1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG TIÊU HÓA DƯỠNG CHẤT CỦA MỘT SỐ NGUYÊN LIỆU CUNG ĐẠM TRÊN HEO CON CAI SỮA VÀ HEO THỊT 40 – 50 KG

61 197 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 843,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thí nghiệm 1 xác định khả năng tiêu hóa các dưỡng chất của bốn nguyên liệu bột cá, khô dầu đậu nành, đậu nành ép đùn, và Dabomb – P trên heo con cai sữa trọng lượng trung bình 24 kg, bố

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y

****************

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG TIÊU HÓA DƯỠNG CHẤT CỦA MỘT SỐ NGUYÊN LIỆU CUNG ĐẠM TRÊN HEO CON CAI SỮA VÀ HEO THỊT 40 – 50 KG

Sinh viên thực hiện : NGUYỄN XUÂN VIÊN

Niên khóa : 2008 – 2012

Tháng 8/2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y

****************

NGUYỄN XUÂN VIÊN

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG TIÊU HÓA DƯỠNG CHẤT CỦA MỘT SỐ NGUYÊN LIỆU CUNG ĐẠM TRÊN HEO CON CAI SỮA VÀ HEO THỊT 40 – 50 KG

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng theo yêu cầu cấp bằng Kĩ sư chăn nuôi

Giáo viên hướng dẫn

TS DƯƠNG DUY ĐỒNG

Tháng 8/2012

Trang 3

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Họ và tên sinh viên thực hiện: Nguyễn Xuân Viên

Tên luận văn: Đánh giá khả năng tiêu hóa dưỡng chất của một số nguyên liệu cung đạm trên heo con cai sữa và heo thịt 40 – 50 kg

Đã hoàn thành theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và ý kiến nhận xét, đóng góp của hội đồng chấm thi tốt nghiệp Khoa ngày

Giáo viên hướng dẫn

TS Dương Duy Đồng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình đã sinh thành, dưỡng dục, chăm lo cho đi đến con đường đại học Cảm ơn các anh chị em người thân, bạn

bè đã động viên và giúp đỡ rất nhiều để tôi có thể an tâm và có sức khỏe để học tập

và rèn luyện đến này hôm nay

Xin chân thành cảm ơn

 Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

 Ban chủ nhiệm cùng quý thầy cô khoa Chăn nuôi – Thú y

 Quý thầy cô bộ môn Dinh dưỡng Gia súc

Đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện tốt đề tài tốt nghiệp

Cảm ơn thầy Dương Duy Đồng đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp

Cảm ơn thầy Nguyễn Văn Hiệp, anh chị công nhân và sinh viên trại thực nghiệm Khoa Chăn nuôi – Thú y đã tạo điều kiện và hỗ trợ rất nhiều trong quá trình

em thực hiện đề tài

Cảm ơn cô Trần Thị Phương Dung, cô Nguyễn Thị Lộc, cô Nguyễn Thụy

Đoan Trang đã hướng dẫn và giúp đỡ trong suốt quá trình em thực tập tại bộ môn

Dinh dưỡng gia súc

Cảm ơn toàn thể các bạn trong và ngoài lớp Công nghệ sản xuất thức ăn chăn nuôi khóa 2008 - 2012 đã đồng hành cùng tôi trong quá học tập, động viên và giúp

đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp

Trang 5

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Đề tài “Đánh giá khả năng tiêu hóa dưỡng chất của một số nguyên liệu cung

đạm trên heo con cai sữa và heo thịt 40 – 50 kg” được tiến hành tại trại thực nghiệm

và bộ môn Dinh dưỡng gia súc khoa Chăn nuôi – Thú y, trường Đại học Nông Lâm

TP Hồ Chí Minh, bắt đầu từ 15/02/2012 đến 07/07/2012, theo hai thí nghiệm Thí nghiệm 1 xác định khả năng tiêu hóa các dưỡng chất của bốn nguyên liệu bột cá, khô dầu đậu nành, đậu nành ép đùn, và Dabomb – P trên heo con cai sữa trọng lượng trung bình 24 kg, bố trí thí nghiệm theo kiểu bình phương Latinh gồm 4 lô, mỗi lô 1 đực thiến; Thí nghiệm 2 trên heo thịt trọng lượng trung bình 43kg bố trí thí nghiệm theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên một yếu tố 6 lần lập lại trên ba nguyên liệu khô dầu đậu nành, đậu nành ép đùn, và Dabomb – P

Kết quả thí nghiệm cho thấy TLTH protein bột cá trên heo con cai sữa cao hơn các nguyên liệu còn lại Các thành phần dưỡng chất khác của các nguyên liệu

có TLTH khác biệt không có ý nghĩa về thống kê Ngoại trừ giá trị năng lượng tiêu hóa biểu kiến của đậu nành ép đùn và bột cá khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê

TLTH protein Dabomb – P cao hơn KDN và đậu nành ép đùn, xơ thì ngược lại trên heo thịt nhưng sự chênh lệch này không có ý nghĩa về mặt thống kê, TLTH béo đậu nành ép đùn cao hơn so với Dabomb – P và có ý nghĩa về mặt thống kê

TLTH protein, béo và xơ của Dabomb – P, KDN và đậu nành ép đùn trên heo thịt cao hơn heo con cai sữa và ngược lại đối với TLTH khoáng tổng số

Từ khóa: tiêu hóa trên heo, nguyên liệu cung đạm

Trang 6

MỤC LỤC

TRANG

TRANG TỰA i

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN ii

LỜI CẢM ƠN iii

TÓM TẮT LUẬN VĂN iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii

DANH SÁCH CÁC BẢNG ix

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ x

DANH SÁCH CÁC HÌNH xi

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu 2

2.1.2 Mục đích 2

2.1.2 Yêu cầu 2

Chương 2 TỔNG QUAN 3

2.1 Sơ lược về vai trò các chất dinh dưỡng trong thức ăn 3

2.1.1 Protein và acid amin 3

2.1.2 Bột cá trong chăn nuôi 7

2.1.3 Đậu nành trong chăn nuôi 9

2.2 Các phương pháp chế biến đậu nành 11

2.2.1 Chế biến đậu nành nguyên dầu 11

2.2.2 Chế biến khô dầu nành 12

2.2.2.1 Đậu nành cao đạm (soy protein concentrate – SPC) 12

2.2.2.2 Đậu nành ly trích (isolate soy protein – ISP) 13

2.2.2.3 Đậu nành lên men (fermented soybean – FSB) – Chế phẩm Dabomb – P 15

2.3 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa heo con 17

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

3.1 Thời gian và địa điểm 19

3.1.1 Thời gian 19

Trang 7

3.1.2Địa điểm 19

3.2 Nội dung nghiên cứu 19

3.3 Phương pháp nghiên cứu 19

3.3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 19

3.3.2 Bố trí thí nghiệm 20

3.3.3 Phương pháp tiến hành 20

3.4 Điều kiện thí nghiệm 22

3.4.1 Chuồng nuôi 22

3.4.2 Nước uống 22

3.4.3 Cách cho ăn và vệ sinh 22

3.5 Phương pháp lấy mẫu 23

3.5.1 Mẫu thức ăn hỗn hợp hay nguyên liệu 23

3.5.2 Mẫu phân 23

3.5.3 Mẫu nước tiểu 23

3.6 Phương pháp xử lí mẫu 24

3.6.1 Mẫu phân 24

3.6.2 Mẫu nước tiểu 24

3.7 Chỉ tiêu theo dõi 24

3.8 Chỉ tiêu khảo sát 24

3.9 Chỉ tiêu phân tích 24

3.10 Phương pháp phân tích mẫu 24

3.10.1 Phân tích năng lượng thô của thức ăn và của phân (Gross Energy – GE) 24

3.10.2 Vật chất khô 25

3.10.3 Protein thô (Phương pháp Kjeldahl) 25

3.10.3 Béo thô (Phương pháp Soxhlet) 25

3.10.4 Xơ thô (Phương pháp Hennerberg và Stohman) 26

3.10.5 Khoáng tổng số 26

3.11 Xử lý số liệu 26

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27

Trang 8

4.1 Thành phần dinh dưỡng của khẩu phần cơ sở (KPCS) 27

4.2 Khả năng tiêu hóa dưỡng chất của 4 nguyên liệu đối với heo con cai sữa 27

4.2.1 Thành phần dưỡng chất của 4 nguyên liệu thí nghiệm (bột cá, Dabomb – P, khô dầu đậu nành và đậu nành ép đùn) 27

4.2.2 Thành phần dưỡng chất 4 khẩu phần tương ứng 4 loại nguyên liệu 28

4.2.3 Tỷ lệ tiêu hóa 4 nguyên liệu đối với heo con cai sữa 30

4.3 Khả năng tiêu hóa dưỡng chất của 3 nguyên liệu đối với heo thịt 33

4.4 So sánh đánh giá tỷ lệ tiêu hóa của Dabomb - P, KDN và đậu nành ép đùn giữa heo con cai sữa và heo thịt 36

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 39

5.1 Kết luận 39

5.2 Đề nghị 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO 40

PHỤ LỤC 43

Trang 9

INRA National Institute for Agriculture Research

NIRS Near Infrared Reflectance Spectroscopy

TLTH Tỉ lệ tiêu hóa

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Giá trị sinh học của protein nguyên liệu cho duy trì và tăng trưởng của heo 7 

Bảng 2.2 Hàm lượng acid amin trong một số nguyên liệu thức ăn chăn nuôi 8 

Bảng 2.3 Phân loại các chất kháng dinh dưỡng trong đậu nành 10 

Bảng 2.4 Thành phần dưỡng chất cơ bản của Dabomb – P 16 

Bảng 2.5 Hàm lượng các chất kháng dinh dưỡng trong sản phẩm đậu nành 16 

Bảng 2.6 Sự cân bằng acid amin dựa theo lysine (Lys =100) trên heo thịt và heo con 18 

Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 20 

Bảng 3.2 Thành phần các nguyên liệu trong khẩu phần cơ sở 21 

Bảng 4.1 Thành phần dưỡng chất của KPCS (%) (tính theo mẫu) 27 

Bảng 4.2 Thành phần dưỡng chất của 4 nguyên liệu thí nghiệm 28 

Bảng 4.3 Thành phần dưỡng chất của 4 khẩu phần A, B, C, D (tính theo mẫu) 28 

Bảng 4.4 TLTH của KPCS và 4 khẩu phần A, B, C, D (tính theo mẫu) 29 

Bảng 4.5 Giá trị năng lượng của KPCS và 4 khẩu phần A, B, C, D (tính theo mẫu) 29 

Bảng 4.6 TLTH của 4 nguyên liệu bột cá, Dabomb – P, khô dầu nành và đậu nành ép đùn 30  

Bảng 4.7 Giá trị năng lượng (Kcal/kg) của 4 nguyên liệu bột cá, Dabomb – P, khô dầu nành và đậu nành ép đùn 32  

Bảng 4.8 TLTH của 3 khẩu phần E, F và G (tính theo mẫu) 33 

Bảng 4.9 Giá trị năng lượng (Kcal/kg) của 3 khẩu phần E, F và G 33 

Bảng 4.10 TLTH của 3 nguyên liệu Dabomb – P, khô dầu nành và đậu nành ép đùn đối với heo thịt (tính theo mẫu) 34  

Bảng 4.11 Giá trị năng lượng của 3 nguyên liệu Dabomb – P, khô dầu nành và đậu nành ép đùn 35  

Bảng 4.12 TLTH dưỡng chất của Dabomb - P, KDN và đậu nành ép đùn trên heo con cai sữa và heo thịt 36  

Trang 11

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất của 4 nguyên liệu đối với heo con cai sữa 31 

Biểu đồ 4.2 Giá trị năng lượng của 4 nguyên liệu đối với heo con cai sữa 32 

Biểu đồ 4.3 Tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất của 3nguyên liệu đối với heo thịt 34 

Biểu đồ 4.4 Giá trị năng lượng của 3 nguyên liệu đối với heo thịt 35 

Biểu đồ 4.5 Giá trị năng lượng của 3 nguyên liệu đối với heo con cai sữa và heo thịt 36  Biểu đồ 4.6 TLTH dưỡng chất Dabomb – P đối với heo con cai sữa và heo thịt 37 

Biểu đồ 4.7 TLTH dưỡng chất KDN đối với heo con cai sữa và heo thịt 37 

Biểu đồ 4.8 TLTH dưỡng chất đậu nành ép đùn đối với cai sữa và heo thịt 38 

Trang 12

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 2.1 Cấu tạo chung một acid amin 4 

Hình 2.2 Chuyển hóa acid amin thành ure và acid hữu cơ 6 

Hình 2.3 Qui trình sản xuất đậu nành cao đạm SPC 13 

Hình 2.4 Qui trình sản xuất đậu nành ly trích (ISP) 14 

Hình 2.5 Một số sản phẩm từ đậu nành 14 

Hình 2.6 Tiêu hóa và hấp thu chất dinh dưỡng của heo con 17 

Hình 3.1 Chuồng tiêu hóa – chuồng biến dưỡng 22 

Hình 3.2 Lấy mẫu phân và nước tiểu 23 

Trang 13

Chương 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Nuôi heo là một ngành nghề truyền thống, gắn bó chặt chẽ với đời sống kinh

tế văn hóa của nông dân Việt Nam ngàn đời nay, nó còn là ngành sản xuất mũi nhọn rất quan trọng trong nông nghiệp của nước ta nói chung và ngành chăn nuôi nói

riêng Thế nhưng, để nuôi heo có hiệu quả lại không đơn giản (Woo Young Jae,

2012) Trong khi đó chăn nuôi heo công nghiệp thì thức ăn chiếm 70 – 85% giá thành sản xuất (Võ Văn Ninh, 2007) Tình hình hiện nay càng gây khó khăn cho nhà chăn nuôi vì giá nguyên liệu tăng nhưng giá heo thành phẩm lại giảm

Các nguyên liệu cung đạm thuộc một trong hai nhóm chiếm tỷ lệ lớn trong khẩu phần ăn của vật nuôi, giữ vai trò quyết định đến chi phí sản xuất và năng suất vật nuôi như bột cá, bột thịt, khô dầu đậu nành… Đây là những nguyên liệu chính

và phổ biến trong thức ăn chăn nuôi Vì vậy, bài toán cần đặt ra cho người sử dụng

là ngoài việc xác định giá trị protein tổng số theo phân tích thì cũng cần phải biết đến khả năng tiêu hoá protein có trong nguyên liệu để từ đó có thể sử dụng hợp lý hơn nhằm cải thiện năng suất của vật nuôi và tiết kiệm thức ăn chăn nuôi

Ngoài việc sử dụng các nguồn cung protein có tự nhiên, trên thị trường đã xuất hiện nhiều sản phẩm cung đạm thực vật dùng cho heo đã qua chế biến, ngoài khô dầu nành và bột cá tự nhiên, còn có các sản phẩm từ đậu nành như chế phẩm Dabomb – P, đậu nành cao đạm (SPC), đậu nành lên men (FSP), đậu nành ly trích (ISP), đậu nành ép đùn (extrude)… Đây là những sản phẩm thay thế cho các nguyên liệu cung protein có nguồn gốc động vật trong khẩu phần thức ăn hỗn hợp cho heo

và cũng là vấn đề được các nhà khoa học quan tâm và thúc đẩy nghiên cứu theo hướng nâng cao chất lượng nguồn protein thực vật để sử dụng trong khẩu phần thức

ăn cho heo con cai sữa (Sung Woo Kim and Eric van Heugten, 2010)

Trang 14

Xuất phát từ những nhu cầu và khó khăn nói trên, được sự cho phép của khoa Chăn nuôi – Thú y, dưới sự hướng dẫn của TS Dương Duy Đồng chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Đánh giá khả năng tiêu hóa dưỡng chất của một số nguyên liệu cung đạm trên heo con cai sữa và heo thịt 40 – 50 kg”

1.2 Mục đích và yêu cầu

2.1.2 Mục đích

Đánh giá tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất của các nguyên liệu cung đạm là bột cá, khô dầu nành, Dabomb – P, đậu nành ép đùn trên heo con cai sữa và heo thịt trọng lượng 40 -50kg

Trang 15

Chương 2 TỔNG QUAN

2.1 Sơ lược về vai trò các chất dinh dưỡng trong thức ăn

2.1.1 Protein và acid amin

2.1.1.1 Protein

Protein là hợp chất đại phân tử được tạo thành từ rất nhiều các đơn phân là các acid amin Theo Dương Thanh Liêm và cs, 2002 thì protein thô là tất cả mọi chất chứa N được xác định chung rồi qui đổi ra protein theo hệ số nhân 6,25% Sở

dĩ có hệ số này là vì hàm lượng N có trong protein của chất albumin khoảng 16%, Protein bảo đảm cho thú sinh trưởng lớn lên bình thường và là nguyên liệu chính cấu tạo nên sản phẩm chăn nuôi như: thịt, trứng, sữa, lông, len…

Protein đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống của vật nuôi thiếu hoặc thừa trong khẩu phần đều ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả chăn nuôi Theo

Nguyễn Phước Nhuận và cs, 2007 thì “Protein là lớp chất hữu cơ mang sự sống”;

tham gia cấu trúc tế bào, cấu thành nên enzyme và hormone, bảo vệ cơ thể, vận chuyển các dưỡng chất, môi giới của hệ thần kinh, điều hòa trao đổi chất, bảo đảm

10 - 15% nhu cầu năng lượng của cơ thể Protein là cơ sở của sự sống, protein là chất cấu tạo nên các loại mô bào trong cơ thể, đồng thời cũng là cấu tạo của những chất điều hòa sự sống như hormone, enzyme trong cơ thể (Võ Văn Ninh, 2007)

Theo Dương Thanh Liêm và cs, 2002 để nâng cao hiệu quả sử dụng protein thì lựa chọn nguyên liệu để tổ hợp khẩu phần cân đối protein, acid amin và năng lượng; bổ sung đầy đủ vitamin và khoáng; bổ sung các acid amin tới hạn; xử lý các chất kháng men tiêu hóa, kháng dinh dưỡng

Trang 16

1.1.2 Acid amin

Theo Dương Thanh Liêm và cs, 2002 thì acid amin là hợp chất hữu cơ có chứa nhóm amin và nhóm acid Acid amin được hình thành từ protein là một trong nhóm dưỡng chất thường hiện diện bằng những chuỗi dài phân tử Sau quá trình phân giải các đại phân tử protein này sẽ biến thành những acid amin và hấp thu vào

cơ thể qua đường tiêu hóa dưới tác dụng của dịch tiêu hóa (Hoàng Thanh Sơn,2009) Acid amin được cấu tạo gồm nhóm amin (-NH2), nhóm cacbocyl (-COOH) và nguyên tử cacbon trung tâm đính với 1 nguyên tử hydro và nhóm biến đổi R quyết định tính chất của acid amin

Hình 2.1 Cấu tạo chung một acid amin

Hoạt quang là tính chất quan trọng của acid amin, đó là khả năng làm quay mặt phẳng phân cực của ánh sáng; do cấu trúc hóa học không gian của nhóm chức hoạt động nằm bên này hay bên kia (Dương Thanh Liêm và cs, 2002; Nguyễn Phước Nhuận, 2007) Trong tự nhiên hầu hết các acid amin đều có dạng L Khi tổng hợp acid amin người ta thu được một nửa dạng L và một nửa dạng D Qua nghiên cứu cho biết chỉ có một số acid amin là gia cầm và heo sử dụng được cả 2 dạng D

và L như lysine (DL), valine (DL), methionine (DL), riêng isoleusine (L, D 50%) có hiệu quả Vì vậy khi phối hợp khẩu phần chúng ta cần phải biết dạng cấu tạo hóa học để con vật có thể sử dụng hiệu quả (Lê Đức Ngoan, 2002; Dương Thanh Liêm

và cs, 2002)

Theo giá trị sinh vật học của protein thì chia làm 3 loại:

- Acid amin không thiết yếu (non-essential amino acid): cơ thể có khả năng tổng hợp đủ nhu cầu không cần cung cấp từ thức ăn

- Acid amin nửa thiết yếu (semi-essential amino acid): là acid amin không tổng hợp được trong cơ thể nhưng phải có đầy đủ loại acid amin tương ứng với nó

R - CH

NH 2

COOH

Trang 17

- Acid amin thiết yếu (essential amino acid): là loại acid amin không tổng hợp trong cơ thể hoặc nếu có tổng hợp thì cũng không đáp ứng đủ cho nhu cầu cơ thể

(Dương Thanh Liêm và cs, 2002)

Nhóm acid amin thiết yếu chứa rất ít trong thức ăn có nguồn gốc thực vật hoặc mất cân bằng giữa các acid amin nhưng lại dồi dào trong thức ăn nguồn gốc động vật (Võ Văn Ninh, 2007) Đối với heo thì có 10 acid amin thiết yếu lysine, tryptophan, methionine, valine, histidine, phenylanine, leucine, isoleucine, threonine và arginine (Kakuk T và Schmidt J 1988, trích dẫn Dương Thanh Liêm

và cs, 2002; Nguyễn Phước Nhuận và cs, 2007; Võ Văn Ninh, 2007) Trong đó lysine, methionine, threonin và tryptophan là 4 loại acid amin giới hạn (là những acid amin thiết yếu có trong thức ăn với tỷ lệ so với nhu cầu nhất bên cạnh các acid amin thiết yếu khác, nó quyết định mức độ tổng hợp protein trong cơ thể, ảnh hưởng quan trọng đến sự chuyển hóa các acid amin khác) Giữa các acid amin này

có sự chuyển hóa, giao lưu lẫn nhau bằng phản ứng oxy hóa khử hoặc phản ứng chuyển acid amin, phản ứng một chiều hay thuận nghịch Do vậy, khi thiếu loại này

có thể thiếu loại kia hoặc trong thức ăn có nhiều loại này có thể làm giảm nhu cầu loại kia Chẳng hạn, từ methionine có thể chuyển hóa thành cysteine, cystine Cystine có thể thay thế 50% nhu cầu methionine của heo Methionine không thể tổng hợp từ cystine; tryrosine (khoảng 30%) có thể thay thế bởi phenylalanine Tuy nhiên đây là phản ứng một chiều vì vậy không thể cung cấp tyrosine để tổng hợp phenylalanine (Lê Đức Ngoan, 2002)

 Giá trị sinh học protein (BV – Biological Value)

Đối với nguyên liệu cung đạm để đánh giá giá trị hữu dụng của nguyên liệu cao hay thấp thì xác định chủ yếu là hàm lượng protein Chỉ số protein thô (CP) được xem là có ý nghĩa bởi vì tỷ lệ tiêu hóa của protein trong các nguyên liệu phổ biến của heo và gà (bột cá, khô dầu nành…) ít biến đổi Tuy nhiên chất lượng protein phải thể hiện qua hàm lượng các acid amin thiết yếu, nhưng hầu hết các acid amin đều thiếu hoặc mất cân đối so với nhu cầu của heo và gia cầm, đặc biệt là

Trang 18

lysine và methionine Vì vậy xác định sự có mặt của lysine trong thức ăn là chỉ tiêu

cơ bản đánh giá giá trị protein thức ăn nói riêng và nhóm cung đạm nói chung (Lê Đức Ngoan, 2002)

Ngoài ra, để đánh giá khả năng hiệu dụng của protein trong thức ăn đối với vật nuôi, người ta dùng chỉ số giá trị sinh học protein BV BV là tỷ lệ giữa protein tích lũy và protein tiêu hóa Đây là phương pháp đo lường trực tiếp tỷ lệ protein thức ăn mà vật nuôi dùng để tổng hợp trong mô cơ thể Để xác định BV cần tiến hành thí nghiệm cân bằng N, tức là xác định N ăn vào của thức ăn và thải của phân

và nước tiểu BV được tính theo công thức:

Nguồn: Dương Thanh Liêm và cs, 2002; Lê Đức Ngoan, 2002

Khả năng dự trữ acid amin tự do của gia súc rất kém (Lê Đức Ngoan, 2002) Acid amin thường không được dự trữ, chúng lưu chuyển trong máu và thân dịch trong vòng 24 - 36 giờ, nếu không có đủ điều kiện các acid amin khác phối hợp để tạo protein cho cơ thể, thì chúng sẽ bị chuyển hóa thành ure và acid hữu cơ Đồng thời acid amin thiết yếu không thể tổng hợp có hiệu quả trong cơ thể con vật cho nên mất cân đối acid amin sẽ dẫn đến tiêu phí acid amin Thiếu cũng như thừa bất

kỳ một acid amin nào cũng làm cho BV bị giảm

(Nguồn: Võ Văn Ninh, 2007)

Hình 2.2 Chuyển hóa acid amin thành ure và acid hữu cơ

Qua cách xác định ở Bảng 2.1, giá trị sinh học của nguyên liệu protein động vật (sữa, bột cá) là cao nhất, kế đến protein thực vật (khô dầu đậu nành, khô dầu bông vải…) và ngũ cốc Theo Lê Đức Ngoan, 2002 giá trị sinh vật học của protein thuộc sự hấp thu acid amin cơ thể Và như vậy, BV của một protein thức ăn tùy

N ăn vào – (N phân – N trao đổi) - (N nước tiểu – N nội sinh)

N ăn vào – (N phân – N trao đổi)

2R – CH – COOH + CO + 2H CO + 2R – CH2 - COOH

NH2

NH2

NH2

Trang 19

thuộc vào ở số và loại của các acid amin có mặt trong phân tử protein Cấu tạo của

protein nguyên liệu gần với protein cơ thể thì giá trị sinh học càng cao Giữa 2

nguyên liệu cung đạm bột cá và khô dầu đậu nành thường được dùng trong khẩu

phần thức ăn chăn nuôi thì giá trị sinh học của protein bột cá cao hơn khô dầu nành

(Nguồn: Amstring và Nitchell, 1995 trích dẫn bởi Lê Đức Ngoan, 2002)

2.1.2 Bột cá trong chăn nuôi

Theo FAO vai trò của bột cá trong thức ăn chăn nuôi là quan trọng Nó tăng

năng suất và cải thiện hiệu quả hệ số chuyển biến thức ăn của vật nuôi Là nguyên

liệu tối ưu trong khẩu phần ăn cho thú non Bột cá là một sản phẩm giàu đạm, chứa

47 – 85% đạm tổng số, trong đó đạm tiêu hóa và hấp thu là 80 - 95% tùy thuộc vào

phương pháp chế biến và nguyên liệu ban đầu

Thông thường bột cá dùng cho gia súc được chế biến từ các loại cá thứ phẩm

hoặc những phần bỏ của nhà máy chế biến thủy sản cho người Trên thế giới các

nước sản xuất nhiều bột cá chất lượng cao là Peru, Chile, Ecuador, Mỹ, Nam Phi Ở

Việt Nam khu vực sản xuất bột cá cơm dồi dào là Bình Thuận nhưng bột cá cơm

Việt Nam chỉ đạt khoảng 55% đạm (Dương Thanh Liêm và cs, 2002) Protein bột

cá là protein hoàn hảo, vì chúng chứa đầy đủ các acid amin thiết yếu có tỷ lệ cân đối

với các acid amin Cùng với hàm lượng và chất lượng bột cá còn là nguồn cung cấp

Trang 20

rất tốt các chất khoáng (calci, phosphor và khoáng vi lượng) và vitamin Bột cá cũng tạo độ ngon miệng cao cho thức ăn heo, gà

Bột cá có hệ số tiêu hóa cao vì chứa nhiều đạm dễ hòa tan và hấp thu Bột cá

ở dạng khô nên còn là nguồn thức ăn dự trữ cho động vật nuôi trong năm (http://www.tailieu.vn) Đồng thời bột cá có giá trị protein hơn hẳn protein thực vật đặc biệt là có sự hiện diện của 4 acid amin thiết yếu lysine, methionine, threonine

và tryptophan với hàm lượng cao

Bảng 2.2 Hàm lượng acid amin trong một số nguyên liệu thức ăn chăn nuôi

STT Nguyên liệu Hàm lượng acid amin (% )

Lys Arg His Iso Leu Met Phe Thr Trp Val 01

4,14 3,24 4,00 0,51 0,63

1,31 1,12 1,05 0,24 0,26

2,41 2,20 2,54 0,41 0,45

4,21 3,42 4,13 0,73 0,83

1,69 0,63 0,8 0,18 0,20

2,14 2,20 2,65 0,48 0,62

2,50 1,89 2,12 0,33 0,42

0,61 0,58 0,69 0,12 0,15

2,91 2,25 2,70 0,50 0,65

(Nguồn: (1)Miller, 1970 trích dẫn từ FAO *KDN45: Khô dầu nành45% CP

(2)Theo tài liệu của công ty SuChiang, 2003 trích dẫn Bùi Đình Khiêm, 2011)

Theo Dương Thanh Liêm và cs, 2002 thì các dạng bột cá thường được gọi tên theo mức độ đạm thô như bột cá 40% đạm, bột cá 50% đạm, bột cá 60% đạm… còn gọi tắt là bột cá 40, bột cá 50 hay bột cá 60

Hạn chế khi sử dụng bột cá trong thức ăn là khả năng nhiễm vi sinh vật gây

bệnh (Salmonella, E coli), hoặc nồng độ muối cao trong các loại bột cá mặn có thể

gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe thú, nhất là thú non Giá cao cũng là một yếu tố cần quan tâm khi quyết định đến tỷ lệ sử dụng bột cá trong khẩu phần Các mô cơ của cá có nhiều amin tự do nên có mùi đặc trưng của cá Khi sử dụng nhiều bột cá trong thức ăn heo, gà giai đoạn sắp xuất thịt sẽ tạo mùi cá Hiện tượng tương tự cũng xảy ra cho trứng gia cầm khi sử dụng thức ăn có nhiều bột cá

Thực tế sử dụng bột cá trong thức ăn chăn nuôi thường gặp vấn đề là hàm lượng protein thô và acid amin hữu dụng không đúng như công bố của sản phẩm thương mại Nguyên nhân của sự sai khác giữa hàm lượng công bố và hàm lượng thực là do giá bán cao dẫn đến sự pha tạp các chất độn khác để kiếm lời, hoặc kĩ

Trang 21

thuật chế biến (sấy ở nhiệt độ cao) làm mất giá trị sử dụng các acid amin (Dương Thanh Liêm và cs, 2002)

2.1.3 Đậu nành trong chăn nuôi

Đậu nành có nguồn gốc từ Mãn Châu - Trung Quốc vào thế kỷ thứ XI rồi lan

ra các quốc gia khác Đậu nành du nhập vào Hoa Kỳ vào năm 1804 và trở thành quốc gia đứng đầu sản lượng đậu nành tiếp theo là Braxin, Argentina và Trung

Quốc Đậu nành được xem là “thịt không xương” ở nhiều quốc gia (Nguyễn Y Đức,

2012) Ở Việt Nam đậu nành được trồng từ rất sớm nhưng chỉ trong vài chục năm gần đây mới được quan tâm phát triển và ngày nay nó được xem là một giống cây trồng có giá trị dinh dưỡng cao, chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam Nhưng diện tích trồng và sản lượng vẫn còn thấp so với các nước trên thế giới Hiện nay nước ta còn nhập khẩu đậu nành từ Hoa Kỳ, Argentina hay Trung Quốc và một

số quốc gia khác

Hạt đậu nành có hàm lượng đạm khá cao (38%) và nhiều béo (18%) nên trong chăn nuôi ít sử dụng hạt nguyên mà thường dùng khô dầu đậu nành Đậu nành hạt thường được dùng trong các khẩu phần thú nhỏ, nhất là heo tập ăn, cần có cùng lúc nhiều năng lượng và đạm cao (Dương Thanh Liêm và cs, 2002) Với hàm lượng như vậy đậu nành là nguồn protein thực vật quan trọng trong chăn nuôi Do có chứa protein và lipid tổng số với tỷ lệ cao, đậu nành nguyên dầu được xem là loại nguyên liệu thích hợp, có thể sử dụng thay thế một phần cho ngũ cốc khi thiết lập các khẩu phần giàu năng lượng (Varga – Visi và cs, 2006 trích dẫn bởi Hồ Lê Quỳnh Châu

và cs, 2011) Tuy nhiên, trong hạt đậu nành có chứa các yếu tố kháng dinh dưỡng làm ảnh hưởng khả năng tiêu hóa và hấp thu acid amin ở động vật Do đó, việc bất hoạt các yếu tố kháng dinh dưỡng là rất cần thiết trước khi sử dụng đậu nành nguyên dầu làm thức ăn cho gia súc, gia cầm

 Các chất kháng dinh dưỡng trong hạt đậu nành

 Chất kháng dinh dưỡng kém bền với nhiệt trong đậu nành

Chất ức chế enzyme protease (Protease inhibitor) còn gọi là anti – trypsin

là cấu trúc phân tử protein đặc biệt, có tác dụng bịt kín các trung tâm, ngăn cản

Trang 22

không cho enzyme proteinase hoạt động thủy phân protein và chymotrypsin của tuyến tụy làm tuyến tụy triển dưỡng để sản xuất các enzyme nhiều hơn và như vậy gây mất các protein và acid amin cần thiết cho sự tăng trưởng của cơ thể Sự có mặt của chúng trong thức ăn làm giảm đáng kể khả năng tiêu hóa protein trong đường tiêu hóa (Dương Thanh Liêm và ctv, 2010) Tăng sự đào thải acid amin chứa lưu huỳnh (D’Mello, 1995 trích dẫn bởi Dương Thanh Liêm và ctv, 2010)

Bảng 2.3 Phân loại các chất kháng dinh dưỡng trong đậu nành

Chất kém bền với nhiệt Chất bền với nhiệt

Phytate Oligosaccharide Kháng nguyên đậu nành

(Nguồn: Peisker,)

- Lectin (hemagglutinin) đây cũng là một loại protein Nó có đặc tính làm

kết dính hồng cầu, chất này làm ức chế sinh trưởng ở thú non (Dương Thanh Liêm

và ctv, 2010) Lectin kết hợp với cacbohydrate của màng tế bào thượng bì của ruột non, từ đó can thiệp và sự hấp thu các chất dinh dưỡng của ruột (Võ Duy Giảng, 2001) Ngoài ra lectin giảm tính ngon miệng, giảm sự hấp thu chất dinh dưỡng, tăng sinh ruột non và gan, bội triển tuyến tụy, tăng sự sinh sản vi sinh vật trong ruột, giảm nguồn dự trữ lipid, glucogen và protein (D’Mello, 1995 trích dẫn bởi Dương Thanh Liêm và ctv, 2010)

- Soyin chất này được phát hiện trước tiên trong đậu nành nên lấy tên đậu

nành đặt tên cho nó, ở trong ruột non soyin ức chế hoạt động của men trypsin và lipase làm giảm sự tiêu hóa đạm và mỡ

Các chất kháng dinh dưỡng kém bền với nhiệt có thể bị phân hủy hoặc bất hoạt khi xử lý ở nhiệt độ thích hợp, giống như men urease có phong phú trong hạt

Trang 23

đậu nành sống Tất cả chúng đều bị tiêu diệt ở nhiệt độ 105 – 110oC trong vòng 10

-30 phút (Dương Thanh Liêm và ctv, 2010) Phương pháp thường sử dụng là hấp chín, rang, sấy hoặc ép đùn và ép miếng (Peisker, 2002; Lê Đức Ngoan và ctv, 2004;

Vũ Duy Giảng, 2001) Khi xử lý đậu nành thì cần phải chú ý vừa diệt men và chất kháng chất tiêu hóa vừa giảm tối thiểu sự biến tính protein làm cho lysine bị hư hại

 Chất kháng dinh dưỡng bền với nhiệt độ trong đậu nành

- Oligosaccharide: Không tiêu hóa nhưng dễ bị VSV đường ruột già lên men

sinh hơi gây trung tiện, chướng bụng, có thể dẫn đến tiêu chảy (Basilisa, 2008;

Nguyễn Thanh Vân, 2003)

- Estrogen thực vật (Isoflavon): Khi sử dụng nó với số lượng lớn và thường xuyên sẽ gây rối loạn sinh sản.(Dương Thanh Liêm và ctv, 2010)

- Saponin: là glycoside chứa nhóm aglycone đa vòng phân bố rộng trong giới

thực vật, có vị đắng và tạo bọt Ở loại dạ dày đơn, saponin làm giảm tốc độ sinh trưởng do thu nhận thức ăn (Peisker, 2001;Vũ Duy Giảng, 2001); có thể gây dung huyết hồng cầu (Basilisa, 2008)

- Kháng nguyên đậu nành (glycinin và  - conglycinin): Có khả năng tạo ra kháng thể cản trở hoạt động của vi khuẩn có lợi, gây thoái hóa nhung mao ruột (Basilisa, 2008); gây dị ứng cho thú đặc biệt là bê con và heo nhỏ, các hiện tượng dị ứng này làm rối loạn hấp thu dưỡng chất, dễ dẫn đến tiêu chảy (Dương Thanh Liêm

và cs, 2002)

2.2 Các phương pháp chế biến đậu nành

2.2.1 Chế biến đậu nành nguyên dầu

Nguyên tắc chung là sử dụng nhiệt để làm bất hoạt một số chất gây hại, cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn hơn, tăng tính ngon miệng đối với nguyên liệu

- Chế biến bằng phương pháp hấp chín: Hấp chín bằng hơi nước nóng (xấp xỉ

100oC) trong vòng 20 - 30 phút, sau đó làm khô, nghiền nhỏ

- Làm chín đậu nành bằng xử lý nhiệt: Đậu nành được rang, sấy hoặc sử

dụng lò vi sóng Nhược điểm của 2 phương pháp này là chỉ áp dụng với quy mô vừa

và nhỏ đồng thời một số hợp chất bền với nhiệt vẫn còn tồn tại

Trang 24

- Chế biến đậu nành ép đùn: Hạt đậu nành khi đi qua hệ thống này sẽ bị

nghiền nát với áp suất 30 – 40 atmosphere, trong thời gian dưới 30 giây với mức nhiệt độ tối đa là 140 – 150oC Sự gia tăng nhiệt độ trong một khoảng thời gian ngắn như vậy một phần các chất kháng dinh dưỡng sẽ bị bất hoạt, các mầm bệnh cũng bị tiêu diệt Đậu nành thoát ra ngoài khi nhiệt độ vẫn còn cao gặp nhiệt độ thấp

lập tức đậu nành nở bung ra làm thay đổi cấu trúc đậu nành (Lê Thành Hải, 2011)

2.2.2 Chế biến khô dầu nành

Đậu nành tách béo sau đó dùng nhiệt để xử lý các chất kháng dinh dưỡng trong khô dầu nành Khô dầu nành là nguồn cung protein chủ yếu trong thú dạ dày đơn trên toàn thế giới Khô dầu nành có hàm lượng đạm thô trong khoảng 43 – 45%, giàu acid amin thiết yếu, nhất là lysine (Bảng 2.1) Vì vậy, một khẩu phần cơ bản là bắp – khô dầu nành nếu có bổ sung khoáng B12 sẽ có thể sử dụng cho heo gà

và kết quả tương tự như khẩu phần có dùng bột cá Tuy nhiên khi xử lý nhiệt quá mức thì trong sản phẩm xuất hiện phản ứng Maillard là phản ứng đường hóa các acid amin Các nhóm amin tự do trong cơ chất liên kết với đường để tạo thành các cao phân tử màu nâu và kết tủa nên làm mất giá trị tiêu hóa acid amin (Dương Thanh Liêm và cs, 2002)

Vì vậy, để nâng cao giá trị sử dụng đậu nành, nhiều nghiên cứu về việc cải tiến phương pháp chế biến đã được tiến hành, tạo ra những sản phẩm có hàm lượng chất kháng dinh dưỡng thấp như đậu nành cao đạm (soy protein concentrate – SPC), đậu nành ly trích (isolate soy protein – ISP) và gần đây là đậu nành lên men (fermented soybean – FSB)

2.2.2.1 Đậu nành cao đạm (soy protein concentrate – SPC)

Đậu nành sau khi được khử béo, phần chất rắn sẽ được tách carbohydrate, còn lại là protein và peptide trong đậu nành Việc tách carbohydrate được thực hiện bằng phương pháp chiết hoặc sử dụng enzyme phân hủy Sau đó đem trung hòa và sấy khô tạo được sản phẩm đậu nành cao đạm (SPC) Quy trình tạo ra SPC được trình bày ở Hình 2.3 (Lê Thành Hải, 2011)

Trang 25

Hình 2.3 Qui trình sản xuất đậu nành cao đạm SPC 2.2.2.2 Đậu nành ly trích (isolate soy protein – ISP)

Đậu nành tách béo được chiết với kiềm loãng ở pH = 7 - 9, đun nhẹ ở nhiệt

độ 50 -55oC và ly tâm, được dịch chiết và phần còn lại không tan Dịch chiết đưa về

pH = 4,2 -4,5 để protein đông tụ Protein đông tụ có thể rửa và sấy khô để thành đậu nành ly trích (ISP) (Lê Thành Hải, 2011) Qui trình sản xuất và số sản phẩm từ đậu nành được trình bày Hình 2.3và Hình 2.4

Trong một số sản phẩm chế biến từ đậu nành thường được dùng trong thức

ăn gia súc đậu nành cao đạm và đậu nành ly trích là 2 loại có hàm lượng các chất kháng dinh dưỡng rất thấp, giúp nâng cao giá trị sử dụng của protein trong đậu nành Tuy nhiên, do giá thành cao hơn so với khô dầu đậu nành nhiều nên chỉ sử dụng hạn chế đối với heo con mới cai sữa (M Peisker, 2002)

Đậu nành đã khử béo

Sấy khô Trung hòa

Chất tan

(đường, tro,…)

Chất không tan (protein, polysaccharide,…)

SPC

Trang 26

Hình 2.4 Qui trình sản xuất đậu nành ly trích (ISP)

Nguồn M Peisker, 2002

Hình 2.5 Một số sản phẩm từ đậu nành

Bột đã khử béo

Đậu nành

Dầu đậu nành Bột thô đã khử béo

Đậu nành ly trích

Vỏ đậu nành

Bánh dầu đậu nành

Dậu nành cao đạm Chiết

Trang 27

2.2.2.3 Đậu nành lên men (fermented soybean – FSB) – Chế phẩm Dabomb – P

Dabomb – P là chế phẩm khô dầu nành được lên men chủng vi khuẩn Lactobacillus acidophilus, sau đó được làm khô trong chân không và đem nghiền mịn Mùi của Dabomb – P là do các peptide, acid amin, acid lactic và fructose tạo nên Những chất này kích thích nụ vị giác, tăng tính ngon miệng đối với gia súc

Theo tài liệu công ty SuChiang Chemical & Pharmaceutical, 2003 trích dẫn bởi Bùi Đình Khiêm, 2011 thì Dabomb – P có màu nâu sáng, khả năng tiêu hóa và

độ hòa tan cao Do quá trình chế biến đặc biệt của Dabomb – P là protein lên men vi sinh nên không có kháng nguyên làm thoái hóa sinh học những yếu tố kháng dinh dưỡng, các oligosaccharide bị enzyme thủy phân thành lactose và fructose tạo vị ngọt cho thức ăn (Nguyễn Thanh Vân, 2003)

Sau khi lên men, chế phẩm Dabomb – P có chứa 3,4% acid lactic giúp khả năng tiêu hóa ở dạ dày và kiểm soát bệnh tiêu chảy (Katoh và Tsudo, 1984; Katoh

và ctv (1989) trích dẫn bởi Nguyễn Thanh Vân, 2003), ngoài ra acid lactic còn giúp tăng cường quá trình vận chuyển Ca; kích thích tăng trưởng thú qua việc giảm pH

dạ dày, tăng hoạt động của men pepsin, giảm sự phát triển của mầm bệnh (Hai Mieng Tan)

Dabomb – P có chức năng kết dính tương tự như bột mì, khả năng kết dính là

do sự phân cực các nối hydro trong phân tử peptid, đây là chất kết dính tự nhiên và

là nguồn protein tốt nhất (Nguyễn Thanh Vân, 2003)

Thành phần dưỡng chất cơ bản của Dabomb - P được trình bày ở Bảng 2.4

Trang 28

Bảng 2.4 Thành phần dưỡng chất cơ bản của Dabomb – P

dầu đậu nành

xử lý enzyme

chiết bằng rượu

nành

ly trích

nành lênmen (*)

Trang 29

2.3 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa heo con

Hệ tiêu hóa của heo như một loại máy giúp nghiền, trộn thức ăn với các chất dịch tiêu hóa và các dịch tiêu hóa các tác dụng phân giải cacbonhydrat, chất béo, chất đạm giúp cơ thể hấp thu chất dinh dưỡng Việc tiêu hóa và hấp thu chất dinh

dưỡng không phải là hai giai đoạn riêng rẽ mà xảy ra đồng thời (Woo Young Jae,

2012) Tiêu hóa và hấp thu chất dinh dưỡng của heo con được thể hiện ở Hình 2.6

Nguồn:Woo Young Jae, 2012

Hình 2.6 Tiêu hóa và hấp thu chất dinh dưỡng của heo con

Cơ quan tiêu hóa của heo sẽ phát triển đầy đủ từ 2 -3 tháng sau khi sinh Độ acid bao tử của heo sẽ giống heo trưởng thành vào lúc 8 -10 tuần tuổi Các men tiêu hóa sẽ thay đổi khi loại thức ăn vào thay đổi Tuy nhiên, thời gian cần thiết để thích ứng với thay đổi phải mất 2 – 3 ngày, do đó khi thay đổi thức ăn cần thay đổi từ từ Kích thước nhung mao ruột ở heo giảm mạnh trong vòng 24 giờ đầu sau cai sữa, nhung mao ngắn đi 75% so với tại thời điểm cai sữa Tình trạng này sẽ kéo dài đến ngày thứ 5 nhưng tỷ lệ ít hơn so với 24 giờ đầu Nếu tế bào nhung mao bị ngắn lại

Cơ quan tiêu hóa

Men tiêu hóa

- Tác dụng cơ học: nghiền nát trộn

- Tác dụng hóa học: phân giải nhờ dịch tiêu hóa

- Miệng: nghiền và trộn với nước bọt

- Bao tử: sát khuẩn và hoạt hóa pepsinogen

- Ruột non: chuyển động nhu động và quả lắc

- Tác dụng hóa học: giúp tiêu hóa và hấp thụ

- Ruột già: phân giải một phần chất béo

Trang 30

sẽ làm giảm diện tích hấp thu dẫn đến giảm hấp thu thức ăn và dễ gây tiêu chảy cho heo con Đối với thú trưởng thành, tốc độ thay thế tế bào biểu mô ruột kéo dài 3 – 4 ngày nhưng thú non cần khoảng thời gan lâu hơn 7 - 10 ngày (Trần Thị Dân, 2003).Vì vậy, ở heo con giai đoạn sau cai sữa, hệ tiêu hóa phát triển chưa hoàn thiện dễ ảnh hưởng đến khả năng hấp thu Do đó, thức ăn cho heo ăn trong giai đoạn này cần có thành phần dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa, thích hợp với sinh lý phát triển cả hệ thống enzyme nhằm phát huy khả năng tăng trọng

Bảng 2.6 Sự cân bằng acid amin dựa theo lysine (Lys =100) trên heo thịt và heo con

Acid amin 1Heo con

1 Kaku.và Schmidk, 1998 trích dẫn Nguyễn Phước Nhuận và cs

2 D’Mello, 1994, Chung và Baker, 1992 trích dẫn Dương Thanh Liêm và cs, 2002

Ngày đăng: 22/07/2018, 01:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm