Nhưng vấn đề gieo tinh nhân tạo và trọng lượng trứng của gà đẻ nuôi trên lồng chưa được nghiên cứu để phù hợp với quy trình ấp trứng, tỷ lệ ấp nở, chất lượng con giống.. Theo yêu cầu của
Trang 1BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
****************
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA TRỌNG LƯỢNG TRỨNG ĐẾN MỘT SỐ CHỈ TIÊU ẤP NỞ CỦA 2 DÒNG GÀ LƯƠNG PHƯỢNG KHI GIEO TINH NHÂN TẠO
Ở TRẠI GÀ GIỐNG VIGOVA
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN THỊ LÊ Lớp: DH07TY
Ngành: Thú Y Niên khóa: 2007 - 2012
Tháng 08/2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
*****************
NGUYỄN THỊ LÊ
KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA TRỌNG LƯỢNG TRỨNG ĐẾN MỘT SỐ CHỈ TIÊU ẤP NỞ CỦA 2 DÒNG GÀ LƯƠNG PHƯỢNG KHI GIEO TINH NHÂN TẠO
Ở TRẠI GÀ GIỐNG VIGOVA
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sỹ thú y
Giáo viên hướng dẫn
PGS TS LÂM MINH THUẬN
Tháng 08/2012
Trang 3PHIẾU XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên sinh viên thực hiện: NGUYỄN THỊ LÊ
Tên luận văn: “Khảo sát ảnh hưởng của trọng lượng trứng đến tỷ lệ ấp nở của 2 dòng gà Lương Phượng khi gieo tinh nhân tạo ở trại gà giống Vigova”
Đã hoàn thành luận văn theo yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến nhận xét của hội đồng chấm điểm báo cáo tốt nghiệp
Tp.HCM, ngày tháng 08 năm 2012
Giáo viên hướng dẫn
PGS.TS Lâm Minh Thuận
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tôi luôn nhận được sự quan tâm và chỉ dẫn tận tình của cô hướng dẫn Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới PGS.TS Lâm Minh Thuận đã hết lòng hướng dẫn, chỉ bảo, tạo mọi điều kiện tốt nhất giúp tôi hoàn thành đợt thực tập và luận văn tốt nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới ban giám hiệu nhà trường, khoa Chăn Nuôi Thú Y của trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành khóa học
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo của trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, thầy cô trong khoa Chăn Nuôi Thú Y đã truyền những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian tôi học tập tại trường
Tôi cảm ơn toàn thể cán bộ, công nhân viên của trại giống Vigova đã giúp đỡ
và chỉ dẫn tận tình để tôi hoàn thành đợt thực tập
Đồng thời,tôi cũng cảm ơn các anh chị trong khoa Chăn Nuôi Thú Y đã giúp tôi tìm tài liệu học tập, các bạn trong lớp DH07TY đã chia sẽ những khó khăn, buồn vui trong suốt thời gian qua
Cuối cùng tôi gửi lời biết ơn sâu sắc tới gia đình tôi, cha mẹ đã có công sinh thành và dưỡng dục tôi nên người, luôn động viên, sát cánh cùng tôi trên những quãng đường mà tôi đã đi qua
Chúc tất cả mọi người sức khỏe, hạnh phúc và thành công
Trang 5
TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Đề tài được thực hiện từ ngày 01/02/2012 đến ngày 30/04/2012, tại trại Vigova với nội dung “Khảo sát ảnh hưởng của trọng lượng trứng đến tỷ lệ ấp nở của 2 dòng gà Lương Phượng khi gieo tinh nhân tạo ở trại gà giống Vigova”
Chúng tôi tiến hành khảo sát qua 10 đợt ấp trứng gà giống Lương Phượng của 2 đàn dòng LSTP 30 tuần tuổi và dòng L271 43 tuần tuổi
Trứng gà 900 quả/đợt, mỗi đợt 6 khay, mỗi khay 150 quả Thí nghiệm được
bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên 1 yếu tố
Khảo sát các chỉ tiêu ấp nở của trứng gà
Qua 10 đợt ấp trứng chúng tôi thu được một số kết quả sau:
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Phiếu xác nhận của giáo viên hướng dẫn ii
Lời cảm tạ iii
Tóm tắt khóa luận iv
Mục lục v
Danh sách các chữ viết tắt viii
Danh sách bảng biểu ix
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Đặc điểm ngoại hình và năng suất của giống gà Lương Phượng 3
2.2 Đặc điểm cấu tạo và sinh lý sinh sản của gà mái 3
2.2.1 Buồng trứng 3
2.2.2 Ống dẫn trứng 4
2.2.3 Quá trình tạo và đẻ trứng 5
2.3 Cấu tạo của trứng 5
2.3.1 Vỏ trứng 5
2.3.2 Lòng trắng 6
2.3.3 Lòng đỏ 6
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thụ tinh 6
2.4.1 Nhiệt độ môi trường 6
2.4.2 Thời gian phối 7
2.5 Quy trình ấp trứng 7
2.5.1 Bảo quản trứng 7
2.5.2 Tiếp nhận và chọn trứng vào ấp 8
2.5.3 Sát trùng 8
Trang 72.5.4 Đưa trứng vào máy ấp 8
2.5.5 Soi trứng 9
2.5.6 Ra gà 10
2.5.7 Vệ sinh máy ấp 10
2.6 Nguyên lý hoạt động của máy ấp 10
2.7 Một số bệnh ở gà sau khi nở 11
2.7.1 Ấp trứng đã bảo quản lâu ngày 11
2.7.2 Bệnh chân, cánh ngắn (Micromelia) 11
2.7.3 Bệnh khoèo chân (Perosit) 11
2.7.4 Bệnh động kinh (Atexia) 12
2.7.5 Bệnh kết dính khi nở 12
2.8 Sự phát triển của phôi 12
2.9 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở 15
2.9.1 Chất lượng đàn gà giống 15
2.9.2 Trạng thái trứng ấp 15
2.9.3 Tỷ lệ trống mái 15
2.9.4 Ảnh hưởng của chuồng trại, thu nhặt vận chuyển và bảo quản trứng 15
2.9.5 Ảnh hưởng của chế độ ấp 16
2.9.5.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ 16
2.9.5.2 Ảnh hưởng của độ ẩm 16
2.9.5.3 Ảnh hưởng của độ thoáng không khí 16
2.9.5.4 Ảnh hưởng của đảo trứng 17
2.9.6 Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng 17
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Thời gian và địa điểm 18
3.1.1 Thời gian 18
3.1.2 Địa điểm 18
3.2 Đối tượng thí nghiệm 18
3.3 Nội dung nghiên cứu 18
3.4 Điều kiện thí nghiệm 18
3.4.1 Quy trình nuôi dưỡng 18
3.4.2 Quy trình ấp trứng 19
3.5 Phương pháp nghiên cứu 20
Trang 83.5.1 Bố trí thí nghiệm 20
3.5.2 Phương pháp tiến hành 20
2.4 Các chỉ tiêu theo dõi 21
2.5 Xử lý số liệu 21
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 22
4.1 Tỷ lệ trứng chọn ấp 22
4.2 Tỷ lệ trứng có phôi 23
4.3 Tỷ lệ trứng chết phôi 26
4.4 Tỷ lệ trứng sát 27
4.5 Tỷ lệ nở 29
4.6 Tỷ lệ gà con loại I 31
4.7 Trọng lượng gà con 33
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 37
5.1 Kết luận 37
5.2 Đề nghị 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
PHỤ LỤC 39
Trang 9SD: Standard deviation (độ lệch tiêu chuẩn)
CV: Coefficient of Variation (hệ số biến dị)
Trang 10DANH SÁCH BẢNG BIỂU
trang
Bảng 2.1 Bảng chế độ và thời gian bảo quản trứng giống 7
Bảng 3.1 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn Proconco theo nhãn bao bì 19
Bảng 3.2 Bảng bố trí thí nghiệm kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên 1 yếu tố 20
Bảng 4.1 Tỷ lệ trứng chọn ấp qua 10 đợt khảo sát (%) 22
Bảng 4.2 Bảng tham số thống kê về tỷ lệ trứng có phôi (%) 24
Bảng 4.3 Bảng tham số thống kê về tỷ lệ trứng chết phôi (%) 26
Bảng 4.4 Bảng tham số thống kê về tỷ lệ trứng sát (%) 28
Bảng 4.5 Bảng tham số thống kê về tỷ lệ nở(%) 30
Bảng 4.6 Bảng tham số thống kê về tỷ lệ gà con loại I (%) 32
Bảng 4.7 Bảng tham số thống kê về trọng lượng gà con 1 ngày tuổi (g) 34
Trang 11Hiện nay giống gà lông màu thả vườn cải tiến được nuôi nhiều nhất là giống Lương Phượng Đây là giống gà Trung Quốc được du nhập vào Việt Nam với ưu điểm tốc độ sinh trưởng nhanh, chất lượng thịt thơm ngon, và phù hợp với điều kiện chăn nuôi ở nước ta
Diện tích đất ngày càng thu hẹp, phương thức nuôi gà trên lồng có những ưu thế hơn nuôi nền, dễ theo dõi, quản lý năng suất đàn gà, tận dụng diện tích chuồng nuôi Nhưng vấn đề gieo tinh nhân tạo và trọng lượng trứng của gà đẻ nuôi trên lồng chưa được nghiên cứu để phù hợp với quy trình ấp trứng, tỷ lệ ấp nở, chất lượng con giống
Theo yêu cầu của trại giống Vigova nhằm giữ dòng thuần của 2 dòng gà giống Lương Phượng và hoàn thiện quy trình ấp trứng, được sự phân công của khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lâm Minh Thuận tôi thực hiện đề tài: “Khảo sát ảnh hưởng của trọng lượng trứng đến tỷ lệ ấp nở của 2 dòng gà Lương Phượng khi thụ tinh nhân tạo ở trại gà giống Vigova”
Trang 13Chương 2 TỔNG QUAN
2.1 Đặc điểm ngoại hình và năng suất của giống gà Lương Phượng
Gà Lương Phượng có nguồn gốc từ Trung Quốc, gà trống có mào đơn thẳng đứng, ngực vươn rộng, lưng thẳng, chân vàng, cao vừa phải, lông đuôi dài và màu lông vàng tía (82 %) Gà mái đầu thanh, thể hình săn chắc, chân thẳng nhỏ, đa số lông màu vàng sọc dưa, chân vàng
Sản lượng trứng 68 tuần tuổi đạt 170 - 175 quả/mái, tăng trọng nhanh 10 - 11 tuần tuổi đạt 2,2 - 2,3 kg/con Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng là 2,4 - 2,6 kg Năm 2000, giống gà Lương Phượng được nhập vào nước ta và sau một thời gian nuôi thì giống gà Lương Phượng đã thể hiện tính ưu việt về khả năng thích nghi, năng suất và chất lượng thịt tốt, màu sắc phù hợp với thị hiếu của người dân
2.2 Đặc điểm cấu tạo và sinh lý sinh sản của gà mái
2.2.1 Buồng trứng
Buồng trứng nằm bên trái xoang bụng, được giữ bằng màng bụng Kích thước và hình dạng buồng trứng phụ thuộc vào tuổi và loại gia cầm Ở gà một ngày tuổi có kích thước 1 – 2 mm, khối lượng 0,03 g Gà ở thời kỳ đẻ, buồng trứng hình chùm nho, chứa nhiều tế bào trứng có khối lượng 45 – 55 g Sự hình thành buồng trứng kể cả các tuyến sinh dục xảy ra vào thời kỳ đầu của sự phát triển phôi Trong buồng trứng có chất vỏ và chất tuỷ
Chức năng sinh lý của buồng trứng gia cầm mái Chức năng của buồng trứng
là tạo trứng Trong quá trình phát triển của tế bào trứng có 3 thời kỳ: Tăng sinh, sinh trưởng và chín
Thời kỳ tăng sinh: Trước khi bắt đầu đẻ trứng trong buồng trứng ở gà mái có khoảng 3500 - 4000 tế bào trứng, mỗi tế bào trứng có một noãn hoàng và nhìn thấy
Trang 14được qua soi kính lúp Trong tế bào trứng (phần noãn hoàng) có nhân to với những hạt nhỏ và thể nhiễm sắc Trong noãn hoàng có chứa nhân tế bào.
Thời kỳ sinh trưởng: Tế bào trứng tăng trưởng nhanh, đặc trưng bằng tăng nhanh lòng đỏ trong nó Trong khoảng thời gian 3 - 14 ngày, lòng đỏ chiếm 90 – 95
% khối lượng tế bào trứng, thành phần gồm protit, photpholipit, mỡ, các chất khoáng và vitamin
Thời kỳ chín của noãn hoàng: Thời kỳ này có sự phân bào giảm nhiễm, số nhiễm sắc thể của trứng từ 2n giảm còn n
Sự rụng trứng, cơ chế điều hoà quá trình phát triển và rụng trứng:
Tế bào trứng rời khỏi buồng trứng gọi là rụng trứng, nang trứng chín do áp suất nang trứng tăng lên dẫn tới phá vỡ vách nang tại vùng lỗ hở Tế bào trứng cùng lúc đó tách khỏi buồng trứng, ngay lập tức được loa kèn của ống dẫn trứng hứng lấy
và hút vào lòng loa kèn Tinh trùng gặp tế bào trứng và thụ tinh tại phần loa kèn này
Sự rụng trứng của gà xảy ra một lần trong ngày, nếu trứng đẻ vào cuối buổi chiều thì sự rụng trứng thực hiện vào sáng hôm sau Trứng được giữ lại trong ống dẫn trứng làm ngừng sự rụng trứng tiếp theo Sự rụng trứng gà thường xảy ra từ 2 -
14 giờ
Các hormon hướng sinh dục của tuyến yên: FSH và LH kích thích sự sinh trưởng và chín của trứng Còn nang trứng tiết ra oestrogen trước khi rụng, kích thích hoạt động của ống dẫn trứng Oestrogen ảnh hưởng lên tuyến yên ức chế FSH
và LH Như vậy tế bào trứng phát triển và chín chậm lại làm ngừng rụng trứng khi trứng còn nằm trong ống dẫn trứng hoặc tử cung
Như vậy điều hoà sự rụng trứng là do yếu tố thần kinh thể dịch ở tuyến yên
và buồng trứng phụ trách Ngoài ra vỏ bán cầu đại não tham gia vào quá trình này
2.2.2 Ống dẫn trứng
Cấu tạo ống dẫn trứng
Ống dẫn trứng của gia cầm hình ống, là nơi trứng được thụ tinh, tích lũy lòng trắng, hình thành vỏ lụa và vỏ cứng của trứng Chỉ ở gia cầm mái đang đẻ trứng,
Trang 15ống dẫn trứng mới phát triển tối đa và có thể quan sát rõ các phần của nó
Chức năng ống dẫn trứng:
Chức năng của ống dẫn trứng chủ yếu là nhận tế bào trứng rụng (thực chất là khối lòng đỏ trứng), hình thành nên các thành phần khác của trứng (lòng trắng bao quanh lòng đỏ, màng dưới vỏ và vỏ cứng của trứng ) tạo nên quả trứng hoàn chỉnh
và nhu động giúp trứng di chuyển từ loa kèn đến âm đạo
2.2.3 Quá trình tạo và đẻ trứng
Quá trình này do hệ thần kinh- hormon điều khiển chịu ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh Ở gia cầm non hormon hướng sinh dục FSH kích thích noãn nang phát triển và LH từ tuyến yên kích thích sự phát triển của noãn nang trong buồng trứng và kiểm soát sự rụng trứng Khi nang trứng trưởng thành, tế bào nang trứng tiết oestrogen, chất này kích thích sự phát triển và hoạt động của ống dẫn trứng, đồng thời điều khiển sự gia tăng mức độ trao đổi chất, tăng tích trữ chất dinh dưỡng cho sự phát triển của lòng đỏ trứng và quá trình tạo lòng trắng Hormon của tuyến yên kích thích tuyến cận giáp giúp Ca hấp thu, dự trữ ở xương và trong máu tăng Sau khi rụng noãn, các tế bào nang noãn vỡ tiết ra progesteron có vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của ống dẫn trứng và sự tạo lòng trắng cũng như các lớp của vỏ trứng Quả trứng trong tử cung kích thích tuyến yên tiết ra oxytoxin (hormon thúc đẻ) và prolactin ức chế tạm thời sự tiết LH làm chậm việc rụng noãn nang đã trưởng thành Lượng progesteron ít thì kích thích tiết LH, còn với liều lượng lớn thì
ức chế quá trình đó
2.3 Cấu tạo của trứng
Trứng gia cầm có khối lượng khác nhau phụ thuộc vào loài và giống gia cầm nhưng về hình dáng, cấu trúc và tỷ lệ các thành phần thì không khác biệt nhiều như vỏ chiếm khoảng 9 – 13 % trọng lượng trứng, lòng trắng chiếm 52 – 58 % và lòng đỏ chiếm khoảng 30 – 35 %
2.3.1 Vỏ trứng
Vỏ trứng gồm nhiều lớp có cùng chức năng là định hình và bảo vệ mầm phôi cùng khối chất dinh dưỡng đảm bảo cho phôi phát triển một cách bình thường ngoài
Trang 16cơ thể gia cầm mẹ Vỏ trứng là nguồn khoáng cung cấp cho sự phát triển xương của phôi Vỏ trứng gồm phần vỏ trứng ngoài cùng và phần vỏ lụa phía bên trong
2.3.2 Lòng trắng
Lòng trắng trứng gồm có lòng trắng đặc ở giữa chiếm 57 % và hai lớp lòng trắng loãng trong và ngoài chiếm 17 % và 23 % tương ứng trong trứng tươi Dây chằng salary cũng có nguồn gốc từ lòng trắng có tác dụng giữ khối lòng đỏ cân bằng ở vị trí trung tâm của quả trứng Lòng trắng trứng chứa 86 – 87 % nước và đó
là nguồn nước dự trữ cho sự phát triển của phôi vì vậy trong lòng trắng nguồn dinh dưỡng nghèo hơn so với lòng đỏ ngoại trừ một số chất khoáng như Cl, Mg, K, Na,
và S cùng với các vitamin niacin và riboflavin trong lòng trắng nhiều hơn trong lòng đỏ Lòng trắng có chức năng bảo vệ phôi, hợp chất chứa Cl có tính diệt khuẩn cao Lòng trắng cung cấp chất dinh dưỡng cho phôi phát triển trong giai đoạn đầu, cho đến ngày ấp thứ 14 lòng trắng đã tiêu hết
2.3.3 Lòng đỏ
Noãn nang màu trắng trong buồng trứng phát triển rất chậm cho đến khi gia cầm mái thành thục sinh dục thì noãn nang mới phát triển nhanh và chuyển sang màu vàng do tích lũy chất dinh dưỡng trong khoảng 5 - 9 ngày trước khi rụng trứng Lòng đỏ được bao bọc bởi màng phospholipid, mầm phôi có kích thước khoảng 1,5
mm như một điểm trắng trên bề mặt lòng đỏ, khi được thụ tinh mầm phôi phát triển thành đĩa phôi hình vành khăn có kích thước 4,4 mm khi trứng được đẻ ra Lòng đỏ thực sự tròn với nhiều lớp đồng tâm Lòng đỏ chứa hầu hết các protein phức tạp, các vitamin, vi khoáng, các chất có hoạt tính sinh học cao cung cấp chất dinh dưỡng nuôi phôi và gà con trong những ngày đầu (Lâm Minh Thuận, 2010)
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thụ tinh
2.4.1 Nhiệt độ môi trường
Nhiệt độ tối ưu cho sự tạo tinh trùng và sự thụ tinh là 21 - 250C Nhiệt độ môi trường quá nóng hoặc quá lạnh đều ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng tinh trùng, từ đó ảnh hưởng đến sự thụ tinh Chất lượng tinh dịch và tỷ lệ thụ tinh có mối tương quan thuận thấp
Trang 172.4.2 Thời gian phối
Sau khi tách gà trống ra khỏi đàn mái thì trứng vẫn có thể được thụ tinh trong
4 tuần tỷ lệ thụ tinh giảm mạnh sau 1 tuần Tinh trùng mới sản sinh cho tỷ lệ thụ tinh cao hơn tinh trùng cũ Nếu tách trống ra và thay trống khác vào thì 3 ngày sau trứng thụ tinh với tinh trùng của gà trống mới Tỷ lệ thụ tinh không bị ảnh hưởng bởi thể trọng của gà trống, trong phối tự nhiên thì thời gian phối cũng không ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ tinh
2.5 Quy trình ấp trứng
2.5.1 Bảo quản trứng
Trứng đạt tiêu chuẩn được xếp vào vỉ với đầu tù hướng lên trên, xông sát trùng trước khi đưa vào kho của trạm ấp Kho bảo quản trứng giống phải thoáng, nhiệt độ 15 - 200C và ẩm độ 75 % Đưa trứng vào kho lạnh một cách từ từ để trứng thích nghi với nhiệt độ phòng lạnh Thời gian bảo quản trứng không nên quá 7 ngày Nếu bảo quản trứng trên 7 ngày người ta khuyến cáo xếp trứng đầu tù quay xuống dưới để tránh mất nước cho trứng và giữ nhiệt độ ở khoảng 12 - 150C Trước
khi đưa trứng vào máy ấp phải làm ấm trứng một cách từ từ
Bảng 2.1 Bảng chế độ và thời gian bảo quản trứng giống
ấp ngay sau khi đẻ 1 ngày có tỷ lệ ấp nở thấp vì phôi cần có thời gian nghỉ sau khi
đẻ ra ngoài, khi đó buồng khí phát triển từ từ và lòng trắng cũng có những biến đổi
Trang 18để trở thành chất dinh dưỡng thích hợp cho việc nuôi phôi (Lâm Minh Thuận, 2010)
2.5.2 Tiếp nhận và chọn trứng vào ấp
Trứng giống phải là trứng có phôi từ đàn gà cha mẹ được lựa chọn theo tiêu chuẩn giống Đàn gà giống phải được nuôi dưỡng và chăm sóc tốt, không mang mầm bệnh và khai thác hợp lý, không quá non hoặc quá già Tốt nhất là từ 7 tháng tuổi cho đến 20 tháng tuổi Không phải toàn bộ trứng từ đàn giống tốt đều có thể đem ấp và nở thành gà con tốt nên phải chọn trứng cẩn thận Ổ đẻ phải đủ và sạch, nên đóng kín vào ban đêm nhằm tránh gà vào nằm ấp, sáng lại mở ra cho gà vào đẻ Trứng đẻ dưới nền thường dính phân, bẩn, nên loại ngay không để ấp Nếu trứng bẩn cần rửa thì rửa nhanh bằng nước ấm (40 – 420C) để tránh nước thấm vào trong
trứng
Trứng có trọng lượng trung bình từ 53 – 60 là những trứng cho tỷ lệ ấp nở cao nhất và chất lượng gà con tốt nhất Với trọng lượng này tỷ lệ lòng trắng và lòng
đỏ cân bằng nhất cho sự phát triển của phôi
Chỉ chọn những trứng đạt tiêu chuẩn để ấp, loại bỏ những trứng bị dập bể, hoặc rạn nứt do di chuyển, nếu trứng bị dơ, vỏ bị bẩn có thể lau nhẹ bằng khăn mềm nhúng nước ấm Khi nhận trứng phải ghi sổ và xếp trứng vào vỉ của trạm ấp, từng lô trứng có phiếu ghi số lô và số lượng trứng Trứng được xếp đầu tù lên phía trên (Lâm Minh Thuận, 2010)
2.5.3 Sát trùng
Sau khi tiếp nhận, trứng được đưa vào buồng xông sát trùng trong vòng 20 phút bằng hỗn hợp formol và thuốc tím với liều lượng 30 ml formol + 17 g thuốc tím cho 1 m3 thể tích buồng xông Sau khi xông, trứng được đưa vào máy ấp hoặc kho bảo quản chờ cho đủ số trứng vào máy (Lâm Minh Thuận, 2010)
2.5.4 Đưa trứng vào máy ấp
Nếu trứng đã qua thời gian bảo quản thì phải đưa ra làm ấm một thời gian nhất định trước khi vào máy Thời gian làm ấm phụ thuộc vào nhiệt độ và thời gian bảo quản sao cho nhiệt độ trong trứng khi vào máy khoảng 22 – 230C , thường đưa
Trang 19trứng ra phòng có nhiệt độ 25 - 270C trong khoảng thời gian 6 – 18 giờ (Lâm Minh Thuận, 2010)
Đưa trứng và máy ấp: Cho bộ phận tạo ẩm ngừng hoạt động Bật công tắc đảo để tất cả các giá đỡ trở về tư thế nằm ngang Lần lượt đặt các khay trứng vào máy theo số thứ tự thẻ khay từ dưới lên hoặc từ trên xuống Kiểm tra các khay ấp phải lọt và khớp hoàn toàn trong giá đỡ Khi vào máy nếu có trứng bị vỡ do thao tác thì phải loại bỏ và làm vệ sinh ngay Sau khi trứng vào máy xong, lau sàn bằng crezin 3 % hoặc formol 2 % Bật công tắc đảo thử cả hai chiều để khay trứng quay
về vị trí nằm nghiêng Khi đảo, nếu có tiếng kêu không bình thường phải dừng máy
để kiểm tra Đóng cửa máy và các lỗ thoát khí để nhiệt độ tăng nhanh Theo dõi đến khi đủ nhiệt độ ấp thì bật công tắc ẩm Khi máy đạt đủ nhiệt độ và ẩm độ, tiến hành xông sát trùng bằng hỗn hợp 9 g thuốc tím + 18 ml formol/m3 thể tích buồng máy trong 30 phút Hết thời gian xông, phải mở cửa và các lỗ thoát khí của máy để thoát hết hơi thuốc xông, sau đó đóng cửa máy (Bùi Đức Lũng và Nguyễn Xuân Sơn, 2003)
Soi trứng vào ngày ấp thứ 13 với mục đích kiểm tra sự phát triển của phôi, loại trứng chết phôi Lần soi này có thể bỏ qua nếu biết chắc phôi phát triển tốt
Soi trứng vào ngày ấp thứ 18 để kiểm tra sự phát triển của phôi và chuyển sang buồng nở, đồng thời cũng làm lạnh trứng giúp cho hệ thống mạch máu ngoài
Trang 20phôi nhanh chóng khô đi, làm vỏ trứng dễ vỡ, gà con nở ra một cách dễ dàng (Lâm Minh Thuận, 2010)
xử lý tốt, tránh để mèo, chó tha đi khắp nơi
2.6 Nguyên lý hoạt động của máy ấp
Nguồn nhiệt cho máy ấp có thể là hơi nước nóng, hơi nóng Nguồn nhiệt phải ổn định trong giới hạn nhất định từ 37,50C đến 37,80C Máy ấp hiện đại thường
có hệ thống chỉnh nhiệt độ tự động và hệ thống tín hiệu cho biết tình trạng độ trong máy ấp
Nguồn ẩm độ là rất cần thiết trong máy ấp vì ở nhiệt độ cao 37,50C đến 37,80C thì ẩm độ giảm thấp, nếu không cung cấp thêm hơi nước, buồng ấp trứng sẽ
bị mất nước nhanh, phôi sẽ bị khô Nguồn hơi nước cung cấp qua bề mặt bốc hơi nước của khay đựng nước hoặc thiết bị phun sương trong máy ấp sao cho đảm bảo
ẩm độ trong buồng ấp ổn định ở mức 70 – 75 %
Hệ thống thông thoáng cũng rất quan trọng vì trong quá trình phát triển, phôi gia cầm cần lượng O2 cho quá trình hô hấp, đồng thời thải ra lượng CO2 và hơi nước Nếu trong không khí hàm lượng O2 giảm dưới 18 % và hàm lượng CO2 tăng lên có thể gây chết phôi Độ thông thoáng trong máy ấp tùy thuộc vào số trứng, nhu cầu không khí khoảng 0,8 – 0,9 m3/giờ/1000 trứng Hệ thống thông thoáng gồm quạt và các lỗ thông hơi được bố trí sao cho không mất nhiệt và không khí trước khi đưa vào máy được sấy khô tránh nấm mốc theo vào và phát triển trong máy
Trang 21Thiết bị đảo trứng tùy theo thiết kế của máy sao cho trứng được đảo 450 theo trục chính của trứng, thiết bị đảo trứng có thể tự động bằng cách bố trí trục xoay đảo toàn bộ khối trứng sang phải hoặc sang trái theo chu kỳ 2 giờ 1 lần Những máy
ấp thủ công không có hệ thống đảo trứng tự động thì trứng được xếp trong những khay có đáy di động, phải kéo hoặc đẩy khay trứng để trứng trong khay nghiêng một góc nhất định
Máy ấp hội đủ những nguyên lý trên có thể ấp trứng được Máy càng hiện đại thì các thông số kỹ thuật càng được điều chỉnh chính xác, tỷ lệ ấp nở càng cao
và chất lượng gà con tốt (Lâm Minh Thuận, 2010)
2.7 Một số bệnh ở gà sau khi nở
2.7.1 Ấp trứng đã bảo quản lâu ngày
Phôi của trứng đã qua bảo quản lâu ngày phát triển chậm, tỷ lệ chết phôi cao,
gà nở muộn Nhiều gà con đã mổ được vỏ nhưng không nở được, kéo dài thời gian
nở, nở rải rác Gà con nở dính bết và bẩn do lòng trắng chưa tiêu thụ hết
2.7.2 Bệnh chân, cánh ngắn (Micromelia)
Phôi bị biến dị trầm trọng, do sự phát triển sụn, xương tứ chi kém Biểu hiện chân và cánh của phôi ngắn Xương bàn chân cong và to Xương ống ngắn và cong Một hiện tượng khác- đầu to, xương hàm và mỏ dưới ngắn, mỏ trên quặp xuống, lông không bông Phôi bị chết sớm, đôi khi phôi sưng mọng Nguyên nhân do thiếu dinh dưỡng trong trứng, do đàn gà sinh sản ăn thức ăn không cân đối đủ acid amin, chất khoáng như mangan (Mn), kể cả vitamin như B2, vitamin H…
2.7.3 Bệnh khoèo chân (Perosit)
Biểu hiện các khớp xương nối đùi với xương ống chân và bàn chân bị sưng, gân bị trượt khỏi khớp Trường hợp này làm chân gà khoèo về một phía, gà hầu như không đi lại được, hoặc đi bằng bàn chân Cần loại bỏ những gà khoèo chân, không nên nuôi Nguyên nhân là thiếu khoáng chất - mangan (Mn), axit folic, vitamin H,
B12 trong thức ăn cho gà
Trang 222.7.4 Bệnh động kinh (Atexia)
Gà con vừa nở ra có cử động hỗn loạn, đặc trưng nhất là ngả đầu về phía lưng, mặt ngửa lên trời, xoay quanh hình tròn, hoặc gục đầu vào bụng Nói chung thần kinh không điều khiển được quá trình vận động Gà không ăn uống được, kiệt sức và chết ngay trong 1 - 2 ngày đầu Nguyên nhân của bệnh là thức ăn cho gà bố
mẹ thiếu vitamin E, H, B2, B1 và chất khoáng mangan (Mn)
2.7.5 Bệnh kết dính khi nở
Hiện tượng này thường xuyên xảy ra khi gà bắt đầu mổ vỏ Lỗ vỏ trứng mà
gà vừa mổ tràn ra một chất lỏng dính màu vàng và khô rất nhanh, làm bịt kín mũi và
mỏ của gà con làm gà chết ngạt Một số trường hợp lỗ vỏ trứng rộng to, gà nở được nhưng chất lỏng nhày này làm lông dính bết, có khi dính cả vỏ trứng, làm gà không
cử động được Nguyên nhân là thức ăn cho gà bố mẹ thiếu vitamin nhóm B, nhất là
B2 và vitamin H nhưng lại thừa chất đạm (protein) động vật (Bùi Đức Lũng, 2003)
2.8 Sự phát triển của phôi
Phôi bắt đầu phát triển sau khi thụ tinh trong 3 giờ với sự phân chia liên tục
tế bào đầu tiên trong quá trình hình thành trứng Khi trứng ở giai đoạn hình thành
vỏ trứng, khối phôi đã có 346 tế bào và tiếp tục phân hóa lớp tế bào cho đến khi trứng được đẻ ra Lúc này phôi ở trạng thái đĩa phôi (blastodick) với 360 tế bào tạo thành 2 lớp phía trong là endoderm và lớp ngoài là ektoderm nằm trên bề mặt lòng
đỏ, đậm hơn màn vatelin như hình vành khăn Sau khi gà đẻ trứng, với nhiệt độ môi trường bên ngoài dưới 250C, phôi tạm thời ngừng phân chia Khi trứng được đưa vào ấp ở nhiệt độ buồng ấp 37,50C, phôi lại tiếp tục phát triển
Trong 24 giờ đầu các lớp mầm phôi dày lên, tiếp tục và phân chia và tạo thành lớp giữa mezoderm, xuất hiện rãnh thần kinh với các nếp gấp đầu tiên Hoàn chỉnh 3 lớp là phôi, tiền thân các cơ quan bộ phận cơ thể sau này Lớp là phôi ngoài (ektoderm) sẽ phát triển thành da, lông, mỏ, móng, hệ thần kinh, võng mạc mắt, niêm mạc miệng và lỗ huyệt Lớp là phôi trong (endoderm) thành các cơ quan tiêu hóa, hô hấp, các tuyến nội tiết Lớp là phôi giữa (mezoderm) phát triển thành cơ, xương, máu, cơ quan sinh dục, các tuyến ngoại tiết và các mô liên kết Sau 22 giờ
Trang 23ấp, hình thành đầu, sau khoảng 24 giờ ấp, ống ruột hình thành, đồng thời các tế bào máu đầu tiên xuất hiện và hệ thống mạch máu hình thành bao trùm phần vỏ trứng Sau 24 giờ ấp phôi phát triển có hình ovan với kích thước 5 mm
Ngày ấp thứ 2, phôi phát triển nhanh, tách khỏi lòng đỏ, uốn cong và xoắn lại
ở phía trái tạo thành các túi allantois, amnion và túi lòng đỏ bắt đầu hình thành Phôi có phần đầu lớn, mắt xuất hiện, ống thần kinh nằm dọc theo cột sống, tim hình thành và bắt đầu đập để hút và đẩy máu vào hệ thống mạch máu trong cơ thể phôi
Ngày thứ 3, phôi có hình thù rõ rệt: đầu to với mắt, mũi, mỏ và cột sống thấy rõ các túi màng phôi allantois và amnion, mầm cánh và chân xuất hiện tương đối rõ, ống ruột, tim và mạch máu khá rõ
Ngày thứ 4, phôi có hình thù rõ ràng ở phía trái lòng đỏ, đầu và đuôi cong lại hình chữ C Cuống túi lòng đỏ bắt đầu xuất hiện, túi allantois lớn ra và bắt đầu bao bọc phôi trong nước, tim to hơn, miệng và mũi rõ hơn Phôi đạt đến kích thước 8
mm
Ngày thứ 5 phôi lớn nhành và dài 12 mm, màng ngoài mắt phát triển, túi lòng đỏ to ra và hoàn thiện cùng các túi phôi khác, màng amnion chứa nước bao quanh phôi Túi allantois và mạch máu của nó sát tới vỏ trứng để thực hiện chức năng trao đổi chất cho phôi
Ngày thứ 6 và 7, phôi phát triển mạnh mang dáng gà con có kích thước 16mm, mỏ bắt đầu sừng hóa, cổ dài ra chia rõ phần đầu và mình, tim hoàn chỉnh trong lồng ngực và đập mạnh Phần thân hình thành cánh và chân, phôi nằm trong môi trường nước dịch của túi amnion Kích thước lòng đỏ hầu như không đổi nhưng túi lòng đỏ tiếp tục phát triển
Ngày thứ 8, cánh và chân đã rõ rệt, phần thân đã phủ xuống đến ức, lông đã phủ ở lưng Phôi dài 18 mm
Ngày thứ 9, túi allantois, amnion và túi lòng đỏ bao trùm toàn bộ khối phôi,
mỏ và móng chân bắt đầu sừng hóa Lông mọc nhiều ở vùng lưng, phía ngoài đùi và cánh Lòng trắng thu nhỏ lại ở phía đầu nhọn của trứng
Trang 24Ngày thứ 10, túi allantois khép kín lại ở phía đầu nhọn của trứng và chứa đầy dịch, chất dinh dưỡng bắt đầu được hấp thu vào ống ruột Hiện tượng túi allantois không khép kín biểu hiện phôi ngừng phát triển do sai sót về chế độ ấp trứng
Ngày thứ 11, phôi dài khoảng 25 mm, đã mang hình dáng gà con, mỏ, móng, chân sừng hóa hoàn toàn, phần thân thể lớn lên cân đối hơn Lòng trắng thu nhỏ ở đầu nhỏ của trứng, các túi phôi hoàn thiện, túi allantois tiết enzym chuyển hóa albumin và Ca thành chất dễ hấp thu để nuôi phôi , hấp thu oxy qua vỏ trứng để cung cấp cho phôi đồng thời giúp phôi thải khí CO2 và chất thải của thận chuyển ra
đổ vào xoang niệu nang hình thành dạng khí thải ra ngoài qua các lỗ thông hơi của
20 phôi cựa mạnh làm vỡ vỏ trứng và chui ra ngoài
Ngày thứ 21, gà con mới nở, bộ lông ướt sẽ được hong khô nhờ thông thoáng trong buồng nở (Lâm Minh Thuận, 2010)
Trang 252.9 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở
2.9.1 Chất lượng đàn gà giống
Chất lượng của đàn gà giống có ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng trứng đồng thời cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ ấp nở Có nhiều yếu tố liên quan đến chất lượng của đàn gà giống Tuổi đàn gà giống có ảnh hưởng đến tỷ
lệ thụ tinh và tỷ lệ ấp nở, năm đầu tiên thường cao nhất và giảm dần ở năm thứ hai
và thứ ba Việc ghép đôi giao phối trong cùng họ hàng hay đồng huyết thì sức sống của phôi kém và tỷ lệ nở giảm thấp Ngược lại lai giữa dòng sẽ tăng tỷ lệ nở do phát
huy được ưu thế lai Một số bệnh truyền nhiễm tác động vào cơ quan sinh sản của
gà và tác động lên phôi làm giảm năng suất và chất lượng trứng (giảm sản lượng trứng, trứng có vỏ mỏng, chết phôi nhiều do thiếu khoáng, vitamin, tỷ lệ khoáng và dinh dưỡng trong thức ăn không cân đối) Từ đó, làm giảm tỷ lệ ấp nở và sức sống của gà con
2.9.2 Trạng thái trứng ấp
Trứng có khối lượng trung bình giống cho tỷ lệ ấp nở cao nhất và chất lượng
gà con tốt nhất Trứng có chỉ số hình dạng từ 0,74 – 0,85 cho tỷ lệ ấp nở cao nhất so với trứng quá tròn hoặc quá dài (Lâm Minh Thuận, 2010) Đánh giá trứng bằng mắt thường cũng giúp phân loại trứng, trứng tốt có vỏ láng đều, màu sắc đặc trưng của giống, không vòng khấc, không bị tích tụ vôi trên vỏ, vỏ trứng sáng đều và không bị tình trạng sọc dưa vằn vện, đậm lợt
2.9.3 Tỷ lệ trống mái
Tỷ lệ này phù hợp là 1 trống/8 – 10 mái, nếu tỷ lệ mái quá cao hoặc trống quá thấp sẽ làm giảm tỷ lệ thụ tinh dẫn đến giảm tỷ lệ ấp nở
2.9.4 Ảnh hưởng của chuồng trại, thu nhặt vận chuyển và bảo quản trứng
Chuồng nuôi gà ẩm thấp, dột, bẩn làm trứng dễ bị nhiễm bẩn, nấm mốc và vi khuẩn dẫn đến tỷ lệ chết phôi cao Vấn đề thu nhặt, vận chuyển và bảo quản trứng không tốt cũng làm hư hỏng trứng
Trang 262.9.5 Ảnh hưởng của chế độ ấp
2.9.5.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ
Nếu thiếu nhiệt trong những ngày đầu ấp trứng sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của phôi, phôi sẽ chết nhiều sau 4 – 6 ngày ấp Trứng chết phôi có vòng máu nhỏ, nhạt Nếu thiếu nhiệt kéo dài dưới 370C thì gà nở bị nặng bụng, sau này thường bị ỉa chảy
Khi ấp trứng ở nhiệt độ thấp dưới 35 - 360C kéo dài trong nhiều thời điểm ấp thì túi lòng đỏ không co vào được xoang bụng, gà nở bị hở rốn, túi lòng đỏ có màu xanh lá cây
Điều chỉnh sự tỏa nhiệt của trứng phụ thuộc vào từng giai đoạn ấp:
Độ ẩm cao trong những ngày đầu sẽ làm giảm bay hơi nước, góp phần giữ nhiệt đồng thời làm nước trong trứng bốc hơi từ từ
Trong những ngày cuối cùng phải tăng độ ẩm trong máy để hút bớt nhiệt của trứng, làm hạ nhiệt độ trong trứng và máy ấp
Khi ẩm độ trong máy vượt quá yêu cầu (quá 80 %), gà bị nở yếu, ít linh động, lông gà bết dính ở rốn và hậu môn, màu lông vàng đậm, mỏ và chân nhợt nhạt Gà con bị bụng to và nặng, sau này gà con nuôi chậm lớn và tỉ lệ chết cao
2.9.5.3 Ảnh hưởng của độ thoáng không khí
Phải đảm bảo lượng CO2 trong máy không vượt quá 0,2 %, nếu nồng độ CO2 vượt cao, nồng độ khí O2 giảm có thể làm chết phôi hàng loạt
Trang 272.9.5.4 Ảnh hưởng của đảo trứng
Trứng xếp vào khay ấp phải đặt đầu to lên trên đầu nhọn xuống dưới, nếu xếp ngược lại thì vào cuối chu kì ấp đầu phôi gà ở phía đầu nhọn sẽ không có không khí thở và sẽ bị chết ngạt
Trong những ngày đầu tiên, nếu không đảo trứng, phôi sẽ bị lòng đỏ ép vào
vỏ, sự phát triển bị ngừng lại và phôi bị chết
2.9.6 Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng
Thiếu B1: gà con có hiện tượng viêm đa thần kinh, gà đi ngật ngưỡng, loạng choạng, một số con có thể bị liệt, bị Atexia
Thiếu B2: phôi chậm phát triển, phôi chết nhiều vào giữa và cuối thời kì ấp
Từ 9-14 ngày sau khi ấp ở những phôi chết thường thấy hiện tượng chân ngắn, ngón cong, mỏ trên ngắn
Thiếu Biotin: tỷ lệ chết phôi tăng, những phôi chết thấy biến dạng như đầu
to, mỏ dưới ngắn, mỏ trên quặp xuống, các xương đùi, bàn chân ngắn lại Gà con ngửa đầu ra sau lưng và quay tròn đến khi chết, gà bị bệnh thần kinh
Thiếu B12: tỉ lệ chết phôi tăng ở giai đoạn 16 - 18 ngày ấp do chân bị teo, chân nhỏ kém phát triển, khô, phôi bị xuất huyết toàn thân
Thiếu A: phôi ngừng phát triển, tỷ lệ phôi chết tăng, thận sưng, sung huyết
và đọng nhiều muối urat màu trắng nhạt Gà và vịt con nở ra mắt nhắm nghiền, da chân khô
Thiếu D3: chất lượng trứng giảm, tỷ lệ nở giảm, khả năng sử dụng Ca, P của phôi kém gây tỷ lệ chết phôi cao trong giai đoạn cuối của chu kì ấp Tuy nhiên thừa D3 cũng giảm tỷ lệ ấp nở
Thiếu E: tỷ lệ trứng sáng cao, phôi phát triển chậm, hệ thống tuần hoàn bị phá hủy, thấy xuất hiện vòng máu Phôi chết nhiều ở 3 - 4 ngày ấp
Thiều Mn: phôi phát triển kém và dị hình như chân ngắn, đầu to,mỏ vẹt, đùi cong Gia cầm con đầu gục vào bụng, điển hình gia cầm con nở ra bị sưng khớp xương, đi lại khó, bị liệt (perosis)
Trang 28Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm
3.1.1 Thời gian
Thí nghiệm đã được tiến hành từ ngày 01 tháng 02 năm 2012 đến ngày 30 tháng 04 năm 2012
3.1.2 Địa điểm
Đề tài được tiến hành tại trại gà giống Vigova thuộc Trung tâm Nghiên cứu
và Chuyển giao Tiến bộ Kỹ thuật Chăn nuôi viện Chăn Nuôi quốc gia Địa chỉ: xã Bình Minh, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
3.2 Đối tượng thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành trên trứng của 2 đàn thuộc 2 dòng gà Lương Phượng được thụ tinh nhân tạo Đàn gà dòng LSTP số lượng 539 con ở 30 tuần tuổi
và đàn gà dòng L271 số lượng 2185 con ở 43 tuần tuổi
3.3 Nội dung nghiên cứu
Khảo sát một số chỉ tiêu trên trứng ấp được thụ tinh nhân tạo của 2 dòng LSTP và L271 của giống gà Lương Phượng, trọng lượng gà con
3.4 Điều kiện thí nghiệm
3.4.1 Quy trình nuôi dưỡng
Gà nuôi trên lồng nhốt riêng trống mái
Cho ăn bằng thức ăn hỗn hợp
Gà thí nghiệm được cho ăn thức ăn của công ty cổ phần Việt Pháp Proconco, loại C24B dạng viên dùng cho gà đẻ
Trang 29Bảng 3.1 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn Proconco theo nhãn bao bì:
Thành phần chính: bột cá, khô dầu đậu nành, cám gạo, tấm gạo, cám mì, bắp, khoai mì, đạm động vật, …
Lysin, Threonin, Methionin, Vitamin A, B, C, D, E…
Trứng được đưa vào máy ấp nhiệt độ 99,80F, ẩm độ 75 %
Soi trứng vào ngày thứ 12 để loại bỏ trứng không có phôi
Ngày 18 chuyển gà từ máy ấp qua máy nở