BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM KHOA CHĂN NUÔI - THÚ Y *************** NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN KHẢO SÁT TỶ LỆ NHIỄM VIRUS DỊCH TẢ HEO VÀ HUYẾT THANH CÓ KHÁNG THỂ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM
KHOA CHĂN NUÔI - THÚ Y
***************
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT TỶ LỆ NHIỄM VIRUS DỊCH TẢ HEO VÀ HUYẾT THANH CÓ KHÁNG THỂ SAU TIÊM PHÒNG
Ở CÁC CƠ SỞ XÂY DỰNG AN TOÀN DỊCH
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN Lớp: DH07TY
Ngành: Thú Y Niên khóa: 2007 - 2012
Tháng 08/2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM
KHOA CHĂN NUÔI - THÚ Y
***************
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
KHẢO SÁT TỶ LỆ NHIỄM VIRUS DỊCH TẢ HEO VÀ HUYẾT THANH CÓ KHÁNG THỂ SAU TIÊM PHÒNG
Ở CÁC CƠ SỞ XÂY DỰNG AN TOÀN DỊCH
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sỹ thú y
Giáo viên hướng dẫn
PGS.TS NGUYỄN VĂN KHANH ThS HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
Tháng 08/2012
Trang 3PHIẾU XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ tên sinh viên thực hiện: NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
Tên luận văn: “KHẢO SÁT TỶ LỆ NHIỄM VIRUS DỊCH TẢ HEO VÀ HUYẾT THANH CÓ KHÁNG THỂ SAU TIÊM PHÒNG Ở CÁC CƠ SỞ XÂY DỰNG AN TOÀN DỊCH TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”
Đã hoàn thành luận văn theo yâu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến nhận xét, đóng góp của Hội đồng chấm thi tốt nghiệp Khoa Chăn Nuôi Thú Y
Ngày…….tháng…….năm 2012 Giáo viên hướng dẫn
PGS.TS NGUYỄN VĂN KHANH
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- PGS.TS Nguyễn Văn Khanh
- ThS Huỳnh Thị Thu Hương
Đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, cùng các quý thầy cô trong khoa Chăn Nuôi Thú Y đã bồi dưỡng kiến thức cho tôi trong suốt 5 năm học tại trường
Tôi xin cảm ơn toàn thể cán bộ nhân viên phòng Siêu Vi – Huyết Thanh của Trạm Chẩn Đoán - Xét Nghiệm và Điều Trị thuộc Chi Cục Thú Y Tp Hồ Chí Minh
đã chỉ bảo, giúp đỡ tôi thực hiện các kỹ thuật xét nghiệm trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin tri ân ba mẹ, người đã sinh ra và nuôi dưỡng tôi nên người, yêu thương và tạo mọi điều kiện học hành để tôi có được ngày hôm nay
Xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Thị Thanh Huyền
Trang 5TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Đề tài “Khảo sát tỷ lệ nhiễm virus dịch tả heo và huyết thanh có kháng thể sau tiêm phòng ở các cơ sở xây dựng an toàn dịch tại Thành Phố Hồ Chí Minh” được thực hiện trên 1264 mẫu huyết thanh gởi về từ 17 cơ sở xây dựng an
toàn dịch ở bốn quận huyện: huyện Củ Chi, huyện Hóc Môn, quận 9, quận Thủ Đức thuộc Tp.HCM Thời gian thực hiện đề tài từ 01/02/2012 – 01/06/2012 Các kết quả được trình bày như sau:
1 Kết quả khảo sát tỷ lệ nhiễm virus dịch tả heo ở các cơ sở xây dựng an toàn dịch
Bằng cách sử dụng bộ kit SERELISA® HCV Ag kit – Synbiotics (Pháp) để xét nghiệm tìm kháng nguyên p125 trên 1264 mẫu huyết thanh heo ở 17 cơ sở xây dựng an toàn dịch, chúng tôi thu được kết quả là không có trường hợp nào nhiễm virus DTH được ghi nhận với tỷ lệ dương tính là 0 %
2 Kết quả khảo sát tỷ lệ huyết thanh có kháng thể sau tiêm phòng bệnh dịch tả heo
Bằng cách sử dụng bộ kit PrioCHECK® CSFV Ab (Hà Lan) để xét nghiệm tìm kháng thể kháng gp55 của virus DTH, kết quả các chỉ tiêu khảo sát được ghi nhận như sau:
Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể sau tiêm phòng bệnh dịch tả heo chung là 93,43 %
Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể sau tiêm phòng bệnh dịch tả heo theo nhóm heo: heo nái (95,67 %), heo nọc (92,19 %), heo hậu bị (79,66 %)
Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể sau tiêm phòng bệnh dịch tả heo theo qui mô: dưới 1000 con (91,41 %), 1000 – 2000 con (94,11 %), trên 2000 con (93,96 %)
Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể sau tiêm phòng bệnh dịch tả heo theo loại hình chăn nuôi : công nghiệp (94,04 %), bán công nghiệp (91,41 %)
Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể sau tiêm phòng bệnh dịch tả heo theo thời hạn sau tiêm phòng: 1 tháng (94,31 %), 2 tháng (89,22 %), 3 tháng (97,78 %), 4 tháng (94,40 %), 5 tháng (98,41 %), 6 tháng (100 %)
Trang 6MỤC LỤC
TRANG
Trang tựa i
Phiếu xác nhận của giáo viên hướng dẫn ii
Lời cảm tạ iii
Tóm tắt iv
Mục lục vi
Danh mục các chữ viết tắt x
Danh mục các bảng xi
Danh mục các hình xii
Danh mục các sơ đồ xii
Danh mục các biểu đồ xiii
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích – Yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Lịch sử nghiên cứu bệnh DTH 3
2.1.1 Trên thế giới 3
2.1.2 Tại Việt Nam 3
2.2 Đặc điểm sinh học của virus DTH 4
2.2.1 Phân Loại 4
2.2.2 Đặc điểm hình thái và cấu tạo 4
2.2.3 Sức đề kháng 6
2.2.4 Đặc điểm nuôi cấy 6
2.2.5 Tính chất kháng nguyên 7
Trang 72.2.6 Tính sinh miễn dịch 7
2.3 Dịch tễ học 8
2.3.1 Địa dư bệnh lý 8
2.3.2 Phân bố mùa vụ 9
2.3.3 Loài vật mắc bệnh 9
2.3.4 Chất chứa mầm bệnh 9
2.3.5 Đường xâm nhập 10
2.3.6 Cơ chế sinh bệnh 10
2.3.7 Con đường truyền lây 10
2.4 Triệu chứng bệnh DTH 11
2.4.1 Thể quá cấp tính 11
2.4.2 Thể cấp tính 11
2.4.3 Thể mãn tính 11
2.4.4 Thể không điển hình 12
2.5 Bệnh tích 12
2.5.1 Bệnh tích đại thể 12
2.5.2 Bệnh tích vi thể 14
2.6 Chẩn đoán bệnh DTH 14
2.6.1 Chẩn đoán lâm sàng 14
2.6.2 Chẩn đoán phòng thí nghiệm 14
2.7 Phòng bệnh 17
2.7.1 Vệ sinh phòng bệnh 17
2.7.2 Phòng bệnh bằng vaccine 17
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Thời gian và địa điểm 19
3.1.1 Thời gian 19
3.1.2 Địa điểm 19
3.2 Nội dung nghiên cứu 19
3.2.1 Nội dung 1 19
Trang 83.2.2 Nội dung 2 19
3.3 Vật liệu thí nghiệm 20
3.3.1 Đối tượng khảo sát 20
3.3.2 Thiết bị và dụng cụ thí nghiệm 20
3.3.3 Hóa chất 20
3.3.4 Thành phần các bộ KIT xét nghiệm 20
3.4 Phương pháp nghiên cứu 22
3.4.1 Phương pháp lấy mẫu 22
3.4.2 Phương pháp thực hiện kỹ thuật ELISA 24
3.4.3 Công thức tính 32
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 32
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Kết quả khảo sát tỷ lệ nhiễm virus DTH tại các cơ sở xây dựng ATD 33
4.2 Kết quả khảo sát tỷ lệ huyết thanh có kháng thể sau tiêm phòng bệnh DTH 34 4.2.1 Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể sau tiêm phòng bệnh DTH theo cơ sở chăn nuôi 34
4.2.2 Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể sau tiêm phòng bệnh DTH theo nhóm heo 36
4.2.3 Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể sau tiêm phòng bệnh DTH theo qui mô chăn nuôi 37
4.2.4 Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể sau tiêm phòng bệnh DTH theo loại hình chăn nuôi 39
4.2.5 Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể sau tiêm phòng bệnh DTH theo thời hạn sau tiêm phòng 40
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43
5.1 Kết luận 43
5.2 Đề nghị 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
PHỤ LỤC 47
Trang 9CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DTH Dịch tả heo
RT – PCR Reverse transcriptase polimerase chain
reaction
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
TRANG
Bảng 3.1 Bố trí lấy mẫu huyết thanh cho xét nghiệm 23 Bảng 4.1 Tỷ lệ nhiễm virus DTH tại 17 cơ sở xây dựng ATD 33 Bảng 4.2 Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể sau tiêm phòng bệnh DTH theo cơ sở chăn nuôi 35 Bảng 4.3 Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể sau tiêm phòng bệnh DTH theo nhóm heo 36 Bảng 4.4 Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể sau tiêm phòng bệnh DTH theo qui mô chăn nuôi 38 Bảng 4.5 Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể sau tiêm phòng bệnh DTH theo loại hình chăn nuôi 39 Bảng 4.6 Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể sau tiêm phòng theo thời hạn tiêm phòng 41
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
TRANG
Hình 2.1 Mô hình cấu tạo virus DTH 5
Hình 2.2 Cấu tạo bộ gen của virus DTH 5
Hình 2.3 Bệnh tích đại thể bệnh DTH 13
Hình 3.1 Máy đọc ELISA 20
Hình 3.2 Bộ kit SERELISA® HCV Ag kit – Synbiotics, Pháp 21
Hình 3.3 Bộ kit PrioCHECK® CSFV Ab kit, Hà Lan 21
Hình 3.4 Kỹ thuật ELISA sandwich 24
Hình 3.5 Thao tác thực hiện kỹ thuật ELISA tìm kháng nguyên p125 của virus DTH 25
Hình 3.6 Đĩa ELISA trong xét nghiệm tìm kháng nguyên DTH 27
Hình 3.7 Kỹ thuật ELISA cạnh tranh 29
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ TRANG Sơ đồ 3.1 Tóm tắt quy trình thực hiện kỹ thuật ELISA tìm kháng nguyên DTH 26
Sơ đồ 3.2 Vị trí phân bố mẫu huyết thanh trên đĩa ELISA tìm kháng nguyên DTH 27
Sơ đồ 3.3 Tóm tắt quy trình thực hiện kỹ thuật ELISA tìm kháng thể 30
Sơ đồ 3.4 Vị trí phân bố mẫu huyết thanh trên đĩa ELISA tìm kháng thể kháng virus DTH 31
Trang 12DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
TRANG
Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể sau tiêm phòng bệnh DTH theo nhóm heo 37 Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể sau tiêm phòng bệnh DTH theo qui mô chăn nuôi 38 Biểu đồ 4.3 Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể sau tiêm phòng bệnh DTH theo loại hình chăn nuôi 40 Biểu đồ 4.4 Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể sau tiêm phòng theo thời hạn sau tiêm
phòng 41
Trang 13Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam vốn là một nước nông nghiệp với chăn nuôi và trồng trọt là chủ đạo Ngày nay, cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội, ngành chăn nuôi, cụ thể
là chăn nuôi heo đang có những bước tiến vượt bậc Qui mô được mở rộng, năng suất tăng cao và chất lượng cũng được chú trọng hơn
Tuy nhiên, một điều tất yếu là khi chăn nuôi nhiều sẽ kéo theo nhiều bệnh tật
Cụ thể là tình hình dịch bệnh trên đàn heo ở nước ta đang có những chuyển biến phức tạp và nguy hiểm Một trong những bệnh nguy hiểm đó có thể kể đến dịch tả heo (Hog Cholera, Classical Swine Fever), đây là một bệnh có tính chất dịch tể nguy hiểm, diễn tiến phức tạp, gây nhiều tổn thất cho ngành chăn nuôi heo của nước
ta cũng như nhiều quốc gia trên thế giới
Bệnh dịch tả heo (DTH) với đặc điểm gây bại huyết, xuất huyết và hoại tử ở nhiều cơ quan nhất là đường tiêu hóa, thường ghép với các cảm nhiễm phụ của một
số vi khuẩn như Pasteurella, Salmonella, … xảy ra dưới các thể cấp tính, bán cấp
tính, điển hình hay không điển hình, … lây lan rất nhanh, làm giảm khả năng sản xuất của thú gây nhiều thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi Vì vậy, việc xây dựng các chương trình quản lý, kiểm soát tiêm phòng, giám sát sau tiêm phòng đối với bệnh DTH là một việc làm hết sức cấp thiết
Được sự chấp thuận của bộ môn Bệnh Lý – Ký Sinh, khoa Chăn Nuôi – Thú Y trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh và Trạm Chẩn Đoán – Xét Nghiệm và Điều Trị thuộc Chi Cục Thú Y Tp Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Văn Khanh cùng ThS Huỳnh Thị Thu Hương, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
Trang 14“Khảo sát tỷ lệ nhiễm virus dịch tả heo và huyết thanh có kháng thể sau tiêm phòng ở các cơ sở xây dựng an toàn dịch tại Thành Phố Hồ Chí Minh” 1.2 Mục đích – yêu cầu
Áp dụng kỹ thuật ELISA phát hiện kháng thể kháng protein gp55 để khảo sát
tỷ lệ huyết thanh có kháng thể sau tiêm phòng vaccine dịch tả heo tại 4 quận, huyện: huyện Củ Chi, huyện Hóc Môn, quận 9, quận Thủ Đức thuộc Tp.HCM
Trang 15Chương 2 TỔNG QUAN 2.1 Lịch sử nghiên cứu bệnh DTH
2.1.1 Trên thế giới
Năm 1810, một bệnh giống như bệnh DTH xuất hiện ở bang Tennessee được
mô tả bởi Dahle (trích dẫn Bùi Quang Anh, 2001) Đến năm 1830, bệnh DTH mới được báo cáo đầu tiên ở bang Ohio (Hoa Kỳ) sau đó tại nhiều quốc gia khác Đến năm 1885, Salmon va Smith cho rằng căn bệnh là do vi khuẩn, đây là sự nhầm lẫn Mãi đến năm 1903, Dorset và Schweinitz mới khẳng định bệnh là do virus gây ra
Từ năm 1962 – 1976, Mỹ thực hiện chương trình thanh toán bệnh DTH với tổng chi phí lên đến 140 triệu đô la, và ngày nay bệnh đã không còn xuất hiện ở nước này (Van Oirschot, 1999; trích dẫn Nguyễn Tiến Dũng, 2011)
Ở Châu Âu bệnh DTH lại xuất hiện vào tháng 1 và tháng 9 năm 1999 do Hungari nhập heo bất hợp pháp (Nguyễn Ngọc Tuân, 2002) Gần đây nhất là ngày 08/08/2000 trận dịch DTH xảy ra nghiêm trọng ở Anh phải giết hủy 12.000 heo, gây thiệt hại kinh tế đáng kể
Từ năm 2002 – 2003 bệnh DTH đã bùng phát trên 65 trại heo ở Hàn Quốc Trong 3 năm (2005 - 2007) trên thế giới có 19 quốc gia báo cáo bệnh DTH với 132 ổ dịch, trong đó có 3.273 heo mắc bệnh và 36.165 heo tiêu hủy (OIE, 2007) Từ năm 2008 đến nay bệnh DTH vẫn xảy ra trên nhiều quốc gia
2.1.2 Tại Việt Nam
Theo Đào Trọng Đạt và Trần Thị Tố Liên (1989), bệnh DTH được phát hiện đầu tiên vào năm 1923 – 1924 bởi Houdemer Năm 1986 có 481 ổ dịch DTH, năm
1974 các ổ DTH xảy ra từ Thanh Hóa dọc theo quốc lộ 1 vào tới Quảng Trị đã giết chết hơn 400.000 heo Đặc biệt năm 1978 các ổ DTH ở miền Tây Nam Bộ đã giết hơn 15.000 heo
Trang 16Ở miền Nam vào năm 1973, bệnh xảy ra ở 11 trại heo xung quanh Sài Gòn Năm 1981 bệnh xảy ra tại 15 tỉnh Nam Bộ gây chết 145.078 heo (Đào Trọng Đạt và Trần Thị Tố Liên, 1989)
Ở đồng bằng sông Cửu Long trong vòng 3 năm (1999 - 2001) đã có 30.281 heo ở 8 tỉnh trong vùng mắc bệnh gây chết và loại thải 22.004 con (Hồ Thị Việt Thu, 2002; trích dẫn Nguyễn Tiến Dũng, 2011)
Bên cạnh các ổ dịch lớn, vẫn xuất hiện nhiều ổ dịch lẻ tẻ nhưng kéo dài triền miên tại các trại có quy nhỏ, hộ gia đình Bệnh thường xảy ra ở thể không điển hình, tình trạng nhiễm trùng ở mức độ cao thấp khác nhau Đây chính là nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả tiêm phòng, làm giảm năng suất chăn nuôi, gây thiệt hại lớn về kinh tế
Theo Cục Thú Y, những năm gần đây tuy bệnh DTH không nổ ra những ổ dịch lớn và gây thiệt hại như những năm trước, nhưng bệnh vẫn là mối đe dọa lớn đối với ngành chăn nuôi heo Năm 2005 cả nước có 9.773 ổ dịch (Nguyễn Thu Hà, 2008)
2.2 Đặc điểm sinh học của virus DTH
2.2.1 Phân Loại
Virus DTH được xếp vào:
Họ Flaviviridae
Giống Pestivirus
Loài Hog cholera virus (HCV)
Trong giống Pestivirus còn có virus gây bệnh tiêu chảy ở bò (Bovine viral
diarrhea virus - BVDV) và virus gây bệnh Border ở cừu (Border disease virus - BDV) (Trần Thanh Phong, 1996)
2.2.2 Đặc điểm hình thái và cấu tạo
2.2.2.1 Đặc điểm hình thái
Trang 17Virus DTH có hệ gen RNA chuỗi đơn, mạch dương, dài khoảng 12,3 kb, có
vỏ bọc, hình cầu với đường kính 40 – 50 nm, đối xứng 20 mặt, khối lượng phân tử khoảng 60.106 Da
Hình 2.1 Mô hình cấu tạo virus DTH
Nguồn: vet.uga.edu/vpp/archives/ivm/ENG/CSF/csf02.php
2.2.2.2 Cấu tạo bộ gen
Hệ gen của virus DTH bao gồm một vùng không mã hóa (Noncoding region
- NCR) ở đầu 5’ dài khoảng 0,4 kb và một vùng không mã hóa ở đầu 3’ chứa hơn 0,2 kb Virus DTH có 4 loại protein cấu trúc là C (p14), E0 (gp44/48), E1 (gp33) và E2 (gp55) và 7 loại protein không cấu trúc là p7, NS2, NS3, p125, NS4A, NS4B, NS5A và NS5B Glycoprotein E2 nằm trên vỏ bọc chính của virus DTH cũng là đích cho các kháng thể trung hòa virus (Meyers và Thiel, 1996; trích dẫn Phạm Phong Vũ, 2005)
Hình 2.2 Cấu tạo bộ gen của virus DTH
Nguồn: jvi.asm.org/content/72/6/5318/F1.expansion.html
Trang 182.2.3 Sức đề kháng
Theo Van Oirschot (1999; trích dẫn Phan Thị Kim Biểu, 2008), sự ổn định của virus DTH phụ thuộc vào chất chứa virus Trong môi trường nuôi cấy tế bào, virus DTH bị vô hoạt ở 600C trong 10 phút, trong máu đã khử fibrin thì virus không
bị vô hoạt ở 800C trong 30 phút Virus khá ổn định ở pH 5 – 10, ổn định nhất ở pH 8,0 (Wengler và ctv, 1995; trích dẫn Nguyễn Văn Hân, 2002)
Dưới tác động của những dung môi hòa tan lipid như eter, chlorofrom, deoxycholate,… virus bị bất hoạt nhanh chóng (Van Oirschot, 1999; trích dẫn Phạm Thị Tuyết Sương, 2006)
Các chất sát trùng thông thường tiêu diệt virus chậm (chlorua vôi 20 % trong
1 giờ mới tiêu diệt được virus) Chất sát trùng thường dùng là xút 2 % tiêu diệt virus trong 2 giờ, để tiêu diệt diện rộng có thể dùng sữa vôi 5 – 10% (Nguyễn Lương, 1997; trích dẫn Phan Thị Kim Biểu, 2008)
Trong chuồng nuôi, virus tồn tại trong vài ngày
Trong nước phân heo, virus tồn tại trong 2 tuần ở 200C, hoặc hơn 6 tuần ở
40C (Haas và ctv; trích dẫn Lê Minh Trí, 2004)
2.2.4 Đặc điểm nuôi cấy
Trong thực nghiệm khi gây bệnh cho những động vật khác nhau thì sự thích nghi của virus thường làm thay đổi tính gây bệnh đối với heo Thỏ là động vật được chú ý nhất và đặc biệt từ đó tạo ra những vaccine giảm độc (Stadejek, 1994; trích dẫn Lê Minh Trí, 2004)
Trên môi trường nuôi cấy tế bào: virus nhân có thể nhân lên trên một số tế bào nhưng đặc biệt là tế bào nguyên thủy từ thận heo hay những dòng tế bào như PK15 (Pig Kidney) hay dòng RP (Rein De Porc) (Trần Thanh Phong, 1996)
Virus DTH không gây bệnh tích tế bào CPE (Cyto Pathogenic Effect) trên tế bào nuôi cấy Thế hệ virus đầu tiên được giải phóng ra khỏi tế bào khoảng 5 – 6 giờ sau khi nhiễm Trong môi trường nuôi cấy, virus có thể xâm nhập trực tiếp từ tế bào này sang tế bào khác thông qua cầu nối nguyên sinh chất Virus trưởng thành bên
Trang 19trong màng tế bào chất, do đó không thể phát hiện kháng nguyên virus trên bề mặt
tế bào bị nhiễm (Van Oirschot, 1999; trích dẫn Lê Minh Trí, 2004)
Việc nuôi cấy tế bào cho phép phân lập virus, định chủng virus vaccine, sản xuất vaccine, định giá hiệu giá kháng thể (Trần Thanh Phong, 1996)
2.2.5 Tính chất kháng nguyên
Sự khác biệt giữa virus DTH với các virus khác trong cùng giống Pestivirus
(BVDV, BDV) hầu như ở protein E2, bởi vì hầu hết kháng thể đơn dòng (Mab: Monoclonal antibody) phân biệt virus DTH với các virus khác trực tiếp bằng cách gắn với protein E2 (Paton, 1995; trích dẫn Phạm Thị Tuyết Sương, 2006)
Trần Thanh Phong (1996), cho rằng virus DTH chỉ có một type kháng nguyên duy nhất Tuy nhiên, virus DTH có nhiều chủng độc lực rất biến đổi Những chủng độc lực cao gây bệnh cấp tính và tỷ lệ chết cao trong khi những chủng độc lực trung bình gây bệnh thể bán cấp tính hoặc mãn tính Sự nhiễm virus DTH độc lực thấp gây bệnh nhẹ hoặc bệnh không có triệu chứng lâm sàng, hoặc có thể gây chết thai và heo con sơ sinh (Van Oirschot, 1999; trích dẫn Lê Minh Trí, 2004)
Theo Dunne (1975; trích dẫn Nguyễn Văn Hân, 2002) tính độc lực của virus thì thay đổi, tính độc lực gia tăng sau một hoặc nhiều lần tiêm truyền qua heo hoặc ngày nay người ta sử dụng các phương pháp là giảm độc lực của virus bằng cách tiêm truyền qua thỏ và thu được một số chủng nhược độc có thể sử dụng làm vaccine như virus DTH chủng C, chủng IEFA
Ngày nay, bằng kỹ thuật công nghệ sinh học, người ta phát hiện những protein quan trọng của virus DTH, đó là những glycoprotein ở vỏ bọc như gp55 kDa, gp44/48 kDa và gp14 kDa,… Việc hiểu biết rõ về hệ gen của virus cho phép
phân biệt những virus khác nhau trong giống Pestivirus Một số vaccine thế hệ mới
ra đời với vectơ Vacciniavirus mang protein p23, gp55 và gp33 cho sự phòng vệ tốt (Trần Thanh Phong, 1996)
2.2.6 Tính sinh miễn dịch
Điều rõ ràng từ lâu là heo nhiễm virus DTH sau khi khỏi bệnh sẽ có miễn dịch chống lại sự tái nhiễm hay nói đúng hơn là sẽ không mắc bệnh lại một lần nữa
Trang 20Cần chú ý ở đây là cụm từ “không mắc bệnh lại” chỉ được hiểu là không phát bệnh lâm sàng nữa (Nguyễn Tiến Dũng, 2002)
Miễn dịch xuất hiện trên heo khỏi bệnh DTH thì dài và chắc chắn (dựa trên hiện diện của kháng thể trung hòa) Tuy nhiên những chủng virus DTH mãn tính hay cận lâm sàng có tính sinh miễn dịch yếu (Trần Thanh Phong, 1996)
Theo Terpstra (1977; trích dẫn Nguyễn Tiến Dũng, 2011), heo nái được tiêm phòng sẽ truyền kháng thể cho heo con qua sữa đầu trong 36 – 48 giờ đầu, hệ thống tiêu hóa của heo con sẽ hấp thu globulin miễn dịch để chuyển trực tiếp vào máu nhằm bảo vệ heo con ở 2 tháng đầu, và kháng thể này tồn tại trên 7 tuần
Heo nái sau khi tiêm phòng DTH sẽ có kháng thể, kháng thể này sẽ được truyền sang heo con qua sữa đầu để bảo vệ cho đàn con khỏi mắc bệnh Tuy nhiên, hàm lượng kháng thể này không đồng đều giữa các nái được tiêm phòng đầy đủ và dày đặc (Nguyễn Tiến Dũng, 2002) Hàm lượng kháng thể trong huyết thanh của heo mẹ lúc 2 ngày sau khi đẻ và lượng kháng thể thụ động trên heo con 2 ngày tuổi tương đương nhau (Nguyễn Thị Thu Hồng, 2003) Tuy nhiên lượng kháng thể thụ động truyền sang cho heo con không đồng đều và rất biến động ngay cả ở những heo trong cùng một lứa (Nguyễn Tiến Dũng, 2002) Điều đó gây khó khăn trong việc tiêu diệt bệnh DTH trong một trại
2.3 Dịch tễ học
2.3.1 Địa dư bệnh lý
Theo Van Oirschot (1999; trích dẫn Lê Minh Trí, 2004), bệnh DTH lưu hành
ở Đông và Đông Nam Châu Á, tiểu lục địa Ấn Độ, Trung Quốc, Đông Phi, Trung Phi, hầu hết Nam và Trung Mỹ Một số quốc gia đã tiêu diệt được bệnh như: Úc, Bỉ, Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Anh, Ireland, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ
Tại Việt Nam, bệnh DTH hàng năm xảy ra lẻ tẻ hầu như khắp cả nước, do thời tiết và biến động của đàn heo trong năm nên bệnh có lúc tăng lúc giảm, không
có nơi nào an toàn dịch tuyệt đối và ở một vài vùng giống (nơi nuôi sinh sản) con mang trùng có ở chính ngay trong những heo nái được tiêm phòng bệnh (Đào Trọng Đạt và Trần Thị Tố Liên, 1989)
Trang 212.3.2 Loài vật mắc bệnh
Theo Trần Thanh Phong (1996), loài vật mắc bệnh là heo (nhà, rừng) mọi lứa tuổi, bất kể mùa vụ Tuy nhiên, heo con nhạy cảm hơn heo lớn nhất là với những chủng độc lực yếu; dòng heo cao sản, tuyển lựa,… nhạy cảm hơn những dòng heo bản xứ; những heo 5 – 35 kg thường nhạy cảm nhất và mắc thể cấp tính; heo nái thường là “ổ chứa” virus
Động vật thí nghiệm: cừu, chuột, chuột lang, khỉ cảm nhiễm thường ở thể tiềm ẩn Đối với thỏ người ta đã giảm độc virus DTH bằng cách cấy liên tiếp đời
150 lần để được virus nhược độc làm vaccine (Trần Thanh Phong, 1996)
Sau khi nhiễm 4 – 7 ngày, virus hiện diện nhiều nhất trong hạch hầu, lách, máu (Ressang, 1973; trích dẫn Phan Đỗ Huỳnh Chi, 2002)
Theo Nguyễn Tiến Dũng (2002), virus DTH vẫn có thể tiếp tục tồn tại trong
cơ thể ký chủ sau khi đã gây bệnh và tạo ra miễn dịch Nói cách khác, mặc dù đã có
Trang 22miễn dịch bằng tiêm phòng heo vẫn có khả năng bị nhiễm và bài thải virus DTH ra môi trường xung quanh, sự bài thải này qua con đường tự nhiên hoặc qua thịt con vật sau khi giết mổ
2.3.5 Đường xâm nhập
Theo Trần Thanh Phong (1996), virus DTH xâm nhập chủ yếu qua đường tiêu hóa, ngoài ra có thể theo đường hô hấp, đường sinh dục hay qua da bị tổn thương
Bệnh truyền qua tinh dịch từ những heo đực giống hoặc có thể truyền qua nhau thai gây rối loạn sinh sản (Nguyễn Tiến Dũng, 2011)
Sau 5 – 6 ngày nhiễm, nhiễm trùng huyết lần thứ 2 xảy ra Đây là thời điểm xuất hiện các triệu chứng, số lượng virus sẽ đạt tối đa trong máu vào ngày thứ 7 Sự suy yếu hệ thống miễn dịch tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn khác xâm nhập Ngoài ra virus còn có thể tồn tại bên trong bạch cầu và đại thực bào để “trốn tránh” kháng thể gây sự cảm nhiễm dai dẳng (Trần Thanh Phong, 1996)
2.3.7 Con đường truyền lây
Theo Trần Thanh Phong (1996), bệnh DTH có hai phương thức truyền lây chính là: phương thức truyền lây trực tiếp và phương thức truyền lây gián tiếp
Phương thức truyền lây trực tiếp qua con đường xâm nhập chính là mũi, miệng, nuôi nhốt chung, chuyên chở Ngoài ra virus có thể truyền qua nhau thai, tinh dịch và da bị tổn thương
Trang 23Phương thức truyền lây gián tiếp qua thức ăn, dụng cụ chăn nuôi, con người, chất bài tiết (phân, nước tiểu bị nhiễm), phương tiện vận chuyển,… heo nuôi thả rông có nhiều nguy cơ tiếp xúc với heo bệnh hoặc các sản phẩm thịt có chứa virus
Một phương thức truyền lây nữa cũng rất quan trọng đó là sự lây truyền virus qua kim tiêm trong quá trình tiêm phòng và điều trị bệnh cho gia súc do thú y viên tiến hành (Nguyễn Tiến Dũng, 2002)
2.4 Triệu chứng bệnh DTH
Theo Moenning và ctv (2003; trích dẫn Phan Thị Kim Biểu, 2008), thời kỳ ủ bệnh trên mỗi heo biến thiên khoảng 7 – 10 ngày Trong tự nhiên triệu chứng của bệnh DTH có thể biểu hiện trong 2 – 4 tuần sau khi virus xâm nhập hoặc cũng có khi trễ hơn (Laeven và ctv, 1999; trích dẫn Lê Minh Trí, 2004)
Ngoài ra, tùy theo độc lực của virus và phản ứng của cơ thể mà bệnh DTH có các thể lâm sàng như: thể quá cấp tính, thể cấp tính, thể mãn tính và thể không điển hình (Trần Thanh Phong, 1996)
2.4.1 Thể quá cấp tính
Heo sốt cao đột ngột (40 – 410C), các vùng da mỏng đỏ ửng, chưa kịp xuất huyết trên da nên được gọi là “dịch tả trắng” Heo chết nhanh sau 24 – 48 giờ (Trần Thanh Phong, 1996)
2.4.2 Thể cấp tính
Triệu chứng đầu tiên là sốt cao từ 40 – 41,50C liên tục trong 3 – 4 ngày, ủ rũ, kém ăn, táo bón, khó thở, khát nước, viêm kết mạc mắt (nhiều ghèn, dính mí mắt) Ngày 4 – 8 trên da heo bệnh có xuất hiện những nốt xuất huyết ở những vùng da mỏng (mặt trong đùi, bụng, 4 chân, mõm, tai)
2.4.3 Thể mãn tính
Theo Mengeling và Packer (1969; trích dẫn Nguyễn Văn Hân, 2002), thể mãn tính của bệnh DTH do nhiễm các chủng virus có độc lực vừa và yếu Việc kéo dài sự tồn tại của virus DTH trên ký chủ có thể xảy ra các triệu chứng lâm sàng
Trang 24khác nhau, có 3 giai đoạn của bệnh DTH dựa trên các triệu chứng lâm sàng quan sát được:
Giai đoạn thứ nhất (giai đoạn cấp tính): heo suy nhược, mệt nhọc, bỏ ăn, thân nhiệt tăng lên, bạch cầu giảm
Giai đoạn thứ hai (giai đoạn hồi phục): sau một vài tuần trạng thái chung của heo được cải thiện và thân nhiệt giảm về mức bình thường hoặc cao hơn một ít, heo
ăn uống bình thường trở lại, bạch cầu vẫn tiếp tục giảm
Giai đoạn thứ ba: heo trở lại mệt nhọc, bỏ ăn, thân nhiệt lại tăng một thời gian ngắn trước khi chết
Bệnh kéo dài với các biểu hiện: gầy yếu, lúc táo bón lúc tiêu chảy, thở khó, trên da có những vết đỏ và có hoại tử lổ tai Thú chết trong 30 – 95 ngày từ lúc bắt đầu bệnh (Trần Thanh Phong, 1996)
Theo Nguyễn Tiến Dũng (2002), thể bệnh không điển hình có hai dạng:
- Dạng thứ nhất: gây rối loạn sinh sản như: sẩy thai, thai chết hoặc hóa gỗ, dị dạng, heo con sinh ra run rẩy, liệt, chết sớm hoặc heo con dung nạp miễn dịch (thường chết vào khoảng 3 – 4 tuần tuổi)
- Dạng thứ hai: heo con mang trùng và thường phát bệnh vào khoảng 1 – 2 tháng tuổi
2.5 Bệnh tích
2.5.1 Bệnh tích đại thể
Theo Trần Thanh Phong (1996), bệnh tích đặc trưng của bệnh DTH là xuất huyết điểm ở thận, phủ tạng, bàng quang và da; lách nhồi huyết ở rìa; loét amidan,
Trang 25cuống lưỡi, xuất huyết amidan; các hạch ruột sưng và xuất huyết có khi tụ huyết tạo màu đỏ xen với màu trắng của ruột có hình ảnh giống đá hoa vân; loét ở van hồi manh tràng (phần nối giữa ruột già và ruột non có các đám loét hình tròn nhỏ như nút áo)
Tuy nhiên, các bệnh tích trên không phải lúc nào cũng xuất hiện hoặc không xuất hiện cùng một lúc trên một heo bệnh Do đó, việc khám phải được thực hiện trên nhiều heo bệnh trong cùng một ổ dịch (Nguyễn Tiến Dũng, 2002)
Hình 2.3 Bệnh tích đại thể bệnh DTH
A: Ruột có vết loét hình nút áo B: Thận có xuất huyết điểm C: Xuất huyết điểm ở niêm mạc bàng quang D: Nhồi máu dọc rìa lách Nguồn: authorstream.com/Presentation/anhnongdan-1093148-benh-dich-ta-heo-nxpowerlite/
Trang 262.5.2 Bệnh tích vi thể
Bệnh tích căn bản là sự thoái hóa và hư hoại những tế bào nội mô mạch máu dẫn đến sự tắc mạch Viêm màng não không có mủ do sưng và thoái hóa các tế bào nội mạc làm nghẽn mạch (Trần Thanh Phong, 1996)
2.6 Chẩn đoán bệnh DTH
2.6.1 Chẩn đoán lâm sàng
Theo Trần Thanh Phong (1996), cần chẩn đoán phân biệt bệnh DTH với một
số bệnh có biểu hiện tương tự như sau:
Phân biệt với bệnh DTH Châu Phi với các đặc điểm như: căn bệnh do một
DNA virus thuộc họ Iridoviridae, kích thước 200 – 220 nm, truyền qua trung gian
loài tiết túc Bệnh tích của bệnh DTH Châu Phi: lách sưng to, thủy thủng thành túi mật, các hạch lâm ba xuất huyết rất mạnh mẽ
Với biểu hiện “đỏ” trên da cần phân biệt với các bệnh do Salmonella
cholerae suis, bệnh đóng dấu, bệnh tụ huyết trùng,…
Với biểu hiện “rối loạn tiêu hóa” cần phân biệt với các bệnh như: viêm dạ
dày ruột truyền nhiễm, bệnh do Salmonella, bệnh nhiệt thán, viêm ruột xuất
huyết,…
Với biểu hiện “rối loạn sinh sản” cần phân biệt với các bệnh truyền nhiễm
khác như: bệnh dấu son, bệnh do Leptospira, bệnh do Parvovirus,…
Việc xác định bệnh sẽ thật khó nếu không có sự xác định của phòng thí nghiệm đặc biệt ở các thể bán cấp tính hoặc mãn tính (Trần Thị Bích Liên – Lê Anh Phụng, 2001)
2.6.2 Chẩn đoán phòng thí nghiệm
Các phương pháp chẩn đoán phòng thí nghiệm nhằm phát hiện virus (hoặc kháng nguyên virus) hay dựa trên việc phát hiện kháng thể đặc hiệu (Trần Thị Bích Liên – Lê Anh Phụng, 2001)
Trang 272.6.2.1 Phương pháp phân lập virus DTH
Virus DTH có thể được phân lập bằng cách cấy vào môi trường tế bào PK15 (Pig Kidney) với huyễn dịch 10 – 20 % gồm hạch hạnh nhân và lách từ heo có dấu hiệu nghi ngờ bệnh DTH (hạch lympho và máu kháng đông cũng có thể được dùng) Vì virus DTH không gây bệnh tích trên tế bào nhiễm, nên sự hiện diện của chúng trong tế bào nuôi cấy phải được phát hiện bằng kỹ thuật kháng thể huỳnh quang hoặc nhuộm miễn dịch peroxidase với các protein của virus trong tế bào này (Phạm Phong Vũ, 2005)
Mặc dù phương pháp phân lập virus là phương pháp chuẩn, rất nhạy và có thể phát hiện sự cảm nhiễm sớm, nhưng thời gian phân lập kéo dài (72 giờ hoặc hơn) do một số dòng virus DTH có tính lây nhiễm kém và phát triển có giới hạn trong tế bào nuôi cấy, đồng thời có sự yêu cầu cao về trang thiết bị và người thực hiện (Phạm Phong Vũ, 2005)
2.6.2.2 Phương pháp đếm số lượng bạch cầu
Trên heo 5 tuần tuổi mắc bệnh khoảng 6 ngày, số lượng bạch cầu giảm (< 10.000/mm3) là dấu hiệu sinh học tốt nhất để định hướng virus DTH (Trần Thanh Phong, 1996)
2.6.2.3 Phương pháp tiêm động vật thí nghiệm
Phương pháp này phát hiện virus DTH chính xác nhất khi tiêm truyền cho heo, nhưng cần nhiều thời gian và tốn kém (Pearson, 1992; trích dẫn Lê Minh Trí, 2004)
Phương pháp này chỉ sử dụng cho heo 3 – 4 tháng tuổi, khỏe mạnh, được kiểm tra không có kháng nguyên và kháng thể bệnh DTH Bệnh phẩm dùng để tiêm cho heo thường là máu, lách hay bệnh phẩm của heo nghi ngờ (Nguyễn Tiến Hà, 2001)
2.6.2.4 Phương pháp miễn dịch huỳnh quang (Immuno Fluorescent Test - IFT)
IFT là loại xét nghiệm nhanh chóng, có thể được sử dụng để phát hiện kháng nguyên virus DTH trong những lát cắt đông lạnh được nhuộm trực tiếp với kháng thể DTH có gắn chất Fluorescence isothiocyanate (FITC) hoặc gián tiếp bằng cách
Trang 28sử dụng conjugate FITC Trong trường hợp bệnh bán cấp tính hoặc mãn tính, hồi tràng thường cho kết quả dương tính và đôi khi có thể là cơ quan duy nhất hiển thị
sự phát huỳnh quang Kết quả IFT âm tính không có nghĩa hoàn toàn không có bệnh DTH Khi sự nghi ngờ bệnh DTH vẫn còn nên phân lập virus bằng cách nuôi cấy tế bào (OIE, 2000, 2002; trích dẫn Lê Minh Trí, 2004)
2.6.2.5 Phương pháp chẩn đoán sinh học phân tử
Kỹ thuật PCR (Polymerase Chain Reaction)
Kỹ thuật PCR được Karl Mullis và cộng sự phát minh vào năm 1985 Phương pháp này dựa trên nguyên tắc của một phản ứng sinh hóa: tổng hợp nhiều bản sao DNA từ trình tự DNA xác định nhờ enzyme (Võ Thị Tuyết, 2009; trích dẫn Nguyễn Tiến Dũng, 2011)
Kỹ thuật RT - PCR (Reverse Transcriptase Polymerase Chain Reaction)
Kỹ thuật này kết hợp phản ứng phiên mã ngược (reverse transcription) tổng hợp cDNA từ mẫu RNA với phản ứng khuếch đại DNA từ cDNA nhờ enzyme polymerase (polymerase chain reaction) (Nguyễn Tiến Dũng, 2011)
Kỹ thuật RT - PCR là một phương pháp chẩn đoán DTH có độ nhạy và độ đặc hiệu cao có thể so sánh bằng với phương pháp phân lập virus hay thậm chí còn cao hơn Tuy nhiên RT – PCR hiện nay chưa thích hợp với việc khảo sát một số lượng lớn mẫu (Nguyễn Tiến Hà, 2001)
2.6.2.6 Phương pháp xét nghiệm bệnh DTH bằng kỹ thuật ELISA
Kỹ thuật ELISA phát hiện kháng nguyên virus DTH
Kỹ thuật ELISA phát hiện protein không cấu trúc p125 có trong tất cả các chủng virus DTH; sử dụng kháng thể đơn dòng kháng p125 để phát hiện virus DTH, mật độ quang trong các giếng phản ứng sẽ chứng minh được sự có mặt của virus trong mẫu huyết tương, huyết thanh, bạch cầu, máu kháng đông hoặc chiết xuất từ
mô Kỹ thuật này có ưu điểm là kết quả nhanh, chính xác, kiểm tra được trên heo còn sống, tiện lợi khi xét nghiệm với số lượng mẫu lớn Bên cạnh đó, cũng có một
số hạn chế như kháng nguyên p125 không thể phân biệt với bệnh tiêu chảy do virus
ở bò (Nguyễn Tiến Dũng, 2011)
Trang 29Kỹ thuật ELISA phát hiện kháng thể
Theo OIE (2002; trích dẫn Phạm Phong Vũ, 2005), kỹ thuật ELISA phát hiện kháng thể kháng virus DTH được thực hiện để kiểm tra sự hiện diện của kháng thể kháng virus DTH trong quần thể với số lượng lớn huyết thanh Phương pháp này chủ yếu sử dụng hai kháng thể đơn dòng, mỗi kháng thể nhận diện một điểm tiếp nhận kháng nguyên khác nhau trên protein E2 (gp55) của virus DTH Kỹ thuật này
có kết quả dương tính giả cao (Nguyễn Tiến Dũng, 2011)
2.7 Phòng bệnh
2.7.1 Vệ sinh phòng bệnh
Theo điều 6, thông tư 04/2011/TT – BNNPTNT của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, người chăn nuôi phải thực hiện các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học như sau:
a) Vệ sinh, tiêu độc khử trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi thường xuyên: mùa hè hàng ngày cọ rửa chuồng, máng ăn, máng uống
b) Sau khi xuất bán heo, phải tổng tẩy uế, phun khử trùng tiêu độc chuồng trại, môi trường và để trống chuồng từ 5 - 7 ngày
c) Heo mới mua về phải nhốt riêng ít nhất 7 ngày để theo dõi lâm sàng cho đến khi chắc chắn heo không có bệnh mới được nhập nuôi chung với đàn heo cũ đang có
d) Chăm sóc nuôi dưỡng tốt, hạn chế khách tham quan
2.7.2 Phòng bệnh bằng vaccine
2.7.2.1 Vaccine chết
Trong kháng chiến chống Pháp, bác sĩ Phạm Văn Huyến và bác sĩ Nguyễn Vĩnh Phước đã sản xuất và sử dụng vaccine vô hoạt kết tinh tím [Crytal violet gồm:
80 % máu chứa virus (giai đoạn sốt) cộng với 20 % dung dịch Glycerin chứa 0,25
% Crytal violet, sau đó ủ 14 ngày ở nhiệt độ 370C] (Nguyễn Tiến Hà, 2001)
Khi dùng tiêm dưới da 5 cc cho heo nhỏ hơn 70 kg, 10 cc cho heo lớn hơn 70
kg hoặc tiêm trong da 1 cc/con Miễn dịch hình thành sau 3 tuần lễ và kéo dài khoảng 6 tháng (Trần Thanh Phong, 1996)
Trang 302.7.2.2 Vaccine nhược độc
Vaccine DTH nhược độc cấy truyền qua thỏ (300 – 500 lần) như chủng cổ điển Chủng nuôi cấy tế bào GPE Nhật Bản được làm giảm độc bằng cách truyền đời liên tiếp ở nhiệt độ thấp (- 300C) trên một hệ thống 3 loại tế bào: heo, bò, chuột lang Vaccine này tạo an toàn miễn dịch sớm và kéo dài khoảng 2 năm Chủng Thiverval là chủng giảm độc từ chủng virus độc lực Alfort trên tế bào thận heo sau
170 lần truyền đời ở nhiệt độ 29 – 300C Vaccine này được chứng minh là an toàn với heo nái và heo con xuất hiện kháng thể sớm và kéo dài vài năm (Bùi Quang Anh, 2001; trích dẫn Nguyễn Tiến Hà, 2001)
Theo khoản 3, điều 7, thông tư số 04/2011/TT – BNNPTNT của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, tiêm phòng bệnh DTH phải thực hiện như sau:
a) Đối với heo con sinh ra từ heo mẹ đã được tiêm phòng: tiêm cho heo con
từ 35 - 45 ngày tuổi;
b) Đối với heo con sinh ra từ heo mẹ chưa được tiêm phòng: Có thể tiêm cho heo con 7 ngày tuổi, sau 3 tuần sau tiêm nhắc lại hoặc tiêm cho heo con 14 ngày tuổi, sau 2 tuần sau tiêm nhắc lại;
c) Đối với heo nái mang thai: tiêm phòng trong thời gian mang thai từ 30 -
85 ngày mang thai;
Trang 31Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và địa điểm
3.1.1 Thời gian
Đề tài được thực hiện từ 01/02/2012 – 01/06/2012
3.1.2 Địa điểm
Địa điểm lấy mẫu: các cơ sở xây dựng ATD tại 4 quận, huyện gồm: huyện
Củ Chi, huyện Hóc Môn, quận Thủ Đức và quận 9 thuộc Tp Hồ Chí Minh
Địa điểm xét nghiệm mẫu: Trạm Chẩn Đoán - Xét Nghiệm và Điều Trị thuộc Chi Cục Thú Y Tp Hồ Chí Minh
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Nội dung 1
Khảo sát tỷ lệ nhiễm virus dịch tả heo tại các cơ sở xây dựng ATD
Các chỉ tiêu theo dõi
- Tỷ lệ nhiễm virus DTH theo cơ sở chăn nuôi
- Tỷ lệ nhiễm virus DTH trên heo nái, heo nọc và heo hậu bị
- Tỷ lệ nhiễm virus DTH theo qui mô chăn nuôi
- Tỷ lệ nhiễm virus DTH theo loại hình chăn nuôi
- Tỷ lệ nhiễm virus DTH theo thời hạn sau tiêm phòng
3.2.1 Nội dung 2
Khảo sát tỷ lệ huyết thanh có kháng thể sau tiêm phòng bệnh dịch tả heo tại các
cơ sở xây dựng ATD
Các chỉ tiêu theo dõi
- Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể sau tiêm phòng vaccine DTH theo cơ sở chăn nuôi
Trang 32- Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể sau tiêm phòng vaccine DTH trên heo nái, heo nọc và heo hậu bị
- Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể sau tiêm phòng vaccine DTH theo qui mô chăn nuôi
- Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể sau tiêm phòng vaccine DTH theo loại hình chăn nuôi
- Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể sau tiêm phòng vaccine DTH theo thời hạn sau tiêm phòng
3.3 Vật liệu thí nghiệm
3.3.1 Đối tượng khảo sát
Mẫu huyết thanh trên heo sinh sản (heo nái, heo nọc và heo hậu bị) sau khi tiêm phòng vaccine DTH tại một số cơ sở chăn nuôi ATD ở 4 quận, huyện là: huyện Củ Chi, huyện Hóc Môn, quận 9 và quận Thủ Đức thuộc TP.HCM
Số lượng mẫu là 1264 mẫu
3.3.2 Thiết bị và dụng cụ thí nghiệm
Thiết bị: tủ lạnh âm, tủ ấm, máy
ly tâm, máy rửa siêu âm, máy sấy khô,
máy đọc ELISA, …
Dụng cụ: ống tiêm, bông gòn,
kéo, bình trữ lạnh, khẩu trang, găng
tay, dụng cụ cố định, dây, ống đong
thủy tinh, vỉ nhựa 96 giếng,
Trang 333.3.4.1 Bộ KIT 1
SERELISA® HCV Ag kit –
Synbiotics (xét nghiệm DTH, tìm kháng
nguyên p125 của virus DTH Nguồn gốc
của bộ kit: Pháp) Bộ kit này gồm:
- Đĩa phản ứng 96 giếng, giếng
phủ kháng thể đơn dòng kháng HCV
(p125)
- 1 lọ conjugate (CJ): kháng
huyết thanh dê kháng kháng thể thỏ 10X
- 1 lọ dung dịch nước rửa 10X
- 1 lọ dung dịch dùng pha loãng conjugate và antiserum (CD)
- 1 lọ đối chứng dương
- 1 lọ dung dịch pha loãng mẫu SD (Blood sample diluent – SD)
- 1 lọ đối chứng âm
- 1 lọ dung dịch đệm peroxidase (Buffer peroxidase substrate – PS)
- 1 lọ kháng huyết thanh thỏ kháng HCV (p125) 10X (AS)
- 1 lọ dung dịch dừng phản ứng
3.3.4.2 Bộ KIT 2
PrioCHECK® CSFV Ab kit (nguồn gốc: Hà Lan), phát hiện kháng thể kháng virus DTH
Hình 3.3 Bộ kit PrioCHECK® CSFV Ab kit, Hà Lan
Hình 3.2 Bộ kit SERELISA® HCV Ag kit –
Synbiotics, Pháp
Trang 34Bộ kit này bao gồm
- Đĩa xét nghiệm 96 giếng
- 1 lọ nhỏ kháng nguyên đông khô
- 1 lọ conjugate đậm đặc
- 1 lọ huyết thanh đối chứng 1
- 1 lọ huyết thanh đối chứng 2
- 1 lọ huyết thanh đối chứng 3
- 1 lọ huyết thanh đối chứng 4
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp lấy mẫu
3.4.1.1 Phương pháp lấy mẫu và bảo quản
Sau khi cố định heo, sát trùng vị trí lấy mẫu bằng cồn 700, dùng ống tiêm
5 ml lấy máu 2 – 3 ml/con ở vị trí xoang tĩnh mạch cổ Máu được để đông tự nhiên trong Syring đặt nghiêng, kéo piston cho có khoảng trống để máu ra huyết thanh và tránh va lắc gây vỡ hồng cầu, trên mỗi mẫu có ghi ký hiệu để tránh nhầm lẫn Mẫu được bảo quản trong thùng đá khô và chuyển về phòng thí nghiệm Tại phòng thí nghiệm huyết thanh được tách chiết qua eppendorf, đem ly tâm 3000 vòng/phút (5 –
6 phút), sau đó đem chiết lần thứ hai, đem bảo quản Nếu mẫu xét nghiệm ngay (trong vòng vài giờ) thì bảo quản ở 2 – 80C, nếu mẫu trữ lâu thì bảo quản ở -700C
Trang 353.4.1.2 Bố trí lấy mẫu
Số lượng mẫu được ước lượng theo phần mềm Win Episcope 2.0 với tỉ lệ ước đoán lưu hành là 32 %, sai số 5 %, độ tin cậy 95 %
Mẫu được lấy ngẫu nhiên từ những cơ sở chăn nuôi heo
Bảng 3.1: Bố trí lấy mẫu huyết thanh cho xét nghiệm