Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương thức sản xuất cây con và kỹ thuật bón phân N - K đến sinh trưởng, phát triển, chất lượng thuốc lá vàng sấy tại Tỉnh Gia Lai
Trang 11 MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây thuốc lá (Nicotiana tabacum L) là loại cây cơng nghiệp ngắn
ngày, cĩ giá trị kinh tế cao Nĩ là một trong những nguồn thu nhập chính củanơng dân và ngân sách nhà nước Thuốc lá ngày nay trở thành nhu cầu và tậpquán trong sinh hoạt khơng thể thiếu của con người Nhiều quốc gia trên Thếgiới sản xuất thuốc lá với sản lượng lớn như Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, ThổNhĩ Kỳ, ZimBaBue, Brazil…
Việt Nam là nước cĩ khí hậu nhiệt đới cĩ điều kiện thích hợp để trồng
và phát triển cây thuốc lá Ngành thuốc lá ở nước ta hiện nay đã và đang thuhút một lượng lớn lao động sản xuất nơng nghiệp tham gia trồng, sản xuất vàphát triển thuốc lá cung cấp nguyên liệu cho sản xuất thuốc lá điếu trong nước
và xuất khẩu Trong thời gian hơn 20 năm qua, Tổng cơng ty thuốc lá ViệtNam đã từng bước đầu tư vùng nguyên liệu thuốc lá tập trung với quy mơ rấtlớn, chỉ đạo thực hiện quy trình canh tác và chuyển giao cơng nghệ mới chongười trồng thuốc lá Nhờ vậy, năng suất và chất lượng thuốc lá nguyên liệudần được cải thiện từng bước, đáp ứng được nhu cầu sản xuất thuốc lá điếutrong nước và tham gia xuất khẩu nguyên liệu Đến nay đã và đang hình thànhnhững vùng nguyên liệu chuyên canh thích hợp cho phát triển cây thuốc lá,đáp ứng với tiêu chuẩn cho các nhà máy sản xuất thuốc lá điếu và xuất khẩu,tăng thu ngoại tệ cho ngân sách nhà nước Cây thuốc lá đã tham gia vàochương trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, đadạng hố cây trồng và gĩp phần tích cực vào cơng cuộc xố đĩi, giảm nghèo,giải quyết việc làm và từng bước làm thay đổi bộ mặt kinh tế nhiều địaphương nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khĩ khăn
Trang 2Vùng kinh tế Tây Nguyên nói chung, Tỉnh Gia Lai nói riêng có nhữngđiều kiện đất đai, khí hậu rất thích hợp để trồng cây thuốc lá nhất là thuốc lávàng sấy, nhờ có độ cao so mặt nước biển > 300m, có biên độ ngày đêmchênh lệch khá cao từ 10- 12oC, đây là điều kiện cây sẽ tích luỹ nhiều chấtkhô, đặt biệt tạo thuốc lá có hương rất thơm, là loại thuốc lá có chất lượng caođáp ứng nhu cầu cho các nhà máy thuốc lá điếu trong nước.
Tuy nhiên thực tế sản xuất hiện nay ở các tỉnh phía Nam, ngoại trừvùng trồng thuốc lá vàng sấy Tây Ninh, các vùng trồng thuốc lá vàng sấykhác ít được nghiên cứu, nhất là vùng trồng thuốc lá các tỉnh Tây Nguyên.Hầu hết các đơn vị sản xuất nguyên liệu trong khu vực đều áp dụng các thànhtựu từ các kinh nghiệm và các công trình nghiên cứu về thuốc lá vàng sấy ởTây Ninh và nước ngoài, những ứng dụng này chưa được thử nghiệm lại vìvậy năng suất và chất lượng không cao, không ổn định gây khó khăn cho việcsản xuất thuốc lá điếu của các nhà máy
Đánh giá chung về tình hình trồng cây thuốc lá vàng sấy ở các tỉnh TâyNguyên như sau:
-Vùng trồng: Đã hình thành nên được nhiều vùng trồng thích hợp như:
An Khê, Krông Pa, Azunpa, Krông Bông, Easup,… Các vùng trồng ở TâyNguyên ngày càng phát triển mạnh do điều kiện tự nhiên phù hợp để cho loạinguyên liệu thuốc lá có chất lượng cao
- Giống : đã nhập nhiều giống mới đang trong giai đoạn thử nghiệm, hiệnnay chỉ có 2 giống mới C176 và K326 được đưa ra sản xuất đại trà.Tuy nhiên ởTây Nguyên chủ yếu trồng giống K326 do tính chịu hạn cao nên được sử dụngnhiều
- Cây con giống: các khu vực Miền Trung và Tây Nguyên chủ yếu làcây con giống trồng thẳng nên khi trồng tỉ lệ cây sống ngoài đồng rất thấp, dễ
Trang 3bị bệnh đây là tập quán của người nơng dân và là vấn đề khĩ khăn nhất hiệnnay trong vấn đề sản xuất cây giống.
- Kỹ thuật canh tác: Hiện nay đang áp dụng qui trình kỹ thuật trồngthuốc lá của Tổng cơng ty thuốc lá Việt Nam Tuy nhiên về chế độ phân bĩnthì gần như áp dụng chung và lấy kết quả nghiên cứu từ các số liệu ở TâyNinh cho nên các vùng trồng tại các tỉnh Tây Nguyên, đặt biệt tỉnh Gia laikhơng phù hợp, vì thế năng suất và chất lượng khơng cao, khơng ổn định
Từ những nhận định trên cho thấy sự cần thiết phải thực hiện đề tài “
Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương thức sản xuất cây con và kỹ thuật bĩn phân N - K đến sinh trưởng, phát triển, chất lượng thuốc lá vàng sấy tại Tỉnh Gia Lai” nhằm tạo tiền đề mở rộng sản xuất vùng Tây Nguyên, tăng
nhanh sản lượng hạn chế nhập khẩu và tiến tới xuất khẩu nguyên liệu cĩ chấtlượng cao
1.2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
Góp phần nhằm hồn thiện qui trình sản xuất thuốc lá vàng sấy tại tỉnhGia Lai Trên cơ sở đĩ chuyển giao kỹ
thuật và mở rộng sản xuất một số khu vực ở vùng Tây Nguyên, đápứng nhu cầu sản xuất nguyên liệu chất lượng cao và phục vụ cho chế biến vàxuất khẩu
1.3 YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
- Xác định được phương thức sản xuất cây con thích hợp cho vùngGia Lai
- Xác định được lượng phân bón N-K thích hợp nhằm làm tăng năngsuất, chất lượng thuốc lá vàng sấy tại tỉnh Gia Lai
Trang 41.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho các công trình nghiên cứu
tiếp theo nhằm hoàn thiện qui trình sản xuất thuốc lá vàng sấy nhất là cây congiống và lượng phân bón thích hợp giúp nâng cao năng suất, chất lượng vàhiệu quả kinh tế thuốc lá vàng tại Tỉnh Gia Lai nói riêng, vùng Tây Nguyênnói chung và là tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, chuyển giao tiến bộ kỹthuật, trên cơ sở vững chắc, tin cậy hơn
1.5 Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Đưa ra được phương thức sản xuất con giống chất lượng cao, sạch
- Tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho bà con nông dân, đưa câythuốc lá vàng sấy vào trong cơ cấu cây trồng, là cây xóa đói giảm nghèo cho
bà con nông dân vùng sâu, vùng xa ở miền núi
1.6 PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Các phương thức sản xuất cây con, các loại cây con trồng trong sản xuất
- Liều lượng N- K bón cho cây thuốc lá vàng sấy với giống K326
Trang 52 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 GIÁ TRỊ KINH TẾ, GIÁ TRỊ SỬ DỤNG CỦA CÂY THUỐC LÁ
2.1.1 Giá trị kinh tế
- Thuốc lá là cây cơng nghiệp chính của thế giới cĩ giá trị kinh tế cao
và mang lại nguồn lợi rất cao cho nhiều nước
Ở Mỹ: lợi nhuận do thuốc lá và thuốc điếu mang lại từ 5-6 tỷUSD/năm
Tại Bungari: diện tích trồng thuốc là 5 % tổng diện tích canh tác, đemlại lợi nhuận cho người trồng thuốc lá từ 20 – 35 %/năm nguồn thu nhập
Ở nước ta, thuốc lá là ngành thu lợi nhuận cao nhất trong bộ cơngnghiệp, năm 1994, ngành thuốc lá nộp ngân sách Nhà nước 860 tỷ đồng, năm
2004 nộp ngân sách là 1700 tỷ đồng, 2005 nộp ngân sách 6700 tỉ đồng [4].Ngồi ra Ngành thuốc lá cịn tạo ra cơng ăn việc làm, thu nhập ổn định hơn20.000 cơng nhân lao động ở các nhà máy thuốc lá điếu, hơn 1.000.000 laođộng sản xuất nơng nghiệp [15]
2.1.2 Gía trị sử dụng
* Sử dụng các thành phần hĩa học từ cây thuốc lá cho cơng nghiệp:
- Trồng nhĩm Nicotiana rustica, người ta trích ra từ lá hàm lượng nicotin từ 4 – 5 % để sản xuất thuốc trừ sâu Sulfat nicotin
- Từ thân và lá thuốc lá triết suất được Sclareol và 13 epi – Sclareol chống bệnh gỉ sắt cây họ đậu
- Từ lá thuốc lá trích hàm lượng Axit nicotineic dùng cho cơng nghiệp dược phẩm
- Hạt thuốc lá triết suất 34 – 40 % dầu phục vụ trong cơng nghiệp, sử dụng trong thực phẩm
Trang 6- Thân chế tạo các loại giấy cĩ chất lượng cao.
- Hoa chiết suất tinh dầu sản xuất nước hoa thuốc lá
- Một số phát hiện mới hiện nay, các nhà nghiên cứu đã kết luận thuốc
lá giàu Prơtein, Hydratcacbon, chất béo và vitamin
- Prơtit thuốc lá chứa nhiều axit amin quan trọng, tính chất bổ dưỡng vượt cả (phomat) Prơtein trong sữa [1]
2.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ NGUYÊN LIỆU THUỐC
LÁ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nguyên liệu thuốc lá trên thế giới 2.2.1.1.Tình hình sản xuất nguyên liệu thuốc lá trên thế giới
Thuốc lá vàng sấy là loại nguyên liệu chủ yếu để sản xuất thuốc lá điếu
và một phần dùng để hút tẩu , chiếm 100% trong các mác thuốc điếu cĩ guhút kiểu Anh và chiếm 25 – 35 % trong các mác thuốc lá điếu cĩ gu hút hỗnhợp kiểu Mỹ [18]
Hiện nay các nước sản xuất nguyên liệu hàng đầu thế giới như: TrungQuốc, Mỹ, Braxin, Thổ Nhĩ Kỳ, Zimbabuê, Inđơnêxia và Hy Lạp với diệntích và sản lượng chiếm gần 3/4 tổng sản lượng trên thế giới [26]
Những nước cĩ trình độ thâm canh tiên tiến như Mỹ, Zimbabuê trồngthuốc lá cho năng suất khá cao hơn hẳn so với các nước khác và đạt bình quân 25tạ/ha
Trong năm 2005, tổng sản lượng nguyên liệu thuốc lá trên tồn thế giớiđạt trên 5,2 triệu tấn, trong đĩ thuốc lá vàng sấy chiếm trên 60%, thuốc láBurley khoảng 15%, thuốc lá Oriental 10% và một số chủng loại khác [26]
2.2.1.2 Tình hình tiêu thụ trên thế giới
Tình hình nhập khẩu thuốc lá năm 2005 của một số quốc gia hàngđầu thế giới: Trung Quốc (35%), Mỹ (14%), Đức (9%), Hà Lan (5%), Anh
Trang 7(5%), Nhật Bản (4%), tổng sản lượng nguyên liệu nhập khẩu toàn thế giớilà 1,9 triệu tấn Về trao đổi thuốc lá nguyên liệu có thể thấy Trung Quốcvẫn là quốc gia hàng đầu về nhập khẩu mặc dù gần đây đã có nhiều đổimới đáng kể trong sản xuất nguyên liệu Trong 5 năm gần đây, Mỹ đang làquốc gia có mức nhập nguyên liệu tăng đáng kể (bình quân là 8,2% nămtrong giai đoạn 2000 - 2005) trong khi lượng xuất khẩu lại giảm bình quân3,4% năm trong giai đoạn 5 năm này Về sản lượng nhập khẩu, chỉ 6 quốcgia (Trung Quốc, Mỹ, Đức, Hà Lan, Anh và Nhật) đã nhập hơn 1/2 tổngsản lượng nguyên liệu nhập khẩu toàn thế giới Về xuất khẩu, chỉ 3 quốcgia: Brasil (33%), Trung Quốc (7%), Mỹ (7%) đã đảm trách xuất gần 1/2tổng sản lượng nguyên liệu xuất khẩu toàn thế giới
Các số liệu thông tin về tình hình sản xuất, tiêu thụ và trao đổinguyên liệu thuốc lá nói trên cho thấy thuốc lá hiện vẫn là loại nông sảnđược trao đổi phổ biến và hầu như vẫn chưa có biến động lớn cho dù phongtrào chống thuốc lá đang lan rộng [4] Trước việc cả thế giới cùng tham giaký vào “Hiệp định khung kiểm soát thuốc lá toàn cầu – FCTC”, tình hìnhsản xuất thuốc lá nguyên liệu trên thế giới có thể thấy trong năm 2005,các quốc gia sản xuất thuốc lá vàng sấy xuất khẩu dự kiến sẽ xuất khẩukhoảng 1.799 triệu kg, tăng khoảng 0.2% so với năm 2004 [4]
2.2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ thuốc lá vàng sấy ở Việt Nam
2.2.2.1 Tình hình sản xuất nguyên liệu thuốc lá Việt Nam
Thuốc lá vàng sấy ở Việt Nam được trồng rải rác trên địa hìnhđồng bằng duyên hải, trung du và miền núi Hơn 10 năm qua, ngoại trừ
Trang 8vùng trồng thuốc lá vàng sấy Tây Ninh, các vùng trồng thuốc lá vàngsấy khác ở phía Nam ít được nghiên cứu Hầu hết các đơn vị sản xuấtnguyên liệu trong khu vực áp dụng các thành tựu từ các kinh nghiệm vàcông trình nghiên cứu về thuốc lá vàng sấy ở Tây Ninh và nước ngoài, tuynhiên những ứng dụng này chưa được thử nghiệm lại và chỉ cho một số kếtquả nhất định Dưới sự chỉ đạo của Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam, câythuốc lá vàng sấy đã được phát triển, nhiều vùng chuyên canh trồng thuốclá vàng sấy với các giống mới đã hình thành Một số vùng nguyên liệu nổitiếng như : Kr«ng Pa, An Khê (Gia Lai), Ninh Hòa (Khánh Hòa), Sơn Hòa(Phú Yên), Ninh Thuận, Tây Ninh
Tình hình sản xuất nguyên liệu thuốc lá vàng sấy năm 2004 đạt thấphơn so với năm trước (bằng 71,5% so với năm 2003) vì dịch bệnh virusxoăn đọt thuốc lá tiếp tục gây hại một số vùng trồng phía Nam Nguồnnguyên liệu nhập để sản xuất thuốc lá không ổn định, giá cả tăng…Ở mộtvài nơi, tình trạng tranh mua, tranh bán nguyên liệu đã diễn ra gay gắt, ảnhhưởng đến các nhà đầu tư trồng nguyên liệu Năm 2004 toàn Hiệp hộithuèc l¸ ViƯt Nam thu mua 46.360 tấn, đạt 71,48% so với năm 2003, trongđó các đơn vị thuộc Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam và công ty LiênDoanh BAT-Vinataba là 27.978 tấn, đạt 56,0%
Năng suất trồng thuốc lá phía Nam đạt 1,7 - 1,8 tấn/ha, tỉ lệ cấp 1+2đạt hơn 50% Phía Bắc đạt 1,5 - 1,6 tấn/ha, chất lượng còn thấp, cấp 1+2chỉ đạt bình quân từ 25 - 30% (Phạm Kiến Nghiệp, 2005) [4]
2.2.2.2 Tình hình nhập khẩu nguyên liệu của Việt Nam
Trang 9Hàng năm các nhà máy thuốc điếu của Việt Nam phải nhập khẩu của Brasil, Zimbabuª khoảng 2.000 tấn nguyên liệu dạng lá có chất lượng cao, đặc trưng khẩu vị thuốc lá cho sản xuất các mác thuốc điếu có chất lượng cao; và nhập khẩu khoảng 7.000 tấn sợi cao cấp phối chế sẵn để sản xuất các mác thuốc cao cấp và hợp tác sản xuất như 555,
Marlboro, Vinataba, Craven “A”, Ngoại tệ nhập khẩu nguyên liệu và sợi phối chế sẵn khá lớn, chiếm tỷ trọng trên 70% kim ngạch nhập khẩu toàn ngành Trong thời gian tới, sẽ tập trung đầu tư nâng cao chất lượng nguyên liệu tại một số vùng có điều kiện thích hợp để có thể tham gia phối chế sản xuất sợi chất lượng cao
Ngoài lượng nguyên liệu nhập khẩu câàn thiết nêu trên thì trong cácnăm qua ngành thuốc lá còn sử dụng một số lượng lớn thuốc lá vàng sấycủa Campuchia và Trung Quốc ước tính từ 15.000 - 30.000 tấn/năm, bằngđường tiểu ngạch biên giới và tiêu tốn một lượng ngoại tệ không nhỏ(không nằm trong số thống kê kim ngạch nhập khẩu của ngành thuốc lá).Hơn 10 năm qua Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam và một số đơn vị địaphương đã có nhiều cố gắng trong việc đầu tư phát triển vùng nguyên liệuđể đưa sản lượng đáp ứng nhu cầu sản xuất và chất lượng tương đương vớichất lượng thuốc lá nguyên liệu trong khu vực Năm 1997, lượng thuốc lávàng sấy Campuchia nhập khẩu giảm hẳn từ 12.000 - 15.000 tấn/năm trướcđây xuống dưới 2.000 tấn/năm [4]
Tuy nhiên từ năm 1998 đến nay, các nhà máy thuốc điếu đã sửdụng cho sản xuất một lượng lớn thuốc lá vàng Trung Quốc Nguyên liệuTrung Quốc nhập vào nước ta phần lớn là loại nguyên liệu chất lượng
Trang 10trung bình và thấp, trốn lậu thuế ở biên giới nên có giá rất rẻ Việc sửdụng nguyên liệu Trung Quốc với sản lượng lớn như vậy đã dẫn đến tìnhtrạng dư thừa nguyên liệu trong nước, ảnh hưởng đến việc phát triển vùngtrồng nguyên liệu Hiện nay thuốc lá nguyên liệu trong nước có chất lượngvà số lượng thay thế được nguyên liệu Trung Quốc song giá nguyên liệucủa ta còn cao hơn so với nguyên liệu của Trung Quốc Vì vậy Nhà nướcđã có biện pháp hạn chế lượng nguyên liệu Trung Quốc nhập vào ViệtNam, tăng diện tích và sản lượng nguyên liệu thuốc lá trồng trong nướcnhằm tạo việc làm và tăng thu nhập cho người nông dân ở các vùng trồngnguyên liệu thuốc lá
Năm 2004, toàn Hiệp Hội nhập khẩu với giá trị thực hiện là 252,6triệu USD, tăng 14% so với năm 2003, trong đó các đơn vị thuộc Tổngcông ty thuốc lá Việt Nam đã thực hiện 102,7 triệu USD, tăng 25% so vớinăm 2003 (Phạm Kiến Nghiệp, 2005)[4]
2.2.2.3 Tình hình xuất khẩu thuốc lá của Việt Nam
Lượng nguyên liệu thuốc lá xuất khẩu của nước ta tăng trong cácnăm 1997 - 2001, chủng loại thuốc lá nguyên liệu đa dạng, phong phú:thuốc lá vàng sấy, thuốc lá nâu, thuốc lá Burley, thuốc lá sợi pip, kể cả sảnphẩm phụ là cọng Thị trường xuất khẩu được mở rộng ra nhiều nước, mộtsố khách hàng là các công ty hàng đầu thế giới như DIMON, BAT, Thuốc lá nguyên liệu xuất khẩu đã qua chế biến chiếm tỷ trọng lớn (90 %)trong tổng sản lượng nguyên liệu thuốc lá xuất khẩu hàng năm [4]
Trang 11Theo định hướng của Hiệp hội thuốc lá Việt Nam, xuất khẩu lá sợicác loại đạt 10.000 tấn năm 2004 Do những khó khăn nhất định về chấtlượng nguyên liệu, về sản lượng thu mua nên các đơn vị trong Hiệp hộithuốc lá chưa đáp ứng được đầy đủ số lượng và chất lượng theo yêu cầucủa khách hàng Sản lượng xuất khẩu nguyên liệu đạt 6.211 tấn, trong đó98% lượng hàng của các đơn vị thuộc Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam(Phạm Kiến Nghiệp, 2005)[4]
2.2.2.4 Chính sách khuyến khích đầu tư và phát triển sản xuất thuốc lá ở Việt Nam
Theo Nghị định 76/2001/NĐ - CP ngày 22/10/2001 về hoạt động sảnxuất và kinh doanh thuốc lá của Chính phủ đã qui định Nhà nước khuyếnkhích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nướcđầu tư phát triển vùng trồng thuốc lá Theo tinh thần Nghị định trên , Nhànước đã mở rộng và tạo mọi điều kiện thuận lợi như nhau cho mọi thành phầnkinh tế có khả năng đầu tư nếu có đầy đủ các điều kiện theo qui định
Để tiếp cận với nền công nghiệp thuốc lá ở các nước tiên tiến trênthế giới, Nghị định 76 của Chính phủ cũng đã có chính sách khuyến khíchcác nhà đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư phát triển vùng trồng thuốc látrong nước để sản xuất ra nguyên liệu có chất lượng cao, khuyến khích đầu
tư vào lĩnh vực chế biến thuốc lá nguyên liệu để thay thế dần nguyên liệucao cấp nhập khẩu và hướng đến xuất khẩu, giảm kim ngạch nhập khẩu vàtăng thu cho ngân sách Nhà nước Các cơ chế chính sách khuyến khích đầu
tư nước ngoài vào Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất thuốc lá nguyên liệuđã tạo nhiều thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài, thời gian qua đã có
Trang 12một số dự án đầu tư nước ngoài trong việc phát triển vùng trồng thuốc lánhư dự án của Công ty Liên doanh Thuốc lá BAT - Vinataba về việc hỗ trợ
vùng trồng và chế biến sợi thuốc lá cao cấp [4]
Trang 132.2.2.5 Chính sách quy hoạch tổng thể phát triển vùng trồng thuốc lá
Hiện nay, Nhà nước đang có chính sách quy hoạch tổng thể cácvùng trồng thuốc lá nguyên liệu nhằm chọn các vùng trồng có điều kiệnchất lượng tốt, năng suất cao đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, thaythế nguyên liệu nhập ngoại và hướng đến xuất khẩu; ngoài ra sẽ quyhoạch theo hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng tùy theo đặc điểm sinhthái vùng trồng và theo xu hướng sản xuất
Việc quy hoạch tổng thể vùng trồng thuốc lá vàng sấy nhằm cácmục đích chính sau:
- Quy hoạch vùng trồng phù hợp với yêu cầu chung của cả ngành vềsản lượng, chất lượng và cơ cấu chủng loại thuốc lá
- Quy hoạch những vùng chuyên canh trồng thuốc lá để phục vụ xuấtkhẩu
Chính sách quy hoạch vùng nguyên liệu sẽ giúp ổn định và sắp xếplại các vùng trồng thuốc lá để phục vụ cho mục tiêu chung của ngành, cảithiện bước đầu sự phân tán trong sản xuất nguyên liệu và tập trung nguồnlực để tăng sức mạnh cạnh tranh trên thị trường quốc tế [14]
Nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, ngành thuốc
lá Việt Nam đã xây dựng chiến lược phát triển nguyên liệu ở “ Dự án quihoạch phát triển vùng trồng cây thuốc lá đến năm 2010” là phát triển diện tíchtrồng cây thuốc lá lên 39.150 ha và sản lượng 76.710 tấn vào năm 2010, trong
đĩ thuốc lá xuất khẩu là 10.500 tấn [14]
2.2.2.6 Mục tiêu công tác xuất nhập khẩu thuốc lá nguyên liệu trong giai đoạn 2001 – 2010
Trang 14Nhập khẩu: giảm dần và tiến tới không nhập khẩu thuốc lá nguyênliệu chất lượng trung bình và thấp mà trong nước đã sản xuất được Chỉnhập khẩu nguyên liệu thuốc lá có chất lượng cao có nguồn gốc từ cácvùng trồng nổi tiếng trên thế giới như Brazil, Mỹ, Zimbabuª,… mà ViệtNam chưa sản xuất được.
Xuất khẩu: giữ vững các thị trường truyền thống, mở rộng thị trườngmới và đa dạng hóa sản phẩm nguyên liệu thuốc lá xuất khẩu Tiềm năngcủa nguyên liệu Việt Nam trên thị trường xuất khẩu có nhiều thuận lợi, tuythuốc lá Việt Nam chính thức tham gia vào thị trường thế giới từ năm 1991,nhưng đến năm 1998 mới tham gia xuất khẩu thuốc lá vàng sấy với chủngloại thuốc lá vàng sấy Tây Ninh và có thể đánh giá Việt Nam là nhà cungcấp nguyên liệu mới đầy tiềm năng vì các lý do sau đây:
+ Điều kiện chính trị xã hội ổn định cũng là một trong những nguyênnhân khiến các công ty lớn muốn đầu tư và buôn bán lâu dài tại ViệtNam
+ Chất lượng thuốc lá nguyên liệu của Việt Nam được khách hàngđánh giá tương đương với các chủng loại được xuất khẩu trong khu vực,đặc biệt là thuốc lá vàng sấy Krơng Pa
Do đó, từ năm 1998 đến nay, các khách hàng đã chuyển dần lượngnguyên liệu mua từ khách hàng khác sang Việt Nam
+ Theo đánh giá của khách hàng, thuốc lá vàng sấy của Việt Namcó thể đáp ứng được yêu cầu của nhiều khách hàng, tuy nhiên, giá cả chưacạnh tranh Hàng năm, Dimon và Universal đã xuất khẩu khoảng 100.000
Trang 15tấn thuốc lá vàng sấy từ Trung quốc sang các thị trường Châu Âu, ChâuMỹ, Singapore Nhưng những năm gần đây, do thuốc lá Trung quốc cóvấn đề chất lượng nên Dimon và Universal đã tìm kiếm thị trường cungcấp mới là Việt Nam
Diện tích: mục tiêu diện tích trồng thuốc lá năm 2005 là 30.000 ha,đến năm 2010 là 39.000 ha
Năng suất: mục tiêu năng suất bình quân năm 2005 đạt 1,8 tấn/ha,đến năm 2010 đạt 2,0 tấn/ha
Sản lượng: mục tiêu sản lượng thu hoạch vào năm 2005 khoảng53.000 tấn và 77.000 tấn vào năm 2010
Cơ cấu chủng loại nguyên liệu phù hợp với nhu cầu sản xuất trongnước và xuất khẩu (với đặc trưng thuốc lá vàng sấy là loại nguyên liệuchính có nhu cầu sử dụng nhiều nhất tại các nhà máy sản xuất thuốc điếutrong nước và xuất khẩu, chiếm tỷ trọng 88% tổng sản lượng) [4]
2.2.2.7 Hợp tác quốc tế
Trong giai đoạn vừa qua, Tổng cơng ty thuốc lá Việt Nam đã tăngcường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực sản xuất nguyên liệu và thu được nhữngkết quả khả quan
Hợp tác với các cơng ty hàng đầu thế giới như BAT, PHILIPMORRIS,UNIVERSAL, DIMON … thơng qua các đơn vị thành viên làm cơng tácnguyên liệu như cơng ty thuốc lá Nam, cơng ty nguyên liệu thuốc lá Bắc vàViện kinh tế kỹ thuật thuốc lá trồng thử nghiệm các giống thuốc lá K326 ,Coker 176, K.149, K.399, RG.8, RG.11; RG.17 ( thuốc Virginia), Banket.A1(thuốc Burley)…
Trang 16Hợp tác với công ty Reynold thành lập với công ty liên doanh Đà nẵng( nay chuyển 100% vốn trong nước), hoạt động chủ yếu là trồng và chế biếnthuốc lá Burley cho xuất khẩu, trong 5 năm xuất khẩu được 4.295 tấn thuốc lánguyên liệu đạt kim ngạch xuất khẩu 12,36 triệu USD.
Tổng công ty thuốc lá Việt Nam cũng đã cử nhiều đoàn cán bộ đi thamquan, học tập về sản xuất nguyên liệu thuốc lá ở các quốc gia như TrungQuốc, Malaysia, Thái lan Zimbabuê, Brazil, Hoa Kỳ, Canada… nhằm nghiêncứu, ứng dụng, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật có liên quan đến phát triển câythuốc lá cũng như nhà máy sản xuất thuốc điếu để xây dựng quy trình sảnxuất và tuyển chọn các giống mới có năng suất, chất lượng cao phục vụ yêucầu phối, chế thuốc lá điếu trong nước và xuất khẩu
2.2.3.TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ NGUYÊN LIỆU THUỐC
LÁ TỈNH GIA LAI
2.2.3.1 Tình hình sản xuất thuốc lá trên địa bàn tỉnh Gia Lai
Do điều kiện thích nghi phát triển tốt của cây thuốc lá, cộng với nhucầu nguyên liệu ngày càng lớn của thị trường, khẩu vị của người tiêu dùng
Từ niên vụ 1998-1999 các giống thuốc lá vàng nhập nội được đưa vào trồngthử nghiệm tại huyện Krông Pa Kết quả đã chọn ra giống thuốc lá Coker
176, K.326 cho năng suất khá cao (bình quân 15-16 tạ/ha), chất lượng cao và
là nguồn nguyên liệu mà nhu cầu trong nước còn rất thiếu phải nhập khẩuhàng [3]
Giai đoạn 1999 - 2004 diện tích trồng thuốc lá của tỉnh không ngừngtăng lên từ 294 ha vụ 1999-2000 tăng lên 2.500ha năm 2005, sản lượng hàngnăm thu được 4.258 tấn nguyên liệu [6]
Như vậy, dù đã có sự quan tâm của ngành thuốc lá đối với người trồngtrong việc đầu tư các chủng loại phân bón chuyên dùng, giá mua thoả đáng và
Trang 17lực lượng cán bộ kỹ thuật, quản lý kinh tế chỉ đạo quản lý tốt vùng trồng trênđịa bàn tỉnh trong thời gian qua, song diện tích cây thuốc lá vẫn biến độnghàng năm Nguyên nhân chủ yếu là do điều kiện khí hậu khắc nghiệt, nắnghạn kéo dài, không có nước tưới, đặc biệt nông dân vẫn còn theo tập quántrồng thu hái không theo qui trình kỹ thuật nên dẫn đến năng suất và chấtlượng giảm sút, đầu ra không ổn định.
Bảng 2.1: Tình hình sản xuất thuốc lá trên địa bàn tỉnh Gia Lai
DT(ha) SL ( tấn) DT(ha) SL ( tấn) DT(ha) SL ( tấn)
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Gia lai.
- Công ty Cổ phần Hoà Việt.
2.2.3.2 Diện tích - Năng suất sản lượng thuốc lá tỉnh Gia Lai
2.2.3.2.1 Diện tích thuốc lá
Trang 18B ng 2.2:Di n tích n ng su t s n l ng thu c lá t nh Gia Lai n m 2005 ện tích năng suất sản lượng thuốc lá tỉnh Gia Lai năm 2005 ăng suất sản lượng thuốc lá tỉnh Gia Lai năm 2005 ất sản lượng thuốc lá tỉnh Gia Lai năm 2005 ượng thuốc lá tỉnh Gia Lai năm 2005 ốc lá tỉnh Gia Lai năm 2005 ỉnh Gia Lai năm 2005 ăng suất sản lượng thuốc lá tỉnh Gia Lai năm 2005
sấy
Thuốc lá nâu phơi
Đơn vị hành chính Diện
tích (ha)
Sản lượng (tấn)
Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh gia lai và các huyện năm 2005.
Diện tích trồng thuốc lá tỉnh Gia Lại tập trung chủ yếu trên địa bàn của
3 huyện Krông Pa, AyunPa, IAPa ( chiếm 92,6 %) về diện tích và 94,8 % vềsản lượng Trong đó tập trung chủ yếu là thuốc lá vàng sấy 2.275,4 ha, chiếm88,9 % diện tích thuốc lá vàng toàn tỉnh, còn lại là thuốc lá Nâu [6]
Trang 192.2.3.2.2 Năng suất, chất lượng thuốc lá qua các thời kỳ
Điều kiện khí hậu khô hạn đã ảnh hưởng lớn đến năng suất cây thuốc látrong thời gian qua
- Đối với thuốc lá vàng sấy: Trong thời kỳ từ năm 1995 đến 2005 năngsuất luôn luôn biến động, năng suất cao nhất đạt 1,85 tấn/ha, năng suất thấpnhất đạt 1,32 tấn/ha
Năng suất bình quân giai đoạn 1995 - 2004 là 1,47 tấn/ha, trong đó giaiđoạn 2001 – 2005 là 1,60 tấn/ha
- Đối với thuốc lá nâu phơi: Giai đoạn 1995 – 2000 do chưa được quantâm đầu tư phát triển nên năng suất bình quân ở mức rất thấp, dao động từ1,10 tấn/ha đến 1,66 tấn/ha Giai đoạn 2001 – 2004 do có sự quan tâm củangành thuốc lá và chính quyền địa phương nên năng suất thuốc lá đã tăngmạnh, từ 1,10 tấn năm 2000 lên 3 tấn/ha năm 2001, 3,5 tấn vào năm 2003.Năm 2004 do nắng hạn nên năng suất thuốc lá nâu phơi chỉ đạt 2,81 tấn [3]
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng năng suất thấp và biến động hàng năm
là do thiếu nguồn nước tưới thường xuyên, nắng hạn kéo dài Bên cạnh đó, dotrong những năm trước 2000, sự quan tâm của các cấp, các ngành đối với câythuốc lá còn nhiều hạn chế, người dân chưa nhận thức rõ được lợi ích từ việctrồng cây thuốc lá, kỹ thuật còn theo tập quán từ các khâu gieo ươm cây conđến trồng và sơ chế đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất và chất lượngthuốc lá làm cho nguồn nguyên liệu không ổn định
Trang 20Bảng 2.3: Năng suất thuốc lá qua các thời kỳ
Nguồn: Công ty cổ phần thuốc lá Hoa Việt chi nhánh Gia Lai.
Về chất lượng nguyên liệu thuốc lá: tỉnh Gia Lai được đánh giá là mộttrong những tỉnh trồng cây thuốc lá cho chất lượng tốt nhất cả nước Sảnphẩm loại 1, loại 2 thường chiếm trên 50% sản lượng thuốc lá toàn tỉnh, sảnphẩm loại 3, loại 4 chỉ đạt khoảng 10 – 30 % sản lượng thuốc lá toàn tỉnh [3]
2.3 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU CÁC PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT CÂY CON VÀ PHÂN BÓN CHO CÂY THUỐC LÁ 2.3.1.Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu các phương thức sản xuất cây con
Cây thuốc lá là loại cây có 2 thời kỳ, trong vườn ươm và sau đó đượctrồng ra ngoài đồng ruộng Trong sản xuất vườn ươm kiểu cũ, thuốc lá đượcgieo từ hạt rất nhỏ bằng tay trên các luống đất đã được cày bừa kỹ và nhổbằng tay để trồng ra ruộng sau khi cây con đạt kích thước chiều cao cây 12 –
20 cm thì nhổ đem trồng
Tại các tỉnh phía Nam hiện nay, trong sản xuất thuốc lá trừ vùng TâyNinh, cây con giống được sản xuất bằng phương pháp trồng cây bầu, do đócon giống có chất lượng khá tốt, tỉ lệ sống ngoài đồng cao, chịu đựng được sự
Trang 21thay đổi của thời tiết Tuy nhiên phương pháp trồng bầu chi phí khá cao, vậnchuyển đến nơi trồng khó khăn Còn những vùng trồng thuốc lá khác hầu nhưnông dân tự sản xuất con giống và chủ yếu là cây con trần ( trồng thẳng), nênchất lượng kém, không ổn định, khi trồng ra ruộng rủi ro cao.
Để tạo được con giống tốt, khỏe mạnh, không bị bệnh, khi mang raruộng trồng dễ dàng, sống tốt và phát triển nhanh là vấn đề quan trọng quyếtđịnh đến vụ mùa thắng lợi Tuy nhiên cũng cần lưu ý đến chi phí cho việc sảnxuất con giống bởi vì nó chiếm 1 phần khá lớn trong chi phí vụ mùa và khảnăng ứng dụng kỹ thuật dễ dàng không
Trong thực tế sản xuất thuốc lá hiện nay, một số tiến bộ khoa học đãđược ứng dụng để sản xuất để tạo cây con tốt như: cây con thủy canh, bánthủy canh, cây con khay tưới qua đầu áp dụng vùng Tây Ninh, Ninh Thuậnmang lại kết quả rất tốt [9][5]
Từ đầu năm 1990 các nông dân Mỹ sử dụng phương pháp khay nổi đểsản xuất con giống thuốc lá Các khay xốp có lỗ được lấp đầy giá thể và thảnổi trên mặt nước có chứa dinh dưỡng Mỗi lỗ cấy 1 cây con thuốc lá với mộtphần rễ không khí ở trên mặt nước và một phần rễ hút dinh dưỡng nằm hẳntrong nước Phương pháp này ngày càng phổ biến và chiếm ưu thế trên thếgiới Việc sản xuất con giống khay nổi có ưu điểm con giống khỏe, đồng đều,sach bệnh, dễ vận chuyển Tuy nhiên đòi hỏi công nghệ khá cao vì đòi hỏi cầnphải có máy đo nồng độ phân trong nước [11]
Vì vậy việc nghiên cứu các phương thức sản xuất cây con trong vườnươm tại Tây Nguyên nói chung , Gia lai nói riêng là cần thiết
2.3.2.Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu bón phân cho thuốc lá vàng sấy
Trong các loại cây trồng, cây thuốc lá vàng sấy là loại cây thích hợp trên đất cát hoặc thịt nhẹ, nghèo mùn, tầng canh tác dày, thoát nước tốt và rất
Trang 22dễ thích ứng và nhạy cảm với phân bĩn Ngồi yếu tố làm tăng năng suất, phân bĩn ảnh hưởng rất sâu sắc đến phẩm chất thuốc lá và nĩ được xem như
là một yếu tố điều chỉnh phẩm chất Cả 2 mặt, thiếu và thừa phân bĩn đều dẫnđến hiệu quả kém, thừa phân bĩn hoặc tỉ lệ phối hợp khơng cân đối, việc giảmchất lượng nĩ cịn làm cho cây thuốc lá kém sức đề kháng với những điều kiện bất lợi như chống hạn kém, dễ nhiễm sâu bệnh
Mỗi giống thuốc lá đều có nhu cầu dinh dưỡng khác nhau Thuốc láđược trồng trên nhiều loại đất khác nhau từ nghèo đến giàu dinh dưỡngnhưng phần lớn đất trồng thuốc lá đòi hỏi tính chất đất nhẹ là thích hợpnhất Trong 3 yếu tố dinh dưỡng chính của cây thuốc lá nhu cầu cần nhiềunhất là Kali, Đạm, Lân Mỗi một thành phần dinh dưỡng đều có tác dụngđộc lập và tác dụng tương hỗ để thúc đẩy lẫn nhau giúp cây mau phát triển,tạo năng suất và chất lượng tốt nhất
Nguyên tắc bĩn phân cho thuốc lá là bĩn phối hợp, bĩn lĩt đầy đủ, bĩnthúc sớm và kết thúc trước khi thân lá bước vào thời kỳ sinh trưởng mạnhnhất [12]
* Dinh dưỡng đạm của cây thuốc lá vàng sấy
Nitơ là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng nhất trong quá trình sinhtrưởng và phát triển của cây thuốc lá (Chouteau và Fauconnier 1998) [24];(Layten và Nielsen 1999) [21] Do vậy, mức bĩn N ảnh hưởng rất lớn đếnnăng suất và chất lượng lá thuốc lá
Giai đoạn lá bắt đầu xuất hiện đỉnh sinh trưởng khá nhạy cảm với dinhdưỡng đạm, do cây bắt đầu giai đoạn phân chia tế bào mạnh mẽ của lá Dovậy, đây là giai đoạn nguyên tố N ảnh hưởng lớn nhất đến diện tích lá cuốicùng của lá (Raper và Cants) [24]
Trang 23Cây thuốc lá cần giảm mức độ hấp thu N trong thời kỳ cây bắt đầu xuấthiện nụ là tốt nhất, nhằm giúp cho quá trình chín của lá diễn ra thuận lợi nhất.
Sự cần thiết là phải điều khiển cho cây thuốc lá phát triển với diện tích lá tối
đa trùng với thời điểm khả năng cung cấp đạm của đất là thấp nhất
Đối với thuốc lá đặc biệt là thuốc lá Virginia, vượt quá giới hạn củasự cân bằng Đạm đều không có lợi ích kinh tế Thiếu Đạm, cây thuốc lácòi cọc, yếu ớt, cây có màu vàng úa và sinh trưởng chậm Thừa Đạm làmcho lá thuốc có màu xanh tối, kích thước lá lớn, lá khô ráp, mặt lá xù xì vàrất khó chuyển màu vàng trong khi sấy Sau sấy lá thường có màu nâu đỏhoặc nâu tối, lá giòn nát, gân thô
Cây thuốc lá rất dễ nhiễm bệnh khi thừa Đạm Thành phần hoá họccủa lá xấu đi: lượng hydrat cacbon giảm, lượng protein tăng lên kèm theohàng loạt các chỉ tiêu chất lượng khác xấu đi Aûnh hưởng của việc thừa Đạmlà thời gian sinh trưởng kéo dài, quá trình chín kỹ thuật chậm
Đặc biệt, nicotine (Alkaloid) được tổng hợp trong rễ và hơn bất cứyếu tố nào khác, chính Đạm quyết định lượng nicotine tích luỹ trong lá, bởinó là yếu tố cấu thành của nicotine Tăng lượng Đạm bón cho cây từ trạngthiếu thiếu đến thừa sẽ làm lượng nicotine trong lá tăng lên Lượngnicotine tăng do bón Đạm tăng sẽ dẫn đến lá chậm chín
Nếu bĩn quá nhiều đạm thì thân lá sinh trưởng nhanh, thịt lá khơngmịn, kết cấu tế bào thưa, nhiều nước, xanh lâu chín muộn, hàm lượng nicotin
và prơtit tăng cao, hàm lượng đường bột thấp, thuốc sấy cĩ màu nâu đen, vịđắng khét khơng cĩ lợi cho phẩm cấp nguyên liệu [12]
Nghiên cứu của Voloviep (Liên xơ cũ) về hàm lượng dinh dưỡng đếnphẩm chất lá thể hiện ở bảng sau
Trang 24Bảng 2.4: Ảnh hưởng của N, P, K đến phẩm chất thuốc lá (%)
Lượng phân hữu hiệu (kg/ha) Nicotin (%) Chỉ số Shmuch
Nguồn số liệu: Giáo trình cây CN- Trường ĐHNN I Hà Nội
Hàm lượng N trong thuốc lá tương quan thuận với hàm lượng nicotin
và tương quan nghịch với hàm lượng đường
Hàm lượng N cĩ ảnh hưởng mạnh nhất đến vị của sản phẩm, nếu đạmtổng số khá cao trong lá thuốc khi hút sản phẩm cĩ vị sốc, ngược lại nếu đạmtổng số thấp quá hút cĩ vị nhạt Thực tế của sản phẩm thuốc lá liên quan đến
sự cân bằng giữa thành phần đường và prơtêin trong lá thuốc lá ( Chouteau vàFauconnier 1998) [17]
Khả năng cháy của sản phẩm thuốc lá giảm thấp khi lượng N cung cấptăng lên Tuy nhiên trong một vài trường hợp đạm dạng NO- 3 được xác định làảnh hưởng tốt đến khả năng cháy của thuốc lá Điều này cĩ thể giải thích khicây hút mạnh NO- 3 sẽ kéo theo sự hấp thu mạnh kali nhiều hơn, đồng thời ứcchế hấp thu Cl- (Chouteau và Fauconnier 1998) [17]
* Dinh dưỡng lân (P) của cây thuốc lá vàng sấy
Kích thích cho sự phát triển của rễ, tăng năng suất, xúc tiến việcchín sớm và cải thiện phẩm chất Lân giữ vai trò quan trọng trong việcchuyển hoá hydrat cacbon trong cây, có tác dụng đến kết cấu lý học của láthuốc cũng như lá có màu vàng sáng Khi thiếu Lân trầm trọng lá có màuxanh đậm, kích thước lá nhỏ, lá đứng thẳng Sau đĩ, các lá phía dưới củacây sẽ xuất hiện nhiều đốm nâu (Chouteau và Fauconnier 1998) [17]
Thiếu Lân thể hiện qua việc giảm năng suất và chất lượng Thời kỳđầu sinh trưởng cây cần đủ lượng Lân dễ tiêu Kết quả nghiên cứu cho
Trang 25thấy tích luỹ Lân là đặc điểm chủ yếu của cây con Trong quá trình tăngtrưởng có sự chuyển nhanh thành phần Lân trong đất Các yếu tố như nhiệtđộ đất, pH đất, độ ẩm…ảnh hưởng đến tích luỹ Lân trong cây.
Nếu bĩn quá thừa lân năng suất cĩ thể giảm, vì lân thúc đẩy quá trìnhtích lũy cacbohydrat, khiến cho lá chín quá nhanh, đặc biệt khi cây sinhtrưởng trong điều kiện mơi trường khơng thích hợp (Akehurst B C 1981)[16],ngồi ra bĩn quá nhiều lân sẽ gây cho chất lượng thuốc lá kém, lá quá dầy gâykhĩ khăn cho phối chế thuốc lá điếu
Trên những đất cĩ hàm lượng lân thấp, bĩn lân làm tăng sinh trưởng rõrệt, nhưng hàm lượng lân trong cây tương đương giữa các cơng thức kể cảcơng thức khơng bĩn lân; trong khi đĩ hàm lượng đạm trong lá ở cơng thứckhơng bĩn phân lân tăng lên đáng kể
Cây thuốc lá khi cịn nhỏ hút phân chủ yếu từ phân bĩn, khi cây trưởngthành lượng hấp thu của cây chủ yếu từ nguồn lân cĩ sẵn trong đất (Mc Cants1960) [22] Hiệu quả sử dụng phân lân của cây thuốc lá từ 15 – 68%
Lân cải thiện màu sắc lá sấy của lá thuốc vàng sấy, lân thúc đẩy quá trìnhchuyển hĩa cacbohydrat trong lá, lá chín đầy đủ hơn, tạo điều kiện cho cơng đoạnsấy được thuận lợi, nhờ đĩ màu sắc lá sấy dược cải thiện rõ rệt [16]
Lân cĩ mối quan hệ thuận với hàm lượng đường trong lá thuốc lá (Tso.T.C 1990) [25]
Hàm lượng Nts trong lá thuốc lá tỉ lệ nghịch với lượng hấp thu lân củacây Akehurst B C (1981) [16] cho biết khơng cĩ mối quan hệ nào đáng kểđén hàm lượng Nicotin của lá thuốc lá Chouteau và Fauconnier (1998) [17]cho rằng việc cải thiện dinh dưỡng lân cho cây thuốc lá chỉ cĩ thể ảnh hưởng
Trang 26gián tiếp đến hàm lượng Nicotin trong lá vì cây sinh trưởng nhanh, mau sớm
ra nụ nên được ngắt ngọn sớm
* Dinh dưỡng Kali (K 2O) của cây thuốc lá vàng sấy
Là loại nguyên tố mà cây thuốc lá yêu cầu nhiều nhất so với cácnguyên tố khác cần thiết cho cây Kali có tác dụng đến sinh trưởng đồngthời có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng thuốc lá
Kali xúc tiến quá trình tổng hợp cacù Glucid hay Hydrat Cacbon tronglá, quá trình vận chuyển và tích lũy các chất đó trong một số cơ quan dựtrữ Vì vậy, với cây thuốc lá, Kali đóng vai trò gia tăng chất lượng
Kali làm tăng hàm lượng khoáng bên trong nhựa cây, do vậy làmtăng sức chống chịu của cây với sương giá
Cùng với Lân, Kali tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của hệthống rễ và làm cho mô cây cứng, do đó gia tăng tính chống chịu đỗ ngã
khảm, kháng tốt với bệnh đốm nâu do nấm Alternaria longipes gây ra Lá
thuốc lá đủ Kali sẽ giữ nước tốt hơn, lá cĩ sức trương lớn, hạn chế sự đốtnĩng của bức xạ mặt trời cũng như tạo điều kiện cho sự chuyển hĩa, giúp câythuốc lá đạt chát lượng tốt trong quá trình sấy [17]
Kali đầy đủ sẽ tạo màu sắc vàng sáng của lá thuốc lá sau khi sấy, tăngdiện tích lá và khối lượng của lá Tso, T C (1990) [25] cũng cho biết nếu
Trang 27Kali đầy đủ có tác dụng cải thiện màu sắc, cấu trúc, độ cháy và tính hút ẩmcủa lá thuốc lá.
Ngoài ra, Kali còn có tác dụng lớn đến năng suất và chất lượng thuốc
lá Nó đã kích thích hoạt động các men trong quá trình hình thànhhydratcacbon và phân giải protit; tăng được phẩm cấp, biểu hiện rõ qua màusắc lá sau sấy, độ cháy và hương thơm của nguyên liệu [12]
Như vậy đối với thuốc lá vàng sấy thì yếu tố ảnh hưởng đến năng suất
và chất lượng rõ nhất là đạm và kali Lượng đạm là nguyên tố dinh dưỡng lớnnhất đối với năng suất và chất lượng Sự thiếu và dư thừa đạm làm cho lá có phẩm chất kém, năng suất giảm rõ rệt Kali cũng là yếu tố có liên quan mật thiết đến chất lượng thuốc lá nếu bón đầy đủ sẽ làm lá thuốc cháy tốt, độ dầu dẻo cao, màu sắc vàng đẹp, sự dư thừa không ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng mà gây tăng chi phí Vì lí do đó đề tài chọn 2 yếu tố đạm và kali để nghiên cứu
2.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.4.1 Tình hình nghiên cứu thuốc lá ở nước ngoài:
- Tại Zimbabuê đa số diện tích trồng thuốc lá vàng sấy đều tập trung ởvùng cao trên 300 m, chủ yếu là đất đồi núi, thung lũng, có thời tiết khí hậuchia làm hai mùa rõ rệt, biên độ nhiệt độ ngày đêm cao, từ 10-120C cho chấtlượng và năng suất thuốc lá khá cao [19]
Con giống được áp dụng theo quy trình hiện đại bằng cây con trongkhay nổi Ở Mỹ và Canađa, cây con thường được sản xuất trong nhà lưới chebằng chất dẻo hoặc trong nhà kính Tới 80 – 90 % cây con thuốc lá vàng sấyđược dùng ở North Carolina được gieo trong nhà lưới che bằng chất dẻo kiểusản xuất này đang tăng lên ở một số nước như Canađa, Ý, Úc [21]
Trang 28Hệ thống vườn ươm được che bằng chất dẻo có 2 loại hiện đang ápdụng, loại có hệ thống tưới nhưng không có hệ thống cách nhiệt, loại này ítphổ biến hơn so với hệ thống vườn ươm khay nổi ở Mỹ vì mất nhiều côngchăm sóc hơn, tốn nhiều phân bón và nước tưới.
Ở Canađa, người ta thường rắt hạt trên luống ươm có giá thể làm bằngmùn rác đã được khử trùng bằng nhiệt Hệ thống vườn ươm bằng khay nổicủa Mỹ, giá thể làm bằng than củi được cho vào lỗ khay xốp Khay được thảnổi trên nước có pha sẵn phân bón và cây con luôn được hút ẩm qua giá thể.Hạt được gieo bằng hạt bọc Những khay này thường được xử lý phòng bệnhbằng thuốc Methyl Bromil trước lúc sử dụng, được vệ sinh tốt cả trong vàxung quanh nhà lưới nên sau bệnh hại thân, rễ và lá thuốc lá giảm đáng kể(Melten và các công sự, 1996) [21]
Thường xuyên cắt lá khi cây con đạt chiều cao từ 6 – 7 cm, đây là kỹthuật cơ bản để huấn luyện cây con, tạo cây con độ đồng đều cao, tăng tỷ lệcây sử dụng và kéo dài thời kỳ vườn ươm khi cần thiết Ngoài biện pháp cắt
lá, nhiệt độ nhà lưới tăng cao hơn và biện pháp cắt tỉa rễ làm cho cây con bịhéo cũng được coi là một trong những biện pháp huấn luyện cây con ở nhàkính ở Canađa (Van Hooren & Veinor, 1997) [21]
Ở tại Mỹ người ta tiến hành các thí nghiệm bón các loại phân NPK chothuốc lá, họ đã chứng minh phân bón có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất vàchất lượng thuốc lá, các công thức được áp dụng riêng cho từng vùng sinhthái khác nhau
Tại Bắc Carolina [21] đất có hàm lượng mùn cao > 0,8 % thường làmcho thuốc lá chín chậm và đặt biệt khó sấy vì cây vẫn hút đạm cả khi thuhoạch Hàm lượng mùn cao có thể cho năng suất cao trong vụ khô nhưng lạicho năng suất rất thấp trong vụ mưa [21]
Trang 29Đất có độ pH tốt nhất cho cây thuốc lá ở khoảng 5,8 – 6,2 và cần duytrì bằng vôi dolomite (Peedin và McCants, 1975) [23] Nếu pH thấp < 5,0 cóthể dẫn đến ngộ độc rễ cây thuốc lá bỡi nhôm và mangan, nhưng nếu pH đất >6,2 có thể làm cho cây thiếu một số nguyên tố vi lượng vốn đã có rất ít trongđất (Kamprath và Foy, 1985) [20] dẫn tới cây sinh trưởng phát triển kém Chonên đất trồng thuốc lá vàng sấy cần chọn đất cát pha thịt hoặc thịt nhẹ, pH từ5,5 – 6,5, tầng đất dày >60 cm, thoát nước tốt Đa số đất trồng vàng sấy củaZimbabuê có thành phần cát thô nhiều hơn ở Mỹ [19].
Trong 3 năm nghiên cứu ở 13 điểm ở North Carolina, Denton và cộng
sự (1989) đã thấy rằng mức bón thích hợp nhất của Kali bón cho thuốc lávàng sấy là 0 – 112 kg K2O/ha và mức bón cao nhất được áp dụng trên đất cát
và đất cát mùn, tuy vậy, lượng Kali không có tương quan với năng suất thuốc
lá Các tác giả cho rằng Kali bị rửa trôi ở tầng trên thường khó thấy khi phântích các mẫu đất nhưng có thể có nhiều hơn ở lớp đất vùng rễ trên đất ít mùn
so với trên đất cát dày (D Layton Davis; Markt Nielsen (1999) [21]
Những nghiên cứu gần đây của Flower (1996) ở Zimbabuê đã khẳngđịnh lại một lần nữa lý luận của Weybrew và cộng sự (1983) [21] chỉ ra rằngkhi lá kém phát triển thì nhu cầu đạm giảm, rễ tăng cường phát triển và câytăng cường tổng hợp nicotin vì bị bấm ngọn, nhu cầu sử dụng nước của câytrong giai đoạn này bị giảm và dẫn đến giảm nồng độ và sự phân hủy đạmtrong lá thuốc xanh
Những ảnh hưởng bất lợi khác của việc thiếu hay thừa đạm đến các đặcđiểm nông học và hóa học của thuốc lá vàng sấy đã được Collins & Hawkstổng kết (1993) và thống nhất nhau rằng hái đúng độ chín và chất lượng thuốcsấy của thuốc lá vàng sấy sẽ tăng lên khi mà các lá trên đã phát triển hoàntoàn lúc đạm trong đất phải can kiệt (McCant & Woltz, 1967) [24] Do vậy,chỉ cần bón 50 – 80 kg/ha là đủ cho hầu hết các loại đất trồng thuốc lá vàng
Trang 30sấy, tùy theo hàm lượng cát, độ sâu tầng đất canh tác, lượng mưa mà bónthêm hay bớt lại.
2.4.2 Tình hình nghiên cứu thuốc lá ở Việt Nam
Tại các tỉnh phía nam, các nghiên cứu chủ yếu tập trung ở vùng TâyNinh
- Con giống: Đã có nghiên cứu về quy trình sản xuất con giống hiện đại
đã được áp dụng như con giống bầu, con giống bán thủy canh, con giống thủycanh, con giống tưới trên mặt lá
- Kết quả nghiên cứu sản xuất cây con bằng khay nổi (Nguyễn Tiết1997) [9], giá thể sử dụng tốt nhất cho khay xốp là đất than mùn, có trộn thêm
xơ dừa sẽ tạo cây con phát triển tốt
- Theo Báo cáo kết quả thử nghiệm của trạm thuốc lá Ninh Thuận (Hồ
Sĩ Lân 2005) [5] về cây con khay tưới trên mặt lá nếu sử dung giá thể phânchuồng hoai phối trộn than mùn sẽ cho cây con phát triển tốt xuất vườn đạttiêu chuẩn
- Kỹ thuật canh tác: Đã có quy trình kỹ thuật tương đối thích hợp vớicác vùng trồng phía Nam Công thức phân bón được áp dụng tùy loại đất khácnhau
Theo Nguyễn Tiết và các cộng sự (2000) [8] cho thấy trên đất cát phavùng Tây Ninh có tầng canh tác dày 25 cm thì liều lượng đạm được sử dụngtùy theo độ mùn trong đất, hàm lượng mùn 1,5% thì lượng đạm cần bón là 50kg/ha, Lân 60 kg/ha, Kali 90 kg/ha, hàm lượng mùn 0,6 %, hàm lượng đạmcần bón là 80 kg/ha Đất có tầng canh tác mỏng hơn, thành phần cơ giới nặnghơn thì bón ít đạm hơn và ngược lại
Kết quả nghiên cứu lượng phân bón thuốc lá vàng sấy cho đất NinhThuận, nếu đất chua thành phần cát pha nghèo dinh dưỡng nên sử dụng lượng
Trang 3170 – 80 N, còn đất trung tính chỉ cần bón 60 N là đủ Hàm lượng kali cần bón
từ 200 – 220 K2O là có hiệu quả (Nguyễn Tiết và các đồng sự) [10]
Kết quả nghiên cứu vùng đất Huyện Ninh Hòa – Khánh Hòa, đất phù sa
có độ mùn từ 0,6 – 1,2 % thì cần bón 50 - 60 N – 80 P2O – 200 K2O nếu cónước tưới, nếu không có nước tưới thì cần bón 40 N – 60 P2O – 150 K2O [11]
Ở vùng Tây Nguyên, gần như chưa có nghiên cứu nào về kỹ thuật canhtác, chủ yếu là áp dụng từ kinh nghiệm và các công trình nghiên cứu ở TâyNinh Do vậy, năng suất và chất lượng còn nhiều hạn chế mặc dù đây là khuvực rất có tiềm năng để trồng cây thuốc lá chất lượng cao
2.5 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Gia Lai
2.5.1 Vị trí địa lý và sự phân chia hành chính
2.5.1.1 Vị trí địa lý
Gia Lai là một tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên, có tọa độ địa lý từ
12058’20’’ đến 14036’36” vĩ độ bắc và từ 107027’33” đến 108054’40” kinh độđông Về phía bắc, Gia Lai giáp tỉnh Kon Tum; phía nam giáp tỉnh Đaklak;phía đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên; phía tây giáp tỉnhRatanakiri của Campuchia với chiều dài biên giới là 90 km Diện tích tự nhiên15.495,71 km2
Về mặt tự nhiên, với độ cao trung bình 700 – 800 m và nằm ở phía bắcTây Nguyên, nơi giáp ranh giữa Trường Sơn Đông và Trường Sơn Tây, là đầunguồn của nhiều hệ thống sông đổ về vùng duyên hải Nam Trung Bộ vàCampuchia [6]
Về mặt kinh tế, có các tuyến giao thông đường bộ quan trọng như quốc
lộ 14, 19, 25 đã tạo nhiều điều kiện giao lưu kinh tế thuận lợi giữa các tỉnhduyên hải miền trung, Tây Nguyên, Campuchia, [6]
2.5.1.2 Sự phân chia hành chính
Trang 32Gia Lai bao gồm 1 thành phố trực thuộc tỉnh (thành phố Pleyku), 12huyện với 152 xã, 10 phường, 1 thị xã An Khê và 12 thị trấn (tính từ31/12/2005) [6].
2.5.2 Điều kiện tự nhiên
Vùng trũng An Khê nằm phía đông bắc Pleyku được tạo thành do xâmthực bóc mòn của sông Ba và các phụ lưu Đất quanh vùng Thị xã An Khê cóthể trồng cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày, trong đó có câythuốc lá rất thích hợp
Vùng trũng Cheo Reo – Phú Túc ở phía nam cao nguyên Pleyku, kéodài theo hướng tây bắc – đông nam có độ cao trung bình 180 – 200 m, bề mặtkhá bằng phẳng Kẹp giữa hai bên vùng trũng này là các dãy núi thấp với độcao trung bình 600 – 700 m, làm cho khí hậu vùng này khác hẳn với các vùngkhác ở Gia Lai và Tây Nguyên [6]
Trang 33- Nhóm đất xám bạc màu phân bố chủ yếu ở khu vực phía nam củahuyện Chư Prông, ở các thềm phù sa cổ hoặc thềm đá thuộc huyện Azunpa.Đây là đất chua nghèo, không thuận lợi cho canh tác.
Nhóm đất feralit đỏ vàng chiếm trên 66% diện tích tự nhiên toàn tỉnh,tập trung chủ yếu trên cao nguyên Pleyku Tầng đất dày, mặt bằng rộng, khábằng phẳng, độ dốc 8 – 100, thích hợp cho cây công nghiệp dài ngày, khôngthích hợp cho cây thuốc lá vàng sấy [6]
2.5.2.3 Khí hậu
Gia lai có khí hậu gió mùa á xích đạo do sự chi phối của địa hình cho nênkhí hậu toàn tỉnh vừa có khí hậu đặc trưng vùng Tây Nguyên, lại vừa có nét đặtthù với hai vùng riêng biệt: vùng phía tây và vùng phía đông, đông nam
Hằng năm, lãnh thổ Gia Lai nhận được bức xạ mặt trời khá lớn với tổngbức xạ là 130 – 135 kcal/cm/ năm Số giờ nắng trung bình năm đạt trên 2100giờ Tổng nhiệt độ trong năm từ 8000 – 86000 C
Nhiệt độ trung bình hàng năm của toàn tỉnh là 22 – 250C Nhìn chung
có khí hậu mùa đông ấm, mùa hạ mát Nhiệt độ thấp nhất vào tháng I (Pleyku
200C, An Khê 210C, Azunpa 230C) Tháng nóng nhất là tháng V nhiệt độtrung bình dao động từ (Pleyku 23,30C, An Khê 260C, Azunpa 280C) Biên độngày và đêm khá cao từ 10 – 120 C Đây là nền nhiệt độ rất thích hợp để trồngthuốc lá vàng sấy có chất lượng cao
Chế độ mưa của Gia Lai có sự phân hóa theo mùa và theo vùng lãnhthổ rất sâu sắc với lượng mưa trung bình năm từ 1.400 – 2.200 mm Mùa mưabắt đầu từ tháng V, kết thúc vào tháng X, tháng XI và tập trung tới 85 – 90 %tổng lượng mưa cả năm, mùa khô từ tháng XI đến tháng IV năm sau Vùngtrũng An Khê, Cheo Reo có lượng mưa ít hơn 1.400 - 1.700 mm, nên việc bốtrí trồng cây thuốc lá vàng sấy khá thích hợp vào vụ đông xuân Với nguồn
Trang 34nước tưới từ sông Ba và các nhánh sông phụ lưu đủ cung cấp cho cây trồngtrong vụ khô [6]
2.5.3 Điều kiện kinh tế xã hội
Mật độ dân số của Gia Lai không cao năm 2000 là 63,8 người/ km2, vàphân bố không đồng đều Trong số các huyện thì thị xã An Khê có mật độ dân
số cao nhất vì Thị xã nằm dọc theo quốc lộ 19 Dân cư Gia Lai sinh sống chủyếu ở nông thôn, trong các buôn làng Tỉ lệ dân thành thị còn tương đối thấp,mặc dù đã có sự chuyển biến trong mấy năm qua nhưng sự chênh lệch về tỉ lệdân thành thị, nông thôn đã gây khó khăn cho việc phân công lao động, làmảnh hưởng đến các hoạch động văn hóa – kinh tế - xã hội của tỉnh [6]
Trang 35Bảng 2.5: Diện tích, năng suất, sản lượng một
s cây tr ng chính n m 2005 ốc lá tỉnh Gia Lai năm 2005 ồng chính năm 2005 ăng suất sản lượng thuốc lá tỉnh Gia Lai năm 2005
ST
T Loại cây trồng
Diện tích trồng (ha)
Diện tích cho TH (ha)
Năng suất ( tạ/ha)
Sản lượng(tấn)
Nguồn: Niên giám thống kê các huyện năm 2005.
Theo số liệu của Cục thống kê tỉnh Gia Lai, thời kỳ 2001- 2005 tốc độtăng trưởng kinh tế tăng 13,5 % toàn tỉnh Trong đó, ngành công nghiệp xâydựng tăng bình quân 21%/ năm, chủ yếu do tăng công nghiệp chế biến, cungcấp điện nước, vật liệu xây dựng và khối lượng xây lắp xây dựng Ngành dịch
vụ tăng bình quân 24,7%/ năm, chủ yếu do tăng dịch vụ thương mại, dịch vụvận tải, ngân hàng, bưu điện Khu vực nông lâm nghiệp tăng chậm, bình quân5,4%/ năm, chủ yếu là tăng sản phẩm cây công nghiệp chế biến như mía,thuốc lá, sắn, bông vải và chăn nuôi, ngành lâm nghiệp giảm do giảm khaithác gỗ [6]
GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt 375 USD/ người gấp 3 lần giaiđoạn 1991- 1995 và bằng 87% so với bình quân chung cả tỉnh
Cơ cấu kinh tế của vùng có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọngcông nghiệp và dịch vụ, song nông lâm nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng lớn Đến
Trang 36năm 2005 tỉ trọng cơ cấu kinh tế của vùng là: Nông lâm nghiệp chiếm 57,2%,công nghiệp xây dựng chiếm 18,5% và dịch vụ chiếm 24,3% Cơ cấu kinh tếtrên phù hợp với cơ chế thị trường hiện nay, song quan hệ giữa các khu vựcchưa chặt chẽ, cơ cấu chưa ổn định [6]
2.5.3.3 Hiện trạng sử dụng đất của vùng nguyên liệu thuốc lá
Vùng nguyên liệu có tổng diện tích tự nhiên khá rộng, chiếm 25,19%diện tích tự nhiên toàn tỉnh, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm hầu như
là toàn bộ Điều này cho thấy khả năng phát triển nông nghiệp của vùng là rấtlớn, nhất là khi chuyển đổi một số cây trồng không có hiệu quả sang trồng cácloại cây trồng có hiệu quả hơn
Diện tích đất chưa sử dụng của vùng còn khá lớn, trong thời gian tớinếu có biện pháp khắc phục đưa loại đất này vào trồng trọt sẽ tăng đáng kểdiện tích cây trồng, trong đó có cây thuốc lá Riêng đối với cây thuốc lá trongthời gian đến có thể khai thác để mở rộng thêm diện tích khoảng 4.000 ha; bỡivậy để khai thác có hiệu quả diện tích đất này vấn đề đặt ra là phải xây dựngđược qui trình kỹ thuật thâm canh thuốc lá bền vững [3]
2.5.3.4 Thực trạng sản xuất thuốc lá tại vùng An Khê
Thuốc lá vàng sấy có tại An Khê từ 1934 [4], thuốc lá được đánh giá làthuốc lá có chất lượng cao, có mùi thơm đặc trưng Hàng năm vùng An Khêsản xuất thuốc lá từ 30 – 50 ha thuốc lá vàng Do cơ chế thị trường, do kỹ thuậttrồng theo tập quán nên năng suất hiện nay đạt không cao, dẫn đến nguồn thunhập bà con trồng thuốc lá giảm cho nên không thu hút được bà con tham giatrồng thuốc lá
Tập quán kỹ thuật trồng thuốc lá vàng tại An Khê:
Trồng cây con bằng cây con giống thẳng nên cây con dễ nhiễm bệnh từvườn ươm, khi trồng ra ruộng cây con sống ngoài đồng thấp, phải trồng lạinhiều lần dẫn đến cây con phát triển ngoài đồng không đồng đều ảnh hưởngđến năng suất, phẩm cấp và chất lượng rất nhiều
Trang 37Phân bón không theo qui trình cụ thể, bón tùy tiện từ chủng loại phânbón, liều lượng không đúng nên năng suất và chất lượng bị ảnh hưởng rấtnhiều, cây dễ nhiễm sâu bệnh
Sử dụng thuốc trừ sâu không đúng, thuốc còn tồn dư khá nhiều trên láthuốc làm cho lá thuốc bị ảnh hưởng rất nhiều về tính chất hút
2.5.4 Đánh giá chung tình hình phát triển thuốc lá tỉnh Gia Lai
Phát triển cây thuốc lá trên địa bàn được sự quan tâm của Nhà nước, củatỉnh đây là yếu tố rất thuận lợi cho phép vùng mở rộng diện tích cây thuốc lá
Nhu cầu thuốc lá nguyên liệu trên thị trường còn lớn , giá sản phẩm cao
vì vậy phát triển thuốc lá nguyên liệu rất thuận lợi
Việc chuyển giao tiến bộ KHKT và thu mua sản phẩm trên địa bànvùng phát triển đã được các Công ty thuốc lá ký kết hợp đồng bao tiêu sảnphẩm do vậy người sản xuất rất an tâm với yếu tố đầu ra của sản phẩm
2.5.4.2 Khó khăn:
- Trong những năm gần đây thời tiết tại tỉnh Gia Lai diễn biến rất phứctạp, hạn hán thường xuyên xảy ra dẫn đến tình trạng thiếu nước tưới nghiêmtrọng nên đã ảnh hưởng rất xấu đến sản xuất nông nghiệp, trong đó có câythuốc lá
Trang 38- Hiện nay đa số các hộ nông dân trên địa bàn tỉnh có đời sống kinh tếkhó khăn, thiếu vốn sản xuất.
- Kỹ thuật trồng thuốc lá vẫn còn theo tập quán như trồng cây con bằngcây giống gieo thẳng nên cây con dễ nhiễm bệnh từ vườn ươm, khi trồng raruộng tỉ lệ cây sống không cao phải trồng dặm lại nhiều lần dẫn đến cây pháttriển không đồng đều ảnh hưởng đến năng suất, phẩm cấp và chất lượng Phânbón tùy tiện, không đúng chủng loại, liều lượng không đúng nên cũng ảnhhưởng rất lớn về năng suất và chất lượng Ngoài ra sử dụng thuốc trừ sâukhông đúng liều, loại thuốc nên lá nguyên liệu đã tồn dư thuốc BVTV khánhiều ảnh hưởng đến tính chất hút của lá nguyên liệu
- Hệ thống công trình thuỷ lợi vừa và lớn ít, hệ thống kênh mương chưahoàn chỉnh, các công trình thuỷ lợi nhỏ không đủ nguồn nước tưới nên khôngchủ động được nguồn nước trong sản xuất
- Giá thành thu mua thuốc lá chưa ổn định và còn phụ thuộc rất nhiều vàotình hình sản xuất thuốc lá của các nước trên thế giới, đặc biệt là Trung Quốc
- Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sơ chế thuốc lá còn lạc hậu, hiện nayhầu hết các lò sấy còn xây theo hình thức 1 bầu lò nhiệt và sử dụng gỗ củi đểsấy là chính nên đã ảnh hưởng xấu đến môi trường (chặt phá rừng lấy củi…)
và làm giảm chất lượng thuốc lá thành phẩm
Trang 393 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Vật liệu nghiên cứu
3.1.1 Địa đ iểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: Xã Tân An, Huyện Đakpơ, Tỉnh Gia Lai
Thời gian nghiên cứu: 12 tháng ( Từ tháng 11/ 2006 đến 9/ 2007)
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu
+ Kỹ thuật canh tác dựa theo quy trình kỹ thuật của Tổng Cơng ty thuốc láViệt Nam
+ Khay xốp cĩ 84 lỗ, đường kính lỗ 3,5 cm
+ Gía thể làm bằng than mùn lấy từ đầm lầy đèo cả tại Phú Yên
+ Giống sử dụng: K326
+ Dạng phân bĩn sử dụng: NH4N03, K2S04, Supe lân Long Thành
3.2 Nội dung nghiên cứu.
1.Nghiên cứu ảnh hưởng các phương thức sản xuất cây con đến năngsuất và chất lượng thuốc lá vàng sấy tại tỉnh Gia Lai
2.Nghiên cứu ảnh hưởng phân bĩn N - K đến năng suất, chất lượngthuốc lá vàng sấy tại Tỉnh Gia Lai
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Thí nghiệm 1 : Nghiên cứu ảnh hưởng các phương thức sản xuất con
giống đến năng suất và chất lượng thuốc lá vàng sấy tại tỉnh Gia Lai
- Bố trí thí nghiệm: Vườn ươm
Các cơng thức thí nghiêm sau:
Trang 40CT1: Cây giống nhổ trồng thẳng ( trồng tại địa phương) làm đối chứngCT2: Cây giống ươm bằng bầu
CT3: Cây giống ươm trong khay nổi (nổi trên mặt nước)
CT4: Cây giống ươm trong khay tưới trên mặt lá
Cách tiến hành:
+ Trong vườn ươm : thiết kế hoàn toàn ngẫu nhiên ( CRD) Theo dõimỗi nghiệm thức 30 cây.( vườn ươm: gieo trên nền đất, khi cây đạt 3- 4 lá thậttiến hành nhổ cấy tất cả các cây giống vào bầu, khay nổi, khay tưới trên mặt lá)
- Khảo sát ngoài đồng ruộng:
Bố trí thí nghiệm: theo khối ngẫu nhiên 4 lần lặp lại, sơ đồ sau
Mỗi công thức bố trí 100 cây ( 60m2 ), theo dõi 10 cây/ CT
3.3.2.Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng phân bón N-K đến năng suất,
chất lượng thuốc lá vàng sấy tại Tỉnh Gia Lai
Bố trí thí nghiệm: Khảo sát lượng N và lượng K2O Thí nghiệm 2 yếu tốđược thực hiện theo khối ngẫu nhiên 3 lần lặp lại
Khảo sát 4 liều lượng đạm(40;55;70;85) và 2 liều lượng Kali (170;200).Lân: Cố định liều lượng 80 P205/ha
Các công thức nghiệm thức sau:
N1K1 : 40N – 170K2O N1K2 : 40N – 200K2O