1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp hoàn thiện công tác lập kế hoạch kinh doanh cho công ty Cổ phần thương mại xi măng

82 222 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 699 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Lý do chọn đề tài Trải qua hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều biến đổi mạnh mẽ. Có thể nói sự chuyển mình từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường đã giúp nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh và đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ. Sự thay đổi cơ chế kinh tế cũng đã dẫn đến sự thay đổi nhận thức trong quản lý doanh nghiệp. Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đều coi nhẹ công tác kế hoạch hóa và cho rằng nó là mầm mống của sự trì trệ và quan liêu. Song lý luận và thực tiễn ở nhiều nước trên thế giới đã chứng minh được rằng trong nền kinh tế thị trường thì công tác kế hoạch hóa càng đóng vai trò quan trọng, nó định hướng cho doanh nghiệp phát triển, là mục tiêu cho doanh nghiệp phấn đấu, giúp doanh nghiệp xác định được bước đi cụ thể trước những cạnh tranh ngày càng gay gắt của nền kinh tế. Ngành công nghiệp xi măng được Chính phủ xác định là ngành phát triển chiến lược nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế, lợi nhuận từ việc sản xuất và kinh doanh xi măng là tương đối lớn. Nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường, cùng với sự gia nhập vào tổ chức WTO thì sự xâm nhập của các nhãn mác xi măng là một điều không thể tránh khỏi. Trong khi đó, thị trường xi măng Việt nam phát triển không đồng đều. Thị trường miền Nam luôn luôn phải đối mặt với tình trạng khan hiếm xi măng còn thị trường miền Bắc lại luôn trong tình trạng dư cung. Công ty Cổ phần thương mại xi măng thực hiện nhiệm vụ tổ chức tiêu thụ xi măng tại thị trường phía Bắc, là một thị trường với sức cạnh tranh tương đối cao. Do vậy, để đứng vững trên thị trường thì công ty cần xác định rõ mục tiêu cũng như các hành động cụ thể cho những năm tiếp theo của quá trình kinh doanh. Từ một doanh nghiệp nhà nước, công ty Cổ phần thương mại xi măng được cổ phần hóa vào tháng 07/2007. Sau khi cổ phần hóa, công ty phải đối mặt với những khó khăn trong tiêu thụ, thị phần của công ty đang có nguy cơ bị thu hẹp do sức ép gay gắt từ đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Điều này đòi hỏi công ty phải có công tác kế hoạch tốt và hoàn thiện, đặc biệt là trong công tác lập kế hoạch. Trong thời gian thực tập tại công ty cổ phần thương mại xi măng, tôi nhận thấy công tác lập kế hoạch tại công ty vẫn còn nhiều chưa hoàn thiện, do vậy tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp hoàn thiện công tác lập kế hoạch kinh doanh cho công ty Cổ phần thương mại xi măng”. Chuyên đề thực tập của tôi gồm ba chương: Chương I: Lý luận chung về kế hoạch hóa trong doanh nghiệp. Chương II: Đánh giá công tác lập kế hoạch tại công ty cổ phần thương mại xi măng. Chương III. Một số giải pháp hoàn thiện công tác lập kế hoạch cho công ty cổ phần thương mại xi măng. Trong quá trình thực tập tôi đã cố gắng tìm hiểu về công tác lập kế hoạch tại công ty để hoàn thành chuyên đề một cách tốt nhất, nhưng do thời gian có hạn nên không tránh khỏi những thiếu sót, tôi mong thầy cô và các bạn xem xét và bổ sung để bài viết của em hoàn chỉnh hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô trong khoa Kế hoạch và phát triển đã trang bị những kiến thức cơ bản cho tôi về kế hoạch, và đặc biệt là cô ThS. Đặng Thị Lệ Xuân đã hướng dẫn tôi hoàn thành chuyên đề này. * Đối tượng nghiên cứu: Công tác lập kế hoạch kinh doanh tại công ty cổ phần thương mại xi măng. * Phạm vi nghiên cứu: Công ty cổ phần thương mại xi măng. Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu về tình hình hoạt động kinh doanh và công tác lập kế hoạch của công ty cổ phần thương mại xi măng. Thời gian nghiên cứu: từ năm 2005-2009. * Mục tiêu nghiên cứu: - Mục tiêu tổng quát: Đề tài được nghiên cứu nhằm hoàn thiện công tác lập kế hoạch tại công ty cổ phần thương mại xi măng – thuộc tổng công ty công nghiệp xi măng Việt Nam . - Mục tiêu cụ thể: + Khẳng định được vai trò của kế hoạch hóa và công tác lập kế hoạch trong hoạt động kinh doanh + Nghiên cứu và đánh giá được công tác lập kế hoạch tại công ty cổ phần thương mại xi măng một các khách quan nhất. + Đưa ra các giải pháp và kiến nghị góp phần hoàn thiện công tác lập kế hoạch kinh doanh cho Cty CPTMXM. * Câu hỏi nghiên cứu: - Câu hỏi tổng quát: Cần có những giải pháp gì để hoàn thiện công tác lập kế hoạch tại công ty cổ phần thương mại xi măng? - Câu hỏi cụ thể: + Kế hoạch hóa và công tác lập kế hoạch là gì? nó có vai trò như thế nào trong hoạt động kinh doanh? + Công tác lập kế hoạch tại công ty cổ phần thương mại xi măng như thế nào? đã hoàn thiện chưa và còn những thiếu sót gì? + Cần có những giải pháp gì để hoàn thiện công tác lập kế hoạch cho Cty CPTMXM * Phương pháp nghiên cứu: - Phương pháp hệ thống: Xây dựng đề tài thành một chỉnh thể hoàn chỉnh, có mối liên hệ giữa các nội dung và các yếu tố, tạo nên một quy trình logic xuyên suốt đề tài. - Phương pháp phân tích và tổng hợp: phân tích các vấn đề cần nghiên cứu và đưa ra những đánh giá tổng hợp về vấn đề đó. - Phương pháp so sánh: So sánh quy trình lập kế họach tại công ty với quy trình chuẩn để đưa ra những giải pháp cho công tác lập kế hoạch tại công ty. - Phương pháp thống kê: Sử dụng phương pháp này để thống kê kết quả kinh doanh và các chỉ tiêu kế hoạch của công ty cổ phần thương mại xi măng trong những năm qua. * Kết quả nghiên cứu dự kiến đạt được: Qua đề tài, ta đánh giá được công tác lập kế hoạch hiện nay của công ty cổ phần thương mại xi măng, nêu ra những ưu điểm, nhược điểm một cách khách quan và tìm ra nguyên nhân của các nhược điểm. Đồng thời, công tác lập kế hoạch tại công ty được hoàn thiện hơn, đóng vai trò quan trọng, quyết định sự thành công của mọi hoạt động kinh doanh trong công ty.

Trang 1

1 Khái niệm lập kế hoạch

………

21

2 Quy trình và nội dung của công tác lập kế hoạch kinh

doanh………

22 2.1 Quy trình lập kế

hoạch………

22 2.2 Nội dung của công tác lập kế hoạch

26

3 Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác lập kế hoạch kinh 3

Trang 2

doanh……… 0

4 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác lập kế hoạch kinh

doanh

31

Chương II: Đánh giá công tác lập kế hoạch kinh doanh tại công ty

cổ phần thương mại xi

măng……….

35

I Khái quát chung về công ty cổ phần thương mại xi măng………

35

1 Lịch sử hình thành và phát

triển………

35

2 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty từ năm 2005 đếnnăm 2009………

37

ty………

37

động………

37 3.2 Đặc điểm về tài

sản………

39

vốn………

42

4 Tình hình thực hiện kế hoạch kinh doanh của công ty trong

2005-2009………

43

II Đánh giá công tác lập kế hoạch kinh doanh tại công ty

Cổ phần thương mại xi

măng………

44

1 Trình tự và phương pháp lập kế hoạch kinh doanh tại công ty

cổ phần

thương mại xi

44

Trang 3

1.1 Các căn cứ lập kế hoạch kinh doanh của công

ty………

44 1.2 Quy trình lập kế hoạch kinh doanh của côngty………

47 1.3 Phương pháp xác định chỉ tiêu kếhoạch………

49

2 Đánh giá công tác lập kế hoạch tại công ty Cổ phần thương

mại xi măng……

50 2.1 Về quy trình lập kế hoạch……

………

50 2.2 Về nội dung bản kế hoạch

………

51 2.3 Về phương pháp xác định chỉ tiêu kế

hoạch………

53 2.4 Nguyên nhân của hạn

chế………

54

Chương III: Một số giải pháp hoàn thiện cho công tác lập

kế hoạch kinh doanh cho công ty cổ phần thương mại

măng………

55

I Định hướng phát triển toàn ngành và chiến lược phát triển của Tổng

công ty công nghiệp xi măng Việt Nam trong những năm tới………

55

1 Định hướng phát triển toàn ngành trong những năm

tới………

55

2 Chiến lược phát triển của Tổng công ty công nghiệp xi măng

tới………

55

II Một số giải pháp hoàn thiên công tác lập kế hoạch cho

56

Trang 4

hoạch………

56

2 Hoàn thiện nội dung của kế hoạch kinhdoanh………

60

sự………

60

marketing………

62

chính………

64

3 Đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị

trường………

65

4 Nâng cao trình độ và phẩm chất cho cán bộ kế

hoạch………

67

5 Tăng cường vai trò và sự phối hợp của các phòng ban trong

hoạch………

68

6 Tăng cường hoạt động thu thập và xử lý thông

tin………

70

III Một số kiến nghị đề xuất với Tổng công ty công nghiệp

xi măng

Việt Nam và Nhà

nước………

70

1 Kiến nghị với Nhà nước và cơ quan thẩm

quyền………

70

2 Kiến nghị với Tổng công ty công nghiệp xi măng Việt

Nam………

70

KẾT

LUẬN………

…….

72

Trang 5

lục………

…….

73

Danh mục tài liệu tham khảo

79

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ

1 Danh mục bảng

TrangBảng 2.1: Kết quả kinh doanh của Cty CPTMXM giai đoạn 2005-2009…………

37Bảng 2.2: Cơ cấu lao động của Cty CPTMXM qua các năm

………

39Bảng 2.3: Tài sản của Cty CPTMXM từ năm 2005 đến năm

2008………

41Bảng 2.4: Nguồn vốn của công ty qua các năm 2005- 4

Trang 7

2009……… 3Bảng 2.5: Tình hình thực hiện KHKD của công ty từ năm 2005 đến năm 2009 4

4Bảng 2.6: Thị phần của công ty tại các thị trường của năm 2008-

2009 …………

46Bảng 2.7 : Tỷ suất lợi nhuận năm 2008-

2009………

47Bảng 2.8 : Mục tiêu kinh doanh xi măng ……… 4

8Bảng 2.9: Mục tiêu kinh doanh sắt thép và sơn……… 4

8Bảng 2.10 Mục tiêu cho thuê bất động sản……… 4

9Bảng 2.11: Mục tiêu tài chính……… 4

9Bảng 2.12: Mục tiêu lao động tiền lương……… 4

9Bảng 3.1: Phân tích môi trường kinh doanh cho Cty

CPTMXM………

59Bảng 3.2: Kế hoạch quảng cáo cho Cty CPTMXM……… 6

3Bảng 3.4: Kế hoạch tài trợ năm kế hoạch cho Cty CPTMXM……… 6

6

Trang 8

Đồ thị 2.1: Cơ cấu tổng tài sản qua các năm 2005-2009 4

2

Sơ đồ 3.1: Quy trình lập kế hoạch mới cho Công ty cổ phần thương mại xi măng 6

6

Lời cam đoan

Tôi xim cam đoan bài viết này là kết quả nghiên cứu của bản thân trong quá trình thựctập, số liệu trong bài là trung thực Bài viết có sự tham khảo của các đề tài khóa trướcnhưng không có bất kỳ sự sao chép nào Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệmtrước nhà trường!

Sinh viên

Lê Thị Thuý Dương

Trang 9

I Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu.

* Lý do chọn đề tài

Trải qua hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều biến đổi mạnh

mẽ Có thể nói sự chuyển mình từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thịtrường đã giúp nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh và đạt được nhiều thành tựuđáng khích lệ Sự thay đổi cơ chế kinh tế cũng đã dẫn đến sự thay đổi nhận thức trongquản lý doanh nghiệp Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đều coi nhẹ công tác kếhoạch hóa và cho rằng nó là mầm mống của sự trì trệ và quan liêu Song lý luận vàthực tiễn ở nhiều nước trên thế giới đã chứng minh được rằng trong nền kinh tế thịtrường thì công tác kế hoạch hóa càng đóng vai trò quan trọng, nó định hướng chodoanh nghiệp phát triển, là mục tiêu cho doanh nghiệp phấn đấu, giúp doanh nghiệpxác định được bước đi cụ thể trước những cạnh tranh ngày càng gay gắt của nền kinhtế

Ngành công nghiệp xi măng được Chính phủ xác định là ngành phát triển chiếnlược nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế, lợi nhuận từ việc sản xuất và kinh doanh xi măng

là tương đối lớn Nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tếthị trường, cùng với sự gia nhập vào tổ chức WTO thì sự xâm nhập của các nhãn mác

xi măng là một điều không thể tránh khỏi Trong khi đó, thị trường xi măng Việt namphát triển không đồng đều Thị trường miền Nam luôn luôn phải đối mặt với tình trạngkhan hiếm xi măng còn thị trường miền Bắc lại luôn trong tình trạng dư cung Công ty

Cổ phần thương mại xi măng thực hiện nhiệm vụ tổ chức tiêu thụ xi măng tại thịtrường phía Bắc, là một thị trường với sức cạnh tranh tương đối cao Do vậy, để đứngvững trên thị trường thì công ty cần xác định rõ mục tiêu cũng như các hành động cụthể cho những năm tiếp theo của quá trình kinh doanh

Từ một doanh nghiệp nhà nước, công ty Cổ phần thương mại xi măng được cổphần hóa vào tháng 07/2007 Sau khi cổ phần hóa, công ty phải đối mặt với những khó

Trang 10

khăn trong tiêu thụ, thị phần của công ty đang có nguy cơ bị thu hẹp do sức ép gay gắt

từ đối thủ cạnh tranh trên thị trường Điều này đòi hỏi công ty phải có công tác kếhoạch tốt và hoàn thiện, đặc biệt là trong công tác lập kế hoạch

Trong thời gian thực tập tại công ty cổ phần thương mại xi măng, tôi nhận thấycông tác lập kế hoạch tại công ty vẫn còn nhiều chưa hoàn thiện, do vậy tôi chọn đề

tài: “Một số giải pháp hoàn thiện công tác lập kế hoạch kinh doanh cho công ty Cổ phần thương mại xi măng” Chuyên đề thực tập của tôi gồm ba chương:

Chương I: Lý luận chung về kế hoạch hóa trong doanh nghiệp.

Chương II: Đánh giá công tác lập kế hoạch tại công ty cổ phần thương mại

xi măng.

Chương III Một số giải pháp hoàn thiện công tác lập kế hoạch cho công ty

cổ phần thương mại xi măng.

Trong quá trình thực tập tôi đã cố gắng tìm hiểu về công tác lập kế hoạch tại công

ty để hoàn thành chuyên đề một cách tốt nhất, nhưng do thời gian có hạn nên khôngtránh khỏi những thiếu sót, tôi mong thầy cô và các bạn xem xét và bổ sung để bài viếtcủa em hoàn chỉnh hơn Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô trong khoa Kếhoạch và phát triển đã trang bị những kiến thức cơ bản cho tôi về kế hoạch, và đặc biệt

là cô ThS Đặng Thị Lệ Xuân đã hướng dẫn tôi hoàn thành chuyên đề này

* Đối tượng nghiên cứu: Công tác lập kế hoạch kinh doanh tại công ty cổ phần thương

mại xi măng

* Phạm vi nghiên cứu: Công ty cổ phần thương mại xi măng.

Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu về tình hình hoạt động kinh doanh và công táclập kế hoạch của công ty cổ phần thương mại xi măng

Thời gian nghiên cứu: từ năm 2005-2009

* Mục tiêu nghiên cứu:

- Mục tiêu tổng quát: Đề tài được nghiên cứu nhằm hoàn thiện công tác lập kếhoạch tại công ty cổ phần thương mại xi măng – thuộc tổng công ty công nghiệp ximăng Việt Nam

- Mục tiêu cụ thể:

Trang 11

+ Khẳng định được vai trò của kế hoạch hóa và công tác lập kế hoạch trong hoạtđộng kinh doanh

+ Nghiên cứu và đánh giá được công tác lập kế hoạch tại công ty cổ phần thươngmại xi măng một các khách quan nhất

+ Đưa ra các giải pháp và kiến nghị góp phần hoàn thiện công tác lập kế hoạchkinh doanh cho Cty CPTMXM

* Câu hỏi nghiên cứu:

- Câu hỏi tổng quát: Cần có những giải pháp gì để hoàn thiện công tác lập kếhoạch tại công ty cổ phần thương mại xi măng?

* Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp hệ thống: Xây dựng đề tài thành một chỉnh thể hoàn chỉnh, có mốiliên hệ giữa các nội dung và các yếu tố, tạo nên một quy trình logic xuyên suốt đề tài

- Phương pháp phân tích và tổng hợp: phân tích các vấn đề cần nghiên cứu và đưa

* Kết quả nghiên cứu dự kiến đạt được:

Qua đề tài, ta đánh giá được công tác lập kế hoạch hiện nay của công ty cổ phầnthương mại xi măng, nêu ra những ưu điểm, nhược điểm một cách khách quan và tìm

ra nguyên nhân của các nhược điểm Đồng thời, công tác lập kế hoạch tại công ty được

Trang 12

hoàn thiện hơn, đóng vai trò quan trọng, quyết định sự thành công của mọi hoạt độngkinh doanh trong công ty.

II Tổng quan nghiên cứu.

Kế hoạch hóa trong doanh nghiệp càng ngày càng đóng vai trò quan trọng tronghoạt đông sản xuất kinh doanh Trong điều kiện kinh tế thị trường, các đơn vị sản xuấtkinh doanh ngoài việc quản lý và tổ chức các hoạt động nhằm sinh ra lợi nhuận thì tấtyếu cần thiết phải xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh Lập kế hoạch sản xuất kinhdoanh là khâu đầu tiên đóng vai trò quan trọng trong công tác kế hoạch hóa Nhưngtrong hầu hết các doanh nghiệp, công tác này vẫn chỉ là hình thức và bị xem nhẹ Do

đó hoàn thiện công tác lập kế hoạch là một yêu cầu cơ bản để nâng cao hiệu quả của

kế hoạch hóa trong sản xuất kinh doanh

Đã có rất nhiều bài viết, luận văn, luận án đề cập đến vấn đề “công tác lập kếhoạch trong doanh nghiệp” và hầu như các bài viết đều đã hoàn thiện được phần nàocông tác lập kế hoạch của các doanh nghiệp họ nghiên cứu Trong đề tài “thực trạnglập kế hoạch sản xuất kinh doanh tại công ty cổ phần may Thăng Long”, để đánh giáđúng thực trạng lập kế hoạch của công ty, tác giả Trần Bình Minh lớp quản lý kinh tế44A đã tiến hành nghiên cứu và phân tích quá trình lập kế hoạch sản xuất tại công ty

cổ phần may Thăng Long Đồng thời cũng trong bài viết của mình, tác giả đã đưa rađược một số giải pháp để hoàn thiện công tác lập kế hoạch cho công ty Trong quátrình nghiên cứu và phân tích, tác giả đã giới thiệu cho người đọc khá rõ nét về các căn

cứ để lập kế hoạch sản xuất tại công ty Các căn cứ này bao gồm: Căn cứ vào chỉ tiêu

kế hoạch do Tập Đoàn Dệt –May giao; căn cứ vào kết quả nghiên cứu và dự báo thịtrường; căn cứ vào năng lực hiện có của Công ty; căn cứ vào kết quả đánh giá tìnhhình thực hiện kế hoạch năm trước Để minh họa cho các căn cứ này là các ví dụ chitiết và cụ thể song chưa có sự phân tích trong các ví dụ này Các phương pháp lập kếhoạch cũng được đề cập đến trong bài viết nhưng cũng chưa được phân tích và đồng

Trang 13

thời quy trình lập kế hoạch của công ty chưa được nêu ra Sau khi tiến hành nghiêncứu, tác giả đã đưa ra một số đánh giá cho công tác lập kế hoạch của công ty Cáchđánh giá này được dựa vào những nghiên cứu trên và tình hình thực hiện kế hoạchtrong năm trước đó Tuy đã đưa ra được tình hình thực hiện kế hoạch rất rõ ràng songlại chưa đi sâu vào phân tích làm người đọc rất khó khăn trong việc quan sát kết quảthực hiện kế hoạch đó Việc đánh giá thực trạng lập kế hoạch tại công ty cổ phần mayThăng Long theo phương pháp là liệt kê các ưu điểm và nhược điểm và sau đó đưa ranguyên nhân của các nhược điểm Các đánh giá đó sẽ là cơ sở để công ty đưa ra cácgiải pháp để hoàn thiện công tác lập kế hoạch Các giải pháp được đưa ra là hạn chế ởđâu thì khắc phục ở đó và đồng thời phát huy các ưu điểm Do trong quá trình nghiêncứu tác giả chưa nghiên cứu một số vấn đề trong công tác lập kế hoạch như quy trìnhlập kế hoạch, nội dung bản kế hoạch, điều đó dẫn đến chưa có các đánh giá và giảipháp cho những vẫn đề này.

Cùng nghiên cứu về công tác lập kế hoạch trong doanh nghiệp sản xuất hàng maymặc, Tác giả Hoàng Thị Minh Hà lớp kế hoạch 45A có chọn đề tài “ hoàn thiện côngtác lập kế hoạch sản xuất cho công ty May 10” Để người đọc có cái nhìn rõ nét hơn vềcác giải pháp được đưa ra, tác giả cũng tiến hành nghiên cứu và phân tích công tác lập

kế hoạch tại công ty May 10 Vấn đề được nghiên cứu trong bài viết chủ yếu là quytrình lập kế hoạch của công ty Theo cách tiếp cận của tác giả, quy trình này bao gồm

cả căn cứ, nội dung và phương pháp lập kế hoạch Tuy nhiên sau khi nghiên cứu vàphân tích cụ thể, quy trình lập kế hoạch này không được đánh giá mà chỉ được so sánhbằng trực quan với cơ sở lý luận chung để đưa ra các giải pháp Trong giải pháp đểhoàn thiện công tác lập kế hoạch cho công ty, tác giả phân ra thành 2 mảng chính, đó

là đổi mới quy trình lập kế hoạch và đổi mới cơ cấu tổ chức phòng kế hoạch Vì không

có giai đoạn đánh giá công tác lập kế hoạch nên trong giải pháp “đổi mới quy trình lập

kế hoạch” tác giả đưa ra giải pháp cấp nhỏ hơn cho tất cả giai đoạn của quy trình lập

kế hoạch và trong các giải pháp đó tác giả có nêu nên ưu điểm và nhược điểm của quytrình cũ Quy trình lập kế hoạch của công ty may 10 được tác giả đổi mới như sau:Quy trình cũ: Chuẩn bị căn cứ lập kế hoạch  giao kế hoạch hàng năm  Kếhoạch sản xuất và giao hàng tháng  Kế hoạch sản xuất theo tháng  kế hoạch tiến

độ sản xuất

Trang 14

Quy trình mới: Tổng hợp thông tin cần thiết kế hoạch sản xuất tổng thể  kếhoạch chỉ đạo sản xuất  Kế hoạch nhu cầu nguyên phụ liệu  kế hoạch tiến độ sảnxuất.

Có thể nói rằng tác giả đã thay quy trình cũ bằng một quy trình mới hoàn toàn cả

về nội dung lẫn phương pháp chứ không dựa trên nền móng quy trình cũ để hoàn thiệncông tác lập kế hoạch như tác giả Trần Bình Minh Còn trong giải pháp đổi mới cơ cấu

tổ chức phòng kế hoạch, tác giả phân chia nhỏ phòng kế hoạch thành hai bộ phận: một

là bộ phận kế hoạch sản xuất tổng thể, hai là bộ phận kế hoạch kinh doanh và trưởngphòng kế hoạch sẽ chịu trách nhiệm quản lý chung sao cho kế hoạch của 2 bộ phận có

sự cân đối Cách phân chia này có ưu điểm là tạo nên sự chuyên môn hóa trong côngtác lập kế hoạch sản xuất và kế hoạch kinh doanh và rất phù hợp với 1 công ty sản xuấthàng may mặc

Có rất nhiều bài viết về “hoàn thiện công tác lập kế hoạch cho doanh nghiệp” vàcách phân tích để đưa ra các giải pháp giữa các bài là không giống nhau Tác giả TrầnBình Minh thì tiến hành nghiên cứu, sau đó đánh giá và đưa ra giải pháp; tác giảHoàng Thị Minh Hà chỉ tiến hành nghiên cứu và đưa luôn ra giải pháp để hoàn thiện.Còn với tác giả Trần Hoàng Yến sinh viên lớp Kế hoạch 46B thì lại có một phươngpháp phân tích khác trong đề tài “hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất ở Tổngcông ty thép Việt Nam” Trong đề tài này, tác giả nghiên cứu về quy trình lập kế hoạchcủa Tổng công ty thép Việt Nam Song, việc nghiên cứu này được đi kèm với đánhgiá, nghĩa là nghiên cứu đến đâu, đánh giá đến đó Trong đó, tác giả sẽ nghiên cứu vàđánh giá 3 mảng của công tác lập kế hoạch, đó là: Quy trình lập kế hoạch, nội của bản

kế hoạch, phương pháp lập kế hoạch và 1 mảng về điều kiện phục vụ cho công tác lập

kế hoạch của công ty Việc đánh giá được dựa vào sự so sánh giữa công tác lập kếhoạch của công ty với công tác lập kế hoạch chuẩn và điều kiện thực tế Nhìn chung,phương pháp này có ưu điểm là giúp người đọc dễ quan sát, theo dõi và đánh giá song

có phần thì tác giả đi vào nghiên cứu quá sâu còn phần thì chỉ nói chung chung, điều

đó dẫn đến mất cân đối trong toàn bài viết Đồng thời, trong phần đánh giá tác giả vẫncòn nhầm lẫn giữa đánh giá của quy trình lập kế hoạch với đánh giá của nội dung bản

kế hoạch Ví dụ như: Trong phần đánh giá về quy trình lập kế hoạch thì lại có mộtđánh giá về chỉ tiêu lập kế hoạch (thuộc nội dung bản kế hoạch)

Trang 15

Về việc đưa ra các giải pháp thì tương ứng với nghiên cứu nào là giải pháp chonghiên cứu đó, nghĩa là tác giả sẽ đưa ra các giải pháp cho quy trình lập kế hoạch, giảipháp cho nội dung bản kế hoạch, giải pháp cho phương pháp lập kế hoạch và giải phápcho điều kiện phục vụ công tác lập kế hoạch Nhiều giải pháp chỉ được nêu ra songchưa có các hành động cụ thể để thực hiện giải pháp và điều kiện thực hiện.

Trong đề tài “Hoàn thiện công tác lập kế hoạch tại công ty văn phòng phẩm Cửu

Long”, tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy lớp kế hoạch 46B cũng xây dựng bài viết theo bốcục là: nghiên cứu (giới thiệu công tác lập kế hoạch tại công ty văn phòng phẩm CửuLong); đánh giá và các giải pháp hoàn thiện Cũng như mọi đề tài trên, tác giả nghiêncứu về căn cứ lập kế hoạch, phương pháp lập kế hoạch và quy trình lập kế hoạch Saukhi có cái nhìn tổng quan về toàn bộ công tác lập kế hoạch, tác giả liệt kê những đánhgiá về ưu điểm và nhược điểm của công tác lập kế hoạch đó Sau khi đã có bản tổnghợp về các đánh giá, tác giả sẽ đưa ra các giải pháp để hoàn thiện Hầu hết các giảipháp trong các đề tài ở trên đều được dựa trên cơ sở quy trình chuẩn trong lý thuyết,song tác giả lại đưa ra các giải pháp dựa trên quan điểm, nghĩa là hoàn thiện công táclập kế hoạch theo các quan điểm Trong bài viết, tác giả đã đưa ra ba quan điểm hoànthiện công tác lập kế hoạch, đó là: hoàn thiện theo hướng hiện đại, hoàn thiện theohướng bám sát thị trường, hoàn thiện theo hướng đơn giản Và theo tác giả, với mộtcông ty nhỏ và bộ máy quản lý đơn giản như công ty cổ phần văn phòng phẩm CửuLong thì nên hoàn thiện công tác lập kế hoạch theo hướng đơn giản Để hoàn thiệntheo hướng đó, tác giả đưa ra ba giải pháp là: lập phòng kế hoạch độc lập; đổi mớiphương pháp lập kế hoạch sản xuất và xây dựng quy trình lập kế hoạch sản xuất chocông ty Hầu như các giải pháp đó chưa nêu rõ được nội dung, mới chỉ mang tính chất

áp dụng lý thuyết là chủ yếu và mới khắc phục được phần nào của các nhược điểm.Trong mục đánh giá, tác giả có nêu ra một nhược điểm trong công tác lập kế hoạch là

“trình độ chuyên của cán bộ lập kế hoạch chưa cao, chưa được qua đào tạo bài bản về

kế hoạch” song lại chưa đưa ra được giải pháp nào để nâng cao trình độ cho cán bộlàm kế hoạch Ưu điểm của bài viết này so với các bài trên là đã xác định phươnghướng hoàn thiện ngay từ đầu và có một số kiến nghị với công ty để thực hiện tốt kếhoạch sản xuất Như vây, không những quan tâm đến công tác lập kế hoạch, tác giả

Trang 16

còn quan tâm đến công tác thực hiện kế hoạch, đây như là điều kiện đủ để công tác lập

kế hoạch được hoàn thiện nhất

Trong đề tài “Hoàn thiện công tác lập kế hoạch cho Tổng công ty chè” bạn LêMinh Anh lớp QTKD 44A cũng nghiên cứu về công tác lập kế hoạch và đưa ra một sốgiải pháp Bố cục trình bày để hỗ trợ cho quá trình hoàn thiện như sau: nghiên cứu đánh giá  giải pháp Trong đó, ở phần nghiên cứu, tác giả đi tiến hành phân tíchnhững nhân tố ảnh hưởng đến công tác lập kế hoạch tại công ty và nêu ra những thuậnlợi và khó khăn trong sản xuất kinh doanh và hạn chế của chất lượng chè Việc phântích vấn đề này nhằm hỗ trợ cho công tác phân tích môi trường bên trong, bên ngoàicho Tổng công ty chè Tiếp đó, để thuận tiện cho việc đánh giá, tác giả đã giới thiệuqua về công tác lập kế hoạch tại Tổng công ty chè Việt Nam Trong phần trình bàynày, tác giả đưa ra hai vấn đề cần nghiên cứu là: các loại kế hoạch và trình tự lập kếhoạch tại công ty Tuy nhiên, phần trình bày này mang tính lý thuyết nhiều hơn thực

tế, nghĩa là tác giả chưa nêu được công ty làm như thế nào mà chỉ nêu ra rằng theo lýthuyết thì như thế nào Sau khi đã giới thiệu về công tác lập kế hoạch, tác giả đưa ranhững đánh giá bao gồm: ưu điểm, nhược điểm và nguyên nhân Các đánh giá này baogồm đánh giá về công tác lập kế hoạch sản xuất, công tác lập kế hoạch tiêu thụ, côngtác quản lý kỹ thuật và công tác xây dựng cơ bản Các đánh giá chỉ ra rất chung chung

và chưa có những dẫn chứng cụ thể Sau khi đã tiến hành đánh giá, tác giả đã đưa rađựoc một số biện pháp để hoàn thiện Tuy nhiên, những giải pháp này không được dựatrên các đánh giá mà chỉ xuất phát từ yêu cầu thực tiễn là những vấn đề đó luôn luôncần nâng cao và hoàn thiện

Nhìn chung, hầu hết các đề tài đã đề cập đến tất cả các mặt của công tác lập kếhoạch và đánh giá được đúng thực trạng cũng như hoàn thiện được phần nào công táclập kế hoạch cho doanh nghiệp Đây sẽ là những tài liệu bổ ích và quý giá cho cácdoanh nghiệp tham khảo để xây dựng được một hệ thống và quy trình lập kế hoạchhoàn thiện

Trang 17

Chương I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ HOẠCH HÓA TRONG

DOANH NGHIỆP

I Lý luận về kế hoạch hóa hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp.

1 Khái niệm kế hoạch hóa

Kế hoạch hóa hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp được xác định làmột phương thức quản lý theo mục tiêu, nó bao gồm toàn bộ hành vi can thiệp mộtcách có chủ định của các nhà lãnh đạo và các nhà quản lý doanh nghiệp vào các lĩnhvực kinh doanh của đơn vị mình nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra

2 Vai trò của kế hoạch hóa trong hoạt động kinh doanh.

2.1 Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung.

Trong cơ chế KHH tập trung, hệ thống chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh là cơ sở điềutiết mọi hoạt động tổ chức và quản lý sản xuất kinh odanh của các doanh nghiệp Vaitrò lớn nhất của cơ chế này là: có năng lực tạo ra các tỷ lệ tiết kiệm và tích lũy rất cao,thực hiện được những cân đối cần thiết trong tổng kinh tế quốc dân, nền kinh tế có thểđạt được mức cung ứng cần thiết để tạo ra tăng trưởng nhanh Đăc biệt, nhờ có cơ chếKHH tập trung mà Nhà nước có thể hướng các nguồn lực cần thiết để thực hiện cácmục tiêu và các lĩnh vực cần ưu tiên trong từng thời kỳ nhất định Các đơn vị kinh tếxem như là các tế bào trong tổng thể nền kinh tế, thực hiện nhiệm vụ kế hoạch theonhững mục tiêu thống nhất từ trên xuống

Có thể nói cơ chế KHH tập trung áp dụng ở nước ta trong một thời kỳ dài, nó đemlại những kết quả đáng kể, nhất là trong thời kỳ Việt Nam thực hiện cuộc kháng chiếnchống Mỹ Với cơ chế này nhiều doanh nghiệp sản xuất dịch vụ ở nước ta đã ra đời

Trang 18

cung cấp một khối lượng của cải vật chất đáng kể, đảm bảo được những nhiệm vụnặng nề trong công cuộc phục vụ kháng chiến và quốc kế dân sinh.

Tuy vậy, trong điều kiện kinh tế thị trường, cơ chế KHH theo mô hình tập trungmệnh lệnh trở nên không còn phù hợp Bản thân những đặc trưng của cơ chế này đãtạo ra những rào cản hạn chế sự phát triển của các doanh nghiệp cũng như của toàn thểnền kinh tế quốc dân Cụ thể là:

- Hạn chế tính năng động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệptrong việc thích nghi với những điều kiện thị trường

- Nền kinh tế bị mất động lực phát triển, các doanh nghiệp không có khả năngcạnh tranh, nhất là trong logic của nền kinh tế toàn cầu

- Hạn chế tính năng động về công nghệ,áp dụng kỹ thuật mới vì việc cho ra đờicác sản phẩm mới không được gắn chặt với cơ chế khuyến khích

- Hiệu quả kinh tế còn thấp do vừa không có những chỉ số về chi phí kinh tếthương đối, vừa không có cơ chế đãi ngộ xứng đáng cho tính hiệu quả và trừng phạtđối với sự phi hiệu quả

2.2 Trong nền kinh tế thị trường.

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp thường xuyên phải đối mặt với cácquy luật của thị trường, vì vậy những dấu hiệu thị trường là cơ sở để các doanh nghiệpthực hiện hành vi sản xuất kinh doanh của mình Tuy vậy, KHH vẫn là cơ chế cầnthiết, hữu hiệu của các doanh nghiệp Lập luận về sự tồn tại và phát triển của KHHdoanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường xuất phát từ chính vai trò của nó trong quản

lý doanh nghiệp Những vai trò chính được thể hiện như sau:

- Tập trung sự chú ý của các hoạt động trong doanh nghiệp vào các mục tiêu.KHH là nhằm đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp, cho nên chính các hoạt độngcủa công tác kế hoạch hóa là tập trung sự chú ý vào mục tiêu này Lập kế hoạch – khâuđầu tiên và quan trọng nhất trong quy trình kế hoạch hóa là công việc duy nhất có liênquan tới việc thiết lập các mục tiêu càn thiết cho sự phấn đấu của tập thể Thị trườngrất linh hoạt và thường xuyên biến động, lập kế hoạch và quản lý bằng kế hoạch giúpcho doanh nghiệp dự kiến được những cơ hội và thách thức có thể xảy ra để quyết địnhnên làm cái gì, làm như thế nào, khi nào làm và ai làm trong thời kỳ nhất định Mặc dùchúng ta ít khi tiên đoán chính xác tương lai và mặc dù các yếu tố nằm ngoài kiểm soát

Trang 19

của doanh nghiệp phá vỡ những kế hoạch tốt nhất đã có, nhưng nếu không có kế hoạch

và tổ chức quá trình hoạt động thông qua các mục tiêu định lập trước thì chúng ta đã

để cho các sự kiện có liên quan đến sinh mệnh sống của doanh nghiệp mình diễn ramột cách ngẫu nhiên và tính rủi ro trong hoạt động của doanh nghiệp sẽ tăng lên

- Công tác KHH với việc ứng phó những bất định và thay đổi của thị trường Lập

kế hoạch là dự kiến những vấn đề của tương lai, mà tương lai ít khi chắc chắn, tươnglai càng dài thì kết qủa của các quyết định càng kém chắc chắn Thậm chí ngay cả khitương lai có độ chắc chắn cao thì các nhà quản lý vẫn phải tìm các tốt nhất để đạt mụctiêu đề ra, phân công, phối hợp hoạt động của các bộ phận trong hệ thống tổ chứctrong quá trình thực hiện mục tiêu kế hoạch và tháo gỡ, ứng phó với những bất ổntrong quá trình sản xuất kinh doanh Như vậy, giống như một nhà hàng hải không thểchỉ lập hành trình rồi quên nó, một nhà quản lý kinh doanh không thể lập kế hoạch vàdừng lại ở đó Sự bất định và thay đổi của môi trường đòi hỏi họ, ngoài việc soạn lập

kế hoạch, phải tiến hành các nội dung khác của công tác KHH là triển khai thực hiện,kiểm tra công việc của các cấp tổ chức, điều chỉnh các hoạt động cần thiết để đảm bảothực thi các mục tiêu kế hoạch đạt ra

- Công tác KHH với việc tạo khả năng tác nghiệp kinh tế trong doanh nghiệp.Công tác KHH thường hướng tới cực tiểu hóa chi phí vì nó chú trọng vào các hoạtđộng hiệu quả và đảm bảo tính phù hợp Kế hoạch thay thế sự hoạt động manh mún,không phối hợp bằng sự nỗ lực có định hướng chung, thay thế luồng hoạt động thấtthường bởi một luồng đều đặn và thay thế những phán xét vội vàng bằng những quyếtđịnh có cân nhắc kỹ lưỡng Trong phạm vi doanh nghiệp, tác dụng của KHH với tácnghiệp kinh tế càng rõ nét hơn Công tác KHH doanh nghiệp tạo cơ sở cho việc nhìnnhận logic các nội dung hoạt động có liên quan chặt chẽ với nhau trong quá trình tiếntới mục tiêu sản xuất sản phẩm và dịch vụ cuối cùng Trên nền tảng đó, các nhà quản

lý thực hành các phân công, điều độ, tổ chức các hành động cụ thể, chi tiết theo đúngtrình tự, đảm bảo cho sản xuất không bị rối loạn và ít bị tốn kém

3 Quy trình và nội dung của kế hoạch hóa trong doanh nghiệp.

3.1 Quy trình của kế hoạch hóa trong doanh nghiệp.

Có nhiều cách tiếp cận về quy trình KHH trong doanh nghiệp, song nói một cáchchung nhất, quy trình kế hoạch hóa bao gồm các bước tuần tự, cho phép vạch ra các

Trang 20

mục tiêu tại những thời điểm khác nhau trong tương lai, dự tính các phương tiện cầnthiết và tổ chức triển khai sử dụng các phương tiện nhằm đạt các mục tiêu Một trongnhững quy trình được áp dụng rộng rãi tại các doanh nghiệp ở các nước kinh tế pháttriển và đặc biệt được ưa chuộng tại Nhật Bản có tên là PDCA (Plan, Do, Check, Act).Các hoạt động liên quan đến kế hoạch hóa doanh nghiệp theo quy trình này được chialàm một số giai đoạn cơ bản thể hiện qua sơ đồ sau:

Hình 1.1: Quy trình kế hoạch hóa PDCA

(Nguồn: Giáo trình kế hoạch kinh doanh - ĐH KTQD)

Theo sơ đồ này, quy trình KHH trong doanh nghiệp bao gồm các bước sau đây:Bước 1: Soạn lập kế hoạch, đây là giai đoạn đầu tiên trong quy trình kế hoạch hóavới nội dung chủ yếu là xác định các nhiệm vụ, mục tiêu chiến lược, các chương trình

và các chỉ tiêu kế hoạch tác nghiệp, soạn lập ngân quỹ cũng như các chính sách, biệnpháp áp dụng trong thời kỳ kế hoạch của doanh nghiệp để thực hiện các mục tiêu đặt

ra trong điều kiện kinh tế thị trường, soạn lập kế hoạch thường phải là quá trình xây

Thực hiện cácđiều chỉnhcần thiết

Xác định mụctiêu và quytrình cần thiết

để thực hiệnmục tiêu

Tổ chức thựchiện quy trình

đã thực hiện

Đánh giá vàphân tích quátrình thựchiện

Trang 21

dựng nhiều phương án khác nhau, trên cơ sở đó đưa ra các sự lựa chọn chiến lược vàcác chương trình hành động, nhằm mục đích đảm bảo sự thực hiện các lựa chọn này.

Kế hoạch chỉ có nghĩa khi chúng ta tính đến một tổng thể gồm nhiều vấn đề ràng buộclẫn nhau Các nội dung của quá trình soạn lập kế hoạch sẽ được phân tích trong phầntiếp theo

Bước 2: Các hoạch động triển khai tổ chức thực hiện kế hoạch Kết quả hoạt độngcủa quá trình này được thể hiện bằng những chỉ tiêu thực tế của hoạt động doanhnghiệp Đây là khâu mang tính quyết định đến việc thực hiện những chỉ tiêu đặt ratrong các kế hoạch Nội dung của quá trình này bao gồm việc thiết lập và tổ chức cácyếu tố nguồn lực cần thiết, sử dụng các chính sách, các biện pháp cũng như các đònbẩy quan trọng tác động trực tiếp đến các cấp thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanhcủa doanh nghiệp, nhằm bảo đảm các yêu cầu tiến độ đặt ra trong các kế hoạch tácnghiệp cụ thể kể cả về thời gian, quy mô và chất lượng công việc

Bước 3: Tổ chức công tác theo dõi, giám sát, thực hiện kế hoạch Nhiệm vụ củaquá trình này là thúc đẩy thực hiện các mục tiêu đặt ra và theo dõi, phát hiện nhữngphát sinh không phù hợp với mục tiêu Khi phát hiện những phát sinh không phù hợp,điều quan trọng là phải tìm được các nguyên nhân dẫn đến vấn đề đó Những nguyênnhân này có thể thuộc các cấp thực hiện kế hoạch, ý thức chủ quan của các nhà lãnhđạo, quản lý hay là những phát sinh đột xuất nảy sinh trong quá trình triển khai kếhoạch

Bước 4: Điều chỉnh thực hiện kế hoạch Từ những phân tích về hiện tượng khôngphù hợp với mục tiêu, các nhà kế hoạch đưa ra các quyết định điều chỉnh cần thiết vàkịp thời Các quyết định điều chỉnh đó có thể là:

- Một là, thay đổi nội dung của hệ thống tổ chức, với cách điều chỉnh này, hệthống các mục tiêu đặt ra ban đầu trong kế hoạch không bị thay đổi Trên cơ sở phântích đánh giá các khâu, các bộ phận có liên quan đến hệ thống quản lý và bị quản lý,đối chiều với mục tiêu, môt số bộ phận trong hệ thống tổ chức sẽ được điều chỉnhnhằm thực hiện mục tiêu kế hoạch đề ra Có thể nói, điều chỉnh tổ chức là hình thứcđiều chỉnh tích cực nhất vì nó không ảnh hưởng đến mục tiêu của doanh nghiệp vànhững nhu cầu sản phẩm và dịch vụ vẩn được đáp ứng trên thị trường

Trang 22

- Hai là, thực hiện thay đổi một số mục tiêu bộ phận trong hệ thống mục tiêu đặt raban đầu Hình thức điều chỉnh thứ hai này chỉ áp dụng khi không thể thực hiện được

sự thay đổi của tổ chức hoặc chi phí của quá trình thay đổi tổ chức quá lớn, không đảmbảo được yêu cầu hiệu quả kinh tế

- Ba là, quyết định chuyển hướng kinh doanh trong những điều kiện bất khảkháng Các hướng chuyển đổi thường là những phương án dự phòng mà doanh nghiệp

đã xác định trong quá trình lập kế hoạch

Quy trình kế hoạch hóa nêu trên không phải là một trình tự tác nghiệp đơn giảnmang tính chất tuần tự mà nó được thực hiện đan xen nhau, tác động hỗ trợ nhau, trong

đó khâu lập kế hoạch là quan trọng nhất Quá trình này đòi hỏi tính linh hoạt và nghệthuật quản lý rất lớn Nếu như một khâu nhất định của quá trình không phù hợp vớimục tiêu đề ra thì nó có thể dẫn đến những hậu quả mang tính dây chuyền khônglường trước được

3.2 Nội dung của kế hoạch hóa trong doanh nghiệp.

Nội dung của một KHH trong doanh nghiệp gồm 2 bộ phân:

- Kế hoạch chiến lược:

Kế hoạch chiến lược áp dụng cho doanh nghiệp là định hướng lớn cho phép doanhnghiệp thay đổi, cải thiện, củng cố vị thế cạnh tranh của mình và những phương pháp

cơ bản để đạt được mục tiêu đó Soạn lập kế hoạch chiến lược không phải từ kỳ vọng

mà doanh nghiệp muốn đạt tới mà xuất phát từ khả năng thực tế của doanh nghiệp vànhư vậy nó là thể hiện sự phản ứng của doanh nghiệp đối với toàn cảnh khách quanbên trong và bên ngoài của hoạt động doanh nghiệp

Thường thì kế hoach chiến lược được soạn thảo cho thời gian dài, tuy vậy, nókhông đồng nghĩa với kế hoạch dài hạn Nhiều doanh nghiệp đã dựa vào kế hoạchchiến lược ngắn hạn Nói đến kế hoạch chiến lược không phải nói đến góc độ thời giancủa kế hoạch mà nói đến tính chất định hướng của kế hoạch và bao gồm mục tiêu tổngthể phát triển doanh nghiệp Trách nhiệm soạn thảo kế hoạch chiến lược trước hết làcủa lãnh đạo doanh nghiệp, vì kế hoạch chiến lược đòi hỏi trách nhiệm rất cao, quy môhoạt động rộng lớn của các nhà quản lý

- Kế hoạch tác nghiệp

Trang 23

Là công cụ cho phép chuyển các định hướng chiến lược thành các chương trình ápdụng cho các bộ phận doanh nghiệp trong khuôn khổ các hoạt động doanh nghiệp,nhằm thực hiện được các mục tiêu của kế hoạch chiến lược Kế hoạch tác nghiệp đượcthể hiện ở những bộ phận kế hoạch riêng biệt trong tổng thể hoạt động sản xuất kinhdoanh như: Kế hoạch sản xuất, kế hoạch marketing, kế hoạch tài chính, kế hoạch nhân

sự của doanh nghiệp

Kế hoạch chiến lược tập trung vào các lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến tương laicủa doanh nghiệp trong khi đó kế hoạch tác nghiệp liên quan đến tất cả các bộ phậncủa doanh nghiệp, quy trình kế hoạch hóa chiến lược đòi hỏi sự tham gia của các nhàlãnh đạo trong khi kế hoạch hóa tác nghiệp huy động tất cả các cán bộ phụ trách

II Lý luận về công tác lập kế hoạch kinh doanh trong doanh nghiệp

1 Khái niệm lập kế hoạch.

Lập kế hoạch là chức năng đầu tiên trong bốn chức năng của quản lý là lập kếhoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra Lập kế hoạch là chức năng rất quan trọng đối vớimỗi nhà quản lý bởi vì nó gắn liền với việc lựa chọn mục tiêu và chương trình hànhđộng trong tương lai, giúp nhà quản lý xác định được các chức năng khác còn lại nhằmđảm bảo đạt được các mục tiêu đề ra

Cho đến nay thì có rất nhiều khái niệm về chức năng lập kế hoạch Với mỗi quanđiểm , mỗi cách tiếp cận khác nhau đều có khái niệm riêng nhưng tất cả đều cố gắngbiểu hiện đúng bản chất của phạm trù quản lý này

Nếu đứng trên góc độ ra quyết định thì : “ Lập kế hoạch là một loại ra quyết địnhđặc thù để xác định một tương lai cụ thể mà các nhà quản lý mong muốn cho tổ chứccủa họ” Quản lý có bốn chức năng cơ bản là lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểmtra Lập kế hoạch có thể ví như là bắt đầu từ rễ cái của một cây sồi lớn , rồi từ đó mọclên các “nhánh” tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra Xét theo quan điểm này thì lập kếhoạch là chức năng khởi đầu và trọng yêú đối với mỗi nhà quản lý

Với cách tiếp cận theo quá trình :Theo STEYNER thì: “Lập kế hoạch là một quátrình bắt đầu từ việc thiết lập các mục tiêu, quyết định các chiến lược, các chính sách,

kế hoạch chi tiết để đạt được mục tiêu đã định Lập kế hoạch cho phép thiết lập cácquyết định khả thi và bao gồm cả chu kỳ mới của việc thiết lập mục tiêu và quyết địnhchiến lược nhằm hoàn thiện hơn nữa.” Theo cách tiếp cận này thì lập kế hoạch được

Trang 24

xem là một quá trình tiếp diễn phản ánh và thích ứng được với những biến động diễn

ra trong môi trường của mỗi tổ chức, đó là quá trình thích ứng với sự không chắc chắncủa môi trường bằng việc xác định trước các phương án hành động để đạt được mụctiêu cụ thể của tổ chức

Với cách tiếp cận theo nội dung và vai trò

Theo RONNER: “Hoạt động của công tác lập kế hoạch là một trong nhữnghoạt động nhằm tìm ra con đường để huy động và sử dụng các nguồn lực của doanhnghiệp một cách có hiệu quả nhất để phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh.”

Theo HENRYPAYH: “Lập kế hoạch là một trong những hoạt động cơ bảncủa quá trình quản lý cấp công ty, xét về mặt bản chất thì hoạt động này nhằm mụcđích xem xét các mục tiêu, các phương án kinh doanh, bước đi trình tự và cách tiếnhành các hoạt động sản xuất kinh doanh.”

Như vậy, Lập kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu và lựa chọn các phươngthức để đạt được các mục tiêu đó Lập kế hoạch nhằm mục đích xác định mục tiêu cầnphải đạt được là cái gì? và phương tiện để đạt được các mục tiêu đó như thế nào? Tức

là, lập kế hoạch bao gồm việc xác định rõ các mục tiêu cần đạt được, xây dựng mộtchiến lược tổng thể để đạt được các mục tiêu đã đặt ra, và việc triển khai một hệ thốngcác kế hoạch để thống nhất và phối hợp các hoạt động

2 Quy trình và nội dung của công tác lập kế hoạch kinh doanh.

2.1 Quy trình lập kế hoạch

Soạn thảo kế hoạch là bước đầu tiên và quan trọng nhất trong quy trình kế hoạchhóa lập kế hoạch là một quá trình đòi hỏi có trí thức Nó đòi hỏi chúng ta phải xácđịnh các mục tiêu một cách có ý thức có căn cứ và đưa ra các quyết định trên cơ sởmục tiêu, sự hiểu biết và những đánh giá thận trọng Lập kế hoạch phải tuân thủ theomột quy trình với các bước đi cụ thể

Hình 1.2 : Các bước soạn lập kế hoạch

Trang 25

(Nguồn: Giáo trình kế hoạch kinh doanh – ĐH KTQD)

Sơ đồ tổng quát trên mô tả những bước cụ thể của quy trình lập kế hoạch như sau: Bước 1: Nhận thức cơ hội trên cơ sở xem xét đánh giá môi trường bên trong vàbên ngoài doanh nghiệp, xác định thành phần cơ bản của môi trường tổ chức, đưa racác thành phần có ý nghĩa thực tế đối với doanh nghiệp, thu nhập và có thể phân tíchthông tin về thành phần này; tìm hiểu các cơ hội có thể có trong tương lai và xem xétmột cách toàn diện, rõ ràng, biết được ta đang đứng ở đâu trên cơ sở điểm mạnh vànhưng điều không chắc chắn và biết chúng ta hy vọng thu được gì Việc đưa ra cácmục tiêu thực hiện của doanh nghiệp trong thời kì kế hoạch phụ thuộc vào những phântích này

Bước 2: Thiết lập nhiệm vụ, mục tiêu cho toàn doanh nghiệp và cho các đơn vịcấp dưới Các mục tiêu sẽ xác định kết quả cần thu được và chỉ ra các điểm kết thúctrong các việc cần làm, nơi nào cần phải được chú trọng ưu tiên và cái gì cần hoànthành bằng một hệ thống các chiến lược, các chính sách, các thủ tục, các ngân quỹ, cácchương trình

Bước 3: Lập kế hoạch chiến lược: Doanh nghiệp so sánh các nhiệm vụ, mục tiêu(yếu tố mong muốn) với kết quả nghiên cứu về môi trường bên trong và bên ngoài(yếu tố giới hạn mục tiêu mong muốn) Xác định sự cách biệt giữa chúng và bằng việc

sử dụng những phương pháp phân tích chiến lược đưa ra các phương án kế hoạch

Kế hoạch tác nghiệp

và ngân sách

Trang 26

chiến lược khác nhau Lập kế hoạch chiến lược phác thảo hình ảnh tương lai của doanhnghiệp trong các lĩnh vực kinh doanh khác nhau và các năng lực có thể khai thác Kếhoạch chiến lược xác định các mục tiêu dài hạn, chính sách để thực hiện mục tiêu.Bước này gồm các khâu cụ thể như:

- Xác định các phương án kế hoạch chiến lược: xác định các phương án hợp lý,tìm ra các phương án có nhiều triển vọng nhất

- Đánh giá các phương án lựa chọn: Sau khi tìm được các phương án có triển vọngnhất cần tiến hành đánh giá và xem xét điểm mạnh, yếu của từng phương án; cóphương án mang lại lợi nhuận cao song lại cần vốn đầu tư lớn và thời gian thu hồi vốnchậm; có phương án lợi nhuận ít hơn nhưng cũng ít rủi ro hơn; một phương án khác lại

có thể thích hợp các mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp.v.v…

- Lựa chọn phương án cho kế hoạch chiến lược Đây là khâu mang tính quyết địnhđến việc cho ra đời bản kế hoạch chiến lược Việc quyết định một trong số các phương

án kế hoạch chiến lược phụ thuộc vào nhưng ưu tiên về mục tiêu cần thực hiện trongthời kỳ kế hoạch Trong quá trình lựa chọn phương án cũng cần phải lưu ý đến nhữngphương án dự phòng và những phương án phụ để sử dụng trong nhưng trường hợp cầnthiết

Bước 4: Xác định các chương trình,dư án Đây là các phân hệ của kế hoạch chiếnlược các chương trình thường xác định sự phát triển của một trong nhưng các mặthoạt động quan trọng của đơn vị kinh tế như: chương trình hoàn thiện công nghệ,chương trình kiểm tra chất lượng sản phẩm,chương trình tính toán dự trữ v.v… còncác dự án thường định hướng đến một mặt hoạt động cụ thể hơn như dự án phát triểnthị trường, đổi mới sản phẩm Thông thường một chương trình ít khi đứng riêng mộtmình, nó thường là bộ phận của hệ thống phức tạp các chương trình, phụ thuộc vàomột số chương trình và ảnh hưởng đến một số chương trình khác Dù là chương trìnhlớn hay chương trình bộ phận thì nội dung của cảu việc xây dựng các chương trình baogồm: mục tiêu, nhiệm vụ; các bước tiến hành; các nguồn lực cần sử dụng và các yếu tốkhác cần thiết để tiến hành chương trình hoạt động cho trước; những yếu tố về ngânsách cần thiết Các dự án thường được xác định một cách chi tiết hơn chương trình, nóbao gồm các thông số về tài chính và kỹ thuật, các tiến độ thực hiện, tổ chức huy động

và sử dụng nguồn lực, hiệu quả kinh tế tài chính

Trang 27

Bước 5: Soạn lập hệ thống các kế hoạch chức năng (tác nghiệp) và ngân sách.Mục tiêu của các kê hoạch kinh doanh thường hưởng tới là: đáp ứng đòi hỏi của thịtrường; nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh doanh, quản lý một cách có hiệu quảhơn các nguồn lực; đảm bảo thực hiện chiến lược kinh doanh đã chọn, cụ thể là: thựchiện các mục tiêu chiến lược, kiểm soát mục tiêu nói trên, kế hoạch chiến lược cầnphải cụ thể hóa các kế hoạch tác nghiệp để chỉ đạo và điều hành sản xuất kinh doanh.

Hệ thống các kế hoạch chức năng bảo gồm: kế hoạch sản xuất sản phẩm, phát triển sảnphẩm mới; kế hoạch mua sắm thiết bị, nguyên nhiên vật liệu; kế hoạch nhân sự, kếhoạch tài chính, kế hoạch marketing

Sau khi các kế hoạch tác nghiệp được xây dựng xong cần lượng hóa chúng dướidạng tiền tệ các dự toán về mua săm các yếu tố sản xuất, phục vụ bán hàng, nhu cầuvốn v.v… gọi là soạn thảo ngân sách Ngân sách chung của doanh nghiệp biểu thị tổngtoàn bộ thu nhập và chi phí, lợi nhuận hay số dư tổng hợp và các khoản mục cân đốichính như chi tiêu tiền mặt hay chi phí đầu tư Ngoài ngân sách chung mỗi bộ phậnhay chương trình của doanh nghiệp cùng cần soạn lập ngân sách riêng của mình

Các kế hoạch chức năng và ngân sách trên thực tế có mối quan hệ mật thiết vớinhau và cần phải thống nhất trong quá trình xây dựng nhằm đảm bảo sự phối hợp đồng

bộ và có hiệu quả giữa các chức năng trong doanh nghiệp Tính chất hệ thống và mốiquân hệ giữa các kế hoạch chức năng thực hiện qua sơ đồ sau:

Hình 1.3: Mối quan hệ giữa các kế hoạch tác nghiệp trong doanh nghiệp

Trang 28

(Nguồn: Giáo trình kế hoạch kinh doanh – ĐH KTQD)

Qua sơ đồ trên cho thấy: trong nền kinh tế thị trường khả năng nắm bắt nhu cầu sẽ

là yếu tố đâu tiên quyết định sự thành công của các kế hoạch doanh nghiệp cũng nhưviệc sẽ thực hiện mục tiêu chiến lược Do vậy, kế hoạch marketing sẽ là trung tâm và

cơ sở của mọi kế hoạch tác nghiệp khác Ngân sách sẽ trở thành một phương tiện đểkết hợp các kế hoạch chức năng với nhau, đồng thời là tiêu chuẩn quan trọng để đolường sự tăng tiến của kế hoạch

Bước 6: Đánh giá, hiệu chỉnh các pha của kế hoạch, Đây có thể coi là bước thẩmđịnh cuối cùng trước khi cho ra một văn bản kế hoạch Các nhà lãnh đạo doanh nghiệpcùng với các nhà chuyên môn kế hoạch cũng như chức năng khác, có thể sử dụng thêmđội ngũ chuyên gia, tư vấn kiểm tra lại các mục tiêu, chỉ tiêu, các kế hoạch chức năng,ngân sách, các chính sách.v.v… phân định kế hoạch theo các pha có liên quan đến tổchức thực hiện kế hoạch, trên cơ sở đó tiến hành các phê chuẩn cần thiết để chuẩn bịchuyển giao nội dung kế hoạch cho các cấp thực hiện

2.2 Nội dung của công tác lập kế hoạch kinh doanh.

Kế hoạch R&D

Kế hoạch sản xuất và

dự trữ

kế hoạch marketing

Kế hoạch tài chính

kế hoạch nhân sự

Trang 29

Nội dung của công tác lập kế hoạch kinh doanh gồn ba bộ phận:

2.2.1 Lập kế hoạch marketing.

Căn cứ vào các chính sách chung của doanh nghiệp, kế hoạch chiến lược đã chọn

và các kết quả dự báo tình hình thị trường, doanh nghiệp sẽ tiến hành thiết lập các kếhoạch hành động marketing hay còn gọi là kế hoạch marketing tác nghiệp vốn có thờihạn trung bình là một năm Kế hoạch này thể hiện quan điểm của marketing là theo dõiliên tục các xu hướng mới của thị trường (thông qua dự báo nhu cầu) và thích ứngcàng nhanh càng tốt với những xu hướng đó

Kế hoạch hàng năm chính là việc cụ thể hóa việc triển khai chiến lược của doanhnghiệp trên các thị trường mục tiêu đã chọn, các mục tiêu sẽ được thể hiện thông quacác chỉ tiêu lợi nhuận, bán hàng, phân phối và gia tiếp Tùy theo từng doanh nghiệp màmức độ cụ thể hóa của các doanh nghiệp này được triển khai Không có một kế hoạchmẫu chung cho các doanh nghiệp, nhưng nhìn chung các kế hoạch marketing hàngnăm xác định các mục tiêu và dự tính những hành động và phương tiện cần thiết trongcác lĩnh vực: bán hàng, phân phối, và các hành động marketing bổ trợ

Từ những mục tiêu bán hàng hàng năm đã được xác định, doanh nghiệp có thểtriển khai cụ thể nhiệm vụ bán hàng thành các mục tiêu theo từng kỳ trong năm (tuần,tháng, quý.v.v…) tùy theo những đặc trưng trong công tác bán hàng của chính doanhnghiệp

2.2.1.2 Lập kế hoạch hành động phân phối

Trang 30

Quá trình phân phối được thực hiện thông qua các kênh phân phối Vì vậy, trướckhi lập kế hoạch cụ thể, doanh nghiệp sẽ phải quyết định việc lựa chọn các kênh phânphối Kênh phân phối là con đường mà hàng hóa được lưu thông từ người sản xuất đếnngười tiêu dùng Kênh phân phối thường có nhiều dạng khác nhau (ngắn, trung bình,dài) tùy theo số lượng các trung gian tham gia vào việc lưu thông hàng hóa Các kếhoạch trung hạn ấn định việc lưa chọn các kênh phân phối và hình thức phân phốithông qua các trung gian (các nhà phân phối) tùy theo mức độ phù hợp của chúng trêntừng phân đoạn thị trường

Sau khi đã chọn kênh phân phối, doanh nghiệp sẽ căn cứ vào kế hoạch bán hàng

để ấn định mục tiêu phân phối cho từng nhóm sản phẩm, kênh sản phẩm, kênh phânphối hoặc thị trường Mục tiêu phân phối có thể được thực hiện bằng khối lượng sảnphẩm hoặc giá trị

2.2.1.3 Lập kế hoạch các hành động marketing phụ trợ

Các hoạt động marketing được chia theo ít nhất ba cấp độ: người tiêu dung, nhàphân phối và người bán Do vậy, một sản phẩm không bao giờ tự nó áp đặt trong tâmtrí người tiêu dùng mà cần thiết phải có hành động của nhà sản xuất Một hành độngcũng cần thiết đối với các nhà phân phối để đổi lấy sự hợp tác tối thiểu của họ hoặchơn nữa là sự hợp tác toàn diện Các hoạt động thương mại được tiến hành bởi nhữngngười không thuộc bộ phận marketing, và do vậy, các kế hoạch hành động tương ứngphải được thiết lập bởi chính những người chịu trách nhiệm về các hành động này Bộphận marketing can thiệp vào việc xác định các mục tiêu, đàm phán các phương tiện

và thời hạn, và trong chừng mực nào đó, là người tư vấn

 Lập kế hoạch quảng cáo:

Quảng cáo là công cụ giao tiếp nghe-nhìn thông qua các phương tiện thông tin đạichúng Quảng cáo nhằm tới công chúng, những người có ảnh hưởng, các nhà phânphối, các khách hàng công nghiệp.v.v… với mục đích là làm cho biết, làm cho thích,làm cho mua Việc lập kế hoạch quảng cáo nhấn mạnh hai bước: thống nhất về những

gì cần phải làm và lựa chọn đề xuất của công ty quảng cáo Khuôn khổ của một kếhoạch quảng cáo cần thể hiện được một số yếu tố chủ yếu sau đây:

Trang 31

+ Các thị trường mục tiêu: cần nhằm tới bởi các hành động quảng cáo, cần lưu ýrằng, mục tiêu thị trường của hàng động quảng cáo không nhất thiết phải trùng vớimục tiêu thị trường marketing.

+ Các mục tiêu quảng cáo: được thể hiện dưới dạng định lượng ( khối lượng bán,thị phần) hoặc dưới dạng định hình hình ảnh, sáng tạo, tiếng tăm) Chẳng hạn, để làmcho biết đến một sản phẩm, một nhãn hiệu, nhưng đặc tính của sản phẩm, giá trị sửdụng của nó, giá cả của sản phẩm; làm cho thích một sản phẩm, một nhãn hiệu, mộtdoanh nghiệp và làm cho họ hành động như kích thích họ đến xem sản phẩm, mua sảnphẩm, tác động đến hành vị của họ

+ Lựa chọn phương tiện quảng cáo: mỗi phương tiện quảng cáo có những ưuđiểm và nhược điểm riêng, và do vậy nó phù hợp với từng mục tiêu quảng cáo khácnhau Việc lựa chọn phương tiện phải tính đến các chi tiêu công chúng (lượng độc giả,khán thính giả của phương tiện) và công chúng hữu ích (lượng độc giả, khán thích giảthuộc khách hàng mục tiêu)

 Lập kế hoạch khuyến mại

Mục tiêu của các hành động khuyến mại là nhằm khích thích người tiêu dung muanhiều hơn hoặc khuyến khích người bán bán nhiều hơn., nhờ một số lợi ích đặc biệtđược hưởng ứng trong một thời hạn nhất định Do mục đích của hoạt động khuyến mại

là tăng tức thời doanh số bán và lợi nhuận nên hoạt động này chỉ được coi là hoạt độngbất thường (với thời hạn có thể kéo dài tới vài tháng), tuy nhiên, doanh nghiệp có thểxen kẽ các đợi khuyến mại theo thời gian

 Lập kế hoạch lực lượng bán hàng

Lực lượng bán hàng đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện các kếhoạch bán hàng của doanh nghiệp, nhất là đối với sản phẩm đặc thù, mang nhiều đặctính kỹ thuật Trước hết, doanh nghiệp xác định vị trí của lực lượng bán hàng trongviệc triển khai chiến lược trung gian, và sau đó xác định vai trò của lực lương bánhàng trong hành động thương mại trong ngắn hạn Do vậy, lập kế hoạch hàng năm củalực lượng bán hàng sẽ bao gồm hai thành phần: phát triển lực lượng bán hàng và cáchành động của lực lượng bán hàng

Phát triển lực lượng bán hàng dựa trên cơ sở triển khai kế hoạch trung hạn, và liênquan đến việc áp dụng một cơ cấu mới, một cách tổ chức mới Nó bao gồm việc xác

Trang 32

định nhiệm vụ và vai trò của lực lượng bán hàng, thiết kế một cơ cấu mới và xác địnhcác yếu tố để điều khiển cơ cấu này.

Sau khi đã lên kế hoạch bán hàng, doanh nghiệp có thể chi tiết hóa các nhiệm vụ

kế hoạch bằng kế hoạch hành động của lực lượng bán hàng Các hành động thươngmại của lực lượng bán hàng được thể hiện một cách tóm tắt trong kế hoạch marketinghàng năm, những hành động này sẽ được cụ thể hóa thông qua các mục tiêu, phươngtiện cũng như cách thức kiểm soát kết quả của lực lượng bán hàng

2.2.2 Lập kế hoạch nhân sự.

Một trong những hoạt động chủ yếu của quản trị nhân lực là lập kế hoạch nhân sự

và là một phần không thể thiếu của kế hoạch kinh doanh tổng thể của doanh nghiệp,lập kế hoạch nhân sự cho phép các nhà quản lý và bộ phận nhân sự dự báo các nhu cầutương lai về nhân sự của doanh nghiệp và khả năng cung ứng lao động Nếu doanhghiệp không thỏa mãn được nhu cầu nhân sự về số lượng và loại lao động, rất có thểcác mục tiêu chiên lược và tác nghiệp không đựợc thực hiện Lập kế hoạch nhân sựthường hướng vào trả lời các câu hỏi sau đây:

+ Chúng ta cần con người như thế nào và với số lượng là bao nhiêu?

Trong nền kinh tế thị trường, phương pháp lập kế hoạch tài chính thay đổi mộtcách căn bản Kế hoạch tài chính không còn là kế hoạch mang tính chỉ huy, cách thứclập kế hoạch tài chính, các thức huy động và sự dụng ngồn lực tài chính đều do doanhnghiệp tự quyết định Quản lý tài chính tốt sẽ giúp doanh nghiệp hoạt động có hiệuquả, ngước lại, có thể đưa doanh nghiệp đến phá sản

Trang 33

Kế hoạch tài chính được soạn lập trên các mục tiêu chiến lược từ các định hướngphát triển của doanh nghiệp, kết quả phân tích tài chính, các chính sách tài chính trong

kế hoạch chiến lược của doanh nghiệp, các chỉ tiêu kế hoạch phát triển doanh nghiệp

và hệ thống mức thuế hiện hành, lãi suất trên thị trường tài chính

Quy trình lập kế hoạch tài chính gồm các bước như sau

Bước 1: Phân tích tài chính được thực hiên trên những báo cáo tài chính cơ bảncủa doanh nghiệp như: bảng cân đối kế toán; báo cáo kết quả kinh doanh; báo cáo lưuchuyển tiền tệ

Bước 2: Lập kế hoạch tài chính dài hạn bao gồm kế hoạch tài trợ, kế hoạch đầu tư,

dự báo kết quả hoạt động kinh doanh, dự báo bảng cân đối kế toán

Bước 3: Lập kế hoạch tài chính tác nghiệp- đó là việc lập các ngân sách như lưuchuyển tiền tệ, các ngân sách hoạt động khác như: ngân sách bán hàng, ngân sách chiphí nguyên vật liệu, ngân sách chi phí lao động trực tiếp, ngân sách chi phí sản xuấtchung, ngân sách chi phí bán hàng và ngân sách quản lý

3 Sự cần thíết phải hoàn thiện công tác lập kế hoạch trong hoạt động kinh doanh.

Hoạt động lập kế họach là chức năng đầu tiên của quá trình quản lý, có vai trò rấtquan trọng trọng việc quyết định sự thành công của việc thực hiện kế hoạch Lập kếhoạch vừa gắn liền với lựa chọn mục tiêu và chương trình hành động trong tương lai,vừa giúp doanh nghiệp phòng và tránh những rủi ro có thể xảy ra Chất lượng của côngtác lập kế hoạch kinh doanh là điều kiện để đảm bảo quá trình kinh doanh của doanhnghiệp đạt hiệu quả cao Do đó hoàn hiện công tác lập kế hoạch là yêu cầu cần thiếtcủa mọi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh

4 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác lập kế hoạch kinh doanh.

Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác lập kế hoạch kinh doanh bao gồm:

Trang 34

- Thực hiện cung cấp thông tin có giá trị, chính xác cho các chuyên viên chức năngcác phòng ban cùng với các phòng ban phối hợp trong việc phân tích, đánh giá môitrường bên ngoài và môi trường bên trong của doanh nghiệp.

- Cùng với các nhà lãnh đạo và các nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà kế hoạchtham gia công tác dự đoán về tương lai của doanh nghiệp, tham gia vào soạn thảo phần

dự báo các chỉ tiêu kế hoạch thực hiện mục tiêu phát triển cuối cùng của doanh nghiệp

- Cán bộ kế hoạch doanh nghiệp thường thực hiện các hoạt động tư vấn về kỹthuật lập, quản lý, tổ chức thực hiện, theo dõi, kiểm tra, đánh giá kế hoạch cho cácphòng ban chức năng, tiến hành phổ biến những phương pháp kế hoạch hóa một cáchđúng đắn vầ cập nhật nhất

Vì vậy cán bộ lập kế hoạch đóng vai trò rất quan trọng trong quá tình lập kếhoạch Do đó để có bản kế hoạch hoàn thiện thì phải có nhà lập kế hoạch có nhận thứcđúng đắn và trình độ tốt

4.2.Cấp quản lý doanh nghiệp.

Giữa cấp quản lý trong một doanh nghiệp và các loại kế hoạch được lập ra có mốiquan hệ với nhau Cấp quản lý mà càng cao thì việc lập kế hoạch càng mang tính chiếnlược Các nhà quản lý cấp trung và cấp thấp thường lập các kế hoạch tác nghiệp

4.3 Chu kì kinh doanh của doanh nghiêp.

Mỗi chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp đều trải qua bốn giai đoạn là hình thành,tăng trưởng, chín muồi, và suy thoái.Với mỗi giai đoạn thì việc lập kế hoạch là khônggiống nhau.Qua các giai đoạn khác nhau thì độ dài và tính cụ thể của các kế hoạch làkhác nhau

- Trong giai đoạn hình thành (hay giai đoạn bắt đầu đi lên của chu kỳ kinh doanh)các nhà quản lý thường phải dựa vào kế hoạch định hướng Thời kỳ này các kế hoạchrất cần tới sự mềm dẻo và linh hoạt vì mục tiêu có tính chất thăm dò, nguồn lực chưađược xác định rõ, và thị trường chưa có gì chắc chắn Kế hoạch định hướng trong giaiđoạn này giúp cho những nhà quản lý nhanh chóng có những thay đổi khi cần thiết -Trong giai đoạn tăng trưởng, kế hoạch ngắn hạn được sử dụng nhiều và thiên về

cụ thể vì các mục tiêu được xác định rõ hơn, các nguồn lực đang được đưa vào và thịtrường cho đầu ra đang tiến triển

Trang 35

-Ở giai đoạn chín muồi, doanh nghiệp nên có các kế hoạch dài hạn và cụ thể vì ởgiai đoạn này tính ổn định và tính dự đoán được của doanh nghiệp là lớn nhất.

-Trong giai đoạn suy thoái, kế hoạch lại chuyển từ kế hoạch dài hạn sang kếhoạch ngắn hạn, từ kế hoạch cụ thể sang kế hoạch định hướng Cũng giống như giaiđoạn đầu, giai đoạn suy thoái cần tới sự mềm dẻo, linh hoạt vì các mục tiêu phải đượcxem xét và đánh giá lại, nguồn lực cũng được phân phối lại cùng với những điều chỉnhkhác

4.4 Tính không chắc chắn của môi trường kinh doanh.

Lập kế hoạch là quá trình chuẩn bị để đối phó với sự thay đổi và tình huống khôngchắc chắn của môi trường kinh doanh mà chủ yếu là các nhân tố trong môi trường nềnkinh tế và môi trường ngành Môi trường càng bất ổn định bao nhiêu thì kế hoạch càngmang tính định hướng và ngắn hạn bấy nhiêu Những doanh nghiệp hoạt động trongmôi trường tương đối ổn định thường có những kế hoạch dài hạn, tổng hợp và phứctạp, còn những doanh nghiệp hoạt động trong môi trường hay có sự thay đổi lại cónhững kế hoạch hướng ngoại và ngắn hạn Các nhà lập kế hoạch cần phải tính toán,phán đoán được sự tác động của môi trường kinh doanh, sự không chắc chắn của môitrường kinh doanh được thể hiện dưới ba hình thức sau:

- Tình trạng không chắc chắn: Xảy ra khi toàn bộ hay một phần của môi trườngkinh doanh được coi là không thể tiên đoán được

- Hậu quả không chắc chắn: Là trường hợp mặc dù đã cố gắng nhưng nhà quản lýkhông thể tiên đoán được những hậu quả do sự thay đổi của môi trường tác động đếncác doanh nghiệp, do vậy mà dẫn đến sự không chắc chắn

- Sự phản ứng không chắc chắn: Là tình trạng không thể tiên đoán được những hệquả của một quyết định cụ thể, sự phản ứng của doanh nghiệp đối với những biến độngcủa môi trường kinh doanh

Do đó công việc của các nhà lập kế hoạch là phải đánh giá tính chất và mức độkhông chắc chắn của môi trường kinh doanh để xác định giải pháp phản ứng củadoanh nghiệp và triển khai các kế hoạch thích hợp Với những lĩnh vực có mức độkhông chắc chắn thấp thì việc xây dựng kế hoạch là ít phức tạp , nhưng những lĩnh vực

có mức độ không chắc chắn cao thì đòi hỏi kế hoạch phải được xác định rất linh hoạt

4.5 Hệ thống thông tin.

Trang 36

Trong quá trình lập kế hoạch sản xuất kinh doanh thông tin sẽ giúp bộ phận lãnhđạo của doanh nghiệp có được các quyết định đúng đắn kịp thời

Trong nền kinh tế thị trường thì thông tin là quan trọng nhất, thông tin là cơ sở củacông tác lập kế hoạch Khi lập kế hoạch nhà quản lý cần dựa vào thông tin về cácnguồn nhân lực, tài lực, vật lực và mối quan hệ tối ưu giữa chúng, làm cho chúng thíchnghi với sự biến động của môi trường, giảm thiểu tính mù quáng của hoạt động kinh

tế, đảm bảo tạo ra khối lượng sản phẩm lớn nhất bằng chi phí nhỏ nhất Đồng thờitrong quá trình thực hiện kế hoạch thì chúng ta cũng cần phải dựa vào các thông tinphản hồi để có những điều chỉnh phù hợp

4.6 Nhân tố quản lý của nhà nước về kinh tế.

Đây là nhân tố có ảnh hưởng sâu sắc đến công tác lập kế hoạch sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Một hệ thống pháp luật và cơ chế quản lý phù hợp sẽ có tácdụng thúc đẩy hoạt động kế hoạch sản xuất phát triển, ngược lại thì nó sẽ kìm hãm sựphát triển của doanh nghiệp Thực tế trong những năm chuyển đổi cơ chế quản lý kinh

tế của Nhà nước ta đã cho thấy, càng đi sâu vào cơ chế thị trường thì càng phát sinhthêm nhiều vấn đề mới cần tiếp tục nghiên cứu giải quyết để hoàn thiện cơ chế quản lý

và kế hoạch hoá của Nhà nước Nhà nước cần phải tiếp tục giải quyết các tồn đọng,vướng mắc trong nhiều năm chuyển đổi để thực sự tạo quyền tự chủ cho doanh nghiệpnhưng vẫn đảm bảo được yêu cầu quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước

4.7 Nhân tố pháp luật, chính trị.

Nhân tố pháp luật, chính trị luôn là nguồn gốc quy định các yếu tố khác của môitrường hoạt động kinh doanh Hệ thống pháp luật, các chính sách, chế độ đồng bộ vàhoàn thiện sẽ tạo ra khuôn khổ pháp lý và giới hạn cho việc đảm bảo quyền tự chủtrong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp Một thể chế chính trị, một hệ thống phápluật rõ ràng sẽ tạo điều kiện thuận lợi, bình đẳng với các doanh nghiệp tham gia cạnhtranh, nó chi phối đến chính sách và kế hoạch của doanh nghiệp Trong quá trình lập

kế hoạch, các nhà kế hoạch phải lập kế hoạch trong khuân khổ pháp luật cho phép vàphù hợp với thể chế chính trị

Trang 37

Chương II: ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH KINH DOANH

TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI XI MĂNG.

I Khái quát chung về công ty cổ phần thương mại xi măng.

1 Lịch sử hình thành và phát triển.

Trang 38

Ngày 12 tháng 02 năm 1993 đánh dấu sự ra đời của xí nghiêp vật tư kỹ thuật ximăng - trực thuộc liên hiệp các xí nghiệp xi măng (nay là Tổng công ty công nghiệp ximăng Việt Nam) Xí nghiệp vật tư kỹ thuật xi măng là một doanh nghiệp nhà nước,vốn kinh doanh thuộc quyền sở hữu nhà nước Công ty có tư cách pháp nhân, hoạchtoán độc lập, ngành nghề kinh doanh chủ yếu là xi măng.

Ngày 30 tháng 09 năm 1993, Bộ xây dựng ra quyết định số 445/BXD-TCLD đổitên công ty thành Công ty vật tư kỹ thuật xi măng, trực thuộc Tổng công ty xi măngViệt Nam ( nay là Tổng công ty công nghiệp xi măng Việt Nam)

Ngày 02 tháng 07 năm 2007, Công ty thực hiện cổ phần hóa theo quyết định số775/QĐ-BXD ngày 25/12/2006 và số 803/QĐ-BXD của Bộ xây dựng Hình thức cổphần hóa của công ty được xác định như sau:

Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI XI MĂNG

Tên giao dịch: CEMENT TRADING JOINT STOCK COMPANY

Tên viết tắt:CEMENT.T.,JSC

Địa chỉ: Số 348 đường Giải Phóng, phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, HàNội

Hiện nay công ty có 1 chi nhánh và 4 văn phòng đại diện và 120 của hàng, đại lý.Các đơn vị này thực hiện nhiệm vụ bán xi măng cho khách hàng hoặc cung cấp chonhà phân phối cấp 2 Đây là đầu mối giao dịch quan trọng, là cầu nối giữa công ty và

hệ thống khách hàng và là cơ sở nghiên cứu tiềm năng của các đại bàn

Ngành nghề kinh doanh:

 Kinh doanh các loại xi măng, sản xuất và kinh doanh các loại phụ gia, vật liêuxây dựng và vật tư phục vụ sản xuất xi măng

Trang 39

 Sản xuất và kinh doanh bao bì (Phục vụ sản xuất kinh doanh xi măng, dân dụng

và công nghiệp)

 Sửa chữa ôtô xe máy, gia công cơ khí

 Kinh doanh vận tải và dịch vụ vận tải đường sông, biển, sắt và đường bộ

 Kinh doanh dịch vụ thể thao, vui chơi, giải trí.Xây dựng dân dụng, kinh doanhphát triển nhà và cho thuê bất động sản

 Kinh doanh thiết bị phụ tùng, vật tư, thiết bị, phụ gia, bao bì xi măng

2 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty từ năm 2005 đến năm 2009

Ta có bảng kết quả hoạt đông kinh doanh của công ty từ năm 2005 đến năm 2009:Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh của Cty CPTMXM giai đoạn 2005-2009

Doanh Thu(1tr.đ) 1.384.779 1.150.536 562.153 1.056.881 1.196.394Tốc độ tăng trưởng

Nhìn vào bảng 2.1 thấy doanh thu của công ty giảm dần từ năm 2005 đến năm

2007 và tăng dần từ năm 2007 đến năm 2009, cụ thể là doanh thu năm 2005 đạt1.384.997 (triệu đồng) giảm xuống 1.150.536 (triệu đồng) vào năm 2006 và đến năm

2007 chỉ còn 562.153 (triệu đồng), năm 2008 doanh thu tăng lên là 1.056.881 (triệuđồng) và năm 2009 là 1.196.394 (triệu đồng) Điều này được giải thích như sau: Năm

2006, sản lượng tiếp nhận và tiêu thụ XM giảm so với năm 2005 do tác động của yếu

tố thị trường, sự cạnh tranh nội bộ giữa các NPP trong nội bộ Tổng công ty côngnghiệp xi măng Việt Nam và tư tưởng của đội ngũ bán hàng bị dao động trong quátrình công ty tiến hành cổ phần hóa Đến năm 2007, Việt Nam gia nhập tổ chứcThương mại thế giới WTO làm mức độ cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt

và quyết liệt Đặc biệt là sự cạnh tranh nội bộ của các công ty thành viên trong cùngTổng công ty, một số nhà phân phối của các công ty sản xuất đã bán phá giá trên thị

Trang 40

trường làm ảnh hưởng lớn đến sản lượng tiêu thụ và hiệu quả kinh doanh của công ty.

Từ tháng 3 năm 2007, công ty bước vào thực hiện theo cơ chế mới, việc triển khai vàtiêu thụ của công ty tại các địa bàn còn chậm và thiếu tính ổn định, phải phụ thuộc vàoviệc ban hành giá và cơ chế khuyến mại của các công ty sản xuất theo từng thời điểm.Năm 2008, mặc dù nền kinh tế Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảngtài chính thế giới, song hoạt động kinh doanh của công ty đã dần đi vào ổn định saukhi cổ phần hóa, công tác tiêu thụ XM thường xuyên được kiểm tra làm cho doanh thucủa công ty tăng lên

Lợi nhuận sau thuế có xu hướng tăng qua các năm Cao nhất là năm 2005 với lợinhuận sau thuế đạt 11.096 (triệu đồng) và thấp nhất là năm 2006, lợi nhuận sau thuếcủa công ty là 2.627 (triệu đồng) Năm 2007, mắc dù doanh thu của công ty sụt giảm51.14% , nhưng lợi nhuận sau thuế vẫn tăng trưởng 34.26% so với năm 2006 Nguyênnhân là do: Năm 2007, công ty thực hiện cổ phần hóa, việc tinh giản bộ máy đã làmgiảm chi phí bán hàng và chi phí quản lý của công ty

3 Đặc điểm nguồn lực của công ty

3.1 Đặc điểm về lao động.

Hiện nay Cty CPTMXM có 272 cán bộ công nhân viên Cán bộ công nhân viêncủa công ty bao gồm các nhà quản lý, các nhân viên kỹ thuật, các nhân viên bánhàng…Ta có bảng cơ cấu lao động của công ty qua các năm:

Bảng 2.2: Cơ cấu lao động của Cty CPTMXM qua các năm

Chỉ tiêu 31/12/2006 31/12/2007 31/12/2008 31/12/2009

sốngười

Tỉlệ(%)

Sốngười

Tỉ lệ(%)

Sốngười

Tỉ lệ(%)

Sốngười

Tỉ lệ(%)

Giới tính

Nam 443 60.44 188 56.96 165 55.74 152 55.88

Ngày đăng: 21/07/2018, 17:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w