

Lịch sử nhân loại và phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân trêntoàn thế giới suốt tiến trình củ mình phải cảm ơn những người như C.Mác -Ph.Ăng-ghen, những con người đã hi sinh cả cuộc đời mình cho mình cho sựnghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, cho độc lập tự do và bình đẳng trên toàn thếgiới Với mục tiêu và lý tưởng cao cả đưa xã hội loài người tiến đến một xã hội ở

đó không có áp bức bất công đó là xã hội cộng sản chủ nghĩa Một con đườngkhông phải ai cũng làm được C.Mác – Ph.Ăng-ghen, những người có bộ óc mẫntiệp, có khả năng phân tích và tổng hợp thực tiễn, để lãnh đạo phong trào côngnhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới tiến lên xã hội cộng sản chủ nghĩavới tinh thần “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại” Thì “Tuyên ngôn Đảng cộngsản” là cương lĩnh trên con đường đó

C Mác sinh ngày 5 tháng 5 năm 1818 ở thành phố Tơriơ trong giađình luật sư Heinrich Marx Năm mười hai tuổi (1830) C Mác vào họctrường trung học ở Tơriơ Sức học của C Mác thuộc loại giỏi, đặc biệt C.Mác nổi bật ở những lĩnh vực đòi hỏi tính độc lập sáng tạo C.Mác cũng tỏ ra

có năng lực về toán học Mùa thu 1835, C Mác tốt nghiệp trường trung học,sau đó không lâu, tháng mười 1835, C Mác vào trường đại học tổng hợpBonn để học luật Hai tháng sau theo lời khuyên của bố C Mác tiếp tục học ởtrường Đại học Tổng hợp Berlin Ở trường Đại học, năm 1836, ngoài luậthọc, sử học và ngoại ngữ C Mác bắt đầu đi sâu nghiên cứu triết học Mùaxuân 1837, C Mác bắt đầu nghiên cứu kỹ những tác phẩm của Hê-ghen, sang

Trang 5

năm 1839 thì vùi đầu vào nghiên cứu triết học, suốt cả năm 1939 và một phầncủa năm 1840 C Mác tập trung nghiên cứu những vấn đề lịch sử triết học Cổđại Ngày 15 Tháng Tư 1841, khi mới 23 tuổi, C Mác nhận được bằng Tiến sĩtriết học với luận án Về sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Démocrite vàtriết học tự nhiên của épicure tại trường Iêna

Tháng Năm 1843, C Mác đến Kroisnak, một thành phố nhỏ vùngRhein và ông đã chính thức làm lễ thành hôn với Jenny vôn Vestphalen

* Tiểu sử va sự nghiệp của Ph.Ăng-ghen

(Sinh ngày 28 tháng 11 năm 1820 mất ngày 5 tháng 8 năm 1895) nhà líluận chính trị, là một triết gia và nhà khoa học người Đức thế kỷ 19, ngườicùng với Karl Marx đã sáng lập và phát triển chủ nghĩa cộng sản và là lãnh tụcủa phong trào công nhân thế giới và Quốc tế I

Ông là con trai trưởng của một nhà sản xuất sợi dệt giàu có người Đức.Thân phụ ông là một chủ tư bản lớn, rất sùng đạo, tháo vát về kinh doanh, giao

du rộng, nhưng về chính kiến thì rất bảo thủ Mẹ ông là một trí thức kinh tế,nhạy cảm, đôn hậu, hoạt bát, thích hài hước và yêu văn học nghệ thuật Ôngngoại của Engels là một giáo sư đại học về ngôn ngữ học, thường kể cho cháungoại mình nghe chuyện về các anh hùng trong các thần thoại Hy Lạp cổ đại vàtrong các truyền thuyết dân gian Đức Từ nhỏ ông dã là một người thông minh

và học giỏi Con đường học hành của ông là không đến nơi những ông là mộtngười am hiểu tri thức rất nhiều lĩnh vực như toán học, triết học, vật lý học, thiênvăn học…Ông là một tấm gương về con đường tự học Ông sinh ra trong mộtgia đình theo đạo cơ đốc chính vì thế hồi nhỏ ông chịu ảnh hưởng của nhữnggiáo lý đó Nhưng rồi cũng chính ông lại hoài nghi và trái những giáo lý đó Khiông chứng kiến cuộc sống hiện thực đau khổ và bất công của xã hội hiện thực.Cũng chính vì thế ông đã tìm đến những tác phẩm Hegel đến với tư tưởng biệnchứng và cùng với C.Mác sáng lập ra chủ nghĩa Mác

Trang 6

1.1.2 Hoàn cảnh lịch sử ra đời và kết cấu tác phẩm

* Hoàn cảnh lịch sử ra đời

Tác phẩm tuyên ngôn đảng cộng sản ra đời khoảng những 3/1/1848.chính Ăng-ghen đã nói trong tác phẩm của mình là viết tác phẩm này vàođúng dịp khởi nghĩa Beclin Vậy thì tại sao lại diễn ra cuộc khởi nghĩa Beclin

và tình hình nước Đức ra sao? Và tình hình nước Đức như thế nào và đó cũngchính là nguyên nhân cơ bản dẫn đến khởi nghĩa Beclin Nước Đức lúc này bịchế độ phong kiến chia ra làm nhiều vương quốc nhỏ là 31 tiểu bang, 4 thànhphố tự trị Đến năm 1847 nước Đức khủng hoảng kinh tế trầm trọng nông dânthì bị mất mùa, công nghiệp khủng hoảng Trước những biến động đó gây rakhiến cho tầng lớp nhân dân lao động nghèo khổ là những người chịu đựngnhiều nhất Chính vì lẽ đó lại càng làm cho mâu thuẫn xã hội lại càng bị đẩylên cao bao giờ hết, đó chính là mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân và giai cấpphong kiến, giữa giai cấp phong kiến và giai cấp tư sản…nhưng nổi bật hơn

cả là mâu thuẫn của giai cấp nhân, thợ thủ công với giai cấp tư sản Từ đó, đãdẫn đến cuộc khởi nghĩa Beclin 2/1848

Các ông phân tích tình hình lực lượng cách mạng ở nước Đức đầu năm

1848 rằng ở nước Đức đã tạo ra các điều kiện đủ thuận lợi để giai cấp tư sảnthực hiện sứ mệnh lịch sử của mình thống nhất nước Đức để xóa bỏ chế độphong kiến thối nát Nhưng giai cấp tư sản đã không làm như vậy mà điềuđình với phong kiến cho nên giai cấp tư sản thành lập nội các tư sản với triềuđình phong kiến rồi quay lưng lại với giai cấp công nhân và nhân dân laođộng Họ chủ trương cải cách giành chính quyền giành tự do dân chủ chomình bằng cách duy trì chế độ quân chủ lập hiến Như vậy với những mâuthuẫn giữa phong kiến và tư sản, phong kiến và nông dân, công nhân và tưsản thì nhiệm vụ đặt ra lúc này chính là Giai cấp tư sản có nhiệm vụ là phảilật đổ chế đổ chế độ phong kiến và với mâu thuẫn của giai cấp công nhân vớigiai cấp tư sản thì giai cấp công nhân có nhiệm vụ là lật đổ sự thống trị củagiai cấp phong kiến Chính vì lẽ đó trong tác phẩm mà các ông đã dùng một

Trang 7

từ vô cùng đắt giá đó là “Đã đến lúc” Đã đến lúc cũng chính là nó sẽ diễn ra

không sớm hơn và cũng không muộn hơn, có nghĩa là phù hợp với cả điềukiện chủ quan và khách quan cụ thể:

- Điều kiện kinh tế - xã hội dẫn đến sự ra dẫn đến sự ra của “Tuyênngôn của Đảng cộng sản”

+, Điều kiện kinh tế

Đầu thế kỷ XIX cuộc cách mạng công nghiệp đã hình thành ở Anh Và nó

đã đang được đẩy mạnh ở Pháp và một số nước ở Tây Âu khác, lực lượng sảnxuất phát triển hơn trước đó rất nhiều Đặc biệt từ năm 40 của thế kỷ XIX quan

hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trở thành quan hệ sản xuất thống trị làm cho mâuthuẫn nội tại trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tăng lên không ngừng

Đó chính là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá của lực lượng sản xuất với quan

hệ sản xuất tư nhân tư bản chủ nghĩa Cho nên chính lực lượng sản xuất đó nó sẽphá tan quan hệ mà được coi chính là xiềng xích cản trở sự phát triển của lựclượng sản xuất Thông qua một cuộc cách mạng do chính nhân tố cách mạng ấytiến hành là giai cấp công nhân

+, Mặt xã hội

Do những mâu thuẫn trong lĩnh vực kinh tế nó sẽ biểu hiện ra mâuthuẫn trong lĩnh vực đời sống xã hội Biểu hiện ra mâu thuẫn giữa giai cấpcông nhân với giai cấp tư sản Mâu thuẫn đó tăng lên không ngừng và ngàycàng gay gắt hơn Cụ thể, phong trào lớn của giai cấp công nhân đã chứng tỏmình là một lực lượng xã hội to lớn, đóng vai trò quan trọng trong đời sốngchính trị - xã hội Ở Pháp với sự nổi dậy của công nhân thành phố Lyông

(Pháp) năm 1831 bị đàn áp và sau đó nổ ra 1834 “Đã vạch ra một điều quan trọng- như một tờ báo chính thức của chính phủ hồi đó đã nhận định- đó là cuộc đấu tranh bên trong diễn ra trong một xã hội, giữa giai cấp của những người có của và những kẻ không có gì hết…” Ở Anh, phong trào Hiến trương

của công nhân trở thành phong trào chính trị có tính chất quần chúng rộng lớn

vào cuối những năm 30 của thế kỷ XIX là “phong trào cách mạng vô sản to

Trang 8

lớn đầu tiên, thực sự có tính chất quần chúng và hình thức chính trị” Ở Đức

còn đang vào đêm trước của cuộc cách mạng tư sản song đã làm cho giai câp

vô sản lớn nhanh, nên cuộc đấu tranh của thợ Dệt ở Xilêdi và cũng mang tínhchất giai cấp tự phát và đã đưa đến sự ra đời của một tổ chức vô sản cáchmạng Như vậy là thông qua ba phong trào đấu tranh của giai cấp công nhândần họ đã ý thức được nhiệm vụ của mình đấu tranh lợi ích cho mình Từ đócác phong trào không còn tính chất nhỏ lẻ le lói ẩn náu ở nơi nào đó trongtừng công xưởng mà nó công khai trở thành một lực lượng độc lập Đó chính

là biểu hiện trưởng thành của giai cấp công nhân Cái mà giai cấp tư sản gọi

là bóng ma đang ám ảnh Như Lênin nhận xét “Cái sợ không phải ở việc công nhân đấu tranh bằng bạo lực mà họ sợ đấu tranh bằng hoà bình”.

Những phong trào cách mạng nổ ra với quy mô và tính chất ngày càng cao đãđánh dấu một thời kỳ đấu tranh có tính chất độc lập của giai cấp công nhân,

đã chứng tỏ giai cấp công nhân đã bước lên vũ đài chính trị, đã trở thành lựclượng chính trị độc lập Mặc dù những phong trào này thất bại nhưng nó thực

sự là một hồi chuông đánh dấu sự trưởng thành cũng như phát triển của phongtrào công nhân Các nhà kinh điển cho rằng chính bây giờ đã đến lúc khi có

sự chín muồi của điều kiện kinh tế - xã hội phát triển, mâu thuẫn lực lượngsản xuất ngày càng trở nên gay gắt

- Điều kiện về mặt tư tưởng lý luận và tổ chức

+, Mặt tư tưởng

Tức là phải có những học thuyết mang tầm lý luận khái quát cao, sâuuyên bác, nắm bắt được những quy luật khách quan, dự kiến đưuọc sự pháttriển vận động trong tương lai Muốn vậy thì không là gì khác phải đứng trênlập trường của giai cấp công nhân phải hiểu họ, chiến đấu cùng họ, hy sinh vìmục tiêu cao cả của nhân loại

Học thuyết Mác ra đời là kết quả của quá trình gạt bỏ những cái cũtrong quá trình chuyển biến lập trường chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duyvật biện chứng Từ lập trường của những nhà dân chủ cách mạng sang lập

Trang 9

trường cộng sản chủ nghĩa Trước khi các ông là những thủ lĩnh của phongtrào cách mạng và công nhân trên toàn thế giới thì các ông đã là những nhànhân đạo điều thể hiện rất rõ qua luận văn tốt nghiệp trung học phổ thông củaC.Mác C.Mác viết trong bài luận tốt nghiệp với nhan đề “những ý nghĩ củamột thanh niên khi chọn nghề” anh thanh niên Mác phê phán việc lựa chọn

nghề trên cơ sở quyền lợi ích kỷ hoặc thuần tuý vật chất “lịch sử thừa nhận những vĩ nhân là những người làm việc vì mục đích chung, và do đó bản thân

họ cũng trở nên cao thượng hơn, kinh nghiệm cho thấy rằng, người nào đem lại hạnh phúc cho nhiều người nhất thì người đó là hạnh phúc nhất” và thực

tiễn người thanh niên ấy là những nhà nhân đạo mà điều quan trọng hơn làthanh niên ấy đã nhận thức được ý nghĩa các quan hệ xã hội trong đời sống

con người “nếu ta chọn một nghề mà qua đó ta có thể cống hiến nhiều nhất cho nhân loại, thì ta sẽ không cảm thấy gành nặng của nghề ấy, bởi đó là sự

hy sinh vì mọi người; khi đó niềm vui không chỉ là niềm vui ích kỷ, hẹp hòi và nhỏ nhen, mà hạnh phúc của ta là thuộc về hàng triệu người Sự nghiệp của

ta sẽ tồn tại, chẳng ầm ĩ, nhưng mãi mãi là cuộc sống có ích và trên di hài của ta sẽ có những con người cao quý nhỏ những giọt nước mắt nóng hổi…”.

Tư tưởng của Mác ngay từ thời phổ thông ông đã có những tư tưởng vĩ đại,một con người sống hy sinh, cống hiến cho nhân loại Đến năm 24 tuổi ông đãlàm luận án tiến sỹ triết học Ở ông chúng ta thấy không phải là một nhà chủnghĩa xã hội khoa học mà là nhà triết học, luật học, logic học…với tầm họcthức uyên bác lại vừa là những nhà nhân đạo những nhà cộng sản chủ nghĩaluôn hướng sự nghiệp của giai cấp công nhân thế giới theo con đường của tự

do, hoà bình…

+, Mặt trận tổ chức chính trị

Năm 1836 tổ chức đầu tiên của phong trào công nhân ra đời Đó là tổchức đồng minh của những người cộng sản hay đồng minh những ngườichính nghĩa thành lập ở Pháp bởi người chính trị lưu vong bao gồm nhữngngười vô sản cấp tiến thoát khỏi tổ chức khác tiểu tư sản với phương châm

Trang 10

hành động không có mục đích cho nên những tổ chức này nhanh chóng tan rã.Chính vì vậy cần phải cải tạo nhưng cần phải có những tiền đề lý luận đitrước dẫn đường trong khi đó xã hội ấy có rất nhiều những tư tưởng, lý luậnnhưng tổ chức ấy đã mời Mác – Ăng-ghen tham gia vào tổ chức với sự chấpnhận đầy tâm huyết Các ông đã tổ chức, cải tạo đi theo con đường của giaicấp vô sản Mùa xuân 1847 tham gia vào tổ chức các ông được giao là soạnthảo nhận lời mời của Giôdepmôn một trong những người lãnh đạo của đồngminh những người cộng sản C Mác – Ăng-ghen đã chấp nhận tham gia tổchức đồng minh những người chính nghĩa với hai điều kiện:

Một là: phải cải tạo tổ chức “Đồng Minh” thành một tổ chức có khảnăng tuyên truyền đưa những quan điểm lý luận của cách mạng đến với giaicấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động

Hai là: tổ chức ấy phải chấp nhận quan điểm của chủ nghĩa Mác

Vậy thì một vấn đề được đặt ra tại sao lại không tham gia sớm hơn haymuộn hơn mà đúng vào năm 1847 Tại vì, 1846 đã có tác phẩm Hệ tư tưởng Đứcrồi cho nên sự ảnh hưởng của tác phẩm này đã phần nào đó trong quần chúngnhân dân rồi Với lại trước đó tổ chức này chịu sự ảnh hưởng của tiểu tư sảnĐức Không những vậy vì mới ra đời tổ chức này vẫn còn “non” chưa chín trongbối cảnh mang sẵn trong mình những tư tưởng tiểu tư sản mà chủ nghĩa Mác vàothì chắc chắn sẽ không có chỗ đứng Nếu mà vào muộn hơn phong trào thất bạinhiều tổ chức này tan rã thì chủ nghĩa Mác có vào thì không có mảnh đất để thựchiện tư tưởng của mình

Tóm lại, chủ nghĩa Mác khi tham gia vào phong trào đồng minh nhữngngười chính nghĩa Đó chính là biểu hiện mối quan hệ giữa lý luận và thực

tiễn “nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng nhân dân”, “cũng giống như triết học thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của mình, giai cấp vô sản thấy triết học là vũ khí tinh thần của mình” Một khi lý luận nó thâm nhập vào quần chúng nó sẽ soi sáng

Trang 11

quần chúng đi, chỉ đạo phong trào thực tiễn từ những bước đi, cách làm thậtđúng đắn và khoa học

Mùa hè năm 1847 tổ chức Đồng minh những người chính nghĩa đã tổchức họp đại hội lần một ở Luân Đôn tiến hành cải tổ và đổi tên tổ chức thành

“Đồng minh những người cộng sản” tất cả mọi người là anh em “vô sản tất cảcác nước Đoàn kết lại” Việc đổi tên tổ chức có nghĩa là đã thay đổi cả mụcđích hoạt động của nó từ những khẩu hiệu trước đây có tính chất tiểu tư sảnsiêu giai cấp đã được thay bằng những khẩu hiệu có tính chất chiến đấu củagiai cấp công nhân

Như vậy, tác phẩm tuyên ngôn của Đảng cộng sản ra đời được thừanhận là lý luận khoa học đồng thời là một cương lĩnh chính trị đầu tiên củaphong trào cộng sản và công nhân quốc tế Để lý giải nó tác phẩm ấy là một

lý luận khoa học nó phải phản ánh lộ trình mang tính khoa học Tác phẩm đãchỉ rõ sự ra đời cũng như phát triển rồi tất yếu diệt vong của chủ nghĩa tư bản

Và tác phẩm cũng luận chứng một cách khoa học chỉ có giai cấp công nhân làngười có sứ mệnh lịch sử là tiêu diệt chế độ tư bản xây dựng một xã hội mới

xã hội cộng sản chủ nghĩa Với ý nghĩa là một cương lĩnh cách mạng đã chỉ rõ

ai là lực lượng của cách mạng, con đường ra sao, mục đích nhiệm vụ như thếnào…như vậy tác phẩm ra đời đập tan câu chuyện hư truyền mà giai cấp tưsản rêu rao về bóng ma cộng sản Tác phẩm đã công khai ý đồ, mục đích, củanhững người cộng sản nói khác nó giống như một lời tuyên chiến của giai cấp

vô sản với giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản tác phẩm có viết “Hiện nay, đã đến lúc những người cộng sản phải công khai trình bày trước toàn thể thế giới những quan điểm, mục đích, ý đồ của mình; và phải có một tuyên ngôn của Đảng của mình để lập lại câu chuyện hoang đường về bóng ma cộng sản” [2,tr540] Nó không còn là một giai cấp của một nước mà toàn thế giới

thể hiện lực lượng tương quan với chủ nghĩa tư bản và giai cấp tư sản Đó làmột thực thể đang tồn tại và lớn mạnh

Trang 12

* Kết cấu của tác phẩm

- Tác phẩm “Tuyên ngôn Đảng cộng sản” ngoài phần mở đầu một trangtác phẩm được chia ra làm 4 chương cụ thể:

Chương I: Tư sản và Vô sản

Mác – Ăng-ghen đã chỉ rõ vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sảnChương II: những người vô sản và những người cộng sản

Mác – Ăng-ghen đã chỉ rõ mối quan hệ giữa giai cấp vô sản và đảngcộng sản Qua đó xác định nhiệm vụ của Đảng cộng sản và những biện phápthực hiện nhiệm vụ ấy đồng thời chống lại sự vu khống của giai cấp tư sản đốivới đảng cộng sản

Chương III: Văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa

Mác đã phân biệt chủ nghĩa xã hội khoa học với các trào lưu xã hội chủnghĩa khác

Chương IV: Lập trường của những người cộng sản với các đảng đốilập Mác – Ăng-ghen làm rõ tư tưởng cách mạng không ngừng Tinh thầncách mạng triệt để về lien minh giai cấp sự đoàn kết đấu tranh cảu nhữngngười cộng sản đối với các đảng phái dân chủ trong cuộc đấu tranh chống lạicác thế lực phản động dân tộc

- Tư tưởng cơ bản của tác phẩm

Tư tưởng cơ bản của tác phẩm được thể hiện rõ nhất trong lời tựa đượcviết bằng tiếng Đức của Ăng-ghen 1883 trình bày khá rõ ba vấn đề sau:

Một là: Khẳng định sản xuất cơ sở kinh tế cùng với cơ sở xã hội thíchứng với nó là nền tảng cho toàn bộ lịch sử chính trị của mỗi thời đại

Hai là: lịch sử xã hội từ khi có giai cấp là lịch sử đấu tranh giai cấp

Ba là: Đấu tranh giai cấp đến tư bản chủ nghĩa thì giai cấp vô sản chỉ cóthể tự giải phóng mình bằng cách đồng thời giải phóng vĩnh viễn toàn xã hội

Trang 13

1.2 Quan đểm của Mác –Ăng-ghen về vai trò lịch sử của giai cấp tư sản trong tác phẩm “Tuyên ngôn của đảng cộng sản”

1.2.1 Sự ra đời của giai cấp tư sản

Ngay từ đầu chương I các ông đã chỉ “lịch sử tất cả các xã hội cho đến ngày nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp” Một kết luận mang tính quy luật

mà Mác – Ăng-ghen đã khẳng định trong tất cả các xã hội từ trước đến nayđều là lịch sử đấu tranh giai cấp, phân chia giai cấp Quả vậy từ khi có tư hữutrong xã hội loài người thì lịch sử loài người luôn là đấu tranh giai cấp, xungđột giai cấp Có thể khẳng định lời kết luận đầu tác phẩm này là một luậnđiểm mang tính chất phương pháp luận, mang tính quy luật để xem xét toàn

bộ các xã hội trong lịch sử Các ông có chỉ rõ sự mâu thuẫn dẫn đến đấutranh giai cấp cụ thể như sau ví dụ như giữa người tự do và người nô lệ, quýtộc và bình dân, chủ đất và nông nô…mâu thuẫn này diễn ra không ngừng lúcthì nó công khai, lúc thì nó ngấm ngầm và nó chỉ kết thúc thông qua cuộc cảitạo cách mạng hoặc là diệt vong của cả hai giai cấp

Như vậy chúng ta đã thấy rõ ràng rằng sự xuất hiện của giai cấp tư sảnđầu tiên là gắn liền với kinh tế hàng hoá, kinh doanh công nghiệp theo lốiphường hội thời trung cổ Không phải bỗng nhiên mà có sự xuất hiện của giaicấp tư sản đầu tiên mà nó luôn là quá trình phát sinh phát triển lâu dài và gắnliền với nền công nghiệp

Tiếp theo, sang đến thế kỷ thứ XVI do những phát hiện mới về địa lý

và tìm ra châu mỹ và đường biển vòng qua châu phi đến Ấn Độ đã đưa lạimột thị trường rộng lớn cho giai cấp tư sản mới ra đời Chính sự phát kiến này

là một nguồn động lực kích thích quá trình sản xuất và trao đổi Chính điều đólàm cho lối kinh doanh phường hội thời phong kiến không còn phù hợp nữavới nhu cầu và sự phát triển vượt bậc của thị trường Cũng chính vì thế xuấthiện rất nhiều các công trường thủ công ra đời làm cho số lượng tư sản nhiềuhơn Và dĩ nhiên đi theo quá trình ấy là sự ra tăng mạnh mẽ của quá trình tíchluỹ tư bản ngày càng nhiều lên và cũng từ đó xuất hiện những tầng lớp kinh

Trang 14

doanh bậc trung thay cho trùm phường trước kia Các ông viết “Việc tìm ra châu Mỹ và con đường biển vòng qua châu phi đã đem lại một địa bàn hoạt động mới cho giai cấp tư sản vừa mới ra đời ” chính vì thế “phương thức kinh doanh công nghiệp theo lối phong kiến hay phường hội trước kia không còn cso thể thoả mãn những nhu cầu luôn luôn tăng theo sự mở mang thị trường mới Công trường thủ công thay cho phương thức kinh doanh cũ ấy Tầng lớp kinh doanh bậc trung thay cho trùm phường Sự phân công lao động phường hội khác nhau đã nhường chỗ cho sự phân công lao động ngay trong từng xưởng thợ” [2.tr 541,542]

Tóm lại, với sự phân tích, nghiên cứu một cách kỹ lưỡng quá trình pháttriển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa C.Mác – Ăng-ghen đã đi đến kết luậngiai cấp tư sản là sản vật của quá trình phát triển lâu dài cuộc một loạt cuộccách mạng, sự tìm kiếm lâu dài trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.Như vậy chúng ta thấy rõ nét nhất dù đánh giá dưới góc độ nào đi chăng nữachúng ta cũng không thể nào có thể phủ nhận được thông qua sự phát triển vềmặt kinh tế cũng là một bước tiến quan trọng về chính trị và tư tưởng, từ chỗ

nó bị thống trị về mặt chính trị đến chỗ nó độc chiếm hẳn về quyền thống trị

trong nhà nước “giai cấp tư sản, từ khi đại công nghiệp và thị trường thế giới được thiết lập, đã độc chiếm hẳn được quyền thống trị trong nhà nước đại nghị hiện đại Chính quyền nhà nước hiện đại chỉ là chỉ là một uỷ ban quản

lý những công việc chung của toàn thể giai cấp tư sản” [2.tr543] Với sự nắm

giữ hay thống trị về mặt kinh tế giai cấp tư sản hoàn toàn có lợi thế trong việcquyết định mọi vấn đề kiến trúc thượng tầng Bộ mặt, địa vị giai cấp tư sảnkhông ngững tăng lên, mà hơn thế nữa lại là một luận chứng khoa học chứng

tỏ sự lỗi thời của giai cấp địa chủ phong kiến và sự thay thế giai cấp tư sản –chủ nghĩa tư nghĩa là một tất yếu dễ hiểu

1.2.2 Vai trò và tính cách mạng của giai cấp tư sản

Như trên đã trình bày, với sự ra dời cũng như sự phát triển của nền kinh

tế hàng hoá lại càng chứng tỏ sự phát triển nhanh chóng của giai cấp tư sản

Trang 15

đồng thời cũng cho thấy sự lạc hậu lỗi thời của giai cấp địa chủ phong kiến.

Mác – Ăng-ghen đã đánh giá “giai cấp tư sản đã đóng một vai trò hết cách mạng trong lịch sử” Vậy thì để xem sự phát triển của giai cấp tư sản như thế

nào, nó có vai trò lịch sử ra sao trong xã hội ấy chúng ta cùng đi tìm hiểu mộtcách kỹ lưỡng hơn nữa những đóng góp cho lịch sử

Một là: với sự ra đời của giai cấp tư sản nó đã đạp đổ những quan hệ

đạo đức phong kiến gia trưởng, chất phác và thay vào đó là các quan hệ hànghoá, tư duy kinh tế mối quan hệ thong qua sản xuất và trao đổi Đó là mốiquan hệ lạnh lùng, không tình nghĩa

Sự phát triển của giai cấp tư sản đã làm đảo lộn tất cả những hệ giá trị,phương thức tồn tại mà xã hội trước để lại Chính sự đảo lộn về sản xuất, sựdung chuyển không ngừng ấy đã làm cho giai cấp tư sản khác hoàn toàn so

với các giai cấp của thời đại trước đó “tất cả những quan hệ xã hội cứng đờ

và hoen rỉ, với những quan niệm và tư tưởng vốn được tôn sung từ nghìn xưa

đi kèm những quan hệ ấy, đều đang tiêu tan…

Tóm lại, đứng trên quan điểm của chủ nghĩa Mác thì sự phủ định haychính là sự thay thế của giai cấp tư sản đối với xã phong kiến là một tất yếu

dễ hiểu Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế đã làm thay đổi hoàntoàn mọi thang giá trị, cũng như cái gì mà trước kia cho là vững chắc, thiêngliêng thì giờ đây đều bị coi thường Lịch sử luôn vận động và phát triển theomột con đường phủ định biện chứng thì sự tiến bộ của chủ nghĩa tư bản làmột thực tế không thể nào trối cãi được và thay vào đó là những quan hệ mớicủa đồng tiền

Hai là: Với sự phát triển vượt bậc của kinh tế đã làm cho mọi thang giá

trị trong xã hội phong kiến đều bị đảo ngược Cùng với đó là sự mở rộng hơnnữa thị trường tư sản ra đời Đồng nghĩa với nó là tính chất chật hẹp và phiếndiến diện dân tộc ngày càng không thể tồn tại được nữa và thay vào đó là sựphát triển đa dạng ở đó chúng ta thấy với những nhu cầu trước đây chỉ thoảmãn bằng hàng hoá ở trong nước thì giờ đây với những nhu cầu mới thì đòi

Trang 16

hỏi thoả mãn bằng những miền xã xôi khác đến Có nghĩa là sự thay thế hayxuất hiện của thị trường đã phá tan tính chất tự cung, tự cấp trong xã hội cũ.Không những mở rộng thị trường và tăng cường tầm ảnh hưởng của mình racác dân tộc khác ngay cả những dân tộc dã man nhất Thế nhưng chúng còn

mở rộng tầm ảnh hưởng của chúng ra hơn nữa Với một ý đồ là làm sao phảicột chặt nông thôn với thành thị, bắt những dân tộc dã man phụ thuộc vàonước văn minh, phương đông phụ thuộc vào phương tây Mà tầm ảnh hưởng

đó chỉ tập trung trong tay một số người Như vậy, sự thay đổi ấy, tập trung ấychính là dẫn đến sự thay đổi về mặt chính trị, họ gắn kết với nhau chỉ vì mụcđích kinh tế

Ba là, với sự mở rộng tầm ảnh hưởng của mình khiến cho tất cả các dân

tộc quốc gia, khu vực chịu sự ảnh hưởng của giai cấp tư sản Điều đó chính làsửa tăng tầm ảnh hưởng hay chính là cơ hội cho một số nhà tư sản thao túnghay là chi phối toàn bộ kinh tế thế giới Một vấn đề mới được khơi gợi là tạisao giai cấp tư sản lại thay thế giai cấp phong kiến? thì các nhà kinh điển đãchỉ ra chính tính chất xã hội hoá của lực lượng sản xuất nó đã xé toang sự kìmkẹp của quan hệ sản xuất phong kiến Và cũng chính trong quá trình đó lạixuất hiện thêm một giai cấp nữa mà các nhà kinh điển cho là vũ khí mà giaicấp tư sản tạo nên giết chính mình Đó là giai cấp vô sản

Sự tiến bộ của lực lượng sản xuất chính là nhân tố cơ bản và hàngquyết định đến sự thắng lợi của giai cấp tư sản với giai cấp phong kiến Một

sự tiến bộ mang tính chất lịch sử “Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn

và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”[2,tr457] Như vậy chúng ta thấy giai cấp tư sản là một giai cấp đã biếttận dụng thành quả của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật vào sản xuất Đócũng chính là một nguyên nhân sâu xa và tất yếu dẫn đến sự thành công củagiai cấp tư sản trong tiến trình của mình Bằng việc chinh phục những lựclượng thiên nhiên, sự sản xuất bằng máy móc, sự áp dụng khoa học vào công

Trang 17

nghiệp và nông nghiệp, việc dùng tàu chạy bằng máy hơi nước, đường sắt,máy điện báo…được coi là công cụ dẫn tới như thành công đó

Như trên đã trình bày giai cấp tư sản ra đời hình thành và phát triển đãđóng vai trò quan trọng trong lịch sử Được coi là dấu mốc đánh dấu sự pháttriển của lịch sử xã hội loài người Là giai cấp cách mạng song dù nhìn ở góc

độ nào đi chăng nữa thì giai cấp tư sản vẫn là giai cấp bóc lột Giai cấp chỉmưu cầu hạnh phúc cho mình mà bất chấp trên cả máu và nước mắt ngườicông nhân Chính vì vậy tính cách mạng của giai cấp tư sản cũng bị hạn chế.Chính sự hạn chế ấy, mâu thuẫn ấy lại chính là căn nguyên khiến cho chủnghĩa tư bản diệt vong Sau khi lật đổ giai cấp phong kiến, một chế độ, giaicấp với đầy tính hạn chế thì giai cấp tư sản lại thiết lập nên mâu thuẫn mớingay trong bản thân mình Như các nhà kinh điển nói chính giai cấp tư sản đã

ra vũ khí giết chính mình người công nhân – giai cấp vô sản Các ông viết “từ hàng trục năm nay, lịch sử công nghiệp và thương nghiệp không phải là cái

gì khác hơn là lịch sử của cuộc nổi dậy của lực lượng sản xuất hiện đại chống lại những quan hệ sản xuất hiện đại, chống lại chế độ sở hữu đang quyết định sự thống trị của giai cấp tư sản…”.[2.tr548] Như vậy, nhìn một

cách tổng thể từ sự phân tích ngay những nhân tố khách quan trong lòng xãhội tư bản C.Mác – Ăng-ghen đã chỉ ra một cách cụ thể nhất, rõ nét nhất quátrình phát sinh và phát triển của giai cấp tư sản Giai cấp tư sản đóng vai trò làgiai cấp cách mạng Từ một giai cấp bị áp trong lòng xã hội phong kiến và nó

đã trở thành giai cấp thống trị mang đến cho xã hội loài người sang một nềnvăn minh mới gấp hàng ngàn lần so với chế độ phong kiến Nhưng cũng chính

từ sự văn minh ấy, phát triển ấy lại dựa trên quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩathì địa vị, vai trò của giai cấp tư sản cũng trở nên lỗi thời về mặt lịch sử.Chính vì thế sự thay thế một chế độ này bằng một chế độ xã hội khác là mộttất yếu khách quan

Trang 18

Chương II: Ý nghĩa lý luận của Mác – Ăng-ghen về vai trò lịch sử của giai cấp tư sản trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” đối với cách mạng Việt Nam hiện nay

2.1 Cơ sở hình thành và mầm mống giai cấp tư sản Việt Nam

2.1.1 Cơ sở hình thành giai cấp tư sản Việt Nam

- Khi nghiên cứu phát sinh của chủ nghĩa tư bản và giai cấp tư sản làđặt ra vấn đề nghiên cứu sự phát triển của kinh tế hàng hoá và kinh tế tiền tệ,đến trình độ nảy sinh ra hiện tượng bóc lột công nhân làm thuê Sản xuất hànghoá tất nhiên không phải đến chủ nghĩa tư bản mới có mà nó có khá lâu từtrước trong chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến

Nhưng chủ nghĩa tư bản xuất hiện từ bao giờ không thể căn cứ vàoxuất hiện nền sản xuất cơ khí và đại công nghiệp để đánh dấu sự phát triểncủa chủ nghĩa tư bản

Chính vì vậy khi đặt vấn đề nghiên cứu mà chúng ta cho rằng quan hệsản xuất tư bản chủ nghĩa không thể có trong chế độ phong kiến mà chỉ cótrong cách mạng khoa học công nghệ thì đó là một kết luận sai lầm

Có nhiều người lại dựa vào đặc điểm lịch sử riêng biệt của Việt Nam

để phủ nhận điều kiện trên đây khi đề cập đến sự hình thành của giai cấp tưsản Việt Nam Họ cho rằng ở Việt Nam không nhất thiết phải căn cứ vào quátrình tích luỹ tư bản trái lại phải căn cứ vai trò của thực dân pháp tác động đếngiai cấp xã hội để xem xét có hay hay không giai cấp tư sản Nếu mà có ảnhhưởng ngoại lai đi chăng nữa thì cũng phải xét xem những yếu tố nội tại củamỗi quốc gia dân tộc để nhìn nhận vấn đề sao cho thấu đáo Mà phải đứngtrên lập trường quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin mới thấy được sự thậtcũng như cốt lõi của vấn đề Chúng ta phải dựa vào những quy luật phổ biến

về sự phát triển của xã hội nói chung Nếu không chúng ta không bao giờ giảiquyết triệt để được vấn đề Vì vậy khi nghiên cứu về giai cấp tư sản chúng ta

Trang 19

không thể căn cứ vào cái nghĩa mà lớp người đi trước thường hiểu là lớptrưởng giả, lớp giàu có biểu hiện ở mức sống bên ngoài

- Nói đến giai cấp xã hội là nói đến những tập đoàn có quan hệ về tưliệu sản xuất, quan hệ đến bộ máy sản xuất, tổ chức lao động

Tóm lại, như trên trình bày chúng ta thấy sự xuất hiện của kinh tế hànghoá ở nước ta đã có từ rất lâu rồi Nhưng do những chính sách của triều đìnhphong kiến còn quá hạn chế với kinh tế này cho nên sự bộc lộ của nó là không

rõ nét lắm Nhưng chúng ta cần khẳng định một điều là những cơ sở đầu tiêncho giai cấp tư sản đã có từ lâu ở nước ta

- Kinh tế nước ta phát triển khi tiếp xúc với tư bản phương tây từ thế kỷ

XV càng phát triển lên nó lại càng uy hiếp sự tồn tại của chế độ phong kiếnđang thống trị ở nhiều nước Ở châu Âu cách mạng tư sản Anh, Hà lan ở thế

kỷ XVI-XVII, Pháp năm 1789 Tư bản chủ nghĩa ở châu Âu phát triển khámạnh rồi những nhà buôn người Bồ Đầu Nha, Hà Lan, Tây Ban Nha lạithường xuyên lui tới khu vực châu Á hơn Ở Việt Nam thế thế kỷ XVII nhữngnhà buôn Hà Lan mở những hội buôn bán ở Hội An – Quảng Nam, Huế, năm

1637 Trịnh Nguyễn cho phép người Hà Lan mở của hàng

2.1.2 Những mầm mống tư sản đầu tiên

Chúng ta nhận định rằng, nếu không có sự tiếp xúc của nền kinh tế tưbản tây phương thì nền kinh tế nước ta vẫn phát triển theo hướng hàng hoá.Song do có sự tiếp xúc ấy cho nên nó đã đẩy mạnh hơn, nhanh hơn để đẻ ranhững mầm mống của nhủ nghĩa tư bản và giai cấp tư sản ở nước ta

Một là: Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện ở nông thôn.

Nông nghiệp đã phân hoá thành những ngành chuyên môn hoá sản xuất.Những nông phẩm trở thành hàng hoá, ruộng đất cũng vậy Tình trạng bánruộng đất lấy tô Chứng tỏ sự phát triển của nước ta bấy giờ có ý nghĩa rấtlớn

Hai là: quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện trong các hầm

mỏ, công xưởng Việc xuất vốn thuê mướn người làm là một bằng chứng

Ngày đăng: 23/07/2018, 13:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. C.Mác tiểu sử. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1977 Khác
2. C.Mác và Ph. Ăng-ghen: tuyển tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1980, t.1 Khác
3. BCH Đảng lao động Việt Nam, Vk về đường lối CMXHCN Miền Bắc nước ta. Nxb Sự Thật, HN, 1968 Khác
4. Đảng lao động Việt Nam, HNTW 16 về vấn đề cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh. Nxb Sự thật, HN, 4/1959 Khác
5. Đảng cộng sản Việt Nam, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV.Nxb chính trị quốc gia, Hà nội, 1978 Khác
6. NQ BCH TƯ về những công tác trước mắt ở miền nam. Số 254- NQ/TW , HN, 15/7/1976 Khác
7. Đảng Cộng Sản Việt Nam: Văn kiện Đại Hội Đảng thời kỳ đổi mới(Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005 Khác
8. Đảng Cộng Sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Khác
9. Đảng Cộng Sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 Khác
10. Đảng Cộng Sản Việt Nam: Ban chấp hành trung ương, Ban chỉ đạo tổng kết lý luận: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986-2006), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005 Khác
11. Đảng Cộng Sản Việt Nam: Nghị Quyết, tài liệu tham khoả phục vụ nghiên cứu, học tập, nghị quyết Hội nghị lần thứ 5, Ban chấp hành trung ương khoá IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005 Khác
12. Nguyễn Công Bình: Tìm hiểu giai cấp tư sản Việt Nam thời kỳ pháp thuộc, Nxb. Văn – sử - địa, Hà Nội, 1959 Khác
13. Đỗ Lộc Diệp: Chủ nghĩa tư bản ngày nay – tự điều chỉnh kinh tế, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993 Khác
14. Trần Du Lịch: Kinh tế Việt Nam trong quá trình chuyển đổi, Nxb.Thành phố Hồ Chí Minh, 1996 Khác
15. Vũ Hữu Ngoạn, Mấy vấn đề chủ nghĩa tư bản nhà nước, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993 Khác
16. Kỷ yếu hội thảo lần 2 đề tài khoa học xã hội 03-10, Tư sản Việt Nam trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá với nền kinh tế nhiều thành phần, thành phố Hồ Chí Minh, 9-1998 Khác
17. Văn Tạo, Đinh Thu Cúc. Giai cấp công nhân Miền BắcViệt Nam 1955 – 1960, Nxb Khoa học xã hội, HN,1974 Khác
18. Viện kinh tế học, 45 năm kinh tế Việt Nam (1945 - 1990) xuất bản xã hội, HN,1990 Khác
19. Nguyễn Quang Ngọc, cải cách xã hội trong quá trình phát triển của lịch sử Việt Nam, Nxb chính trị quốc gia, HN, 1998 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w