1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và năng suất chất lượng của một số dòng, giống chè mới chọn tạo tại phú thọ

111 107 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 5,1 MB
File đính kèm file in.rar (2 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂMPHẠM THỊ KHÁNH HÒA NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ NĂNG SUẤT CHẤT LƯỢNG CỦA MỘT SỐ DÒNG GIỐNG CHÈ MỚI CHỌN TẠO TẠI PHÚ THỌ Chuyên ngành: K

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHẠM THỊ KHÁNH HÒA

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ NĂNG SUẤT CHẤT LƯỢNG CỦA MỘT SỐ DÒNG GIỐNG CHÈ MỚI CHỌN TẠO TẠI PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Khoa học cây trồng

Mã số: 8 62 01 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Người hướng dẫn khoa học:

1 GS TS Trần Ngọc Ngoạn

2 TS Nguyễn Thị Minh Phương

Thái Nguyên - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quảnghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưatừng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đãđược cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõnguồn gốc

Thái Nguyên, ngày 10 tháng 12 năm 2017

Tác giả luận văn

Phạm Thị Khánh Hòa

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tìnhcủa các thầy cô giáo giảng dạy, thầy cô giáo hướng dẫn khoa học, được sựgiúp đỡ của cơ quan, các đồng ghiệp và gia đình Tôi xin chân thành bày tỏlòng biết ơn sâu sắc và kính trọng đến:

GS.TS Trần Ngọc Ngoạn - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

TS Nguyễn Thị Minh Phương - phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu

và Phát triển Chè - Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc

Ban giám hiệu, Khoa sau đại học, tập thể giáo viên của trường Đại họcNông lâm Thái Nguyên

Tập thể lãnh đạo Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía

Bắc và tập thể lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chè

Gia đình, bạn bè và các bạn đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi trongsuốt thời gian học tập, thực hiện đề tài./

Tác giả luận văn

Phạm Thị Khánh Hòa

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết 1

2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 3

2.1 Mục đích của đề tài 3

2.2 Yêu cầu 3

2.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

2.3.1 Ý nghĩa khoa học 3

2.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 4

1.2 Giá trị dinh dưỡng của chè 5

1.3 Hiện trạng cơ cấu giống chè 6

1.4 Các nghiên cứu liên quan đến cây chè trong và ngoài nước 8

1.4.1 Nghiên cứu cây chè trên thế giới 8

1.4.2 Nghiên cứu về cây chè ở Việt Nam 15

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 29

2.1.1.Vật liệu nghiên cứu 29

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 30

2.1.3.Thời gian nghiên cứu 30

2.1.4 Phạm vi nghiên cứu 30

2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu: 30

2.2.1 Nội dung nghiên cứu 30

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 31

2.3 Các chỉ tiêu theo dõi 32

2.3.1 Đặc điểm sinh vật học của các dòng chè mới chọn lọc 32

Trang 5

2.3.2 Diễn biến sâu hại chủ yếu của các dòng chè mới chọn lọc 32

2.3.3 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 33

2.3.4 Đánh giá chất lượng chè 34

2.4 Phương pháp xử lý số liệu 34

Chương 3 KẾT QUẢNGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35

3.1 Đặc điểm vật sinh học của các dòng chè mới chọn lọc 35

3.1.1 Đặc hình hình thái lá của các dòng chè mới chọc lọc 35

3.1.2 Khả năng sinh trưởng của các dòng chè chọn lọc 36

3.1.3 Nghiên cứu khả năng sinh trưởng búp của các dòng, giống chè mới chọn tạo 39

3.2 Tình hình sâu hại chủ yếu trên chè 44

3.3 Đặc điểm các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất của các dòng chè mới chọn tạo 51

3.4 Kết quả đánh giá chất lượng các dòng chè mới chọn tạo 56

2 Kiến nghị 70

TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 72

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Cơ cấu giống chè theo sản sản phẩm 6Bảng 2.1: Thay đổi cơ cấu giống chè cả nước sau 15 năm 7Bảng 1.3: Tăng trưởng của ngành chè giai đoạn 2005-2015 8Bảng 3.1 Đặc điểm hình thái và kích thước lá của các dòng chè mới

chọn tạo

35Bảng 3.2 Một số chỉ tiêu thân cành, búp của các dòng chè mới chọn

tạo 37Bảng 3.3 Thời gian hoàn thành búp (búp 1tôm 5 lá) 40Bảng 3.4 Động thái sinh trưởng búp của các giống, dòng chè chọn lọc vụ

xuân (cm/5 ngày) 41Bảng 3.5 Tình hình gây hại của Rầy xanh đến các dòng, giống chè mới

chọn tạo (con/khay) 44Bảng 3.6 Tình hình gây hại của bọ cánh tơ đến các dòng, giống chè mới

chọn tạo (con/búp) 46Bảng 3.7.Tình hình gây hại của nhện đỏ đến các dòng, giống chè mới

chọn tạo (con/lá)

48

Bảng 3.8: Tình hình gây hại của bọ xít muỗi đến các dòng, giống chè mới

chọn tạo (% búp bị hại) 50Bảng 3.9 Năng suất chè qua các lứa (kg/ô thí nghiệm) 52Bảng 3.10 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng chè

mới chọn tạo 53Bảng 3.11 Thành phần cơ giới búpcủa các dòng, giống chè nghiên

cứu 57Bảng 3.12 Thành phần sinh hóa của các dòng chè chọn tạo (vụ xuân) 58Bảng 3.13 Thành phần sinh hóa của các dòng chè chọn tạo (vụ hè) 61Bảng 3.14 Thành phần sinh hóa của các dòng chè chọn tạo (vụ thu) 61

Trang 7

Bảng 3.15 Đánh giá cảm quan chất lượng chè xanh (vụ xuân) 64

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Động thái sinh trưởng búp chè (vụ xuân) 42

Hình 3.2 Diễn biến rầy xanh

45 Hình 3.3 Diễn biến bọ cánh tơ 47

Hình 3.4 Diễn biến nhện đỏ 49

Hình 3.5: Diễn biến bọ xít muỗi 51

Hình 3.6: Năng suất của các dòng chè mới chọn tạo 55

Trang 9

TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam

Viện KHKT : Viện Khoa học kỹ thuật

Trang 10

11

Trang 11

1.Tính cấp thiết

MỞ ĐẦU

Cây chè (Camelia sinensis O.Kuntze) là cây công nghiệp dài ngày cónhiệm kỳ kinh tế dài 30-40 năm nếu được chăm sóc tốt sẽ cho thu hoạch lâuhơn Trong tự nhiên chè có dạng cây bụi, cây gỗ hoặc gỗ nhỡ Khi trồng tậptrung chè được khống chế chiều cao bằng việc đốn tỉa cành để hái búp và lánon

Cây chè có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện đặc thùcủa vùng đất dốc, đem lại nguồn thu nhập quan trọng góp phần xoá đói giảmnghèo và dần tiến tới làm giàu cho nhân dân trong vùng Phát triển cây chè tạocông ăn việc làm cho hàng triệu lao động, góp phần điều hoà sự phân bố dân

cư miền núi, ổn định định canh định cư cho đồng bào các dân tộc ít người.Đồng thời cây chè còn có vai trò to lớn trong việc che phủ đất trống, đồi núitrọc và bảo vệ môi trường sinh thái, một trong những vấn đề đang thu hút sựquan tâm của toàn xã

hội

Hiện nay nước ta đứng thứ 5 về diện tích và xuất khẩu song chất lượngchè Việt Nam chưa cao, Trong những năm gần đây, giá chè không tăng màcòn có xu hướng giảm, Chè Việt Nam xuất khẩu giá chỉ bằng 50-70% so vớimặt bằng giá chè chung của thế giới, Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng tớichất lượng chè của nước ta: Do chưa có đủ giống tốt đặc biệt là các giống chấtlượng cao được đưa ra sản xuất, quy trình công nghệ và thiết bị chế biến cònlạc hậu, chưa xây dựng được vùng chè an toàn, kỹ thuật canh tác còn lạc hậu

Trong những năm qua Việt Nam đã có những thành tựu đáng kể trongcông tác chọn tạo giống chè, góp phần đưa diện tích trồng chè giống mới toànquốc lên 65%.Tuy nhiên, giống chè do chúng ta thiếu những giống chè để cóthể chế biến các dạng chè cao cấp, chất lượng cao Trong khi đó, sản phẩmchè hảo hạng có thương hiệu uy tín của các nước đều gắn với các giống cụ thể,như: Chè xanh Long Tỉnh của Trung Quốc gắn liền với giống Long Tỉnh 43,chè Ôlong của Đài Loan gắn liền với giống Ôlong Thanh Tâm và Kim Tuyên,chè xanh Nhật Bản gắn liền với giống Yabukita

Trang 12

Bộ giống chè do Việt Nam chọn tạo hiện nay chủ yếu phù hợp cho chếbiến chè đen Một số giống chế biến được chè xanh nhưng chất lượng chỉ đạtloại khá Trong khi đó, xu thế phát triển và cạnh tranh chè trên thế giới trongtương lai là sản phẩm chè xanh Để khắc phục tình trạng thiếu các giống chèchất lượng cao để đưa vào sản xuất chúng ta đã đẩy mạnh công tác nhập giốngchè chất lượng cao từ các nước trồng chè trong khu vực Trong đó một sốgiống chè chất lượng cao nhưng khả năng sinh trưởng của các giống chè này ởmiền Bắc rất yếu.

Chính vì những lý do trên, đòi hỏi chúng ta cần chọn tạo được các giốngchè chế biến chất lượng cao tương đương hoặc cao hơn các giống chè của cácnước trong khu vực Có như vậy, chúng ta mới có thể cạnh tranh với các nước

và đưa vị thế của sản phẩm chè Việt Nam lên ngang tầm thế giới Có nhiềuphương pháp khác nhau để tạo ra giống chè mới được áp dụng như: Chọn tạobằng phương pháp lai hữu tính, phương pháp gây đột biến nhân tạo, chọn lọc

cá thể, nhập nội giống ở các nước trong khu vực Trong đó chọn tạo giốngchè bằng phương pháp lai hữu tính, chúng ta đã đạt được những kết quả nhấtđịnh.Mỗi giống chè có những đặc tính riêng, Để kết hợp những đặc tính đó tạo

ra giống mới có những tính chất tốt hơn là điều rất cần thiết Cây chè bản chất

là cây giao phấn, việc lựa chọn cây bố và cây mẹ để tiến hành lai theo mụcđích chúng ta mong muốn các đặc trưng của cây bố và cây mẹ sẽ chuyển chothế hệ sau Hiện nay, cùng với sự phát triển của công nghệ tế bào, công nghệ

xử lý đột biến invitro đã trở thành công cụ hữu hiệutrong chọn tạo giống câytrồng Kỹ thuật gây đột biến invitro đã gây tạo và làm tăng tần số xuất hiệnđột biến, rút ngắn thời gian chọn tạo giống với các tính trạng có giá trị kinhtế.Phương pháp lai hữu tính và phương pháp gây đột biến các giống chè đượccoi là mũi nhọn trong công tác chọn tạo giống chè hiện nay Trong nhữngnăm gần đây, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắcbằng phương pháp lai hữu tính và gây đột biến nhân tạo đã chọn tạo ra đượcmột số dòng, giống chè

Trang 13

triển vọng Tuy nhiên khả năng thích ứng với điều kiện khí hậu của mỗi giống

là khác nhau.Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và năng suất chất lượng của một số dòng, giống chè mới chọn tạo tại Phú Thọ”.

2 Mục đích, yêu cầu của đề tài

2.1 Mục đích của đề tài

Nghiên cứu các đặc điểm hình thái, khả năng sinh trưởng, năng suất,chất lượng của các dòng chè để chọn ra dòng chè có năng suất cao, chất lượngtốt thích hợp với điều kiện sinh thái tại vùng Trung du - Phú Thọ

2.2 Yêu cầu

- Đánh giá được các đặc điểm hình thái thực vật học, khả năng sinhtrưởng phát triển và chống chịu sâu bệnh của các dòng chè chọn tạo

- Đánh giá được năng suất và chất lượng của các dòng chè chọn tạo

2.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trang 14

Chương1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài

Chè là loại cây giao phấn, nếu trồng bằng hạt thì tỷ lệ đồng đều của câycon rất thấp, có tới 95% cây con không giống cây mẹ về các đặc điểm hìnhthái, các tính trạng về năng suất và chất lượng Đây là đặc điểm có ý nghĩalớn về tính đa dạng sinh học, là nguồn vật liệu khởi đầu trong công tác chọntạo giống, Cây chè từ khi tuyển chọn đến lúc tạo thành giống mới, đưa ra sảnxuất cần có thời gian dài và những đặc điểm sinh trưởng phát triển của câychè là kết quả phản ánh tổng hợp giữa các đặc điểm của giống với những điềukiện ngoại cảnh Chu kỳ phát triển của cây chè được chia làm hai: Chu kỳphát triển lớn và chu kỳ phát triển nhỏ

Chu kỳ phát triển lớn bao gồm suốt cả đời sống cây chè, tính từ khi tếbào trứng thụ tinh bắt đầu phân chia cho đến khi cây chè già cỗi, chết.Chu kỳphát triển nhỏ (hàng năm) gồm 2 giai đoạn sinh trưởng và tạm ngừng sinhtrưởng Trong giai đoạn sinh trưởng, các loại mầm dinh dưỡng sẽ phát triểnhình thành búp, lá non và những đợt búp chè mới; các mầm sinh thực pháttriển hình thành nụ, hoa và quả Sinh trưởng dinh dưỡng cũng như sinh trưởngsinh thực phụ thuộc vào giống, tuổi của cây, điều kiện ngoại cảnh, trình độquản lý chăm sóc Giai đoạn sinh trưởng dài hay ngắn chủ yếu phụ thuộc vàođiều kiện khí hậu, thời tiết mỗi vùng Trong giai đoạn tạm ngừng sinh trưởngcác bộ phận trên mặt đất không xuất hiện các lá non mới, song bộ rễ của câychè lại sinh trưởng để tạo nên các rễ non mới Trong điều kiện ở Phú Hộ, câychè thường bắt đầu sinh trưởng từ tháng 2 đến tháng 11 và tạm ngừng sinhtrưởng từ tháng

12 đến tháng 2 hàng năm

Nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm là mục tiêu đầu tiên của tất cảcác ngành sản xuất nói chung và ngành sản xuất chè nói riêng Đặc biệt, khinhu cầu thị hiếu của con người ngày càng tăng cao thì chất lượng chè là chỉtiêu

Trang 15

đặc biệt quan trọng để nâng cao giá trị sản phẩm và sức cạnh tranh trên thịtrường Để tạo nên chất lượng chè thành phẩm, yếu tố giống quyết định đến50%, còn yếu tố độ cao, chăm sóc quyết định 30%, yếu tố công nghệ chế biến,thiết bị chỉ chiếm 20% (Nguyễn Hữu Khải, 2005)[6].

Trong những năm 2000 - 2005, nhằm khắc phục tình trạng thiếu giốngchè chất lượng cao, được sự chỉ đạo của Chính phủ, của Bộ Nông nghiệp vàPTNT, công tác chọn tạo giống chè được đẩy mạnh, đồng thời vừa chọn tạogiống chè trong nước, vừa tăng cường việc nhập nội giống từ nước ngoài Vớimục tiêu nhanh chóng chọn tạo ra nhiều giống chè mới có năng suất và chấtlượng cao để mở rộng diện tích, thay thế dần các giống chè cũ năng suất, chấtlượng thấp ở Việt Nam

Thông qua việc nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng của các dòng chèmới trong điều kiện vùng sinh thái khác nhau chúng ta sẽ đánh giá được khảnăng thích ứng cũng như khả năng chống chịu của các dòng chè, từ đó lựachọn ra các dòng chè có khả năng sinh trưởng tốt để đưa vào sản xuất diệnrộng, góp phần vào công tác chọn tạo ra giống chè mới có chất lượng cao

1.2 Giá trị dinh dưỡng của chè

Có thể nói trên thế giới chè là thức uống có nhiều giá trị dung dưỡng.Khi tìm hiểu tác dụng của chè đối với sức khỏe một số tác giả người TrungQuốc: Vương Khâu Phi, Bộc Tể Nhật, Dương Hiền Cường- đại học Nôngnghiệp Triết Giang chỉ ra rằng một phiến lá nhỏ đã có trên 500 thành phần hóahọc, bao gồm 6 nhóm vật chất có công hiệu bảo vệ sức khỏe như các loạivitamin, chất purin loại kiềm, các loại phenol , các tinh chất dầu thơm, cácaxitamin và chất polysacazoza Thống kê 92 loại cây cổ thụ, trong cuốn TrungQuốc Trà Kinh tổng kết nội dung bảo vệ sức khỏe của trà gồm 24 hiệu quả:

An thần, mắt sáng, giải khát sinh nước bọt, thanh giải nhiệt, tiêu cảm, giải độc,khỏi nhức đầu, chống say nắng, dễ tiêu hóa, làm chắc răng lợi Nước chè cònchữa được những bệnh như tổn thương do phóng xạ, ung thư, bệnh tim mạch

Trang 16

Nghiên cứu tác dụng của của chè đối với sức khỏe con người nhận định:Trà được chứng minh một cách rộng rãi là loại thực phẩm có tác dụng phòngtrừ nhiều loại bệnh tật thường thấy của con người do thành phần hữu hiệupoliphenol được tổng hợp bởi các catechin thành phần có trong búp và lá non.

1.3 Hiện trạng cơ cấu giống chè

Việt Nam là nước sản xuất chè lớn thứ 7 và xuất khẩu chè lớn thứ 5toàn cầu, với 124.000 ha diện tích trồng chè và hơn 500 cơ sở sản xuất, chếbiến, công suất đạt trên 500.000 tấn chè khô/năm Dự báo, nhu cầu tiêu thụchè toàn cầu ngày càng tăng, giúp cho xuất khẩu chè của Việt Nam trong thờigian tới có nhiều triển vọng, đặc biệt là trong quý 4/2017 Theo Bộ CôngThương, ước tính trong tháng 9/2017 lượng chè xuất khẩu đạt 12 ngàn tấn, trịgiá 20 triệu USD (Nguyễn Huyền, 2017)[48]

Theo Đặng Văn Thư (2015)[28] số liệu thống kê tính đến năm 2015, cảnước có 10 giống chè chủ lực đã được đưa vào phục vụ sản xuất gồm PH1,TRI777, LDP1, LDP2, Phúc vân tiên, Kim tuyên, Ngọc thúy, PH10, PH11,TB14

Bảng 1.1: Cơ cấu giống chè theo sản sản phẩm

tích (%)

Sản phẩm chế biến

4 Nhóm giống nhập nội (Kim tuyên,

Phúc vân tiên, Ngọc thúy…) 12,0

Chè xanh chất lượngcao, chè ôlong

5 Các giống chọn lọc khác (shan đầu

dòng, TB14, LD97….) 4,0 Chè đen, chè xanh

6 Các giống địa phương (Trung du,

(Nguồn: Tổng hợp từ các nguồn tài liệu của Cục Trồng trọt)

Trang 17

Tỷ lệ trồng diện tích các giống chè mới năm 2015, giống chè shan chọnlọc trong sản xuất chiếm khoảng 52,7% tổng diện tích (tương đương khoảng

71 nghìn ha), tỷ lệ trồng các giống chè cũ (Trung du và shan hạt) chiếmkhoảng

47,3% tổng diện tích (tương ứng khoảng 63,6 nghìn ha)

Nhóm giống chè chỉ dùng cho chế biến chè đen (PH1, LDP2) chiếmkhoảng 22,2% (tương ứng khoảng 29,9 nghìn ha), tập chung chủ yếu tại cáctỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái Nhóm giống chèchỉ dùng để chế biến chè xanh chiếm khoảng 61,8%, trong đó chế biến chèxanh chất lượng khá (LDP1, tập chung chủ yếu tại các tỉnh Thái Nguyên, PhúThọ, Yên Bái, Tuyên Quang…) chiếm khoảng 14,5% (tương ứng khoảng 19,5nghìn ha), chế biến chè xanh thường (Trung du, shan hạt, tập chung chủ yếutại các tỉnh Phú Thọ, Thái Nguyên, Hà Giang, Yên Bái, Điện Biên….) chiếmkhoảng

47,3% Nhóm giống chè dùng để chế biến chè xanh chất lượng cao và chèôlong (các giống chè nhập nội từ Đài Loan, Trung Quốc và một số giống chèmới lai tạo trong nước) chiếm khoảng 12% (tương ứng khoảng 16 nghìn ha),tập chung chủ yếu tại các tỉnh Lâm Đồng, Phú Thọ, Yên Bái, Thái Nguyên,Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh Nhóm giống chè phù hợpcho cả chế biến chè xanh và chè đen (chủ yếu là các giống chè shan chọn lọc,TB14, LD97….) chiếm khoảng 4% (tương ứng khoảng 5,4 nghìn ha), tậpchung chủ yếu tại các tỉnh Lâm Đồng (TB14, LD97), Hà Giang, Lai Châu,Sơn La, Điện Biên (shan chọn lọc)

Bảng 2.1: Thay đổi cơ cấu giống chè cả nước sau 15 năm

Cơ cấu giống (% tổng diện tích)

Trung du

Shan hạt Tổng PH1 LDP1,2

Giống mới khác Tổng

Trang 18

2015 134,6 30,7 15,5 46,0 7,2 29,5 16,0 52,7

(Nguồn: Cục Trồng trọt)

So sánh với năm 2000, năm 2015 tổng diện tích chè cả nước đạt 134,6nghìn ha, tăng 49,5% Trong cơ cấu giống, tỷ lệ chè giống cũ giảm 39%, tỷ lệgiống chè mới tăng 37,7%

Bảng 1.3: Tăng trưởng của ngành chè giai đoạn 2005 - 2015

(1000 ha)

Tỷ lệ giống mới (%)

Năng suất (tấn/ha)

Giá xuất khẩu (USD/kg)

1.4 Các nghiên cứu liên quan đến cây chè trong và ngoài nước

1.4.1 Nghiên cứu cây chè trên thế giới

1.4.1.1 Nghiên cứu về chọn tạo giống chè

Thế giới coi công tác chọn tạo giống chè là nhiệm vụ quan trọng nhất đểtạo ra các sản phẩm mới, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm Trong công tácchọn tạo giống cây trồng nói chung và cây chè nói riêng, người ta sử dụngnhiều phương pháp chọn tạo khác nhau, như chọn lọc cá thể trực tiếp trênnguồn vật liệu sẵn có trong tự nhiên, chọn giống bằng phương pháp lai hữutính và phương pháp đột biến thực nghiệm để tạo ra các giống chè mới Mụctiêu của chọn giống chè ngày nay không chỉ đơn thuần là tạo ra các giống cónăng suất cao,

Trang 19

có khả năng chống chịu tốt với các điều kiện bất thuận của môi trường mà cácgiống chè chọn tạo mới phải có chất lượng tốt đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩnchất lượng cao, an toàn, làm nguyên liệu, để chế biến ra các loại sản phẩmchè có chất lượng cao thoả mãn yêu cầu người tiêu dùng.

Trung Quốc là quốc gia sản xuất chè hàng đầu thế giới Nghiên cứu sửdụng giống chè tốt trong sản xuất được các nhà khoa học Trung Quốc quantâm từ rất sớm Ngay từ đời nhà Tống, Trung Quốc đã có 7 giống chè tốt ở

Vũ Di Sơn Các giống chè Thuỷ Tiên (1821 - 1850), Đại Bạch Trà (1850),Thiết Quan Âm đã có từ hơn 200 năm về trước đều là những giống chè chiếtcành (Nguyễn Văn Toàn, 1994)[29]

Tại Srilanka, công tác chọn giống chú trọng nhiều đến khâu chọn dòng,kết hợp chọn dòng có sản lượng cao, có khả năng chống hạn và chống chịuvới sâu bệnh Trong những năm 1940, Srilanka đã chọn ra một loạt các dòngchè TRI2020, trong đó có các giống nổi tiếng như TRI777, TRI2043 Trongnhững năm 1960 trở lại đây, Srilanca đã chọn ra các dòng chè triển vọng nhưTRI14, DT, DN, DP và DV (Đỗ Ngọc Quỹ và Lê Tất Khương, 2000)[24].Hiện nay, tại Srilanka, diện tích trồng chè bằng các giống chè được nhângiống vô tính đạt trên 40% diện tích trồng chè trong cả nước

Sở Nghiên cứu chè Tứ Xuyên Trung Quốc trong năm 1960 bắt đầunghiên cứu lai hoa thụ phấn nhân tạo, đã bồi dục thành công hai giống chèThuộc Vĩnh số 1 và số 2 đã được công nhận là giống chè quốc gia Sở Nghiêncứu chè Hồ Nam, Trung Quốc từ năm 1975 trở lại đây, đã tiến hành 525 tổhợp lai tạo thụ phấn nhân tạo và thu được một số giống chè mới có triển vọng(Trịnh Khởi Khôn và Trang Tuyết Phong, 1997)[7]

Theo tác giả Đỗ Ngọc Quỹ và Đỗ Thị Ngọc Oanh (2011)[25] từ nhữngnăm 50 của thế kỷ XX, Ấn Độ đã thành công trong việc chọn ra 110 giống chètốt, trong đó có 102 giống chè được nhân bằng phương pháp vô tính Đến năm

2003, Ấn Độ đã có trên 80% diện tích chè được trồng bằng giống tốt chủ yếu

là giống chè Assamica được chọn lọc bằng phương pháp chọn lọc cá thể

Trang 20

Bằng phương pháp chọn lọc cá thể tại Tocklai đã chọn ra các giốngTV1, TV23 có sản lượng và chất lượng khá.

Bằng phương pháp công nghệ sinh học năm 1990 Ấn Độ đã chọn radòng tam bội TV29 có tiềm năng cho năng suất cao

Theo Đỗ Ngọc Quỹ và Lê Tất Khương (2000)[24]; L Rajanna and M.Ramakrishnan1 (2010) [39]; Ấn Độ, Nhật Bản, Srilanca, Trung Quốc,Gruria…đã sử dụng công nghệ sinh học trong chọn giống chè tốt, dùng phôinon, phôi hom bồi dưỡng thành cây chè hoàn chỉnh Sử dụng phương pháp lai,

sử dụng ưu thế lai để tạo ra giống chất lượng cao phục vụ cho sản xuất

Phương pháp lai hữu tính được Ấn Độ rất quan tâm đã chọn ra giốngVTA 54 có năng suất và chất lượng khá Từ cặp lai TV1/19,31,14 tại Tocklai

đã chọn ra giống TS449 có năng suất cao, chất lượng khá có khả năng chịuhạn tốt Cũng bằng phương pháp lai hữu tính đã chọn ra các giống TS450;TS462, TS463, TS464, TS491 và TS520 đều là các giống sinh trưởng khoẻ cókhả năng chịu hạn rất tốt (Trịnh Khởi Khôi và Trang Tuyết Phong, 1997)[7]

Nhật Bản, lần đầu tiên trong năm 1929 cũng đã xây dựng thành côngtrong việc thụ phấn lai tạo nhân tạo giống chè Assam và giống Nhật Bản tạonên cơ sở ổn định cho việc tuyển chọn bồi dục thành một loạt giống chè đen(Trịnh Khởi Khôi và Trang Tuyết Phong, 1997) [7]

Bằng phương pháp gây đột biến thực nghiệm Viện nghiên cứu chè vàcây trồng Á nhiệt đới Anaceuli (Gruzia) đã tạo được tập đoàn đột biến câytrồng Á nhiệt đới phong phú bao gồm 562 dòng chè, 218 dòng cam quýt, 23dòng trẩu và 12 dòng nguyệt quế Đối với giống chè, các đột biến làm tăngthành phần sinh hoá thể hiện rất rõ nét (từ 0,2 - 4,8%) Trong các dòng chè độtbiến, tác giả J.G Kerkadze (1986) [47] đã chia ra thành 3 nhóm: nhóm cóhương thơm đặc trưng hơn hẳn đối chứng gồm các dòng số 872, 1507,

2023, 2840,

2094, 3274, 3858 và dòng 582; nhóm có hương thơm nổi trội ở chè thành phẩm gồm các dòng số 2095, 3852, 4805, 3755, 2053, và dòng 510; nhóm có hương

Trang 21

chè đen phảng phất hương hoa hồng gồm các dòng số 855, 3823, 3846.

Takyu Toshio et al (2003) [43] đã chiếu xạ tia gamma ở liều lượng

2KR trong 20 giờ trên chè và họ đã thu được hai cây chè không có lông tuyếttrên lá non Giống chè không có lông tuyết trên bề mặt lá non có khả năngkháng bệnh tốt (do lông tuyết ở lá chè non là con đường xâm nhập chủ yếucủa các bào tử nấm), chất lượng cao

Qua 100 năm, Ngành chè thế giới đã tổng kết: Công tác chọn tạo giốngchè mới được đẩy mạnh, cây chè từ lúc tuyển chọn đến lúc tạo thành giốngmới, đưa ra sản xuất cần thời gian dài Theo thống kê đến năm 1990 của 11nước và khu vực trồng chè trên thế giới có số lượng giống chè mới tạo ra là

446 giống, trong đó có 387 giống vô tính chiếm 77%, giống lưỡng hệ, đa hệ

vô tính 22 giống chiếm tỷ trọng 4,93%, giống hữu tính chọn lọc 37 giốngchiếm tỷ trọng

8,3% Tỷ trọng phổ cập giống chè tốt trong sản xuất cao nhất ở Trung Quốc vàĐài Loan trên 90%, tỷ lệ phổ cập giống mới ở Ấn Độ và Kênia cũng đạt tới80% (Trịnh Khởi Khôn và Trang Tuyết Phong, 1997) [7]

1.4.1.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của cây chè

Các đặc điểm hình thái của cây chè (thân, lá, búp), đặc tính sinh trưởngcủa cây chè, thời gian sinh trưởng (bắt đầu, kết thúc sinh trưởng búp …), sốđợt sinh trưởng búp/năm… có quan hệ chặt chẽ với khả năng cho năng suất vàchất lượng chè nguyên liệu Do vậy nghiên cứu đặc tính sinh vật học cây chènhằm tuyển chọn giống chè tốt luôn được các nhà chọn giống trên thế giớiquan tâm

Theo Bakhơtadze (1948) [45], nghiên cứu quan hệ giữa lá chè và năngsuất đã đề ra các chỉ tiêu về lá làm căn cứ chọn giống chè như: màu sắc, kíchthước lá, cấu tạo giải phẫu lá

Nghiên cứu về quan hệ giữa lá chè với năng suất chất lượng chèBakhơtadze (1971) [46] cho rằng: góc lá tối ưu cho quang hợp của cây chè là

450, lá chè màu vàng là đặc trưng có lợi cho các chỉ tiêu sinh hoá búp chè.Nghiên cứu tương quan giữa số búp/tán và năng suất búp của nương chè tác giả

Trang 22

đưa ra kết luận: tương quan giữa số lượng búp và năng suất chè là 0,956 0,064.

Nghiên cứu quan hệ giữa lá chè trưởng thành và lá thứ 3 của búp chètôm ba lá tác giả Bakhơtadze (1971) [46] cho rằng: Lá thứ 3 của búp 1 tôm 3

lá thường có diện tích bằng 40% lá trưởng thành

Nghiên cứu của Hadfiel (1968) [38] về chỉ số diện tích lá của các giốngchè đã kết luận: Chỉ số diện tích lá của những giống chè thông thường từ 3 - 4

và của những giống chè có thế lá đứng là 5- 7 Giống chè Trung Quốc chỉ sốdiện tích lá cao hơn, có khả năng trồng và phát triển tốt trong điều kiện ánhsáng đầy đủ và cho năng suất cao hơn kiểu giống Assam

Nghiên cứu thời gian hoàn thành một đợt sinh trưởng búp, các tác giảTanton (1982) [44] đưa ra giá trị trung bình là 47,5 ngày tuy nhiên số ngày cho

1 đợt sinh trưởng biến động từ 30 - 42 ngày vào mùa hè và 70 - 160 ngày vàomùa đông

Mỗi giai đoạn cây chè sinh trưởng khác nhau vì vậy sự hình thành vàphát triển của búp chè cũng như các lứa búp chè cũng khác nhau

Mật độ búp và khối lượng búp là nhân tố quan trọng tạo nên sản lượngchè Tác giả Tanton (1982) [44] cũng chỉ ra nhân tố quan trọng nhất là mật độbúp đóng góp tới 89%, còn khối lượng búp tương tự chỉ đóng góp 11% năngsuất, sản lượng chè

Sự sinh trưởng của búp chè trong điều kiện có đốn thì sự phân hoá củamầm chè chủ yếu được hình thành trong vụ xuân và thời gian hình thành búpmuộn hơn một số ngày so với nương chè không đốn hái

Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa lá chè, thế lá và bộ rễ và khả năngchống chịu của các giống chè, Hadfiel (1968) [38] chỉ ra rằng: Những giốngchè Trung Quốc lá nhỏ, có thế lá đứng, với bộ rễ phân bố sâu dưới mặt đất cókhả năng chống hạn tốt hơn những giống chè khác

Đỗ Ngọc Quỹ và Lê Tất Khương (2000)[24] cho biết khi nghiên cứu đặc

Trang 23

điểm sinh trưởng của bộ rễ chè các nhà khoa học Trung Quốc cho rằng: Sinhtrưởng của bộ rễ và bộ lá chè có tương quan chặt với nhau, hỗ trợ cho nhau vềmùa Đông, khi chè ngừng sinh trưởng rễ chè bắt đầu phát triển, mùa Xuân khibúp chè sinh trưởng mạnh, bộ rễ phát triển chậm lại và tiếp tục như vậy khi bộ

rễ phát triển chậm lá chè, búp sẽ sinh trưởng nhanh và ngược lại

1.4.1.3 Nghiên cứu về nhân giống chè

a Nhân giống hữu tính

Đây là quá trình tạo cây con từ hạt Nhân giống hữu tính là phuơngpháp nhân giống cổ truyền được con người sử dụng từ khi biết trồng trọt Hạtđược hình thành là do kết quả thụ tinh của tế bào hạt phấn với tế bào noãn Từhạt sẽ mọc ra cây mới mang đặc tính di truyền của cả cây bố và cây mẹ, hoặcnghiêng hẳn về phía cây bố hoặc cây mẹ Trong tự nhiên rất phổ biến phươngpháp nhân giống này

Kỹ thuật chọn cây bố mẹ cần lưu ý những yếu tố sau:

- Thường chọn cây bố mẹ khác biến chủng vì mỗi thứ thường khác nhau

về yếu tố sinh thái, chè Shan thích hợp với vùng cao, chè trung du thích hợpvới vùng thấp, chè Ấn Độ ưa nóng ẩm… sẽ tạo ra con lai có khả năng thíchứng cao với môi trường mới

- Khi chọn cây bố mẹ cần lưu ý tới các yếu tố cấu thành năng suất, chấtlượng và tính chống chịu để bổ sung cho nhau những đặc tính trội

Tại Liên Xô (cũ) là một trong những nước trồng chè lớn của thế giới,trước đây họ chủ yếu sử dụng hạt chè nhập từ Trung Quốc và Ấn Độ Năm

1927 - 1928 đã sử dụng hạt của các giống chè lai tạo, chọn lọc như Gruzia 1,Gruzia 2, các giống này cho năng suất cao hơn Đại Bạch Trà 25 - 40%(Nguyễn Văn Toàn và cs., 1998).[30]

b Các phương pháp nhân giống vô tính

1- Phương pháp nuôi cấy mô (invitro)

Phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật invitro được pháp triển mạnh

Trang 24

và hoàn thiện từ những năm 60 của thế kỷ 20, sau khi đã có môi trường nuôicấy chuẩn, đặc biệt là sử dụng các chất kích thích sinh trưởng thực vật vàomôi trường nuôi cấy, sử dụng các tế bào trần để nuôi cấy huyền phù… Ngàynay người ta có thể nuôi cấy tế bào thực vật của bất kỳ loại cây nào và nhânbản vô tính cây invitro để vi nhân giống và tạo ra giống mới, (Nguyễn NgọcHải, 1997; LI Xinghui Tianmou Huang Qiwei, 2005)[40].

Áp dụng phương pháp nuôi cấy mô tế bào các nhà khoa học Nhật Bản

đã tạo ra được cây chè con Tuy nhiên phương pháp này khó áp dụng vào sảnxuất đại trà vì giá thành cây con cao do tỷ lệ chết khi chuyển cây con từ ốngnghiệm ra vườn ươm rất cao

Bangladesh bắt đầu trồng chè ghép từ năm 1970, Kenya ngoài giâmcành còn áp dụng chè ghép

từ những năm 1970; Indonexia bắt đầu phổ biến từ năm 1988

Nghiên cứu môi trường cắm hom các nhà khoa học Liên Xô (cũ), Ấn Độ,

Trang 25

Srilanca, Đông Phi đều cho rằng: cắm hom vào túi PE không ảnh hưởng tới sự

ra rễ của hom chè Việc giâm cành vào túi PE giá thành lại cao do tăng chi phímua túi bầu và công đóng bầu, nên để giảm giá thành sản xuất cây con giống

mà vẫn đảm bảo cây giống tốt các nhà khoa học Nhật Bản, Trung Quốc đãnghiên cứu giâm cành trực tiếp trên nền đất hoặc giá thể dinh dưỡng

Để giâm hom chè đạt kết quả tốt cần thực hiện đầy đủ các yếu tố kỹthuật Theo Hartmen và Kester (1988) [39] cho biết có 3 yếu tố chính ảnhhưởng tới kết quả giâm hom: Giống, kỹ thuật xử lý hom và môi trường giâm

Theo Anon (1986) [37] nghiên cứu ở Kenya cho biết để có hom giốngtốt cần phải chăm sóc vườn cây mẹ chu đáo như chế độ bón phân đặc biệt, đốnnhiều lần trong năm Hom giống tốt có chiều dài 3 - 4 cm, nếu ngắn hơn 3 cmphải bỏ bớt 1 lá để đảm bảo độ dài của hom

Tác giả Patarava (1987) [41] nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đếnvườn chè giâm hom cho thấy: Nhiệt độ dưới 50C hoặc trên 450C thì hom chè

bị chết; nhiệt độ dưới 150C và trên 350C thì hom chè sinh trưởng chậm; nhiệt

độ thích hợp cho hom chè sinh trưởng và phát triển tốt là từ 25 - 300C

1.4.2 Nghiên cứu về cây chè ở Việt Nam

1.4.2.1 Nghiên cứu về giống chè

a Hiện trạng tập đoàn giống chè của Việt Nam

Việt Nam được coi là vùng nguyên sản của cây chè và cũng là cây trồngđược người Việt đưa vào trồng trọt từ xa xưa Công tác nghiên cứu, thu thậpgiống chè ở nước ta được tiến hành từ những thập kỷ đầu của thế kỹ 20, trảiqua nhiều giai đoạn thăng trầm khác nhau và đã đạt được những thành tựunhất

Trang 26

60,62%) Phân theo hình thái có: thứ Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis var Bohea): 71 giống, thứ Trung Quốc lá to(Camellia sinensis var Macrophylla): 42 giống, thứ chè Ấn Độ (Camellia sinensis var Assamica): 38 giống, chè Shan (CamelliasinensisvarShan): 42 giống.

So với trước năm 2000, tập đoàn giống chè được thu thập bảoquản đểkhai thác tăng thêm 71 giống (tăng 58,2% so với tổng số giống bảo quản) Cácgiống chè này đang là nguồn vật liệu quan trọng phục vụ cho công tác chọntạo giống chè mới chất lượng cao ở Việt Nam (Nguyễn Hữu La và Đỗ VănNgọc, 2011) [11]

b Kết quả nghiên cứu chọn tạo giống chè ở Việt Nam

Có nhiều phương pháp khác nhau để tạo ra giống chè mới được áp dụng

từ trước tới nay như:

+ Phương pháp nhập nội giống

+ Phương pháp chọn lọc cá thể

+ Chọn tạo giống bằng phương pháp lai hữu tính

+ Chọn tạo giống bằng phương pháp đột biến

+ Chọn tạo giống bằng phương pháp công nghệ sinh học

Mỗi một phương pháp ở từng giai đoạn có các thành tựu nghiên cứu xác

Trang 27

23 giống, trong đó giống địa phương 13 giống và giống nhập nội là 10 giống.

Giai đoạn năm 1959- 1990 là thời kỳ chủ yếu chỉnh lí và lai tạo giống,trao đổi giống với nước ngoài Tổng số thu thập gồm 37 giống, trong đónguồn gốc địa phương 4 giống, nguồn nhập nội gồm 16 giống và nguồn chọntạo được

Trang 28

17 giống, các giống chè mới chọn lọc như PH1, 1A, TRI777, TH3, LDP1,LDP2.

Giai đoạn năm 1994- 1997, xúc tiến mạnh công tác thu thập, kết quả đã

bổ sung được 34 giống Trong đó giống địa phương 4 giống, chọn lọc 5 giống,nhập nội 25 giống Sử dụng các giống Kim Tuyên, Thuý Ngọc, OLong ThanhTâm phục vụ cho công tác lai tạo chọn giống (Trịnh Văn Loan và Hoàng Cự,1994; Đỗ Ngọc Quỹ và Đỗ Thị Kim Oanh, 2011)[ 12], [25]

Giai đoạn năm 2000- 2005 công tác điều tra thu thập các giống địa ơng và nhập nội giống được đẩy mạnh, nhằm tìm ra những nguồn gen quítrong nước, nhập nội giống nhằm cải thiện chất lượng chè Việt Nam Đến năm

phư-2003, Hội đồng khoa học Bộ Nông nghiệp và PTNT đã công nhận tạm thời 7giống nhập nội, đó là các giống Hùng Đỉnh Bạch, Phúc Vân Tiên, Keo AmTích, Kim Tuyên, Thuý Ngọc, Bát Tiên và PT95 (Đỗ Văn Ngọc và cs., 2010)[16], trong

7 giống trên đến nay có 3 giống đã được công nhận chính thức, đó là: KimTuyên, Thuý Ngọc và Phúc Vân Tiên, 4 giống còn lại sinh trưởng yếu và sâubệnh phát triển nhiều Giai đoạn 2006 - 2010, thông qua dự án “Phát triểngiống chè chất lượng cao giai đoạn 2006 - 2010”, Trung tâm Nghiên cứu vàPhát triển chè đã nhập một số giống chè từ Ấn Độ và Trung Quốc, trong đó có

02 giống PH10 và PH11 được đánh giá là có chất lượng tốt (đã được Bộ Nôngnghiệp và PTNT công nhận là giống sản xuất thử năm 2010) (Đỗ VănNgọc và cs,

2010)[16] Hiện nay giống PH11 đã và đang mở rộng diện tích, được trồng ởPhú Thọ với diện tích trên 124,5ha (Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núiphía Bắc, 2012)[35] Năm 2013, giống PH11 đã được Bộ Nông nghiệp và pháttriển Nông thôn công nhận giống Quốc Gia (Đỗ Văn Ngọc, 2016).[17]

2- Chọn tạo giống bằng phương pháp chọn lọc cá thể

Để có giống chè chọn lọc nguồn gốc địa phương, năm 1970- 1976 đãchọn ra cây chè TH3, thuộc thứ chè Trung Quốc lá to nguồn gốc Lạng Sơn,năm 1978 được giâm cành và trồng giám định giống TH3 là giống có năng

Trang 29

suất cao chịu thâm canh (Trần Thị Lư và Nguyễn Văn Toàn, 1994)[13].

Theo Nguyễn Xuân An (2006)[1], Năm 1962 tại Bảo Lộc đã chọn ra 2giống chè TB11 và TB14 có năng suất cao, chất lượng tốt từ 17 cây chè ShanTrấn Ninh Năm 1997, Trung tâm nghiên cứu thí nghiệm chè Lâm Đồng đãchọn, phổ biến vào sản xuất giống chè LĐ97, có khả năng cho năng suất cao,chất lượng tốt, kháng sâu bệnh, ít kén đất và chịu thâm canh

Năm 2010, Đỗ Văn Ngọc và cộng sự đã chọn lọc từ 13 cây chè Shanđầu dòng bằng phương pháp chọn lọc cá thể chọn ra được 2 giống PH12 vàPH14 có năng suất cao, chất lượng tốt được trồng trong sản xuất với diện tích5,5ha ở Hà Giang đối với giống PH14 và 25,1 ha tại Yên Bái đối với giốngPH12 (Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, 2014)[36] Haigiống chè PH12 và PH14 đã được Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôncông nhận giống sản xuất thử năm 2010

3- Chọn giống bằng phương pháp lai hữu tính

Năm 1980, Viện Nghiên cứu Chè đã tiến hành 7 tổ hợp lai mà bố mẹ đãđược xác định, sau khi gieo hạt và tuyển chọn được 35 cá thể có nhiều triểnvọng Năm 1988 đã chọn lọc được 4 cá thể nổi bật đó là LDP1, LDP2, CDP

và CLT Sau 10 năm giám định, so sánh giống đã thu được kết quả tốt Haidòng lai LDP1, LDP2 được chọn từ tổ hợp lai giữa giống Đại Bạch Trà (mẹ) xPH1 (bố) (Đỗ Văn Ngọc và cs., 1994; Đỗ Văn Ngọc và cs., 2010; NguyễnVăn Toàn và cs.,

1994)[16], [29] Hai dòng LDP1, LDP2 là dòng lai sinh trưởng khoẻ, năng suấtcao, chất lượng tốt được Bộ Nông nghiệp & PTNT công nhận giống tạm thời,năm 1994 cho phép mở rộng ra sản xuất, giống LDP1 đã được công nhận làgiống quốc gia năm 2003, giống LDP2 được công nhận 2006

Theo Nguyễn Thị Minh Phương, (2007) [18] năm 1994, Viện nghiên cứuchè đã thu hạt của giống PH1 gieo trồng và tiến hành chọn lựa, năm 1995 đãchọn được một số cá thể đưa vào giám định, năm 1996 đã chọn được 2 dòng

276 và

215 có nhiều ưu điểm cả về năng suất và chất lượng, đã được hội đồng khoahọc

Trang 30

của Viện nghiên cứu chè cho phép bố trí thí nghiệm giám định chính

quy

Trong những năm gần đây, cũng bằng phương pháp lai tạo, từ tổ hợpcon lai giữa giống Kim tuyên và giống IRI777, Trung tâm Nghiên cứu và Pháttriển Chè - Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã tạo ra được 2giống chè PH8 và PH9 (được công nhận giống tạm thời năm 2009) GiốngPH8 đã được công nhận giống chè mới năm 2015 (Nguyễn Thị Minh Phương,[20] Hiện, hai giống này được đánh giá là có năng suất cao, chế biến chèxanh và chè đen có chất lượng tốt

Từ kết quả cặp lai giữa giống chè Kim Tuyên (giống chè có nguồn gốc

từ Đài Loan) với giống chè Trung Du (giống chè bản địa), đã tạo ra giống chèHương Bắc Sơn có chất lượng tốt, có khả năng chế biến được các mặt hàngchè cao cấp như chè xanh dẹt, chè ôlong chất lượng cao Đây là giống chè đầutiên được chọn tạo trong nước có ckhả năng chế biến được chè Ôlong chấtlượng cao Đã được Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn công nhận giốngchè sản xuất thử năm 2015.(Nguyễn Thị Minh Phương, 2015)[19]

Cũng bằng phương pháp lai hữu tính giữa giống chè Saemidori (Nguồngốc Nhật Bản) với giống chè Shan Cù Dề Phùng đã tạo ra giống chè VN15chế biến chè xanh có chất lượng rất tốt Đã được Bộ nông nghiệp và phát triểnnông thôn công nhận giống chè sản xuất thử năm 2016.(Nguyễn Thị MinhPhương,

Từ tập đoàn các cá thể được tạo ra bằng phương pháp lai hữu tính vàdòng chè nhập nội đã chọn được 12 dòng chè có triển vọng sinh trưởng khỏe,năng suất và chất lượng cao trong đó có 8 dòng chè chọn lọc bằng phươngpháp lai hữu tính đó là các dòng: 203,209, 218, 238, 242, 244, 248, 263

Trang 31

(Nguyễn

Trang 32

Khảo nghiệm các dòng chè ưu tú gồm 8 dòng gò dọc, khảo nghiệm diệnrộng 6 dòng gò Trại khế (Trung tâm nghiên cứu và phát triển chè) và khảonghiệm các dòng chè tại vùng sinh thái đã chọn ra được 5 dòng chè có triểnvọng (số 13, số 15, số 17, số 20, số 25) sinh trưởng khỏe, cho năng suất cao ởtuổi 4 đạt trên 5 tấn/ha, Đây đều là những giống có tiềm năng năng suất cao,chất lượng khá thích ứng tốt có khả năng mở rộng trong sản xuất.(Đỗ VănNgọc, 2016)[17].

Phương pháp lai hữu tính các giống chè đang được Viện Khoa học kỹthuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc rất quan tâm và đưa ra khảo nghiệm

so sánh giống, khảo nghiệm trên diện rộng, khảo nghiệm trong sản xuất tại cácvùng sinh thái đối với các dòng chè có triển vọng để công nhận giống sản xuấtthử và giống chè mới

4- Chọn giống bằng phương pháp gây đột biến

Theo Nguyễn Văn Toàn và cs (1998) [30], bằng phương pháp gây độtbiến có thể làm thay đổi được một hay nhiều tính trạng của cây chè mà đôi khinhững tính trạng đó không thể đạt được bằng con đường lai tạo Tại ViệnKhoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã sử dụng tác nhânhoá học bằng colchicine xử lý trên mầm cây chè 2 tuổi với nồng độ từ 0,1đến 0,8%,

Trang 33

thời gian xử lý từ 24 đến 72 giờ và đã thu được một số biến dị Cũng tại ViệnKhoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã xử lý đột biến bằngbức xạ gamma (nguồn Co60) trên hạt đang nảy mầm và thu được kết quả là ởliều lượng 3 Kr gây chết 100%

Phân tích mức độ thay đổi phân tử của một số dòng chè đột biến, kếtquả cho thấy hệ số tương đồng di truyền giữa các giống, dòng chè đột biến có

sự gần nhau, khác xa nhau hay có sự tương đồng giữa một số dòng với nhau

và hoàn toàn tuân theo thuyết tương đồng di truyền của Vavilov, các tác giả

đã nhận định các đột biến nếu đã phát sinh ở giống này thì cũng sẽ phát sinh ởgiống khác và có thể là cơ sở để chúng ta tìm kiếm những biến dị cảm ứng làmvật liệu khởi đầu phục vụ cho công tác chọn tạo giống chè mới

Lê Mệnh và Nguyễn Văn Tạo (2006) [14] đã tuyển chọn ở thế hệ M1 từquần thể biến dị cảm ứng bằng bức xạ gamma Co60 trên hạt giống TRI777 vàPH1 và đã xác định được 12 cá thể có triển vọng về năng suất, chất lượng, khảnăng chống chịu sâu bệnh và chịu hạn, đã nhân giống và phát triển thànhdòng Trong đó có 5 dòng nổi trội nhất, đó là: dòng P2.0 (xử lý trên hạt giốngPH1) có khả năng chống chịu tốt với rầy xanh và bọ xít muỗi hơn hẳn đốichứng; dòng 3.5.1 (xử lý trên hạt giống TRI 777) có hương đặc trưng hơn hẳngiống TRI 777; dòng 4.0 (xử lý trên hạt giống TRI 777) có vị đậm dịu, đặcbiệt là hương thơm hơn hẳn giống TRI 777, dòng P5.2 (xử lý trên hạt giốngPH1), nhiễm nhẹ đối với rầy xanh hơn đối chứng; dòng 5.0 (xử lý trên hạtgiống TRI

777) Các kết quả phân tích năm 2006, 2007 so với giống TRI 777 cho thấydòng chè này có hàm lượng tanin thấp hơn 9%, chất thơm cao hơn 2,7% (cólợi cho chế biến chè xanh) và năng suất cao hơn 80% Qua đánh giá khảonghiệm đã tuyển chọn được 3 dòng chè TRI777-5.0, TRI777-4.0, TRI777-3.5.2 có năng suất cao hơn đối chứng từ 74- 122%, có chất lượng chè xanhtốt, có khả năng chống chịu với sâu bệnh tốt, thích ứng với các vùng sinh tháirộng, đây là các dòng chè quý sẽ góp phần làm phong phú thêm nguồn quỹgen các giống chè

Trang 34

tại Việt Nam.

Nguyễn Văn Toàn và cs (2011) [31] đã công bố kết quả nghiên cứu ảnhhưởng của bức xạ gamma lên hạt chè giống PH1 và TRI 777 như sau:

Các liều lượng tia phóng xạ gamma Co60 lên hạt chè giống đã ảnhhưởng lớn tới tỷ lệ mọc của các giống Liều lượng xử lý càng cao thì tỷ lệ mọccủa các cây chè giống càng thấp Liều lượng gây chết một nửa của giốngTRI777 là dưới 5.0kr, giống PH1 là trên 4.5 và dưới 5.0 kr

Dưới tác động của tác nhân vật lý bức xạ gamma Co60 xuất hiện một sốbiến dạng điển hình như hiện tượng đa phôi tăng lên, tỷ lệ khảm tăng, biến dạng về hình dạng lá và độ gồ ghề ở phiến lá

Qua khảo nghiệm so sánh giống đã chọn ra dòng TRI 7774.0 và TRI7775.0 có năng suất cao tuổi 11 đạt 10,79 - 11,30 tấn/ha cao gấp 2 lần so vớiđối chứng TRI777 đạt 5,34 tấn /ha, có chất lượng chè xanh tốt, điểm đánh giácảm quan đạt 16,74 - 17,04 điểm tương đương với đối chứng, đây là dòng chè

có nhiều triển vọng Giống chè TRI5.0 đã được Bộ nông nghiệp và phát triểnnông thôn công nhận giống chè sản xuất thử năm 2015.(Nguyễn ThịMinh Phương,

2015)[19]

Từ năm 2009 đến năm 2012 Viện KHKT Nông Lâm nghiệp miền núiphía Bắc đã tiến hành xử lý tia gamma nguồn Co60, và tác nhân hoá học (Ethylmethansulfonate) lên hạt chè đang nảy mầm, chưa nảy mầm và hom chè củacác giống chè Shan, Phúc Vân Tiên, Trung Du và Kim Tuyên kết quả đã thuđược nhiều biến dị có giá trị về năng suất, chất lượng và hình thái Đặc biệtdưới tác động của tia gamma đã tạo nên những cá thể đột biến có màu sắccánh hoa thay đổi từ màu trắng chuyển thành màu phớt hồng Đã chọn được

100 cá thể có nhiều đặc điểm quí về năng suất và chất lượng, điển hình là 12

cá thể: ĐBK2, ĐBT5, ĐBK1, ĐBP17, ĐBTtd205, ĐBTtd208, ĐBTtd401,ĐBTtd405, ĐBTL219, ĐBPL252, ĐBPL263, ĐBPL278 có năng suất caohơn đối chứng từ 40,0 - 132,6%, có chất lượng chè xanh tốt hương thơm đặctrưng, vị dịu có điểm thử nếm trên 17,0 điểm, hiện đang tiến hành nhângiống, trồng khảo

Trang 35

nghiệm so sánh giống (Nguyễn Văn Toàn và cs., 2012) [32].

5- Chọn giống bằng phương pháp công nghệ sinh

Ứng dụng Công nghệ sinh học là một hướng mới trong công tác giốngchè ở nước ta hiện nay Nhờ đó, thời gian chọn tạo giống chè mới sẽ được rútngắn do định hướng được gen mong muốn và nuôi cấy mô sớm tạo ra sốlượng nhiều cây là nguồn vật liệu khởi đầu có giá trị phục vụ cho đánh giá,chọn lọc Nhằm sớm tạo được giống chè mới phục vụ sản xuất đánh giá dòngchè mới ưu thế lai được tạo ra bằng kỹ thuật chỉ thị phân tử và công nghệ cứuphôi ngay từ giai đoạn nuôi cấy trong phòng thí nghiệm

Từ năm 2008, bằng kỹ thuật nuôi cấy mô, viện đã nghiên cứu, chọn tạođược chín dòng chè lai cứu phôi triển vọng: CNS-1, CNS-2, CNS-3, CNS-4,CNS-5, CNS-6, CNS-7, CNS-8 và CNS-9 Các dòng chè này được tạo ra từcác cặp bố mẹ có khoảng cách di truyền xa nhau và được chọn lọc từ các cáthể ở giai đoạn nuôi cấy mô và giai đoạn vườn ươm khi cây chè con được mộtnăm tuổi Sau thời gian trồng từ hai đến sáu tháng, tỷ lệ sống của các dòng chèbằng công nghệ CTPT cao hơn so với dòng chè truyền thống, vượt trội làdòng chè CNS-1, sau hai tháng tỷ lệ sống 100%, tiếp đó là CNS-7 (tỷ lệ sống98%) Không những vậy, cây chè chọn tạo bằng công nghệ CTPT qua theodõi, đánh giá thường sinh trưởng khỏe, phân cành nhiều, tán rộng, có tiềmnăng cho năng suất cao.Bước đầu tuyển chọn được 4 dòng chè lai cứu phôi có

ưu thế lai vượt trội về khả năng thích nghi, sức sinh trưởng phát triển và khảnăng cho năng suất cao đó là các dòng CNS-1, CNS-3, CNS-6 và CNS-8 (báoNhân dân, (2015) [50]

1.4.2.2 Nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng của cây chè Việt Nam

Nghiên cứu về đợt sinh trưởng của chè, tác giả Nguyễn Ngọc Kính(1979) [10] cho thấy: Trong năm chè để sinh trưởng tự nhiên có 3 - 5 đợt sinhtrưởng, khi đốn hái thì có 6 - 7 đợt sinh trưởng, điều kiện thâm canh cao có thể

Trang 36

có từ 8 - 9 đợt sinh trưởng.

Thời gian sinh trưởng 1 đợt búp trên giống chè Trung du tại Phú Hộ dàihay ngắn phụ thuộc rất lớn vào mùa vụ, vụ xuân búp chè có thời gian sinhtrưởng dài nhất và ngắn nhất là vụ hè

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa sinh trưởng búp chè với sản lượng chètheo tác giả Nguyễn Văn Toàn và cs (1994) [29]: sản lượng búp chè do 2 yếu

tố số lượng búp trên cây và khối lượng búp quyết định, trong đó số lượngbúp/cây có tương quan chặt hơn đối với sản lượng, đây là yếu tố rất nhạy cảm

có thể thay đổi theo những điều kiện canh tác và các biện pháp kỹ thuật

Quan hệ giữa bộ rễ và tán cây chè theo tác giả Nguyễn Đình Vinh(2002) [34]: vào cuối tháng 3 đầu tháng 4 rễ bắt đầu sinh trưởng, chỉ sau khihình thành nên một đợt sinh trưởng rễ nhất định, thì bộ phận trên mặt đất mớilần đầu sinh trưởng Vào mùa thu sau khi kết thúc đợt sinh trưởng của phầntrên mặt đất, bộ rễ chè mới bắt đầu sinh trưởng Sự sinh trưởng của bộ rễmạnh hay yếu có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng búp chè vụ xuân nămsau

Tác giả Nguyễn Ngọc Kính (1979) [10] cho rằng: lá chè mọc trên cànhchè của các giống khác nhau có thế lá khác nhau, thế lá úp, thế lá nghiêng, thế

lá rủ và thế lá ngang Thế lá ngang và thế lá rủ là đặc trưng của giống chè cónăng suất cao

Theo Đỗ Ngọc Quỹ (1980) [22] phân loại lá chè như sau:

Dạng phiến lá căn cứ theo tỷ lệ dài lá/ rộng lá (d/r)

Trang 37

có bộ khung tán to, khoẻ, có khả năng cho năng suất cao.

1.4.2.3 Nghiên cứu về nhân giống chè

a Nhân giống hữu tính:

Trồng chè bằng hạt rất phổ biến ở nước ta (từ những năm 1980 vềtrước), người dân thường gieo hạt tại chỗ hoặc trồng cây con không lựa chọn.Mặc dù nước ta là quê hương của cây chè nhưng việc trồng chè chưa đượcquan tâm đúng mức, trồng chè theo lối quảng canh, năng suất, chất lượngkhông cao

Sử dụng phương pháp nhân giống bằng hạt trong lai tạo đã thu đượcnhiều kết quả Khi dùng cây mẹ là Đại Bạch Trà, cây bố là PH1, Viện Nghiêncứu Chè đã lai tạo thành công hai giống chè LDP1 và LDP2 có năng suất, chấtlượng cao, được Hội đồng khoa học Bộ Nông nghiệp & PTNT thông qua vàcho phép khu vực hóa năm 1994, giống LDP1 được công nhận giống quốc gianăm 2003 và giống LDP2 được công nhận giống 2006

Theo tác giả Đỗ Ngọc Quỹ (1980) [22]: Quy trình trồng chè hạt của BộNông nghiệp qui định khoảng cách trồng chè 1,50 x 0,40 m mỗi hốc gieo 5-6hạt, độ sâu 3-5 cm, gieo dự trữ 5-10%

Tiêu chuẩn hạt chè tốt là hạt chín, tươi, chắc, nặng, to, 1kg hạt chègiống Trung Du có trung bình 500 hạt, giống Shan là 400 hạt Hàm lượngnước trong hạt 25-30%, sức nảy mầm trên 75% (Đỗ Ngọc Quỹ, 1993) [23]

b.Các phương pháp nhân giống vô tính

Trang 38

Trung tâm nghiên cứu chè Bảo Lộc Lâm Đồng đã nghiên cứu thànhcông kỹ thuật tạo cây chè ghép từ giống TB14 và LĐ19 vào năm 1999, đề tàiđược hội đồng khoa học tỉnh Lâm Đồng công nhận vào tháng 12/2000.

Nghiên cứu về ghép chè tác giả Nguyễn Xuân An (2006) [1], kết luậnrằng: Cả 2 phương pháp ghép áp và ghép nêm đều có kết quả tốt, tuy nhiênghép áp đoạn cành cho kết quả tốt hơn, khả năng phát triển của cành ghépmạnh hơn, tỷ lệ nảy mầm đạt 90,19%, tỉ lệ ghép sống đạt 87,04% Thời giannảy mầm ngắn 25 đến 39 ngày

2- phương pháp chiết cành:

Nghiên cứu về chiết cành chè lần đầu tiên được Dupasquier nghiên cứu

ở Việt Nam vào năm 1921-1923 và Guiraid vào năm 1952 Các tác giả trênđều cho rằng chiết cành chè là phương pháp nhân giống đơn giản nhất so vớigiâm cành và ghép, tuy nhiên hệ số nhân thấp

3- phương pháp nuôi cấy mô

Nghiên cứu khả năng nuôi cấy mô của một số giống chè cho thấy khảnăng nẩy chồi của một số giống chè khi nuôi cấy bằng phôi hạt là như nhautrong khi đó nếu nuôi cấy bằng búp thì các giống chè Shan và giống LDP1 có

tỷ lệ nẩy chồi thấp hơn Các giống chè Shan và giống LDP1, Shan Chất Tiền,Gruzia 3 có khả năng tạo thành phôi vô tính, khả năng tạo chồi và rễ mạnhhơn các giống khác

Trang 39

cành giâm Ở các tuổi lớn bộ rễ của cây chè trồng bằng cành phát triển tốt hơncây chè trồng bằng hạt.

Nguyễn Văn Tạo (2004) [26] đã thực hiện dự án (Hoàn thiện qui trìnhcông nghệ nhân giống vô tính giống chè LDP1 & LDP2 bằng giâm hom đểchuyển giao cho sản xuất) Kết quả đã xác định được thời vụ để hom thích hợpnhất vào lứa hái chính tháng 8 hàng năm, cắm hom vào tháng 11 - 12, tiêuchuẩn chất lượng hom chè giống quy định có thể sử dụng hom có thân mầuxanh đậm; hom nửa xanh nửa nâu; hom có mầu nâu sáng để giâm vô tính Đếnhết năm 2004 diện tích hai giống chè lai LDP1 & LDP2 đã trồng được trên 14ngàn ha, chiếm khoảng 12% diện tích chè cả nước

Đỗ Văn Ngọc và cs (2010) [16] đã thực hiện dự án “ phát triển giốngchè mới giai đoạn 2006 - 2010” đã thu được kết quả như sau: về thời vụ cắmhom ở miền bắc có 2 thời vụ cắm hom tốt vụ thu cắm hom vào tháng 8, vụđông xuân cắm hom vào tháng 11 - 12, có thể dựa vào thời vụ cắm hom đểxác định thời vụ nuôi hom thích hợp trên vườn giống Tiêu chuẩn hom giốngkhác nhau trên từng giống: đối với giống Shan Chất Tiền, hom loại 1 chiều dàihom 3,5 -

4,5cm, đường kính hom 3 - 4mm, hom loại 2 chiều dài hom 3,5 - 4,5cm,đường kính hom 2,5 -3,0mm Đối với giống chè chất lượng cao hom loại 1chiều dài hom 3- 4cm, đường kính hom 2,5 - 3mm, hom loại 2 chiều dài hom

Trang 40

Một trong những vai trò to lớn của phương pháp đột biến là tạo ranguồn vật liệu khởi đầu quí giá phục vụ cho công tác lai tạo Phương phápgây đột biến có thể tạo ra nguồn vật liệu khởi đầu với số lượng lớn, nguồnbiến dị rất phong phú và chỉ trong một thời gian ngắn Tuy nhiên, trong nhữngnăm vừa qua những nghiên cứu về chọn tạo giống chè bằng phương pháp độtbiến còn hạn hẹp cả về chiều rộng và chiều sâu

Như vậy, chúng ta thấy rằng để tạo ra các sản phẩm mới, tăng sức cạnhtranh của sản phẩm chè Việt Nam thì phải có những giống chè tốt Để có được

bộ giống tốt cho chế biến chè xanh, chè đen và chè Olong cần phải tập trungchọn tạo giống theo phương pháp lai hữu tính và phương pháp gây đột biếnnhân tạo hiệu quả nhất, cần phải khai thác nguồn gen quý từ các giống chènhập nội từ Trung Quốc, Đài Loan, Nhật bản

Ngày đăng: 23/07/2018, 11:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Lê Mệnh và Nguyễn Văn Tạo (2006). “Khả năng nhân giống vô tính bằng giâm hom các dòng chè được chọn tạo bằng phương pháp xử lý đột biến gamma Co 60 từ giống gốc TRI777”, Tạp chí Khoa học- Công nghệ của Bộ Nông nghiệp và PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng nhân giống vô tính bằnggiâm hom các dòng chè được chọn tạo bằng phương pháp xử lý đột biếngamma Co60 từ giống gốc TRI777
Tác giả: Lê Mệnh và Nguyễn Văn Tạo
Năm: 2006
16. Đỗ Văn Ngọc và cộng sự (2010). Báo cáo kết quả thực hiện dự án “Phát triển các giống chè chất lượng cao giai đoạn 2006-2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháttriển các giống chè chất lượng cao giai đoạn 2006-2010
Tác giả: Đỗ Văn Ngọc và cộng sự
Năm: 2010
37. Anon. (1986), “The maintenance foliage”, in Tea Growers Handbook, 4 th edn, Tea Rereach Foundation of Kenya, Kericho, Kenya Sách, tạp chí
Tiêu đề: The maintenance foliage"”, in Tea Growers Handbook
Tác giả: Anon
Năm: 1986
1. Nguyễn Xuân An (2006). Nghiên cứu khả năng nhân giống một số giống chè mới bằng phương thức giâm cành và ghép tại GiaLai-ĐắkLák. Luận án TS Khoa học Nông nghiệp, ĐHNN1, Hà Nội Khác
2. Nguyễn Thị Ngọc Bình (2002). Nghiên cứu đặc điểm hình thái giải phẫu lá, hom, một số giống chè chọn lọc ở Phú Hộ nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng giống, Luận án tiến sỹ Nông Nghiệp, Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Việt Nam, Hà Nội Khác
3. DjemuKhatze K.M (1982). Cây chè miền Bắc Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
4. Dự án phát triển cây chè và cây ăn quả (2002). Sổ tay hướng dẫn kỹ thuật làm vườn ươm chè miền Bắc, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Khác
5. Nguyễn Ngọc Hải (1997), Công nghệ sinh học trong nông nghiệp, NXB khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Khác
6. Nguyễn Hữu Khải (2005). Cây chè Việt Nam - Năng lực cạnh tranh xuất khẩu và phát triển, NXB lao động xã hội, Hà Nội Khác
7. Trịnh Khởi Khôi và Trang Tuyết Phong (1997). 100 năm ngành chè thế giới, tài liệu dịch, Tổng Công ty chè Việt Nam, Hà Nội Khác
8. Lê Tất Khương (1997). Nghiên cứu đặc điểm của một số giống chè mới trong điều kiện Bắc Thái và những biện pháp kỹ thuật canh tác hợp lý cho những giống chè có triển vọng, Luận án Tiến sỹ Nông nghiệp, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội Khác
9. Lê Tất Khương (1997). Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng phát triển một số giống chè mới và biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng chè vụ đông - xuân ở Bắc Thái, Luận án PTS Khoa học nông nghiệp, Viện KHKT Nông nghiệp Việt Nam Khác
11. Nguyễn Hữu La (2011), Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển và một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng một số dòng chè Shan Hà Giang chọn lọc, Luận án tiến sỹ nông nghiệp,Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội Khác
12. Trịnh Văn Loan và Hoàng Cự (1994). Công nghiệp chế biến chè đen từ nguyên liệu giống chè PH1 tại xí nghiệp chè Phú Sơn (1989 - 1992), Kết quả Nghiên cứu khoa học và Triển khai công nhệ cây chè, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr 229- 236 Khác
13. Trần Thị Lư và Nguyễn Văn Toàn (1994). Hiện trạng phân bố giống chè ở miền Bắc Việt Nam và vai trò của một số giống mới chọn lọc trong sản xuất, Kết quả triển khai công nghệ về chè giai đoạn 1988- 1997 Khác
15. Đỗ Văn Ngọc, Nguyễn Hữu La và Nguyễn Thị Minh Phương (2009). Kết quả nghiên cứu giống chè giai đoạn 2006 - 2010, Kết quả Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ giai đoạn 2006 - 2009, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
17. Đỗ Văn Ngọc và cộng sự (2016). Nghiên cứu chọn tạo giống chè năng suất cao chất lượng tốt phục vụ nội tiêu và xuất khẩu. Báo cáo đề tài nghiên cứu Khác
18. Nguyễn Thị Minh Phương (2007). Đánh giá đặc điểm nông-sinh học của một số giống chè và con lai sau chọn lọc tại vùng Trung du Phú Thọ, Luận án Thạc sĩ khoa học Nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Khác
19. Nguyễn Thị Minh Phương (2015). Báo cáo công nhận giống sản xuất thử.Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc Khác
20. Nguyễn Thị Minh Phương (2015). Báo cáo công nhận giống mới. Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w