2.2 Đặc điểm sinh lý tiêu hoá và hấp thu của heo con Tiêu hóa là quá trình phân giải các chất hữu cơ phức tạp có trong thức ăn thành những chất đơn giản giúp cơ thể dễ dàng hấp thu.. Hệ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
****************
NGUYỄN THỊ HẰNG
SW 6 PHÒNG TIÊU CHẢY TRÊN HEO
21 ĐẾN 60 NGÀY TUỔI
Khoá luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sỹ thú y
Giáo viên hướng dẫn
TS NGUYỄN TẤT TOÀN
Tháng 08/2012
Trang 2PHIẾU XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên sinh viên thực hiện: NGUYỄN THỊ HẰNG
Tên luận văn: “Thử nghiệm bổ sung chế phẩm AA – Nutri ™ Focus SW 6
phòng tiêu chảy trên heo 21 đến 60 ngày tuổi”
Đã hoàn thành khoá luận theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và ý kiến nhận xét, đóng góp của Hội đồng chấm thi tốt nghiệp Khoa Chăn Nuôi – Thú Y, ngày ……tháng……năm 2012
Giáo viên hướng dẫn
TS NGUYỄN TẤT TOÀN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thành kính ghi ơn
Công lao sinh thành, dưỡng dục và những khó khăn vất vả của bố mẹ để con
có được ngày hôm nay
Bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
TS Nguyễn Tất Toàn đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Chân thành cảm ơn
Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh
Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi – Thú y, cùng toàn thể quý thầy cô đã tận tình giảng dạy và truyền đạt cho em những kiến thức cũng như kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình học tập
Và cuối cùng tôi xin cảm ơn
Toàn thể bạn bè trong và ngoài lớp DY33 đã luôn bên cạnh, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Sinh viên
NGUYỄN THỊ HẰNG
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài “Thử nghiệm bổ sung chế phẩm AA – Nutri ™ Focus SW6 phòng
tiêu chảy trên heo 21 đến 60 ngày tuổi” được chúng tôi tiến hành tại trại chú
Nguyễn Văn Hải, ấp 2 xã Bình Lộc, huyện Long Khánh, Tỉnh Đồng Nai Thời gian
từ ngày 26/01/2012 đến 13/05/2012 Thí nghiệm được bố trí theo trên 100 heo con giai đoạn từ cai sữa đến 60 ngày tuổi, các heo con được chọn từ 10 heo nái khác nhau, tương đối đồng đều về giống, trọng lượng, giới tính và tình trạng sức khoẻ Các heo con được chia làm 2 lô, trong đó: lô bổ sung chế phẩm AA – Nutri™ Focus
SW 6 (lô thí nghiệm) – 50 heo con và lô không bổ sung chế phẩm AA – Nutri™
Focus SW 6 (lô đối chứng) – 50 heo con Qua thời gian tiến hành đề tài chúng tôi
đã ghi nhận được một số kết quả như sau:
Tổng số vi khuẩn E coli trong 1 g phân lúc bắt đầu thí nghiệm trên lô thí
nghiệm là 6,05 ± 0,83 (log10MPN/1g phân), lô đối chứng là 6,45 ± 0,55 (log10MPN/1g phân), đến khi kết thúc trên lô thí nghiệm giảm còn 5,71 ± 0,75 (log10MPN/1g phân) thấp hơn lô đối chứng là 6,27 ± 0,63 (log10MPN/1g phân)
Tỷ lệ con tiêu chảy của lô thí nghiệm là 14%, lô đối chứng là 16 % Tỷ lệ ngày tiêu chảy của lô thí nghiệm là 0,61 % thấp hơn lô đối chứng là 2,05 % Tỷ lệ các bệnh khác của lô thí nghiệm là 8 % thấp hơn lô đối chứng là 14 %
Trọng lượng bình quân của heo lúc bắt đầu thí nghiệm của lô thí nghiệm là 6,54 (kg/con), gần bằng lô đối chứng là 6,52 (kg/con), kết thúc thí nghiệm trọng lượng bình quân trên lô thí nghiệm cao hơn lô đối chứng 1,08 (kg/con) (25,74 (kg/con) so với 24,66 (kg/con)) Tăng trọng bình quân lô thí nghiệm là (19,19 (kg/con) cao hơn lô đối chứng là 18,13 (kg/con), tăng trọng tuyệt đối của lô thí nghiệm là 533,17 (g/con/ngày), cao hơn lô đối chứng là 503,72 (g/con/ngày)
Lượng thức ăn bình quân của lô thí nghiệm là 33,49 (kg/ngày) thấp hơn lô đối chứng là 34,32 (kg/ngày), chỉ số chuyển biến thức ăn của lô thí nghiệm là 1,26 (kg TĂ/kg TT) thấp hơn so với lô đối chứng là 1,36 (kg TĂ/kg TT) và kết quả phân tích thống kê cho thấy sự khác biệt này có ý nghĩa
Trang 5MỤC LỤC
TRANG
Lời tựa i
Phiếu xác nhận của giáo viên hướng dẫn ii
Lời cảm ơn iii
Tóm tắt iv
Mục lục v
Danh sách các chữ viết tắt viii
Danh sách các bảng ix
Danh sách các hình ix
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Giới thiệu về trại chăn nuôi heo chú Nguyễn Văn Hải 3
2.1.1 Hệ thống chuồng trại 3
2.1.2 Thức ăn và nước uống 4
2.1.4 Qui trình vệ sinh 5
2.1.5 Chăm sóc nuôi dưỡng 6
2.1.6 Lịch chủng ngừa 7
2.2 Đặc điểm sinh lý tiêu hoá và hấp thu của heo con 8
2.2.1 Đặc điểm cấu tạo bộ máy tiêu hoá của heo con 8
2.2.2 Hoạt động của các enzyme tiêu hoá 9
2.2.3 Đặc điểm hấp thu qua thành ruột 10
Trang 62.3.2 Các nguyên nhân gây tiêu chảy trên heo con 11
2.3.2.1 Do điều kiện ngoại cảnh bất lợi 11
2.3.2.2 Do heo mẹ 12
2.3.2.3 Do bản thân heo con 12
2.3.2.4 Do vi sinh vật 13
2.3.3 Cơ chế gây tiêu chảy trên heo con 13
2.3.4 Hậu quả sinh lý của tiêu chảy 14
2.4 Một số bệnh liên quan đến tiêu chảy trên heo con 15
2.4.1 Tiêu chảy do E coli 15
2.4.1.1 Giới thiệu về E coli 15
2.4.1.2 Đặc điểm gây bệnh 15
2.4.1.3 Triệu chứng và bệnh tích 16
2.4.1.4 Phòng bệnh 17
2.4.2 Viêm ruột hoại tử do Clostridium perfringens type C 18
2.4.2.1 Giới thiệu về Clostridium perfringens 18
2.4.2.2 Đặc điểm gây bệnh 18
2.4.2.3 Triệu chứng và bệnh tích 18
2.4.2.4 Phòng bệnh 19
2.4.3 Tiêu chảy do Rotavirus 19
2.4.3.1 Giới thiệu về Rotavirus 19
2.4.3.2 Đặc điểm gây bệnh 19
2.4.3.3 Triệu chứng và bệnh tích 19
2.4.3.4 Phòng bệnh 20
2.5 Giới thiệu chế phẩm AA – Nutri™ Focus SW 6 20
2.5.1 Khái niệm về kháng thể 20
2.5.2 Đặc tính của kháng thể 20
2.5.3 Chế phẩm AA – Nutri™ Focus SW 6 21
2.5.4 Thành phần và công dụng của AA – Nutri™ Focus SW 6 21
2.5.5 Tính ưu việt của chế phẩm 21
Trang 72.5.6 Lược duyệt các công trình nghiên cứu và chế phẩm liên quan 22
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 24
3.1 Thời gian và địa điểm 24
3.1.1 Thời gian 24
3.1.2 Địa điểm 24
3.2 Đối tượng nghiên cứu 24
3.3 Nội dung nghiên cứu 24
3.4 Phương pháp nghiên cứu 24
3.4.1 Bố trí thí nghiệm 24
3.4.2 Kiểm tra tổng số E coli trong phân 25
3.4.3 Khảo sát tình hình tiêu chảy và tỷ lệ các bệnh khác 25
3.4.4 Khảo sát các chỉ tiêu tăng trưởng và khả năng chuyển biến thức ăn 26
3.4.5 So sánh hiệu quả kinh tế 27
3.6 Phương pháp xử lý số liệu 27
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Kiểm tra tổng số E coli trong phân 28
4.2 Khảo sát tình hình tiêu chảy và tỷ lệ các bệnh khác 29
4.2.1 Tình hình tiêu chảy 29
4.2.2 Tỷ lệ các bệnh khác 30
4.3 Khảo sát các chỉ tiêu tăng trưởng và khả năng chuyển biến thức ăn 31
4.3.1 Trọng lượng bình quân 31
4.3.2 Tăng trọng bình quân và tăng trọng tuyệt đối 32
4.3.3 Khả năng chuyển biến thức ăn 34
4.4 So sánh hiệu quả kinh tế 35
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 36
5.1 Kết luận 36
5.2 Đề nghị 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
Trang 8Transmissible Gastro Enteritis Trọng lượng
TLBQ
TN
TT
Trọng lượng bình quân Thí nghiệm
Tăng trọng
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Công thức cám cho các nhóm heo 4
Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng các loại cám 5
Bảng 2.3 Lịch chủng ngừa của trại 7
Bảng 2.4 Một số mầm bệnh gây tiêu chảy trên heo con 13
Bảng 3.1 Bố trí thí nghiệm 25
Bảng 4.1 Tổng số E coli trong phân ở các giai đoạn 28
Bảng 4.2 Tỷ lệ tiêu chảy và tỷ lệ ngày con tiêu chảy 29
Bảng 4.3 Tỷ lệ các bệnh khác 30
Bảng 4.4 Trọng lượng bình quân của heo ở các thời điểm 31
Bảng 4.5 Tăng trọng bình quân và tăng trọng tuyệt đối 32
Bảng 4.6 Chỉ số chuyển biến thức ăn 34
Bảng 4.7 So sánh hiệu quả kinh tế 35
DANH SÁCH CÁC HÌNH Hình 2.1 Chuồng heo nái 4
Hình 2.2 Chuồng cai sữa 4
Hình 2.3 Heo con tiêu chảy và thuỷ thũng mắt 16
Hình 2.4 Quy trình sản xuất kháng thể Ig Y 20
Trang 10Tp Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa Vũng Tàu và Kiên Giang
(Nguyễn Tất Toàn, 2011) Nguyên nhân khiến heo bị tiêu chảy thường do virut, vi
khuẩn, ký sinh trùng, thay đổi điều kiện nuôi dưỡng, dinh dưỡng kém và dễ thấy
nhất ở các bệnh như: tiêu chảy phân trắng do E coli, viêm ruột hoại tử do
Clostridium perfringens type C, tiêu chảy do Rotavirus và dịch tiêu chảy cấp gây
bởi Coronavirus
Tiêu chảy thường xuất hiện ở nhiều lứa tuổi khác nhau với tỷ lệ mắc và tỷ lệ chết cao Theo ghi nhận của Nguyễn Tất Toàn (2012), từ 2008 – 2010, dịch tiêu chảy cấp đã làm chết trên 80 % (trong đó tỷ lệ nhiễm là 94 %) đàn heo con theo mẹ, gần 15 % trên heo cai sữa và 49 % nái đẻ bị mắc bệnh Theo đó, bệnh tiêu chảy sẽ làm giảm số lượng đàn heo xuất chuồng, làm giảm khả năng tăng trưởng, kéo dài thời gian nuôi cũng như tăng hao phí thức ăn và chi phí thuốc thú y Đặc biệt tiêu chảy trong giai đoạn sau cai sữa đến 60 ngày tuổi sẽ làm giảm khả năng tăng trọng của đàn heo Để hạn chế các thiệt hại kinh tế do tiêu chảy gây ra nhiều nhà chăn nuôi trong nước đã và đang sử dụng các chế phẩm sinh học như một giải pháp tối
ưu góp phần bảo vệ đàn heo
Trang 11Xuất phát từ những thực tế trên được sự đồng ý của Bộ Môn Nội Dược, Khoa Chăn Nuôi Thú Y, trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Tất Toàn và sự giúp đỡ của công ty All America
Nutrition, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Thử nghiệm bổ sung chế phẩm AA –
Nutri ™ Focus SW 6 phòng tiêu chảy trên heo 21 đến 60 ngày tuổi”
1.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Đánh giá hiệu quả phòng bệnh tiêu chảy và khả năng tăng trưởng khi bổ
sung chế phẩm AA – Nutri ™ Focus SW 6 trên heo 21 đến 60 ngày tuổi
1.2.2 Yêu cầu
Bố trí thí nghiệm thành 2 lô: lô bổ sung chế phẩm và lô không bổ sung chế phẩm
Kiểm tra tổng số E coli trong phân
Ghi nhận tình hình tiêu chảy và tỷ lệ các bệnh khác
Theo dõi các chỉ tiêu tăng trọng và khả năng chuyển biến thức ăn
Tính hiệu quả kinh tế
Trang 12Heo hậu bị được nhốt chung trong một chuồng lớn có kích thước 10 × 15 (m)
và nằm cách biệt với các dãy chuồng khác nhằm hạn chế sự lây lan mầm bệnh từ bên ngoài vào trại
Khu heo nái chờ phối và mang bầu có 100 chuồng nằm sát nhau, trên có mái lợp tole lạnh gắn vòi phun nước, trong mỗi ô chuồng có 2 núm uống và 1 máng ăn Kích thước mỗi chuồng là 0,6 × 2,1 (m)
Chuồng heo đực giống được bố trí ở cuối dãy chuồng nái, thông thường đực giống ở trại không dùng lấy tinh mà để kiểm tra và xác định thời điểm lên giống của heo nái Kích thước mỗi chuồng là 1,5 × 2,1 (m)
Heo mang bầu hai tuần cuối được chuyển xuống dãy chuồng dành cho heo sắp sinh Mỗi ô chuồng được thiết kế với một lồng ép ở giữa dành cho heo mẹ có nền bằng xi măng, kích thước 0,6 × 2,1 (m), hai khoảng hai bên là nền sắt dành cho heo con nằm bú có kích thước lần lượt 0,5 × 2,1 (m) và 0,8 × 2,1 (m) Phần có kích thước lớn hơn chọn may lồng úm cho heo con Mỗi ô chuồng có máng ăn riêng dành cho heo nái và heo con Heo nái và heo con dùng chung núm uống Xung quanh chuồng có bạt và lưới chắn gió, mái tole lạnh có gắn vòi phun nước làm mát
Chuồng heo con cai sữa được thiết kế theo kiểu chuồng sàn gồm 2 dãy với
14 chuồng Mỗi ô chuồng có 1 máng ăn tự động, 2 núm uống và 1 lồng úm Xung
Trang 13quanh chuồng có bạt, lưới chắn gió và mái lợp tole lạnh có gắn vòi phun nước Kích thước mỗi ô chuồng là 3,5 × 5,0 (m)
Chuồng heo thịt có nền xi măng với 2 núm uống, 1 máng chứa nước được thiết kế hơi dốc, 1 máng ăn tự động ở giữa chuồng và trên mái có gắn vòi nước làm mát Diện tích mỗi ô chuồng là 8 × 6 (m)
Hình 2.1 Chuồng heo nái Hình 2.2 Chuồng cai sữa
2.1.2 Thức ăn và nước uống
Thức ăn ở trại gồm nhiều loại, đảm bảo dinh dưỡng cần thiết cho từng nhóm heo Heo con từ 3 – 60 ngày tuổi và heo nái ăn cám viên của công ty sản xuất thức
ăn CP Các nhóm heo còn lại ăn cám do trại tự trộn Công thức cám của heo con và heo nái ở trại được thể hiện ở Bảng 2.1
Bảng 2.1 Công thức cám cho các nhóm heo
Chú thích: chửa kì I: phối – mang thai 12 tuần; chửa kì 2: thai 13 tuần – ngày 114
(Nguồn do công ty CP cung cấp, 2012)
Trang 14Tuỳ từng lứa tuổi heo, nhu cầu dinh dưỡng mà hàm lượng các dưỡng chất cần thiết và lượng thức ăn cho heo cũng khác nhau Thành phần dinh dưỡng trong các loại cám được thể hiện ở Bảng 2.2
Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng các loại cám
Loại cám Protein thô (%) Chất xơ (%) Ca (%) P (%) NaCl (%)
(Nguồn do công ty CP cung cấp, 2012)
Bồn chứa nước uống cho heo được lắp đặt theo từng khu, ống dẫn nước nằm dọc theo dãy chuồng và mỗi ô chuồng có núm uống riêng Nước cho heo uống được bơm từ giếng khoan của trại
2.1.4 Qui trình vệ sinh
Đường dẫn nước thải nằm ở mép ngoài đối với chuồng nền và chính giữa đối với chuồng sàn Theo hệ thống ống dẫn, nước thải từ các chuồng được đưa xuống hầm chung để xử lý, sau đó đưa xuống hầm biogas Khí thải ra dùng để chạy máy phát điện
Buồng sát trùng được đặt ở cổng trại với nồng độ thuốc sát trùng từ 2 – 3 % Đầu mỗi dãy chuồng có hố sát trùng bằng vôi được cung cấp liên tục Định kì sát trùng chuồng trại 1 lần/1 tuần (tùy tình hình dịch tễ)
Thường xuyên phát quang bụi rậm, cỏ dại, xịt rong rêu xung quanh và dưới nền chuồng Máng ăn heo nái và heo bầu được rửa sạch sau mỗi lần heo ăn xong
Vệ sinh chuồng trại trước khi cho heo vào
Trước khi lên trại, công nhân và khách tham quan được trang bị đồ bảo hộ lao động, đi dày ủng, đi qua buồng và hố sát trùng Trong thời gian làm việc, công nhân giữa các khu hạn chế tiếp xúc với nhau (nếu có việc cần qua khu khác phải qua buồng sát trùng trước và sau khi tiếp xúc với heo)
Trang 152.1.5 Chăm sóc nuôi dưỡng
Heo nái trước ngày đẻ dự kiến 2 tuần được đưa xuống chuồng sàn dành cho nái đẻ để quen với chuồng và được theo dõi, tắm rửa sạch sẽ hằng ngày Ngày cho
ăn 2 lần và được tăng cám với lượng vừa đủ Khi heo có biểu hiện gần sinh thì giảm
ăn hoặc ngừng ăn tùy vào thời điểm chuyển sinh
Nái sau khi sinh hạn chế tắm, tiêm oxytocin liều 3 – 5 (ml/con), để kích thích tạo sữa, tránh sót nhau và đẩy sản dịch ra khỏi tử cung Trong một số trường hợp heo đẻ khó thì có thể can thiệp bằng cách tiêm oxytocin liều 2 (ml/con) để mở cổ tử cung, giúp cho heo nái để dễ dàng hơn Heo sau khi sinh xong tiêm amoxcillin liều 0,1 (ml/kg) thể trọng, để chống viêm nhiễm cho heo mẹ, chích lặp lại liên tục 3 ngày sau khi sinh và cặp nhiệt, theo dõi biểu hiện của heo trong khoảng 1 tuần lễ sau sinh Nếu heo có biểu hiện sốt trên 38,5o C thì can thiệp bằng cách tiêm thuốc
hạ sốt ANAC liều 0,1 (ml/kg) thể trọng hoặc Ketofen liều 3 – 5 (ml/con) khi heo sốt trên 40oC Nếu heo sốt trong những ngày nắng nóng thì đưa heo ra ngoài chuồng tắm, sau đó lau khô vùng bụng để tránh lạnh sữa không tốt cho heo con khi bú
Heo con mới sinh ra dùng khăn vải mềm, sạch lau nhớt ở đầu, đánh cho kêu, sát trùng rốn bằng cồn iodine dạng đậm đặc (buộc rốn khi cuống rốn quá to và có nguy cơ chảy máu), đặt heo lên vải bố đã được chuẩn bị sẵn, rắc bột mistral cho heo khô và bớt lạnh, đỡ cho heo bú sữa đầu trong vòng 15 phút sau đó bỏ vào lồng úm
có gắn đèn làm ấm
Trong vòng 24 giờ sau khi sinh, heo con được cắt đuôi và bấm răng Ngày thứ 3 chích sắt liều 2 (ml/con) và nhỏ Baycox liều 1 (ml/con) Ngày thứ 4, bắt đầu cho heo con ăn cám dạng viên Ngày thứ 5, thiến những heo đực không làm giống
và tiêm amoxcillin chống nhiễm trùng Ngày thứ 10, chích sắt lại lần 2 liều 2 (ml/con) Heo con 21 ngày tuổi cho cai sữa
Thường xuyên có người trực và theo dõi tình trạng sức khỏe heo con bằng cách quan sát việc bú mẹ, tư thế nằm, phân (màu sắc và lượng) của heo con, chú ý các vị trí như: rốn, khớp chân
Trang 162.1.6 Lịch chủng ngừa
Quy trình chủng ngừa của trại được áp dụng một cách nghiêm ngặt vì
vaccine có tác dụng làm giảm mức độ thiệt hại, giảm tỷ lệ sẩy thai, giảm tỷ lệ chết
trên heo con theo mẹ thông qua việc nâng cao hàm lượng kháng thể trong máu heo
nái và kháng thể mẹ truyền cho heo con Lịch chủng ngừa cho heo ở trại được thể
hiện ở Bảng 2.3
Bảng 2.3 Lịch chủng ngừa của trại
Nhóm heo Thời gian Vaccine phòng bệnh Tên thương mại
Heo nái
10 tuần Dịch tả Fogtdodge
Heo con – cai
sữa
7 ngày Do Mycoplasma Respixuge 1 one
22 – 29 ngày Dịch tả lần 1 Fogtdodge
45 - 50 ngày Lở mồm long móng Aftopor
55 – 60 ngày Dịch tả lần 2 Fogtdodge
(Nguồn do trại Nguyễn Văn Hải cung cấp, 2012)
Ngoài các bệnh nói trên, trong một số trường hợp bệnh phát sinh như hội
chứng gầy còm trên heo cai sữa do Circovirus thì tiến hành tiêm phòng cho heo nái
Đối với nái hậu bị tiêm lần 1 trước phối 6 tuần, lần 2 trước phối 2 tuần Heo nái
mang thai tiêm lần 1 trước đẻ 6 tuần, lần 2 trước sinh 2 tuần Tiêm nhắc lại đối với
các lứa tiếp theo và tiêm 1 liều trước khi sinh 2 – 4 tuần
Trang 172.2 Đặc điểm sinh lý tiêu hoá và hấp thu của heo con
Tiêu hóa là quá trình phân giải các chất hữu cơ phức tạp có trong thức ăn thành những chất đơn giản giúp cơ thể dễ dàng hấp thu Quá trình này được diễn ra nhờ tác động cơ học và hóa học của các cơ quan tiêu hoá Hệ tiêu hóa cùng một số
tổ chức khác trong cơ thể như gan, tuyến tụy là cơ quan tiếp nhận và chế biến mọi dạng vật chất được đưa từ môi trường bên ngoài vào trong cơ thể thành dinh dưỡng nhằm đáp ứng cho nhu cầu sinh trưởng và phát triển của cơ thể Sau quá trình biến đổi cơ học và hóa học, các chất dinh dưỡng như glucid, lipid, và protein ở dạng thô được chuyển hóa thành dạng đơn giản như các đường đơn, acid béo và glycerin, các acid amin Cuối cùng các chất dinh dưỡng được hấp thu qua thành ống tiêu hóa vào máu, trở thành nguyên liệu để xây dựng, dự trữ và cung cấp cho mọi hoạt động sống của cơ thể đồng thời những chất cặn bã được thải ra ngoài Bên cạnh việc thực hiện chức năng tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng, hệ tiêu hóa còn có chức năng làm hàng rào bảo vệ và phòng ngừa sự xâm nhập của các mầm bệnh truyền nhiễm (Đào Trọng Đạt và ctv, 1995)
2.2.1 Đặc điểm cấu tạo bộ máy tiêu hoá của heo con
Khi còn trong bào thai, các tế bào phức tạp làm nhiệm vụ hấp thu dinh dưỡng giúp heo con dần dần phát triển Các bộ phận của cơ quan tiêu hoá được hình thành trong thời kì đầu mang thai Sau đó, cấu tạo của chúng trở nên hoàn thiện hơn làm tăng khả năng tiêu hoá và hấp thu dưỡng chất
Khi có dấu hiệu sinh, cơ quan tiêu hoá của heo phát triển nhanh hơn các bộ phận khác Sau khi sinh 24 giờ, khả năng phân tiết các chất trong dạ dày tăng gấp 2 lần và khoảng 1 – 3 ngày sau tăng thêm gấp 2 lần trong khi độ pH giảm xuống còn 2,4 nhằm hạn chế sự phát triển của vi khuẩn và thúc đẩy sự tổng hợp các chất tham gia trong quá trình tiêu hoá Mật độ các tế bào tổ chức ruột gia tăng, thành ruột có khả năng phân tiết các chất men Sau 7 ngày tuổi, dạ dày lớn gấp 2 lần so với lúc mới sinh, khả năng phân tiết của các chất phân giải chất đạm tăng gấp 9 lần và tăng nhanh đạt đến mức cần thiết (Pig và Pork, 2010)
Trang 18Trong thời gian bú sữa đầu, hệ thống tiêu hoá của heo con tiếp tục hoàn thiện Nếu cai sữa càng chậm thì hệ thống tiêu hóa càng phát triển vì chất dinh dưỡng trong sữa mẹ sẽ giúp heo con chuyển hóa các chất dinh dưỡng được dễ dàng
Ở giai đoạn cai sữa, các bộ phận của cơ quan tiêu hóa phát triển với tốc độ khác nhau Sau khi cai sữa khoảng 10 ngày, bào tử sẽ dần dần phát triển tuy nhiên trong vòng 3 ngày đầu độ lớn ruột non bị giảm sút và có thể 10 ngày sau cũng chưa phục hồi lại được như ban đầu Thế nhưng ruột già thì ngược lại, nó phát triển rất nhanh giúp heo con sống độc lập sau cai sữa
Các cơ quan liên quan đến bộ máy tiêu hóa cũng phát triển hoàn toàn khác nhau Ví dụ như gan: sau khi cai sữa, ở tuần thứ 2 phát triển rất nhanh, góp phần gia tăng hoạt động trao đổi chất còn tuyến tụy thì phát triển ổn định sau 13 ngày tuổi Tuy nhiên, sau khi cai sữa, tuyến tụy và quá trình sản xuất chất đạm tiếp tục phát triển Nếu tuyến tụy phát triển quá mức sẽ gây ảnh hưởng đến quá trình sinh tổng hợp các enzyme, có thể làm giảm sự tổng hợp chymotrypsin và elastase II, tăng lipase, trypsin và amylase Việc tổng hợp các enzyme chịu ảnh hưởng bởi ngày tuổi cai sữa, tỷ lệ mỡ và các chất dinh dưỡng đặc biệt là lượng chất đạm có trong thức ăn (Pig và Pork, 2010)
2.2.2 Hoạt động của các enzyme tiêu hoá
Trong quá trình mang thai, các enzyme được hình thành trong ruột và dần gia tăng trong tuyến tuỵ Elastase – II và chymotrypsin được tăng nhiều nhất ở cuối thai kỳ Tuy nhiên, theo Nguyễn Như Pho (2001), khi ra khỏi bụng mẹ sự phân tiết các enzyme tiêu hoá ở dạ dày và ruột non của heo con rất kém, chỉ đủ sức tiêu hoá các loại thức ăn đơn giản, dễ tiêu như sữa mẹ Khả năng phân tiết acid chlohydric (HCl) của dạ dày rất ít, chỉ đủ để hoạt hoá men pepsinogen thành pepsin Do pepsin hoạt động yếu, sự tiêu hoá protein sữa nhờ enzyme trypsin của tuyến tuỵ Mặt khác, lượng HCl tự do quá ít không đủ làm tăng độ toan của dạ dày, do đó không ức chế được sự phát triển của vi sinh vật có hại, chúng vẫn phát triển và gây tiêu chảy cho heo con (Lê Văn Thọ và Đàm Văn Tiện, 1992)
Trang 19Hoạt tính enzyme lipase từ lúc mới sinh đến 1 tháng tuổi rất cao, sau đó giảm dần theo ngày tuổi một cách rõ rệt Trước 20 ngày tuổi đến 1 tháng, dạ dày heo hầu như không tiêu hoá được protein thực vật Hoạt tính của enzyme lactase cũng giảm dần theo lứa tuổi Ở heo 1 tháng tuổi, lượng dịch tiêu hoá do các tuyến tiêu hoá chính (ở miệng, dạ dày, tuỵ, ruột) tiết ra trong một ngày đêm khoảng 1,2 – 1,7 (lít)
Số lượng và hoạt tính của các enzyme tiêu hoá sẽ tăng dần theo ngày tuổi và đến tuần thứ 7 mới đạt mức độ như ở heo trưởng thành
2.2.3 Đặc điểm hấp thu qua thành ruột
Khi heo con mới sinh ra, các chất dinh dưỡng được hấp thu từ đáy của khe nhung mao tới đỉnh của nhung mao nhưng trong thời kỳ bú sữa việc hấp thu chủ yếu xảy ra tại đỉnh nhung mao Sau khi cai sữa, hình thái của ruột bị ảnh hưởng nghiêm trọng Tỷ lệ khe nhung mao và độ cao của nhung mao sau khi cai sữa 24 giờ thay đổi rất rõ, từ 3 – 5 ngày sau càng trở nên khác biệt Sự gia tăng về số lượng và
độ sâu của khe nhung mao không thể quan sát rõ cho đến khi cai sữa được khoảng 5 ngày Ở ngày thứ 6 sau cai sữa, độ sâu của khe nhung mao hầu như không thay đổi Sau thời gian này nó gia tăng rất nhanh và gấp 2 lần so với ngày đầu tiên Quá trình phát triển của khe nhung mao được diễn ra liên tục và không phụ thuộc vào độ tuổi cai sữa (18, 21, 28 hoặc 35 ngày tuổi) (Pig và Pork, 2010)
Độ cao từ đáy khe nhung mao đến đỉnh nhung mao không bị ảnh hưởng bởi lứa tuổi nhưng sau cai sữa khoảng 5 ngày đoạn đường này bị rút ngắn và dần được định hình do sự kéo dài của đáy nhung mao Heo con cai sữa lúc 21 ngày tuổi, khi chuyển qua ăn cám, độ cao nhung mao, độ sâu khe nhung mao và số lượng tế bào ruột sẽ không bị ảnh hưởng
Để thích nghi với những thay đổi trên, bộ máy tiêu hoá của heo con phải trải qua quá trình phát triển nhanh về kích thước, dung tích và sự thay đổi về hoạt động sinh lý để có thể tiêu hoá được nhiều loại thức ăn phức tạp cũng như thích nghi được với môi trường sống
Trang 202.3 Tiêu chảy trên heo con
2.3.1 Khái niệm
Tỷ lệ nước trong phân bình thường chiếm 80 %, phân táo bón chiếm 70 %, phân nhão 85 %, phân lỏng trên 85% thì được xem là tiêu chảy Theo Nguyễn Văn Thành và Đỗ Hiếu Liêm (1998), tiêu chảy là bệnh lý xảy ra trên các loài động vật với đặc điểm: gia tăng lượng phân thải ra hằng ngày, gia tăng lượng nước trong phân, gia tăng số lần thải phân
Trên thực tế, tiêu chảy là một biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý đặc thù ở đường tiêu hoá Thú đi phân lỏng, có thể có chất nhầy, bọt khí, đôi khi có lẫn máu Ngoài ra, trong một số trường hợp tiêu chảy nặng thú mất nhiều nước một cách nhanh chóng nên suy nhược cơ thể, dẫn tới tử vong Tỷ lệ chết do tiêu chảy
từ 5 – 50 % có khi lên đến 100 %
2.3.2 Các nguyên nhân gây tiêu chảy trên heo con
Bệnh tiêu chảy ở heo con do nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể chia làm 3 nhóm nguyên nhân chính: do điều kiện kiện ngoại cảnh bất lợi, nuôi dưỡng không đúng kỹ thuật và do vi sinh vật
2.3.2.1 Do điều kiện ngoại cảnh bất lợi
Khi còn nhỏ, heo con có khả năng chịu lạnh kém do lớp mỡ dưới da mỏng, diện tích bề mặt lớn so với trọng lượng nên cơ thể dễ bị mất nhiệt, các tác nhân ngoại cảnh dễ dàng xâm nhập gây rối loạn thần kinh dẫn tới rối loạn tiêu hoá (Đào Trọng Đạt và ctv, 2000)
Lúc mới sinh, heo con có thân nhiệt khoảng 38,9 – 39,1oC và có thể giảm dần xuống còn 36,7 – 37,1oC sau 30 phút Tuy nhiên, khi được bú sữa đầu và ủ ấm thì thân nhiệt của heo con sẽ ổn định sau 8 – 12 giờ (Đào Trọng Đạt và ctv, 2000)
Ở chuồng nuôi heo con theo mẹ, độ ẩm thích hợp là 70 – 85 %, nhiệt độ thích hợp
là 32 – 34oC Nếu nhiệt độ quá thấp hoặc độ ẩm trong chuồng nuôi quá cao sẽ làm thay đổi hoạt động sinh lý bình thường của heo gây rối loạn tiêu hoá dẫn tới tiêu chảy Vào các thời điểm giao mùa, nhiệt độ của môi trường thường xuyên thay đổi khiến heo dễ bị stress đồng thời thuận lợi cho mầm bệnh phát triển
Trang 212.3.2.2 Do heo mẹ
Trong thời gian mang thai, heo nái không được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng như thiếu protein, thiếu vitamin A, thiếu Cu, thiếu Zn, thiếu Fe…làm rối loạn quá trình trao đổi chất ở bào thai nên heo con mới sinh ra yếu, chậm lớn, dễ mắc bệnh nhất là bệnh về đường tiêu hóa Quá trình nuôi dưỡng heo nái không hợp lý nên sau khi sinh heo nái sản xuất sữa kém, chất lượng sữa không đảm bảo Do đó heo con thiếu sữa, còi cọc, yếu ớt, sức đề kháng kém…tạo điều kiện cho bệnh phát sinh
Thời điểm heo con theo mẹ, việc vệ sinh chuồng nái rất quan trọng Vừa phải đảm bảo sạch và thoáng cho heo nái, vừa phải đảm bảo đủ ấm cho heo con Nếu công tác vệ sinh không tốt thì sức khoẻ của heo nái bị ảnh hưởng dẫn tới bị viêm
vú, giảm sự tiết sữa, ảnh hướng đến heo con
Ngoài ra, heo mẹ mắc hội chứng M.M.A, heo con bú sữa viêm, liếm sản vật viêm từ sữa rơi vãi trên nền chuồng gây viêm ruột, tiêu chảy
2.3.2.3 Do bản thân heo con
Khi mới sinh ra bộ máy tiêu hoá heo con chưa hoàn thiện, sự tiết dịch tiêu hoá ở dạ dày, ruột không đủ số lượng và chất lượng, lượng acid HCl cần thiết cho
sự tiêu hoá thức ăn ở dạ dày bị thiếu, do đó heo con dễ bị tiêu chảy
Heo con không được bú sữa đầu nên sức đề kháng giảm hoặc bú nhiều sữa, sữa không tiêu hoá hết, lên men gây tiêu chảy Heo con sử dụng thức ăn, nước uống kém phẩm chất như nước dơ bẩn hoặc nhiễm khuẩn, thức ăn ôi mốc, thiếu vitamin (nhất là vitamin A và D), thiếu khoáng đặc biệt là Fe Tuy nhiên, khi cung cấp quá nhiều Fe (600 mg/kg thể trọng) thì sau 3 giờ độc tính Fe phát tác với các triệu chứng như: không điều phối được động tác, run, khó thở và tiêu chảy Ngoài ra, khi
chích trên 200 (mg Fe/ngày) cho heo con thì vi khuẩn E coli có thể phát triển và
gây tiêu chảy cho heo (Trần Thị Dân, 2003) Theo Trần Thanh Phong (2002), vi khuẩn cần nhiều Fe cho sự biến dưỡng, do đó trong trường hợp nhiễm trùng, sự giảm nồng độ Fe trong máu là một phương tiện để bảo vệ cơ thể Thời kì heo con mọc răng cũng ảnh hưởng đến sức đề kháng của cơ thể và gây tiêu chảy (Võ Văn
Trang 222.3.2.4 Do vi sinh vật
Trong đường tiêu hoá của heo con, hệ vi sinh vật rất phong phú và đa dạng Bên cạnh những vi sinh vật có lợi còn có những vi sinh vật có hại, chúng luôn là mối nguy hại cho heo Những vi sinh vật có hại có thể là nguyên nhân chính yếu (nếu chúng chiếm số lượng lớn trong bộ máy tiêu hoá) hay nguyên nhân thứ yếu (nếu chúng chiếm số lượng nhỏ trong bộ máy tiêu hoá) gây bệnh cho heo con Vi sinh vật gây tiêu chảy cho heo con có thể là virut, vi khuẩn, kí sinh trùng hoặc nguyên sinh động vật Theo Nguyễn Như Pho (2001), hiện nay có khoảng 12 loại vi sinh vật gây bệnh tiêu chảy trên heo con được trình bày ở Bảng 2.4
Bảng 2.4 Một số mầm bệnh gây tiêu chảy trên heo con
Virut
Viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGE)
Dịch tiêu chảy (PED)
Tiêu chảy do Rotavirus
Vi trùng
Tiêu chảy do Clostridium perfringens
Viêm ruột hoại tử
Tiêu chảy do E coli
Phó thương hàn
Tiêu chảy do Campylobacter
Hồng lị
Ký sinh trùng Tiêu chảy do Ascaris suum
Tiêu chảy do Fasciola hepatica
Nguyên sinh động vật Cầu trùng
(Nguyễn Như Pho, 2001)
2.3.3 Cơ chế gây tiêu chảy trên heo con
Theo Trần Thị Dân (2003), có 5 cơ chế gây tiêu chảy như sau:
(1) Thú non bú quá nhiều sữa hoặc chất thay thế sữa dẫn tới tiêu chảy do hấp thu kém Tuy ruột già có khả năng hấp thu một lượng nước gấp 3 – 5 lần lượng nước đi vào ruột non nhưng khi lactose không được tiêu hoá ở ruột non và bị lên
Trang 23men ở ruột già thì hệ thống đệm ở ruột già không đủ để trung hoà acid Do đó, pH trong ruột già giảm và ruột già không thể đảm bảo vai trò hấp thu nước, kết quả là thú bị tiêu chảy
(2) Giảm diện tích hấp thu ở ruột non Tình trạng này hay gặp trong bệnh tiêu chảy do thay đổi tính thẩm thấu của thành ruột, khi đó tiêu hoá và hấp thu đều kém Chẳng hạn, virus gây bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm làm nhung mao bất dưỡng dẫn đến tiêu chảy hay khi thú non ăn quá nhiều mà tiêu hoá và hấp thu ở ruột kém Khi đó, có thể cho thú nhịn đói để giảm tiêu chảy
(3) Tiêu chảy do phân tiết nhiều Các chủng E coli tiết độc tố vào trong
đường ruột là nguyên nhân chính gây nên hiện tượng tiêu chảy này Vi khuẩn
E coli không thâm nhập vào trong cơ thể hay gây nên các bệnh tích mô học ở ruột
non nhưng gây xáo trộn lớn về mặt hoá học do 2 độc tố: độc tố chịu nhiệt và độc tố không chịu nhiệt
(4) Tăng tính thẩm thấu của đường ruột cũng là nguyên nhân gây ra tiêu chảy Thường xảy ra trong trường hợp viêm làm tổn thương các tế bào ruột, gây mất tính hợp nhất ở các mối nối giữa các tế bào và gia tăng áp lực của lớp đệm trong thành ruột làm tăng tính thẩm thấu, gây tiêu chảy
(5) Xáo trộn về vận động cơ học ít được hiểu rõ Ngày nay, người ta biết rằng sự tăng vận động của ruột non ít đưa đến tiêu chảy Thay đổi về sự vận động
có thể xảy ra ở bệnh do độc tố của E coli Trong trường hợp này, tăng vận động
chỉ góp phần vào tiêu chảy mà không là nguyên nhân
2.3.4 Hậu quả sinh lý của tiêu chảy
Theo Trần Thị Dân (2003), có 3 hậu quả sinh lý do tiêu chảy gây ra:
(1) Ảnh hưởng rõ rệt nhất là mất dịch ngoại bào (dịch nằm giữa các tế bào, nước của mạch máu) Khi mất một lượng dịch ngoại bào đáng kể khoảng 15 % thì
cơ thể sẽ xuất hiện các triệu chứng lâm sàng như giảm huyết áp, tim đập nhanh, thú tím tái và có thể gây chết thú nếu mất quá nhiều dịch ngoại bào Do đó, cung cấp dịch ngoại bào là biện pháp ưu tiên trong điều trị bệnh tiêu chảy Sự thành công của
Trang 24chảy do thú nhiễm nội độc tố vi khuẩn, vận chuyển đồng hướng Na/glucose ở ruột không bị ảnh hưởng, cho thú uống dung dịch điện giải chứa glucose rất hữu hiệu Trong tiêu chảy nhẹ do virut, lớp màng nhầy ở ruột vẫn còn khả năng tiếp nhận dung dịch khi cho uống, nhưng dung dịch uống không hữu hiệu khi tiêu chảy nặng
mà nguyên nhân chủ yếu do virut
(2) Thay đổi nồng độ ion trong máu Toan huyết (giảm pH máu) trầm trọng bởi nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu do mất HCO3- qua phân dẫn đến tăng kali huyết Khi hàm lượng K+ trong máu tăng thì nhịp tim giảm Tỷ số K+ của ngoại bào và K+ của nội bào thay đổi làm hoạt động của cơ tim bị rối loạn và có thể gây chết thú
(3) Thay đổi quá trình biến dưỡng của cơ thể Giảm glucose huyết thường xảy ra trong trường hợp tiêu chảy cấp tính vì thú biếng ăn, giảm hấp thu dưỡng chất, ức chế tân tạo đường và tăng thuỷ phân glycogen Khi đó, thân nhiệt của cơ thể hạ thấp vì không đủ glucose để tạo năng lượng cho các cơ quan hoạt động, giảm sức đề kháng của cơ thể, thú dễ bị nhiễm trùng
2.4 Một số bệnh liên quan đến tiêu chảy trên heo con
2.4.1 Tiêu chảy do E coli
2.4.1.1 Giới thiệu về E coli
E coli là trực khuẩn Gram âm, có hình gậy, kích thước 2 – 3 × 0,6 (µ), hai
đầu tròn, có khi ở dạng cầu trực khuẩn (khi đứng riêng lẻ), có khi xếp thành chuỗi ngắn, có thể di động nhờ có lông xung quanh thân và không sinh nha bào Vi khuẩn
E coli dễ bị tiêu diệt ở nhiệt độ trên 60oC và các tác nhân như acid phenic, chlorua thuỷ ngân, formol (dẫn liệu của Trần Thị Thu Thuỷ, 2003)
Trang 25mao, nhân lên và gây bệnh Ngoại độc tố của vi khuẩn E coli được sản xuất ở ruột
non, đi vào máu làm tổn thương thành mạch máu gây nên đặc tính nổi bật của bệnh
là phù niêm mạc dạ dày và màng ruột già nên bệnh tiêu chảy trên heo con do E coli
còn được gọi là “bệnh phù thũng” hay “bệnh phù nề” Vệ sinh và sát trùng chuồng trại thường xuyên cũng không cắt đứt được nguồn lây nhiễm của mầm bệnh (Minh Khiết, 2010)
Tiêu chảy do E coli chủ yếu xuất hiện trên heo con đặc biệt là giai đoạn heo
sau cai sữa 1 – 2 tuần nhưng cũng có trường hợp xảy ra ở heo 4 ngày tuổi Tiến trình diễn biến của bệnh từ 4 – 10 ngày, bình quân khoảng 1 tuần Trên heo con, thường khoảng 12 – 72 giờ sau khi sinh, nhất là khoảng 48 giờ, thường ở các đàn
úm không đủ ấm, vệ sinh kém, thiếu sữa đầu hoặc sữa mẹ kém Khi đó, nhu động
ruột bị giảm tạo điều kiện thuận lợi cho E coli xâm nhiễm, nhân lên trong ruột rồi
vào máu gây nhiễm trùng máu
2.4.1.3 Triệu chứng và bệnh tích
Trên heo con theo mẹ thường có những biểu hiện như: nằm tụm lại, run rẩy hoặc nằm một góc, da xung quanh đuôi và hậu môn dính phân, đi phân lỏng đến sệt
có màu kem và có thể thấy heo ói Heo mất nước do tiêu chảy nên mắt lóm vào và
da trở nên khô Trước khi chết, có thể thấy heo có hiện tượng bơi chèo và sùi bọt mép Tỷ lệ bệnh và tỷ lệ chết cao trên heo sơ sinh
Hình 2 3 Heo con tiêu chảy và thuỷ thũng mắt
(Nguồn: Công ty Vinavetco, 2012)
Trang 26Ở thể cấp tính, có khi thấy xuất hiện những đốm đỏ trên da, khó thở và nếu kết hợp với shock nội độc tố thì có sự giảm hô hấp, sung huyết niêm mạc, tím da ở vùng chóp lỗ tai, chóp đuôi, mõm có màu tím xanh
Đối với heo sau cai sữa triệu chứng đầu tiên là đi phân lỏng, mất nước và giảm trọng Một vài trường hợp, phân có máu, sệt với nhiều màu sắc như xám, trắng, vàng và xanh lá cây Bệnh thường ở dạng thuỷ thũng kèm theo triệu chứng thần kinh và gây chết đột ngột Tỷ lệ mắc bệnh khoảng 50 % và tỷ lệ chết từ 5 – 50
% Trong trường hợp cảm nhiễm, type E coli gây bệnh sẽ nhân lên trong niêm mạc
ruột, sản sinh độc tố nên xuất hiện các triệu chứng lâm sàng như: tiêu chảy phân hơi xám, có mùi hôi thối, heo run rẩy, yếu ớt, không tiêu chảy hoặc tiêu chảy mất nước nghiêm trọng và thường xảy ra trên heo lớn trội của đàn Heo có thể bị tiêu chảy kết hợp với thuỷ thũng hoặc chỉ bị thuỷ thũng Khi bị thuỷ thũng thường làm sưng phồng mí mắt, gốc tai, vùng hầu, đôi khi sưng cả mặt và có những triệu chứng thần kinh như: đi xiêu vẹo, hay đâm đầu vào tường, co giật kiểu bơi chèo, bị liệt nên nằm nghiêng một bên, khó thở thường thấy ở giai đoạn cuối Diễn biến bệnh trong vòng
24 giờ với tỷ lệ chết cao từ 40 – 90% và không nhận thấy sự gia tăng của thân nhiệt Nếu thuỷ thũng trên thanh quản heo sẽ có biểu hiện kêu khàn
2.4.1.4 Phòng bệnh
Chuồng trại phải luôn khô ráo, sạch sẽ, để giảm bớt số lượng vi khuẩn E coli
gây bệnh có trong môi trường Chuồng heo đẻ và lồng úm heo sơ sinh phải được tiêu độc, sát trùng trước khi đưa nái đẻ qua ít nhất 2 ngày
Tăng cường sức đề kháng cho heo bằng cách hoà tan các chế phẩm bổ sung chất điện giải, vi khoáng và vitamin vào trong nước cho heo uống
Heo con mới sinh ra phải cho bú sữa đầu ngay để cơ thể được hấp thu dưỡng chất và kháng thể có trong sữa mẹ, giúp heo con phòng chống bệnh trong 3 – 4 tuần
lễ đầu Giữ đủ ấm cho heo con, nhất là vào mùa mưa, cần thường xuyên theo dõi nhiệt độ trong chuồng nuôi và nguồn nhiệt sưởi ấm Trong mùa lạnh, cần che chắn hướng gió lùa, không nên hoặc hạn chế tắm, dội rửa chuồng
Trang 27Cho heo con tập ăn sớm (5 – 7 ngày sau khi sinh) để quen dần với thức ăn và nâng cao khả năng tiêu hoá của heo con Bên cạnh đó, việc cho heo tập ăn sớm sẽ giúp hệ tiêu hoá heo con sớm tạo ra những enzyme có lợi cho quá trình tiêu hoá sau này, từ đó hạn chế đáng kể tỷ lệ tiêu chảy ở những ngày sau cai sữa
Đối với heo con cai sữa, ở những ngày đầu cần cho ăn ít và có kiểm soát
giúp hạn chế sự phát triển của E coli ở trong đường tiêu hoá Nếu cần thay đổi thức
ăn trong giai đoạn này, cần tiến hành từ từ để heo con có thời gian thích nghi dần
Thực hiện tiêm phòng đúng định kỳ cho heo nái và heo con để kháng thể heo
con có đủ kháng thể phòng chống tiêu chảy do E coli
2.4.2 Viêm ruột hoại tử do Clostridium perfringens type C
2.4.2.1 Giới thiệu về Clostridium perfringens
Clostridium perfringens là vi khuẩn Gram dương, hình que, kị khí, sinh bào
tử (dẫn liệu của Trần Đình Khôi, 2009)
2.4.2.2 Đặc điểm gây bệnh
Clostridium perfringens type C thường gây bệnh trên heo dưới 1 tuần tuổi, ở thể quá cấp tính hoặc cấp tính với dấu hiệu tiêu chảy ra máu Đối với heo trên 1 tuần tuổi, bệnh thường xuất hiện ở thể bán cấp tính Bệnh chủ yếu lây nhiễm qua đường tiêu hoá và vết thương hở
2.4.2.3 Triệu chứng và bệnh tích
Thể quá cấp tính thường xuất hiện trên heo mới sinh với những biểu hiện như: lười bú, mệt, ít vận động, tiêu chảy ra máu và chết sau 1 – 2 ngày tiêu chảy
Mổ khám thấy xuất huyết đỏ đậm ở ruột non
Thể cấp tính xảy ra trên heo con từ 5 – 7 ngày tuổi với triệu chứng đặc trưng tiêu chảy ra máu (phân màu đen) và chết sau 2 – 3 ngày mắc bệnh Ngoài ra khi mổ khám trên ruột non xuất hiện nhiều vùng bị hoại tử hoặc bị loét
Thể bán cấp tính được nhận thấy trên heo con giai đoạn từ 1 tuần tuổi đến cai sữa, với đặc điểm tiêu: chảy kéo dài, phân màu xanh, không dính máu, heo con bị suy yếu và bị chết sau 5 – 7 ngày mắc bệnh Trên ruột non có nhiều vùng bị hoại tử
Trang 282.4.2.4 Phòng bệnh
Thường xuyên vệ sinh chuồng trại (sát trùng bằng NaOH 3 %, Cresyl 5 %),
tốt sau giải phẫu, khi bệnh xuất hiện để trống chuồng trại (1 tháng) là tốt nhất
Chăm sóc tốt heo nái trước và sau khi sinh Bổ sung dinh dưỡng, cung cấp vi sinh vật có lợi giúp ổn định hệ thống tiêu hoá, bảo hệ heo con trước mầm bệnh
2.4.3 Tiêu chảy do Rotavirus
2.4.3.1 Giới thiệu về Rotavirus
Rotavirus là một virut có ARN hai sợi gồm 11 phân đoạn, kích thước 75 cm
với capside bên ngoài và không có vỏ Tên virut đặc trưng cho hình thái của nó vì rota có nghĩa là bánh xe (Trần Thanh Phong, 1996)
2.4.3.2 Đặc điểm gây bệnh
Rotavirus gây bệnh trên heo con với biểu hiện: tiêu chảy phân vàng có nhiều bọt và chất nhầy Bệnh rất nặng trên heo con theo mẹ và nhẹ hơn trên heo con đã cai sữa Thời gian nung bệnh từ 18 – 24 giờ Bệnh truyền lây chủ yếu qua đường tiêu hóa Tỷ lệ chết từ 30 – 40 %
Sự thoái hoá của những tế bào thượng bì ruột non làm nhung mao ruột ngừng phát triển, thành ruột bị mỏng, mất đi bờ “bàn chải” Sau đó, nhung mao ruột bị hoại tử, bong tróc ra va và kết dính lại với nhau Quan sát dưới kính hiển vi có thể thấy có sự hình thành những hợp bào đa nhân và tế bào hình khối
Trang 29Kháng thể (antibody) là các phân tử immonoglobin (bản chất glycoprotein),
do các tế bào lympho B cũng như các tương bào (biệt hoá từ lympho B) tiết ra để hệ miễn dịch nhận biết và vô hiệu hoá các tác nhân lạ, chẳng hạn các vi khuẩn hoặc virut Mỗi kháng thể chỉ có thể nhận biết một kiểu kháng nguyên duy nhất
2.5.2 Đặc tính của kháng thể
Kháng thể là một protein sinh học đặc thù, có cấu tạo phức tạp và tác dụng đặc hiệu cho một loại kháng nguyên tương ứng với nó Đó là “chất miễn dịch”giúp
cơ thể chống lại các tác nhân sinh ra nó (kháng nguyên) (Nguyễn Ngọc Hải, 2007)
Cơ thể thú chỉ sản xuất ra kháng thể khi tiếp xúc với kháng nguyên đó là các mầm bệnh như virut, vi khuẩn Vì vậy, nếu chưa tiếp xúc với kháng nguyên thì thú không thể sản xuất ra kháng thể Khi đó, cơ thể thú không có miễn dịch và dễ dàng bị mầm bệnh tấn công Dựa trên cơ sở này, hiện nay các chế phẩm sản xuất từ kháng thể được dùng như một liệu pháp hiệu quả để phòng và chữa bệnh cho vật nuôi
Hình 2.4 Quy trình sản xuất kháng thể Ig Y