1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

HIỆN TƯỢNG SUY GIẢM TẦNG OZON VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA NÓ ĐẾN MÔI TRƯỜNG SỐNG TRÊN TRÁI ĐẤT

15 602 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nội dung chính của tiều luận: Khái niệm tầng ozon Cơ chế chi tiết, cụ thể của sự phân hủy tầng ozon Nguyên nhân gây phân hủy tầng ozon Các tác động tiêu cực của sự phân hủy tầng ozon lên môi trường sống trên trái đất Các biện pháp phòng ngừa hiện tượng suy giảm tầng ozon

Trang 1

TIỂU LUẬN MÔI TRƯỜNG

HIỆN TƯỢNG SUY GIẢM TẦNG OZON VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA NÓ ĐẾN MÔI TRƯỜNG SỐNG TRÊN TRÁI ĐẤT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

Bộ môn Hóa phân tích & Độc chất

Hà Nội – 08/2016

Trang 2

TIỂU LUẬN HIỆN TƯỢNG SUY GIẢM TẦNG OZON VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA NÓ ĐẾN MÔI TRƯỜNG SỐNG TRÊN TRÁI ĐẤT

Giảng viên hướng dẫn: Thực hiện: Nhóm 5 – A2K69

ThS Vũ Ngân Bình Vũ Thị Thu Hiền

Trần Thị Mai Nguyễn Thị Thanh Ngân Nguyễn Như Thượng Nguyễn Việt Trinh

Lê Công Trực

MỤC LỤC

Trang 3

I ĐẶT VẤN ĐỀ 3

1 Tính cấp thiết của đề tài 3

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Phương pháp nghiên cứu 3

II ĐẠI CƯƠNG VỀ KHÍ OZON VÀ TẦNG OZON TRONG KHÍ QUYỂN TRÁI ĐẤT 4

1 Đại cương về khí ozon 4

a Tính chất lý, hóa của ozon 4

b Sự hình thành khí ozon 4

2 Tầng ozon trong khí quyển Trái Đất 5

a Vị trí, đặc điểm tầng ozon trong khí quyển Trái Đất 5

b Vai trò của tầng ozon đến sự sống trên Trái Đất 5

III HIỆN TƯỢNG SUY GIẢM TẦNG OZON VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN MÔI TRƯỜNG SỐNG TRÊN TRÁI ĐẤT 6

1 Hiện tượng suy giảm tầng ozon 6

a Định nghĩa 6

b Nguyên nhân 6

c Cơ chế 7

d Hiện trạng 8

2 Những tác động đến môi trường sống trên Trái Đất của hiện tượng suy giảm tầng ozon 10

IV CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN HIỆN TƯỢNG SUY GIẢM TẦNG OZON 11

V KẾT LUẬN 12

VI TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

I ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Một trong những yếu tố quyết định đến sự tồn tại của sự sống trên Trái Đất, đặc biệt là

sự sống trên cạn là sự ổn định tương đối của môi trường sống, trong đó có bầu khí quyển

Trang 4

Sự tồn tại của loài người cũng không ngoại lệ Để tồn tại và không ngừng tiến hóa, loài người cũng như mọi sinh vật khác cần được cung cấp các điều kiện sống thuận lợi như nước, dinh dưỡng, oxy,… cũng như cần được bảo vệ khỏi các nguy cơ diệt chủng Một trong những yếu tố nguy hiểm nhất ảnh hưởng đến sự sống trên Trái Đất đến từ chính Mặt Trời Đó là những bức xạ cực tím với nguồn năng lượng cao, có khả năng gây tổn hại, hay thậm chí hủy diệt các thực thể sống Tuy nhiên, khác với các hành tinh khác trong Thái Dương hệ, Trái Đất không chỉ nằm ở một khoảng cách lý tưởng so với Mặt Trời mà còn có một bầu khí quyển với các thành phần có khả năng ngăn cản các bức xạ nguy hại đến từ vũ trụ Đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong chức năng ấy chính là các phân tử ozon tập trung ở tầng ozon Sự ổn định tương đối của bầu khí quyển qua hàng trăm triệu năm gần đây là điều kiện cho sự sống sinh sôi nảy nở, đạt đến quy mô và trình độ tiến hóa như ngày nay

Tuy nhiên, chỉ trong vòng vài chục năm trở lại đây, sự cân bằng ấy đang bị xáo trộn một cách nhanh chóng Cùng với sự phát triển như vũ bảo của các hoạt động kinh tế, sự gia tăng dân số, con người đang tạo ra những áp lực vô cùng lớn cho môi trường sống Khí quyển ngày càng tiếp nhận các thành phần nguy hiểm, không phù hợp với sự sống Một trong những hậu quả nghiêm trọng nhất của sự ô nhiễm trên chính là hiện tượng suy giảm tầng ozon, đồng nghĩa với việc suy giảm lớp “áo giáp” bảo vệ Trái Đất khỏi các bức xạ nguy hại từ vũ trụ Đã có những hậu quả rõ ràng của hiện tượng trên: những lỗ thủng ozon lớn ở Nam Cực, sự mất cân bằng sinh thái, tỷ lệ mắc các bệnh về da và mắt ở người và động vật tăng lên đáng kể,… Đây là thời điểm mà loài người cần có những nhận thức và hành động cụ thể hơn, trước khi những thay đổi trên vượt ngoài khả năng kiểm soát, đẩy toàn bộ sinh giới vào một mối nguy hiểm rất rõ ràng

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu về hiện tượng suy giảm tầng ozon và những hậu quả của hiện tượng đó, nhóm nghiên cứu chúng tôi muốn đưa ra những thông tin rõ ràng, chi tiết hơn về những nguyên nhân, cơ chế và hậu quả của hiện tượng suy giảm tầng ozon, từ đó, giúp mọi người nâng cao nhận thức và có những hành động cụ thể, thiết thực nhằm cùng nhau ngăn chặn hiện tượng này

3 Phương pháp nghiên cứu

Nhóm nghiên cứu chúng tôi sử dụng phương pháp thu thập số liệu thứ cấp nhằm thu thập và tổng hợp lại các thông tin về hiện tượng suy giảm tầng ozon và hậu quả của hiện tượng này đã được công bố, đăng tải trên một số tạp chí khoa học, các website hay được in

ấn trong một số ấn phẩm khác

II ĐẠI CƯƠNG VỀ KHÍ OZON VÀ TẦNG OZON TRONG KHÍ QUYỂN TRÁI ĐẤT

1. Đại cương về khí ozon

a Tính chất lý, hóa của ozon

Trang 5

Ở điều kiện thường, ozon (O3) là khí có màu xanh lam nhạt và có mùi đặc biệt Phân tử

O3 có khối lượng tương đối lớn, có cực và dễ bị cực hóa nên ozon có nhiệt độ nóng chảy (-192,7oC) và nhiệt độ sôi (-111,9oC) cao hơn oxy Ozon lỏng có màu tím lam và ở thể rắn

có màu tím đen

Ozon rất kém bèn và dễ phân hủy nổ khi va chạm Tuy nhiên, quá trình phân hủy xảy ra rất chậm ngay ở 250oC nếu không có chất xúc tác hay tia tử ngoại.(3)

Là chất hấp thụ bức xạ mạnh, ozon hấp thụ bức xạ ở cả vùng tử ngoại, khả kiến và hồng ngoại Cực đại hấp thụ nằm ở các bước sóng 254 nm, 600 nm và 900 nm

Khả năng hoạt động hóa học của ozon rất mạnh, cả trong môi trường acid lẫn base

Bán phản ứng Giá trị thế điện cực

O3 + 2H+ + 2e O2 + H2O 2,07 V

O3 + H2O + 2e O2 + 2OH- 1,24 V

O2 + 4H+ + 4e 2H2O 1,229 V

O2 + 2H2O + 4e 4OH- 0,401 V

Bảng II.1.a.1: Giá trị thế điện cực chuẩn của ozon và oxy trong các môi trường tại 298K(3)

Ozon oxy hóa iodide ngay trong môi trường base theo phản ứng:

O3 + 2KI + H2O I2 + 2KOH + O2 (II.1.a.1) Phản ứng xảy ra hoàn toàn nên được dùng để định lượng ozon

b Sự hình thành khí ozon

Ozon được tạo thành một cách tự nhiên

Tại mất đất, ozon được hình thành qua sự oxy hóa một số chất hữu cơ dễ bay hơi VOCs (volatile organic compounds), đặc biệt là tinh dầu thực vật, qua một loạt các cơ chế trung gian phức tạp với sự tham gia của các thành phần trong không khí như O2, CO, NOx,… mà dẫn tới sự tạo thành ozon Điều đó lý giải việc luôn có một lượng nhỏ ozon được sinh ra từ các cánh rừng thông hay bờ biển chứa nhiều rong, tảo như là nguồn sinh ra các VOCs như monoprenes, isoprenes…

Lượng ozon chủ yếu trong khí quyển tập trung ở tầng bình lưu Ở đó, ozon được tạo thành qua sự tác động của các bức xạ có bước sóng nằm giữa 160 nm và 240 nm đến phân

tử oxy Quá trình đó xảy ra theo cơ chế:

O2 + hv 2O (II.1.b.1)

O + O2 O3 (II.1.b.2) Hằng năm trong khí quyển có khoảng 1,6x1011tấn ozon được tạo thành qua phản ứng này.(3)

2. Tầng ozon trong khí quyển Trái Đất

a Vị trí, đặc điểm tầng ozon trong khí quyển Trái Đất

Ozon trong khí quyển Trái Đất tập trung phần lớn ở một vùng nằm ở miền dưới của tầng bình lưu, nằm ở độ cao khoảng 20 – 30 km tính từ mặt nước biển Tại đây, nồng độ ozon

Trang 6

vào khoảng 10 ppm, trong khi đó, nồng độ ozon trung bình trong khí quyển vào khoảng 0,3 ppm Độ dày lớp ozon tại đây khác nhau ở các vĩ độ khác nhau và thay đổi theo mùa Phần dày nhất của lớp ozon nằm ở khoảng vĩ độ trung bình và cao, là kết quả của quá trình tân tạo ozon mạnh mẽ dưới tác động của bức xạ Mặt Trời và sự chuyển dịch không khí trong tầng bình lưu mang theo ozon từ vùng nhiệt đới tới các vùng cực Sự thay đổi theo mùa diễn ra phức tạp hơn Tại vùng nhiệt đới, độ dày tầng ozon gần như không đổi theo mùa Tại Bắc Cực, lượng ozon trên tầng bình lưu đạt đỉnh điểm vào mùa xuân và cực tiểu vào mùa thu Trong khi đó, tại Nam Cực, mùa xuân lại đánh dấu thời điểm xuất hiện lỗ thủng tầng ozon (nguyên nhân sẽ được chi ra ở mục III.1.c)

b Vai trò của tầng ozon đến sự sống trên Trái Đất

Ozon tồn tại với nồng độ cao trong tầng đối lưu là một tác nhân gây ô nhiễm không khí rất nguy hại cho sức khỏe của con người và sinh vật, tuy nhiên, lớp ozon ở tầng bình lưu lại giữ một vai trò tối quan trọng đến sự sống trên Trái Đất

Hàng ngày, Trái Đất nhận một lượng lớn bức xạ từ Mặt Trời với các bức xạ trải rộng từ vùng tử ngoại đến vùng hồng ngoại Bức xạ Mặt Trời cung cấp cho Trái Đất nhiệt năng vừa đủ, đảm bảo cho các quá sinh hóa trong cơ thể sống diễn ra một cách bình thường Tuy vậy, nó cũng hàm chứa những yếu tố nguy hiểm cho sự sinh tồn của các sinh vật, đó chính

là các bức xạ UV

Theo tiêu chuẩn ISO-21348, bức xạ UV có thể được chia ra làm 3 nhóm theo độ dài bước sóng là UV-C (100 nm – 280 nm), UV-B (280 nm – 315 nm) và UV-A (315 nm –

400 nm), trong đó UV-C và UV-B rất có hại đến đời sống sinh vật, mang tính hủy diệt cao Tuy vậy, lớp khí ozon trong tầng bình lưu lại có khả năng hấp thụ phần lớn các bức xạ ở vùng này và chỉ cho truyền qua các bức xạ vùng UV-A ít gây hại cho sinh vật Quá trình hấp thụ xảy ra theo cơ chế:

O3 + hv O2 + O (II.2.b.1) Như vậy, trong tầng ozon luôn có một cân bằng:

O3 O2 + O (II.2.b.2) Cân bằng trên đảm bảo lượng ozon được giữ ở mức ổn định, đóng vai trò là hàng rào chắn các bức xạ có khả năng gây hại cho sự sống từ Mặt Trời Sự có mặt của lớp ozon chính là điều kiện tiên quyết cho sự nở rộ của các hệ sinh thái trên cạn trên Trái Đất khoảng

550 triệu năm trước đây.(1)

III HIỆN TƯỢNG SUY GIẢM TẦNG OZON VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA

NÓ ĐẾN MÔI TRƯỜNG SỐNG TRÊN TRÁI ĐẤT

1 Hiện tượng suy giảm tầng ozon

a Định nghĩa

Hiện tượng suy giảm tầng ozon được hiểu là sự suy giảm lượng ozon trong tầng bình lưu, tạo nên những chỗ loang lổ ozon được gọi là “lỗ thủng ozon” Theo định nghĩa của Cục Môi Trường Mỹ (EPA), “lỗ thủng ozon” là khu vực có hàm lượng ozon thấp hơn 220

hv

Trang 7

đơn vị dobson (DU), trong đó, 1 đơn vị DU tương đương với 27 triệu phân tử ozon trên một cm2

b Nguyên nhân

CFCs (Chlorofluorocarbons) và các halons khác

CFCs từ lâu đã được sử dụng rất rộng rãi trong các thiết bị làm lạnh, chất đẩy trong bình xịt, các hóa chất đông lạnh, hóa chất chữa cháy hay khí dùng tạo bọt nhựa… Các phân tử nhóm này không bị phân hủy trong tầng đối lưu, không bị hòa tan trong nước và có thời gian tồn tại rất lâu (40 – 150 năm)(7) nên có thể dễ dàng lên được tầng bình lưu nhờ vào các dòng đối lưu Trong thời gian ấy, mỗi phân tử CFC có khả năng phá hủy hàng trăm ngàn phân tử ozon

Một số chất halons khác cũng được sử dụng tương đối nhiều, bao gồm: methyl bromide (dùng làm thuốc trừ sâu), methyl chloroform (dung môi trong nhiều ngành công nghệ), bromochloromethane, hydrochloroflouromethane,… cũng có khả năng gây hủy hoại tầng ozon

Khói bụi, khí thải từ các hoạt động của con người

Các chất thải công nghiệp đặc biệt là NOx , CO2 … gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng cho tầng ozon Có đến 1/3 tổng lượng N2O thải ra khí quyển là từ những hoạt động của con người như đốt cháy các nguyên liệu hóa thạch, sử dụng phân bón chứa nitơ, xử lý nước thải hay các quy trình công nghiệp khác liên quan đến nitơ, phóng tên lửa, tàu vũ trụ… Trong khi đó, CO2 là khí thải hàng đầu của các hoạt động giao thông vận tải, nhiệt điện, đốt rừng,

Các chất gây phá hủy tầng ozon có nguồn gốc tự nhiên

Hoạt động của núi lửa phóng thích một lượng lớn các khí và khói bụi vào khí quyển, trong đó có một lượng lớn HCl – chất có khả năng phá hủy tầng ozon Tuy nhiên, hoạt động của núi lửa thường không đủ mạnh để đẩy HCl lên tầng bình lưu Mặt khác, các phân

tử HCl phải tồn tại trong không khí từ 2 – 5 năm mới có thể lên được tầng bình lưu, trong khi chất này dễ bị hòa tan trong nước nên sẽ nhanh chóng theo mưa rơi xuống mặt đất Do vậy, nhìn chung, ảnh hưởng này không đáng kể Tuy vậy, khói bụi giải phóng từ hoạt động núi lửa dù không trực tiếp phân hủy các phân tử ozon nhưng lại đóng một vai trò vô cùng quan trọng cho các phản ứng này khi nó đóng vai trò như một xúc tác cung cấp bề mặt cho các phản ứng phân hủy ozon xảy ra

Ngoài ra, các hoạt động tự nhiên của các vi sinh vật trong đất sản sinh ra N2O, CH4; cháy rừng hay sự khuếch tán của nguyên tố chlorine từ đại dương vào khí quyển cũng đóng góp một phần vào hiện tượng suy giảm tầng ozon

c Cơ chế

Sự phân hủy ozon bởi các tác nhân hóa học nói chung xảy ra theo cơ chế:

O3 + X XO + O2 (III.1.c.1)

XO + O X + O2 (III.1.c.2) Tổng quát, ta có phản ứng: O3 + O 2O2 (III.1.c.3)

Trang 8

Ở đây, oxy đơn nguyên tử được sinh ra theo (II.1.b.1) X có thể là các gốc Cl*, HO* hay

NO Sự tuần hoàn của chu trình trên cho phép một gốc hay phân tử X có thể phá hủy rất nhiều phân tử ozon (thường từ 103 – 105) trước khi nó mất năng lượng và chuyển thành dạng kém hoạt động hơn.(6)

Trong quá trình phá hủy các phân tử ozon, CFCs và N2O là các chất đóng vai trò chính cung cấp các tác nhân X

Với CFCs, bình thường, chúng là những hợp chất rất bền vững Tuy nhiên, khi khuếch tán lên tầng bình lưu, dưới tác động của các bức xạ tử ngoại, chúng bị phân hủy theo cơ chế:

Khơi mào: CF2Cl2 + hv CF2Cl* + Cl* (III.1.c.4)

Phát triển mạch: O3 + Cl* ClO* + O2 (III.1.c.5)

ClO* + O Cl* + O2 (III.1.c.6)

Ngắt mạch: ClO* + NO2 ClONO2 (III.1.c.7)

Ở điều kiện lạnh giá, các gốc tự do hình thành được làm bền Đặc biệt, khi nhiệt độ xuống dưới mức 195K, các đám mây bình lưu vùng cực (Polar Stratopheric Clouds – PSC) hình thành mang rất nhiều hạt aerosol Các hạt này cung cấp bề mặt cho các phản ứng phân hủy ozon xảy ra Vào khoảng thời gian tháng 9 hàng năm (mùa xuân) tại Nam Cực, Mặt Trời bắt đầu xuất hiện trở lại sau khoảng 6 tháng mùa đông Các phản ứng dị lập thể:

ClONO2 + H2O HOCl + HNO3 (III.1.c.8) ClONO2 + HCl Cl2 + HNO3 (III.1.c.9) HOCl + HCl Cl2 + H2O (III.1.c.10) trên các hạt aerosol chuyển ClONO2 và HCl thành các phần tử nhạy cảm ánh sáng, cung cấp gốc Cl* và ClO* đóng vai trò xúc tác quá trình phân hủy ozon.(8) Lượng ClONO2 tích tụ qua mùa đông là rất lớn, dẫn đến khi Mặt Trời xuất hiện, việc giải phóng các gốc tự do diễn

ra một cách ồ ạt, khiến tầng ozon bị suy giảm nghiêm trọng vào thời điểm này trong năm

và chỉ hồi phục khi quá trình tái tạo ozon theo (II.1.b.1) và (II.1.b.2) (cũng dưới tác động của bức xạ Mặt Trời) cân bằng với quá trình này

Với N2O, cũng dưới tác động của bức xạ Mặt Trời, nó bị phân hủy theo quá trình:

N2O + hv N2 + O (III.1.c.11)

N2O + O 2NO (III.1.c.12) Ngoài ra, H2O, H2 hay CH4 cũng góp một phần vào việc phân hủy các phân tử ozon thông qua việc tạo gốc tự do OH* Quá trình đó diễn ra như sau: oxy đơn nguyên tử được sinh ra theo (II.1.b.1) phản ứng với H2O, H2, CH4 xuất hiện trên tầng bình lưu dưới tác động của bức xạ Mặt Trời:

H2O + O 2OH* (III.1.c.13)

CH4 + O OH* + CH3 (III.1.c.14)

H2 + O OH* + H* (III.1.c.15)

Trang 9

Tương tự Cl*, NO và gốc tự do OH* đóng vai trò như phần tử X, phân hủy ozon theo (III.1.c.1) và (III.1.c.2)

Đối với CO2, CH4 và các khí khác chịu trách nhiệm trong sự nóng lên của Trái Đất, chúng tác động đến sự phân hủy ozon theo một chiều hướng khác CO2 và các khí gây hiệu ứng nhà kính tăng lên trong khí quyển, lan ra khắp Trái Đất và hoạt động như một lớp áo giữ nhiệt Như là kết quả của việc gia tăng các khí gây hiệu ứng nhà kính, lớp áo giữ nhiệt này dày lên Kết quả là bề mặt Trái Đất ấm hơn, bản thân lớp áo này cũng tăng nhiệt và giữ lại nhiều nhiệt lượng hơn ở vùng khí quyển thấp Bức xạ nhiệt thông thường có thể thoát khỏi tầng thấp khí quyển và đi vào tầng bình lưu thì giờ không còn khả năng đó, khiến cho tầng bình lưu trở nên lạnh hơn Tầng bình lưu lạnh đi tăng cường việc tạo thành các đám mây bình lưu vùng cực (PSCs), và do đó, đóng góp cho sự phân hủy ozon tại đây

d Hiện trạng

Con người bắt đầu tiến hành đo đạc tầng ozon từ các trạm trên mặt đất vào năm 1956 ở vịnh Halley, Nam Cực Tuy nhiên, các đo đạc tổng hợp chỉ bắt đầu tiến hành vào năm 1978 bởi vệ tinh Nimbus-7 Lỗ thủng tầng ozon ở Nam Cực được phát hiện vào những năm

1980 Lỗ thủng này thường bắt đầu hình thành vào tháng 8 hằng năm và đạt độ rộng tối đa vào cuối tháng 9 hoặc đầu tháng 10 trước khi nó biến mất vào tháng 12 Diện tích lỗ thủng tầng ozon phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết từng năm

Một số số liệu đo đạc về diện tích của lỗ thủng ozon tại Nam Cực từ năm 1979 đến nay được cung cấp bởi Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Quốc gia Mỹ NASA:

Năm 1979: việc đo lỗ thủng tầng ozon bằng vệ tinh lần đầu tiên được NASA

thực hiện vào năm này

Năm 1998: lỗ thủng lớn che phủ 10,5 triệu dặm vuông vào tháng 9 năm 1998.

Đó là kích thước lớn kỷ lục trước năm 2000

Năm 2000: lỗ thủng tầng ozon khổng

lồ đạt tới 11,4 triệu dặm vuông vào

tháng 9 năm 2000 Đó là lỗ thủng lớn

nhất đã từng đo được Diện tích xấp xỉ

ba lần diện tích nước Mỹ

Năm 2002 Lỗ thủng tầng ozon thu

hẹp lại và tháng 9 năm 2002 là lỗ

thủng nhỏ nhất từ năm 1998 Kích

thước nhỏ có thể do điều kiện nóng ấm

và khu vực thời tiết của tầng bình lưu

khác thường

Trang 10

Năm 2003 Lỗ thủng tầng ozon che

phủ 11,1 triệu dặm vuông, và là lỗ

thủng kỉ lục đứng thứ hai

Năm 2008 lỗ thủng tầng ozon ở Nam

Cực có diện tích đến 10.5 triệu dặm

vuông Con số này lớn hơn nhiều

so với diện tích lớn nhất của nó

được ghi nhận năm 2007 là 9.5 triệu

dặm vuông

Năm 2015 Lỗ hổng tầng ozon mở

rộng do hiện tượng phun trào núi lửa ở

Calbuco, Chile

2 Những tác động đến môi trường sống trên Trái Đất của hiện tượng suy giảm tầng ozon

Tầng ozon ngăn cản phần lớn các tia cực tím có hại, không cho chúng xuyên qua bầu khí quyển Trái Đất Do đó, sự suy giảm tầng ozon sẽ làm tăng cường độ tia cực tím ở bề mặt Trái Đất. Theo tính toán dự báo, thì cứ giảm 1% lượng ozon trong tầng bình lưu sẽ làm tăng 2% bức xạ tử ngoại có hại đến mặt đất.(9) Bức xạ này gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng tới con người và môi trường sống

Ảnh hưởng trực tiếp của tia UV tới sức khỏe của con người và động vật

Các bức xạ tử ngoại từ mặt trời có thể hủy diệt cấu trúc sinh vật nhỏ và phá hoại bề mặt cấu trúc sinh vật lớn Sau một thời gian nhất định chịu ảnh hưởng trực tiếp của bức xạ UV, con người, thú vật đều có thể tử vong Trong đó, tác động nguy hiểm trước tiên của sự gia tăng cường độ tia UV là gây ra các bệnh về da và mắt – hai bộ phận tiếp xúc trực tiếp với tia cực tím

Các bức xạ cực tím có năng lượng cao có khả năng xuyên qua da, làm tổn thương các tế bào sống và làm gãy gen trong tế bào da là một yếu tố tham gia tạo thành các khối u ác tính (ung thư da), u hắc tố hay ung thư biểu mô tế bào đáy… Một nghiên cứu chỉ ra rằng:

sự gia tăng 10% bức xạ UVB đi liền với nguy cơ hình thành u hắc tố (melanomas) tăng 19% ở nam và 16% ở nữ.(2)

Tia tử ngoại gây tổn thương cho mắt, gây bệnh đục thủy tinh thể và là nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa trên toàn thế giới Ở các nước như Argentina, Chile, Australia, tác động của bức xạ tử ngoại ngày càng dày đặc đã trở nên quá rõ ràng: hàng ngàn con cừu bị mù mắt,

Ngày đăng: 23/07/2018, 10:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w