Kinh có nghĩa là một tác phẩm kinh điển, trong tiếng Hán có gốc gác từ “quy tắc” hay “bền vững”, hàm ý nghĩa rằng tác phẩm này miêu tả những quy luật tạo hoá không thay đổi theo thời gian. Còn Dịch có ý nghĩa là “ thay đổi” hay “chuyển động”. Vậy “Kinh dịch là những nguyên tắc, quy luật nói về sự vận động, biến đổi phù hợp với tự nhiên” 1, tr. 5.Khái niệm ẩn chứa những vấn đề rất sâu sắc. Nó ba ý nghĩa cơ bản và có quan hệ tương hỗ như sau:
Trang 1TÌM HIỂU KINH DỊCH VÀ VẬN DỤNG KINH DỊCH VÀO DỰ BÁO MỘT SỐ LĨNH VỰC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI CỦA
CON NGƯỜI
1 Nguồn gốc của kinh dịch
Kinh có nghĩa là một tác phẩm kinh điển, trong tiếng Hán có gốc gác từ
“quy tắc” hay “bền vững”, hàm ý nghĩa rằng tác phẩm này miêu tả những quyluật tạo hoá không thay đổi theo thời gian Còn Dịch có ý nghĩa là “ thay đổi”
hay “chuyển động” Vậy “Kinh dịch là những nguyên tắc, quy luật nói về sự vận động, biến đổi phù hợp với tự nhiên” [1, tr 5].
Khái niệm ẩn chứa những vấn đề rất sâu sắc Nó ba ý nghĩa cơ bản và cóquan hệ tương hỗ như sau:
Giản dị - thực chất của mọi thực thể Quy luật nền tảng của mọi thực thểtrong vũ trụ là hoàn toàn rõ ràng và đơn giản, không cần biết là biểu hiện của nó
là khó hiểu hay phức tạp
Biến dịch - hành vi của mọi thực thể Mọi vật trong vũ trụ là liên tục thay
đổi Nhận thức được điều này con người có thể hiểu được tầm quan trọng của sựmềm dẻo trong cuộc sống và có thể trau dồi những giá trị đích thực để có thể xử
sự trong những tình huống khác nhau
Bất dịch - bản chất của thực thể Mọi vật trong vũ trụ là luôn thay đổi, tuy nhiên trong những thay đổi đó luôn luôn tồn tại nguyên lý bền vững - quy luật trung tâm - là không đổi theo không gian và thời gian
Kinh Dịch có từ bao giờ, đến nay vẫn chưa rõ ràng, bởi vì từ đời vua Phục Hytương truyền đã bắt đầu có Kinh Dịch, mà ông vua huyền thoại này xuất hiện cáchđây hàng nghìn năm hay hàng vạn năm thì hiện vẫn chưa có gì chứng minh được.Xung quanh về vấn đề nguồn gốc sự hình thành, phát triển của Kinh Dịch có rấtnhiều quan điểm rất khác nhau, thậm trí trái ngược nhau Hiện nay trong giới các nhànghiên cứu của Việt Nam về Kinh Dịch, đang nổ ra cuộc tranh luận rất sôi nổi, họcho rằng người sáng tạo, chủ nhân của bản Kinh Dịch chính là người Việt Nam, màkhông phải là người Trung Hoa Cổ sử Trung Quốc đã viết: “Vào thời Vua Nghiêu
Trang 2(năm 2357 TCN) có sứ giả Việt Thường đến Kinh đô tại Bình Dương (phía bắc sôngHoàng Hà, tỉnh Sơn Tây ngày nay) để dâng một con Thần Quy (rùa lớn), vuông hơn
ba thước trên lưng có khắc chữ khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở về sau VuaNghiêu sai người chép lại gọi là lịch rùa” [2, tr 131] Chữ Khoa Đẩu mà người
“Trung Hoa gọi là chữ hình con nòng nọc, gồm những chấm đen hay trắng và cảnhững vạch liền vạch đứt Ngày xưa chưa phát minh ra giấy, vua Nghiêu cho chéplại rồi lưu trong “tàng thư” và cho đến mãi sau này Chu Văn Vương nghiên cứu lại
“lịch rùa” đã phát hiện ra cách viết các con số theo hệ nhị phân của lịch người Việt
cổ Ông đã sắp xếp lại trật tự tám quẻ tiên thiên của “lịch rùa” nước Việt tiến cốngthời Vua Nghiêu, thành trật tự mới gọi là hậu thiên bát quái và nguồn gốc của Hà đồ-Lạc Thư trong Kinh Dịch cổ mà chính các học giả Trung Quốc từ xưa tới nay đã viết
và chú giải rất nhiều nhưng đều không biết chúng từ đâu đến” [3, tr 44]
Đồng thời trong Đại Việt Sử Ký Toàn thư cũng đã ghi rõ: “ Xưa cháu bađời Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, sau Đế Minh nhân đituần thú phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra người contrai tư chất thông minh đặt tên là Lộc Tục Sau Đế Minh truyền ngôi cho contrưởng Đế Nghi làm vua cai quản phương Bắc, phong cho Lộc Tục xưng là KinhDương Vương làm vua cai quản ở phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ…), KinhDương Vương lấy con gái Thần Long, vua hồ Động Đình, sinh được một contrai tên là Sùng Lãm, nối ngôi làm vua xưng là Lạc Long Quân [4, tr 131- 132 ].Theo truyền thuyết thì thuỷ tổ của người Việt cổ là Kinh Dương Vương (LộcTục), hiện còn mộ tại làng An Lữ, Thuận Thành Bắc Ninh Về địa giới xưa củangười Việt thường ở hai phái bắc nam bờ sông Dương tử, bao gồm hai châuKinh và Dương, ngày nay là các vùng từ Hồ Bắc, Hồ Nam, Quảng Tây, QuảngĐông, suốt vùng châu thổ Tây giang, trải dài xuống nước ta đến tận Đèo Ngangngày nay Trải qua những biến cố trong lịch sử bởi các cuộc chiến tranh giữa các
bộ tộc, bộ lạc Các nhà nghiên cứu cổ sử và dân tộc học trên thế đều cho rằng có
Trang 3một bộ tộc người Hoa là dân du mục thiện chiến ở phía tây bắc Trung Quốc,sớm thôn tính các quốc gia lân cận lập nên một liên bang rộng lớn miền bắcTrung Quốc, sau này tràn xuống chiếm hết vùng Trung Nguyên và cả miền namTrung Quốc hiện nay Vùng đất rộng lớn giữa lưu vực giữa hai con sông Hoàng
Hà và sông Dương Tử vốn là địa bàn cư trú của dân tộc Bách Việt và bộ tộcTam Miêu cổ, trong đó có dân tộc Việt Thường ở phía nam sông Dương Tử,vùng hồ Động Đình và Phiên Dương là đã có một nền văn minh lúa nước rấtphát triển Chính họ đã xây dựng nên “lịch rùa”, trong đó nêu lên vũ trụ từ mớihình thành cho đến sau này và đem sang Bình Dương tiến cống vua Nghiêu Docác cuộc chiến tranh nên nước của Đế Nghi (anh của Kinh Dương Vương) bịmất vào tay họ Hiên Viên xưng Đế vùng sông Hoàng (nên gọi là Hoàng Đế)…địa giới của Kinh Dương Vương bị thu hẹp lại ở lưu vực đồng bằng sông Hồng-sông Mã thì tên Việt Thường chỉ còn là một bộ của nước Văn Lang xưa Sau khiđất nước phía bắc của người anh là Đế Nghi bị mất, các bộ tộc người Hoa trànxuống phía nam Nền văn minh lúa nước lâu đời của dân tộc Việt thiên về hoàbình đã không chống nổi những bộ tộc du mục thiến chiến phương Bắc, lấy giếttróc và chiếm tài nguyên đất đai làm mục tiêu “Tổ tiên Bách Việt ta, trước hoạxâm lăng liên tục đã dự đoán trước sự thất quốc của nòi giống lôi kéo theo sựphá huỷ cả một nền văn minh mà không thể một sớm một chiều khôi phục lạiđược Muốn duy trì nền văn minh cho con cháu mai sau… Tổ tiên ta đã dùngcon rùa (loài vật sống lâu nhất từ 2 ngàn năm đến 4 ngàn năm mà khoa sinh vậthọc thế kỷ XX mới khám phá ra được tuổi của nó, để ghi khắc ký hiệu của mộtnền văn minh trên lưng nó, rồi đem thả xuống sông với hy vọng mai sau khi concháu phải xuôi nam tìm nơi sinh sống sẽ gặp lại được vết tích nền văn minh LạcViệt, hầu khôi phục lại dân tộc…Từ đó những nơi nào tập trung dòng giống LạcViệt được truyền tụng cho nhau, nhất là trước các đình, chùa, đền, miếu, lăngtẩm, đều hay dựng bức bình phong đắp “con rùa đội cuốn sách” (Hà Đồ chỉ con
Trang 4rùa và Lạc Thư chỉ cuốn sách), là ý muốn nói đến nền văn minh Lạc Việt đượcghi lại trên lưng con rùa” “Từ hai nghìn năm trước khi chúng ta bị phong kiếnphương Bắc đô hộ, tổ tiên chúng ta ở thời đại Hùng Vương đã sáng tạo KinhDịch và dùng học thuyết này xây dựng nền tảng cơ bản cho văn hoá Việt Nam,nhờ thế trong suốt một nghìn năm lệ thuộc Trung Hoa, chúng ta vẫn đứng vữngkhông bị đồng hoá như các dân tộc ở Hoa Nam” [5, tr 1] Người Trung Hoakhông biết từ thời điểm nào đã tiếp thu được Kinh Dịch của Việt Nam và họcũng đã dùng Kinh Dịch để góp phần xây dựng nền tảng văn hoá của họ Chonên trong sinh hoạt, chúng ta có nhiều điểm giống họ, sau một nghìn năm mấtchủ quyền, ta mất luôn tác quyền Kinh Dịch và những gì ta nghĩ, ta làm thấygiống Trung Hoa ta đều tự nhận mình học của Trung Hoa Ngày nay chúng ta cóđầy đủ chứng lý để nói ngay rằng Kinh Dịch nguyên thuỷ là sản phẩm của ViệtNam, do chính tổ tiên người Việt sáng tạo, trên chính quê hương Việt Nam vớinhiều bằng chứng vật thể còn lưu dấu trên đồ gốm Phùng Nguyên, đồ đồngĐông Sơn Phục Hy, Văn Vương chưa từng làm ra Kinh Dịch (nguyên thuỷ) Dovậy, việc truy tìm lại nguồn gốc của Kinh Dịch đã bị thất truyền là việc làm cầnthiết nhưng không phải là việc tranh chấp theo quan điểm dân tộc hẹp hòi, mà có
ý nghĩa về mặt giá trị văn hoá, học thuật, khôi phục lại chân lý đã mất, có lợicho sự hiểu biết của con người Mặc dù nó có nguồn gốc từ đâu, nhưng công laocủa những học giả Trung Quốc trong suốt chiều dài lịch sử của Kinh Dịch làkhông thể phủ nhận và có thể khẳng định: Kinh Dịch là do tổ tiên người BáchViệt sáng tạo ra Khoảng 2800 TCN, Phục Hy từ những đồ hình Bát quái lưuhành trong nhân gian, sáng tạo ra Tiên thiên Bát quái Dựa vào cái la bàn này,Ngài đã sắp xếp một cách tương đối thoả đáng các quẻ trong mối quan hệ tương
hỗ lẫn nhau trở thành sách bói toán hữu dụng Văn Vương dựa vào những bátquái do dân gian phát hiện, đã sáng tạo nên Hậu thiên Bát quái rồi từ đây điềuchỉnh vị trí các quẻ và sáng tác quái từ hào từ, đưa cuốn sách bói toán trở thành
Trang 5Chu Dịch Bằng công trình san định của mình, Khổng Tử đã biên khảo viết thậpdực (10 bộ cánh để giải thích cho 384 hào) và viết Thoán truyện cho Kinh Dịch,đưa nó trở thành bộ sách kinh điển đứng hàng đầu trong kho tàng tri thức nhânloại.
Trải qua hàng nghìn năm, không biết bao nhiêu vị thánh hiền đã bổ sung,
đã lý giải, mở rộng, đào sâu để cho Kinh Dịch trở thành một tác phẩm vừa lạlùng, vừa uyên thâm, vừa mênh mông, vừa cụ thể, bao hàm muôn lý, không gìkhông có, đọc nhiều cũng được, đọc ít cũng hay, bởi vì chỉ đôi câu đã đủ làmthành một đạo lý rồi Đời nhà Tống, khi viết về Kinh Dịch học giả Trình Di đãphải thốt lên: “ Thánh nhân lo đời sau như thế có thể gọi là tột bậc” Không phảikhông có lý khi cụ Phan Bội Châu coi Kinh Dịch “Là nhân sinh quan và vũ trụquan của nhân loại” Cụ Phan cho rằng đúng như tinh thần Kinh Dịch: “Bìnhđẳng, đại đồng là chân tính, là hạnh phúc của nhân sinh”, “Tinh thần có quy củtrật tự đạo đức là lẽ công bình của mỗi người” Những tư duy Khổng học như
“Không sợ dân nghèo mà chỉ sợ phân chia không đều” (sách Luận ngữ), “Tính
kế trăm năm không gì bằng trồng người” (sách Hán thư) …
Thật kỳ lạ, người xưa cho rằng: “Trong khoảng trời đất có gì? Chỉ hai chữ
âm dương mà thôi” Chẳng là nhân thì là nghĩa, chẳng cứng là mềm, chẳng thừa
là thiếu, chẳng nam là nữ, chẳng trên là dưới, chẳng trong là ngoài, chẳng thịnh
là suy, chẳng nhiều là ít, chẳng khen là chê, chẳng tiến là lùi, chẳng mặn là nhạt,chẳng nhanh là chậm, chẳng xấu là tốt, chẳng to là nhỏ, chẳng trước là sau,chẳng rủi là may
Một thời gian khá dài chúng ta đã quá chú trọng với triết học Tây phương
mà ít chú ý đến triết học Đông phương, trong khi đó thì người dân thường tuy íthọc nhưng lại thường tin tưởng và làm theo vô số những lời dạy của thánh hiền
Sự biến động ghê gớm của các nước phương Tây với đầy những mâu thuẫn nộisinh đồng thời với sự hưng thịnh đột xuất của không ít quốc gia châu Á, kể cả sựphục hồi nhanh chóng sau khi xảy ra tình trạng khủng hoảng tài chính, kinh tế…
đã làm cho cả nhân loại không thể không chú ý nhiều hơn đến triết học Đôngphương Văn minh châu Á trở nên hấp dẫn đối với hàng tỉ người dân bình
Trang 6thường ở phương Tây Kinh Dịch là một trong những thần kỳ của triết học vàvăn minh Đông phương.
Trong hoạt động xã hội, cái thế của nó là Dịch, cái lý của nó là Đạo, cáidụng của nó là Thần, âm dương khép ngỏ là Dịch, một khép một ngỏ là Biến ởđời, dương thường thừa, âm thường thiếu, chính vì không bằng nhau nên đã sinh
và sẽ sinh muôn vàn biến đổi Đạo trong gầm trời này chỉ là Thiện- ác, nhưngcái thời, cái cơ bản của mỗi lúc một khác, không phải lúc nào cũng giống nhau.Phải hiểu rõ ràng các phép tu, tề, trị, bình thì mới quản lý được xã hội
Thiết nghĩ, trong thời buổi hiện tại cái đúng, cái sai còn lẫn lộn; người tốt,người xấu chưa tường minh; khó chung, khó riêng còn đầy rẫy; nên nhớ rằng cáigốc của dân ta thì mãi mãi là tốt, đường lối đi lên đã được mở Trong điều kiệnthực tại, nếu chúng ta biết sắp xếp thời gian để bình tâm nghiên cứu, học tậpKinh Dịch Nghe lời người xưa mà ngẫm đến chuyện ngày nay, nghe lời thiện
mà tránh điều ác, nghe lời nhân mà làm điều nghĩa Cuộc đời sẽ đẹp, tâm hồnmỗi người sẽ rộng mở và sáng tạo, quan hệ giữa người với người sẽ tốt hơn, nếuchúng ta biết kiên nhẫn, sự thật sẽ đúng như vậy
2 Cấu trúc và những vấn đề triết học trong Kinh Dịch
a Cấu trúc của Kinh Dịch:
Các biểu tượng của Kinh Dịch là nằm trong tập hợp của 64 tổ hợp của cácđường trừu tượng gọi là quẻ Mỗi quẻ bao gồm 6 hào được biểu diễn dưới dạngcác đoạn thẳng nằm ngang; mỗi hào này có thể là Dương (đường liền nét) hay Âm
(đường đứt nét bao gồm hai đoạn thẳng cách nhau một khe nhỏ) Với sáu đoạnthẳng này được đặt liền nhau từ dưới lên trên trong mỗi quẻ suy ra có 26 hay 64
tổ hợp của hào và như vậy có 64 quẻ
Mỗi quẻ được cho là tổ hợp của hai tập hợp con, mỗi tập con gồm bađường gọi là quái Như vậy có 23 hay 8 quái ( quẻ đơn) khác nhau
Mỗi quẻ đại diện cho một trạng thái, tiến trình hay sự thay đổi có thể xảy
ra Khi quẻ được gieo bằng một trong những phương thức của bói toán bằng Kinh Dịch từ mỗi một đường (hào) có thể là tĩnh hoặc động Hào động có thể có sự
thay đổi từ Âm sang Dương hay ngược lại để tạo thành một quẻ khác, việc giảinghĩa của quẻ được gieo ban đầu dựa trên sự cân nhắc và xem xét các thay đổiđó
Trang 7Các phương pháp truyền thống để gieo quẻ sử dụng số ngẫu nhiên để sinh
ra quẻ, vì thế 64 quẻ này là không đồng nhất xét về xác suất
Có một số hình thức khác nhau sắp xếp quái và quẻ Bát quái là sự sắp xếpcủa các quái, thông thường là trên gương hoặc đĩa Truyền thuyết cho rằng Phục
Hi đó tìm thấy bát quái được viết trên mai rùa (xem Hà Đồ) Kiểu sắp xếp támquái dựa trên suy diễn này gọi là Tiên thiên bát quái
Sự sắp xếp của vua Văn Vương được gọi là Hậu thiên bát quái (Xem Lạc Thư)
Trang 8Hình vẽ của Hà Đồ và Lạc thư
Trang 9Thành phần hợp thành của quẻ:
Vạch liền tượng trưng cho vật chất trong sáng gọi là Dương, được coi là
thành phần sáng tạo, tích cực Vạch đứt tương trưng cho vật chất nặng đọng lạiphần đen gọi là Âm, là thành phần tiếp thụ, thụ động Mỗi một vạch (liền hoặcđứt) là một hào Các thành phần này được biểu diễn trong một biểu tượng hình
tròn chung, được biết đến như Thái Cực đồ, nhưng nói chung người ta gọi tắt là
đồ Âm-Dương, miêu tả quan hệ giữa hai trạng thái của mọi thay đổi, chuyểndịch: khi Dương đạt tới cực đỉnh thì Âm bắt đầu phát sinh và ngược lại TháiCực đồ cũng là nguyên lý phát sinh Âm-Dương
Vô Cực sinh Thái Cực; Thái Cực sinh Lưỡng Nghi (âm dương); Lưỡng Nghi sinh
Tứ tượng (bốn mùa); Tứ Tượng sinh Bát Quái; Bát Quái biến hoá ra vô cùng.
Chúng được biểu diễn như sau:
Trang 10Vô c c > Thái c c ực > Thái cực ực > Thái cực Thái cực sinh ra lưỡng nghi (âm dương) Lưỡng nghi sinh ra tứ tượng (bốn thời)
1- Thái dương 2-Thiếu Âm 3- Thiếu Dương 4- Thái Âm
Tứ tượng sinh ra bát quát (bát tiết)
1 Càn 2 Đoài 3 Ly 4 Chấn 5 Tốn 6 Khảm 7 Cấn 8 Khôn
Trong danh sách sau, quái và quẻ được biểu diễn bằng cách sử dụng cácquy ước thông thường trong soạn thảo văn bản theo chiều dọc từ dưới lên trên.Lưu ý rằng, biểu diễn trong thực tế của quái và quẻ là các đường theo chiều từdưới lên trên (có nghĩa là để hình dung ra quái hay quẻ trong thực tế, Có tám
quái hay bát quái (quẻ đơn) tạo thành do tổ hợp ch p ba c a m ho cập ba của Âm hoặc ủa Âm hoặc Âm hoặc ặc
Hướng theo Tiên thiên; Hậu thiên Bát quái
1 Càn Thiê(trời) dương kim 9 tây/nam
4 Chấn Lôi (sấm) âm hoả 2 đông nam/tây nam
5 Tốn Phong (gió) âm thuỷ 6 tây bắc/tây bắc
6 Khảm Thuỷ (nước) dương thuỷ 1 bắc/bắc
7 Cấn Sơn (núi) âm mộc 8 đông bắc/đông bắc
Ba hào dưới của quẻ, được gọi là nội quái, được coi như xu hướng thay đổi bên trong Ba hào trên của quẻ, được gọi là ngoại quái, được coi như xu hướng
thay đổi bên ngoài (bề mặt) Sự thay đổi chung của quẻ là liên kết động của
những thay đổi bên trong và bên ngoài Vì vậy, quẻ số 13 Thiên Hỏa đồng nhân, bao gồm nội quái (Ly hay Hỏa), liên kết với ngoại quái (Càn/Trời) Ý
Trang 11nghĩa của quẻ này người Trung Quốc và Việt Nam hiểu tương đối khác nhau.
Người Trung Hoa hiểu theo nghĩa mối quan hệ của con người với đất đai còn
người Việt hiểu theo nghĩa mối quan hệ tổng hòa của con người đối với vũ trụ nóichung Trong trường hợp này kiến giải của người Việt mang tính triết học caohơn
Dưới đây là quẻ của kinh dịch do 8 quẻ đơn chồng lien tiếp lên nhau (trùng
quái) tạo thành 64 quẻ trong đó các quẻ từ số 01 đến số 30 được gọi là Thượng Kinh, bắt đầu với hai quẻ Càn (trời), Khôn (đất) Các quẻ từ số 31 đến số 64 được gọi là Hạ Kinh
T
1 Quẻ thuần càn
9
Q phong thiên tiểu súc 17 Q.trạch lôi tuỳ 25 Q.thiên lôi vô vọng
2 Q thuần khôn 10 Quẻ thiên trạch lí 18 Q.sơn phong cổ 26 Q.sơn thiên đại súc
3 Q lôi thuỷ truân 11 Quẻ địa thiên thái 19 Q.địa trạch lâm 27 Q.sơn lôi di
4 Q sơn thuỷ mông 12 Quẻ thiên địa bỉ 20 Q.phong địa quán 28 Q.trạch ph đại quá
5 Q thuỷ thiên thu 13 Q.thiên hoả đồng
nhân
21 Q.Hoả lôi phệ hạp 29 Q.thuần khảm
6 Q thiên thuỷ tụng 14 Q hoả thiên đại hữu 22 Q sơn hoả bí 30 Q thuần li
Trang 127 Q địa thuỷ sư 15 Q địa sơn khiêm 23 Q sơn địa bác 31 Q.trạch sơn hàm
8 Quẻ thuỷ địa tỉ 16 Quẻ lôi địa dự 24 Q.địa lôi phục 32 Q.lôi phong hằng
T
33 Q.Thiên sơn độn 41 Q trạch sơn tổn Q trạch hoả cách 57 Q thuần tốn
34 Q lôi thiên đại 42 Q lôi phong ích Q hoả phong tỉnh 58 Q thuần đoài
35 Q hoả địa tấn 43 Q Trạch thiên quải Q thuần chấn 59 Q phong thuỷ hoán
36 Q địa hoả minh di 44 Q thiên phong cấu Q thuần cấn 60 Q thuỷ trạch tiết
37 Q phong hoả gia
Trang 1338 Q hoả trạch khê 46 Q địa phong thăng Q lôi trạch quy muội 62 Q lôi sơn tiểu quá
39 Q thuỷ sơn kiển 47 Q trạch thuỷ khốn Q lôi hoả phong 63 Q thuỷ hoả kí tế
40 Q lôi thuỷ giải 48 Q thuỷ phong tỉnh Q hoả sơn lữ 64 Q hoả thuỷ vị tế
Cách lập quẻ theo năm, tháng ngày giờ:
Tìm quẻ thượng: lấy số của năm, tháng, ngày cộng lại chia cho 8 “phương”
số dư là hào thượng Nếu không dư lấy số 8 làm hào thượng
Tìm quẻ hạ: lấy số cảu năm, tháng, ngày, giờ cộng lại chia cho 8 số dư là
hào hạ
Tìm hào động: số của năm, tháng, ngày, giờ chia cho 6 (hào) số dư là hào
động, không dư lấy số 6 làm hào động
Số tượng quẻ theo Tiên thiên Bát quái: Càn 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5,
Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8
Số của năm: theo (12 con giáp): Tý số 1, Sửu số 2, Dần số 3, Mão 4, Thìn 5,
Tỵ 6, Ngọ 7, Mùi 8, Thân 9, Dậu 10, Tuất 11 đến Hợi số 12
Số của tháng: tháng giêng số 1, tháng hai số 2… đến tháng 12 là số 12.
Số của ngày: ngày mồng một số 1… ngày 30 số 30…
Số của giờ: giờ Tý số 1, Sửu số 2, Dần số 3, Mão 4, Thìn 5, Tỵ 6, Ngọ 7,
Mùi 8, Thân 9, Dậu 10, Tuất 11 đến Hợi số 12
Cách tìm quẻ: sau khi chia cho 8, lấy số dư làm quẻ Số dư là là 3, tức là
quẻ Ly, dư 7 là quẻ Cấn, không có dư thì lấy số 8 làm quẻ, tức là quẻ Khôn Số nhỏ hơn 8 không đủ chia thì lấy luôn số đó làm quẻ Nếu số 4 là quẻ Chấn, số 6
là quẻ Khảm
Trang 14b Những vấn đề triết học trong Kinh Dịch:
* Về bản thể luận:
- Thể hiện tư tưởng duy vật của con người khi quan niệm về vũ trụ Kinhdịch cho rằng cái chưa có là vô cực, khởi thuỷ vũ trụ là một khối hỗn mang làmênh mông vô cùng tận rồi phân ra Âm - Dương nhờ hai năng lực Âm vàDương chúng tương tác, tương thôi, tương thành với nhau “ nhất Âm nhấtDương chi vi đạo”, vận vật đều nhất thể Âm –Dương và hình thành nên Nhật –Nguyệt và chúng biến hoá thành ra tứ tượng: Mặt trời- Mặt trăng- Tinh - Đẩuhay (4 tiết) rồi tiếp tục biến thành bát quái Nhờ có Dịch từ cái “vô” biến thànhcái “một”, cái một biến thành cái “hai” cứ như vậy chúng biến hoá vô cùng, vôtận thành mọi dạng vật chất khác nhau trong vũ trụ
- Thể hiện quan niệm biện chứng về sự vận động biến đổi của vũ trụ làmang tính khách quan tự thân, thế giới này là thế giới vật chất, vũ trụ không do
ai sáng tạo ra, con người nhận thức về vũ trụ chứ không phải con người tạo ra vũtrụ Khi xem xét quá trình vận động biến đổi của vũ trụ là hoàn toàn dựa trêntriết lí động hay còn gọi là dịch biến hoá
- Trong Kinh Dịch chứa đựng nguyên lí cơ bản rất sâu sắc về các quy luật
vận động biến đối: Thứ nhất, Dịch là giao dịch (trong âm có dương, trong dương
có âm) Vì Âm- Dương bao trùm cả không gian (như phía bắc, phía nam) thời
gian (như đêm ngày), thời tiết (như đông, hè, nắng, mưa), không vật gì hữu hìnhhay vô hình trong vũ trụ mà không có âm dương: giống đực giống cái, rỗng, đặc,thịnh suy, thăng giáng, thu tán, thiện ác, tốt xấu, quân tử, tiểu nhân đều là Âm-Dương Quan niệm trong Thái cực, Âm- Dương được tượng trưng bằng hình đen
và hình trắng Âm- Dương xoắn lấy nhau, trong âm còn có Dương, trong dươngcòn có Âm, Âm- Dương biến hóa, lúc thì Âm thịnh thì dương suy, Dương thịnh
âm suy
Thứ hai, Âm- Dương tương giao tương thành Âm - Dương tương phản,
trái ngược nhau đấy, nhưng không tương khắc như nước với lửa, mà tương giao,tương thế, gặp nhau, xô đẩy nhau, thay thế nhau như ánh sáng và bóng tối, như
Trang 15nóng và lạnh… âm dương tương dao, tương thôi hơn là tương phản và thayphiên nhau theo một nhịp điệu dài ngắn tuỳ hiện tượng, tuỳ thời, cái này lên thìcái kia xuống, cái này xuống thì cái kia lên, mỗi cái làm chủ trong một thời rồilại nhường chỗ cho cái kia Không những thế chúng còn tương thành bổ túc chonhau: ngày sáng để vạn vật sinh hoạt, đêm tối để vạn vật nghỉ ngơi, hè nóng đểvạn vật phát triển, đông lạnh để vạn vật gom lại sức Tương thành còn vì một lẽ:Không còn Âm thì cũng không còn Dương, không còn Dương thì làm sao có
Âm, vũ trụ, vạn vật cũng không có Tương phản, tương thành nghĩa cũng như
“đồng quy nhi thù đồ”, tuy đường lối khác nhau nhưng đều đưa tới một nơi, mộtmục đích Nắng mưa trái nhau, nhưng đều giúp cho cây cỏ tươi tốt, nóng lạnhkhác nhau nhưng phải có đông có hạ với đủ bốn mùa
Thứ ba, Âm - Dương tương cầu tương ứng: có tương cầu tương ứng thì
mới gặp nhau, giao nhau mà sinh ra vạn vật “nhị khí giao cảm, hoá sinh vạn vật”trong vũ trụ không loài nào không tuân theo luật này Khi Âm- Dương tươngứng thì Dương sướng mà Âm hoạ hợp tác với nhau như càn và khôn Càn tạo ravạn vật ở vô hình thuộc về phần khí nhưng phải nhờ khôn vạn vật mới hữu hìnhmới sinh trưởng cho nên công của khôn cũng lớn như công của càn, chỉ kháckhôn có đức thuận tuỳ theo càn, bổ túc cho càn, cứ như vậy chúng bổ sung chonhau để hoàn thiện có cái này thì mới có cái kia, có cái này thì cái kia mới làmtròn được nhiệm vụ của nó trong vũ trụ
Thứ tư, dịch là biến dịch (âm dương đều động) Muốn giao nhau thì cả
Dương lẫn Âm đều phải động và biến hoá trong trật tự thuận lẽ tự nhiên, cóchừng có mực Bởi vì có biến thì mới có hoá mà thông( qua lại không khôngcùng thì gọi là thông) mới bảo đảm cho vụ trụ được trường tồn Nhưng sự biếndịch tuân theo một trật tự nhất định
Thứ năm, dịch là bất dịch đó là luật mãn chiêu tổn khiêm thụ ích; luật phản phục, tuần hoàn Sự biến hoá trong vũ trụ diễn tiến theo một quy luật bất di bất
dịch gọi là “thường” biết rõ “quy luật thường” là sáng suốt, không biết “quy luật
thường” thì gặp điều không lành Quy luật thường nó diễn tả Âm- Dương thay
Trang 16thế lẫn nhau, cứ một cái tiến thì một cái lùi, một cái lùi thì một cái tiến Biến hoáchỉ là sự tiến lui của Âm - Dương thôi trong Kinh Dịch ở phần Hệ từ hạ có viết
“cát hung luôn luôn thắng lẫn nhau theo một quy luật nhất định Việc đồi khôngcát thì hung, hết cát lại hung, hết hung lại cát” Sự cát hung đó được hiểu như làÂm- Dương, là trời và đất, là mặt trời mặt trăng, là ngày và đêm…; còn Luậtphản phục, tuần hoàn cũng là luật “thường”, bất dịch của Dịch Luật phản phục
là luật diễn biến trong vũ trụ khi con người xem xét sự vận hành của các sự vậthiện tượng như mặt trời, mặt trăng, của bốn mùa… thấy rằng sự vật theo mộtphương hướng nào đó, khi tới mức cùng tốt không thể tiến triển được nữa thìchuyển biến mà quay trở lại theo chiều nghịch với phương hướng cũ, cứ như thếkhông bao giờ thôi Chính nhờ có Luật phản phục mà sự vật trong vũ trụ không
bị tắc, bị cùng, mà luôn thông, sinh sinh, hoá hoá mãi
Người xưa nói: “Đông tình vô đoan, âm dương vô thủy”, còn nói: “Vậtphương sinh phương tử” Có nghĩa là âm dương không có cái trước cái sau, không
có cái này sinh ra cái kia, mọi vật đều vừa sinh vừa tử Thật ra rất khó phân biệtrạch ròi âm dương, sinh tử Gọi là dương khi phần dương lấn át phần âm và ngượclại, gọi là âm khi phần âm lấn át phần dương Âm dương xen kẽ nhau và hàm chứalẫn nhau Âm dương lúc dày (thái), lúc mỏng (thiếu) cho nên mới có thiếu dương,thái dương, thiếu âm, thái âm Âm là bề trái, dương là bề phải, âm là bề lưng,dương là bề bụng, âm là vật chất bên ngoài, dương là tinh thần bên trong, âm thuộc
về đất, dương thuộc về trời, âm nặng nên xuống đất, dương nhẹ nên lên cao Gọi là
âm dương (chứ không gọi là dương âm) có cái lý của nó Cái gì cũng từ dưới đi lên,
từ ngoài vào trong, có phần tối mới nổi được phần sáng
* Về nhân sinh quan: Được thể hiện rõ nét thông qua việc giải thích trong
34 quẻ hạ của Kinh Dịch đó là các quan niệm:
Thiên đạo với nhân đạo là một Đại biểu vũ trụ là trời, đất; đại biểu vạn vật
là người Trời, đất, người cùng một thể “ thiên - địa - nhân hợp nhất”, cho nênngười được sắp ngang hàng với trời đất, thành một bộ “tam tài” (ba ngôi) Trời
Trang 17(đất) với người quan hệ mật thiết với nhau (thiên nhân tương dữ); phép tắc củatrời, đất làm mô phạm cho hành vi của người, thiên đạo tức là nhân đạo; hơnnữa, trời với người còn tương cảm tương ứng với nhau.
Xây dựng một xã hội trung chính trong Kinh Dịch Đó là các việc hàng
ngày như: việc ăn uống có quẻ Di, quẻ Tỉnh, quẻ Đỉnh Về việc nuôi tinh thần,Dịch cho rằng mới ra đời, con người có tính chất phác, trong trắng “tính thiện”,nên giữ vững tính đó, giữ đường chính, đừng tự phụ, phải thận trọng, như vậycho tới suốt đời Phải biết trau giồi tài đức (quẻ Đại Súc), biết sửa lỗi (quẻPhục), nhưng đừng ham tiến mau quá, mà nên tiến lần lần thôi, như con chiêmhồng trong quẻ Tiệm Tới tột bậc thì thành một hạng xuất thế, khí tiết thanh cao,khác phàm, dù không trực tiếp giúp đời, nhưng tư cách có thể làm gương chođời
Bàn về đạo trị dân. Về nhiệm vụ dưỡng dân, giáo dân của nhà cầm quyền,
có quẻ Di, Mông, Đại Súc Cách đối với dân, có các quẻ Đồng nhân, Tỉ, Hoán.Điều quan trọng nhất là đoàn kết được nhân dân, khiến cho trên dưới hoà đồng.Muốn vậy thì phải bỏ tinh thần đảng phái, tôn trọng quyền của mỗi người, phânbiệt nhiều hạng người, cho mỗi người được phát triển sở năng, thỏa mãn sởnguyện (Đại tượng truyện quẻ Đồng Nhân)
Bàn về tu thân, đạo làm người Khuyên con người phải tu tâm, dưỡng
tính, phải biết nuôi dưỡng đức hạnh của mình Phải có chín đức để tu thân trongKinh Dịch đã chỉ ra chín quẻ mà người quân tử phải nghiền ngẩm để sửa đức,tức các quẻ : Lý cái nền của đức, vì Lý là lễ, cung kính, thận trọng; quẻ Khiêm,cái cán của đức, khiêm là khiêm tốn , tự hạ; quẻ Phục, cái gốc của đức, vì phục
là trở lại, khôi phục lại thiên lý; quẻ Hằng, là cái bền vững của đức, vì hằng làgiữ lòng cho bền, không thay đổi; quẻ Tốn, là sự trau giồi đức, trau giồi bằngcách bớt lòng dục, bớt lòng giận; quẻ ích, là sự nảy nở đầy đủ của đức, ích cónghĩa là tăng tiến cái đức; quẻ Khôn là để nghiệm xem đức mình cao hay thấp,
vì có gặp thời khốn, gặp nghịch cảnh mới biết mình giữ đựơc đạo, được tư cáchkhông; quẻ Tỉnh, là sự dày dặn của đức, tỉnh là giếng là nơi nước không cạn mà
Trang 18cũng không tràn, giúp ích cho đời, công dựng đầy khắp dày dặn; quẻ Tốn, là sựchế ngự đức, để được thuần thục, linh hoạt, biết quyền biến.
Bàn về chính, trung thể hiện trong thời Chính không vừa có nghĩa là ngay
thẳng, vừa có nghĩa là hợp chính nghĩa, hợp đạo Nhưng Dịch cho rằng chínhkhông quí bằng Trung, vì hễ trung thì cũng là chính, mà chính chưa chắc đã làtrung (trung là không thiên lệch).Trung tức là có chừng mực :”Trời đất có chừngmực nên mới thành bốn mùa” mà vạn vật mới phát triển được Chừng mực cũng
là luật quân bình, nắng không nắng quá, mưa không mưa quá, nắng mưa, ấmlạnh phải thay nhau để điều hòa khí hậu Cái gì thịnh quá thì phải suy, suy quáthì sẽ thịnh Tuy nhiên trung ở đây không có nghĩa là chung chung, lưng trừng,nửa vời, nhu nhược Dịch là biến dịch, có biến hoá mới thích hợp (duy biến sởthích), cho nên trọng cái thời, vì biến đến cực thì trở lại, cho nên trọng đứctrung Trung với thời, do đó mà liên quan mật thiết với nhau Thời gồm trung, vìphải hợp thời mới gọi là trung Ở cảnh giàu sang mà sống bủn xỉn, ở cảnh nghèohèn mà sống xa hoa, thì không hợp thời, không phải là trung.Thời gồm chínhnữa vì chính mà không hợp thời thì cũng xấu Cương thường là đạo người quân
tử mà ở cuối quẻ Càn, không hợp thời, cho nên có hối hận Vậy Dịch là chínhtrung, mà thực ra chỉ là hợp thời “Cái nghĩa tùy thời lớn thật” (Tùy thời chinghĩa đại hĩ tai! – Quẻ Tùy) “Lúc đáng ngừng thì ngừng, lúc đáng đi thì đi.Động tĩnh không thất thời, đạo đó sáng sủa” (Thời chỉ tắc chỉ, thời hành tắchành Động tĩnh bất thất kì thời, kì đạo quang minh) “Bậc quân tử tiến đức tunghiệp là muốn cho kịp thời” (Quân tử tiến đức tu nghiệp, dục cập thời dã)
Tóm lại: Kinh Dịch nguồn bằng các hình ảnh, nói đúng hơn là các phù
hiệu, mỗi quẻ có ba hào gồm hào âm, hào dương, ba hào xếp thành ngôi dưới,ngôi giữa, ngôi trên (đối xứng với đất, người và trời), quẻ đơn gọi là kinh quái,quẻ kép gọi là biệt quái Vì sao như vậy, thì thượng cổ đã làm gì có văn tự Bátquái, thái cực, hà đồ, lạc thư… đều là hình ảnh Ngày xưa, cổ nhân ngẩng đầulên quan sát bầu trời, quan sát sự vận hành của mặt trời, mặt trăng và các tinh tú,cúi đầu xuống xem phép tắc dưới đất, xem những sự thích nghi của muôn loài,