LỜI MỞ ĐẦU Sau hơn 20 năm đổi mới, đất nước ta đã giành được nhiều thành tựu trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Các thành phần kinh tế được Nhà nước chủ trương khuyến khích phát triển đồng đều, đặc biệt là khu vực ngoài quốc doanh; cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch đúng hướng; nhiều ngành kinh tế tiếp tục phát triển khá; thu nhập người dân đã được nâng lên hơn trước. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm là 7,9%. Năm 2009 vừa qua, tốc độ tăng trưởng đã đạt mức khá: 5,2%; trong khi các quốc gia khác trên thế giới tăng trưởng thấp hoặc âm. Có được những thành tựu đó là do sự tập trung cao độ tất cả nguồn lực toàn xã hội cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội. Trong đó, cần đặc biết quan tâm đến nguồn vốn đầu tư cho sự phát triển kinh tế. Tổng vốn đầu tư cho xã hội năm 2009 đạt khoảng 300.000 tỷ đồng. Đây là một con số khá lớn, thể hiện sự quyết tâm của Chính phủ trong việc thực hiện công nghiệp hoá hiên đại hoá đất nước. Tuy nhiên so với các nước cùng khu vực kinh tế Việt Nam vẫn thuộc loại trung bình, chưa thể so sánh với các nước như Thái Lan, Trung Quốc…Để có thể tiếp tục phát triển đúng theo định hướng đã chọn và đuổi kịp các nước trong khu vực, chúng ta cần huy một lượng động vốn lớn hơn nữa để đầu tư phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn của đât nước cũng như các lĩnh vực xã hội (y tế, giáo dục..). Nguồn vốn huy động này có thể có được từ nhiều kênh, trong đó hệ thống ngân hàng là một kênh huy động vốn hiệu quả của đất nước. Thông qua các ngân hàng với nghiệp vụ huy động và cho vay, nguồn vốn huy động từ dân cư và các tổ chức chuyển tới những ngành, những lĩnh vực đang cần vốn đầu tư. Có thể nói, hệ thống ngân hàng đã và đang làm rất tốt vai trò trung gian vốn của nền kinh tế, góp phần huy động và chu chuyển vốn nhàn rỗi trong xã hội cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Nhưng làm thế nào để các ngân hàng có thể huy động vốn có hiệu quả hơn từ dân cư và các tổ chức kinh tế? Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn vốn cũng như những khó khăn mà các ngân hàng hiện nay đang gặp phai trong quá trình huy động vốn, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại ngân hàng thưong mại cổ phần công thương chi nhánh Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên ” Chuyên đề gồm 3 phần: Chương 1: Hiệu quả huy động vốn tại Ngân Hàng Thương Mại Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại ngân hành thương mại cổ phần công thương chi nhánh Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên Chương 3: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương chi nhánh Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên Mặc dù đã rất cố gắng nhưng chuyên đề của em chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót. Em rất mong các thầy cô giáo nhiệt tình chỉ bảo, sửa chữa giúp chuyên đề của em hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quan tâm của Ban lãnh đạo và cán bộ ngân hàng thương mại cổ phần công thương chi nhánh Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này. Đỗ Khắc Nam
Trang 1MỤC LỤC
1.1.1.Một số hoạt động của ngân hàng thương mại 3
1.1.2.Các hình thức huy động vốn 6
Nguồn tiền được truyền tải đến ngân hàng theo nhiều kênh khác nhau, với các hình thức phân loại khác nhau 6
Khái niệm hiệu quả huy động vốn 9
Tiêu chí phản ánh hiệu quả huy động vốn 9
Nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả huy động vốn 11
Nhân tố khách quan 14
2.2.1 Hoạt động huy động vốn từ khách hàng cá nhân 19
Hoạt động huy động vốn của ngân hàng Công thương chi nhánh Mỹ Hào mặc dù đã đạt được những thành tựu đáng kể, song cũng không tránh khỏi những khó khăn gây cản trở cho hoạt động của mình 19
Bảng 1:Bảng tổng hợp huy động vốn của NHCT chi nhánh Mỹ Hào qua các năm 20
Đơn vị tính: Triệu đồng 20
Năm 21
2007 21
2008 21
2009 21
Chỉ tiêu 21
Tỷ trọng 21
Tỷ trọng 21
Tốc độ 21
tăng trưởng 21
Tỷ trọng 21
Tốc độ 21
tăng trưởng 21
Tổng vốn huy động 21
1.408.101 21
100% 21
1.439.456 21
100% 21
102,23 21
1.491.278 21
100% 21
103,6% 21
Phân theo loại tiền 21
VNĐ 21
1.058.058 21
75,14% 21
1.045.069 21
72,60% 21
98,77 21
1100399 21
47,19% 21
105,29% 21
USD 21
350.043 21
24,86% 21
384.357 21
26,70% 21
109,8 21
363.426 21
24,37% 21
94,55% 21
Trang 216.420 21
1,44% 21
163,71% 21
Phân theo tính chất nguồn vốn 21
Tiết kiệm 21
1.196.192 21
84,95% 21
1.197.886 21
83,22% 21
100,14 21
1.356.705 21
90,98% 21
113,26% 21
Trái phiếu 21
161.457 21
11,47% 21
157.471 21
10,94% 21
97,53 21
120.911 21
8,11% 21
76,78% 21
Kỳ phiếu 21
50.452 21
3,58% 21
84.099 21
5,84% 21
166,69 21
5.929 21
0,91% 21
7,05% 21
Phân theo thời gian 21
Không kỳ hạn 22
24.709 22
1,75% 22
8.012 22
0,56% 22
32,43 22
8.699 22
0,58% 22
108,57% 22
Ngắn hạn 22
827.602 22
58,78% 22
605.284 22
42,05% 22
73,14 22
719.416 22
48,24% 22
118,86% 22
Trung và dài hạn 22
555.790 22
39,47% 22
826.160 22
57,39% 22
148,65 22
763.163 22
Trang 351,18% 22 92,37% 22 2.2.2.Đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn thông qua các chỉ tiêu phản ánh 23
Để đánh giá được hiệu quả hoạt động huy động vốn thông qua chỉ tiêu này, ta phải tìm hiểu cơ cấu nguồn vốn huy động của ngân hàng Công thương chi nhánh Mỹ Hào trong những năm qua cũng như chi phí bỏ ra để huy động những nguồn vốn này 23 Nguồn vốn huy động của ngân hàng Công thương chi nhánh Mỹ Hào có sự tăng trưởng đáng kể song lại chỉ đạt tỷ lệ thấp trong những năm qua Năm 2007, tổng nguồn vốn huy động từ khách hàng cá nhân của ngân hàng đạt 1.408.101 triệu đồng, năm 2008 là 1.439.456 triệu đồng tăng 2,23 % so với năm 2007, năm 2009 tăng lên 1.483.545 triệu đồng, đạt 103,06 % so với năm 2008 Các hình thức huy động vốn của ngân hàng là nhận tiền gửi của các tổ chức kinh tế - xã hội, tiền gửi tiết kiệm của dân cư, ngoài ra ngân hàng còn huy động vốn thông qua việc phát hành kỳ phiếu và trái phiếu Trong tổng nguồn vốn huy động thì tiền gửi tiết kiệm của các tầng lớp dân cư luôn là nguồn vốn quan trọng Điều này đã tạo rất nhiều thuận lợi cho ngân hàng Công thương chi nhánh Mỹ Hào trong việc sử dụng vốn bởi vì đây là nguồn tiền gửi có tính ổn định cao nên thuận lợi cho ngân hàng trong việc sử dụng vốn vào các mục đích của mình 23 Nguồn vốn huy động tăng lên mà theo đó chi phí huy động vốn cũng gia tăng hàng năm Chi phí huy động vốn năm 2007 là 117384,4056 triệu đồng, năm 2008 là 192906.672 triệu đồng, tăng 64,33 % so với năm 2007 và năm 2009 là 153604,71 triệu đồng,bằng 79,63% so với năm 2008 23 Phân loại theo tính chất nguồn vốn cho thấy tiền gửi tiết kiệm là nguồn vốn lớn nhất trong tổng nguồn vốn huy động từ khách hàng cá nhân nên hàng năm chi phí cho tiền gửi tiết kiệm luôn chiếm trên 82% trong tổng chi phí cho huy động vốn từ khách hàng cá nhân Chi phí cho việc huy động vốn bằng kỳ phiếu và trái phiếu chỉ chiếm khoảng 18% trong tổng chi phí huy động vốn 24 Các ngân hàng thương mại nói chung và ngân hàng Công thương chi nhánh Mỹ Hào nói riêng, huy động vốn từ khách hàng cá nhân bằng loại tiền gửi không kỳ hạn đều nhằm mục đích đáp ứng các yêu cầu thanh toán cho họ Do vậy vốn huy động không kỳ hạn có quy mô nhỏ nên chi phí huy động vốn mà ngân hàng cần phải bỏ ra cho loại vốn này cũng không cao, chỉ chiếm khoảng từ 0,05 % cho đến 0,17 % trong tổng chi phí huy động từ năm 2007 – 2009 24 Chi phí huy động vốn của ngân hàng tập trung vào các chi phí phải trả cho tiền gửi ngắn hạn, trung hạn
và dài hạn Qua các năm, quy mô vốn huy động bằng 2 loại hình này có sự thay đổi nên chi phí của chúng cũng có sự tăng giảm qua các năm Tuy nhiên, sự biến động là không đáng kể vì tỷ trọng của 2 loại vốn này là từ 40 % cho đến 60% tương ứng cho cả quy mô và chi phí 24 Năm 2008 tổng số vốn huy động của ngân hàng là 1.439.456 triệu đồng và chi phí huy động vốn là 192906,672 triệu đồng đến năm 2009 tổng số vốn huy động của ngân hàng là 1.491.278 triệu đồng nhưng chi phí huy động vốn chỉ là 153604,71 triệu đồng.Vốn huy động tăng lên nhưng chi phí cho huy động vốn lại nhỏ đi là do lãi suất năm 2008 tăng cao,và đạt mức kỷ lục so với nhiều năm trở lại đây 24 Bảng 2: Bảng tổng hợp chi phí huy động của NHCT chi nhánh Mỹ Hào qua các năm 25 2.2.3.Những kết quả đạt được của hoạt động huy động vốn từ khách hàng cá nhân của ngân hàng Công thương chi nhánh Mỹ Hào 28 Ngân hàng Công thương Việt Nam là một đại gia về huy động tiền gửi, nhất là huy động bằng Việt Nam đồng, với 3 ưu thế sau: 28
- Ngân hàng Công thương Việt Nam có mạng lưới chi nhánh và quỹ tiết kiệm ở hầu hết các địa bàn tỉnh
và thành phố 28
- Ưu thế trong việc có số lượng khách hàng truyền thống là doanh nghiệp ở các khu vực thành thị, phục
vụ công thương nghiệp 28 Nằm trên tuyến quốc lộ 5,gần tiếp giáp với cả hai khu công nghiệp lớn của tỉnh Hưng Yên là khu công nghiệp Phố Nối và khu công nghiệp Như Quỳnh,gặp phải sự cạnh tranh quyết liệt của rất nhiều các ngân hàng có uy tính khác như ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam,chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam , ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương tín… hay một số ngân hàng khác nhưng ngân hàng thương mại cổ phần công thương chi nhánh Mỹ Hào vẫn là một trong nhưng ngân hàng có lượng vốn huy động được lớn nhất cũng như có lượng cho vay lớn nhất trong khu vực này 28 Chi nhánh Mỹ Hào cũng là nằm trong hệ thống ngân hàng Công thương Việt Nam nên cũng đã đạt được những thành tựu to lớn tuy nhiên cũng không tránh khỏi những khó khăn mà ngân hàng Công thương Việt Nam gặp phải 28 Công tác huy động vốn 28
Trang 4tuy vẫn có sự tăng trưởng nhưng không được lớn đủ đáp ứng nhu cầu vốn cho vay đối với các thành
phần kinh tế 28
- Cơ cấu vốn huy động tương đối phù hợp với nhu cầu sử dụng, tạo thuận lợi cho việc sử dụng vốn có hiệu quả, Nguồn vốn huy động trung và dài hạn qua các năm cũng đã có sự gia tăng 29
- Tiền gửi không kỳ hạn tăng lên nhờ việc thực hiện có hiệu quả chiến lược khách hàng, đa dạng hoá và nâng cao chất lượng dịch vụ nên số lượng khách hàng mở tài khoản tại chi nhánh không ngừng tăng lên Điều này đã một mặt tạo cơ hội tăng số dư, giảm lãi suất đầu vào, mặt khác giúp ngân hàng đa dạng hoá các dịch vụ liên quan đến huy động vốn 29
- Nguồn tiền gửi tiết kiệm của dân cư có tỷ trọng tương đối lớn đã tạo cho ngân hàng một nguồn vốn ổn định cho hoạt động của mình 29
- Thông qua việc tăng quy mô nguồn vốn huy động từ tiền gửi của khách hàng giúp ngân hàng giảm được việc sử dụng các nguồn vốn có chi phí cao như nguồn vốn đi vay của các tổ chức tín dụng khác 29
Thị phần của ngân hàng 29
Trên địa bàn quận huyện Mỹ Hào hiện nay, ngoài ngân hàng Công thương chi nhánh Mỹ Hào còn có các ngân hàng thương mại lớn như ngân hàng Đầu tư và phát triển, ngân hàng cổ phần ngoại thương Việt Nam, ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nônghay một số ngân hàng khác như ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín, ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam,ngân hàng Nam Việt cũng tham gia huy động vốn Sự cạnh tranh diễn ra giữa các ngân hàng trên địa bàn là chủ yếu Mỗi ngân hàng có lợi thế khác nhau và mục tiêu hoạt động kinh doanh khác nhau song vẫn có chung hoạt động huy động vốn nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động của mình 29
2.2.4.Hạn chế của hoạt động huy động vốn từ khách hàng cá nhân 29
Lãi suất huy động hay giá vốn đầu vào 29
Lãi suất tiền gửi của chi nhánh chưa hợp lý: Lãi suất thấp hơn so với các ngân hàng thương mại khác trong cùng địa bàn Điều này đã làm giảm lượng vốn huy động và đặc biệt tạo nên sức cạnh tranh kém so với các ngân hàng khác 30
Sự đa dạng của các sản phẩm 30
Việc đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, các lọai dịch vụ chưa phong phú, còn đơn điệu, phần lớn các hình thức là truyền thống, chưa thực hiện được dịch vụ chọn gói trong khi tốc độ phát triển nhanh chóng các hoạt động của ngân hàng điện tử, hệ thống thanh toán, rút tiền gửi tự động, đã ảnh hưởng đến khối lượng vốn huy động của ngân hàng 30
Công nghệ thông tin 30
Tuy đã có nhiều phát triển nhưng vấn đề hiên đại hóa công nghệ trong các hoạt động của ngân hàng vẫn cần được nâng cao để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho khách hàng 30
Chính sách khách hàng 30
Vấn đề ảnh hưởng đến thu hút nguồn vốn là công tác chăm sóc khách hàng, phải phân loại đối tượng khách hàng,phân tích được khả năng nguồn tiền gửi, tâm lý khách hàng, để có chính sách tiếp thị chăm sóc phù hợp, chu đáo 30
Hoạt động thông tin tiếp thị 30
Hoạt động này tại ngân hàng chưa thực sự đựơc quan tâm đúng mức, hiểu biết của người dân về ngân hàng còn có nhiều hạn chế, nhất là ở những địa bàn xa trung tâm huyện Một bộ phận dân cư không dám tiếp cận ngân hàng, họ chưa hiểu được hoạt động của một ngân hàng Mặt khác công tác tuyên truyền cũng chưa thật sự hiệu quả để giúp người dân có thể tin tưởng vào ngân hàng, có thể yên tâm gửi tiền của mình vào ngân hàng 30
Nguyên nhân hạn chế 31
Lãi suất tiền gửi 31
Môi trường kinh doanh trên từng địa bàn cụ thể, từng vùng miền có khác nhau , vì vậy tổng giám đốc đã yêu cầu giám đốc chi nhánh phải chủ động nắm bắt diễn biến trên thị trường, phản hồi thông tin kịp thời, điều hành lãi suất linh hoạt nhằm thu hút được tối đa khách hàng 31
Sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường tiền tệ 31
Một số ngân hàng đã học tập hình thức huy động tiết kiệm của ngân hàng Công thương đồng thời lại bổ sung thêm nhiều sản phẩm mới hấp dẫn như tiết kiệm tích luỹ, tiết kiệm bảo an, trả lãi bậc thang, đa dạng hơn, hấp dẫn hơn nên đã thu hút được nhiều tiền gửi hơn Do mở thưởng toàn hệ thống nên xảy ra tình trạng ở một số chi nhánh khác không có giải thưởng nào nên đã gây tâm lý kém hấp dẫn trong dân cư 31
Tiền gửi tiết kiệm 31
Bảng 3: Bảng cơ cấu nguồn vốn và chi phí huy động đối với tiền gửi tiết kiệm 31
Năm 32
Chỉ tiêu 32
Trang 52008 32
2009 32
Số tiền 32
Số tiền 32
Tăng,giảm so với 2007 (%) 32
Số tiền 32
Tăng,giảm 32
so với 2008 (%) 32
- Nguồn vốn huy động 33
1.408.101 33
1.439.456 33
2,23 33
1.483.454 33
3,06 33
Tiền gửi tiết kiệm 33
1.196.192 33
1.197.886 33
0,14 33
1.356.705 33
13,26 33
II – Chi phí huy động 33
117384,4056 33
192906.672 33
64.33 33
153604,71 33
-29,49 33
Tiền gửi tiết kiệm 33
100480,128 33
158120,592 33
57,36 33
138383,91 33
-14,26 33
Chỉ tiêu: Chi phí vốn huy động/quy mô vốn huy động 33
0,083363 33
0,134013 33
0,103545 33
Tiền gửi tiết kiệm 33
0,071358 33
0,109847 33
0,093284 33
Năm 2007, bình quân để huy động được một đồng vốn từ khách hàng ,ngân hàng phải bỏ ra 0,083363 triệu đồng chi phí, con số này tăng lên 0,134013 đồng năm 2008 (tăng 60,75% so với năm 2007) và năm 2009 phải bỏ ra 0,103545 đồng,con số này đã giảm 29,42 % so với năm 2008 Do tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn vốn huy động từ khách hàng cá nhân nên chắc chắn chi phí để huy động cho nguồn vốn đó cũng chiếm tỷ lệ trong trong toàn bộ chi phí huy động từ khách hàng cá nhân mà chi nhánh phải bỏ ra Chi phí huy động cho tiền gửi tiết kiệm cũng chiếm đến hơn 82% 34
Quy mô và chi phí huy động vốn bằng tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng đều có xu hương tăng nhanh Nhưng tốc độ tăng trong chi phí của huy động vốn lớn hơn tốc độ tăng của quy mô Do vậy, hiệu quả trong hình thức huy động vốn này cũng không được cao và không thể hiện rõ do tiền gửi tiết kiệm luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn huy động 34
Phát hành trái phiếu 34
Vốn huy dộng bằng trái phiếu đóng một vai trò quan trọng trong nguồn vốn của ngân hàng Bởi nguồn vốn huy động được từ hình thức này rất ổn định, có thời gian dài, không gây biến động mạnh mẽ tới hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng 34
Cơ cấu nguồn vốn và chi phí phát hành trái phiếu của ngân hàng thể hiện trong bảng sau: 34
Trang 6Chỉ tiêu 34
2007 34
2008 34
2009 34
Số tiền 34
Số tiền 34
Tăng,giảm so với 2007 (%) 34
Số tiền 34
Tăng,giảm so với 2008(%) 34
Nguồn vốn huy động 35
1.408.101 35
1.439.456 35
2,23 35
1.483.454 35
3,06 35
Trái phiếu 35
161.457 35
157.471 35
- 2,47 35
120.911 35
- 23,22 35
II – Chi phí huy động 35
117384,4056 35
192906.672 35
64,33 35
153604,71 35
-29,49 35
Trái phiếu 35
12787,3944 35
22675,824 35
77,33 35
14509,32 35
-56,28 35
Chỉ tiêu: Chi phí vốn huy động/quy mô vốn huy động 35
0,083363 35
0,134013 35
0,103545 35
Trái phiếu 35
0,009813 35
0,015753 35
0,009780 35
Ngân hàng Công thương chi nhánh Mỹ Hào tiến hành huy động bằng trái phiếu dựa trên quyết định huy động vốn bằng trái phiếu của Hội sở chính ngân hàng Công thương Việt Nam 36
Qua bảng trên ta thấy, tổng nguồn vốn huy động qua các năm có tăng lên nhưng khối lượng vốn huy động từ trái phiếu lại có xu hướng giảm xuống Năm 2007, khối lượng vốn huy động được từ trái phiếu là 161.457 triệu đồng chiếm 11,47 % trong tổng nguồn vốn, khối lượng này được giảm đi 3.986 triệu đồng vào năm 2008 và đặc biệt vào năm 2009, khối lượng vốn huy động từ trái phiếu chỉ còn 120.911 triệu đồng trên tổng nguồn vốn là 1.491.278 triệu đồng, giảm đến 23,22 % so với năm 2008 36
Khi lượng vốn huy động bằng trái phiếu giảm thì chi phí để huy động cho số vốn đó cũng giảm.Năm 2007 để huy động 1 đồng bằng trái phiếu ngân hàng cần bỏ ra 0,009813 đồng sang đến năm 2008 dể huy động một đồng bằng trái phiếu ngân hàng cần bỏ ra 0,015753 tăng 60,53 % so với năm 2007.Sang đến năm 2009 ngân hang se phải bỏ ra 0,009780 đồng để huy động được một đồng vốn 61,07 % so với năm 2008 36
Phát hành kỳ phiếu 36
Đây cũng là hình thức huy động vốn chủ yếu của ngân hàng Kỳ phiếu ngân hàng là một giấy nhận nợ do ngân hàng phát hành nhằm huy động vốn trong dân cư, đáp ứng nhu cầu đàu tư cho sản xuất và các nhu cầu khác 36
Trang 7Điểm khác biệt giữa kỳ phiếu ngân hàng và tiền gửi tiết kiệm là nó rất linh hoạt Tuỳ tinh hình nguồn vốn của mình mà ngân hàng có thể phát hành kỳ phiếu để thu được một lượng vốn nhất định trong thời gian ngắn Chính vì vậy, do những nhu cầu của từng thời kỳ kinh doanh khác nhau mà tình hình huy động vốn của ngân hàng có những biến động khác nhau Cũng như trái phiếu, chi nhánh Mỹ Hào huy động vốn bằng kỳ phiếu cũng dựa trên các quyết định về lãi suất cũng như thời gian huy động vốn của ngân hàng
Công thương Việt Nam 36
Bảng 5: Cơ cấu nguồn vốn và chi phí huy động đối với phát hành kỳ phiếu 37
Đơn vị tính:Triệu đồng 37
Năm 37
Chỉ tiêu 37
2007 37
2008 37
2009 37
Số tiền 37
Số tiền 37
Tăng,giảm so với 2007 (%) 37
Số tiền 37
Tăng,giảm so với 2008 (%) 37
I - Nguồn vốn huy động 38
1.408.101 38
1.439.456 38
2,23 38
1.483.454 38
3,06 38
Kỳ phiếu 38
50.452 38
84.099 38
66,69 38
5.929 38
- 92,95 38
II – Chi phí huy động 38
117384,4056 38
192906.672 38
64,33 38
153604,71 38
-29,49 38
Kỳ phiếu 38
4116,8832 38
12110,256 38
194,16 38
711,48 38
Chỉ tiêu: Chi phí vốn huy động/quy mô vốn huy động 38
0,083363 38
0,134013 38
0,103545 38
Kỳ phiếu 38
0,002923 38
0,008413 38
0,000479 38
Năm 2007 và 2008 nguồn vốn huy động thông qua phát hành kỳ phiếu của chi nhánh chiểm tỷ trọng không cao trong tổng vốn huy động (năm 2007 là 3,58% và năm 2008 là 5,84%) Tuy nhiên, năm 2009 lại có sự giảm sút đáng kể Tỷ lệ vốn huy động thông qua kỳ phiếu của năm này giảm 92,95% so với năm trước và chỉ chiếm 0,91% trong tổng nguồn vốn huy động 39 Tuy nhiên, néu xét đến chỉ tiêu chi phí huy động vốn/ quy mô vốn huy động thì huy động vốn bằng kỳ phiếu lại có xu hướng tăng lên Tỷ lệ này cao nhất là vào năm 2008, ngân hàng đã phải bỏ ra đến 0,008413 đồng để huy động một đồng vốn bằng kỳ phiếu Sự gia tăng này là do có sự tăng mạnh trong
Trang 8Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
Như vậy, qua phân tích trên đây cho thấy hoạt động huy động vốn của ngân hàng Công thương chi nhánh Mỹ Hào chưa hiệu quả bởi vì quy mô vốn huy động và chi phí để huy động vốn phải bỏ ra là lớn,
chưa tương xúng, hợp lý nên đem lại hiệu quả chưa cao 39
Ngân hàng Công thương chi nhánh Mỹ Hào trong những năm qua đã thực hiện đầy đủ các hình thực huy động vốn mà Ngân hàng Công thương Việt Nam quy định Bao gồm các hình thức huy động vốn truyền thống cũng như các hình thức huy động mới như tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm theo lãi suất bậc thang,
42
Khối lượng vốn huy động trong năm qua từ khách hàng cá nhân bằng các hình thức huy động vốn truyền thống và tiết kiệm dự thưởng cũng có những biến động đáng kể 42
Ta có bảng sau: 42
Bảng 10: Cơ cấu vốn đối với tiền gửi tiết kiệm 42
Đơn vị tính: Triệu đồng 42
2003 42
2004 42
2005 42
Số tiền 43
Tỷ trọng 43
Số tiền 43
Tỷ trọng 43
Số tiền 43
Tỷ trọng 43
Tổng nguồn vốn huy động tiết kiệm 43
1.196.192 43
100% 43
1.197.886 43
100% 43
1.356.705 43
100% 43
Tiết kiệm truyền thống 43
1.080.891 43
90,36% 43
1.098.684 43
91,72% 43
1.330.761 43
98,09% 43
Tiết kiệm dự thưởng 43
115.301 43
9,64% 43
99.202 43
8,28% 43
25.944 43
0,19% 43
Trong 3 năm qua tổng vốn huy động tiết kiệm của chi nhánh tăng lên nhưng khối lượng tăng không đáng kể Trong đó, tiết kiệm truyền thống chiểm một tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn đó Năm 2007, vốn huy động từ tiết kiệm truyền thống lá 1.080.891/ 1.196.192 triệu đồng, chiếm 90,36%, đến năm 2008, lượng vốn này tăng thêm 17.793 tỷ đồng, đặc biệt trong năm 2009 lượng vốn huy động từ tiết kiệm truyền thống đạt đến 1.330.761 triệu đồng, chiếm 97,44% Như vậy khối lượng vốn huy động truyền thống tăng cao qua các năm theo số liệu trên thể hiện sự ổn định, gia tăng khối lượng vốn huy động và ưu thế trong huy động vốn của hình thức này 43
CHƯƠNG 3 44
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH MỸ HÀO 44
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH MỸ HÀO 44 3.2.MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TỪ KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH MỸ HÀO 45 3.2.1.Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn 45
3.2.2.Sử dụng linh hoạt lãi suất như công cụ để tăng cường quy mô, điều chỉnh cơ cấu vốn 46
Trang 93.2.3.Nghiên cứu và đưa ra các hình thức huy động vốn mới 47
3.2.4.Phát triển đa dạng các hình thức dịch vụ liên quan đến huy động vốn 47
3.2.5.Củng cố, nâng cao uy tín, tạo lòng tin đối với khách hàng 48
3.2.7.Tăng cường đào tạo, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ 49
- Xây dựng chế độ khen thưởng phù hợp, thực hiện chế độ khuyến khích cả về mặt chất và tinh thần, phát động phong trào thi đua cán bộ giỏi nhằm kích thích các hoạt động tích cực trong công tác huy động vốn 50
3.2.8.Đổi mới công nghệ 50
3.3.1.Kiến nghị đối với Chính phủ 50
3.3.2.Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 51
- Ngân hàng Nhà nước nên tạo điều kiện để các ngân hàng thương mại hợp tác và cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng, nhất là giữa các ngân hàng thương mại quốc doanh và ngân hàng thương mại cổ phần 52
3.3.3.Kiến nghị đối với Ngân hàng Công thương Việt Nam 52
3.3.4.Kiến nghị đối với Ngân hàng Công thương chi nhánh Mỹ Hào 53
KẾT LUẬN 55
Huy động vốn phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước là biện pháp rất quan trọng góp phần quyết định cho sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta Nó đòi hỏi hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung và các ngân hàng thương mại nói riêng phải không ngừng đổi mới về hoạt động, đưa ra các giải pháp và biện pháp thích hợp với các vùng kinh tế, từng khu vực nhằm huy động tối đa nguồn vốn trong nước nhằm phát huy nội lực kinh tế, góp phần ổn định và thúc đẩy nền kinh tế phát triển, cải thiện phúc lợi xã hội, nâng cao đời sống nhân dân Bên cạnh đó Nhà nước, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước phải có những biện pháp, chính sách hỗ trợ cho hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại tạo điều kiện để hệ thống ngân hàng phát triển 55
Ngân hàng Công thương Việt Nam chi nhánh Mỹ Hào trong những năm qua đã không ngừng đổi mới kinh doanh phù hợp với nền kinh tế thị trường và đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước Đặc biệt trong hoạt động huy động vốn, ngân hàng Công thương chi nhánh Mỹ Hào đã đưa ra những biện pháp tích cực nhằm huy động tối đa nguồn vốn huy động trong dân cư Trong những năm vừa qua số lượng và quy mô các nguồn vốn huy động được năm sau bao giờ cũng cao hơn năm trước, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế địa phương, tạo công ăn việc làm cho nhân dân, góp phần nâng cao đời sống 55
Vì sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, dưới ánh sáng nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, ngân hàng công thương Việt Nam nói chung và chi nhánh Mỹ Hào nói riêng quyết tâm đua hoạt động ngân hàng có bước chuyển biến mạnh mẽ hơn, cơ bản hơn, làm tròn trách nhiệm chủ lực và chủ đạo trong hoạt động cấp tín dụng 55
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
Sau hơn 20 năm đổi mới, đất nước ta đã giành được nhiều thành tựu trong
sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa Các thành phần kinh tế được Nhà nước chủ trương khuyến khích phát triển đồng đều, đặc biệt là khu vực ngoài quốc doanh; cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch đúng hướng; nhiều ngành kinh tế tiếp tục phát triển khá; thu nhập người dân đã được nâng lên hơn trước Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm là 7,9% Năm
2009 vừa qua, tốc độ tăng trưởng đã đạt mức khá: 5,2%; trong khi các quốc gia khác trên thế giới tăng trưởng thấp hoặc âm Có được những thành tựu đó là do sự tập trung cao độ tất cả nguồn lực toàn xã hội cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội Trong đó, cần đặc biết quan tâm đến nguồn vốn đầu tư cho sự phát triển kinh
tế Tổng vốn đầu tư cho xã hội năm 2009 đạt khoảng 300.000 tỷ đồng Đây là một con số khá lớn, thể hiện sự quyết tâm của Chính phủ trong việc thực hiện công nghiệp hoá hiên đại hoá đất nước Tuy nhiên so với các nước cùng khu vực kinh tế Việt Nam vẫn thuộc loại trung bình, chưa thể so sánh với các nước như Thái Lan, Trung Quốc…Để có thể tiếp tục phát triển đúng theo định hướng đã chọn và đuổi kịp các nước trong khu vực, chúng ta cần huy một lượng động vốn lớn hơn nữa để đầu tư phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn của đât nước cũng như các lĩnh vực
xã hội (y tế, giáo dục ) Nguồn vốn huy động này có thể có được từ nhiều kênh, trong đó hệ thống ngân hàng là một kênh huy động vốn hiệu quả của đất nước Thông qua các ngân hàng với nghiệp vụ huy động và cho vay, nguồn vốn huy động từ dân cư và các tổ chức chuyển tới những ngành, những lĩnh vực đang cần vốn đầu tư Có thể nói, hệ thống ngân hàng đã và đang làm rất tốt vai trò trung gian vốn của nền kinh tế, góp phần huy động và chu chuyển vốn nhàn rỗi trong xã hội cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Nhưng làm thế nào để các ngân hàng có thể huy động vốn có hiệu quả hơn từ dân cư và các tổ chức kinh tế?
Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn vốn cũng như những khó khăn
mà các ngnâ hàng hiện nay đang gặp phai trong quá trình huy động vốn, tôi mạnh
Trang 11dạn chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại ngân hàng thưong mại cổ phần công thương chi nhánh Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên ”
Chuyên đề gồm 3 phần:
Chương 1: Hiệu quả huy động vốn tại Ngân Hàng Thương Mại
Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại ngân hành thương mại cổ
phần công thương chi nhánh Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên Chương 3: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương chi nhánh Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng chuyên đề của em chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót Em rất mong các thầy cô giáo nhiệt tình chỉ bảo, sửa chữa giúp chuyên
đề của em hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quan tâm của Ban lãnh đạo và cán bộ ngân hàng thương mại cổ phần công thương chi nhánh Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.
Đỗ Khắc Nam
Trang 12CHƯƠNG 1 HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Hoạt động huy động vốn tại ngân hàng thương mại
1.1.1.Một số hoạt động của ngân hàng thương mại
NHTM là một định chế tài chính mà hoạt động thờng xuyên và chủ yếu
là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu
và làm phuong tiện thanh toán Cơ sở của sự xuất hiện các Ngân hàng chính là sự phát triển của sản xuất và lưu thông hành hoá Đến lượt mình, các Ngân hàng lại tạo ra tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Đó là mối quan hệ nhân quả mà trong đó sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá là điểm khởi đầu.Một ngân hàng thương mại thường có một số hoạt động sau:
Nguồn vốn ngân hàng huy động được sử dụng để tiến hành cho vay phục
vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất, phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế của địa phương và của cả nước Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng ngày càng mở rộng và phát triển sẽ càng tạo uy tín và tiền đề cho ngân hàng trong mở rộng quan
hệ tín dụng với các thành phần kinh tế từ đó mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
Do đó, ngân hàng phải căn cứ vào các chiến lược phát triển của địa phương cũng như của cả nước để đưa ra các chính sách huy động vốn thích hợp nhất đáp ứng nhu cầu vốn cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Nguồn vốn của một ngân hàng thương mại nằm bên phải bảng cân đối kế toán bao gồm các khoản mục sau:
Vốn chủ sở hữu
Đây là loại vốn ngân hàng mà ngân hàng cần phải có để có thể hoạt động ban đầu và được pháp luật cho phép Vốn này có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng Tuỳ theo tính chất của mỗi
Trang 13ngân hàng mà nguồn gốc hình thành vốn ban đầu khác nhau.Tuy nhiên trong quá trình hoạt động, ngân hàng cũng gia tăng vốn của chủ thêo nhiều phương thức khác nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể
Vốn huy động
Vốn huy động có vai trò đáng kể trong khoản mục nguồn vốn của bảng cân đối kế toán của ngân hàng Vốn huy động là vốn mà ngân hàng cần phải dự trữ bắt buộc theo tỷ lệ quy định của nhà nước, tuy nhiên lại đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Vốn huy động được chuyển đến ngân hàng thông qua các kênh khác nhau dưới nhiều hình thức khác nhau Lãi suất của vốn huy động phụ thuộc vào lãi suất trên thị trường cũng như các quyết định về lãi suất huy động của từng ngân hàng.
Vốn vay
Trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng, nguồn vốn vay nợ là khoản mục lớn thứ hai bên tài sản nợ sau nguồn vốn huy động Đối với nguồn vốn này, ngân hàng không bị đòi hỏi về dự trữ bắt buộc Tuy nhiên một trở ngại lớn đối với nguồn vốn này là chi phí vốn - lãi suất - của các khoản vay này thường cao và thường dao động với biên độ lớn phụ thuộc vào tình trạng tài chính của ngân hàng xin vay.
Các nguồn vốn sau huy động sẽ được ngân hàng thương mại phân bổ sử dụng vào các mục tiêu khác nhau Nguyên tắc hoạt động của ngân hàng là dự trữ một phần dưới dạng tiền, phần còn lại được sử dụng vào các nghiệp vụ sinh lời nhằm tạo ra thu nhập để bù đắp chi phí hoạt động và có lãi Các nghiệp vụ sử dụng vốn rất phong phú với nhiều hình thức khác nhau Tuy nhiên, có thể chia làm 3 nhóm chính sau:
Trang 14 Nghiệp vụ chiết khấu
Là nghiệp vụ trong đó ngân hàng thực hiện việc mua lại các giấy tờ có giá với mục đích hưởng một mức lợi tức – thường gọi là lợi tức chiết khấu – tương xứng với chi phí vốn và rủi ro mà ngân hàng phải đảm nhận khi sở hữu các giấy tờ
có giá đó Các giấy tờ thường được ngân hàng chiết khấu là thương phiếu, các giấy nợ như trái khoán hay hối phiếu chấp nhận thanh toán Sau khi chiết khấu, ngân hàng có thể giữ tài sản này tới lúc mãn hạn hoặc tiến hành tái chiết khấu hay bán lại trên thị trường tiền tệ.
Nghiệp vụ đầu tư
Nghiệp vụ trong đó ngân hàng tiến hành mua các chứng khoán với mục đích thu lợi từ việc sở hữu các chứng khoán này Lợi tức bao gồm lãi của chứng khoán do nhà phát hành đưa ra và lợi nhuận mà ngân hàng thu được khi bán lại chứng khoán với giá cao hơn giá mua vào Nghiệp vụ đầu tư thường được chia thành hai nhóm: Đầu tư với mục đích thanh khoản và đầu tư với mục đích lợi nhuận.
Nghiệp vụ cho vay
Cho vay là một chức năng, một nhiệm vụ cơ bản nhất của hệ thống ngân hàng thương mại Về bản chất, với nghiệp vụ này ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng đối với một lượng vốn nhất định của mình cho một bên thứ hai để đổi lấy thu nhập về lãi Đối với ngân hàng, cho vay là nghiệp vụ mang lại lợi nhuận chủ yếu,
là nguồn thu nhập chính bù đắp các chi phí trong hoạt động của ngân hàng
Chứng khoán hoá tài sản
Là nghiệp vụ trong đó ngân hàng thực hiện phát hành chứng khoán đối với những nhóm tài sản nhất định – bao gồm phần lớn là các khoản nợ Nghiệp vụ này mang lại cho ngân hàng các khoản thu về phí dịch vụ như dịch vụ quản lý, giám
Trang 15sát, thu nợ, đồng thời nó cũng cho phép ngân hàng có thể đẩy nhanh tốc độ quay vòng tín dụng.
Bán nợ
Là nghiệp vụ ngân hàng tiến hành bán quyền sở hữu về thu nhập hoặc bán quyền sở hữu hoàn toàn đối với các khoản vay của mình Nghiệp vụ này là một phương pháp phổ biến của các ngân hàng trong việc giải quyết các khoản nợ khó đòi, cho phép ngân hàng có thể nhanh chóng thu hồi một phần trị giá khoản cho vay khó đòi.
Bảo lãnh
Với nghiệp vụ này, ngân hàng đứng ra bảo lãnh về một khả năng nào đó khả năng thanh toán - của bên được bảo lãnh và cam kết tiến hành thực hiện hoặc bồi thường nếu bên bảo lãnh không thực hiện được khả năng nêu ra Nghiệp vụ này tạo điều kiện cho ngân hàng có thể tận dụng một cách triệt để khả năng đánh giá, phân tích tài chính của mình trong nỗ lực tối đa hoá lợi nhuận thu về.
-1.1.2.Các hình thức huy động vốn
Nguồn tiền được truyền tải đến ngân hàng theo nhiều kênh khác nhau, với các hình thức phân loại khác nhau.
• Phân loại theo đối tượng khách hàng
Khách hàng là nhân tố quan trọng trong hoạt động của ngân hàng Tuy nhiên lại bao gồm nhiều đối tượng khách nhau, rất đa dạng Đối với hoạt động huy động vốn, dựa theo đối tượng khách hàng thì hoạt động huy động vốn của ngân hàng được chia thành các hình thức sau:
Tiền gửi của cá nhân
Khách hàng cá nhân chiếm phần lớn đa số trong đối tượng hoạt động của ngân hàng Với mục đích gửi tiền chủ yếu là tiết kiệm, bảo quản, đem lại khả năng
Trang 16sinh lời cho mình thì khách hàng cá nhân đã đếm lại một lượng vốn huy động đáng kể cho ngân hàng với số tiền nhãn rỗi của mình
Tiền gửi của doanh nghiệp
Trong hoạt động huy động vốn của ngân hàng, lượng vốn huy động từ khách hàng là doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác cũng chiếm phần lớn.
Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác
Trên thực tế tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác là vốn vay của ngân hàng thương mại đối với các tổ chức đó nhằm tạo khả năng thanh toán cho ngân hàng Tuy nhiên trong một số trường hợp, với những ngân hàng có một lượng vốn huy động lớn có thể đem gửi tại các ngân hàng khác nhằm mục đích hưởng một phần lãi hoặc được hưởng lãi điều hoà từ hội sở chính của các ngân hàng đó
• Phân loại theo mục đích huy động
Nếu phân loại theo mục đích huy động thì bao gồm các hình thức sau:
Tiền gửi thanh toán
Đây là tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ Trong phạm vi số dư cho phép, ngân hàng sẽ đáp ứng nhu cầu thanh toán cho khách hàng khi họ có yêu cầu
Tiền gửi có kỳ hạn
Nguồn vốn này thường có kỳ hạn xác định trước với một lãi suất cao hơn so với lãi suất của tiền gửi thanh toán Có thể nói đây là nguồn vốn có chi phí cao nhất của ngân hàng, các khoản cho vay của ngân hàng chủ yếu được tài trợ bằng nguồn vốn này.
Tiền gửi tiết kiệm
Các tầng lớp dân cư đều có khoản tiền nhàn rỗi, khoản thu nhập chưa sử dụng đến Trong điều kiện có thể tiếp cận ngân hàng, họ đều có thể gửi tiết kiệm
Trang 17nhằm thực hiện các mục tiêu bảo toàn và sinh lời Do lượng tiền nhàn rỗi này của dân cư được gửi với thời gian cố định nên đây là lượng vốn chủ yếu cho ngân hàng sử dụng trong hoạt động kinh doanh của mình.
Phát hành các giấy tờ có giá
Các giấy tờ có giá là công cụ Nợ do ngân hàng phát hành để huy động vốn trên thị trường Lãi suất của loại này phụ thuộc vào sự cấp thiết của việc huy động vốn nên thường cao hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn thông thường.Các giấy tờ có giá do ngân hàng thương mại phát hàng bao gồm kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi có mệnh giá.
Tiền gửi ngắn hạn
Đây là nguồn vốn ngân hàng huy động trong khoảng thời gian ngắn hạn
và thường xác định là từ 0 cho đến 12 tháng.
Tiền gửi trung và dài hạn
Là vốn mà ngân hàng huy động nguồn vốn trung và dài hạn với thời gian
từ 12 tháng trở lên Đây là nguồn vốn ổn định được ngân hàng sử dụng với mục đích đầu tư mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
Trang 18• Phân loại theo loại tiền
Vốn huy động bằng VNĐ
Ngân hàng huy động vốn bằng VNĐ thông qua tất cả các hình thức huy động vốn khác nhau với các mục đích sử dụng khác nhau Trong nguồn vốn ngân hàng huy động được thì nguồn vốn huy động bằng VNĐ chiếm tỷ trọng cao, đáp ứng các nhu cầu về sử dụng vốn của ngân hàng.
Vốn huy động bằng ngoại tệ
Ngoài huy động vốn bằng VNĐ, ngân hàng cũng tiến hành huy động vốn bằng ngoại tệ Số vốn huy động bằng ngoại tệ quy ra VNĐ cũng chiếm tỷ lệ lớn trong hoạt động của ngân hàng Mục đích huy động vốn bằng ngoại tệ của ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán quốc tế cũng như các hoạt động kinh doanh ngoại tệ của khách hàng cũng như ngân hàng.
1.1.3.Khái quát về hiệu quả huy động vốn
Hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra Khi so sánh giữa kết quả và chi phí thì cần phải so sánh dưới dạng thương số, hoặc kết quả/ chi phí hoặc chi phí/ kết quả Mỗi cách so sánh đó đều cung cấp các thông tin có ý nghĩa khác nhau Đặc biệt không thể tính kết quả bằng cách lấy kết quả - chi phí vì như vậy chỉ cho ra một chỉ tiêu kết quả chứ không phải chỉ tiêu kết quả.
Như vậy, hiệu quả huy động vốn được thể hiện ở khả năng đáp ứng cao nhất nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng Đó chính là sự đáp ứng kịp thời, đầy
đủ, nhu cầu sử dụng vốn với chi phí hợp lý.
Ngân hàng huy động vốn bằng nhiều hình thức khác nhau Mỗi cách thức huy động vốn đem lại cho ngân hàng thương mại một nguồn vốn có tính chất khác nhau, với chi phí khác nhau Để đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn của
Trang 19một ngân hàng thương mại ta cần dựa vào các chỉ tiêu cụ thể Mỗi chỉ tiêu nêu lên một mặt của hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại Sau đây là một
số chỉ tiêu:
Quy mô vốn huy động / chi phí vốn huy động
Chi phí huy động vốn của ngân hàng bao gồm chi phí trả lãi và chi phí phi trả lãi Trong tổng số chi phí vốn huy động thì chi phí trả lãi là chủ yếu Ngoài ra còn có các chi phí khác như: Chi phí bảo hiểm tiền gửi, chi phí quản lý, dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán, chi phí cho hoạt động marketing, quảng cáo để thu hút khách hàng gửi tiền, chi phí để mở các quỹ tiết kiệm, chi phí mua máy móc thiết bị và các chi phí khác liên quan đến hoạt động Chỉ tiêu chi phí huy động vốn/ tổng vốn huy động được chia nhỏ ra lam hai chỉ tiêu khác Đó là:
Chi phí trả lãi/ tổng vốn huy động cho thấy để huy động được một đồng
vốn thì ngân hàng cần phải trả bao nhiêu tiền dựa trên lãi suất công bố cho khách hàng.
Chi phí phi trả lãi/ tổng vốn huy động cho thấy một đồng vốn huy động
được ngân hàng bỏ ra chi phí là bao nhiêu cho việc quản lý, cất giữ, bảo quản,
Tóm lại chi phí huy động vốn/ tổng vốn huy động được dùng để đánh giá xem một đồng vốn ngân hàng huy động được cần phải bỏ ra bao nhiêu chi phí.
Như vậy, khi xem xét hiệu quả huy động vốn, chi phí cho một đồng vốn phải hợp lý, đảm bảo các khoản thu nhập có thể bù đắp được chi phí này và có lợi nhuận cho ngân hàng Chỉ tiêu này càng thấp thì huy động vốn càng có hiệu quả
Chênh lệch thu chi lãi / chi phí trả lãi của ngân hàng
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Chênh lệch thu chi lãi
= Thu lãi – Chi lãi
Trang 20Chỉ tiêu này cho thấy một đồng chi phí ngân hàng bỏ ra để huy động vốn sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận từ đồng vốn đó Chỉ tiêu này càng cao thì cho thấy ngân hàng đã sử dụng rất hiệu quả đồng vốn huy động của mình trong việc tối thiểu hóa chi phí huy động cho đồng vốn đó Chỉ tiêu này cao do chênh lệch thu chi lãi trước thu, chi khác cao và chi phí trả lãi nhỏ Chỉ tiêu chênh lệch thu, chi lãi/ chi phí trả lãi cao cũng có thể do chí phí tăng và thu nhập trước thu nhập khác và chi khác giảm, tuy nhiên tốc độ tăng của chi phí chậm hơn tốc độ giảm của thu nhập đó.
Một hình thức huy động vốn được đánh giá là tốt ngoài những yếu tố như đáp ứng nhu cầu với chi phí thấp cần phải có sự ổn định, tức là không có sự thay đổi đột ngột trong thời gian sử dụng nguồn vốn đó của ngân hàng.
Thông thường các nguồn vốn huy động đều có thể dự tính được trước thời gian sử dụng như tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm,
Vốn huy động phải có sự tăng trưởng ổn định về mặt số lượng để thoả mãn nhu cầu tín dụng cũng như nhu cầu của các hoạt động khác Mặt khác vốn huy động đó cung cần phải có sự ổn định về thời gian Chẳng hạn như nếu ngân hàng huy động được một nguồn vốn lớn đáp ứng được yêu cầu tín dụng nhưng lại không đánh giá được khả năng ổn định của nguồn vốn đó sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng, tạo cho ngân hàng những rủi ro khó lường trước được Chỉ tiêu này được đánh giá qua mức độ tăng giảm vốn huy động Nếu vốn huy động tăng đều qua các năm, có tốc độ gia tăng ổn định, đều đặn thì vốn đó được coi là có hiệu quả trong việc huy động.
Hiệu quả trong hoạt động huy động vốn của ngân hàng được đánh giá bằng
tỷ lệ giữa kết quả và chi phí để thu được kết quả đó Như vậy, ngay trong chính chỉ tiêu hiệu quả trên đã chỉ ra rằng kết quả và chi phí huy động vừa là bộ phận cấu
Trang 21thành vừa là nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả Như vậy các nhân tố ảnh hưởng tới kết quả và chi phí chính là các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động huy động vốn.
Nhân tố chủ quan
Chính sách lãi suất của ngân hàng
Lãi suất được coi là giá cả của các sản phẩm dịch vụ tài chính Ngân hàng
sử dụng hệ thống lãi suất tiền gửi như một công cụ quan trọng trong việc huy động tiền gửi và thay đổi quy mô nguồn vốn Để duy trì và thu hút thêm nguồn vốn, ngân hàng cần ấn định mức lãi suất cạnh tranh, thực hiện những ưu đãi về giá cho những khách hàng lớn, gửi tiền thường xuyên Hơn nữa hệ thống lãi suất cần linh hoạt, phù hợp với quy mô và cơ cấu nguồn vốn.
Tuy nhiên, ngân hàng cũng cần phải chú ý rất nhiều đến lãi suất tiền vay để
có thể có các hoạt động kinh doanh hợp lý, đem lại các khoản thu nhập cao nhất cho ngân hàng để bù đắp được các khoản chi phí đã bỏ ra và vẫn mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
Trang 22 Mạng lưới huy động vốn của ngân hàng
Mạng lưới hoạt động của ngân hàng và các hình thức huy động vốn càng đa dạng, phóng phú thì kết quả huy động vốn càng nhiều về số lượng do việc thực hiện được dịch vụ trọn gói và mở rộng dịch vụ ngân hàng Các khoản tiền tiết kiệm của dân cư thường là các khoản tiền nhỏ Vì vậy, nếu việc tiếp cận với ngân hàng khó khăn sẽ tạo ra cho khách hàng tâm lý ngại đến ngân hàng Với một mạng lưới rộng khắp, tạo ra sự sễ dàng trong việc tiếp cận ngân hàng của người dân thì ngân hàng sẽ dễ dàng thu hút được các khoản tiền gửi đó một cách có hiệu quả.
Hoạt động marketing của ngân hàng
Mục tiêu cuối cùng là thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng vừa đảm bảo khả năng sinh lời, kảh năng cạnh tranh an toàn trong kinh doanh thì marketing đã trở thành công cụ không thể thiếu được trong ngân hàng thương mại hiện nay.
Hoạt động ngân hàng có tính xã hội hoá cao, phụ thuộc chặt chẽ vào môi trường kinh doanh như môi trường dân cư, môi trường kinh tế, môi trường chính trị, nên sự thay đổi của bất kỳ yếu tố nào cũng ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng.
Tổ chức nhân sự
Mặc dù trong thời đại ngày nay, khoa học công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất chính nhưng con người vẫn luôn khẳng định vị trí trung tâm của mình, vừa là chủ thể vừa là mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Con người là nhân tố quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cũng như hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
Trang 23Nhân tố khách quan
Khách hàng
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh
tế Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thông tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại thương chiếm tỷ trong lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng Chính vì vậy, khách hàng của ngân hàng cũng bao gồm nhiều đối tượng khác nhau Mỗi loại khách hàng lại mang những đặc điểm riêng có của mình Vì vậy, để đáp ứng được yêu cầu, nhu cầu của từng loại khách hàng của mình, ngân hàng cần phải có các chính sách, chiến lược phát triển phù hợp để có được hoạt động kinh doanh tốt nhất của mình
Môi trường kinh tế
Hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại bị các chỉ tiêu kinh tế như tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, thu nhập quốc dân, tốc độ chu chuyển vốn, tỷ
lệ lạm phát, tác động trực tiếp Khi nền kinh tế trong thời kỳ hưng thịnh, có tốc
độ phát triển nhanh, thu nhập quốc dân cao, các đơn vị kinh tế, dân cư sẽ có nguồn tiền gửi dồi dào vào ngân hàng Ngược lại, trong điều kiện tình hình kinh tế bất ổn, nền kinh tế trì trệ, tỷ lệ thất nghiệp cao, tỷ lệ lạm phát cao thì việc huy động vốn của ngân hàng nói chung và các hoạt động khác của ngân hàng noi chung sẽ gặp nhiều khó khăn bởi người dân không tin tưởng gửi tiền vào ngân hàng mà dùng tiền để mau các tài sản có tỉnh ổn định cao, còn các doanh nghiệp buộc phải thu hẹp sản xuất, lượng tiền gửi vào ngân hàng sẽ bị thu hẹp, ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng.
Môi trường xã hội
Phân bố dân cư, thu nhập của người dân là một nguồn lực tiềm tàng có thể khai thác nhằm mở rộng quy mô huy động vốn của ngân hàng thương mại Vì vậy
Trang 24những khu vực đông dân cư, với thu nhập cao thì sẽ dễ dàng hơn trong việc huy động vốn đối với ngân hàng.
Môi trường văn hoá như tập quán, tâm lý, thói quen sử dụng tiền mặt của dân cư ảnh hưởng nhiều đến quyết định kinh tế về tiêu dùng và tiết kiệm của người có thu nhập, mức độ chấp nhận rủi ro khi gửi tiền vào các tổ chức tín dụng hay quyết định chi tiêu số tiền nhàn rỗi của mình vào đầu tư bất động sản, động sản, chứng khoán
Môi trường pháp lý
Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá đặc biệt, hàng hoá tiền tệ nên chịu tác dụng bởi nhiều chính sách, các quy định của Chính Phủ và của Ngân hàng Nhà nước Sự thay đổi chính sách của nhà nước, của Ngân hàng Nhà nước về tài chính, tiền tệ, tín dụng, lãi suất sẽ ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn cũng như chất lượng của nguồn vốn của ngân hàng thương mại Sự ổn định về chính trị hay về chính sách ngoại giao cũng tác động đến nguồn vốn của một ngân hàng thương mại với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới.
Trang 25CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ
PHẦN CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH MỸ HÀO TỈNH HƯNG YÊN
2.1 Khái quát về NHTMCP công thương chi nhánh Mỹ Hào
2.1.1.Giới thiệu về ngân hàng thương mại cổ phần công thương chi nhánh Mỹ Hào
Ngân Hàng Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Mỹ Hào được tách ra từ Chi nhánh Ngân Hàng Công Thương Hưng Yên, trở thành chi nhánh cấp I từ tháng 8/2006, có Trụ sở tại thị trấn Bần, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên Hơn 3 năm qua, dưới sự chỉ đạo của Ban lãnh đạo Ngân Hàng Công Thương Việt Nam (VietinBank), cùng với sự cố gắng không ngừng của Ban giám đốc và một tập thể cán bộ trẻ trung, năng động và sáng tạo, Chi nhánh Ngân Hàng Công Thương Mỹ Hào đã từng bước vượt khó vươn lên, đạt được những kết quả rất khả quan.
Trong bối cảnh thị trường tài chính Việt Nam có nhiều biến động, sự cạnh
Trang 26Chi nhánh đã bám sát các chỉ tiêu kinh doanh do VietinBank giao để hoạch định những kế hoạch cụ thể, sát thực với điều kiện sản xuất kinh doanh trên địa bàn Xác định huy động vốn là một trong những trọng tâm của hoạt động kinh doanh, Ban giám đốc chi nhánh đã xây dựng, thực hiện một chính sách chăm sóc khách hàng hiệu quả, triển khai các chương trình khuyến mại, tặng quà, đưa ra mức lãi suất hợp lý, có tính cạnh tranh cao, quảng bá và triển khai những sản phẩm huy động vốn của VietinBank với cam kết cung cấp dịch vụ tiền gửi an toàn tuyệt đối
và sinh lời cao Cùng với phong cách, tinh thần thái độ phục vụ tận tình, văn minh, lịch sự, Chi nhánh đã thu hút được lượng lớn khách hàng đến giao dịch Đồng thời
để đưa các sản phẩm dịch vụ của VietinBank đến với nhiều người dân và tổ chức, doanh nghiệp hơn nữa, chi nhánh đã tập trung nguồn lực mở rộng mạng lưới giao dịch, từ chỗ chỉ có Trụ sở chính, Chi nhánh đã mở thêm 3 Phòng giao dịch, 1 Điểm giao dịch Với đội ngũ 50 cán bộ, đại đa số đều ở lứa tuổi thanh niên, Chi nhánh rất chú trọng công tác đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ, giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ nhân viên Bởi vậy đội ngũ cán bộ kinh doanh trẻ đã nắm vững
và chấp hành tốt các quy định về cơ chế nghiệp vụ hiện hành, có phẩm chất đạo đức tốt, nắm bắt và triển khai nhanh ngạy các chỉ đạo kinh doanh trong từng thời
kỳ của VietinBank Khi lãi suất cho vay có nhiều biến động, Chi nhánh đã kịp thời điều chỉnh lãi suất đối với phần lớn dư nợ làm tăng hiệu quả kinh doanh, không cho vay đối tượng có nhiều rủi ro như kinh doanh chứng khoán, bất động sản mà tập trung vào phục vụ sản xuất, kinh doanh
Trang 27Bộ máy tổ chức
2.1.2.Một số hoạt động của ngân hàng cổ phần công thương chi nhánh Mỹ hào
Huy động vốn
- Nhận tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn bằng VNĐ và ngoại tệ của các
tổ chức kinh tế và dân cư.
- Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu,
Cho vay, đầu tư
- Cho vay ngắn, trung và dài hạn bằng VNĐ và ngoại tệ.
- Tài trợ xuất, nhập khẩu; Chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất.
- Thấu chi, cho vay tiêu dùng.
cá nhân
Phòng khách hàng doanh nghiệp
Phòng Hành chính
Các phòng giao dịch
Trang 28Bảo lãnh
- Bảo lãnh và tái bảo lãnh trong nước và quốc tế: Bảo lãnh dự thầu; Bảo lãnh thực hiện hợp đồng; Bảo lãnh thanh toán;
Thanh toán và tài trợ thương mại
- Phát hành, thanh toán thư tín dụng nhập khẩu; thông báo, xác nhận, thanh toán thư tín dụng nhập khẩu.
- Nhờ thu xuất, nhập khẩu (Collection); Nhờ thu hối phiếu trả ngay (D/P)
và nhờ thu chấp nhận hối phiếu (D/A).
- Chuyển tiền trong nước và quốc tế,thanh toán UNC,sec….
Thẻ và ngân hàng điện tử
- Dịch vụ thẻ ATM, thẻ tiền mặt (CASH CARD).
2.2 Thực trạng hiệu quả hoạt động huy động vốn từ khách hàng cá nhân tại
ngân hàng Công thương chi nhánh Mỹ Hào
2.2.1 Hoạt động huy động vốn từ khách hàng cá nhân
Hoạt động huy động vốn đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của chi nhánh Mỹ Hào Huy động vốn từ khách hàng cá nhân mặc dù nằm rải rác trong các hình thức huy động và tập trung chủ yếu ở tiền gửi tiết kiệm, song tổng vốn lại chiếm phần lớn nguồn vốn mà ngân hàng huy động được.
Huy động vốn của chi nhánh Mỹ Hào trong những năm quá có những thay đổi đáng kể Tốc độ tăng trưởng của các năm tuy có tăng nhưng không đáng kể Năm 2008 tốc độ tăng là 2,23 % đến năm 2009 tốc độ đó đạt đến 3,6 %.
Hoạt động huy động vốn của ngân hàng Công thương chi nhánh Mỹ Hào mặc dù đã đạt được những thành tựu đáng kể, song cũng không tránh khỏi những khó khăn gây cản trở cho hoạt động của mình
Trang 29Bảng 1:Bảng tổng hợp huy động vốn của NHCT chi nhánh Mỹ Hào qua các năm
Đơn vị tính: Triệu đồng
Trang 31Không kỳ hạn 24.709 1,75% 8.012 0,56% 32,43 8.699 0,58% 108,57%
Trang 322.2.2.Đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn thông qua các chỉ tiêu phản ánh
Quy mô vốn huy động/ chi phí vốn huy động
Để đánh giá được hiệu quả hoạt động huy động vốn thông qua chỉ tiêu này,
ta phải tìm hiểu cơ cấu nguồn vốn huy động của ngân hàng Công thương chi nhánh Mỹ Hào trong những năm qua cũng như chi phí bỏ ra để huy động những nguồn vốn này.
Nguồn vốn huy động của ngân hàng Công thương chi nhánh Mỹ Hào có sự tăng trưởng đáng kể song lại chỉ đạt tỷ lệ thấp trong những năm qua Năm 2007, tổng nguồn vốn huy động từ khách hàng cá nhân của ngân hàng đạt 1.408.101 triệu đồng, năm 2008 là 1.439.456 triệu đồng tăng 2,23 % so với năm 2007, năm
2009 tăng lên 1.483.545 triệu đồng, đạt 103,06 % so với năm 2008 Các hình thức huy động vốn của ngân hàng là nhận tiền gửi của các tổ chức kinh tế - xã hội, tiền gửi tiết kiệm của dân cư, ngoài ra ngân hàng còn huy động vốn thông qua việc phát hành kỳ phiếu và trái phiếu Trong tổng nguồn vốn huy động thì tiền gửi tiết kiệm của các tầng lớp dân cư luôn là nguồn vốn quan trọng Điều này đã tạo rất nhiều thuận lợi cho ngân hàng Công thương chi nhánh Mỹ Hào trong việc sử dụng vốn bởi vì đây là nguồn tiền gửi có tính ổn định cao nên thuận lợi cho ngân hàng trong việc sử dụng vốn vào các mục đích của mình.
Nguồn vốn huy động tăng lên mà theo đó chi phí huy động vốn cũng gia tăng hàng năm Chi phí huy động vốn năm 2007 là 117384,4056 triệu đồng, năm
2008 là 192906.672 triệu đồng, tăng 64,33 % so với năm 2007 và năm 2009 là 153604,71 triệu đồng,bằng 79,63% so với năm 2008.
Trang 33Phân loại theo tính chất nguồn vốn cho thấy tiền gửi tiết kiệm là nguồn vốn lớn nhất trong tổng nguồn vốn huy động từ khách hàng cá nhân nên hàng năm chi phí cho tiền gửi tiết kiệm luôn chiếm trên 82% trong tổng chi phí cho huy động vốn từ khách hàng cá nhân Chi phí cho việc huy động vốn bằng kỳ phiếu và trái phiếu chỉ chiếm khoảng 18% trong tổng chi phí huy động vốn.
Các ngân hàng thương mại nói chung và ngân hàng Công thương chi nhánh
Mỹ Hào nói riêng, huy động vốn từ khách hàng cá nhân bằng loại tiền gửi không
kỳ hạn đều nhằm mục đích đáp ứng các yêu cầu thanh toán cho họ Do vậy vốn huy động không kỳ hạn có quy mô nhỏ nên chi phí huy động vốn mà ngân hàng cần phải bỏ ra cho loại vốn này cũng không cao, chỉ chiếm khoảng từ 0,05 % cho đến 0,17 % trong tổng chi phí huy động từ năm 2007 – 2009.
Chi phí huy động vốn của ngân hàng tập trung vào các chi phí phải trả cho tiền gửi ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Qua các năm, quy mô vốn huy động bằng
2 loại hình này có sự thay đổi nên chi phí của chúng cũng có sự tăng giảm qua các năm Tuy nhiên, sự biến động là không đáng kể vì tỷ trọng của 2 loại vốn này là từ
40 % cho đến 60% tương ứng cho cả quy mô và chi phí.
Năm 2008 tổng số vốn huy động của ngân hàng là 1.439.456 triệu đồng và chi phí huy động vốn là 192906,672 triệu đồng đến năm 2009 tổng số vốn huy động của ngân hàng là 1.491.278 triệu đồng nhưng chi phí huy động vốn chỉ là 153604,71 triệu đồng.Vốn huy động tăng lên nhưng chi phí cho huy động vốn lại nhỏ đi là do lãi suất năm 2008 tăng cao,và đạt mức kỷ lục so với nhiều năm trở lại đây.