Qua khảo sát 45 trường hợp chó cái mang thai có dấu hiệu sắp sinh được mang đến khám và điều trị tại Trạm Phòng Chống Dịch Và Kiểm Dịch Động Vật chúng tôi ghi nhận được 14 trường hợp đẻ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
****************
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐẺ KHÓ
TRÊN CHÓ VÀ HIỆU QUẢ CAN THIỆP
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN NGỌC TUẤN
Lớp: DH07TY
Ngành: Thú Y
Niên khóa: 2007 – 2012
Tháng 08/ 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
****************
NGUYỄN NGỌC TUẤN
KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐẺ KHÓ
TRÊN CHÓ VÀ HIỆU QUẢ CAN THIỆP
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sỹ thú y
Giáo viên hướng dẫn
ThS BÙI NGỌC THÚY LINH
TS NGUYỄN TẤT TOÀN
Tháng 08/2012
Trang 3XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên sinh viên thực hiện đề tài: NGUYỄN NGỌC TUẤN
Tên luận văn: “KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐẺ KHÓ
TRÊN CHÓ VÀ HIỆU QUẢ CAN THIỆP”
Đã hoàn thành luận văn theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiếnnhận xét, đóng góp của hội đồng chấm thi tốt nghiệp Khoa Chăn Nuôi Thú Y, Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 08 năm 2012
Giáo viên hướng dẫn Giáo viên hướng dẫn
ThS Bùi Ngọc Thúy Linh TS Nguyễn Tất Toàn
Trang 4CẢM TẠChân thành biết ơn
Ban Giám Hiệu Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
Ban Chủ Nhiệm Khoa Chăn Nuôi – Thú Y
Cùng toàn thể quý thầy cô đã tận tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức
vô cùng quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Thành kính ghi ơn
ThS Bùi Ngọc Thúy Linh
TS Nguyễn Tất Toàn
ThS Vũ Nguyễn Thụy Hồng Loan
Đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Chân thành cảm ơn
Ban lãnh đạo Chi Cục Thú Y TP Hồ Chí Minh
Trạm Phòng Chống Dịch Và Kiểm Dịch Động Vật – 187 Lý Chính Thắng Phường 7 – Quận 3 – TP Hồ Chí Minh
-BSTY Võ Văn Bùi và tập thể các -BSTY tại Trạm Phòng Chống Dịch Và Kiểm Dịch Động Vật đã động viên, giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin ghi lòng biết ơn sâu sắc đến
Cha mẹ, anh chị, đã khổ cực, yêu thương, đùm bọc, bên cạnh an ủi con trong suốt quá trình thực tập
Tất cả những người bạn đã cùng chia vui buồn, giúp đỡ trong suốt quá trình thức tập
Nguyễn Ngọc Tuấn
Trang 5TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu: “Khảo sát một số yếu tố liên quan đến đẻ khó trên chó và hiệu quả can thiệp” được thực hiện tại Trạm Phòng Chống Dịch Và Kiểm Dịch Động Vật – Chi Cục Thú y Thành phố Hồ Chí Minh Thời gian thực tập từ ngày 22/12/2011-22/04/2012
Qua khảo sát 45 trường hợp chó cái mang thai có dấu hiệu sắp sinh được mang đến khám và điều trị tại Trạm Phòng Chống Dịch Và Kiểm Dịch Động Vật chúng tôi ghi nhận được 14 trường hợp đẻ thường và 31 trường hợp đẻ khó được phẫu thuật lấy thai Không có trường hợp nào can thiệp bằng tay hay oxytocin
Tỷ lệ đẻ khó là 68,89%, chủ yếu trên giống chó ngoại (93,55%) Trong đó, giống chó Chihuahua chiếm tỷ lệ cao nhất (61,29%), kế đến là giống chó Nhật (19,35%), giống chó Bắc Kinh và Việt Nam cùng chiếm tỷ lệ (6,45%), giống chó Dachshund và Pug cùng chiếm (3,23%) Tỷ lệ xuất hiện chứng đẻ khó cao ở lứa 1 (41,94%) và lứa 2 (32,23%) trong độ tuổi ≤ 2 năm tuổi
Kết quả ghi nhận nguyên nhân gây nên chứng đẻ khó bao gồm nguyên nhân
do mẹ (35,48%), do con (64,52%) Trong đó, tử cung co bóp kém (16,13%), thai to (41,95%), thai chết thối rửa (19,35%), vỡ tử cung và thai dị tật cùng chiếm tỷ lệ (3,22%), các nguyên nhân khác (16,13%) Triệu chứng thường gặp ở chó đẻ khó: rặn liên tục nhưng thai không ra (32,26%), rặn yếu hoặc không rặn (35,48%), lồi nước ối lâu, khô ối và chảy dịch có màu xanh đen cùng chiếm tỷ lệ (16,13%)
Nồng độ calcium huyết thanh trung bình của 31 chó mẹ là 2,26 ± 0,29mmol/L Nồng độ progesterone huyết thanh trung bình là 2,3 ± 1,605 ng/ml
Nhiệt độ trung bình của 31 chó mẹ trước phẫu thuật là 38,25 ± 0,5oC Về kết quả tai biến trong quá trình phẫu thuật, ghi nhận: các tai biến chủ yếu là xuất huyết
và viêm dính bang quang cùng chiếm tỷ lệ (3,2%), trục trặc đường hô hấp (ho, ói) (6,4%) Tai biến xảy ra sau quá trình phẫu thuật là: nhiễm trùng vết thương nhưng không đứt chỉ (4%), nhiễm trùng đứt chỉ (4%), chết 2 trường hợp (8%) Thời gian lành vết thương thường từ 5-7 ngày đối với những chó được đưa đi hậu phẫu liên tục Sau khi phẫu thuật mổ lấy thai, tỷ lệ thai sống chiếm tỷ lệ 91,1%, chết 8,9%
Trang 6MỤC LỤC
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN ii
CẢM TẠ iii
TÓM TẮT iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ix
DANH MỤC CÁC BẢNG x
DANH MỤC CÁC HÌNH xi
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích 2
1.3 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Đẻ bình thường 3
2.1.1 Sự mang thai 3
2.1.2 Khởi động sự sinh đẻ 3
2.1.2.1 Dấu hiệu sắp sinh 4
2.1.2.2 Sinh đẻ 4
2.1.2.3 Phục hồi tử cung 5
2.1.3 Một số hormone và nguyên tố vi lượng liên quan đến sự sinh đẻ 5
2.2 Đẻ khó 7
2.2.1 Định nghĩa 7
2.2.2 Nguyên nhân đẻ khó 7
2.2.2.1 Nguyên nhân đẻ khó do mẹ 7
2.2.2.2 Nguyên nhân đẻ khó do con 8
2.2.2.3 Đẻ khó do hormone 9
2.2.3 Triệu chứng lâm sàng trên chó đẻ khó 9
2.2.4 Các biện pháp can thiệp trên chó đẻ khó 10
Trang 72.2.4.1 Can thiệp bằng tay 10
2.2.4.2 Can thiệp bằng thuốc 11
2.2.4.3 Can thiệp bằng phẫu thuật 11
2.2.5 Sự lành vết thương 12
2.2.5.1 Giai đoạn viêm nhiễm 12
2.2.5.2 Giai đoạn biểu mô hóa 13
2.2.5.3 Giai đoạn tăng sinh sợi 13
2.2.5.4 Giai đoạn trưởng thành 14
2.2.6 Một số tai biến trong và sau phẫu thuật 14
2.3 Lược duyệt một số công trình nghiên cứu có liên quan 15
2.3.1 Các nghiên cứu nước ngoài 15
2.3.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 16
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 18
3.1 Thời gian và địa điểm 18
3.1.1 Thời gian 18
3.1.2 Địa điểm 18
3.2 Đối tượng khảo sát 18
3.3 Nội dung nghiên cứu 18
3.4 Phương pháp tiến hành 18
3.4.1 Khảo sát tỷ lệ đẻ khó 18
3.4.1.1 Dụng cụ và hóa chất 18
3.4.1.2 Cách thực hiện 19
3.4.1.3 Chỉ tiêu theo dõi 19
3.4.2 Khảo sát nguyên nhân và triệu chứng lâm sàng trên chó đẻ khó 19
3.4.2.1 Dụng cụ và hóa chất 19
3.4.2.2 Cách thực hiện 19
3.4.2.3 Chỉ tiêu theo dõi 20
3.4.3 Khảo sát nồng độ calcium và progesterone huyết thanh 20
3.4.3.1 Dụng cụ và hóa chất 20
Trang 83.4.3.2 Cách thực hiện 20
3.4.3.3 Chỉ tiêu theo dõi 20
3.4.4 Hiệu quả can thiệp đẻ khó 20
3.4.4.1 Dụng cụ và hóa chất 20
3.4.4.2 Cách thực hiện 21
3.4.4.3 Chỉ tiêu theo dõi 21
3.5 Phương pháp tính toán và xử lý số liệu 21
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23
4.1 Khảo sát tỷ lệ chó đẻ khó 23
4.1.1 Tỷ lệ chó đẻ khó trên tổng số chó khảo sát 23
4.1.2 Tỷ lệ chó đẻ khó theo giống, lứa đẻ, độ tuổi 23
4.1.2.1 Tỷ lệ chứng đẻ khó theo giống 23
4.1.2.2 Tỷ lệ xuất hiện chó đẻ khó theo lứa đẻ 26
4.2 Khảo sát nguyên nhân và triệu chứng lâm sàng trên chó đẻ khó 28
4.2.1 Tỷ lệ xuất hiện các nguyên nhân gây nên chứng đẻ khó 28
4.2.2 Tỷ lệ xuất hiện những triệu chứng lâm sàng trên chó đẻ khó 30
4.3 Khảo sát nồng độ calcium và progesteron huyết thanh 32
4.3.1 Nồng độ calcium huyết thanh 32
4.3.2 Nồng độ progesterone huyết thanh 32
4.4 Hiệu quả can thiệp đẻ khó 33
4.4.1 Sự biến đổi thân nhiệt của chó mẹ sắp sinh 33
4.4.2 Tỷ lệ xuất hiện những tai biến trong và sau khi phẫu thuật 34
4.4.2.1 Tỷ lệ xuất hiện những tai biến trong phẫu thuật 34
4.4.2.2 Tỷ lệ xuất hiện những tai biến sau phẫu thuật 35
4.2.3 Kết quả theo dõi thời gian lành vết thương 36
4.2.4 Tình trạng chó con sau khi mổ lấy thai trên từng giống 37
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 39
5.1 Kết luận 39
5.2 Đề nghị 39
Trang 9TÀI LIỆU THAM KHẢO 41 PHỤ LỤC 45
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Tỷ lệ chó đẻ khó trên tổng số chó khảo sát 23
Bảng 4.2 Tỷ lệ chứng đẻ khó theo nhóm giống 24
Bảng 4.3 Tỷ lệ xuất hiện chứng đẻ khó theo từng giống chó 25
Bảng 4.4 Tỷ lệ xuất hiện chứng đẻ khó theo lứa đẻ 26
Bảng 4.5 Tỷ lệ xuất hiện chứng đẻ khó theo độ tuổi 27
Bảng 4.6 Tỷ lệ xuất hiện các nguyên nhân gây nên chứng đẻ khó 28
Bảng 4.7 Tỷ lệ xuất hiện những triệu chứng lâm sàng trên chó đẻ khó 30
Bảng 4.8 Nồng độ progesterone trên chó đẻ khó 33
Bảng 4.9 Tai biến gặp phải trong quá trình phẫu thuật 34
Bảng 4.10 Tai biến gặp phải sau phẫu thuật 35
Bảng 4.11 Thời gian lành vết thương 36
Bảng 4.12 Số chó con sống và chết sau khi mổ lấy thai trên từng giống 37
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1 Thai chết lâu ngày 29
Hình 4.2 Chó mẹ bị suy nhược nặng do thai chết lâu ngày 30
Hình 4.3 Thai to và nhiều thai trong một ổ 30
Hình 4.4 Lồi bọc ối 31
Hình 4.5 Sản dịch xanh đen 31
Hình 4.6 Chó con bị thoát vị não ra ngoài 31
Hình 4.7 Chó bị hạ calcium máu 32
Trang 13Chương 1
MỞ ĐẦU1.1 Đặt vấn đề
Nuôi chó là một phong trào đã có từ rất lâu đời Từ nông thôn cho đến thành thị, đâu đâu chúng ta cũng thấy mọi người nuôi chó Nhưng ở thôn quê, chó được nuôi dưới hình thức thả rong, chó có không gian đủ rộng để sinh hoạt, chơi đùa Ngược lại, ở thành thị, theo quy định của pháp luật, chó không được phép thả rong Hầu như chúng chỉ quanh quẩn trong khuôn viên chật hẹp của của nhà ở, sân nhà hay vườn tược Chó ít được vận động, lại được chủ cưng, cho ăn nhiều, trở nên béo phì Khi chó đến chu kỳ động dục, chủ nuôi thường không cho phối hoặc chích thuốc ngừa thai vì sợ chó mang thai sinh nở đau đớn hay không có thời gian chăm sóc Đôi khi chủ nuôi không cho chó phối tự nhiên mà phối theo ý chủ Vì thế chó không thể tránh khỏi mắc phải những bệnh lý sản khoa, trong đó có đẻ khó
Đẻ khó trên chó gây ra bởi nhiều nguyên nhân như tử cung co bóp kém, xương chậu hẹp, thai lớn, mang nhiều thai, chó có tầm vóc nhỏ, chó mẹ bị béo phì…Nhưng rất khó để chủ nuôi có thể phát hiện được chó của mình có đẻ khó hay không Hầu như khi chó có dấu hiệu sắp sinh hay đã sinh được một con thì mới phát hiện được đẻ khó
Để giúp hạn chế được những khó khăn trong việc phát hiện đẻ khó và nâng cao kiến thức về sinh sản của chó, xuất phát từ sự yêu thích động vật cùng với tinh thần ham học hỏi, sưu tầm và đúc kết những kinh nghiệm trong chẩn đoán và điều trị bệnh Được sự đồng ý của Khoa Chăn Nuôi Thú Y – Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh và sự hướng dẫn của ThS Bùi Ngọc Thúy Linh và TS
Nguyễn Tất Toàn chúng tôi tiến hành đề tài: “KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐẺ KHÓ TRÊN CHÓ VÀ HIỆU QUẢ CAN THIỆP” tại
Trạm Phòng Chống Dịch Và Kiểm Dịch Động Vật, Chi Cục Thú Y Thành phố Hồ
Chí Minh.
Trang 141.2 Mục đích
Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến sản khoa nhằm hạn chế những khó khăn trong việc phát hiện và điều trị bệnh sản khoa
1.3 Yêu cầu
Ghi nhận những ca chó mang thai được mang đến khám và điều trị
Theo dõi những triệu chứng lâm sàng trên chó có biểu hiện đẻ khó
Xác định nồng độ calcium và progesterone trong huyết thanh trên đối tượngchó đẻ khó
Ghi nhận các tai biến trong và sau khi mổ (nếu có)
Trang 15Chương 2 TỔNG QUAN2.1 Đẻ bình thường
2.1.1 Sự mang thai
Mang thai là thời kỳ thú con phát triển trong bụng mẹ, tính từ lúc noãn được thụ tinh và làm tổ trong sừng tử cung cho đến lúc được sinh ra Ở chó, việc dự đoánđược thời gian mang thai bao lâu và ngày sinh là điều rất quan trọng Thời gian mang thai có thể dao động từ 57-70 ngày tính từ lần phối giống đầu tiên đến khi sinh Theo Tsutsui và ctv (2006), thời gian mang thai tính từ lúc rụng trứng đến khi sinh thường không đổi là 64 ngày Không như những động vật khác, sự rụng trứngcủa chó xảy ra trước khi hormone luteinizing (LH) đạt đỉnh trong máu Ở phần lớn các loài gia súc, tinh trùng duy trì khả năng thụ tinh trong vòng 48 giờ (Sjaastad và ctv, 2003) (trích dẫn bởi Trần Thị Dân, 2006) Xuất noãn thường xảy ra vào khoảng 1/3 cuối của thời kỳ động dục Chó có thể giao phối vài ngày trước khi có
sự thụ tinh xảy ra, điều đó lý giải tại sao có sự biến động trong thời gian mang thai của chó Theo Feldman và Nelson (2003a), ở chó, progesterone bắt đầu tăng lên trước khi sự rụng trứng xảy ra và tại thời điểm rụng trứng nồng độ progesterone đạt 12-32 ng/ml Progesterone được kiểm tra nhiều lần để xác định ngày phối giống thích hợp Một nghiên cứu đã cho thấy rằng có thể dự đoán được chính xác 100% ngày sinh trong khoảng 65±3 ngày sau khi progesterone tăng lên lần đầu tiên (Kutzler và ctv, 2003) Sau khi rụng trứng, progesterone trong máu tăng lên rất nhanh cho nên việc dự đoán ngày rụng trứng và ngày dự kiến sinh sẽ không còn chính xác nữa (Concannon và ctv, 1975)
2.1.2 Khởi động sự sinh đẻ
Tiến trình sinh đẻ bắt đầu bởi việc tiết cortisol từ thai Người ta giả thiết rằng việc thiếu chỗ trong tử cung và nhu cầu biến dưỡng cao của thai là yếu tố gây tiết
Trang 16cortisol (yếu tố stress) Thay đổi hàm lượng cortisol trong máu thai ảnh hưởng sựtạo kích thích tố của nhau Cortisol kích thích sản xuất prostaglandin từ nhau PGF2αđi vào dịch mô của tử cung (tác động như cận tiết tố) và đến thể vàng để gây thoái biến thể vàng Cortisol kích thích tổng hợp enzyme của nhau để chuyển progesterone thành estrogen Giảm progesterone và tăng estrogen làm co thắt cơ tửcung (Trần Thị Dân, 2006).
2.1.2.1 Dấu hiệu sắp sinh
Song song với việc to bụng, tuyến vú phát triển căng đầy và bắt đầu tiết sữa trong vài ngày trước khi sinh Âm môn cương lên và thường tiết chất nhầy Hông sụp xuống Gần tới giờ sinh, chó mẹ trở nên mất bình tĩnh, bồn chồn, tìm nơi vắng
vẻ (Trần Thị Dân, 2006)
Nhiệt độ giảm đột ngột là một dấu hiệu cho thấy chó sẽ sinh trong vòng 24 giờ Một nghiên cứu trên 40 chó mang thai của Concannon và ctv (1977b) cho thấy rằng nhiệt độ trung bình của 40 chó sắp sinh giảm xuống 0,8±0,1oC hay ở mức 37,1±0,06oC Progesterone trong máu giảm xuống thấp hơn 2 ng/ml kéo theo sựgiảm nhiệt độ 10-14 giờ sau đó, sự thay đổi này chỉ là tạm thời và sẽ tăng trở lại mức bình thường trước khi sinh (Concannon và ctv, 1977a,b)
2.1.2.2 Sinh đẻ
Theo Trần Thị Dân (2006), quá trình sinh đẻ được chia thành ba giai đoạn:Giai đoạn dãn: tử cung co bóp nên tăng áp lực lên dịch ối và cổ tử cung dãn rộng Dịch ối được phóng thích Chó mẹ không yên, đứng lên ngồi xuống Những chó tơ có thời gian dãn dài hơn chó đã đẻ nhiều lứa Giai đoạn này kéo dài khoảng 2-12 giờ
Giai đoạn trục bào thai: co thắt của tử cung do tác dụng của oxytocin đẩy thai đến âm đạo Khi ấy, sự co thắt tử cung được hổ trợ bởi co thắt cơ thành bụng Trong giai đoạn cuối của trục thai, cuốn rốn có thể bị ép giữa thai và thành âm đạo nên giảm cung cấp oxy cho thai và có thể gây chết hai trong vài trường hợp
Giai đoạn trục thai: tử cung tiết PGF2α, chất này cùng với oxytocin gây co thắt
cơ tử cung để đẩy nhau ra Thông thường, nhau được bài xuất một thời gian ngắn
Trang 17sau khi sinh Tuy nhiên, nhau có thể đi kèm theo thú con hoặc trong vài trường hợp lại được tống ra trước bào thai.
2.1.2.3 Phục hồi tử cung
Phục hồi tử cung xảy ra nhanh chóng, tử cung nhỏ lại do giảm khối lượng máu Phần nhau của biểu mô chó mẹ cũng được loại thải ra ngoài Việc phục hồi đường sinh dục xảy ra trong vòng 3 tuần Sau khi trục nhau, sự cân bằng kích thích
tố có nhiều biến đổi, đặc biệt là mất tác dụng ức chế của estrogen và progesterone lên thùy trước tuyến yên, tuyến yên tiếp tục phân tiết các kích dục tố Gonadotropin
để chuẩn bị cho chu kỳ sinh sản kế tiếp và tiết prolactin khơi mào cho việc tiết sữa
2.1.3 Một số hormone và nguyên tố vi lượng liên quan đến sự sinh đẻ
Sự sinh đẻ xảy ra dưới sự tương tác của nhiều hormone khác nhau bao gồm progesterone, oxytocin, vasopressin, cortisol, relaxin Ngoài ra các vi lượng như calcium, magnesium cũng góp phần không kém quan trọng
Progesterone được phân tiết ra ở thể vàng, nhau thai và tuyến thượng thận Progesterone tạo điều kiện thuận lợi trong tử cung cho phôi phát triển (tăng tiết và ngăn ngừa co thắt cơ trơn tử cung), góp phần tăng trưởng và biệt hóa biểu mô tuyến
vú để chuẩn bị tạo sữa (Trần Thị Dân, 2006) Theo Verstegen-Onclind và ctv (2008), cho rằng nồng độ progesterone cao trong máu cần thiết để duy trì sự mang thai của chó mẹ Hormone bắt đầu tăng lên trước khi rụng trứng và tiếp tục tăng lên
ở những mức cao hơn để có thể duy trì sự mang thai Sinh đẻ xảy ra khi nồng độprogesterone giảm xuống thấp hơn 1 ng/ml (Concanon và Hansel, 1977) Tuyến thượng thận bào thai sản xuất cortisol, cortisol kích thích nhau thai tiết PGF2αgây thoái hóa thể vàng và làm giảm nồng độ progesterone trong máu Sự thay đổi tỷ lệestrogen và progesterone trong máu là một yếu tố quan trọng cho việc sinh đẻ xảy
ra và kích thích sự tổng hợp prostaglandin Nồng độ estrogen biến động trong suốt thời kỳ cuối của sự mang thai và cho đến lúc sinh Bên cạnh việc thoái hóa thểvàng, PGF2α cùng với oxytocin kích thích sự co bóp của tử cung
Oxytocin được tổng hợp bởi vùng dưới đồi và được dự trữ ở thùy sau tuyến yên Oxytocin gây co thắt cơ trơn tử cung và co thắt tế bào cơ biểu mô cơ tuyến vú
Trang 18để thải sữa Xung động thần kinh từ vùng dưới đồi khi có kích thích vào núm vú hay tử cung làm oxyocin được phân tiết (Trần Thị Dân, 2006).
Vasopressin hay còn gọi là hormore kháng lợi tiểu Vasopressin điều hòa tái hấp thu nước từ dịch lọc trong ống xoắn xa và ống góp của đơn vị thận Ngoài ra, khi hiện diện trong máu với hàm lượng cao, vasopressin gây co mạch vành và tăng huyết áp Ở tử cung, vasopressin gây co thắt cơ tử cung bằng cách gắn vào thụ thểV1a tiếp nhận oxytocin và thụ thể tiếp nhận vasopressin (Zingg, 1996)
Cortisol là một trong những kích thích tố quan trọng để cơ thể phản ứng với stress (Trần Thị Dân, 2006) Ở chó nồng độ cortisol trong máu tăng lên trước và trong khi sinh (Concannon và ctv, 1978), sự tăng lên này được xem là gián tiếp gây đau và gây stress cho chó mẹ trong suốt quá trình sinh Có những ý kiến khác cho rằng cortisol có nguồn gốc từ thai, tuyến thượng thận của thai tiết ra một lượng lớn cortisol để khởi động sự sinh đẻ (Concannon và ctv, 1978)
Calcium là chất điện giải quan trọng nhất trong việc điều hòa co cơ tử cung Nồng độ ion calcium ngoại bào xấp xỉ 1,5 mmol/L và nồng độ nội bào của cơ tửcung khoảng 0,13x10-4 mmol/L (Sanborn, 2000) Adenosine triphosphate (ATP) cung cấp năng lượng cho sự co cơ Theo Trần Thị Dân (2006), calcium tồn tại ở hai dạng trong máu, khoảng 40% liên kết với protein (chủ yếu là albumin), 10% gắn với phức hợp hòa tan như bicarbonate và citriate, 50% ở dạng tự do Dạng tự do rất cần thiết cho hoạt động của thần kinh, cơ và tuyến nội tiết Trong tế bào, calcium tích tụ
ở lưới nội bào không hạt và ty thể Lưới nội bào không hạt hấp thu chủ động calcium tự do Còn theo Casten (1974), khi ở tử cung nồng độ progesterone chiếm
ưu thế sẽ dẫn đến ức chế sự hấp thu ion calcium vào lưới nội bào cơ tử cung Cảprogesterone và oxytocin đều ngăn cản sự hấp thu ion calcium vào lưới nội bào cơ
tử cung dẫn đến những cơn co thắt của cơ tử cung
Magnesium được tiêm truyền trên người để ngăn ngừa đau đẻ trước khi tới ngày sinh Magnesium vừa gây dãn cơ trơn vừa ức chế co cơ tử cung bằng những
cơ chế biến dưỡng nội bào và ngoại bào (Fomin và ctv, 2006)
Trang 192.2 Đẻ khó
2.2.1 Định nghĩa
Reiss (2001) định nghĩa đẻ khó khi không trục xuất được những bào thai Theo Forsberg và Eneroth (2000), chứng đẻ khó là sinh khó hoặc thiếu khả năng trục xuất bào thai qua đường sinh sản mà không có sự trợ giúp Đẻ khó thường xuyên xảy ra trên chó Tỉ lệ đẻ khó có thể lên tới 100% ở một vài giống chó, đặc biệt ở những loại chó không tạo sụn và chó đầu to Theo nghiên cứu của Forsberg
và Person (2007) giống chó boxer là một trong những giống chó có nguy cơ đẻ khó cao
Theo Reiss (2011), cho rằng đẻ khó thường xảy ra ở những giống chó nhỏ vóc,chó có đầu to và vai rộng như chihuahua, dachshunds, bắc kinh, pugs, pulldogs…và
ở những giống chó đơn thai vì thai to và thai không tiết đủ kích thích tố khởi động quá trình sinh đẻ (trích từ Nguyễn Thùy Thanh Thanh, 2011)
2.2.2 Nguyên nhân đẻ khó
2.2.2.1 Nguyên nhân đẻ khó do mẹ
Đẻ khó nguyên nhân do mẹ bao gồm tử cung co bóp yếu, hẹp xương chậu, những bất thường của tử cung và các cấu trúc mô mềm khác Đẻ khó do chó mẹđược cho rằng rất phổ biến, lên đến 75% trường hợp đẻ khó ở chó (Davelid and Linde-Forsberg, 1994)
Tử cung co bóp kém do những nguyên nhân nguyên phát như tử cung chó mẹcăng quá mức do chứa quá nhiều thai, chó mẹ stress hay lo âu với lần đẻ đầu tiên, chó mẹ bị thiếu calcium hay chó mẹ bị suy nhược thể trạng kém
Tử cung co bóp kém có thể là nguyên nhân thứ phát gây ra đẻ khó khi tử cung
cố gắng trục xuất một thai quá lớn ra ngoài, khi thai này bị mắc kẹt, cơ tử cung bịmỏi dẫn đến không co bóp nữa ( Freak, 1962)
Những nguyên nhân khác làm cho tử cung co bóp kém như yếu tố bẩm sinh, mất cân bằng dinh dưỡng, sự thâm nhiễm mỡ vào trong cơ tử cung, những thay đổi liên quan đến tuổi tác, sự điều hòa nội tiết tố không đầy đủ, hay thú đang mắc bệnh
ở một hệ thống nào đó (Linde-Forsberg and Eneroth, 2000)
Trang 20Xương chậu hẹp: tất cả những xương chậu bị hẹp hay biến dạng đều có thể là nguyên nhân gây đẻ khó Khung chậu bị hẹp hay biến dạng do bẩm sinh, mất cân bằng dinh dường hoặc do tổn thương cơ học gây nên Hẹp khung xương chậu cũng
có thể do cơ thể chó cái tơ chưa phát triển hoàn chỉnh đã được phối giống hoặc thú
ít được vận động trước khi sinh Ngoài ra, hẹp xương chậu có thể do rối loạn sảnxuất và phân tiết relaxin, kích thích tố này có tác dụng làm dãn nở khớp hàn bồn bán động giữa hai cánh xương tọa mu ( Nguyễn Văn Thành, 2004)
Bất thường của tử cung bao gồm tử cung bị xoắn, bị rách, dịch ối quá nhiều làm tử cung căng phồng hay những dị tật bẩm sinh Những bất thường của mô mềm như khối u trong âm đạo, xơ hóa tử cung cũng gây nên đẻ khó ở chó ( Linde-Forsberg and Eneroth, 2000)
2.2.2.2 Nguyên nhân đẻ khó do con
Thai có trọng lượng 4-5% trọng lượng chó mẹ được xem là thai lớn Trong một số ca đẻ khó do thai lớn, thai thường bị mắc kẹt ở phần vai và ngực nếu như phần đầu thai được đẩy ra trước hoặc chân sau và phần hông bị mắc kẹt khi phần phần đuôi được đẩy ra trước (Linde-Forsberg and Eneroth, 2000) Thai lớn là nguyên nhân chủ yếu gây đẻ khó trên giống chó Scottish terrier (Freak, 1962) Nếuthai quá lớn để đẩy vào trong xoang chậu, chó mẹ sẽ ngưng sinh sản để ngăn ngừa
sự đau đớn có thể xảy ra (Freak, 1975) Chó con có kích thước ngoại cỡ gây mất cân xứng giữa kích thước thai với kích thước xương chậu Do cha có vóc dáng to lớn so với chó mẹ hoặc sự hấp thu tốt chất dinh dưỡng của thú khi còn là bào thai Thai to thường xảy ra khi chỉ có một vài con trong một lứa đẻ hoặc là lứa đẻ đơn thai Sự sinh đẻ một thai quá to có thể gây khó khăn cho cả thai lẫn mẹ trong lúc chuyển dạ và tống thai Đẻ khó do thai thường xảy ra bất ngờ, nó có thể xảy ra ở thú
đã sinh nhiều lần
Do tư thế chó con: tư thế bình thường của thai gọi là tư thế thuận với hai chân trước và đầu, hoặc hai chân sau và mông ra ngoài âm hộ Các tư thế bất thường như đầu quẹo sang một bên hay gập xuống ức, chi trước co quặp lại, đưa một chân ra
Trang 21trước, thai nằm nghiêng hay ngữa, lưng hay bụng ra trước, hai thai ra cùng một lúc…(trích từ Nguyễn Thùy Thanh Thanh, 2011).
Quái thai cũng là nguyên nhân thường gặp gây đẻ khó trên chó như chứng não
ứ thủy, sự phát triển không hoàn thiện của não và hộp sọ, thai bị phù toàn thân, thai chỉ có một mắt, não thoát vị ra ngoài…
2.2.2.3 Đẻ khó do hormone
Theo Trần Thị Dân và Dương Nguyên Khang (2006), progesterone có tác dụng bảo vệ thai và hổ trợ thai phát triển trong tử cung vì nó làm cho nội mạc tử cung dày lên và tuyến tử cung phát triển trước khi trứng thụ tinh làm tổ trên niêm mạc tử cung Progesterone ức chế sự vận động của tử cung trong thời kỳ mang thai
Sự thay đổi tỷ lệ giữa estrogen và progesterone làm cho tử cung nhạy cảm với oxytocin và khơi mào cho sự sinh đẻ
Theo Weilenmance và ctv (1993), vào giai đoạn hoàng thể, lượng progesterone đạt đỉnh cao nhất (12,6-70,1 ng/ml) và trong thời kỳ không động dục khoảng < 1 ng/ml Edqvist và ctv (1975) cho rằng progesterone tăng lên khoảng 10 ng/ml khi bắt đầu động dục và tồn tại trong giai đoạn động dục, sau động dục và mang thai
Concannon và ctv (1975, 1978) ghi nhận progesterone giảm mạnh trước khi bắt đầu chuyển dạ và duy trì ở mức thấp trong thời gian cho con bú Nó là nguồn cảm ứng cho sự chuyển dạ Progesterone giảm trong suốt 2 ngày trước sinh, từ 3,3±0,4 đến 1,0±0,1 ng/ml ngay khi sinh Sự chuyển dạ bắt đầu khi progesterone giảm < 1 ng/ml (3,18 nmol/l), nếu progesterone không giảm thì sự sinh đẻ sẽ không bắt đầu Tuy nhiên, theo Concannon và ctv (1988), vào thời điểm sinh bình thường nồng độ progesterone 3,2 nmol/l hay íthơn
2.2.3 Triệu chứng lâm sàng trên chó đẻ khó
Theo Aiello (1998), thú đẻ khó có các dấu hiệu sau: giảm nhiệt độ trực tràng (37,20C) mà không sinh trong vòng 24 giờ, bụng co thắt mạnh trong vòng 1-2 giờ
mà không có chó con sinh ra, thú đã sinh con đầu tiên nhưng 1-2 giờ sau không sinh con kế tiếp, thời gian nghỉ ngơi trong khi chuyển dạ vượt quá 4-6 giờ, chó cái đang
Trang 22kêu la dữ dội (kêu la, liếm hoặc cắn âm hộ) mà không sinh được, dịch tiết âm đạo đen hoặc nhầy có máu trước khi sinh con đầu tiên, mang thai hơn 72 ngày kể từ ngày phối đầu tiên hay hơn 66 ngày khi LH đạt đỉnh (LH đạt đỉnh lúc rụng trứng).Eldredge và ctv (2007) cho rằng chó khỏe mạnh, có thể trạng tốt thì hiếm khi
đẻ khó, nhưng thường xảy ra ở những chó mập và béo phì Vì thế trong quá trình mang thai tránh để cho chó mẹ tăng trọng quá mức
Bennett (1974) cho rằng sự xáo trộn môi trường cũng là một yếu tố gây trì hoãn sinh đẻ cho đến khi thú chỉ có một mình, thoải mái trong môi trường quen thuộc
2.2.4 Các biện pháp can thiệp trên chó đẻ khó
2.2.4.1 Can thiệp bằng tay
Nếu sau khi kiểm tra âm đạo có sự hiện diện của thai ở xoang chậu thì ta có thể can thiệp bằng tay, có thể kèm theo dụng cụ hổ trợ như pince kẹp thai Phải thực hiện động tác nhẹ nhàng, tránh gây tổn thương niêm mạc âm đạo chó mẹ Đặt chó lên bàn, rồi cột miệng chó lại và nhờ chủ giữ cố định đầu chó Bôi trơn âm đạo và tay đã đeo găng tiệt trùng Xoa bóp vùng bụng làm tăng hiệu quả, kích thích tử cung
co bóp và tạo lực ép đẩy thai ra ngoài
Nếu đầu thai ra trước: đưa ngón trỏ và ngón giữa nhẹ nhàng kéo đầu chó con
ra ngoài cùng với việc chỉnh sửa đúng tư thế của chó con bằng tay còn lại, lắc bào thai qua lại để dễ dàng kéo thai ra ngoài Dùng pince kẹp không mấu kẹp vào hàm dưới kéo thai ra ngoài Dùng móc tử cung đưa qua miệng chó con, móc vào hàm dưới hoặc lưỡi của bào thai
Nếu đuôi ra trước: dùng ngón trỏ, ngón giữa, ngón áp út, chèn ngón giữa vào giữa hai chân tại khuỷu chân, ngón trỏ và ngón áp út áp chặt hai chân chó con vào nhau rồi từ từ kéo con ra theo cơn rặn của chó mẹ Dùng pince không mấu kẹp vào khuỷu chân sau lần lượt kéo chân trái, rồi phải để thai có thể chui qua hố chậu.Hướng kéo thai thường song song với xương sống hoặc với giống chó bụng võng thì kéo xéo lên và kéo theo cơn rặn của chó mẹ cho tới khi nào bào thai ra
Trang 23được hố chậu hoàn toàn Khi kéo thai phải chú ý đến tư thế và chiều hướng của thai phải hoàn toàn bình thường.
Đối với những trường hợp còn kẹt một con và đã chết (do kẹt và vỡ nước ối quá lâu) thì có thể kéo từng mảnh ra ngoài, rồi kết hợp tiêm oxytoxin để giúp tử cung co bóp đẩy các sản dịch ra ngoài nhanh chóng chống viêm nhiễm tử cung Sau khi kéo được thai ra, tiến hành cột rốn và kéo nhau Khi kéo nhau, cần nhẹ nhàng,
ấn tay vào niêm mạc cổ tử cung đẻ ngăn đứt nhau và ngăn lòi, lộn cổ tử cung ra ngoài Trong trường hợp xót nhau thì nên đặt kháng sinh vào trong đường sinh dục
đề phòng ngừa viêm nhiễm
2.2.4.2 Can thiệp bằng thuốc
Dùng thuốc đẻ kích thích tử cung co thắt trong trường hợp tử cung co thắt kém
và thúc đẩy sự hiện diện của thai kế tiếp tại khu vực xương chậu Đồng thời nó cũng thúc đẩy sự tống nhau thai, các dịch hậu sản ra ngoài trong quá trình đẻ Tuy nhiên liệu pháp này không được sử dụng trong trường hợp đường sinh dục bị tắt nghẽn và chỉ được sử dụng sau khi khám kỹ âm đạo (Eldredge và ctv, 2000)
Theo Eneroth, (1994), oxytoxin với liều 2-5 UI/con thường được sử dụng với liều tiêm bắp Sau khi tiêm, thú được cho nghỉ ngơi 10-15 phút Liều nhắc lại có thể được sử dụng sau 20-30 phút Thông thường liều đầu tiên có thể đạt được hiệu quả mong muốn
Dùng oxytoxin trong các trường hợp sau: cổ tử cung đã mở, chó đã đẻ được vài con, qua chụp X-quang xác định còn ít con, nằm đúng tư thế và đã di chuyển xuống xương chậu
Sau khi can thiệp kéo thai khi thai lớn, sai tư thế, giúp chó tiếp tục đẻ tự nhiên cho những con sau
2.2.4.3 Can thiệp bằng phẫu thuật
Sau khi thú đã dùng các biện pháp trên mà vẫn không thể đẻ được thì tiến hành phẫu thuật Theo Robbins và Mullen (1994) cắt bỏ cả buồng trứng lẫn tử cung
để lấy chó con ra cũng là một phương pháp điều trị có hiệu quả chứng đẻ khó
Trang 24Theo Forsberg và Eneroth (2000), mổ lấy thai được chỉ định sau khi có kết quả chẩn đoán rơi vào một trong các trường hợp sau: tử cung vẫn không co bóp ngay cả khi đã sử dụng thuốc kích đẻ, tử cung co bóp yếu một phần và không có dấu hiệu cải thiện sau khi dùng thuốc kích đẻ, khung chậu hoặc phần mềm của đường sinh dục bất thường, đơn thai nhưng thai quá lớn hoặc quá nhiều thai, thai chết thối rữa, quái thai, quá nhiều hoặc quá ít dịch thai, thai quá ngày.
2.2.5 Sự lành vết thương
Theo Lê Văn Thọ (2006), sự lành vết thương được chia thành bốn giai đoạn:
2.2.5.1 Giai đoạn viêm nhiễm
Đáp ứng ban đầu của vết thương là giai đoạn viêm nhiễm hay còn gọi là giai đoạn cầm máu, được bắt đầu từ khi có vết thương và kéo dài 2 – 5 ngày Giai đoạn này có hai quá trình riêng biệt:
Quá trình đáp ứng mạch máu: ngay sau khi có vết, những mạch máu nhỏ bị đứt sẽ co lại từ 5 – 10 phút, dẫn đến sự cầm máu và sự tích tụ những tế bào trong phạm vi mạch máu này Tiểu cầu tích tụ ở vết thương và phản ứng với thrombine để hình thành các cục máu đông Mạch bạch huyết dễ vở nên thường hư hại nhiều hơn
so với đứt mạch máu Những mô bị hư hại sẽ phóng thích các hợp chất hóa học trung gian được gọi là cytokine, là khởi đầu của một tiến trình quan hệ qua lại phức tạp dẫn đến cầm máu và bắt đầu cho một tiến trình lành sẹo Đồng thời nó cúng phóng thích serotonin từ những tế bào Mast và những chất gây co mạch khác để hoạt hóa làm đông máu, kết quả làm biến đổi fibrinogen thành fibrin, làm ổn định mạch máu đông Tại thời điểm này, prostadglandin và bổ thể đã được hoạt hóa gây dãn mạch làm gia tăng tính thấm, làm cho dịch và những thành phần tương tự như huyết tương có chứa những enzyme, protein, kháng thể và bổ thể thoát ra ngoài mạch máu Điều này cho phép huyết tương thấm vào các mô chung quanh vùng vêt thương, gây viêm do rỉ dịch Trên lâm sàng quá trình này được biểu hiện bằng sự phù nề, sưng của vết thương
Quá trình đáp ứng tế bào: quá trình đáp ứng tế bào của giai đoạn viêm nhiễm xảy ra đồng thời, có sự xâm nhập kết dính và xuyên mạch của bạch cầu xuất hiện
Trang 25Chính sự khuếch tán của bạch cầu sẽ kích thích sự di chuyển và làm tăng nồng độ bạch cầu trung tính đi vào vùng vết thương.
Tại vết thương, những tế bào bạch cầu trung tính sẽ thực bào vi trùng, vật lạ, các mô hoại tử Hiện tượng thực bào xảy ra cao nhất vào 2- 3 ngày đầu của vết thương Hoạt dộng này sẽ kết thúc vào ngày thứ 3 trừ khi có sự nhiễm trùng vào vết thương
Bạch cầu đơn nhân được hoạt hóa chuyển thành đại thực bào và di chuyển vào vết thương, nó sản xuất những yếu tố tăng trưởng và cytokine đẻ dọn dẹp sạch những chất bẩn và vi khuẩn Bạch cầu đơn nhân chiếm uuw thế vào nhày thứ 3 và đây là tế bào đặc thù của quá trình viêm nhiễm mãn tính
Ngoài ra bạch cầuu đơn nhân còn giữ vai trò quan trọng trong việc thu hút các nguyên sợi bào
2.2.5.2 Giai đoạn biểu mô hóa
Giai đoạn biểu mô hóa dẫn đến sự hình thành một lớp tế bào bề mặt băng ngang vết thương Lớp này được xem như hàng rào bảo vệ sự xâm nhập của vi trùng và vật lạ
Sau khi vết thương hoặc chấn thương, tế bào đáy quanh mặt vết thương lớn ra
và tăng sinh Sự hình thành cục máu trong vết thương sẽ hình thành cầu fibrin, nhờ
đó các tế bào biểu mô đi ngang qua vết thương Sự di chuyển bắt đầu từ bờ vếtthương đi vào trung tâm, trong vòng 48 giờ bờ vết thương sẽ áp lại và được bao phủ hoàn toàn bởi một lớp biểu mô trong điều kiện tối hảo Tuy nhiên lớp biểu mô này rất mỏng, lỏng lẻo và dễ bị tổn thương
Sự tăng sinh và biệt hóa của biểu mô được tiếp tục nhưng lớp này vẫn rất yếu cho đến khi sự hình thành sẹo xơ được thành lập
2.2.5.3 Giai đoạn tăng sinh sợi
Sự tăng sinh sợi dẫn đến sự hình thành sẹo xơ tạo nên sức bền co dãn cho vết thương Giai đoạn này xảy ra từ ngày thứ 2 đến 3 tuần Những nguyên sợi bào tạo
ra một mạng sợi collagen Khi có sự hiện diện của oxygen và vitamin C thích hợp thì những mô hạt được hình thành Nguyên sợi bào tạo ra một lớp collagen để lấp
Trang 26đầy chỗ trống trong vết thương và tạo mới mao mạch Oxygen được kết hợp chặt chẽ bởi hai aminoacid đó là proline và lysine, cả hai cần thiết cho sự tổng hợp collagen Vitamine C cần thiết cho sự chuyển hóa nhóm hydroxyl của proline thành hydroxyproline, một amino acid được tìm thấy trong collagen Đỉnh cao nhất của sự hình thành collagen vào ngày thứ 7 của vết thương và tiếp tục sản xuất collagen cho đến tuần thứ 6.
2.2.5.4 Giai đoạn trưởng thành
Giai đoạn trưởng thành kéo dài từ 3 tuần đến 2 năm Giai đoạn này xảy ra hiện tượng tái tạo có thứ tự Những sợi collagen ban đầu là một tổ chức sợi collagen còn
ở dạng keo gelatin mềm chưa trưởng thành, sau đó một số sợi này sẽ bị thoái hóa và được thay thế bởi các sợi collagen mới trật tự hơn Các sợi collagen này dính vào nhau làm tăng độ bền của sẹo
Tóm lại sự lành vết thương được chia thành hai cấp độ:
Lành sơ cấp: là sự lành của một vết thương nhỏ sạch hoặc là một vết mổ được may lại bằng chỉ may hoặc băng dính hai mép da lại
Lành thứ cấp: là sự lành xảy ra khi có một vết thương hở, mất nhiều mô, diễn tiến qua các tiến trình thành lập mô hạt, co thắt và biểu mô hóa
Thú già yếu, thú sinh nhiều con trên lứa nên bị kiệt sức hoặc đã sử dụng thuốc
hổ trợ và dùng tay can thiệp không hiệu quả
Có tiền sử đẻ khó
2.2.6 Một số tai biến trong và sau phẫu thuật
Thông thường, trước khi tiến hành phẫu thuật có gây mê, thú cần nhịn đói tối thiểu 6 giờ, nhịn uống 2 giờ Trên thực tế cần can thiệp ngay tình trạng đẻ khó nên việc cho thú nhịn ăn trước không được thực hiện tốt Theo Dodman (1979), mặc dù không có thời gian để trống dạ dày tự nhiên trước khi gây mê trong trường hợp khẩn cấp, may mắn thay thú thường từ chối thức ăn sau khi chuyển dạ bắt đầu, đây
là một yếu tố an toàn tự nhiên
Theo Nguyễn Văn Thành (2004), trong và sau khi mổ có thể xảy ra các trường hợp sau:
Trang 27Nôn trong lúc phẫu thuật hoặc lúc tỉnh mê Để khắc phục nên thực hiện tiền
mê tốt Nếu bản thân thú có tiền sử bệnh tim, phổi, khi gây mê cần theo dõi kỹ nhịp tim nhịp hô hấp, nhất là trong giai đoạn mê sau, vì trong giai đoạn này thú dễ chết hơn so với những thú khác Trong trường hợp này cần can thiệp ngay bằng thuốc trợ tim, trợ hô hấp, hô hấp nhân tạo Những thú quá yếu hay có triệu chứng bệnh phổi, tim mạch nên gây tê nếu cần giải phẫu
Tai biến do mất máu xảy ra khi thực hiện đường mổ vào xoang bụng không đúng đường trắng, không tách theo sớ cơ khi mổ hông, làm đứt nhiều mạch máu cơ,
do thao tác kẹp mạch máu tạm thời hoặc cột mạch máu không tốt gây mất máu nhiều hoặc xuất huyết nội gây nguy hiểm cho thú Sản dịch và máu chảy ra nhiều sau 24 giờ có thể do nội mạc tử cung xuất huyết, lúc này nên dùng thuốc cầm máu Sau 24 giờ mà việc xuất huyết vẫn tiếp diễn thì tiến hành cắt tử cung Máu tụ cục to làm căng phồng vết mổ thì phải mổ lại, xử lý xuất huyết, loại bỏ các cục máu đông.Nếu tích dịch dưới da, dùng gạc, bông gòn ép hết dịch, rửa vết thương bằng oxy già.Nhiễm trùng vết mổ thường do sai sót về kỹ thuât Chó có biểu hiện như vết
mổ sưng, tấy đỏ, có mủ, hai mép vết thương bị hoại tử, chó sốt Xử lý vết mổ có mủ bằng cách mở rộng và dẫn lưu vết mổ, rửa vết thương bằng oxy già Sau đó vết mổ
đã khô, có sự tái tạo mạch máu ở hai mép vết thương thì có thể may lại
Sau 10 ngày mà vết thương ở da đã lành mà xảy ra hiện tượng bung hay đứt chỉ thì những trường hợp này thường gặp ở chó già, cơ thể bị rối loạn chuyển hóa và hấp thu chỉ, dinh dưỡng kém Nếu chó bị bung và đứt chỉ, nên tiến hành may lại, gìn giữ vết thương, kiểm tra, thay băng hằng ngày, cung cấp đủ dinh dưỡng, dễ tiêu và tiêm thuốc
2.3 Lược duyệt một số công trình nghiên cứu có liên quan
2.3.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Daevelid và Forsberg (1994) khảo sát trên 182 con chó có dấu hiệu đẻ khó và
đã ghi nhận có 75,3% nguyên nhân do mẹ và 24,7% nguyên nhân do con Trong đó,
do tử cung co bóp kém (48,9%), xương chậu hẹp (23,1%), thai lớn (6,6%), 1,1% do thư thế thai bất thường
Trang 28Robbins và Mullen (1994) thực hiện trên 63 thú mẹ (37 chó và 26 mèo) đẻ khó được làm phẫu thuật cắt bỏ tử cung Biến chứng trong khi mổ: một mèo chảy máu qua nhiều do rối loạn đông máu Biến chứng sau phẫu thuật có ba con mèo bị thiếu máu, một con mèo chết và một con chó bị tích nước tiểu trong xoang bụng Tỷ lệsống của thú con là 75% trên chó và 42% trên mèo Tác giả cũng cho thấy rằng hầu hết các giống chó nhỏ (< 15 kg) bị đẻ khó, trong đó chihuahua chiếm tỷ lệ khá cao (32%).
2.3.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
Trần Đăng Khôi (2005) khảo sát 432 chó có dấu sắp sinh được mang đến khám tại Chi Cục Thú Y TP HCM, ghi nhận được 254 trường hợp chó có dấu hiệu
đẻ khó và 178 chó sinh đẻ bình thường Số chó cần can thiệp bằng phẫu thuật là 188 con (chiếm 74,02%) Số chó đẻ khó bao gồm giống chó Nhật và Bắc Kinh (29,92%), Fox và Chihuahua (36,22%), chó ta (22,04%), còn lại 11,82% gồm những giống chó Berger, Cocker và Rottweiler Nguyên nhân đẻ khó chủ yếu do tủcung co bóp kém (33,92%), xương chậu hẹp (24,1%), thai lớn (16,51%), xoắn tửcung (10,26%), tư thế thai bất thường (11,16%) và thai chết (4,05%) Tác giả cũng ghi nhận chứng đẻ khó xảy ra đồng đều ở mọi lứa đẻ
Trần Thị Hằng Nga (2008) đã khảo sát 84 trường hợp đẻ khó, chủ yếu trên giống chó Chihuahua và Fox Nguyên nhân gây nên chứng đẻ khó thường gặp
là hẹp xương chậu (30,55%), thai lớn (25%), tử cung co bóp kém (19,45%) và thai chết 13,9%.Triệu chứng thường gặp ở chó đẻ khó là rặn liên tục nhưng thai không
ra (27,27%), chảy nước ối (22,22%), sản dịch xanh đen (19,44%) Tai biến sau phẫu thuật: nhiễm trùng không đứt chỉ khâu (50%), nhiễm trùng vết thương kèm theo đứt chỉ khâu (38,23%) và kích ứng chỉ (11,77%)
Nguyễn Phước Thịnh (2009) khảo sát trên 27 chó đẻ khó Đẻ khó xảy ra chủyếu trên giống chó ngoại (92,59%), trong đó Chihuahua (40,74%), kế đến là giống chó Nhật (18,52%) và Bulldog, Fox (11,11%) Đẻ khó thường xảy ra ở lứa đầu tiên, trong độ tuổi ≤2 năm Nguyên nhân dẫn đến đẻ khó: thai chết thối rửa (22,22%), hẹp xương chậu (40,74%), tư thế thai bất thường, sẩy thai, đẻ non, rặn
Trang 29yếu, cổ tử cung không mở (3,7%) Tai biến trong phẫu thuật gồm trục trặc hô hấp (7,41%), xuất huyết (7,41%), viêm dính tử cung và chết (3,7%) Tai biến sau phẫu thuật gồm có nhiễm trùng vết thương (12%), đứt chỉ may da (8%).
Nguyễn Thùy Thanh Thanh (2011) khảo sát 702 chó đến khám thai tại Chi Cục Thú Y TP HCM, có 158 chó có dấu hiệu đẻ khó (22,51%) Nguyên nhân đẻkhó thường là dạng kết hợp (58,86%) bao gồm rặn liên tục, vỡ ối và thai kẹt ở âm đạo Thai to (11,39%), thai chết (21,52%), thai yếu (9,49%), tư thế thai bất thường (17,72%), xương chậu hẹp (20,25%) và một số trường hợp khác không xác định được nguyên nhân (19,62%) Nồng độ progesterone trung bình 1,59±0,16 ng/ml trên chó đẻ khó không xác định được nguyên nhân qua siêu âm/X-quang
Qua khảo sát của các công trình nghiên cứu ở Việt Nam, chúng tôi ghi nhận:
đẻ khó thường chiếm tỷ lệ khá cao, đa số được can thiệp bằng phẫu thuật, thường xảy ra trên những giống chó nhỏ vóc Nguyên nhân gây đẻ khó do xương chậu hẹp
và tử cung co bóp kém chiếm hầu hết các trường hợp Tuy nhiên, chỉ có một nghiên cứu của Nguyễn Thùy Thanh Thanh (2011) xác định hàm lượng progesterone, chưa
có nghiên cứu nào về hàm lượng calcium huyết thanh, do đó đề tài này được thực hiện để tiếp tục nghiên cứu về hàm lượng progesterone liên quan đến đẻ khó và xác định thêm nồng độ calcium huyết thanh
Trang 30Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
3.1 Thời gian và địa điểm
3.1.1 Thời gian
Đề tài được thực hiện từ 22/12/2011 đến 22/04/2012
3.1.2 Địa điểm
Trạm Phòng Chống Dịch Và Kiểm Dịch Động Vật – 187 Lý Chính Phường 7 – Quận 3 – TP HCM
Thắng-3.2 Đối tượng khảo sát
Khảo sát 45 chó cái mang thai có dấu hiệu sắp sinh được đưa đến khám và điều trị
3.3 Nội dung nghiên cứu
(1) Khảo sát tỷ lệ đẻ khó
(2) Khảo sát các nguyên nhân và triệu chứng lâm sàng trên chó đẻ khó
(3) Khảo sát nồng độ calcium và progesterone huyết thanh
(4) Hiệu quả can thiệp đẻ khó
và sinh hoạt của chó trong giai đoạn có mang và lúc gần sinh, khoảng cách giữa những lần đẻ Chó xuất hiện dấu hiệu đẻ khó khi nào, có xuất hiện bọc ối hay không
Trang 31và khi nào Có thấy sự xuất hiện của thai ở âm hộ không Chó mẹ đã sinh được con nào chưa, sống hay chết Chó có ói hay không Sự xuất hiện dịch tiết âm đạo trong những ngày gần đây.
3.4.1.3 Chỉ tiêu theo dõi
Tỷ lệ chó đẻ khó trên tổng số chó mang thai mang đến khám
Tỷ lệ chó đẻ khó theo giống, lứa đẻ, độ tuổi
3.4.2 Khảo sát các nguyên nhân và triệu chứng lâm sàng trên chó đẻ khó
Khám tổng quát: cố định chó lên bàn, khớp mõm chó và có chủ đứng giữ Kiểm tra tình trạng sức khỏe, sự phát triển cơ thể có cân đối hay không? Da, niêm mạc hồng hay nhợt nhạt, kiểm tra thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, tình trạng tiết sữa của tuyến vú, kích thước âm hộ, kích thước bụng, sự tiết các chất dịch ở âm đạo.Khám cơ quan sinh dục: kiểm tra âm hộ, kích thước, chất tiết ở âm hộ, mùi, màu sắc, độ nhầy của chất tiết Kiểm tra âm đạo: phải tuyệt đối giữ vệ sinh khi tiến hành thăm khám âm đạo Mang găng tay vô trùng, cho ngón trỏ qua âm hộ, âm đạo
để kiểm tra Tay còn lại nâng bụng và xoa bóp để giúp đẩy thai về sau mà ngón tay trỏ có thể chạm tới được Kiểm tra qua âm đạo chúng ta có thể nhận biết được độ
mở cổ tử cung, tử cung cứng hay mềm, sự dãn nở của tử cung, độ trơn láng của âm đạo Mức độ tổn thương do những lần can thiệp trước Tử cung đã co bóp để đẩy thai ra không, ngón tay có thể chạm vào boc ối, bọc ối đã vỡ chưa Độ lớn của thai
và tư thế của thai trong tử cung Chỉ chụp X–quang hay siêu âm nếu thấy cần thiết.Những thông tin trên sẽ giúp chúng ta định hướng cách xử lý