2.2.6 Nước uống Nước không phải là một chất dinh dưỡng nhưng đóng một vai trò rất quan trọng trong sự trao đổi chất của cơ thể gia cầm, tham gia vào điều hòa thân nhiệt, là môi trường c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y
*********
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT CƠ CẤU CHẤT THẢI TỪ TRẠM ẤP TRỨNG
GÀ LƯƠNG PHƯỢNG VÀ TÌM BIỆN PHÁP XỬ LÝ
CÓ HIỆU QUẢ
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN Ô RIN Lớp: DH08TA
Ngành: CHĂN NUÔI Niên khóa: 2008 – 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ DÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
****************
NGUYỄN Ô RIN
KHẢO SÁT CƠ CẤU CHẤT THẢI TỪ TRẠM ẤP TRỨNG
GÀ LƯƠNG PHƯỢNG VÀ TÌM BIỆN PHÁP XỬ LÝ
CÓ HIỆU QUẢ
Khoá luận được đề trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư chăn nuôi chuyên
nghành CNSX thức ăn chăn nuôi
Giáo viên hướng dẫn :
PGS.TS.LÂM MINH THUẬN
Trang 3XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Ô Rin
Tên luận văn: “Khảo sát cơ cấu chất thải từ trạm ấp trứng gà Lương Phượng
và tìm biện pháp xử lý có hiệu quả”
Đã hoàn thành luận văn theo yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến
nhận xét của hội đồng chấm thi tốt nghiệp khoa chăn nuôi thú y
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Con xin kính dâng đến cha mẹ, những người đã tận tụy, lo lắng, động viên
và hy sinh suốt cuộc đời mình để cho con có được như ngày hôm nay
Thành kính ghi ơn :
PGS TS Lâm Minh Thuận đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp
Chân thành biết ơn :
Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm TP HCM, ban chủ nhiệm khoa Chăn Nuôi – Thú Y và toàn thể quý thầy cô đã tận tụy dạy dỗ, truyền kiến thức cho tôi trong suốt thời gian học tập
Chân thành biết ơn :
Tập thể công ty Khang Minh An đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Trang 5TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “Khảo sát cơ cấu chất thải từ trạm ấp trứng gà và tiềm biện pháp xử lý hiệu quả” được thực hiện tại trại gà An Đô ở thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương trong thời gian từ ngày 09/02/2012 đến ngày 09/05/2012 Mục đích đề tài là xác định tỷ lệ chất thải trạm ấp, tìm biện pháp xử lý
có hiệu quả để tận dụng làm thức ăn chăn nuôi đồng thời làm giảm ô nhiễm môi trường
Trọng lượng trung bình 1 quả trứng trước khi đem ấp là : 56,74 (g)
Tỷ lệ hao hụt trọng lượng trứng trung bình trong quá trình ấp là: 9,32 (%) Kết quả của 6 đợt khảo sát được ghi nhận như sau :
Cơ cấu thành phần các chất khi nở gồm: %M gà con : 81,5% , %M trứng sát : 4,33%,
%M vỏ trứng : 11,43%, %M gà chết : 2,74%
Hàm lượng chất dinh dưỡng của vỏ trứng tươi, vỏ trứng sau ấp, trước và sau khi xử lý vôi:
Vỏ trứng gà sau ấp có hàm lượng protein cao hơn vỏ trứng gà tươi Vỏ trứng
gà sau ấp, trước và sau khi xử lý vôi có hàm lượng protein tương đương nhau, còn hàm lượng Ca sau khi xử lý vôi cao hơn trước khi xử lý vôi Bột trứng gà sát có hàm lượng dinh dưỡng rất cao Sau khi xử lý vôi, tổng số vi sinh vật giảm đi đáng
kể
Kết quả phân tích dinh dưỡng :
Vỏ trứng gà tươi : Protein = 5,79% Ca = 33,11% Phospho = 0, 42%
Vỏ trứng gà sau ấp : Protein = 8,09% Ca = 32,7% Phospho = 0,88%
Vỏ trứng gà ấp đã xử lý vôi : Protein =8,03% Ca = 34,81% Phospho = 0,64% Bột trứng gà sát : Protein =38,87% Ca = 12,92% Phospho = 0,41%
TS VKHK trước xử lý vôi : 7 x107 VKHK
TS VKHK sau xử lý vôi : 4,2 x 107 VKHK
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN ii
LỜI CẢM TẠ iii
TÓM TẮT iv
MỤC LỤC v
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT ix
DANH SÁCH CÁC BẢNG x
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ xi
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Giới thiệu về gà Lương Phượng 3
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sống sinh trưởng và kháng bệnh của gà 3
2.2.1 Con giống 3
2.2.2 Dinh dưỡng 3
2.2.3 Nhiệt độ 4
2.2.4 Ẩm độ 5
2.2.5 Ánh sáng 5
2.2.6 Nước uống 6
2.2.7 Sự thông thoáng 6
2.2.8 Chăm sóc và quản lý 6
2.3 Cấu tạo và thành phần dinh dưỡng của trứng 6
Trang 72.3.1 Cấu tạo của trứng 6
2.3.1.1 Vỏ trứng 7
2.3.1.2 Màng vỏ ngoài và màng vỏ trong 8
2.3.1.3 Lòng trắng 8
2.3.1.4 Lòng đỏ 9
2.3.2 Thành phần dinh dưỡng 10
2.4 Quy trình kỷ thuật ấp trứng gà 10
2.4.1 Ấp trứng tự nhiên 10
2.4.2 Ấp trứng nhân tạo 11
2.4.2.1 Cấu tạo và hoạt động của máy ấp trứng 11
2.4.2.2 Cấu tạo và hoạt động của máy nở 14
2.4.3 Quy trình ấp trứng gà công nghiệp 15
2.4.3.1 Bảo quản trứng trước khi đưa vào ấp 15
2.4.3.2 Chọn trứng để ấp 15
2.4.3.3 Vận chuyển trứng 16
2.4.3.4 Xử lý trứng ấp 16
2.4.3.5 Đưa trứng vào máy ấp 17
2.4.3.6 Quá trình ấp nở và chế độ ấp nở 17
2.7 Ảnh hưởng của chế độ ấp nở và một số điều kiện khác đến sứ phát triển phôi và tỷ lệ ấp nở của trứng gà 21
2.7.1 Nguyên nhân di truyền 21
2.7.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ 21
2.7.3 Ảnh hưởng của ẩm độ 22
2.7.4 Ảnh hưởng của độ thông thoáng 23
2.7.5 Ảnh hưởng của đảo trứng 23
2.7.6 Ảnh hưởng của khối lượng trứng 23
2.7.7 Ảnh hưởng của thời gian bảo quản và phương thức bảo quản 24
2.7.8 Ảnh hưởng của thiếu vitamin và thiếu khoáng 25
Trang 82.8.1 Ấp trứng đã bảo quản lâu ngày 26
2.8.2 Bệnh chân, cánh ngắn 26
2.8.3 Bệnh khèo chân 26
2.8.4 Bệnh động kinh 27
2.8.5 Bệnh dính bết khi nở 27
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT 28
3.1 Nội dung khảo sát 28
3.1.1 Thời gian và địa điểm 28
3.1.2 Nội dung 28
3.2 Phương pháp khảo sát 28
3.2.1 Đối tượng khảo sát 28
3.2.2 Bố trí khảo sát 28
3.2.3 Phương pháp khảo sát 28
3.3 Điều kiện khảo sát 29
3.3.1 Điều kiện nuôi dưỡng 29
3.3.2 Quy trình ấp trứng 30
3.3.2.1 Tiếp nhận trứng, xông sát trùng và bảo quản 30
3.3.2.2 Chuyển trứng vào máy ấp 30
3.3.3 Tiến hành soi trứng và chuyển nở 31
3.3.3.1 Ra gà 31
3.3.3.2 Vệ sinh máy ấp và dụng cụ ra gà 31
3.4 Chỉ tiêu khảo sát 31
3.4.1 Tỷ lệ hao hụt khối lượng trứng khi ấp 31
3.4.2 Kết quả ấp nở 31
3.4.3 Tỷ lệ chất thải và cơ cấu khối lượng khi ra gà 33
3.4.4 Phân tích hàm lượng dinh dưỡng và tổng số vi sinh vật 33
3.4.5 Giá thành sản phẩm 33
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 Khối lượng trứng gà trước khi vào ấp 34
Trang 94.2 Tỷ lệ giảm khối lượng của 1 quả trứng gà 36
4.3 Kết quả ấp nở trứng gà 37
4.4 Cơ cấu khối lượng khi ra gà 38
4.5 Tỉ lệ chất thải qua 6 đợt ấp 39
4.6 Kết quả phân tích 40
4.6.1 Hàm lương dinh dưỡng của chất thải 40
4.6.2 Tổng số vi sinh vật 40
4.7 Giá thành sản phẩm 42
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43
5.1 Kết luận 43
5.2 Kiến nghị 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
PHỤ LỤC 46
Trang 10DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
M0 : Khối lượng trứng bình quân trước khi vào ấp
M1 : Khối lượng bình quân trứng ấp 18 ngày
%MGà con : Tỷ lệ khối lượng gà con
Trang 11DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1Thành phần cấu tạo của trứng gia cầm 7
Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng của trứng gia cầm (trong 100g trứng) 10
Bảng 2.3 Cách bảo quản trứng 15
Bảng 2.4 Kết quả nở theo đặc điểm của trứng ấp 16
Bảng 2.5 Kết quả ấp nở theo mức khối lượng khác nhau 24
Bảng 2.6 Kết quả ấp nở của phương thức bảo quản kho lạnh 24
Bảng 2.7 Kết quả ấp nở của phương thức bảo quản bằng môi trường tự nhiên 25
Bảng 4.1 Khối lượng trứng trước khi vào ấp 34
Bảng 4.2 Tỉ lệ giảm khối lượng của 1 trứng gà 36
Bảng 4.3 Tỉ lệ trứng không phôi chết phôi, trứng sát, ấp nở 37
Bảng 4.4 Cơ cấu khối lượng khi ra gà 38
Bảng 4.5 Tỉ lệ chất thải qua 6 đợt ấp 39
Bảng 4.6 Hàm lượng dinh dưỡng của chất thải 40
Bảng 4.7 Tổng số vi sinh vật 40
Trang 13và công nghiệp hóa cao như thế ngoài việc tăng đàn gà bố mẹ chất lượng, phát triển
kỷ thuật, cơ sở vật chất và điều kiện chăn nuôi thì nhu cầu con giống là rất lớn Với nhu cầu con giống lớn như vậy thì chỉ có ấp trứng công nghiệp mới có thể đáp ứng được Vì thế nhiều cơ sở ấp trứng gia cầm được xây dựng với nhiều quy mô khác nhau Ấp trứng gia cầm phát triển thì chất thải trong quá trình ấp trứng như : vỏ trứng, trứng sát, trứng thối… sẽ rất lớn Các chất thải này phân hủy rất lâu trong điều kiện tự nhiên và gây ô nhiễm môi trường
Mặt khác, trong xu thế thị trường thì việc cạnh tranh là khá gây gắt, để phát triển được thì phải giảm chi phí để hạ giá thành sản phẩm Để làm được việc đó thì việc tận dụng luôn là yếu tố hàng đầu Chúng ta có thể xử lý chất thải trạm ấp như
vỏ trứng, trứng sát, trứng thối…làm thức ăn cho gia súc để giảm chi phí Thực chất những chất thải này là nguồn cung khoáng, protein rất tốt cho vật nuôi Tuy nhiên, vấn đề mầm bệnh phải giải quyết để tránh sự lây nhiễm trong chăn nuôi
Từ những thực tế trên và được sự đồng ý của khoa chăn nuôi thú y, bộ môn chăn nuôi chuyên khoa, trường đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh chúng tôi thực hiện đề tài “Khảo sát cơ cấu chất thải từ trạm ấp trứng gà Lương Phượng và tìm biện pháp xử lý hiệu quả” Khóa luận được sự hướng dẫn của PGS TS Lâm
Trang 14Xác định khối lượng hao hụt của trứng trong quá trình ấp
Phân loại chất thải của trạm ấp
Xử lý chất thải
Phân tích thành phần của chất thải trước và sau ấp
Phân tích tổng số vi sinh vật trước và sau xử lí vôi
Tính giá thành của sản phẩm
Trang 15Chương 2
TỔNG QUAN
2.1 Giới thiệu về gà Lương Phượng
Gà Lương Phượng hoa (gọi tắt là gà Lương Phượng) của Trung Quốc, do lai tạo giữa giống gà nội của Trung Quốc với gà nhập ngoại, được nhập vào nước ta năm 1997 Giống gà này thích nghi với mọi điều kiện chăn nuôi : nuôi nhốt (nuôi công nghiệp), bán chăn thả và chăn thả Gà có thân hình chắc, thịt ngon, lông có hai màu chính : vằn sọc dưa và màu vàng rơm; con trống màu cánh gián, mào cờ; mỏ,
da, chân màu vàng Khối lượng cơ thể gà lúc 9 tuần tuổi trung bình đạt 1,55kg Sản lượng trứng 177 quả/năm Gà có sức kháng bệnh tốt
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sống sinh trưởng và kháng bệnh của gà 2.2.1 Con giống
Trong chăn nuôi, con giống là yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất Một con giống có đặc điểm di truyền tốt, không mang mầm bệnh và được nuôi trong quy trình hợp lý thì sẽ cho năng suất cao
Khi chọn giống phải chọn từ đàn gà giống tốt, được chọn lựa kỹ lưỡng, có nguồn gốc rõ ràng, có chế độ nuôi dưỡng hợp lý, có trọng lượng trung bình của giống Gà con phải là những con nhanh nhẹn, không bị dị tật, phản ứng tốt với âm thanh, lông khô xốp và sắc lông óng ánh và có trọng lượng trung bình tùy theo giống và mục đích nuôi
2.2.2 Dinh dưỡng
Sau khi chọn được con giống tốt thì yếu tố sẽ dinh dưỡng quyết định đến năng suất, sức sống, sức đề kháng và hiệu quả kinh tế của chăn nuôi gà
Trang 16Gà có mức tăng trọng cao tuy nhiên do cấu tạo của bộ phận tiêu hóa hạn chế,
vì thế thức ăn của gia cầm phải có hàm lượng dinh dưỡng cao và cân đối
Thức ăn cho gà công nghiệp phải là thức ăn hổn hợp từ nhiều nguyên liệu thức ăn đơn có nguồn gốc khác nhau như : động vật, thực vật, khoáng, vitamin và các hợp chất hóa học khác Bảo đảm đầy đủ các chất dinh dưỡng cho nhu cầu duy trì, nhu cầu tăng trưỡng, nhu cầu sản xuất
Đối với gà đẻ trứng cần phải tính toán kỷ lưỡng về hàm lượng dinh dưỡng trong thức ăn để cung cấp nhu cầu theo thể trọng của gà mái và trọng lượng trứng
đẻ ra
2.2.3 Nhiệt độ
Nhiệt độ chuồng nuôi ảnh hưởng lớn đến các quá trình sinh lí sinh hóa trong suốt dòng đời của gà Gia cầm là loài máu nóng, có khả năng giử thân nhiệt ổn định trong giới hạn nhất định của nhiệt độ môi trường Nhiệt độ môi trường nằm trong khoảng 20 đến 250C là thích hợp cho quá trình trao đổi chất, sự sinh nhiệt và sự thải nhiệt cân bằng nên thân nhiệt ổn định Khi nhiệt độ môi trường quá nóng hoặc quá lạnh ngoài giới hạn trên sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến gà (Lâm Minh Thuận 2004)
Giai đoạn gà con : nhiệt độ úm gà trong tuần thứ nhất phải đạt 33-350C phía dưới chụp úm Sau mỗi tuần giảm đi 2 độ Nếu nhiệt độ quá cao thì gà sẽ phân tán
xa nguồn nhiệt, gà thở nhanh, ăn ít, uống nước nhiều Nếu nhiệt độ quá thấp thì gà con túm tụm dưới nguồn nhiệt, ăn ít, uống ít
Đối với gà hậu bị : sau 2-3 tuần úm, nhiệt độ thích hợp là 21 đến 270C, tuy vậy nếu môi trường khắc nghiệt cần phải tập cho gà quen dần nhiệt độ chuồng nuôi ảnh hưởng tới lượng thức ăn ăn vào hàng ngày và mức độ sinh trưởng của đàn gà,
từ đó sẽ ảnh hưởng tới sự thành thục và năng suất trứng sau này (Lâm Minh Thuận 2004)
Đối với gà nuôi thịt : nhiệt độ chuồng nuôi ảnh hưởng tới lượng ăn vào và tỷ
lệ tiêu hóa thức ăn nên ảnh hưởng lớn tới sự tăng trọng của gà Nhiệt độ thích hợp
để gà thịt phát triển đạt tiêu chuẩn là 21-24 0C
Trang 17Đối với gà đẻ trứng thì nhiệt độ ảnh hưởng lớn đến trọng lượng trứng và tỷ lệ
đẻ Ở nhiệt độ 21 đến 250C thì gà mái ở trạng thái cân bằng trao đổi chất Đó là nhiệt độ tối ưu cho phép năng suất trứng cao nhất và chuyển hóa thức ăn tốt nhất
Nhiệt độ thấp gà sẽ ăn nhiều để đáp ứng nhu cầu giữ thân nhiệt ổn định Nhiệt độ từ 15-200C thì năng suất trứng không giảm nhưng tiêu tốn thức ăn tăng
Nhiệt độ cao, trên 270C năng suất trứng giảm nhẹ , nhiệt độ trên 300C năng suất trứng giảm nhanh, trọng lượng trứng giảm nhiều Nhiệt độ cao gà thở nhiều để tăng thải nhiệt nên lượng khí CO2 thải ra tăng mạnh dẫn đến thiếu nguyên liệu tạo
vỏ trứng, do đó vỏ trứng mỏng, dễ vỡ, giãm chất lượng trứng (Lâm Minh Thuận 2004)
2.2.4 Ẩm độ
Ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sống của gà Từ đó ảnh hưởng tới sứ tăng trưởng và sức kháng bệnh của gà Ẩm độ thích hợp cho sự phát triển của gà là từ 60-75% riêng gà đẻ trứng thì nằm trong khoảng 70-75%
Ẩm độ cao thì quá trình thoát hơi nước trong phân và chất độn chuồng sẽ bị cản trở nên phân và chất độn chuồng ẩm ướt tạo điều kiện tốt cho vi sinh vật gây bệnh phát triển, đồng thời gia tăng phát sinh khí độc như : amoniac, sulfur…Ảnh hưởng xấu tới sức khỏe va sức sống của gia cầm sẽ giảm xuống
Ẩm độ cao làm giảm thoát hơi nước từ da và niêm mạc đường hô hấp mà đó
là cách thải nhiệt quan trọng nhất của gia cầm nên khi ẩm độ cao kèm với nhiệt độ cao thì sẽ gây thiệt hại rất nghiêm trọng
Ẩm độ thấp làm tăng độ bụi của chuồng nuôi
2.2.5 Ánh sáng
Ánh sáng có ảnh hưởng lớn đến khả năng tìm mồi của gà con và ảnh hưởng lớn đến tuổi đẻ trứng đầu của gà hậu bị
Tăng cường độ chiếu sáng trong giai đoạn hậu bị thì gà sẽ phát dục sớm, khi
đó cơ thể gà phát triển chưa đầy đủ về thể chất nên gà đẻ trứng nhỏ và thời gian khai thác ngắn, năng suất trứng không cao, ảnh hưởng lớn đến kinh tế
Trang 18Gà con trong 3 ngày đầu thời gian chiếu sáng là 23h/ngày Từ ngày thứ 4 trở
đi giảm 2 giờ/tuần cho đến khi ổn định là 10 giờ/ngày
Cường độ chiéu sáng trong 2 tuần đầu là 25 lux, sau đó giảm còn 15 lux
2.2.6 Nước uống
Nước không phải là một chất dinh dưỡng nhưng đóng một vai trò rất quan trọng trong sự trao đổi chất của cơ thể gia cầm, tham gia vào điều hòa thân nhiệt, là môi trường cho quá trình sinh sản như tạo tinh dịch, trứng Nước chiếm khoảng 55-75% trong cơ thể gia cầm, 65% trong trứng gia cầm Vì thế cần cung cấp nước thường xuyên cho gà Nếu thiếu nước trong 24 giờ thì gia cầm sẽ chết, thiếu 10% nhu cầu nước uống gà thịt sẽ chậm lớn, hiệu quả sử dụng thức ăn kém, năng suất đẻ trứng giảm mạnh hoặc ngưng đẻ (Lâm Minh Thuận,2004)
2.2.7 Sự thông thoáng
Ảnh hưởng lớn tới sự lưu thông không khí và điều tiết nhiệt độ chuồng nuôi,
từ đó ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của gia cầm Chuồng trại phải thông thoáng để quá trình trao đổi khí, phân giải các khí độc trong chuồng diển ra tốt
2.2.8 Chăm sóc và quản lý
Gia cầm có tốc độ tăng trưởng rất nhanh nên việc chăm sóc và quản lý phải tuân theo một quy trình hợp lý Cho ăn, cho uống phải đúng giờ Vệ sinh thường xuyên máng ăn, máng uống, các trang thiết bị chuồng nuôi và xung quanh trại Thực hiện quy trình phòng bệnh nghiêm ngặt Thực hiện nguyên tắc cùng vào cùng
ra Hạn chế khách tham quan, phải có hệ thống sát trùng người và xe khi ra vào trại Chăm sóc và quản lý tốt thì gà sẽ ít bệnh và phát triển tốt
2.3 Cấu tạo và thành phần dinh dưỡng của trứng
2.3.1 Cấu tạo của trứng
Trứng gia cầm là tế bào sinh dục phức tạp được biệt hoá rất cao, gồm các phần : lòng đỏ, lòng trắng, màng dưới vỏ, vỏ cứng và có một lớp nhầy (màng mỡ) bao bọc, phủ ngoài vỏ trứng khi được đẻ ra Mỗi phần của chúng đều có chức năng riêng biệt
Trang 19Tỉ lệ tương đối (%) và tuyệt đối (g) giữa các thành phần tuỳ thuộc vào loại
gia cầm, mùa vụ, tuổi sinh sản, chất lượng thức ăn v v…
Bảng 2.1Thành phần cấu tạo của trứng gia cầm
Loài Trọng lượng trứng
(g)
Tỷ lệ các thành phần của trứng (%) Lòng trắng Lòng đỏ Vỏ trứng
Màng nhầy (màng mỡ) Bên ngoài cùng của vỏ trứng phủ một lớp màng
nhầy (màng mỡ) được hình thành trong thời gian trứng nằm ở âm đạo, trước khi đẻ
ra
Màng nhầy có cấu tạo từ protein (sợi muxin) có những hạt mỡ nhỏ li ti Độ
dày của màng nhầy 0,05 - 0,01mm
Màng nhầy có tác dụng : Giảm ma sát khi đẻ, Hạn chế sự bốc hơi nước của
trứng, hạn chế sự xâm nhập của vi khuẩn từ bên ngoài vào bên trong trứng Thời
gian bảo quản trứng càng lâu độ bóng và tác dụng của màng mỡ càng giảm đi
Vỏ cứng (vỏ đá vôi): Trong tử cung của gia cầm có tuyến vôi tiết ra một lớp
dịch nhờn và trắng, dịch này tạo ra từ cacbonatcanxi và các bó protein Chất này
nhanh chóng cứng lại tạo thành lớp vỏ bao quanh trứng Vỏ cứng được tạo thành
bởi 93, 5% muối canxi (cacbonat canxi); 4,09% protein; 0,14% chất béo; 1, 2%
nước; 0,5% oxit magiê; 0,25 photpho; 12% dioxit silic; 0,03% natri; 0,08% kali
và các chất sắt, nhôm
Trang 20Chức năng của nó là bảo vệ các thành phần bên trong của trứng, đồng thời
là nguồn cung cấp canxi, phốt pho cho phôi để tạo xương Để hình thành xương phôi nhận 75% canxi từ vỏ, còn lại 25% lấy từ lòng trắng Có khoảng 7000 - 7600
lỗ khí trên bề mặt vỏ cứng để trao đổi khí với bên ngoài
Độ dày vỏ cứng của từng loại gia cầm không giống nhau Vỏ trứng gà có độ dày từ 0,2 - 0,4mm Trứng có vỏ dày chịu lực cao hơn trứng có vỏ mỏng
2.3.1.2 Màng vỏ ngoài và màng vỏ trong
Màng dưới vỏ trứng gồm 2 lớp dính sát vào nhau, được cấu tạo từ sợi keratin đan chéo vào nhau, protein, chất keo dính chứa nhiều lưu huỳnh Màng
vỏ ngoài có thể gắn thêm vôi
Trên mặt hai lớp vỏ đều có lổ rất nhỏ để không khí lưu thông, giúp cho phôi
hô hấp.(Bùi Đức Lũng, 2002)
Sau khi trứng đẻ ra được tách ra ở đầu lớn của trứng làm thành buồng khí Một lớp màng dính sát vào vỏ còn lớp bên trong dính sát vào lớp lòng trắng ngoài Độ dày của 2 lớp màng này khoảng 0,057 - 0,069mm
Màng dưới vỏ bao bọc lấy lòng trắng Buồng khí có chức năng cung cấp oxy cho phôi trong giai đoạn đầu của sự hô hấp bằng phổi Trong quá trình bảo quản trứng, buồng khí rộng ra do sự bốc hơi nước của trứng qua lỗ khí Giá trị dinh dưỡng của trứng cũng giảm đi theo thời gian bảo quản
2.3.1.3 Lòng trắng
Bao bọc bên ngoài lòng đỏ, lòng trắng gồm nhiều lớp có độ quánh khác nhau Lớp ngoài cùng loãng, đến lớp giữa đặc và trong cùng là một lớp loãng, lớp thứ 4 gọi là lớp lòng trắng đặc bên trong Tỉ lệ các lớp lòng trắng như sau:
+ Lòng trắng loãng phía ngoài 23,2%
+ Lòng trắng đặc giữa 57,3%
+ Lòng trắng loãng trong 10,8%
+ Lòng trắng đặc trong 7,2%
+ Dây chằng Albumin 1,5%
Trang 21Lòng trắng đặc ngăn cản không cho lòng đỏ dính vào vỏ trứng bằng cách hạn chế sự di động của lòng đỏ Trong lòng trắng có dây chằng albumin giữ cho lòng đỏ nằm giữa quả trứng và giữ cho lòng đỏ không chuyển động
Thành phần hoá học của lòng trắng chủ yếu là albimin hoà tan trong nước và trong muối trung tính
Lòng trắng chứa 85-89% là nước, protêin 11-12%, lipit 0,03-0,08%, đường 0,9-1,2%, khoáng 0,6-0,8%, còn lại các chất dinh dưỡng như vitamin B2, đường cung cấp năng lượng cho nhu cầu phát triển của phôi Lipit trong lòng trắng trứng rất ít Trong thành phần còn có mucin, mucoprotein thuộc vào nhóm Glucoprotein có độ quánh cao Lòng trắng có tạo môi trường hoạt động của các enzyme, trong lòng trắng còn có chứa ion sắt…
Chức năng của lòng trắng là cung cấp năng lượng, cung cấp nước, khoáng… cho phát triển phôi
2.3.1.4 Lòng đỏ
Lòng đỏ là một loại tế bào trứng đặc biệt có cấu tạo không đồng nhất mà bao gồm nhiều vòng đồng tâm đậm nhạt khác nhau Lòng đỏ được bao bọc bằng màng lòng đỏ, mỏng có tính đàn hồi cao nhờ đó mà lòng đỏ không lẫn vào lòng trắng mà luôn giữ được hình tròn Trứng để lâu tính đàn hồi mất dần, lúc đó màng
bị rách và lòng đỏ, lòng trắng tan dần vào nhau Trên bề mặt lòng đỏ là đĩa phôi
Lòng đỏ là phần giàu chất dinh dưỡng nhất Thành phần hóa học của lòng đỏ: protein 16-17%, đường 0, 8-1,1%, lipit 33- 36%, khoáng 1,1-1,8%, nước 43-50% và các vitamin
Trong các loại protein thì Photphoprotein chiếm nhiều nhất Các axít béo gồm Palmitic, Stearic, Oleic và các axit béo chưa no khác Các photphotit của Lơxetin và Cafalin
Khoáng gồm K, Na, Mg, Ca, Sunfat, Photphat, Clorit, các Vitamin nhưng thiếu vitamin C
Trang 222.3.2 Thành phần dinh dưỡng
Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng của trứng gia cầm (trong 100g trứng)
(Theo Lâm Minh Thuận, 2004)
2.4 Quy trình kỷ thuật ấp trứng gà
Gia cầm có thể được ấp nở tự nhiên (dùng gia cầm mẹ ấp trứng) hoặc ấp trứng nhân tạo (do con người thực hiện) Việc ấp trứng gia cầm nhân tạo đã trở thành ngành kinh tế độc lập, quan trọng, hiệu quả cao nhờ tiến bộ kỹ thuật cơ khí, điện và tự động hoá
2.4.1 Ấp trứng tự nhiên
Ấp trứng tự nhiên là dùng gia cầm mẹ ấp trứng Thường chọn gà, gà tây, ngan, ngỗng để ấp trứng Hình thức ấp trứng tự nhiên chỉ còn thích hợp với chăn nuôi gia đình, quy mô nhỏ tự túc giống, vì gia cầm mẹ ấp trứng sẽ ngừng đẻ làm sức sản xuất trứng giảm rõ rệt
Trong ấp trứng tự nhiên cần chú ý: nơi đặt ổ ấp phải thoáng mát, tránh nắng chiếu, mưa tạt, yên tĩnh và hơi tối Gia cầm mẹ phải chọn con say ấp, bộ lông phát triển tốt, chân không quá cao và không có lông ở chân.Trong quá trình ấp cho gia cầm mẹ ăn đầy đủ, nhất là thức ăn giàu năng lượng, huấn luyện cho xuống ổ đúng giờ để bài tiết, tránh thải phân trong ổ trứng, thường xuyên kiểm tra chuột, thú dữ gây hại trong quá trình ấp
158 12,4 11,15 0,94
70 70,83
185 12,8 13,77 1,14
10 74,35
158 13,5 11,1 1,10
144 70,43
185 13,87 13,27 1,08
79 72,5
171 13,68 11,88 0,79
Trang 232.4.2 Ấp trứng nhân tạo
Nghiên cứu kỹ các điều kiện cần cho sự phát triển của phôi gia cầm, con
người đã thực hiện ấp trứng nhân tạo gia cầm thông qua việc chế tạo các loại tủ ấp, máy ấp, và cả các lò ấp thủ công bằng trấu, thóc nóng
Ấp trứng nhân tạo mang lại lợi ích kinh tế cao do giải phóng gia cầm mẹ làm tăng sản lượng trứng, tiến hành ấp trứng, sản xuất giống quanh năm với quy mô lớn
Hiện nay ở nước ta đang tồn tại ấp trứng thủ công bằng trấu thóc nóng (chủ yếu các là ấp trứng vịt với kinh nghiệm cổ truyền); ấp trứng bằng tủ ấp nước nóng, cung cấp nhiệt nhờ đèn dầu hoặc nguồn điện (quy mô nhỏ ấp trứng chim cút, gà, vịt); ấp bằng máy ấp điện tự sản xuất trong nước hoặc hệ máy hiện đại, tự động hoá cao của nước ngoài nhập về (các cơ sở ấp trứng chuyên cung cấp gia cầm giống, cơ
sở ấp trứng quốc doanh sản xuất giống gốc )
2.4.2.1 Cấu tạo và hoạt động của máy ấp trứng
(Trích dẫn Bùi Đức Lũng – Nguyễn Xuân Sơn, 2003)
Hiện nay có nhiều loại máy ấp trứng với công suất khác nhau, từ 500 quả trứng đến 7-8 vạn quả và nhiều hơn được nhập vào nước ta, từ Canada, Hungari,
Hà Lan, Trung Quốc
Máy ấp công suất nhỏ dưới 1 000 quả thường được dùng cho gia đình hoặc phòng thí nghiệm nghiên cứu Còn trong sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp hoặc tổ hợp sản xuất thường dùng các loại máy với công suất lớn từ 1 vạn trứng trở lên
Tuy khác nhau về hình thức và công suất, cũng như thiết kế về kỹ thuật, tất
cả các loại máy ấp đều tuân theo một nguyên lý chung và phải gồm các bộ phận: Vỏ máy, bảng điều khiển tự động, giá đỡ khay, khay trứng, hệ thống cung cấp và điều tiết nhiệt độ, ẩm độ, cung cấp không khí, đảo trứng và hệ thống bảo vệ Các hệ thống thiết bị tạo nên máy ấp phải đáp ứng thoả mãn các điều kiện cần cho sự phát triển của phôi đó là nhiệt độ, ẩm độ, không khí sạch
Trang 242.4.2.1.1 Vỏ máy
Vỏ máy hình chữ nhật Ở một số máy lớn người ta tận dụng nền xi măng hoặc gạch lát để làm đáy máy Vỏ máy có nhiệm vụ ngăn cách khoang máy với môi trường bên ngoài, giữ nhiệt và ẩm trong máy ổn định Vỏ máy làm bằng nguyên liệu chịu lực và cách nhiệt Vỏ máy gồm 2 lớp, giữa để trống, nhét mùn cưa hoặc bông thuỷ tinh hoặc bột xốp để cách nhiệt Vỏ máy làm bằng gỗ dán thường chóng hỏng,
dễ hút ẩm và mất vệ sinh Máy ấp trứng thế hệ mới của Hà Lan, Úc, Trung Quốc
vỏ máy thường làm bằng hợp kim nhôm hoặc nhựa
2.4.2.1.3 Giá đỡ khay và khay đựng trứng
Giá đỡ khay là một giàn các khung đỡ các khay đựng trứng Các giá đỡ khay
có kích thước sao cho các khay đựng trứng nằm vừa khít ở bên trong lòng của nó Tuy có cùng mục đích nhưng ở các máy khác nhau, giá đỡ khay có thể khác nhau, chủ yếu phụ thuộc vào thiết kế của máy Đối với giá đỡ cố định, giàn đỡ khay có hình dáng cố định, không bị thay đổi khi máy đảo trứng Vì vậy toàn bộ giàn đỡ khay được lắp trên một trục chạy qua tâm của giàn Trong máy thường chia ra làm nhiều cột giá đỡ, cột giá đỡ có từ 12 - 15 tầng, mỗi tầng giá đỡ một khay trứng
Khay đựng trứng ở máy ấy gọi là khay ấp Khay ấp trứng đưa vào ấp phải
giữ cho tất cả các trứng ở trong khay nằm theo thứ tự nhất định, đầu nhỏ của trứng xuống dưới, đầu to lên trên Khay ấp có thể làm bằng gỗ, bằng kim loại khác nhau Những máy thế hệ mới, khay ấp làm bằng nhựa, nhẹ, bền, sạch Sức chứa trứng các khay ấp cũng khác nhau theo công suất máy và kích cỡ máy Mỗi khay ấp chứa 80 hoặc 180 quả trứng gà
Trang 252.4.2.1.4 Hệ thống đảo trứng
Để các phôi trong trứng phát triển bình thường và không bị sát vào vỏ, trong quá trình ấp máy phải đảo trứng Ở các máy ấp công nghiệp việc đảo trứng được thực hiện bằng hai cách, đó là dùng môtơ hoặc dùng khí nén
Hệ thống đảo môtơ hoạt động một đồng hồ thời gian chạy bằng điện sẽ đúng chu kỳ 1 - 2 giờ một lần bật môtơ Khi môtơ đảo hoạt động sẽ làm quay bánh răng hoặc cần đảo, rồi làm xoay trục đảo hoặc kéo các quang treo về một phía làm các giá đỡ khay nghiêng đi Khi góc đảo đạt yêu cầu 450 C,công tắc giới hạn sẽ tự động làm ngừng môtơ đảo, để kỳ sau đảo ngược lại
Lỗ thoát khí có thể là một hoặc nhiều lỗ thông ra ngoài máy, để thoát khí bẩn chứa CO2 ra ngoài Lỗ thoát khí được đặt trên nóc hoặc bên hông của máy
Quạt máy trong khi ấp có nhiệm vụ đảo đều không khí trong máy, đảm bảo nhiệt độ và độ ẩm ở các vị trí trong máy xấp xỉ nhau Quạt có sải cánh dài có tốc độ
800 - 1000 vòng/phút, thường một máy ấp chỉ lắp một quạt Quạt có sải cánh nhỏ có tốc độ trên 1700 vòng/phút Tuỳ loại máy, quạt có thể lắp phía sau, trên nóc máy Ở máy ấp đa kỳ hệ thống quạt được lắp phía cửa vào và thổi khí về phía cửa ra
2.4.2.1.6 Hệ thống cấp nhiệt
Để cấp và làm ổn định nhiệt trong máy ấp, người ta dùng các thiết bị cảm nhiệt hoặc nhiệt kế công tắc hoặc màng ête và dây mayso cấp nhiệt
Trang 26Cảm nhiệt là thiết bị hiện đại có mức độ tin cậy cao, độ chính xác lớn Cảm nhiệt hoạt động sẽ truyền tín hiệu về làm đóng, ngắt dây mayso đang đốt nóng ở nhiệt độ nhất định
Nhiệt kế công tắc là thiết bị vừa làm nhiệm vụ đo nhiệt độ, vừa làm công tắc
tự động đóng, ngắt mạch điện Còn đối với màng ête giãn nở, hoặc co lại làm thay đổi bề dày của lá đồng và làm nối hoặc ngắt mạch điện điều khiển
Dây mayso là dây điện trở, mà khi có dòng điện chạy qua sẽ được đốt nóng lên và toả nhiệt nhiều Ngày nay dây mayso trong máy ấp thường được bọc lớp cách điện, bền, an toàn, không bị oxy hoá khi tiếp xúc với hoá chất và nước
2.4.2.1.7 Hệ thống tạo ẩm
Mỗi loại máy có thiết bị tạo ẩm khác nhau Tuy nhiên, theo nguyên tắc chung chỉ có 2 dạng là thiết bị phun sương nước và dùng diện tích bề mặt bay hơi nước
Để điều khiển ẩm độ, trong máy được đặt ẩm kế hoặc nhiệt kế bấc ẩm Loại
ẩm kế này được chế tạo đặc biệt, liên hệ với thiết bị làm ẩm Đối với máy ấp dùng thiết bị tạo ẩm bằng phun sương mù thì nước vào máy cần có áp suất cao Nếu loại máy dùng diện tích bề mặt bay hơi, thì nước vào máy không cần áp suất lớn như máy phun sương mà chỉ thay đổi diện tích bề mặt bay hơi nước
2.4.2.1.8 Hệ thống bảo vệ
Hệ thống bảo vệ trong máy ấp bao gồm các thiết bị được lắp đặt nhằm ngăn chặn hoặc thông báo trước các sự cố có thể xảy ra làm hỏng máy hoặc trứng ấp Tín hiệu dễ nhận thấy là chuông báo động kêu vang và đèn đỏ bật sáng
Ngoài ra, đa số máy ấp công nghiệp lắp hệ thống báo động tự động chế độ không khí, chuông điện, đèn báo, cầu chì tự động cho từng thiết bị
2.4.2.2 Cấu tạo và hoạt động của máy nở
Máy nở có kết cấu và các thiết bị điều hoà hệ thống cấp nhiệt, cấp ẩm và cấp không khí như ở máy ấp, chỉ khác giá đỡ khay nở là cố định
Khay đặt trứng vào máy nở gọi là khay nở, khác khay ấp khay nở không có các thành ngăn ngang dọc để đặt cố định quả trứng Khay nở có thành xung quanh
Trang 27cao 8 - 9cm Đáy khay là lưới với nhiều lỗ nhỏ đường kính 2mm và thành khay có đục lỗ
2.4.3 Quy trình ấp trứng gà công nghiệp
2.4.3.1 Bảo quản trứng trước khi đưa vào ấp
Trứng sau khi đẻ ra gặp nhiệt độ môi trường thấp hơn so với nhiệt độ cơ thể
mẹ, quá trình phát triển của phôi bị ngừng lại Để bảo quản trứng ấp có hiệu quả cao nhất nên giữ trứng ở nơi thoáng mát, tránh ánh sáng chiếu trực tiếp hay mưa ẩm, không có mùi lạ Nhiệt độ bảo quản trứng thích hợp là 15 - 200C Ẩm độ thích hợp trong thời gian bảo quản trứng là 75 - 82%
Bảo quản tự nhiên Bảo quản tự nhiên Bảo quản phòng lạnh Bảo quản phòng lạnh
(Theo Bùi Đức Lũng – Nguyễn Xuân Sơn, 2003)
Trong thời gian bảo quản trứng gia cầm xếp đầu nhỏ xuống dưới, nếu bảo quản dài ngày xếp nghiêng để dễ đảo trứng Xếp trứng vào khay nghiêng góc 300-
450, đầu buồng khí xếp lên trên Hàng ngày trứng được đảo một lần Không được xếp trứng vào thùng, rổ, đậy kín hoặc xếp chồng lên nhau
2.4.3.2 Chọn trứng để ấp
Trên cơ sở hình dạng bên ngoài của trứng có thể chọn để tăng tỷ lệ ấp nở Khi chọn trứng chú ý loại bỏ các quả trứng quá to, quá nhỏ, vỏ quá mỏng, méo mó, xù xì, rạn, dập, bẩn Vì những trứng này nở kém, chất lượng gà con thấp và không thể làm giống Trứng quá dài, quá tròn cũng không nên cho vào ấp vì
tỷ lệ lòng đỏ và lòng trắng không cân đối
Trang 28Bảng 2.4 Kết quả nở theo đặc điểm của trứng ấp
Đặc điểm của trứng ấp Kết quả ấp nở
Trứng trung bình của giống
( Bạch Thị Thanh Dân, Nguyễn Quý Khiêm - 2002)
Sau khi kiểm tra bằng ngoại hình, cần soi kiểm tra để phát hiện rạn dập, lòng đỏ có nằm ở vị trí giữa hay không, có dị vật, cục máu ở bên trong Nếu có nên loại bỏ khi soi, cần kiểm tra kích thước buồng khí, vị trí buồng khí Nếu vị trí buồng khí không ở đầu to, kích thước buồng khí quá lớn, buồng khí di động hoặc rung động đều không nên chọn vào ấp
2.4.3.3 Vận chuyển trứng
Trong quá trình bao gói chuyên chở, cần xếp trứng vào thùng gỗ hoặc thùng bằng các-tông cứng, xếp thành từng lớp, mỗi lớp phủ một lớp trấu hoặc dăm bào mỏng dàn đều, rồi lại xếp tiếp lớp sau Các góc thùng phải chèn trấu và dăm bào cho đều, phần trên cùng chèn chặt để khi vận chuyển trứng không bị xóc lắc gây đứt dây chằng, trứng dập, vỡ buồng khí
30 phút Trong trường hợp ấp trứng thủ công hoặc ở quy mô nhỏ có thể khử trùng bằng cách dung khăn mềm nhúng dung dịch thuốc tím lau nhẹ bên ngoài vỏ trứng hoặc phơi trứng dưới ánh nắng nhẹ (ấp trứng vịt) Các khay và máy phải được cọ
Trang 29rửa, phun thuốc sát trùng thường xuyên Trường hợp đặc biệt trứng quá bẩn phải rửa bằng dung dịch thuốc tím Không cọ vỏ tránh nạo bỏ màng nhầy bên ngoài vỏ trứng
2.4.3.5 Đưa trứng vào máy ấp
Trước khi đưa trứng vào ấp, máy ấp phải được kiểm tra cẩn thận từng bộ phận, vệ sinh khử trùng máy bằng formon và thuốc tím Khi đưa trứng vào ấp, cho
bộ phận tạo ẩm ngừng hoạt động, bật công tắc để tất cả các giá đỡ ở vị trí nằm ngang, lần lượt đặt các khay trứng vào máy, sau đó vận hành máy Có sổ ghi chép
số trứng ấp, thời gian ấp, thời gian kiểm tra phôi, thời gian ra gà
2.4.3.6 Quá trình ấp nở và chế độ ấp nở
Nhiệt độ
Trong máy ấp đa kỳ trứng được đưa vào máy nhiều đợt, vào ấp theo thời gian khác nhau, nên có tuổi ấp khác nhau Vì không thể làm nhiều chế độ ấp trong cùng một máy, nên ở máy ấp đa kỳ phải sử dụng chế độ nhiệt mà tất cả các lô trứng đầu có thể chấp nhận được và do trứng trong máy không cùng một lứa tuổi nên máy
ấp đa kỳ đòi hỏi máy nở riêng
Trong mùa nóng, nhiệt độ 37, 50C (99, 50F) Trong mùa lạnh, chế độ ấp vẫn như trên, nhưng mỗi khi đưa một lô trứng mới vào phải tăng nhiệt độ buồng máy lên 37, 80C (1000F) trong 24 giờ đầu, sau đó trở lại mức như trên 37, 50C Sau khi
ấp được 18 - 18, 5 ngày, trứng được chuyển từ máy ấp sang máy nở
Đảo trứng và thông thoáng
Trong quá trình ấp, trứng cần được đảo và thông thoáng Mục đích của việc đảo trứng là giúp phôi hấp thu đều nhiệt, tránh cho phôi bị dính vào vỏ, làm cho quá trình trao đổi chất của phôi tốt hơn Đồng thời có tác dụng làm cho phôi phát triển tốt nhất, đặc biệt quan tâm giai đoạn đầu và giữa Trứng được đảo 900 với thời gian
2 giờ/1 lần
Ngoài đảo trứng để thuận lợi cho phôi phát triển, không khí trong máy ấp cũng cần được lưu thông nhằm đẩy không khí bẩn, khí nóng trong máy ra ngoài và