1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU TÁC DỤNG CỦA MÔN CÔNG NGHỆ 10 ĐẾN VIỆC ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN THỦ ĐỨC TP.HCM

105 197 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 700,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÌM HIỂU TÁC DỤNG CỦA MÔN CÔNG NGHỆ 10 ĐẾN VIỆC ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN THỦ ĐỨC TP.HCM Tác giả LÊ HỒNG THI Khóa luận đượ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

TÌM HIỂU TÁC DỤNG CỦA MÔN CÔNG NGHỆ 10 ĐẾN VIỆC ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH

MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN THỦ ĐỨC TP.HCM

Họ và tên sinh viên: LÊ HỒNG THI Ngành: SƯ PHẠM KỸ THUẬT NÔNG NGHIỆP Niên khóa: 2005 - 2009

Tháng 05/2009

Trang 2

TÌM HIỂU TÁC DỤNG CỦA MÔN CÔNG NGHỆ 10

ĐẾN VIỆC ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH

MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN THỦ ĐỨC TP.HCM

Tác giả

LÊ HỒNG THI

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu

cấp bằng Cử nhân ngành

Sư phạm kỹ thuật nông nghiệp

Giáo viên hướng dẫn:

TS NGUYỄN THANH THỦY

Tháng 05 năm 2009

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Con xin gởi lời biết ơn sâu sắc đến ba mẹ, những người trong gia đình đã nuôi dưỡng, dạy dỗ và luôn giúp đỡ, động viên con trong mọi thời điểm

Chân thành cảm ơn:

§ Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm TP.HCM

§ Các thầy cô bộ môn Sư Phạm Kỹ Thuật Nông Nghiệp

§ Các thầy cô trong và ngoài trường Đại học Nông Lâm TP.HCM

Đã truyền đạt cho em những kiến thức khoa học trong thời gian học tập vừa qua

Đặc biệt xin chân thành cảm ơn TS NGUYỄN THANH THỦY – trưởng Bộ môn Sư Phạm Kỹ Thuật Nông Nghiệp - trường Đại học Nông Lâm TP.HCM đã tận tình dạy dỗ, hướng dẫn và giúp đỡ em thực hiện đề tài này

Xin chân thành cảm ơn các bạn trong và ngoài lớp đã động viên, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Thủ Đức, ngày 25 tháng 05 năm 2009

LÊ HỒNG THI

Trang 7

TÓM TẮT

Đề tài: “Tìm hiểu tác dụng của môn Công nghệ 10 đến việc định hướng nghề

nghiệp của học sinh một số trường Trung học phổ thông trên địa bàn quận Thủ Đức TP.HCM” được tiến hành tại một số trường Trung học phổ thông trên địa bàn

quận Thủ Đức TP.HCM, thời gian từ tháng 08/2008 đến tháng 06/2009

Ø Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu, tham khảo các nguồn tài liệu và xác định tác dụng của môn Công nghệ 10 đến định hướng nghề nghiệp của học sinh nhằm giúp giáo viên dạy môn Công nghệ 10, sinh viên ngành Sư Phạm Kỹ Thuật Nông Nghiệp nhận thức sâu sắc tác dụng của môn Công nghệ 10 đến việc định hướng nghề nghiệp của học sinh, từ đó có hướng giảng dạy phù hợp, có hướng học tập, nghiên cứu để đáp ứng yêu cầu

Ø Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, người nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp sau: Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, phương pháp phỏng vấn

Qua quá trình nghiên cứu tài liệu, điều tra, phỏng vấn học sinh tại một số trường Trung học phổ thông trên địa bàn quận Thủ Đức TP.HCM: Trung học phổ thông Tam Phú, Trung học phổ thông Thủ Đức, Trung học phổ thông Nguyễn Hữu Huân, người nghiên cứu đã thu được kết quả như sau:

Lượng kiến thức cơ bản mà học sinh tiếp thu được ở mức độ trung bình, tương đối, chủ yếu là các kiến thức vô hình từ những bài học sau đó liên hệ thực tiễn sản xuất, hay các kiến thức thực tế hằng ngày Các kiến thức trong chương trình môn Công nghệ

10 chỉ mới phát huy được một phần tác dụng của một môn khoa học ứng dụng, còn tác dụng giúp định hướng nghề nghiệp cho học sinh chưa thật sự được khai thác và phát huy tốt Trên thực tế thì học sinh coi nhẹ tác dụng của các môn học thuộc khoa học ứng dụng nói chung và của môn Công nghệ 10 nói riêng Vì vậy, tỷ lệ học sinh có định hướng nghề nghiệp về nhóm các ngành nghề khác như: Điện, Điện tử, Bưu chính Viễn Thông, Quân đội, Sư phạm, Y tế, Văn hóa, … khá cao so với tỷ lệ học sinh có định hướng nghề nghiệp thuộc về nhóm ngành nghề có trong chương trình môn Công nghệ

10 như: Nông nghiệp Lâm nghiệp, Ngư nghiệp Học sinh định hướng nghề nghiệp của

bản thân chủ yếu dựa vào yếu tố “Nguyện vọng của cá nhân”, tức là các yếu tố: bản

Trang 8

thân, gia đình, bởi vì hầu hết học sinh chưa thật sự hiểu rõ các ngành nghề trong xã hội cũng như yêu cầu của ngành nghề đó, cũng như yêu cầu của xã hội về ngành nghề đó

Tóm lại, môn Công nghệ 10 có tác dụng rất ít đến những định hướng nghề nghiệp của học sinh một số trường Trung học phổ thông trên địa bàn quận Thủ Đức,

TP HCM, trong đó kiến thức của phần 1: “Nông, Lâm, Ngư nghiệp” có tác dụng kém hơn so với kiến thức của phần 2: “Tạo lập doanh nghiệp”

Trang 9

MỤC LỤC

Trang tựa i

Lời cảm ơn .ii

Nhận xét của giáo viên phản biện iii

Nhận xét của giáo viên hướng dẫn v

Tóm tắt vi

Mục lục viii

Danh sách chữ viết tắt xi

Danh sách các sơ đồ xii

Danh sách các bảng xiii

Danh sách các biểu đồ xiv

Chương 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Bối cảnh .1

1.2 Tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu 3

1.3 Vấn đề nghiên cứu 4

1.4 Mục đích nghiên cứu 4

1.5 Câu hỏi nghiên cứu 4

1.6 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

1.7 Phương pháp nghiên cứu 5

1.8 Đối tượng nghiên cứu 6

1.9 Phạm vi nghiên cứu 7

1.10 Cấu trúc luận văn 7

1.11 Kế hoạch nghiên cứu 8

Trang 10

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 10

2.1 Vài nét về lịch sử vấn đề nghiên cứu 10

2.2 Sơ lược tổng quan một số trường Trung học phổ thông trên địa bàn quận Thủ Đức 12

2.2.1 Trường Trung học phổ thông Nguyễn Hữu Huân 12

2.2.2 Trường Trung học phổ thông Tam Phú 13

2.2.3 Trường Trung học phổ thông Thủ Đức 13

2.3 Tìm hiểu vấn đề lựa chọn nghề nghiệp của học sinh Trung học phổ thông 14

2.3.1 Đặc điểm tâm lý của học sinh Trung học phổ thông trong lựa chọn nghề nghiệp 14

2.3.2 Những cơ sở và xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh Trung học phổ thông 16

a) Những cơ sở lựa chọn nghề nghiệp của học sinh Trung học phổ thông 16

b) Việc thực hiện định hướng nghề nghiệp cho học sinh Trung học phổ thông 18

c) Xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh Trung học phổ thông 18

2.3.3 Nguyên nhân chính dẫn đến chọn nghề không phù hợp của học sinh Trung học phổ thông 20

2.4 Công tác định hướng nghề nghiệp cho học sinh Trung học phổ thông 21

2.4.1 Định nghĩa định hướng nghề nghiệp 21

2.4.2 Tầm quan trọng, mục tiêu của định hướng nghề nghiệp 24

a) Tầm quan trọng của định hướng nghề nghiệp 24

b) Mục tiêu của định hướng nghề nghiệp 24

2.4.3 Những cơ sở thực hiện định hướng nghề nghiệp hiện nay 26

2.5 Chương trình môn Công nghệ 10 trong trường phổ thông 28

2.5.1 Chương trình khung môn Công nghệ 10 28

2.5.2 Tầm quan trọng của môn Công nghệ 10 trong chương trình giáo dục Trung học phổ thông 44

2.5.3 Quan điểm về tác dụng của môn Công nghệ 10 đối với định hướng nghề nghiệp của học sinh Trung học phổ thông 45

Trang 11

Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 49

3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 49

3.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi 49

3.3 Phương pháp phỏng vấn 51

3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 52

3.4.1 Phương pháp phân tích định lượng 52

3.4.2 Phương pháp phân tích định tính 52

Chương 4: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH 54

4.1 Những kiến thức học sinh lĩnh hội được sau khi học môn Công nghệ 10 54

4.2 Việc vận dụng các kiến thức vào định hướng nghề nghiệp trong tương lai của học sinh Trung học phổ thông 62

4.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến định hướng nghề nghiệp của học sinh Trung học phổ thông 72

4.4 Ý kiến của học sinh về tác dụng của môn Công nghệ 10 đến việc lựa chọn nghề nghiệp 76

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77

5.1 Kết luận 77

5.2 Kiến nghị 80

5.3 Hướng phát triển của đề tài 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

PHỤ LỤC 1 PHỤ LỤC 2

Trang 13

DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Tam giác hướng nghịêp 22

Trang 14

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Chương trình khung môn Công nghệ 10 (phần 1) 29

Bảng 2.2 Chương trình khung môn Công nghệ 10 (phần 2) 42

Bảng 3.1 Tác dụng của các câu hỏi nghiên cứu 50

Bảng 4.1 Kiến thức cơ bản về Nông nghiệp học sinh tiếp thu ở mức độ “Rất nhiều” 57

Bảng 4.2 Kiến thức cơ bản về Nông nghiệp học sinh “Không tiếp thu” 57

Bảng 4.3 Mức độ tiếp thu các kiến thức làm nền tảng để học Đại học 61

Bảng 4.4 Mức độ lựa chọn các ngành nghề liên quan đến Nông nghiệp 63

Bảng 4.5 Mức độ lựa chọn các ngành nghề liên quan đến Lâm nghiệp 65

Bảng 4.6 Mức độ lựa chọn các ngành nghề liên quan đến Ngư nghiệp 66

Bảng 4.7 Mức độ lựa chọn các ngành nghề liên quan đến Kinh tế 67

Bảng 4.8 Mức độ lựa chọn các ngành nghề về tiểu thủ công nghiệp 70

Bảng 4.9 Tỷ lệ những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định của học sinh sau tốt nghiệp trung học phổ thông 72

Bảng 4.10 Các yếu tố kết hợp trong lựa chọn nghề nghiệp 73

Bảng 4.11 Ý kiến của học sinh về tác dụng của môn Công nghệ 10 trong định hướng nghề nghiệp 76

Trang 15

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.1 Một số kiến thức cơ bản về Nông nghiệp học sinh lĩnh hội 55 Biểu đồ 4.2 Một số kiến thức cơ bản về Lâm nghiệp học sinh lĩnh hội 56 Biểu đồ 4.3 Một số kiến thức cơ bản về Tạo lập doanh nghiệp

học sinh lĩnh hội 58 Biểu đồ 4.4 Một số kiến thức thực tế cuộc sống học sinh lĩnh hội 59 Biểu đồ 4.5 Định hướng nghề nghiệp của học sinh

liên quan đến kiến thức Nông nghiệp 64 Biểu đồ 4.6 Định hướng nghề nghiệp của học sinh

liên quan đến kiến thức Kinh tế 68 Biểu đồ 4.7 Định hướng nghề nghiệp của học sinh

liên quan đến các nhóm ngành nghề khác 69 Biểu đồ 4.8 Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến định hướng nghề nghiệp

của học sinh Trung học phổ thông 74

Trang 16

Chương 1:

GIỚI THIỆU

1.1 Bối cảnh

Theo số liệu thống kê năm 2007, Việt Nam là nước có cơ cấu dân số trẻ, tổng

số dân có hơn 83 triệu người, trong đó có 59.3 % dân thuộc độ tuổi lao động, mỗi năm bổ sung thêm 1.1 triệu lao động mới Nhưng trên thực tế lại xảy ra mâu thuẫn giữa số lao động thất nghiệp và sự thiếu hụt lao động có tay nghề Vậy đâu là chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn này Phải chăng do người lao động không được định hướng nghề nghiệp ngay từ nhỏ, mà chậm nhất là ở bậc phổ thông

PGS.TS Nguyễn Văn Lê (2000) khi tham gia nghiên cứu đề tài khoa học cấp

Nhà nước KX-05-09 mang tên: “Giáo dục phổ thông và hướng nghiệp - nền tảng

để phát triển nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá - hiện đại hoá” đã nói: “Giáo dục phổ thông nước ta đang đứng trước những thách thức to lớn và một tình trạng nan giải là chỉ có một tỷ lệ thấp số học sinh theo học ở các trường nghề, đa số học sinh muốn thi tuyển vào các trường đại học chuyên nghiệp và kỹ thuật Đã đến lúc chúng ta cần xem xét lại một cách nghiêm túc nội dung đào tạo và những vấn đề có liên quan đến giáo dục phổ thông hiện nay, đặc biệt xu hướng phát triển của nó với việc chuẩn bị nguồn nhân lực phục vụ cho công nghiệp hoá - hiện đại hoá"

Còn Th.S Lê Thị Ngọc Dung (Viện nghiên cứu xã hội TP.HCM) khi tham gia

hội thảo: “Giáo dục và định hướng giá trị nghề nghiệp xã hội cho học sinh - sinh viên” tổ chức tại TP.HCM vào ngày 04/03/2008 đã phát biểu: “Lao động Việt Nam hiện đang đối mặt với thách thức lớn là cạnh tranh với lao động nước ngoài Xu hướng nhập khẩu lao động nước ngoài có thể xem là sự phân công lao động có tính toàn cầu tất yếu trong khi chỉ có 30 % lao động Việt Nam có thể đáp ứng nhu cầu tương đối trên thị trường công nghiệp”

Cùng ý kiến đó ông Hoàng Ngọc Thạch, phó Chủ tịch Tổng liên đòan lao động

Việt Nam khi tham gia hội thảo: “Việc làm cho thanh niên” do Tổng liên đòan lao

động Việt Nam và tổ chức lao động quốc tế (ILO) phối hợp tổ chức tại TP.HCM

Trang 17

trong hai ngày 09, 10/09/2008 đã nói: “Mặc dù nước ta có ưu thế về lực lượng trẻ

và đông, song chất lượng lao động chưa tương xứng, chưa đáp ứng được đòi hỏi của nền kinh tế Chỉ có hơn 20 % lực lượng lao động qua đào tạo nhưng lại đào tạo lệch, mất cân đối do thiếu sự phối hợp giữa hệ thống giáo dục và nhu cầu lao động Thêm vào đó, do không được tư vấn việc làm một cách đầy đủ đã hạn chế khả năng tiếp cận thông tin và lựa chọn nghề thích hợp của thanh niên … Đây là lực cản đối với sự phát triển kinh tế và làm nảy sinh các vấn đề xã hội phức tạp”

Như vậy, việc giáo dục hướng nghiệp cũng như định hướng nghề nghiệp cho người lao động phải được tiến hành sớm và có hiệu quả tức là phải giúp người lao động nhận thức và biết kết hợp hài hòa các yếu tố: nguyện vọng, năng lực cá nhân, yêu cầu của nghề trong xã hội và yêu cầu của xã hội thì mới có thể đem lại kết quả khả quan cho tình hình lao động ở nước ta hiện nay Nhưng trên thực tế công tác này chưa được thực hiện triệt để, vì vậy mà có không ít sinh viên khi ra trường đã lúng túng, không biết nên bắt đầu từ đâu, không biết ngành học của mình sẽ ứng dụng vào những công việc cụ thể nào Cô Nguyễn Hồng Mai, giảng viên trường

Đại học Công Nghiệp TP.HCM khi tham gia hội thảo chuyên đề “Tư vấn hướng nghiệp” được tổ chức tại Trung tâm Anh ngữ Cleverlearn, tại TP.HCM ngày 30/08/2007 đã nói: “Nhiều sinh viên bây giờ chọn ngành học theo thời thượng, các

em không hiểu được tiềm năng của mình thực sự muốn gì, thích gì Tôi nghĩ ngay

từ khi các em còn học phổ thông, gia đình, nhà trường nên giúp các em có những định hướng nghề nghiệp rõ ràng để các em không cảm thấy hối tiếc, cảm thấy chán nản khi chọn sai ngành học thích hợp”

Nhìn ra thế giới, ở các nước tiên tiến như: Mỹ, Anh, Pháp, Hà Lan, Úc, … Việc định hướng nghề nghiệp phù hợp năng lực, sở thích cá nhân cho học sinh được chuẩn bị ngay từ nhỏ thông qua các môn khoa học ứng dụng như: Kỹ thuật nông nghiệp, Kỹ thuật công nghiệp, Tin học, Công nghệ, Kinh tế, … Hướng nghiệp hay định hướng nghề nghiệp là một quá trình liên tục và lâu dài nhằm đáp ứng nhu cầu cho chính bản thân người lao động, quan trọng nhất là giai đọan phổ thông (Trung học cơ sở, Trung học phổ thông), và cả thị trường lao động Nhà giáo Quang

Dương (Viện nghiên cứu giáo dục TP.HCM) trong hội thảo: “Giáo dục và định hướng giá trị nghề nghiệp xã hội cho học sinh – sinh viên” cho biết: “Ở nước ngoài, giáo dục hướng nghiệp là tiền đề của đào tạo nhân lực, trực tiếp chi phối

Trang 18

quá trình đào tạo nhân lực trước mắt và lâu dài nên giáo dục hướng nghiệp luôn song hành với giáo dục phổ thông, không phải kết thúc sau thi cử mà còn kéo dài mãi đến cuối đời”

PGS.TS Nguyễn Danh Ánh (Viện trưởng viện Nghiên cứu, đào tạo, tư vấn khoa

học công nghệ) khi tham gia hội thảo: “Đối thoại Pháp – Về các vấn đề và hướng

đi của khoa học và giáo dục hướng nghiệp” được tổ chức tại Hà Nội ngày 11/01/2005 cũng đã nói: “Công tác hướng nghiệp không chỉ được tiến hành ở tất

cả các loại trường học mà còn thực hiện ở các cơ quan, cơ sở sản xuất kinh doanh – hướng nghiệp từ khi học sinh bắt đầu đến trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông đến khi các em có một nghề trong tay, không chỉ tiến hành với thế hệ trẻ

mà cần cả cho người lớn tuổi không có nghề hoặc phải thay đổi nghề” Tuy nhiên

ở Việt Nam xu hướng này chỉ mới được áp dụng trong những năm gần đây nhưng vẫn chưa hoàn thiện vì cả giáo viên, học sinh đều chưa hiểu đúng mức về tầm quan trọng của những môn khoa học ứng dụng

Vì vậy, đề tài được thực hiện nhằm xác định mức độ hiểu biết về tầm quan trọng của những môn khoa học ứng dụng nói chung và môn Công nghệ 10 nói riêng đến việc định hướng nghề nghiệp của học sinh Từ đó có hướng giải quyết những bất cập đang diễn ra trên thị trường lao động hiện nay

1.2 Tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu

Đứng trước tình hình của lực lượng lao động hiện nay, là sinh viên ngành Sư Phạm Kỹ Thuật Nông Nghiệp, sẽ trở thành người giáo viên dạy môn Công nghệ 10 – môn khoa học ứng dụng, góp phần giúp học sinh định hướng tương lai, việc xác định những tác dụng của môn Công nghệ 10 đến việc định hướng nghề nghiệp của học sinh là hết sức cần thiết để chuẩn bị đào tạo học sinh có định hướng nghề nghiệp tốt, theo yêu cầu của xã hội

Trang 19

1.3 Vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm tìm hiểu tác dụng của môn Công nghệ 10 đến việc định hướng nghề nghiệp của học sinh một số trường trên địa bàn Quận Thủ Đức TP.HCM

1.4 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu có tác dụng giúp giáo viên dạy môn Công nghệ 10 ở các trường Trung học phổ thông nhận thức sâu sắc tác dụng của môn Công nghệ 10 đến việc định hướng nghề nghiệp của học sinh và mức độ tác dụng đối với học sinh Từ đó có hướng giảng dạy phù hợp Giúp sinh viên ngành Sư Phạm Kỹ Thuật Nông Nghiệp hiểu rõ tác dụng, ý nghĩa của môn Công nghệ 10 đối với học sinh, từ

đó có hướng học tập, nghiên cứu để đáp ứng yêu cầu Ngoài ra, còn giúp cho học sinh các trường Trung học phổ thông nhận thức được tầm quan trọng, ý nghĩa của môn Công nghệ trong chương trình học và nhất là trong việc định hướng nghề nghiệp

1.5 Câu hỏi nghiên cứu

Đề tài được thực hiện nhằm tìm hiểu những câu hỏi sau:

- Những kiến thức học sinh học được qua chương trình môn Công nghệ 10

- Mức độ ảnh hưởng của môn Công nghệ 10 đến định hướng nghề nghiệp của học sinh

Ngoài ra đề tài còn tìm hiểu những câu hỏi phụ như sau:

- Những dự định của học sinh sau khi tốt nghiệp Trung học phổ thông

- Những nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề nghiệp của học sinh

Trang 20

1.6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài

Nhiệm vụ 2: Khảo sát chương trình môn Công nghệ 10 trong chương trình giáo

dục phổ thông tại một số trường Trung học phổ thông trên địa bàn quận Thủ Đức TP.HCM

Nhiệm vụ 3: Khảo sát, phân tích, đánh giá mức độ tác dụng cuả môn Công nghệ

10 đối với định hướng nghề nghiệp của học sinh một số trường trên địa bàn quận Thủ Đức TP.HCM Cụ thể là nội dung về mức độ đánh giá của học sinh về tác dụng của môn Công nghệ 10 trong định hướng nghề nghiệp, những định hướng của học sinh sau khi tốt nghiệp Trung học phổ thông và những nhân tố ảnh hưởng đến định hướng đó của học sinh, những kiến thức học sinh tích lũy được thông qua chương trình môn Công nghệ 10 trong chương trình giáo dục phổ thông

Nhiệm vụ 4: Đưa ra kết luận chung về tác dụng của môn Công nghệ 10 đối với

định hướng nghề nghiệp của học sinh một số trường trên địa bàn quận Thủ Đức, TP.HCM và tìm hiểu nguyên nhân, từ đó đưa ra một số giải pháp của vấn đề trên

1.7 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài,người nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp sau:

1.7.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu (phục vụ nhiệm vụ 1, 2, 3)

Phân tích và tổng hợp tài liệu về lý thuyết chương trình môn Công nghệ 10 trong trường phổ thông, vấn đề lựa chọn nghề nghiệp, công tác định hướng nghề nghiệp hiện nay cho học sinh Trung học phổ thông, tâm lí của học sinh phổ thông khi lựa chọn nghề nghiệp

1.7.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi (phục vụ nhiệm vụ 2, 3, 4)

- Các vấn đề điều tra: lượng kiến thức học sinh tích lũy được từ hcương trình môn Công nghệ 10, mức độ đánh giá của học sinh về tác dụng của môn Công nghệ 10 trong định hướng nghề nghiệp, những định hướng của học sinh sau khi

Trang 21

tốt nghiệp Trung học phổ thông và những nhân tố ảnh hưởng đến định hướng

1.7.4 Phương pháp thống kê (phục vụ nhiệm vụ 3, 4)

- Thu thập số liệu về lượng kiến thức học sinh tích lũy được từ chương trình môn Công nghệ 10, mức độ đánh giá của học sinh về tác dụng của môn Công nghệ 10 trong định hướng nghề nghiệp, những định hướng của học sinh sau khi tốt nghiệp Trung học phổ thông và những nhân tố ảnh hưởng đến định hướng

đó

- Thống kê xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Excell

1.8 Đối tượng nghiên cứu

_ Chủ thể nghiên cứu: tác dụng của kiến thức Công nghệ 10 đến việc định hướng nghề nghiệp của học sinh một số trường Trung học phổ thông trên địa bàn quận Thủ Đức

_ Khách thể nghiên cứu:

- Học sinh Trung học phổ thông

- Chương trình môn Công nghệ 10

Trang 22

1.9 Phạm vi nghiên cứu

Do giới hạn về thời gian và trong phạm vi nghiên cứu của một cử nhân, đề tài chỉ thực hiện trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp cử nhân nên người nghiên cứu chỉ tìm hiểu phần kiến thức trong sách giáo khoa Công nghệ 10 và chỉ khảo sát ở một số trường Trung học phổ thông trên địa bàn quận Thủ Đức

1.10 Cấu trúc luận văn

Cấu trúc luận văn gồm:

- Lời ngỏ

- Lời cảm ơn: người nghiên cứu muốn gửi lời cảm ơn đến thầy cô hướng dẫn, giảng dạy, người hỗ trợ, các trường Trung học phổ thông trong quá trình thực hiện đề tài

- Chương 1: Giới thiệu

Chương này bao gồm các vấn đề như sau: bối cảnh khi thực hiện đề tài, lý do người nghiên cứu chọn vấn đề nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, mục đích nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, sơ lược về phương pháp nghiên cứu, cấu trúc luận văn và kế hoạch nghiên cứu

- Chương 2: Cơ sở lý luận

Giới thiệu những lý thuyết cơ bản, những cơ sở mà người nghiên cứu dựa vào

đề đặt ra lý thuyết và tiên đóan, lý giải nguyên nhân, kết quả của vấn đề cần nghiên cứu; đồng thời nêu tóm lược lịch sử của vấn đề nghiên cứu

- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Mô tả cụ thể tiến trình nghiên cứu, lý thuyết về những phương pháp mà người nghiên cứu đã sử dụng, cách sử dụng các phương pháp đó trong đề tài

- Chương 4: Kết quả và phân tích

Người nghiên cứu phân tích các kết quả định lượng, định tính và trình bày kết quả phân tích, đưa ra những kết quả sơ bộ về vấn đề nghiên cứu

Trang 23

- Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Người nghiên cứu đưa ra kết luận của vấn đề nghiên cứu đồng thời đưa ra một

số kiến nghị đối với các ban ngành liên quan

- Tài liệu tham khảo: những tài liệu mà người nghiên cứu đã sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài

- Phụ lục: phiếu điều tra, phỏng vấn

1.11 Kế hoạch nghiên cứu

NGƯỜI THỰC HIỆN

GHI CHÚ

1 08-09/2008

- Chuẩn bị tài liệu

- Viết thuyết minh đề tài

Người nghiên cứu

2 09-10/2008 Viết đề cương Người nghiên

4 11-12/2008

-Viết cơ sở lý luận

- Thu thập thêm tài liệu

Người nghiên cứu

6 02-03/2009

- Tiến hành phỏng vấn, phát phiếu điều tra

- Báo cáo tiến độ giữa giai đoạn

- Người nghiên cứu

- Người được nhờ phát phiếu

Nhờ bạn phát phiếu điều tra

Trang 24

7 04/2009

Tổng hợp kết quả phỏng vấn, điều tra, đưa ra kết luận

Người nghiên cứu

8 05/2009

- Kết thúc quá trình nghiên cứu

- Báo cáo kết quả nghiên cứu cho GVHD

- Viết kết luận và kiến nghị

Người nghiên cứu

9 06/2009 Tiến hành bảo vệ Người nghiên

cứu

Trang 25

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Vài nét về lịch sử vấn đề nghiên cứu

Trong những năm gần đây có một số đề tài, báo cáo, bài báo khoa học về các họat động giúp định hướng nghề nghiệp, giáo dục hướng nghiệp ở trường phổ thông trên phương diện lý luận, thực trạng, giải pháp và chủ yếu đi theo hai hướng là nghiên cứu về giáo dục dạy nghề phổ thông và tư vấn hướng nghiệp nhằm định hướng nghề nghiệp cho học sinh Trung học phổ thông nhưng chỉ tập trung đi sâu vào những lĩnh vực nghề nghiệp cụ thể hoặc tập trung vào vai trò, cách tổ chức và hoạt động của văn phòng tư vấn, hoặc tầm quan trọng của hướng nghiệp, chủ yếu dựa vào những đánh giá chủ quan mà chưa đi vào việc đem những ứng dụng từ môn Công nghệ 10 vào định hướng nghề nghiệp của học sinh Trung học phổ thông Cụ thể như sau:

_ Nghiên cứu của Dương Diệu Hoa (Đại học Sư Phạm Hà Nội) (2005) về vấn đề: “Giáo dục lao động và hướng nghiệp trong vấn đề lựa chọn nghề nghiệp của học sinh Trung học phổ thông (THPT)” Nghiên cứu này nhằm đánh giá các mức độ và hiệu quả của các hình thức giáo dục hướng nghịêp trong nhà trường phổ thông, những khó khăn của học sinh khi chọn nghề, vấn đề lựa chọn nghề nghiệp và nhu cầu cần trang bị kiến thức nghề nghiệp của học sinh Trung học phổ thông, những đề nghị của giáo viên và học sinh về công tác hướng nghiệp và giáo dục lao động hướng nghiệp Kết quả thu được cho thấy các hình thức hướng nghiệp hiện nay ở trường Trung học phổ thông chưa thật sự phong phú và được tổ chức thường xuyên, nhưng nhu cầu tìm hiểu nghề của học sinh gặp nhiều khó khăn, chủ yếu các thông tin về nghề mà học sinh thu nhận được là từ bên ngoài nhà trường, ngoài giáo viên Vì vậy mà có những nhận thức không đúng đắn về các ngành nghề trong xã hội Ưu điểm của nghiên cứu này là

đã nêu lên được vấn đề cần nghiên cứu nhưng chưa đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm cải cách vấn đề tồn tại

Trang 26

_ Khóa luận tốt nghiệp: “Tìm hiểu thực trạng hướng nghiệp và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hướng nghiệp ở một số trường Trung học phổ thông quận 9, TP.HCM” do sinh viên Trần Thị Mỹ Hằng thực hiện Nghiên cứu này đã trình bày những vấn đề cơ bản trong công tác hướng nghiệp ở trường Trung học phổ thông, từ đó khảo sát thực trạng hướng nghiệp ở một số trường Trung học phổ thông ở quận 9, TP.HCM, đưa ra một số định hướng nghề nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả hướng nghiệp trong tương lai cho các trường này Kết quả nghiên cứu cho thấy việc hướng nghiệp ở các trường này chưa cao, nội dung chưa phong phú, hiệu quả công tác hướng nghiệp còn thấp và chưa được chú trọng Học sinh chưa hiểu về nghề nghiệp trong xã hội, chưa có những định hướng nghề nghiệp rõ ràng Ưu điểm của nghiên cứu này đó là đã đưa ra được một số giải pháp giúp định hướng nghề nghiệp trong tương lai cho các trường này nhưng chưa đưa ra giải pháp cụ thể cho từng khối lớp

_ Khóa luận tốt nghiệp: “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp ở một số trường Trung học phổ thông trên địa bàn quận Thủ Đức, TP.HCM” của sinh viên Nguyễn Thanh Bằng thực hiện Nội dung là tìm hiểu thực trạng công tác giáo dục hướng nghiệp hiện nay ở một số trường Trung học phổ thông

và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả giáo dục hướng nghiệp Kết quả nghiên cứu đưa ra thực trạng giáo dục hướng nghiệp ở trường Trung học phổ thông, công tác giáo dục hướng nghiệp hiện nay có hai hình thức chính là dạy môn giáo dục hướng nghiệp cho học sinh khối 10 và dạy nghề phổ thông cho học sinh khối

11, 12, các nội dung khác không được chú ý nên mang lại hiệu quả ở mức độ trung bình tới thấp Đồng thời tác giả cũng đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục hướng nghiệp cho các trường Trung học phổ thông Ưu điểm của nghiên cứu này là phân tích rõ ràng, cụ thể về thực trạng và tình hình giáo dục hướng nghiệp hiện nay ở một số trường Trung học phổ thông trên địa bàn quận Thủ Đức, TP.HCM, tuy nhiên các kết luận tác giả đưa ra chưa rõ ràng

_ Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Bảo (Viện Khoa học giáo dục Việt Nam) (2009): “Giáo dục nghề nghiệp thuộc Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn: Thực trạng và một số giải pháp điều chỉnh” Nghiên cứu này nêu lên một số bất cập trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp thuộc Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn

và nêu lên một số để xuất nhằm điều chỉnh hệ thống giáo dục nghề nghiệp thuộc Bộ

Trang 27

Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Kết quả đã đưa ra được những bất cập về quản lí nhà trường, về chương trình đào tạo, về thực hiện chuẩn hóa, về dạy nghề Các giải pháp nhằm điều chỉnh hệ thống giáo dục hướng nghiệp như: xem xét, điều chỉnh Luật Giáo dục ở các trình độ, thống nhất hệ thống quản lí, và các bộ, ngành, địa phương phải chú ý xem trọng công tác giáo dục nghề nghiệp

2.2 Sơ lược tổng quan một số trường Trung học phổ thông trên địa bàn quận Thủ Đức, TP.HCM

2.2.1 Trường Trung học phổ thông Nguyễn Hữu Huân

Trường được thành lập vào năm học 1962 - 1963 tọa lạc tại số 11 đường Đòan Kết, phường Bình Thọ, quận Thủ Đức, được bao quanh bởi 4 con đường là Đòan Kết, Chu Mạnh Trinh, Bác Ái và Võ Văn Ngân với diện tích 15.588 m2

Trường được xây dựng mới, khởi công vào ngày 03 tháng 09 năm 2003, khánh thành vào năm học 2005 với tổng kinh phí là 19 tỷ 272 triệu đồng, gồm 37 phòng học,

3 phòng thí nghiệm Lý - Hóa - Sinh, 2 phòng Vi tính, 2 phòng Lab, 1 phòng nghe - nhìn và hơn 10 phòng chức năng khác

Ban giám hiệu gồm 1 Hiệu trưởng, 2 Hiệu phó phụ trách chuyên môn và hành chính quản trị

Đào tạo ở 2 hệ là công lập và bán công Kể từ năm học 2001 - 2002, trường Trung học phổ thông Nguyễn Hữu Huân đã bắt đẩu vươn lên để cố gắng sánh kịp với các trường “đại gia” ở thành phố như: Trung học phổ thông Lê Hồng Phong, Trung học phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai, Trung học phổ thông Lê Quý Đôn, Trung học phổ thông Bùi Thị Xuân, Trung học phổ thông Gia Định … Có số học sinh giỏi lớp

12, học sinh khối 10, 11 cao; có học sinh đạt giải Olympic, giải Hòang Gia Úc môn Hóa; số học sinh đậu Đại học cao, nằm trong 10 trường đứng đầu thành phố

Trang 28

2.2.2 Trường Trung học phổ thông Tam Phú

Trường được thành lập vào năm học 1999 – 2000, là sự kiện giáo dục của TP.HCM, đánh dấu bước phát triển của bậc giáo dục phổ thông của quận Thủ Đức, tọa lạc tại số 31 đường Phú Châu, khu phố 5, phường Tam Phú, quận Thủ Đức, TP.HCM

Hiện nay trường có tập thể sư phạm là 82 thầy cô, đều đạt chuẩn, trong đó có 1 Th.S Khoa học giáo dục, 1 Th.S xây dựng Đảng, 67 cử nhân

Ban giám hiệu gồm 1 Hiệu trưởng, 3 Hiệu phó phụ trách chuyên môn và hành chính quản trị

Trường được xây dựng trên khuôn viên đất 10 000 m2

với cơ sở vật chất gồm có: 36 phòng học với 3 cấp lớp học, học 2 buổi/ngày; 1 phòng đọc dành cho học sinh;

2 phòng thực hành môn dinh dưỡng và môn Lý - Hóa - Sinh; 1 phòng luyện nghe, 2 phòng nghe - nhìn; 2 phòng vi tính; 1 hội trường và các phòng chức năng khác như: phòng làm việc của lãnh đạo, phòng tài vụ, phòng đòan thể, phòng tư vấn, phòng giám thị, phòng y tế học đường, phòng học vụ, …

Thành tích hoạt động qua các năm như sau:

Năm học 2005 -2006: 36 lớp với 1571 học sinh; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp 97.44 % Năm học 2006 -2007: 36 lớp với 1590 học sinh; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp 93.20 % Năm học 2007 -2008: 37 lớp với 1730 học sinh; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp 94.74 % Năm học 2008 -2009: 42 lớp với 1830 học sinh

Danh hiệu thi đua: Chi bộ trong sạch vững mạnh, Chi đòan vững mạnh, Công đòan vững mạnh, xuất sắc

2.2.3 Trường Trung học phổ thông Thủ Đức

Trường được chính thức thành lập từ năm học 1976 – 1977 tọa lạc tại số 166/24, đường Đặng Vân Bi, khu phố 1, phường Bình Thọ, quận Thủ Đức, TP.HCM

Hiện nay trường có tập thể sư phạm là 85 giáo viên và cán bộ công nhân viên, đều đạt chuẩn

Trường có 3 khối lớp với 2100 học sinh, mỗi khối có 14 lớp, học 2buổi/ngày, mỗi lớp có phòng học cố định Cơ sở vật chất nhà trường có đầy đủ phòng Lab, phòng

Trang 29

vi tính, phòng nghe nhìn, … Vừa được mở rộng thêm, thư viện, phòng nghỉ học sinh, căn tin đều được xây mới từ ngân sách nhà nước

Một số thành tích trường đã đạt qua các năm:

Tiên tiến cấp ngành: các năm 1997, 1998, 1999, 2000, 2001

Tiên tiến cấp Thành phố: 2002 - 2003, 2003 - 2004, 2005 - 2006

Xuất sắc cấp thành phố: 2004 - 2005

Hoạt động nổi bật trong phòng trào Thể dục thể thao: Vô địch bóng đá học sinh Trung học phổ thông thành phố các năm học: 1982 - 1983; 2001 - 2002; 2003 - 2004; Hạng nhì bóng đá Trung học phổ thông Thành phố: 2002 - 2003 và 2004 - 2005

Hoạt động thanh niên phong phú, lớn mạnh về số lượng, chất lượng với các phong trào: nuôi heo đất gây quỹ học bổng, các hội thi, chiến dịch tình nguyện mùa hè xanh, …

2.3 Tìm hiểu vấn đề lựa chọn nghề nghiệp của học sinh Trung học phổ thông 2.3.1 Đặc điểm tâm lý của học sinh Trung học phổ thông trong lựa chọn nghề nghiệp

Theo Lê Văn Hồng (1996, trang 67): “Học sinh Trung học phổ thông là những học sinh có độ tuổi từ 15-18 tuổi Đây là giai đoạn đầu của lứa tuổi thanh niên hay còn gọi là thanh niên mới lớn, thanh niên học sinh” Còn theo Bùi Ngọc Oánh (1996, trang 51) thì: “Lứa tuổi thanh niên học sinh phổ thông trung học (còn gọi là lứa tuổi đầu thanh niên) là lứa tuổi bao gồm các em từ khỏang 15, 16 tuổi đến 17, 18 tuổi, phần lớn đang học trường phổ thông trung học, từ lớp 10 đến lớp 12 Đây là lứa tuổi có nhiều nét khác biệt với tuổi thiếu niên Ta thường gọi tắt là lứa tuổi thanh niên học sinh.” Đây là thời kì đạt được sự trưởng thành về thể lực, sinh lý đã ổn định nhưng vẫn còn phụ thuộc vào người lớn, người lớn quyết định nội dung và xu hướng chính trong hoạt động Vì vậy mà vị trí của học sinh Trung học phổ thông có tính chất không xác định Cuộc sống của nhiều thanh niên mới lớn là cuộc sống vừa học tập, vừa lao động,

có thể đảm nhiệm nhiều trọng trách, được cha mẹ tin tưởng và tôn trọng Học sinh ở lứa tuổi này được tiếp xúc một cách rộng rãi với nhiều tầng lớp xã hội, nhiều mối quan

hệ khác nhau Các em có dịp hòa nhập vào cuộc sống muôn màu, muôn vẻ và phức tạp

Trang 30

của xã hội, để học hỏi, tích lũy kinh nghiệm, để chuẩn bị cho cuộc sống mới – cuộc sống tự lập Từ đó mà hình thành thế giới quan, nhân sinh quan ở mức khá cao, sâu sắc, nhất quán và khái quát

“Khác với lứa tuổi thiếu niên, thanh niên học sinh có nét tâm lí đặc biệt, là sự băn khoăn suy nghĩ, để định đoạt phương hướng cuộc đời của mình Các em thường tự hỏi: mình sẽ làm gì? Mình sẽ là người như thế nào? Sắp tới mình sẽ sống ra sao? ” (Theo Bùi Ngọc Oánh, 1996, trang 57)

Có thể thấy ở lứa tuổi này, vai trò của người lớn đã xuất hiện khá nhiều và được học sinh Trung học phổ thông thực hiện ngày càng có tính độc lập và tinh thần trách nhiệm, càng lớn các suy nghĩ về cuộc sống ngày càng nhiều, nhất là trong việc lựa chọn ngành nghề Xu hướng nghề nghiệp có tác dụng đáng kể trong việc điều chỉnh, thúc đẩy các mặt hoạt động của các em Càng ở cuối cấp học, nó càng thể hiện rõ rệt,

cụ thể và ổn định Vì vậy mà học sinh ở lứa tuổi này sống có mục đích, bình tĩnh và vững tin hơn Trong hoạt động, các em đã có ý thức tích lũy những tri thức cần thiết cho lĩnh vực mà các em lựa chọn Nhờ đó mà tính nhạy cảm, năng lực quan sát, năng lực khái quát, tổng hợp cũng như các phẩm chất tốt đẹp khác của nhân cách phát triển mạnh Có thể nói hoạt động của các em mang tính mục đích, chọn lọc rõ rệt Bên cạnh

đó, một số học sinh có thế giới quan còn hạn chế thì việc lựa chọn nghề nghiệp rất khó khăn, đôi khi còn phụ thuộc khá nhiều vào những động cơ cá nhân Học sinh thường băn khoăn không biết lựa chọn nghề nào, thậm chí còn không biết có những nghề nào

để chọn, và sự am hiểu nhất định về nghề lại càng ít hơn, … Hoặc có sự lựa chọn nhưng không giải thích được động cơ lựa chọn một cách đúng đắn, và sự chuẩn bị cho nghề đã chọn còn ít hơn Học sinh thường không tính đến việc đối chiếu những đặc điểm cá nhân của mình với yêu cầu của nghề đã chọn Một số học sinh có thái độ hoặc quá nông nổi, hoặc quá chặt chẽ, khó tính dẫn đến việc không chọn được ngành nghề thích hợp Vì vậy, việc hướng dẫn, định hướng nghề nghiệp cho học sinh là vấn đề quan trọng, cần quan tâm, phải được thực hiện một cách đầy đủ và đúng đắn

Học sinh Trung học phổ thông có thể hiểu được lựa chọn nghề nghiệp một cách đúng đắn sẽ quyết định đến cuộc sống tương lai Nhiều học sinh biết so sánh những đặc điểm riêng về thể chất, tâm lý, khả năng của mình với những yêu cầu của nghề nghiệp nhưng sự hiểu biết này chưa đầy đủ (Theo Lê Văn Hồng, 1996) Điều này có

Trang 31

được là do sự phát triển tự ý thức trong sự phát triển nhân cách của thanh niên học sinh Quá trình phát triển tự ý thức diễn ra mạnh mẽ, sôi nổi và có tính chất đặc thù riêng, đó là thanh niên có quan điểm về mục đích lịch sử và hoài bão, quan tâm sâu sắc đến đời sống tâm lý, phẩm chất, nhân cách và năng lực riêng Sự tự ý thức này xuất phát từ cuộc sống và hoạt động - địa vị mới mẻ trong tập thể, trong những mối quan hệ với thế giới xung quanh Quá trình phát triển sự tự ý thức là đặc điểm tâm lý quan trọng trong việc lựa chọn nghề nghiệp của học sinh Trung học phổ thông

Như vậy, lứa tuổi thanh niên học sinh hay học sinh Trung học phổ thông là thời

kì đặc biệt quan trọng đối với cuộc đời con người, là thời kì mà năng lực trí tuệ, thế giới quan và tòan bộ nhân cách của con người biến đổi lớn về chất lượng làm cho các

em sẵn sàng và có đủ khả năng để trưởng thành, để bước vào đời và việc xác định xu hướng nghề nghiệp lại có một ý nghĩa quan trọng đối với tòan bộ nhân cách, đặc biệt

là sự phát triển năng lực

2.3.2 Những cơ sở và xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh Trung học phổ thông

a) Những cơ sở lựa chọn nghề nghiệp của học sinh Trung học phổ thông

Học sinh Trung học phổ thông đã hình thành sự tự ý thức, vì vậy việc lựa chọn nghề nghiệp phụ thuộc vào nhiều cơ sở khác nhau

Theo Bùi Ngọc Oánh (1996, trang 57) thì: “Việc chọn nghề của các em có nhiều động cơ thúc đẩy Có sự kết hợp chặt chẽ xu hướng xã hội và động cơ cá nhân,

có sự tham gia của hứng thú, năng lực, sự tác động của xã hội, của kinh nghiệm Nó còn phụ thuộc vào sản xuất, vào giới tính và nhiều yếu tố khác … Hứng thú của các

em rõ rệt, sâu sắc, gắn liền với xu hướng nghề nghiệp, do đó bền vững và có tác dụng thúc đẩy hoạt động.” Còn theo Nguyễn Ngọc Thuấn (2000) thì để lựa chọn ngành nghề phù hợp cần căn cứ vào một số điều kiện cơ bản như: sở thích nghề nghiệp và hòan cảnh bản thân; mục tiêu đào tạo và nhu cầu xã hội của ngành nghề đó; uy tín, điều kiện học tập ở trường dự thi và cuối cùng mới là khả năng dự thi và trúng tuyển vào trường đã chọn (Trích dẫn bởi Phạm Văn Sơn, 2006, trang 11)

Trang 32

Như vậy cả hai tác giả đều đưa ra những cơ sở lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên học sinh khi lựa chọn ngành nghề trong tương lai Cùng ý kiến đó nhưng tác giả Dương Diệu Hoa (2005) đã đưa ra những cơ sở cụ thể để lựa chọn nghề nghiệp của học sinh Trung học phổ thông như sau:

- Thứ nhất: giáo viên, bao gồm cả giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn

- Thứ hai: gia đình của học sinh như bố mẹ, anh chị, người thân

- Thứ ba: cá nhân gồm nhu cầu, sở thích của bản thân

+ Khi thực hiện giảng dạy các môn học

+ Tổ chức tham quan các cơ sở sản xuất, các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp

+ Mời chuyên gia nói chuyện chuyên đề

+ Mở lớp dạy nghề

+ Mở phòng tư vấn hướng nghiệp tại trường

+ Một số hoạt động khác như: tổ chức các câu lạc bộ tìm hiểu về nghề, hội thi, …

Như vậy, học sinh Trung học phổ thông có nhiều cơ sở để lựa chọn ngành nghề cho tương lai nhưng trong đó chỉ có thông qua các chương trình giúp định hướng nghề nghiệp là đầy đủ, qui mô, có tầm quan trọng cao, giúp học sinh không chỉ khám phá ra năng lực thực tế của bản thân, sở thích cá nhân, mà còn thấy được nhiều ngành nghề cùng những đòi hỏi chuyên biệt và nhu cầu xã hội Từ đó học sinh biết tự kết hợp những yếu tố giữa cá nhân, gia đình, xã hội để lựa chọn ngành nghề tốt nhất cho tương lai

Trang 33

b) Việc thực hiện định hướng nghề nghiệp và chọn nghề cho học sinh Trung học phổ thông

Các chương trình giúp định hướng nghề nghiệp ở trường Trung học phổ thông hiện nay chưa thực hiện triệt để, chưa được quan tâm đúng mức dù rất cần thiết cho học sinh do những nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan, nhất là ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa Những sự hỗ trợ định hướng nghề nghiệp của nhà trường và giáo viên chỉ có thể dừng lại ở việc góp ý cho học sinh chọn trường, ngành phù hợp với học lực, còn để định hướng nghề nghiệp một cách bài bản (tức là tổ chức tổng hợp các chương trình giúp định hướng nghề nghiệp) cho việc chọn ngành nghề, công việc phù hợp với năng lực, sở thích của học sinh, nhu cầu sử dụng của xã hội …thì các trường phổ thông hiện nay chưa làm được, hoặc làm còn mang tính hình thức, chiếu lệ Tình trạng thiếu trang thiết bị thực hành hoặc trang thiết bị quá lạc hậu; đội ngũ giáo viên thiếu về số lượng, yếu về chất lượng chuyên môn của các trung tâm hướng nghiệp

đã gây ra nhiều cản trở cho việc thực hiện định hướng nghề nghiệp và chọn nghề cho học sinh

Như vậy, các hoạt động giúp định hướng nghề nghiệp cho học sinh Trung học phổ thông chủ yếu thông qua việc giảng dạy các môn học khoa học ứng dụng như: Công nghệ 10, Kỹ thuật chăn nuôi 12, Giáo dục công dân, Âm nhạc,… Do đó, các môn học này đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn nghề nghiệp của học sinh Trung học phổ thông

c) Xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh Trung học phổ thông

Theo Lê Văn Hồng (1996, trang 76): “Học sinh Trung học phổ thông là lứa tuổi bắt đầu bước vào ngưỡng cửa cuộc đời Khác với thiếu niên, thanh niên học sinh có sự chuẩn bị về tâm thế nên suy nghĩ chín chắn hơn khi quyết định nghề nghiệp tương lai” Nhưng cũng theo tác giả này (1996) thì hiện nay thanh niên học sinh còn định hướng một cách phiến diện vào việc học tập ở Đại học Đại đa số các em hướng dần vào các trường Đại học (hơn là học nghề) … Tâm thế chuẩn bị bước vào Đại học như thế sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đối với các em, nếu dự định của các em không được thực hiện Điều đó cũng cho thấy các em (hoặc vô tình, hoặc cố ý) không chú ý đến yêu cầu của

Trang 34

xã hội đối với ngành nghề khác nhau và mức độ đào tạo nghề trong khi quyết định đường đời

Hầu hết các em đều có mơ ước vào các trường Đại học (kể cả những em có học lực yếu) Học sinh có xu hướng chọn những ngành học được coi là thời thượng như: ngân hàng, quản trị mạng, công nghệ thông tin, bưu chính viễn thông, … Đây chính là

sự xa rời thực tế lao động của học sinh (Theo Dương Diệu Hoa, 2005)

Giáo dục phổ thông nước ta đang đứng trước những thách thức to lớn và một tình trạng nan giải là chỉ có một tỷ lệ thấp số học sinh theo học ở các trường nghề, đa

số học sinh muốn thi tuyển vào các trường đại học chuyên nghiệp và kỹ thuật

Đã đến lúc cần phải xem xét lại một cách nghiêm túc nội dung đào tạo và những vấn đề có liên quan đến giáo dục phổ thông hiện nay, đặc biệt xu hướng phát triển của nó với việc chuẩn bị nguồn nhân lực phục vụ cho công nghiệp hoá - hiện đại hoá (Theo Nguyễn Văn Lê, 2000)

Như vậy, tuy học sinh Trung học phổ thông có những suy nghĩ chín chắn hơn

so với lứa tuổi trước đó nhưng vẫn chưa đủ trưởng thành để có những quyết định đúng đắn cho tương lai nghề nghiệp Vẫn có những lựa chọn chưa thật sự phù hợp với năng lực thật sự và sự kết hợp hài hòa của các yếu tố: nguyện vọng, năng lực cá nhân, những yêu cầu của nghề trong xã hội, yêu cầu của xã hội

Trang 35

2.3.3 Nguyên nhân chính dẫn đến chọn nghề không phù hợp của học sinh Trung học phổ thông

Theo E.A.Klimốp (1971) thì có hai nguyên nhân chính dẫn đến chọn nghề không phù hợp như sau:

- Thứ nhất, do cá nhân có thái độ không đúng với các tình huống khác nhau của việc chọn nghề (đối với lĩnh vực hoạt động và sự khuyên bảo của người đi trước …) Những thành kiến và tiếng tăm nghề nghiệp do ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp của những người khuyên bảo, sự yêu thích nghề … mới chỉ là bề ngoài, cảm tính Cá nhân chưa thực sự hiểu được nghề đó

- Thứ hai, cá nhân thiếu tri thức, kinh nghiệm về những tình huống đó Có thể do

sự đồng nhất môn học với nghề, không hiểu hết năng lực của bản thân, không biết hoặc không đánh giá đầy đủ những đặc điểm phẩm chất cá nhân, không hiểu được đặc điểm và yêu cầu của nghề đòi hỏi với người lao động, thao tác và trình tự của chúng khi giải quyết vấn đề chọn nghề (Trích dẫn bởi Dương Diệu Hoa, 2005)

Động cơ chọn nghề sau khi đã hình thành không phải là cố định và bất biến Nó đã được chính xác hóa dần dần, được củng cố dần dần trong quá trình hoạt động của học sinh, nhất là trong quá trình học nghề và lao động nghề nghiệp Ngược lại trong quá trình đó, nó cũng có thể biến đổi, mất hẳn đi do nhiều nguyên nhân như:

- Do nhận thức được đầy đủ hơn, cụ thể hơn về đặc điểm của nghề nghiệp, của yêu cầu lao động nghề nghiệp, những đặc điểm của nghề mà trước đó học sinh chưa nhận thức được do đặc điểm của cá nhân không phù hợp với nghề

- Do điều kiện lao động, điều kiện học nghề không phù hợp

- Do việc tổ chức dạy lao động chưa tốt hay việc học nghề không thu được kết quả mong muốn

- Do tình trạng sức khỏe không phù hợp hoặc do sự biến đổi về nhân cách, sự biến đổi và hứng thú nghề nghiệp, lí tưởng nghề nghiệp (Theo Bùi Ngọc Oánh, 1996)

Trang 36

Như vậy, những nguyên nhân dẫn đến việc chọn nghề của học sinh đều do chưa có hoặc có rất ít thông tin định hướng nghề nghiệp Vì vậy, cần phải có sự hướng dẫn để các em khi chọn nghề biết kết hợp một cách lý tưởng ba yếu tố: nguyện vọng, năng lực của cá nhân, những đòi hỏi của nghề nghiệp và yêu cầu của xã hội

2.4 Công tác định hướng nghề nghiệp cho học sinh Trung học phổ thông

2.4.1 Định nghĩa định hướng nghề nghiệp

Việc định hướng nghề nghiệp, hướng dẫn giúp đỡ học sinh Trung học phổ thông chọn nghề đã được các nhà giáo dục quan tâm từ đầu Khái niệm “Hướng nghiệp” hay

“Định hướng nghề nghiệp” đã được truyền bá rộng rãi sau Hội nghị Quốc tế ở Bácxơlon năm 1921 Từ năm 1925 trở đi, những cơ quan chuyên môn về hướng nghiệp đã được thành lập ở nhiều nước (Đức, Anh, Pháp, Ý, Nga) Những hoạt động của những cơ quan này có những han chế nhất định cả về mục đích, phương pháp lẫn nội dung (Theo Bùi Ngọc Oánh, 1996)

Theo Phạm Văn Sơn (2006, trang 33): “Thuật ngữ hướng nghiệp (career mentoring) nếu được hiểu chính xác nó là sự kết hợp của nhiều lĩnh vực khác như: đánh giá nghề nghiệp (career assessment), quản lý nghề nghiệp (career management), phát triển nghề nghiệp (career development), Trong đó lựa chọn nghề nghiệp chỉ là một giai đoạn đầu trong tiến trình hướng nghiệp của mỗi người Vì vậy có thể thấy rằng việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên là một quá trình liên tục và kéo dài”

Theo Phạm Tất Dong (1987) thì: “Định hướng nghề nghiệp là làm cho cá nhân nhận ra chân giá trị của nghề và tìm thấy hạnh phúc khi tận tâm cống hiến tinh thần và sức lực cho nghề đó”

Theo Hồ Bá Thâm (2008): “Hướng nghiệp không chỉ là đơn giản cung cấp thông tin mà phải chỉ ra được sự phát triển tất yếu của cá nhân trong tương quan với nghề nghiệp của người đó và với xã hội”

Trang 37

Theo K.I.Flatonop (1973) thì việc định hướng nghề nghiệp hay công tác hướng nghiệp có thể hiểu theo sơ đồ “Tam giác hướng nghiệp” sau:

Các nghề nghiệp và Thị trường lao động

Tư vấn Nhân cách và năng lực Tuyển chọn

nghề nghiệp của cá nhân

Sơ đồ 2.1 Tam giác hướng nghiệp

Theo sơ đồ trên, ta thấy công tác hướng nghiệp bao gồm:

- Việc giới thiệu nghề, đặc điểm và yêu cầu của chúng

- Việc giới thiệu nhu cầu về nghề nghiệp của xã hội (thị trường lao động xã hội)

- Làm cho học sinh thấy rõ đặc điểm về nhân cách, đặc điểm năng lực cá nhân để chọn nghề cho phù hợp

(Trích dẫn bởi Bùi Ngọc Oánh, 1996)

Còn Nguyễn Danh Ánh (2005) thì cho rằng định hướng nghề nghiệp giờ đây không chỉ gắn với khâu chọn nghề của học sinh phổ thông mà còn phải gắn với khâu thích ứng nghề ở các cơ sở đào tạo, các doanh nghiệp

Theo Dương Diệu Hoa (2005) thì định hướng nghề nghiệp được hiểu là hệ thống biện pháp tác động của xã hội (gia đình, nhà trường, xã hội) đến nhận thức, thái độ và hành vi lựa chọn nghề và trường đào tạo nghề của thanh niên Kết quả làm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi chọn nghề (chọn trường học) của đối tượng theo chiều

Trang 38

hướng phù hợp giữa sự lựa chọn của cá nhân với các yêu cầu của nghề được chọn Qua đó đảm bảo lợi ích tối đa của cá nhân và xã hội, khai thác và sử dụng triệt để khả năng, tiềm năng và ưu thế của cá nhân trong việc hành nghề trong suốt cuộc đời và đảm bảo sự khai thác hợp lý nguồn nhân lực trong sự phát triển kinh tế của xã hội Hiểu theo nghĩa rộng hơn, tức là không chỉ tác động vào nhận thức của cá nhân đối với nghề định chọn mà còn làm cho cá nhân đó hiểu hệ giá trị của nghề, hình thành hứng thú, say mê nghề và tâm nguyện cống hiến cuộc đời cho nghề đã chọn

Còn Bùi Ngọc Oánh (1996) cho rằng công tác hướng nghiệp hay định hướng nghiệp phải giải quyết nhiều vấn đề, trong đó chủ yếu là những nội dung sau:

- Làm cho học sinh thấy được ý nghĩa của việc chọn nghề đối với các em, đối với

xã hội

- Trang bị cho học sinh những kiến thức cần thiết về nghề nghiệp như: các lọai lao động và các nghề chủ yếu trong xã hội, đặc điểm của chúng và những yêu cầu đặt ra đối với người lao động: nhu cầu của xã hội đối với ngành nghề, ta còn gọi là thị trường lao động của xã hội, …

- Trang bị cho học sinh những kiến thức cần thiết trong việc chọn nghề: phải căn

cứ vào nhu cầu nghề nghiệp của xã hội: căn cứ vào đặc điểm của nghề, đối chiếu với đặc điểm của bản thân (đặc điểm cơ thể, tài năng, hứng thú, … xem

có phù hợp hay không: căn cứ vào hoàn cảnh hiện tại …) Nhờ trang bị những kiến thức loại này, học sinh dễ chọn nghề phù hợp hơn (phù hợp với bản thân, với xã hội)

- Giới thiệu và giúp đỡ các em chọn nghề (có thể tiến hành cụ thể với từng hoàn cảnh, điều kiện của mỗi em) dưới hình thức góp ý cá nhân

- Giúp các em nắm vững nghề đã chọn, và giúp việc bố trí công tác cho các em (nếu có thể)

Như vậy, có rất nhiều định nghĩa về định hướng nghề nghiệp, nhưng khi nghiên cứu về định hướng nghề nghiệp cho học sinh Trung học phổ thông thì định nghĩa của Dương Diệu Hoa là phù hợp nhất Theo đó, định hướng nghề nghiệp sẽ giúp học sinh lựa chọn nghề và trường đào tạo nghề sao cho dung hòa giữa các yếu tố, bao gồm: nguyện vọng, năng lực cá nhân, những yêu cầu của nghề trong xã hội, yêu cầu của xã

Trang 39

hội nhằm đảm bảo lợi ích tối đa của cá nhân và xã hội, khai thác và sử dụng triệt để khả năng, tiềm năng và ưu thế của cá nhân trong việc hành nghề trong suốt cuộc đời

2.4.2 Tầm quan trọng, mục tiêu của định hướng nghề nghiệp

a) Tầm quan trọng của định hướng nghề nghiệp

Do đặc điểm tâm lí của thanh niên học sinh hay học sinh Trung học phổ thông trong việc chọn nghề, do bản thân việc chọn nghề rất phức tạp, quan trọng và khó khăn, nên việc hướng dẫn, định hướng nghề nghiệp (Hướng nghiệp) cho học sinh phải được xem trọng trong công tác giáo dục, giảng dạy ở nhà trường phổ thông trung học Định hướng nghề nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cá nhân có nhận thức đúng về nghề và khả năng của bản thân, nhằm đáp ứng yêu cầu của nghề đó Tức là phải có khả năng xem xét, so sánh, đánh giá những dạng khác nhau của hoạt động lao động nhằm có những quyết định đúng đắn cho tương lai

Định hướng nghề nghiệp là một công tác thiết thực và quan trọng đối với học sinh và cần được quan tâm, đầu tư đúng với tầm quan trọng của nó

Chính vì vậy mà Nguyễn Quang Dương (2008) đã cho rằng định hướng nghề nghiệp là tiền đề của đào tạo nhân lực, trực tiếp chi phối quá trình đào tạo nhân lực trước mắt và lâu dài

b) Mục tiêu của định hướng nghề nghiệp

Theo giáo trình của Phạm Tất Dong (2006, trang 3) thì định hướng nghề nghiệp

có những mục tiêu chính sau:

+ Về kiến thức:

Học sinh hiểu được ý nghĩa và tầm quan trọng của việc lựa chọn nghề nghiệp cho tương lai; nắm được thông tin cơ bản về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và địa phương nói riêng; có được một số thông tin về thế giới nghề nghiệp, về thị trường lao động, về hệ thống giáo dục nghề nghiệp; tự đánh giá năng lực bản thân và điều kiện gia đình để bước đầu có hướng lập thân, lập nghiệp

Trang 40

+ Về kĩ năng:

Bước đầu học sinh tự đánh giá được năng lực bản thân và điều kiện gia đình, phân tích được hướng đi của bản thân và sau này quyết định việc chọn nghề trên cơ sở lí giải hợp lí

Tóm lại, mục tiêu của định hướng nghề nghiệp là:

- Giúp cá nhân lựa chọn ngành nghề cho bản thân một cách đúng đắn nhất

- Hướng dẫn học sinh khi chọn nghề biết kết hợp một cách lý tưởng ba yếu tố: nguyện vọng, năng lực cá nhân; những đòi hỏi của nghề nghiệp; yêu cầu của xã hội

- Tạo ra các thành phần lao động đáp ứng thị trường lao động về chất lượng lẫn

số lượng

- Hình thành thái độ đúng đắn đối với lao động cho học sinh: yêu lao động, kính trọng lao động, quý trọng sản phẩm lao động Đồng thời góp phần hình thành những cơ sở ban đầu của các kỹ năng và thói quen lao động theo khoa học sau này

- Cá nhân lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, tâm huyết với nghề, từ đó là nguồn nhân lực quý báu trong sự phát triển của xã hội

Ngày đăng: 22/07/2018, 01:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm