BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SINH HỌC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGHIÊN CỨU HOẠT TÍNH SINH HỌC VÀ HÌNH THÁI QUẢ THỂ CỦA CÁC CHỦNG NẤM
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU HOẠT TÍNH SINH HỌC VÀ HÌNH THÁI QUẢ THỂ CỦA CÁC CHỦNG NẤM LINH CHI
Ganoderma lucidum (Leyss Ex Fr.) Karst
THU THẬP Ở MỘT SỐ TỈNH TRONG NƯỚC
Sinh viên thực hiện : PHAN THỊ KIỀU Niên khóa : 2009 – 2013
Tháng 06/2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU HOẠT TÍNH SINH HỌC VÀ HÌNH THÁI QUẢ THỂ CỦA CÁC CHỦNG NẤM LINH CHI
Ganoderma lucidum (Leyss Ex Fr.) Karst
THU THẬP Ở MỘT SỐ TỈNH TRONG NƯỚC
ThS VÕ THỊ THÚY HUỆ
Tháng 06/2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, trau dồi kiến thức tại trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ
Chí Minh, với bao sự cố gắng, tôi có cơ hội thực hiện khóa luận tốt nghiệp này dưới sự
hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của thầy cô, bạn bè để có thể hoàn thành trọn vẹn việc
học, tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Ban chủ
nhiệm Bộ môn Công Nghệ Sinh Học cùng tất cả thầy cô đã tận tình dạy dỗ, giúp đỡ tôi
trong thời gian tôi theo học tại trường
Cảm ơn thầy Lê Đình Đôn, cô Tô Thị Nhã Trầm đã hết lòng vì học trò, tận
tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho chúng tôi trong suốt quá trình thực
hiện khóa luận
Chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Minh Quang và cô Võ Thị Thúy Huệ đã tận tình
hướng dẫn, chỉ bảo và động viên, truyền đạt bao kiến thức quý báu để tôi hoàn thành
khóa luận này và là hành trang để tôi bước vào đời
Xin cảm ơn anh Phan Hữu Tín, anh Huỳnh Đăng Sang cùng các bạn sinh viên
nhóm nấm, Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường, trường đại học Nông Lâm Tp
Hồ Chí Minh đã giúp đỡ tôi trong thời gian qua
Cảm ơn các bạn sinh viên lớp DH09SH, những người đã giúp đỡ, góp ý và chia sẻ
cùng tôi những khó khăn trong thời gian học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả những người đã quan tâm, hướng dẫn và hỗ trợ
tôi Chúc nhà trường, Bộ môn Công Nghệ Sinh Học, trại thực nghiệm ngày càng phát
triển lớn mạnh
Sau cùng con chân thành gửi lời cảm ơn đến ba mẹ đã nuôi dưỡng, ủng hộ, tạo cho
con điều kiện tốt nhất và là chỗ dựa vững chắc để con có được hôm nay
Tp Hồ Chí Minh, tháng 06 năm 2013
Trang 4TÓM TẮT
Từ xưa đến nay, nấm Linh Chi đã được biết đến như một loại siêu thảo dược, một loại thần dược có khả năng tăng cường hệ miễn dịch, ngăn ngừa nhiều loại bệnh, điều chỉnh cân bằng sinh lý, làm chậm quá trình lão hóa Nấm Linh Chi chứa nhiều dược chất quan trọng đặc biệt là polysaccharide (β – D – glucans) có khả năng ức chế tế bào ung thư Hiện nay, trên thế giới nấm Linh Chi đã được đưa vào quy mô sản xuất công nghiệp và mang lại lợi ích kinh tế vô cùng to lớn Ở Việt Nam, trong những năm gần đây nấm Linh Chi cũng được chú trọng trong sản xuất cũng như nghiên cứu, tuy nhiên việc sản xuất vẫn còn nhỏ lẻ, chủ yếu là tự phát Những nghiên cứu về giá trị kinh tế
và dược liệu của các chủng nấm Linh Chi ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế Do đó,
đề tài “Nghiên cứu hoạt tính sinh học và hình thái quả thể nấm Linh Chi (Ganoderma
lucidum) ở một số tỉnh trong nước” được tiến hành nhằm đánh giá các chủng nấm về
mặt ý nghĩa kinh tế để đưa các chủng nấm vào sản xuất đại trà
Nội dung nghiên cứu: Khảo sát hoạt tính enzyme amylase và cellulase của các chủng nấm Linh Chi, đánh giá tốc độ lan tơ, hình thái quả thể và hiệu suất sinh học của từng chủng nấm Cải tiến quy trình ly trích DNA các chủng nấm Linh Chi thu thập được
Kết quả: Đánh giá được hoạt tính sinh học của enzyme amylase và cellulase giữa các chủng nấm Linh Chi Ghi nhận sự khác nhau về tốc độ lan tơ, đường kính và độ dày quả thể của từng chủng nấm, chọn ra các chủng có hiệu suất sinh học cao hơn so với các chủng nấm còn lại Ly trích DNA theo quy trình cải tiến mang lại kết quả tốt hơn, DNA sạch hơn và hàm lượng cao hơn so với quy trình cũ
Kết luận: Hai chủng nấm Linh Chi thu thập tại trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai vượt trội hơn so với các chủng nấm còn lại về tốc độ lan
tơ, hình thái quả thể và hiệu suất sinh học Do đó, có thể đưa vào sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế cao Quy trình ly trích DNA sau khi cải tiến đảm bảo DNA ly trích được có chất lượng và hàm lượng cao hơn có thể sử dụng cho các phản ứng RAPD – PCR trong nghiên cứu đánh giá đa dạng di truyền của các chủng nấm Linh Chi
Trang 5SUMMARY
The thesis title: Surveying biological and morphological fruiting body traits of
Ganoderma lucidum in provinces in Vietnam
Ancient times until nows, Ganoderma lucidum is well-known a super herbal,
which is a panacea with capacity of strengthen the immune system, prevention of
the diseases, adjustment of physiological balance, delay aging process Ganoderma
lucidum contain important phamaceutical substances, especially, β-D-glucans is
ability to inhibit process of cancel cells Nowadays, Ganoderma lucidum is used
into industrial production and bring a large of economical profit in the world In
Vietnam, in recent years, Ganoderma lucidum is also significantly notible for
production and study, but which happened in small scale and household There is a
few of studies about economical value and medicinal herbs of Ganoderma lucidum
species in Vietnam Therefore, the thesis “Survey biological and morphological
fruiting body traits of Ganoderma lucidumin some provinces in Vietnam” was conducted with purpose to evaluate Ganoderma lucidum species for economical
value to apply for production
Our research includes: Survey biological activity of amylase and cellulase enzyme
of Ganoderma lucidum species, evaluating of growth rate, morphological fruiting body
and biological performance of each strain Improving the protocol for DNA extraction
of collected Ganoderma lucidum species
These results are evaluated biological activity of amylase and cellulase enzyme of
Ganoderma lucidum species It is recorded the differences about growth rate, diameter
and thickness of fruiting body of each strain Choosing species, which is high biological performance compare with the others Extracted DNA followed advance protocol bring better results, DNA is clearner and higher concentration than old protocol
These conclusion are two Ganoderma lucidum strains were collected in Nong Lam
University, Ho Chi Minh City and Dong Nai province are superior than the others strains about growth rate, morphological fruiting body and biological performance Therefore, its can apply into production, bring high economic efficiency DNA extraction process after improving to ensure the extracted DNA were higher in quality and concentration, which’s able to use in RAPD – PCR reaction in the study of genetic diversity assessment of lingzhi mushroom
Key words: Ganoderma lucidum, morphological fruiting body Ganoderma lucidum.
Trang 6MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Tóm tắt ii
Summary iii
Mục lục iv
Danh sách các chữ viết tắt vii
Danh sách các bảng viii
Danh sách các hình ix
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Yêu cầu của đề tài 2
1.3 Nội dung thực hiện 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Sơ lược về nấm Linh Chi (Ganoderma lucidum) 3
2.2 Vị trí phân loại của nấm Linh Chi 3
2.3 Nguồn gốc và sự phân bố của nấm Linh Chi 3
2.4 Đặc điểm hình thái của nấm Linh Chi 4
2.5 Đặc điểm sinh học của nấm Linh Chi 5
2.5.1 Đặc điểm sinh dưỡng của nấm Linh Chi 5
2.5.2 Điều kiện ngoại cảnh 6
2.6 Công dụng của nấm Linh Chi 6
2.6.1 Thành phần hóa học và đặc tính dược lý của Linh Chi 6
2.6.2 Công dụng của nấm Linh Chi 8
2.7 Tình hình nghiên cứu và sản xuất Linh Chi trên thế giới và ở Việt Nam 10
2.7.1 Tình hình nghiên cứu và sản xuất nấm Linh Chi trên thế giới 10
2.7.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất nấm Linh Chi ở Việt Nam 11
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài 13
3.2.1 Chủng nấm Linh Chi 13
3.2.2 Môi trường nuôi cấy nấm Linh Chi 13
Trang 73.2.3 Thiết bị và hóa chất dùng trong thí nghiệm 15
3.3 Phương pháp nghiên cứu 16
3.3.1 Phương pháp phân lập và tăng sinh các chủng nấm Linh Chi 16
3.3.2 Khảo sát khả năng tổng hợp enzyme amylase và cenllulase 16
3.3.3 Khảo sát tốc độ lan tơ và hình thái quả thể các chủng nấm Linh Chi 17
3.3.4 Tách chiết DNA 18
3.3.4.1 Phương pháp ly trích DNA các chủng nấm Linh Chi 18
3.3.4.2 Định tính DNA mẫu bằng phương pháp điện di trên gel agarose 19
3.3.4.3 Định lượng DNA mẫu bằng phương pháp đo mật độ quang 19
3.3.5 Phản ứng RAPD - PCR 20
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 21
4.1 Khả năng tổng hợp enzyme amylase và cellulase của các chủng nấm Linh Chi 21
4.1.1 Khả năng tổng hợp enzyme amylase của các chủng nấm Linh Chi 21
4.1.2 Khả năng tổng hợp enzyme cellulase của các chủng nấm Linh Chi 22
4.2 Sự phát triển của nấm Linh Chi trên bịch phôi 23
4.2.1 Thời gian tăng trưởng tơ nấm 23
4.2.2 Tốc độ tăng trưởng trung bình của tơ nấm 24
4.2.3 Tỷ lệ nhiễm nấm hại của các bịch phôi nấm Linh Chi 25
4.2.4 Thời gian xuất hiện quả thể của các chủng nấm Linh Chi 27
4.3 Độ lớn quả thể các chủng nấm Linh Chi 28
4.4 Trọng lượng quả thể và hiệu suất sinh học các chủng nấm Linh Chi 31
4.5 Kết quả ly trích DNA các chủng nấm Linh Chi 33
4.5.1 Kết quả định tính DNA các chủng nấm Linh Chi 33
4.5.2 Kết quả định lượng DNA các chủng nấm Linh Chi 35
4.6 Kết quả phân tích đa dạng di truyền nấm Linh Chi 36
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 38
5.1 Kết luận 38
5.2 Đề nghị 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39 PHỤ LỤC
Trang 8DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ANOVA Analysis of Variance
CMC Carboxyl Methyl Cellulase
DNA Deoxyribo Nucleic Acid
EDTA Ethylene Diamine Tetra Acetic acid
PGA Potato Glucose Agar
PGAY Potato Glucose Agar Yeast
TBE Tris – borate – EDTA
UV Ultraviolet Radiation
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của nấm Linh Chi 6
Bảng 2.2 Thành phần hóa học của G lucidum 6
Bảng 2.3 Các hoạt chất sinh học và dẫn xuất trong nấm Linh Chi 7
Bảng 2.4 Phân loại Linh chi và tác dụng trị liệu 8
Bảng 3.1 Nguồn gốc các chủng nấm Linh Chi 13
Bảng 3.2 Thành phần hóa chất thực hiện phản ứng RAPD – PCR 19
Bảng 3.3 Chu trình nhiệt cho phản ứng RAPD – PCR 19
Bảng 4.1 Đường kính vòng phân giải amylase của các chủng nấm Linh Chi 20
Bảng 4.2 Đường kính vòng phân giải cellulose của các chủng nấm Linh Chi 21
Bảng 4.3 Tốc độ lan tơ trung bình của các chủng nấm Linh Chi 24
Bảng 4.4 Thời gian xuất hiện quả thể của các chủng nấm Linh Chi 26
Bảng 4.5 Đường kính quả thể của các chủng nấm Linh Chi 27
Bảng 4.6 Độ dày quả thể của các chủng nấm Linh Chi 29
Bảng 4.7 Trọng lượng quả thể tươi của các chủng nấm Linh Chi 30
Bảng 4.8 Trọng lượng quả thể khô của các chủng nấm Linh Chi 30
Bảng 4.9 Hiệu suất sinh học của các chủng nấm Linh chi 31
Bảng 4.10 Kết quả đo OD của các chủng nấm Linh Chi ở quy trình chưa cải tiến 34
Bảng 4.11 Kết quả đo OD của các chủng nấm Linh Chi ở quy trình cải tiến 35
Trang 10DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Quả thể nấm Linh Chi 3
Hình 4.1 Vòng phân giải amylase của các chủng nấm Linh Chi 21
Hình 4.2 Vòng phân giải cellulose của các chủng nấm Linh Chi 22
Hình 4.3 Tốc độ tăng trưởng của tơ nấm theo thời gian 23
Hình 4.4 Tỷ lệ nhiễm bệnh của các chủng nấm Linh Chi 25
Hình 4.5 Tỷ lệ nhiễm các loại bệnh trên nấm Linh Chi 25
Hình 4.6 Đường kính quả thể các chủng nấm Linh Chi 28
Hình 4.7 Độ dày quả thể của các chủng nấm Linh Chi 29
Hình 4.8 Kết quả điện di DNA của 7 chủng nấm Linh Chi trên gel agarose 1% 31
Hình 4.9 Kết quả điện di DNA ly trích theo quy trình cải tiến trên gel agarose 1% 34
Hình 4.10 Sản phẩm của phản ứng RAPD – PCR 36
Trang 11Chương 1 MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Nấm Linh Chi có nhiều tên gọi khác nhau như Bát Lão Thảo, Vạn Niên Thảo, Trần Tiên Thảo, Đoạn Thảo, nấm Lim v.v Mỗi tên gọi của nấm Linh Chi đều thể hiện giá trị dược liệu của nó Tên gọi của nấm Linh Chi bắt nguồn từ Trung Quốc, có phiên âm
là Lingzhi, theo tiếng Nhật là Reishi hoặc Mannentake, tên khoa học là Ganoderma
lucidum (Leyss Ex Fr.) Karst
Từ lâu, nấm Linh Chi (G lucidum) được biết tới như một loại thuốc dân gian có
tác dụng tăng cường sức khoẻ và chữa trị nhiều loại bệnh (bệnh thận, gan, bệnh tiểu
đường, bệnh tim mạch, dị ứng, v.v) G lucidum có khả năng tăng cường sự thải độc
ở gan và kích thích hệ thống miễn dịch hoạt động hiệu quả hơn G lucidum còn
kìm hãm sự sinh tổng hợp DNA mới của tế bào ung thư, kìm hãm sự phát triển của các khối u và hạn chế sự di căn Các nghiên cứu y và dược học cũng cho thấy các
loài G lucidum khác nhau có thể sản sinh ra các loại hợp chất sinh học có hoạt tính
khác nhau
Nhận thấy tầm quan trọng và lợi ích nấm Linh Chi mang lại rất lớn, một số nước trên thế giới đã đưa nấm Linh Chi vào quy mô sản xuất công nghiệp Các nước có sản lượng nấm Linh Chi sản xuất hằng năm lớn trên thế giới như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hoa Kỳ, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam, Sri Lanka và Indonesia Nấm Linh Chi mang lại lợi ích vô cùng lớn, việc phát triển ngành nấm là rất cần thiết Tuy trong những năm gần đây Việt Nam cũng phát triển nghề trồng nấm, nhưng chủ yếu là tự phát, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội Vì vậy, để phát triển ngành nấm, đặc biệt là nấm Linh Chi cần tuyển chọn những giống nấm Linh Chi có phẩm chất tốt, không nhiễm bệnh, phát triển nhanh, thời gian sinh trưởng, phát triển ngắn, có giá trị dược liệu cao, nhất là các giống Linh Chi rừng đặc trưng của rừng núi Việt Nam để đưa vào sản xuất và bảo tồn Chính vì thế, đề tài
“Nghiên cứu hoạt tính sinh học và hình thái quả thể của các chủng nấm Linh Chi
(Ganoderma lucidum) thu thập tại một số tỉnh trong nước” được thực hiện không chỉ
mang ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn góp phần vào việc nghiên cứu các chủng nấm Linh Chi ở nước ta
Trang 121.2 Yêu cầu của đề tài
Khảo sát đặc điểm sinh học và hình thái quả thể của các chủng nấm Linh Chi được thu thập ở một số tỉnh trong nước, chọn ra các chủng nấm có ý nghĩa về mặt
kinh tế để bảo tồn và phát triển
1.3 Nội dung thực hiện
Khảo sát hoạt độ enzyme amylase và cellulase của các chủng nấm Linh Chi dựa vào kích thước đường kính vòng phân giải enzyme trên môi trường Czapek Dox có bổ sung tinh bột/CMC
Khảo sát tốc độ lan tơ của các chủng nấm Linh Chi trong phòng thí nghiệm
Khảo sát đặc điểm hình thái quả thể của các chủng nấm Linh Chi thu thập được ở một số tỉnh trong nước
Đánh giá năng suất sinh học của các chủng nấm Linh Chi thu thập được ở một số tỉnh trong nước
Thiết lập quy trình ly trích DNA từ các chủng nấm Linh Chi thu thập được nhằm đánh giá đa dạng di truyền các chủng nấm bằng kỹ thuật sinh học phân tử
Trang 13Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Giới thiệu sơ lược về nấm Linh Chi (Ganoderma lucidum)
Nấm dược liệu có nhiều loài như nấm Linh Chi, nấm Phục Linh, nấm Vân Chi, nấm Thượng Hoàng v.v Hầu hết chúng là những loài nấm mục gỗ, trong đó có nhiều loài chúng ta chưa phát hiện được giá trị của chúng Nấm Linh Chi ngày nay được rất nhiều người tin dùng và được xếp vào loại siêu thảo dược vì giá trị mà chúng mang lại rất lớn
Ở các nước châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, v.v, việc nghiên cứu, phát triển và sử dụng Linh Chi đang được công nghiệp hóa với quy mô lớn về phân loại, nuôi trồng chủ động, chế biến và bào chế dược phẩm Đồng thời nghiên cứu hóa dược các hoạt chất có tác dụng dược lý và phương pháp điều trị lâm sàng
Trong số các loài Linh Chi tìm thấy cho đến nay thì Xích Chi (Ganoderma
lucidum) được nghiên cứu y dược chi tiết nhất Loài chuẩn Ganoderma lucidum
có thành phần hoạt chất sinh học phong phú và chứa hàm lượng nhiều nhất (Lê
Xuân Thám, 2005)
2.2 Vị trí phân loại của nấm Linh Chi
Nấm Linh Chi có vị trí phân loại được thừa nhận rộng rãi hiện nay
Chi: Ganoderma Hình 2.1 Quả thể nấm Linh Chi
Loài: Ganoderma lucidum (Leyss, Ex Fr.) Krast
2.3 Nguồn gốc và phân bố của nấm Linh Chi
Trong tự nhiên, Linh Chi mọc ở rừng rậm, ít ánh sáng và có độ ẩm, thường mọc trên thân cây mận, cây dẻ (pasania), và guercus serrata Tuy nhiên số lượng cây mọc được nấm Linh Chi là rất nhỏ Chính vì thế Linh Chi tự nhiên rất quý hiếm Trong lịch
Trang 14sử đã có rất nhiều người tìm cách gây giống và trồng loại nấm này nhưng đều thất bại Mãi tới năm 1971, hai nhà bác học người Nhật Zenzaburo Kasai và Yukio Naoi, giáo
sư khoa Nông Nghiệp Đại học Kyoto mới thành công trong việc gây giống, từ đó nấm Linh Chi bắt đầu đưa vào sản xuất ở quy mô công nghiệp
Ganoderma lucidum gặp nhiều ở vùng lạnh Tứ Xuyên, Quảng Đông, Trung Quốc
Ở Việt Nam, có 15 loài Linh Chi đã được biết đến, mọc hoang ở rừng Bắc Cạn, Thái Nguyên, Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Phước, Gia Lai, Đắk Lắk
Hàng năm, trên thế giới sản xuất được khoảng 4300 tấn, riêng Trung Quốc trồng khoảng 3000 tấn còn lại là các nước khác như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hoa
Kỳ, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam, Sri Lanka và Indonesia Nhật Bản tuy đã tìm ra cách trồng nhưng chỉ sản xuất khoảng 500 tấn mỗi năm, đứng sau Trung Quốc Cách trồng nấm Linh Chi ngày càng phát triển, ở Việt Nam nhiều nhà nông nghiệp học cũng
đã nghiên cứu và lập ra một số trại trồng và bào chế nấm Linh Chi từ năm 1987 Hiện nay, đã có nhiều trang trại trồng và phát triển nấm Linh Chi như ở thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh khác trong cả nước
2.4 Đặc điểm hình thái của nấm Linh Chi
Cuống nấm dài hoặc ngắn, thường đính bên, đôi khi trở thành đính tâm do quá trình liền tán mà thành, có hình trụ, đường kính 0,5 – 3,0 cm Cuống nấm ít phân nhánh, đôi khi uốn khúc Lớp vỏ cuống không có lông, bóng, màu nâu, nâu đỏ hoặc nâu đen
Mũ nấm dạng thận hay gần tròn, đôi khi xòe hình quạt hoặc ít nhiều dị dạng, mặt trên bóng như đánh vecni, màu từ vàng chanh, vàng nghệ đến vàng nâu, vàng cam, đỏ nâu, nâu tím, có đường vân đồng tâm, lượn sóng và vân tán xạ Phần cổ cuống đính hơi gồ lên hoặc lõm xuống Mặt dưới màu nâu nhạt, mang các ống rất nhỏ chứa bào tử, Bào tử khi chín có màu nâu Khi nấm trưởng thành thì phát tán bào tử Kích thước tán biến động lớn từ 2 – 36 cm, dày khoảng 0,8 – 3,3 cm
Phần thịt nấm dày 0,4 – 2,2 cm màu vàng kem, nâu nhạt, kem trắng, phân chia kiểu lớp trên và lớp dưới, thấy rõ các lớp trên các tia sợi hướng lên Trên lát cắt giải phẩu dưới kính hiển vi chỉ thấy đầu các sợi phình hình chùy, máng rất dày, đan khít nhau, tạo thành lớp vỏ láng (dày khoảng 0,2 – 0,5 mm) bởi sự tiết các
Trang 15chất laccate (tan mạnh trong cồn) Nhờ lớp laccate láng bóng không tan trong nước mà nấm chịu được mưa, nắng Ở lớp dưới, hệ sợi tỉa xuống đều đặn và tiếp giáp vào tầng sinh bào tử
Tầng sinh sản (bào tầng, thụ tầng – Hymenium) là một lớp vồng dày khoảng 0,2 – 1,8 cm có màu kem, nâu nhạt gồm các ống nhỏ thẳng, miệng gần tròn màu trắng hay màu chanh nhạt, khoảng 3 – 5 ống/mm
Đảm bào tử dạng trứng cụt (truncate), cấu trúc lớp vỏ kép (bitunicate), màu vàng mật ong sáng, chính giữa khối nội chất tụ lại một giọt hình cầu, dạng giọt dầu Kích thước dao động 8,0 – 11,5 x 6,0 – 7,7 μm
2.5 Đặc điểm sinh học của nấm Linh Chi
2.5.1 Đặc điểm dinh dưỡng của nấm Linh Chi
Nấm Linh Chi là loại nấm gỗ Trong quá trình sinh trưởng, phát triển yêu cầu cung cấp đầy đủ các hợp chất cacbon, đạm, chất khoáng và chất sinh trưởng Nguồn cacbon chủ yếu là các loại đường đa, đường đơn Đối với các chất cao phân tử như lignin, cellulose và tinh bột thì chúng không thể sử dụng trực tiếp mà phải tiết ra các enzyme ngoại bào để phân giải thành các chất đơn giản để hấp thụ (Trần Văn Mão, 2004) Theo Lê Xuân Thám (1998), các loại bột ngũ cốc, bột cám gạo, bột bánh dầu được xem là nguồn dinh dưỡng cơ bản cho nấm, hàm lượng bổ sung của chúng khá cao: từ
15 – 20% so với tổng lượng cơ chất vì nấm Linh Chi đòi hỏi tỷ lệ C/N nhỏ
Theo Nguyễn Hữu Đống (2002), nấm Linh Chi hoại sinh rộng khắp trên các loài cây lá rộng đến lá kim, thậm chí ở các tre, trúc, dừa, cau, cọ dừa và nho Nấm Linh Chi tiết ra các enzyme phân giải màng tế bào endopolygalacturonase (endo – PG) và endopectin methyl – translinase (endo – PMTE) có tác dụng làm nhũn tế bào thực vật rất mạnh làm cho các loại gỗ và rễ cây bị mùn ra
Theo Trần Văn Mão (2008), nếu bổ sung nhiều đạm, sợi nấm sẽ mọc nhiều và khó hình thành quả thể Trong quá trình sinh trưởng sợi nấm tỷ lệ C/N là 25/1 và giai đoạn hình thành quả thể tỷ lệ C/N là 30/1 hoặc 40/1
Sự sinh trưởng của nấm Linh Chi còn cần các nguyên tố vi lượng như: Ca, P, Mg,
K (Trần Văn Mão, 2008)
Trang 162.5.2 Điều kiện ngoại cảnh
Bảng 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của nấm Linh Chi
Yếu tố Giai đoạn lan tơ Giai đoạn ra quả thể
4,5 – 6 Không cần
25oC – 30oC 90% – 95%
4,5 – 6 Cần ánh sáng tán xạ (Nguyễn Lân Dũng, 2002)
Ẩm độ giữa hai giai đoạn chính của nấm Linh Chi có sự khác biệt đáng kể nên trong quá trình nuôi trồng cần chú ý việc đảm bảo độ ẩm cho nấm
2.6 Công dụng của nấm Linh Chi
2.6.1 Thành phần hóa học và đặc tính dược lý của Linh Chi
Nấm Linh Chi được các nước trên thế giới nghiên cứu từ hơn 30 năm nay, chủ yếu
là nghiên cứu thành phần hóa học và giá trị dược liệu của nấm Các phương pháp cổ
điển trước đây đã phân tích thành phần hóa học tổng hợp của nấm Linh Chi như sau:
Bảng 2.2 Thành phần hóa học của G.lucidum
Trang 17phổ kế plasma (ICP), đã xác định chính thức gần 100 hoạt chất và dẫn xuất trong
nấm Linh Chi
Bảng 2.3 Các hoạt chất sinh học và dẫn xuất trong nấm Linh Chi
Hoạt chất Nhóm chất Hoạt tính dược lý Loại mô nấm
RNA Nucleic acid Kích thích hệ miễn dịch
**(không xác
Bổ tim
Quả thể
Ganoderic acids Triterpenoid
Chống dị ứng Bảo vệ gan
Ức chế tổng hợp cholesterol
Quả thể
Ganodermadiol Triterpenoid Giảm huyết áp
Adenosine Nucleotide Tăng sự lưu thông máu
Thư giãn cơ, giảm đau Hệ sợi nấm
β-D-glucans Polysaccharide
Chống khối u Kích thích hệ miễn dịch Tăng sản xuất kháng thể
Trang 182.6.2 Công dụng của nấm Linh Chi
Cách đây hàng ngàn năm, nấm Linh Chi đã được dùng để làm thuốc Các sách dược thảo của nhiều triều đại ở Trung Quốc đều ghi nhận Linh Chi được sử dụng làm thuốc từ lâu đời Sách “Thần nông bản thảo” có nói: “Linh Chi là thuốc kết tinh được cái quý của mây mưa trên núi cao, cái tinh của ngũ hành trong ngày đêm mà khoe năm sắc nên có thể giữ sức khoẻ cho các bậc đế vương” Đến đời Minh (năm 1590) trong sách “Bản thảo cương mục”, tác giả Lý Thời Trân đã mô tả 6 loại Linh Chi và khái quát tác dụng trị liệu của Linh Chi
Bảng 2.4 Phân loại Linh Chi và tác dụng trị liệu
Tên gọi Màu Đặc tính dược lý
Thanh Chi
Vị chua, tính bình, không độc, chủ trị sáng mắt,
bổ gan khí an thần, tăng trí nhớ Hồng Chi
(Xích Chi, Đơn Chi) Đỏ
Vị đắng, tính bình, không độc, tăng trí nhớ, dưỡng tim, bổ trung, trị tức ngực
Tử Chi Tím Vị ngọt, tính ôn, không độc, trị đau nhức khớp
xương, gân cốt
(Nguyễn Duy Đại, 2009)
Các nghiên cứu được thực hiện ở Trung Quốc và các nước phương Tây qua hàng ngàn năm đã khẳng định lợi ích của nấm Linh Chi, nó không phải là phép thuật chữa tất cả các loại bệnh nhưng Linh Chi cung cấp lợi ích to lớn đối với việc duy trì sức khỏe tốt và ngăn ngừa rối loạn Theo như nền y học cổ truyền Trung Quốc, Linh Chi là một trong những loại thuốc thảo dược mạnh và quý nhất, được coi là một loại thuốc có hiệu quả “thần thánh”, thuốc được sử dụng để bảo vệ sức khỏe Linh Chi hoàn toàn không có tác dụng phụ ngay cả khi dùng nhiều lần với số lượng lớn trong thời gian
Trang 19dài, có thể dùng để điều tiết và ổn định thể chất sinh lý của con người, và đáng ngạc nhiên trong hiệu quả chống lại các bệnh hiểm nghèo (Lingzhi experts, 1987)
Theo cách diễn đạt truyền thống của người phương Đông các tác dụng cụ thể của nấm Linh Chi được tập hợp vào những mặt lớn sau:
Kiện não: làm sáng suốt, minh mẫn
Bảo can: bảo vệ gan
Cường tâm, cường phế: thêm sức cho tim, phổi
Kiện vị: củng cố dạ dày và hệ tiêu hóa
Giải độc: giải tỏa trạng thái nhiễm độc
Giải cảm: giải tỏa trạng thái bị cảm
Trường sinh: sống lâu, tăng tuổi thọ
Qua phân tích các hoạt chất về mặt dược tính, dược lý và sử dụng nấm Linh Chi, người ta thấy nấm Linh Chi có tác dụng rất tốt với các bệnh như:
Bệnh về tim mạch: tác dụng điều hòa, ổn định huyết áp
Đối với các bệnh về hô hấp: nấm Linh Chi đem lại kết quả tốt, nhất là với những ca điều trị viêm phế quản dị ứng, hen phế quản tới 80% có tác dụng giảm và làm nhẹ bệnh theo hướng khỏi hẳn
Khả năng miễn dịch: nấm Linh Chi có chứa một lượng lớn germanium hữu cơ, polysaccharide và triterpenes Những thành phần này đã được chứng minh là tốt cho hệ miễn dịch và cải thiện hệ miễn dịch của chúng ta
Chữa gan: điều trị 2 – 15 tuần thì tỷ lệ chữa bệnh hiệu quả khoảng 70,7 – 98%
An thần: các kết quả nghiên cứu dược lý đã chứng minh Linh Chi có tác dụng
an thần, làm giảm hưng phấn của thần kinh trung ương, giảm đau
Chế phẩm polysaccharide của Linh Chi dùng chữa chứng giảm bạch cầu (Nguyễn Hữu Đống, 2003)
Hiệu quả chống ung thư: nấm Linh Chi có thể ngăn chặn sự bám dính và di căn của những tế bào ung thư tuyến vú và tuyến tiền liệt Polysaccharide trong Linh Chi có tác dụng ức chế các tế bào ung thư, tăng miễn dịch cơ thể Bác sĩ Fukumi Morishige, chuyên gia giải phẫu tim đang nghiên cứu công dụng của Linh Chi trong việc trị bệnh ung thư tại viện Linus Paulong Institate of Science and
Trang 20Medicine (Hoa Kỳ) cho biết dùng Linh Chi chung với Vitamine C liều lượng lớn
có tác dụng mạnh hơn vì Vitamine C tăng tính hấp thụ dược tính của Linh Chi (Nguyễn Thị Hương, 2008)
Ngoài ra, Linh Chi còn được dùng để chữa bệnh mất ngủ, lở dạ dày, tê thấp, suyễn sưng cổ họng Người Trung Quốc hiện nay còn dùng Linh Chi để làm mịn
da mặt Nhiều y gia Nhật Bản đã dùng loại nấm này trong các loại thuốc trị rụng tóc Vì tác dụng bổ khí và làm tăng hệ thống miễn dịch của cơ thể mà Linh Chi đã được sử dụng trong phòng chống ung thư
Từ những tính năng tác dụng của Linh Chi mà người ta xếp nó vào loại dược liệu
đặc biệt mà những sinh vật khác không thể có được (Nguyễn Hữu Đống, 2003)
2.7 Tình hình nghiên cứu và sản xuất nấm Linh Chi trên thế giới và ở Việt Nam 2.7.1 Tình hình nghiên cứu và sản xuất nấm Linh Chi trên thế giới
Việc nuôi trồng nấm Linh Chi được ghi nhận từ năm 1621, nhưng đến hơn 300 năm sau (1936) với thành công của GS Dật Kiến Vũ Hưng (Nhật Bản) thì ngành nuôi trồng nấm mới được phổ biến.Năm 1936, Nhật Bản đưa nấm Linh Chi vào sản xuất đại trà và sản lượng tăng vọt Nếu tính đến công trình tổng quan của Jong và Brirmingham (1992), thì thống kê chưa đầy đủ cho con số trên 200 công trình khảo cứu hóa dược lý của các loài nấm Linh Chi
Theo Wang (dẫn theo Chang, 1993), từ đầu thế kỷ XVII, Trung Quốc đã nuôi trồng đại trà nấm Linh Chi do giá trị mà nó mang lại quá lớn Ở Đài Loan, Peng (1990) và Hseu (1992) đã sưu tầm, nuôi trồng với hơn 10 loài nấm Linh Chi khác nhau
Hàn quốc cũng chiếm một thị phần đáng kể và được đặc biệt chú trọng là loài Linh
Chi cổ Ganoderma applanatum có hiệu lực chống khối u cao (Lê Xuân Thám, 1998),
song Trung Quốc vẫn là trung tâm lớn nhất thế giới về nuôi trồng và sản xuất nấm Linh Chi trên thế giới
Gần đây, ở các nước Đông Nam Á cũng bắt đầu nuôi trồng nấm Linh Chi Malaysia chú trọng cải tiến các quy trình ngắn ngày Thái Lan đã có một số trang trại nuôi trồng nấm Linh Chi cỡ vừa, góp phần vào sản lượng chung cho thế giới
Do giá trị dược liệu cao của các chủng nấm Linh Chi, nên Mỹ đã bắt đầu nghiên cứu và nuôi trồng ở quy mô công nghiệp Vào tháng 7/1994, hội nghị Nấm học thế
Trang 21giới tại Vancouver (Canada) đã quyết định thành lập Viện nghiên cứu Linh Chi quốc
tế, trụ sở đặt tại New York (Mỹ) Tháng 10/1994, hội nghị Quốc tế đầu tiên về nấm Linh Chi đã được tổ chức tại Bắc Kinh, Trung Quốc Tháng 7/1996, Hội nghị quốc tế nấm học châu Á lại dành một năm hội thảo cho các báo cáo về nấm Linh Chi tại Đại học Chiba (Nhật Bản) Tháng 8/1996, Hội nghị Quốc tế nghiên cứu nấm Linh Chi được tổ chức tại trung tâm hội nghị quốc tế Đài Bắc (Đài Loan) Tại mỗi hội nghị số lượng báo cáo rất lớn, thể hiện tầm quan trọng kinh tế và sự phong phú kì thú của nấm Linh Chi
Hiện nay, nghề trồng nấm đã phát triển trở thành ngành công nghiệp ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt phải kể đến là Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ và một số nước khác
Ở châu Âu và Bắc Mỹ, ngành công nghiệp trồng nấm đã được cơ giới hóa toàn bộ nên năng suất và sản lượng rất cao Ở nhiều nước châu Á, trồng nấm còn mang tính chất thủ công, chủ yếu là trên quy mô gia đình và trang trại, sản lượng chiếm 70% tổng sản lượng nấm ăn của toàn thế giới Hàn Quốc nổi tiếng với nấm Linh Chi, mỗi năm xuất khẩu nấm thu về hàng trăm triệu USD Đến nay công nghệ nuôi trồng nấm ở các quốc gia này đã phát triển ở quy mô công nghiệp hiện đại và đem lại nguồn lợi nhuận khá lớn trong kim ngạch xuất khẩu
2.7.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất nấm Linh Chi ở Việt Nam
Ngành nuôi trồng nấm dược liệu ở nước ta trong những năm gần đây phát triển mạnh mẽ, tổng sản lượng ước tính đạt khoảng 100.000 tấn/năm Với công nghệ ngày càng hiện đại, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu thành công các nguồn nguyên liệu nuôi trồng nấm Linh Chi thay cho mùn cưa cao su trước đây Kết quả này đã góp phần tránh lãng phí và hạn chế sự ô nhiễm môi trường bởi nguyên liệu được sử dụng là phế thải từ các nhà máy đường, công nghiệp dệt như: bã mía, bông thải (Nguyễn Hữu Đống, 2002)
Vào năm 1978, Viện Dược liệu Hà Nội đã trồng thành công nấm Linh Chi (giống nấm của Trung Quốc) Năm 1987, các nhà khoa học thuộc đại học Khoa Học Tự Nhiên Hà Nội đã chọn được giống nấm Linh Chi tự nhiên, mọc ở vùng rừng núi Lâm Đồng để nhân giống và đưa vào sản xuất đại trà tại trại trồng nấm Linh Chi của xí nghiệp dược phẩm TW 24, đạt kết quả tốt vào năm 1988 Trong
Trang 2220 năm trở lại đây việc trồng nấm Linh Chi ở thành phố Hồ Chí Minh thực sự phát triển (Lê Duy Thắng, 2006)
Hiện nay, các chế phẩm từ Linh Chi đã được con người ưa chuộng và sử dụng ngày càng rộng rãi với nhiều hình thức đa dạng về chủng loại như: thuốc tiêm, cồn thuốc, cao dán, thuốc xông và cao thuốc dùng ngoài Việc nghiên cứu phân lập nhóm hoạt chất làm thuốc còn rất hạn chế, cần được quan tâm nhiều hơn Trong công nghiệp điều chế thuốc, nhóm polysaccharide rất được chú ý Ngoài ra các acid amin và các nguyên
tố vi lượng cũng được quan tâm
Đặc biệt trong một vài năm gần đây, con người đã tìm kiếm và phát triển một lượng khá lớn nấm cổ Linh Chi tại một số vùng núi cao ở nước ta Đây là một kho tàng sản phẩm quý giá của y dược Việt Nam, cần được nghiên cứu sâu hơn để ứng dụng đưa vào sản xuất, khai thác và phát triển các chủng nấm Linh Chi ở nước ta (Nguyễn Thượng Dong, 2007)
Tóm lại, phát triển ngành trồng nấm ở nước ta hiện nay là điều tất yếu Nó không chỉ giải quyết về vấn đề môi trường, lao động mà còn mang lại lợi ích kinh
tế cho người nuôi trồng Tuy nhiên để nghề trồng nấm nhanh chóng phát triển ở nước ta, bên cạnh sự vận động theo nhu cầu xã hội, cần có sự đầu tư về mặt khoa học như giống nấm, kỹ thuật nuôi trồng, vấn đề phòng bệnh, chế biến sản phẩm, cung cấp thông tin cũng như huấn luyện kỹ thuật trồng nấm và nhất là có chính sách ưu đãi cho người trồng nấm như cho vay vốn ưu đãi, miễn giảm thuế (Nguyễn Phương Hà, 2009)
Trang 23Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài
Đề tài được thực hiện tại Viện Nghiên cứu Công nghệ Sinh học và Môi trường,
trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh từ ngày 15/12/2012 đến ngày 15/6/2013
3.2 Vật liệu nghiên cứu
3.2.1 Chủng nấm Linh Chi
Bảng 3.1 Nguồn gốc các chủng nấm Linh Chi
Nấm Linh Chi thu thập tại Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh
Nấm Linh Chi thu thập tại Củ Chi Tp Hồ Chí Minh
Nấm Linh Chi thu thập tại Quảng Nam
Nấm Linh Chi thu thập tại Đà Lạt
Nấm Linh Chi thu thập tại Bình Dương
Nấm Linh Chi thu thập tại Đồng Nai
Nấm Linh Chi thu thập tại Hà Nội
LC-NL LC-CC LC-QN LC-DL LC-BD LC-DN LC-HN
3.2.2 Môi trường nuôi cấy nấm Linh Chi
Môi trường phân lập PGA (Potato Glucose Agar)
Chuẩn bị môi trường: Khoai tây gọt vỏ, rửa sạch, cắt lát mỏng cho vào 600 ml
nước cất, nấu cho tới khi chín nhừ khoảng 30 phút Chiết lấy nước, thêm agar vào nấu
cho tan Bổ sung nước cất cho đủ 1000ml Đun sôi trở lại, thêm glucose chiết nhanh
vào ống nghiệm, mỗi ống 3 – 5 ml, làm nút bông và khử trùng Đặt các ống nghiệm
nằm nghiêng khoảng 15o (so với mặt bàn)
Môi trường tăng sinh PGAY (Potato Glucose Agar Yeast)
Trang 24Chuẩn bị môi trường: Tương tự môi trường PGA nhưng có bổ sung cao nấm men
Môi trường Czapek dox bổ sung tinh bột
Trang 25 Môi trường meo lúa
Nguyên liệu gồm hạt thóc và cám gạo hoặc bột ngô Môi trường thóc hạt chủ yếu
để làm và nhân giống cấp 2
Thóc hạt tốt (đã được thu hoạch từ năm trước) được ngâm qua đêm rồi đãi sạch Cho thóc vào nồi cùng với nước ngập thóc và đun sôi cho nứt vỏ thóc (thời gian sôi khoảng 20 – 30 phút)
Vớt thóc cho vào rổ, rá hoặc thúng tre để ráo nước (độ ẩm đạt 70 – 75%), sau đó trộn cám gạo và bột ngô theo tỉ lệ quy định (5 – 10%)
Đóng nguyên liệu vào túi polyetylen chịu nhiệt hoặc chai thủy tinh chịu nhiệt, đậy nút bông và khử trùng bằng nồi hấp, 1 atm (1210C) trong thời gian 90 phút
Sau khi khử trùng, cho nhiệt độ hạ xuống bình thường thì có thể sử dụng để cấp giống hoặc cất giữ ở nhiệt độ thấp (100C) để sử dụng dần
Môi trường bịch phôi nấm Linh Chi
Nguyên liệu chính là mùn cưa (tươi hoặc khô của các loại cây mềm không có tinh dầu và không độc hoặc một số cây thân thảo: rơm rạ…) Ở nước ta mùn cưa cao su đáp ứng tốt yêu cầu và rất phong phú Mùn cưa vừa mới được mua về, ủ đống tự nhiên nơi khô ráo, thoáng mát
Tiến hành tạo ẩm và bổ sung thêm dinh dưỡng vào mùn cưa Đảo đều sao cho độ
ẩm cuối cùng đạt khoảng 60% độ ẩm của cơ chất trồng nấm Cơ chất đã được trộn đều, loại bỏ những mảnh dăm bào và gỗ còn sót lại Sau đó tiến hành cho cơ chất được sàng vào bịch nylon chịu nhiệt và nện nhẹ, đồng thời xoay tròn bịch để cơ chất được nén đều vừa đủ chặt
Mỗi bịch cơ chất có trọng lượng 1,2 – 1,5 kg/bịch Buộc cổ bịch, dùng bông không thấm bịt miệng bịch và đậy nắp nhựa chuyển vào nhà hấp khử trùng
3.2.3 Thiết bị và hóa chất dùng trong thí nghiệm
Hóa chất ly trích DNA: Dung dịch TE (10 mM Tris HCl, pH = 8, 1 mM EDTA); Extraction buffer (200 mM Tris HCl, pH = 8, 25mM EDTA, 250 mM NaCl, 0,5% SDS); Phenol : Chloroform : Isoamyl alcohol (25 : 24 : 1); Isopropanal; Natri acetate; Ethanol 70o; Chloroform : Isoamyl alcohol (24 : 1)
Hóa chất dùng cho điện di: TBE 0.5X; Gel Agarose; Loading dye; Dung dịch
nhuộm Ethidium bromide
Trang 26Thiết bị và dụng cụ thí nghiệm: Nồi hấp khử trùng; Tủ cấy vô trùng; Tủ sấy; Cân điện tử; Máy vortex; Bếp điện; Máy điện di; Máy chụp ảnh gel, máy chạy PCR, máy
đo OD, buồng ủ Water bath
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp phân lập và tăng sinh các chủng nấm Linh Chi
Các chủng nấm Linh Chi được thu thập tại một số tỉnh trong nước (Hồ Chí Minh,
Hà Nội, Đồng Nai, Bình Dương, Quảng Nam, Lâm Đồng)
Cách thức lấy mẫu: Chọn những quả thể nấm (có cả cuống) to, khỏe, không bị mọt, không nhiễm bệnh Dùng dao nhỏ cắt nhẹ vào phần gốc nấm, tránh cầm mạnh làm dập phần cuống nấm Mỗi giống lấy 2 – 3 quả thể nấm cho vào bịch nhựa vô trùng, ghi tên từng giống và đưa về phòng thí nghiệm để phân lập
Cách thức phân lập: Mẫu nấm được rửa sạch, lau khô, vô trùng bằng cồn 70%, cắt ngang phần quả thể và cuống nấm, chọn phần thịt nấm bên trong để tránh hiện tượng nhiễm vi sinh vật từ bên ngoài Sau đó cấy qua môi trường phân lập PGA, sau 3 – 5 ngày quan sát sự phát triển của tơ nấm, loại bỏ những ống nghiệm bị nhiễm Các giống nấm được phân lập xong sẽ cấy chuyền qua môi trường PGAY để tăng sinh khối và
giữ giống cho các thí nghiệm tiếp theo
3.3.2 Khảo sát khả năng tổng hợp enzyme amylase và cellulase
Sau 3 – 5 ngày quan sát các vòng phân giải amylase/cellulase của các mẫu nấm
Đo đường kính vòng phân giải enzyme amylase/cellulose trung bình của từng mẫu nấm Linh Chi
Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên một yếu tố (7 giống nấm Linh Chi), tiến hành 3 lần lặp lại Tổng số đĩa petri thí nghiệm là 21 đĩa petri có chứa môi trường Czapek dox có bổ sung tinh bột để khảo sát hoạt tính enzyme amylase và
21 đĩa petri có chứa môi trường Czapek dox có bổ sung CMC để khảo sát hoạt tính enzyme cellulase
Trang 27 Các chỉ tiêu theo dõi
Cho thuốc thử Logul vào trong từng đĩa môi trường sau 3 – 5 ngày cấy Đo đường kính trung bình của vòng phân giải trong từng nghiệm thức bằng thước kẻ Đánh giá
hoạt tính enzyme amylase và cellulase của từng giống nấm Linh Chi
3.3.3 Khảo sát tốc độ lan tơ và hình thái quả thể các chủng nấm Linh Chi
Tiến hành thí nghiệm
Mỗi giống nấm Linh Chi chọn ra 1 ống nghiệm chứa môi trường PGAY có tơ nấm phát triển mạnh nhất
Cấy chuyền ra môi trường meo lúa
Từ meo lúa, mỗi giống nấm sẽ được cấy vào 10 bịch phôi
Khảo sát tốc độ lan tơ của từng mẫu nấm
Thí nghiệm lặp lại 3 lần
Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên một yếu tố (7 giống nấm Linh Chi), tiến hành 3 lần lặp lại Tổng số bịch phôi thí nghiệm là 210 bịch phôi, 10 bịch phôi cho mỗi ô nghiệm thức
Các chỉ tiêu theo dõi
Chọn những bịch nấm phát triển đồng đều, lấy ở mỗi ô nghiệm thức 3 bịch để tiến hành theo dõi Đối với mũ nấm, chọn mỗi quả thể nấm trong mỗi bịch phôi được theo dõi để đo
Đường kính quả thể (cm): đo đường kính dài nhất của quả thể bằng thước kẻ
Độ dày mũ nấm (cm): cắt theo chiều từ mặt trên xuống mặt dưới của mũ nấm ở
vị trí đi qua cuống nấm và dùng thước đo
Tỷ lệ nhiễm (%): số bịch phôi bị nhiễm trong quá trình thí nghiệm của từng nghiệm thức/tổng số bịch phôi trong mỗi ô nghiệm thức*100
Trang 28Thời gian xuất hiện quả thể (ngày): tính từ ngày bắt đầu cấy bịch phôi đến ngày xuất hiện quả thể đầu tiên trong các nghiệm thức
xi: tốc độ sinh trưởng (cm/ngày)
ni: số ngày quan sát
3.3.4 Tách chiết DNA
3.3.4.1 Phương pháp ly trích DNA các chủng nấm Linh Chi (Lê Hữu Phước, 2011)
Mẫu nấm được nuôi cấy trong môi trường PGAY ở điều kiện 25oC Sau 5 – 7 ngày
tơ nấm bắt đầu phát triển tiến hành các bước sau:
Cân 0,5 g tơ nấm (có chứa môi trường thạch) cho vào các eppendorf
Cho vào mỗi eppendorf 500μl dung dịch TE
Ly tâm 13000 rpm (vòng/phút) trong 5 phút, đổ dung dịch lỏng ở trên, lấy phần tủa dưới tube, thêm 300μl Extraction buffer
Dùng chày nghiền nhỏ sợi nấm thật kỹ, lắc nhẹ, đều, đặt trong tủ đông -20oC trong vòng 20 phút
Lấy mẫu ra làm tan đá và ly tâm 13000 rpm trong 5 phút, chuyển phần dịch lỏng sang eppendort mới (loại bỏ tủa)
Thêm vào 600μl Chloroform Isoamyl alcohol để loại bỏ các thành phần không mong muốn trong mẫu, chủ yếu là các protein bằng cách làm biến tính protein đồng thời không hòa tan acid nucleic