Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp
Trang 1Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau khi có chương trình 1 triệu tấn đường ra đời (1995), ngành sản xuất mía đường ở nước ta đã có bước phát triển vượt bậc, đặc biệt là về số lượng nhà máy đường và diện tích trồng mía Theo số liệu thống kê của Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hiệp quốc (FAO, 2002) [78], sau 10 năm phát triển, tính đến năm 2001, Việt Nam đã có 303.000 ha mía, tăng 158.400
ha (209,5%) so với năm 1991 Tuy nhiên năng suất mía trung bình cả nước hiện nay còn ở mức rất thấp, chỉ đạt 49,7 tấn/ha Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng nói trên, một trong những nguyên nhân đó là thiệt hại do nhóm sâu đục thân mía gây ra Đặc biệt là ở miền Đông Nam bộ, theo tác giả Đỗ Ngọc Diệp (2002) [3], sâu đục thân mía gây hại đã làm giảm đáng kể năng suất và chất lượng mía nguyên liệu
Việc tìm ra các biện pháp phòng trừ sâu đục thân mía ở miền Đông Nam bộ nói chung, vùng Bến Cát, tỉnh Bình Dương và phụ cận nói riêng đang gặp phải nhiều khó khăn, vì cây mía thường được thâm canh trồng dày, cây cao, diện tích lớn, lưu gốc nhiều năm, cơ cấu giống mía phức tạp, địa hình trồng mía đa dạng và sâu đục thân thường ẩn nấp ở nhiều bộ phận khác nhau gây khó khăn khi phun thuốc, khi thuốc xâm nhập, tiếp xúc và gây độc đối với chúng Ngoài ra, hệ sinh thái đồng mía cũng thường xuyên chịu ảnh hưởng của nhiều hệ sinh thái đồng ruộng khác có liên quan trong vấn đề sâu, bệnh hại như hệ sinh thái đồng lúa, ngô,…
Hiện nay, xu hướng phòng trừ sâu hại cây trồng nói chung, sâu đục thân mía nói riêng là tìm ra các biện pháp không gây ô nhiễm môi trường mà vẫn
đem lại hiệu quả kinh tế cao, đảm bảo cân bằng sinh học trong tự nhiên Thời gian qua, hiệu quả của chương trình phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM) đã
được chứng minh trên nhiều cây trồng khác nhau Để thiết lập và thực hiện
được chương trình IPM trên cây mía, chúng ta phải có những hiểu biết nhất
Trang 2định về hệ sinh thái đồng mía, mối quan hệ giữa cây mía với dịch hại và thiên
địch của chúng,… biết phối hợp các biện pháp phòng trừ riêng lẻ khác nhau, trong đó có biện pháp sinh học Nguyên tắc chung của biện pháp này là bảo vệ
và lợi dụng các loài thiên địch của sâu hại nhằm khống chế quần thể sâu hại phát triển dưới ngưỡng gây hại kinh tế, góp phần bảo vệ mùa màng cho thu hoạch cao
Để góp phần vào công tác nghiên cứu và phục vụ sự phát triển của ngành
mía đường Việt Nam, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số loài thiên địch (côn trùng kí sinh, bắt mồi) và lợi dụng chúng trong phòng trừ tổng hợp sâu đục thân mía vùng Bến Cát, tỉnh Bình Dương và phụ cận”
2 mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích
Điều tra thành phần và vai trò của các loài thiên địch (côn trùng kí sinh, bắt mồi) sâu đục thân mía, đồng thời nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học và biến động mật độ của một số loài quan trọng, làm cơ sở đề ra biện pháp bảo vệ và lợi dụng chúng trong phòng trừ tổng hợp sâu đục thân mía có hiệu quả cao ở vùng Bến Cát, tỉnh Bình Dương và phụ cận
2.2 Yêu cầu
- Xác định thành phần thiên địch (côn trùng kí sinh, bắt mồi) sâu đục thân mía và vai trò của chúng ở vùng Bến Cát, tỉnh Bình Dương và phụ cận
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học và biến động mật độ các
loài thiên địch quan trọng: ong mắt đỏ Trichogramma chilonis Ishii, ong kén trắng Cotesia flavipes Cameron, ong nhỏ râu ngắn Tetrastichus howardi Olliff
và bọ đuôi kìm Euborellia annulipes Lucas
- Tìm hiểu ảnh hưởng của biện pháp xen canh, bóc lá, đốt lá, trừ cỏ và sử dụng thuốc trừ sâu đến các loài thiên địch sâu đục thân mía
- Bước đầu thử nghiệm thực hiện một số biện pháp bảo vệ và lợi dụng thiên địch trong phòng trừ tổng hợp sâu đục thân mía
Trang 33 ý nghĩa KHOA Học và thực tiễn của đề tài
- Bổ sung danh sách côn trùng kí sinh và bắt mồi của nhóm sâu đục thân mía ở vùng nghiên cứu
- Đánh giá được mối quan hệ giữa cây mía, sâu đục thân mía và một số loài côn trùng kí sinh, bắt mồi quan trọng
- Bổ sung những đặc điểm sinh học, sinh thái học cơ bản và biến động mật độ một số loài côn trùng kí sinh, bắt mồi sâu đục thân mía quan trọng dưới ảnh hưởng của điều kiện sinh thái vùng nghiên cứu
Những dẫn liệu nói trên là cơ sở cần thiết cho việc tiến hành các biện pháp bảo vệ và lợi dụng các loài thiên địch trong phòng trừ tổng hợp sâu đục thân mía có hiệu quả cao, góp phần hạn chế mức độ gây hại do nhóm sâu đục thân mía gây ra và nâng cao thu nhập cho người nông dân
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loài côn trùng kí sinh và côn trùng bắt mồi của nhóm sâu đục thân mía phổ biến ở vùng Bến Cát, tỉnh Bình Dương và phụ cận
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về thành phần, vai trò của các loài thiên địch (côn trùng kí sinh, bắt mồi) sâu đục thân mía và các yếu tố ảnh hưởng đến chúng, nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học và biến động mật độ của 4 loài thiên
địch quan trọng, đồng thời xác định những biện pháp thích hợp để bảo vệ và lợi dụng chúng có hiệu quả trong phòng trừ tổng hợp sâu đục thân mía ở vùng nghiên cứu
Trang 4kỷ XXI, thế kỷ của công nghệ sinh học, nhu cầu hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp bền vững, nâng cao tính đa dạng sinh học, đi đôi với việc bảo vệ, cải thiện và sử dụng đúng đắn các nguồn tài nguyên thiên nhiên của mỗi quốc gia trở nên ngày càng thiết thực Do đó, việc nghiên cứu và áp dụng biện pháp phòng trừ sinh học đối với nhóm sâu đục thân mía trong thời gian tới là hướng ưu tiên số 1, vì nó đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu nói trên
Trong các loài thiên địch, nhóm côn trùng kí sinh và côn trùng bắt mồi vừa phong phú về thành phần, số lượng, giữ vai trò quan trọng điều hòa sâu hại, vừa dễ nhân nuôi để sử dụng trong biện pháp sinh học phòng trừ sâu đục thân đạt hiệu quả kinh tế và môi trường Chính vì vậy, việc đề xuất
và nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số loài thiên địch (côn trùng kí sinh, bắt mồi) và lợi dụng chúng trong phòng trừ tổng hợp sâu đục thân mía vùng Bến Cát, tỉnh Bình Dương và phụ cận” là cần thiết
Trang 51.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.2.1 nghiên cứu về thành phần và vai trò của côn trùng kí sinh, bắt mồi sâu đục thân mía
Sâu đục thân mía thuộc bộ cánh vảy (Lepidoptera) thường tấn công gây hại phần thân cây mía, bao gồm từ đỉnh sinh trưởng đến các bộ phận thuộc phần thân lóng và gốc thân Cũng như các nhóm dịch hại khác, chúng cũng bị các loài thiên địch khống chế như một mắt xích kế tiếp trong dây chuyền dinh dưỡng của một hệ sinh thái nông nghiệp, trong đó phổ biến và quan trọng nhất
là nhóm côn trùng kí sinh và bắt mồi, mà một số loài có ý nghĩa kinh tế đã
được nghiên cứu, sử dụng vào mục đích phòng trừ sâu đục thân mía ở nhiều nước trên thế giới
Tuỳ theo điều kiện sinh thái và trình độ sản xuất mía đường ở mỗi vùng, mỗi châu lục hoặc mỗi quốc gia mà thành phần sâu đục thân mía, cũng như mức độ gây hại của chúng có khác nhau, kéo theo sự khác biệt về thành phần, mức độ phổ biến và vai trò của các loài thiên địch Trên thế giới đã có khá nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu thành phần và vai trò của các loài thiên
địch sâu đục thân mía
ở ấn Độ, người ta đã phát hiện được một số lượng lớn các loài thiên
địch của các loài sâu đục thân mía Theo Avasthy và Tiwari (1986) [36], loài
sâu Chilo infuscatellus có 38 loài ong và ruồi kí sinh, loài sâu Scirpophaga excerptalis có 60 loài ong và ruồi kí sinh (Mukunthan, 1986) [128], loài sâu Chilo sacchariphagus indicus có 17 loài côn trùng kí sinh và 9 loài côn trùng bắt mồi (David, 1986) [64], loài sâu Chilo auricilius có 31 loài ong và ruồi kí sinh (Chaudhary và Sharma, 1986) [52], còn loài sâu Sesamia inferens có tới
39 loài ong và ruồi kí sinh (Gupta và Gupta, 1959) [89] Trong đó, các loài
thiên địch như: ong mắt đỏ Trichogramma chilonis, ong đen Telenomus beneficiens, ong nhỏ râu ngắn Tetrastichus howardi, ong kén trắng Cotesia
Trang 6flavipes và ruồi kí sinh Sturmiopsis inferens bắt gặp phổ biến nhất (David và
Kurup, 1991a; David và cs., 1991) [68], [70]
ở Malaysia, theo Lim và Pan (1980) [113] có 52 loài côn trùng kí sinh
và 68 loài côn trùng bắt mồi sâu đục thân mía Trong đó, có một số loài mang
tính phổ biến và có ý nghĩa như ong mắt đỏ T australicum và T japonicum
ở Thái Lan, người ta cũng phát hiện được một số lượng lớn các loài
thiên địch của nhóm sâu đục thân mía, trong đó ong mắt đỏ T chilotraeae và ong kén trắng C flavipes được xác định là những loài phổ biến và quan trọng
nhất (Suasa-ard và cs., 2000) [159]
ở Đài Loan, theo Cheng (1994) [55] có 25 loài côn trùng kí sinh và 14
loài côn trùng bắt mồi các loài sâu đục thân mía Trong đó, ong mắt đỏ T chilonis là loài phổ biến và quan trọng nhất
ở Indonesia, Samoedi và Wirioatmodjo (1986) [146] đã phát hiện được
7 loài côn trùng kí sinh sâu đục ngọn mía Tryporyza nivella intacta Trong đó, ong đen T beneficiens, ong cự đen I javensis và ong Elasmus zehntneri được
xác định là những loài bắt gặp phổ biến và quan trọng nhất
ở châu Phi, Conlong (2000) [60] đã tiến hành điều tra và thu được 30
loài côn trùng kí sinh sâu đục thân mía Eldana saccharina ở 8 nước trồng mía
khác nhau, trong đó có 7 loài ở Nam Phi Trong số 23 loài còn lại, có 3 loài đã
định danh được đến tên loài, 5 loài mới định danh được đến giống, số còn lại mới định danh được đến họ
Khi nhận xét về vai trò điều hoà số lượng quần thể sâu hại trên đồng ruộng của các loài côn trùng kí sinh, Knipling (1979) [103] cho rằng nó chủ yếu phụ thuộc vào các yếu tố sau: (i) Mật độ các loài sâu kí chủ có sẵn trên đồng ruộng, (ii) Mật độ các loài côn trùng kí sinh có mặt trên đồng ruộng, (iii) khả năng tìm kiếm kí chủ của các loài côn trùng kí sinh, (iv) Khả năng hấp dẫn kí sinh của các loài sâu kí chủ, (v) Khả năng sinh sản của quần thể các loài côn
Trang 7trùng kí sinh và (vi) Khả năng sống sót hay tồn tại của các loài côn trùng kí sinh
ở các mật độ quần thể sâu kí chủ khác nhau, trong những thời kỳ khác nhau
ở ấn Độ, có 4 - 5% số trứng sâu Chilo infuscatellus bị kí sinh bởi các
loài ong mắt đỏ Trichogramma spp (Gupta, 1959) [89], còn tỷ lệ đó trên sâu
C sacchariphagus indicus là 0 - 16,1% (Easwaramoorthy và cs., 1983) [74]; trên sâu S excerptalis là 4 - 5% (Gupta, 1954) [84]; trên sâu Chilo partellus là 90% và trên sâu Chilo tumidicostalis là 30 - 71% (Gupta và Avasthy, 1959) [88] Các loài ong đen Telenomus spp kí sinh trứng sâu C infuscatellus và C sacchariphagus indicus với tỷ lệ tương ứng là 15 - 22% và 15 - 25% (Gupta, 1954) [84] Trong đó, riêng loài ong đen T beneficiens có thể kí sinh tới 17,6
- 90% số trứng sâu C sacchariphagus indicus và 5 - 85,5% số trứng sâu S excerptalis (Varadharajan và cs., 1971) [162] Loài ong kén trắng A flavipes
có thể kí sinh sâu non sâu Chilo infuscatellus, C sacchariphagus indicus, C auricilius, C tumidicostalis, Scirpophaga spp và Acigona steniellus với các tỷ
lệ tương ứng là 4 - 14% (Gupta, 1959) [87], 4 - 14%, 10 - 14% (Gupta, 1954) [84], 16 - 35%, 4 - 14% (Gupta và Avasthy, 1959) [88] và 2,5 - 3,5% (Mathur,
1967) [119] Loài ong kén nhỏ Rhaconotus sp có thể kí sinh tới 25% số sâu non sâu C sacchariphagus indicus (Raja Rao, 1963) [140] 3 loài ong khác là
R scirpophagae, Stenobracon deesae và I javensis đều kí sinh sâu non sâu
đục thân mía với tỷ lệ biến động từ 20 - 44% (Kalra, 1961) [100] Trong số
các loài ruồi kí sinh, loài Sturmiopsis inferens kí sinh sâu non sâu Chilo infuscatellus với tỷ lệ từ 6,5 - 26,2% (David và Easwaramoorthy, 1985) [63],
kí sinh sâu non sâu C auricilius với tỷ lệ từ 20 - 50% và sâu A steniellus là
5,8 - 10,2% (Singh, 1977) [149] Tương tự như vậy, các kết quả điều tra của Bhatt và cs (1996) [42], Borah và Sarma (1995) [43], Gupta và cs (1994) [90], Rajendran (1999) [142],… cũng cho thấy vai trò quan trọng của một số
loài côn trùng kí sinh như ong mắt đỏ Trichogramma spp., ong đen Telenomus
Trang 8spp và ong kén trắng Cotesia spp trong việc hạn chế số lượng quần thể các
loài sâu đục thân mía trên đồng ruộng
ở Đài Loan, kết quả thí nghiệm bẫy ong mắt đỏ trên ruộng mía tơ vụ xuân của Cheng và cs (1998) [57] cho thấy, có tới 16,0% số thẻ trứng và
7,4% số trứng sâu Tetramoera schistaceana bị các loài ong mắt đỏ kí sinh, trong đó có tới 81,0% thuộc loài T chilonis, số còn lại là T ostriniae Có tới 68,4% và 0,3% số trứng sâu Scirpophaga nivella tương ứng bị loài ong đen Telenomus beneficiens var elonggatus và ong mắt đỏ Trichogramma japonicum kí sinh (Cheng và Chen, 1999) [58]; có 28,0% số trứng sâu Proceras venosatus và 0,5% số trứng sâu C infuscatellus bị loài ong đen T beneficiens kí sinh (Cheng và Chen, 1998) [56] Một kết quả điều tra khác
của Cheng và cs (1999) [59] về các loài ong kí sinh sâu non và nhộng sâu
đục thân mía ở Đài Loan cho biết thêm rằng trong tổng số 1.975 sâu non sâu
đục thân mía thu thập được từ 1984 - 1994, có 15, 9 và 8 sâu non bị kí sinh
tương ứng bởi loài ong cự đen Melaboris sinicus, ong kén trắng C flavipes
và ong kén nhỏ Microbracon chinensis Còn trong số 202 nhộng thu thập
được, chỉ có 1 nhộng bị kí sinh bởi loài ong cự vàng X stemmator
Theo Ganeshan (2000) [80], trong số các loài thiên địch sâu đục thân
mía phát hiện thấy ở Mauritius, loài ong kén trắng Cotesia flavipes được đánh
giá là có vai trò rất quan trọng trong điều hoà số lượng sâu đục thân mía 4
vạch trên đồng ruộng Tuy nhiên, Ganeshan (2000) [80] cũng xác định được rằng loài ong kí sinh bậc hai Ceraphron sp (Ceraphronidae) lại là nhân tố chủ yếu hạn chế sự phát triển của loài ong kén trắng C flavipes
ở đảo Réunion, kết quả nghiên cứu của Vercambre (1993) [170] cho thấy trong mùa hè có thể có tới 80 - 90% số trứng sâu đục thân mía 4 vạch bị
kí sinh bởi ong mắt đỏ Trichogramma chilonis, 50% số sâu non bị ong kén trắng Cotesia flavipes kí sinh và 5% số nhộng bị kí sinh bởi loài ong nhỏ râu ngắn Tetrastichus howardi
Trang 9ở Philippines, kết quả điều tra của Alba (1990) [29] cho thấy tỷ lệ kí sinh trứng sâu đục thân mía trong tự nhiên của các loài ong mắt đỏ biến động
từ 4,49 - 34,88% Các loài sâu đục thân mía ở Philippines thường bị kí sinh
bởi 4 loài ong mắt đỏ Trichogramma chilonis, T chilotraeae, T bactrae và Trichogrammatoidea nana Trong đó 2 loài sau có thể kí sinh trứng sâu Tetramoera schistaceana với tỷ lệ tương ứng lên tới 91% và 5% Còn 2 loài
đầu có thể kí sinh trứng sâu Chilo infuscatellus với tỷ lệ tương ứng là 23,5%
và 76,5% (Alba và Estioko, 1980) [27] Tương tự như vậy, ở Malaysia, theo
Lim và Pan (1974) [112], trong điều kiện tự nhiên, loài ong mắt đỏ
Trichogrammatoidea nana có thể kí sinh tới 17,56% số trứng sâu Eucosma isogramma và 45,55% số trứng sâu đục thân mía 4 vạch
ở Papua New Guinea, theo Kuniata (2000) [107], trong số các loài
thiên địch của loài sâu đục thân mía Sesamia grisescens đã được xác định, 2 loài ong kí sinh sâu non Cotesia flavipes và Enicospilus terebrus được đánh
giá là có vai trò quan trọng nhất trong việc điều hoà số lượng, tiếp đến là loài
ong đen Telenomus sp kí sinh trứng và loài ong Pediobius furvus kí sinh nhộng Trung bình hàng năm có tới 40% số sâu non và nhộng sâu S grisescens bị kí sinh bởi các loài ong này, tỷ lệ kí sinh cao nhất trong năm có
thể lên tới 100% vào đầu tháng 12 Ngoài ra, ở vùng Ramu, Papua New
Guinea, qua điều tra còn thấy có tới 70% số ổ trứng sâu đục thân Chilo terenellus bị kí sinh bởi loài ong mắt đỏ Trichogramma sp (Kuniata và cs., 2001) [108], 90% số sâu non sâu đục thân thuộc loại Chilo spp bị các loài
côn trùng kí sinh và bắt mồi tiêu diệt (Kuniata, 1994) [106]
ở Nhật Bản, kết quả nghiên cứu của Abdul-Mannan và Iwahashi (1999)
[23] trên đảo Okinawa về mối quan hệ giữa sâu đục thân mía mình hồng S inferens và ong kén trắng C flavipes cho thấy, trong 1 năm loài sâu đục thân
mía mình hồng thường có 2 cao điểm gây hại vào tháng 4 - 5 (với tỷ lệ cây bị hại từ 20,5 - 29,3%) và tháng 8 (với tỷ lệ cây bị hại từ 22,2 - 29,5%), trong khi
Trang 10đó tỷ lệ kí sinh sâu non sâu đục thân mía mình hồng của loài ong kén trắng
Cotesia flavipes lại đạt đỉnh cao vào tháng 8 (với 61,2 - 80,1% số sâu non bị
kí sinh) Các tác giả cũng xác định được rằng mật độ ong kén trắng C flavipes
ở thời điểm t (một tháng điều tra 2 lần) phụ thuộc chặt chẽ vào mật độ sâu đục thân mía mình hồng Sesamia inferens ở thời điểm t (hệ số tương quan từ r = 0,77 đến 0,84), ngược lại, mật độ sâu đục thân mía mình hồng S inferens ở thời điểm t lại phụ thuộc vào mật độ ong kén trắng C flavipes ở thời điểm t -
độ quần thể các loài sâu đục thân mía trên đồng ruộng
Khi nhận xét về vai trò điều hòa mật độ quần thể sâu hại của các loài côn trùng bắt mồi, Holling (1966) [94] đã cho rằng mật độ của chúng và mật
độ sâu kí chủ (vật mồi) là những yếu tố cơ bản quyết định nhất Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng phải kể đến một số yếu tố khác như thời điểm xuất hiện của sâu kí chủ cũng như côn trùng bắt mồi, thời gian giữ vật mồi, thời điểm đói ăn của các loài côn trùng bắt mồi, khả năng vồ mồi của các loài côn trùng bắt mồi và khả năng lẩn trốn, tránh bị vồ mồi của các loài sâu kí chủ (vật mồi)
Trên thế giới hiện có không nhiều các công trình nghiên cứu về vai trò của các loài côn trùng bắt mồi trong việc điều hoà số lượng quần thể các loài sâu đục thân mía ở ấn Độ, Ananthanarayana và David (1982) [32] cho biết
có 13,4% số sâu non sâu Chilo infuscatellus bị tiêu diệt bởi các loài côn trùng
bắt mồi, trong đó nổi bật nhất là vai trò của các loài kiến Còn theo David và
Trang 11Easwaramoorthy (1986) [65] thì các loài côn trùng bắt mồi có khả năng tiêu diệt tới 17,5% số trứng sâu đục thân mía 4 vạch và một số lượng lớn (chưa xác
định được cụ thể) sâu non tuổi nhỏ mới nở trước khi sâu đục lỗ chui vào trong thân cây ở đảo Réunion (Pháp), kết quả nghiên cứu của Goebel và cs (2000)
[83] đã khẳng định rằng loài kiến bắt mồi Pheidole megacephala là 1 trong 2
yếu tố điều hoà số lượng quan trọng (cùng với yếu tố giống chống chịu) cần lợi dụng trong phòng trừ tổng hợp sâu đục thân mía 4 vạch ở đảo Réunion Có
từ 70 - 90% số trứng sâu đục thân mía 4 vạch bị loài kiến P megacephala tấn
công ăn thịt (Goebel, 1999) [169] Charpentier và cs (1967) [50] cho rằng,
trong số các loài côn trùng bắt mồi sâu đục thân mía Diatraea saccharalis ở Louisiana (Mỹ), loài kiến Solenopsis invicta có vai trò quan trọng nhất Ruộng mía có loài kiến S invicta sinh sống có năng suất tăng 8,6% so với ruộng
không có loài kiến này (Fuller và Reagan, 1988) [79] Tuy nhiên, Carrol
(1970) [49] lại thấy rằng 2 loài kiến Pheidole dentata Mayr và P floridana
mới là những loài bắt mồi sâu đục thân mía chủ yếu ở Florida, chúng đóng vai
trò chủ đạo trong việc tiêu diệt trứng và sâu non tuổi 1, 2 sâu đục thân mía D saccharalis Ngoài ra, khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa sâu đục thân mía
D saccharalis và 4 loài kiến bắt mồi, Adams và cs (1981) [24] thấy rằng ruộng mía có mặt cả 4 loài kiến này ít bị sâu đục thân gây hại hơn ruộng mía
chỉ có 1 loài S invicta Còn ở Panama, người ta đã xác định được rằng có tới
80 - 90% số trứng và sâu non tuổi nhỏ sâu đục thân mía Castnia licus bị tiêu diệt bởi các loài kiến bắt mồi như Ectatomma tuberculatum, Euponera cognata, P flavens, Crematogaster sp và S geminata (Esquivel, 1983) [77].
Trong khi đó ở Nam Phi, Leslie (1982) [110] đã xác định được rằng có tới
60% số trứng sâu đục thân mía Eldana saccharina bị tiêu diệt bởi các loài côn
trùng bắt mồi, đặc biệt là các loài kiến Còn kết quả nghiên cứu của Des
Vignes (1983) [72] ở Trinidad cho biết có 3,13% nhộng sâu đục thân mía D saccharalis bị tiêu diệt bởi các loài côn trùng bắt mồi ở Brazil, kết quả
Trang 12nghiên cứu của Teran (1980) [160] cho thấy có tới 63,64% số trứng bị các loài côn trùng bắt mồi tiêu diệt Ngoài ra, cũng qua theo dõi tác giả thấy rằng số trứng sâu bị tiêu diệt thực tế bởi các loài côn trùng chích hút đôi khi còn cao hơn rất nhiều so với số trứng sâu bị các loài côn trùng bắt mồi, bao gồm cả trứng đã bị kí sinh và trứng chưa bị kí sinh
1.2.2 Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái học của một số loài thiên địch sâu đục thân mía quan trọng
1.2.2.1 Nghiên cứu về đặc điểm sinh học của một số loài thiên địch sâu đục thân mía quan trọng
Đã có khá nhiều tác giả nghiên cứu về đặc điểm sinh học của các loài
ong mắt đỏ Trichogramma spp., một nhóm côn trùng kí sinh trứng quan trọng
và rất phổ biến trong tự nhiên, nhằm lợi dụng chúng trong phòng trừ các loài sâu hại cây trồng, trong đó có sâu đục thân mía, điển hình như các các công trình của Brenière (1965a, 1965b) [167], [168]; Metcalfe và Brenière (1969) [122]; Misra và cs (1986) [123],… Bên cạnh việc nghiên cứu đặc điểm sinh học các loài ong mắt đỏ kí sinh trứng sâu đục thân mía, một số tác giả còn chú
ý đến một nhóm côn trùng kí sinh trứng sâu đục thân mía quan trọng khác, đó
là nhóm ong đen Telenomus spp., phổ biến nhất là loài T beneficiens, kí sinh trứng của các loài sâu như Scirpophaga excerptalis, Chilo infuscatellus và Chilo sacchariphagus Sau khi bị kí sinh 4 ngày, trứng sâu S excerptalis bắt
đầu chuyển từ màu trắng sang màu nâu và sau 10 ngày thì ong trưởng thành
vũ hoá, thời gian phát dục các pha trứng, sâu non và nhộng ong tương ứng là
1, 5 - 7 và 4 - 5 ngày, toàn bộ vòng đời kéo dài từ 10 - 12 ngày (Gupta, 1958) [86] Tỷ lệ giới tính của ong trưởng thành là 0,71 ong cái/0,29 ong đực (Cheng
và Chen, 1998) [56] Còn kết quả nghiên cứu của Alba (1986) [28] về loài ong
đen Telenomus dignoides kí sinh trên trứng loài sâu đục ngọn mía Scirpophaga intacta ở Philippines thì thấy rằng vòng đời của loài ong này kéo
dài từ 13 - 15 ngày, khả năng đẻ trứng và tỷ lệ sinh sản của 1 ong cái tương
Trang 13ứng là 41,82 - 17,59 trứng và 21,85 - 14,59 ong con, tỷ lệ giới tính của ong trưởng thành là 6,53 - 4,64 ong cái/3,15 - 2,16 ong đực
Đối với côn trùng kí sinh sâu non các loài sâu đục thân mía, quan trọng
và phổ biến nhất là các loài ong kén trắng Cotesia spp (Hymenoptera :
Braconidae) Theo Polaszek và Walker (1991) [136], có 3 loài ong kén trắng
thường gặp nhất là C flavipes, C sesamiae và C chilonis, chúng thuộc loại
nội kí sinh, thường kí sinh và sống trong cơ thể sâu non các loài sâu cánh vảy (Lepidoptera) như họ ngài sáng (Pyralidae) và ngài đêm (Noctuidae), có kích thước từ trung bình tới lớn Chúng có đặc điểm sinh học tương đối giống nhau như ong cái trưởng thành thường tiến hành kí sinh bằng cách đẻ trứng vào trong cơ thể sâu non sâu kí chủ, có từ 15 - 65 trứng được đẻ vào trong 1 cơ thể sâu non kí chủ tuỳ thuộc vào kích thước và tuổi sâu non kí chủ Sau 3 - 4 ngày thì trứng nở ra sâu non tuổi 1, sau khi nở, sâu non có thể bắt đầu di chuyển và
ăn các chất dinh dưỡng bên trong cơ thể sâu non sâu kí chủ Pha sâu non ong kén trắng có 3 tuổi, sâu non tuổi 3 sau khi đẫy sức chui ra khỏi cơ thể sâu non
kí chủ kéo kén hoá nhộng, nếu sâu non kí chủ là các loài sâu đục thân, thì kén ong thường nằm ngay bên trong đường đục của sâu Thời gian phát dục pha trứng và sâu non kéo dài từ 10 - 25 ngày, còn thời gian phát dục pha nhộng kéo dài từ 4 - 6 ngày (Smith và cs., 1993) [155] Ong kén trắng trưởng thành
có kích thước tương đối nhỏ, dài 3 - 4 mm, sau khi vũ hoá chỉ có thể sống
được vài ngày Ví dụ: ong trưởng thành loài C flavipes nếu không được ăn,
nuôi ở nhiệt độ 25oC chỉ có thể sống được 34 giờ (Walker và Overholt, 1993) [164], còn Wiedenmann và cs (1992) [165] thì thấy rằng ở nhiệt độ 24oC, nếu
không được ăn, ong trưởng thành loài C flavipes chỉ có thể sống được 24 giờ
Nếu cho ong ăn thêm bằng dung dịch nước mật ong 20% thì thời gian sống của ong có thể kéo dài tới 51 ngày (Waker và Overholt, 1993) [164] Rất dễ phân biệt ong trưởng thành cái và ong trưởng thành đực vì ong đực có râu
ngắn hơn rất nhiều so với ong cái Khả năng tìm kiếm kí chủ của C flavipes
Trang 14cũng được nhiều tác giả nghiên cứu Các tác giả đều khẳng định rằng chất thải
của các loài sâu kí chủ là yếu tố quan trọng giúp cho ong kén trắng C flavipes
phát hiện và tìm kiếm được kí chủ để kí sinh (Potting và cs., 1993) [137] Khi cây trồng bị các loài sâu kí chủ tấn công gây hại cũng đã tạo ra một loại chất
bay hơi tổng hợp giúp cây thu hút ong kén trắng C flavipes tới kí sinh
(Ngi-Song và cs., 1995) [134] Ngoài ra, loài sâu kí chủ dùng để nhân nuôi ong kén
trắng C flavipes nếu được nuôi bằng thức ăn tự nhiên (như cây ngô, mía, ) thì khả năng phát hiện và tìm kiếm kí chủ của ong C flavipes luôn cao hơn so
với nuôi bằng thức ăn nhân tạo (Waker và Overholt, 1993) [164]
Bên cạnh các công trình nghiên cứu đã nêu ở trên về loài ong kén trắng
C flavipes, còn có một số công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học của
một số loài ong kí sinh sâu non sâu đục thân mía khác như của Hawkins và
Smith (1986) [93] về loài Rhaconotus roslinensi, của David và cs (1991) [70]
về loài Rhaconotus scirpophagae, của Gifford (1965) [82] về loài ong Goniozus indicus, của Gupta (1958) [86] về loài ong Isotima javensis,… và rất
nhiều công trình nghiên cứu, của nhiều tác giả, ở nhiều nước khác nhau trên thế giới về các loài ruồi kí sinh sâu non sâu đục thân mía như của Chen và Hung (1960) [53], David và Kurup (1991b) [68],
Một số tác giả cũng tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài
ong nhỏ râu ngắn Tetrastichus howardi và ong cự vàng Xanthopimpla stemmator, hai trong số nhiều loài côn trùng kí sinh nhộng các loài sâu đục thân mía Trong đó loài ong T howardi có phổ kí sinh rất rộng, nó có thể kí
sinh được nhiều loài sâu đục thân mía thuộc bộ cánh vảy (Lepidoptera) như sâu
Chilo sacchariphagus, Chilo infuscatellus, Scirpophaga nivella, Sesamia inferens, Ngoài ra nó còn có thể kí sinh trên một số loài sâu thuộc bộ cánh
cứng (Coleoptera), bộ cánh màng (Hymenoptera) hay bộ hai cánh (Diptera) (CABI, 2002) [47] Kết quả nghiên cứu trong phòng của Kfir và cs (1993) [102] về loài ong này cho thấy, 1 con ong cái trung bình có thể sinh sản được
Trang 15101 ong con (trong đó có tới 92% là ong cái) và kí sinh được trung bình 4,3 nhộng sâu kí chủ Ong cái trưởng thành có thể sống được trung bình 23,6 ngày, còn ong đực trưởng thành chỉ sống được trung bình 16,7 ngày Kết quả nuôi
ong T howardi trên nhộng sâu đục thân C partellus của Rao và cs (2001)
[144] cho thấy vòng đời ong kéo dài từ 17 - 18 ngày, trung bình 17,4 ± 0,5 ngày, trưởng thành sống được tối đa 37 ngày (trung bình 36,4 ± 1,9 ngày) nếu cho ăn thêm mật ong, còn nếu không cho ăn thêm mật ong, trưởng thành ong chỉ có thể sống được 1 tuần Số ong vũ hoá ra từ 1 nhộng sâu kí chủ biến động
từ 45 - 82 ong (trung bình 69 ± 8,23 ong), với tỷ lệ đực/cái là 1/6,3 Cũng theo Rao và cs (2001) [144], trọng lượng nhộng kí chủ và số lượng ong vũ hoá ra
có tương quan chặt chẽ với nhau, trọng lượng nhộng kí chủ càng tăng thì số lượng ong vũ hoá ra càng tăng và ngược lại Theo Moore và Kfir (1995) [126],
có tới 35,3% ong cái trưởng thành đã ghép đôi giao phối trước khi chui ra khỏi nhộng kí chủ, thời gian ăn thêm trước khi đẻ trứng kéo dài từ 2 - 5 ngày Từ 1 nhộng kí chủ bị kí sinh, vũ hóa ra trung bình 55 ong, trong đó có tới 94% là ong cái, nhộng càng lớn thì số ong vũ hoá ra càng tăng và ngược lại Nhộng kí chủ mới hình thành (nhộng non) thường thích hợp cho ong kí sinh hơn nhộng sắp vũ hoá (nhộng già), thời gian sống của ong cái trung bình kéo dài 5,1 - 52,5 ngày, và của ong đực là từ 3,1 - 28,6 ngày tuỳ thuộc vào việc có cho ong
ăn thêm hay không Trong khi đó, kết quả nghiên cứu của Moore và Kfir
(1996) [127] về đặc điểm sinh học của loài ong cự vàng X stemmator kí sinh
nhộng các loài sâu đục thân mía lại cho biết thời gian ăn thêm trước khi đẻ trứng của ong trưởng thành kéo dài trung bình 5 ngày và thời gian đẻ trứng có thể kéo dài tới 64 ngày Một ong cái trưởng thành có thể sinh sản trung bình 95 ong, trong đó tỷ lệ ong cái chiếm 64% Có sự tương quan chặt chẽ giữa mật độ ong bố mẹ và tỷ lệ giới tính của ong con thế hệ sau, nếu mật độ ong bố mẹ cao thì trong quần thể kế tiếp tỷ lệ ong cái cao và ngược lại Khi nuôi ong ở các nhiệt độ cố định 20, 24 và 28oC, trong điều kiện phòng thí nghiệm,
Trang 16Hailemichael và Smith (1994) [91] thấy rằng vòng đời của ong giảm dần từ 48 ngày ở nhiệt độ 20oC xuống còn 15 ngày ở nhiệt độ 28oC Thời gian sống của ong trưởng thành biến động từ 22 - 56 ngày nếu cho ăn thêm dung dịch nước
đường, từ 4 - 14 ngày nếu chỉ cho ăn thêm nước, từ 2 - 5 ngày nếu cho ăn thêm
đường nguyên chất và từ 2 - 8 ngày nếu không cho ăn thêm Khả năng tìm
kiếm kí chủ của ong X stemmator có liên quan chặt chẽ đến các yếu tố như
phân của sâu non kí chủ, các chất bay hơi tạo ra khi sâu kí chủ gây hại cây trồng và sự di chuyển của nhộng sâu kí chủ (Hailemichael và cs., 1994) [92]
Đối với các loài côn trùng bắt mồi sâu đục thân mía, kết quả nghiên cứu của Situmorang và Gabriel (1988) [154] cho thấy pha sâu non bọ đuôi kìm
Euborellia annulata có 4 tuổi, tuy nhiên khi gặp điều kiện bất thuận có thể tới
5 tuổi Một trưởng thành cái có thể đẻ được trung bình 320,74 quả trứng Pha sâu non và trưởng thành thường tìm ăn ổ trứng sâu đục thân mình hồng trên ruộng mía hoặc sâu đục thân ngô trên ruộng ngô, ngoài ra, nó còn ăn thịt một
số loài sâu hại trên một số cây trồng khác như cây bắp cải, cây đậu tương và
cây đậu rau Trong khi đó, loài E annulipes thường đẻ trứng thành từng ổ 50
quả, thời gian phát dục pha trứng kéo dài từ 6 - 17 ngày Pha sâu non có 5 tuổi, đôi khi cũng thấy có 6 tuổi và rất khó phân biệt giữa các tuổi sâu non, thời gian phát dục pha sâu non kéo dài 99 ngày ở nhiệt độ 21 - 23oC (Bharadwaj, 1966) [41] Trưởng thành có chiều dài 12 - 16 mm, con cái lớn hơn con đực, sau khi vũ hoá từ 1 - 2 ngày, trưởng thành tiến hành ghép đôi giao phối và đẻ trứng sau đó 10 - 15 ngày Trưởng thành sống được rất lâu, có khi vượt quá 200 ngày (Capinera, 1999) [48] Riêng về đặc điểm sinh học của các loài kiến bắt mồi sâu đục thân mía đến nay vẫn chưa thấy có công trình nghiên cứu nào trên thế giới đề cập đến
1.2.2.2 Nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học của một số loài thiên địch sâu
đục thân mía quan trọng
- ảnh hưởng của yếu tố thời tiết:
Trang 17Thời tiết có ảnh hưởng rõ rệt đến hiệu quả kí sinh của các loài ong
mắt đỏ Trichogramma spp Metcalfe và Brenière (1969) [122] khoảng nhiệt
độ thích hợp cho loài ong mắt đỏ T chilonis sinh trưởng phát triển là từ
13,5oC - 32,1oC; ong không có khả năng đẻ trứng kí sinh ở nhiệt độ dưới
10oC hoặc trên 35oC, còn theo Nagarkatti (1980) [129], loài ong mắt đỏ T chilonis chỉ phát triển tốt khi nuôi ở nhiệt độ 25,0 - 28,3oC và ẩm độ là 70 -
80% Tương tự như vậy, loài ong mắt đỏ T minutum thường có sức sống
kém hơn khi nuôi ở nhiệt độ 32oC (Metcalfe và Brenière, 1969) [122] Nhiệt độ cao trong khi ẩm độ thấp có ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt động sống của ong mắt đỏ (Gupta, 1956) [85] ẩm độ thích hợp cho ong mắt đỏ sinh trưởng phát triển biến động từ 80 - 100% (Metcalfe và Brenière, 1969) [122] Điều kiện nhiệt độ cao (42,0 - 46,5oC) và ẩm độ thấp (9 - 22%) kéo dài trong thời gian từ tháng 4 - 5 có thể là nguyên nhân chính dẫn tới sự
thất bại khi thả ong mắt đỏ phòng trừ sâu C infuscatellus ở ấn Độ (Gupta, 1956) [85] Ong mắt đỏ được nuôi trong điều kiện nhiệt độ và ẩm độ cố
định bao giờ cũng có khả năng thích nghi kém hơn so với ong nuôi trong
điều kiện nhiệt độ biến động (Metcalfe và Brenière, 1969) [122] Ngoài ra nhiệt độ và ẩm độ còn ảnh hưởng đến tỷ lệ giới tính của các loài ong kí sinh
và vòng đời cũng như số thế hệ phát sinh trong 1 năm và khả năng kí sinh, bắt mồi của các loài thiên địch (David và Ananthanarayana, 1991) [67] ở nhiệt độ trung bình 22oC, ẩm độ 70 - 80%, vòng đời của ong C flavipes kéo
dài từ 24 - 34 ngày, trong khi đó ở nhiệt độ trung bình 32oC, ẩm độ 60 - 70%, vòng đời của ong bị rút ngắn chỉ còn 14 - 20 ngày (Kalra và
Srivastava, 1966) [101] Tỷ lệ kí sinh trứng của loài ong đen T beneficiens
giảm từ 85% xuống còn 35% và 17% khi nhiệt độ tăng lên trên 44oC và ẩm
độ giảm xuống dưới ngưỡng tối thiểu, tuy nhiên trong điều kiện thời tiết mùa đông, khi nhiệt độ xuống dưới ngưỡng tối thiểu, hầu như không thấy ong hoạt động (Gupta, 1958) [86] Hiện tượng tương tự cũng được quan sát
Trang 18thấy ở các loài ong R scirpophagae, R roslinensis và S deesae (Hawkins
và Smith, 1986) [93] hoặc loài ruồi kí sinh Sturmiopsis inferens (Chaudhary
và cs., 1980) [51]
ánh sáng cũng có ảnh hưởng đến khả năng kí sinh và hoạt động của các loài ong mắt đỏ Metcalfe và Brenière (1969) [122] thấy rằng ong mắt đỏ trưởng thành có xu tính ánh sáng dương tương đối rõ, xu tính này tăng lên khi cường độ ánh sáng tăng, tỷ lệ kí sinh của ong mắt đỏ trong điều kiện có ánh sáng cũng cao hơn so với trong điều kiện có bóng râm Costa (1951) [61] thấy rằng tỷ lệ kí sinh của ong mắt đỏ trong điều kiện có ánh sáng cao hơn rất nhiều
so với trong điều kiện không có ánh sáng Tuy nhiên, theo Brenière (1965a) [167], chỉ trong điều kiện ánh sáng khuyếch tán, tỷ lệ kí sinh của ong mới tăng
từ 6 giờ45’ đến 7giờ 15’ khi cường độ chiếu sáng ở vào khoảng 200 lux, ở thời
điểm này quan sát thấy có tới 48,2% số ong vũ hoá, thời gian vũ hoá của ong kéo dài 47,33 ± 15,01 phút, số ong vũ hoá trong thời gian này chiếm trung bình 95,8% (biến động từ 72,7 - 100%) tổng số ong vũ hoá Mohanaraj và Saxena (1964) [124] cho rằng ánh sáng còn ảnh hưởng đến tỷ lệ ghép đôi giao phối của
các loài ruồi kí sinh như: L diatraeae, S inferens, D striatalis, còn Ghani và
Williams (1962) [81] thì thấy rằng điều kiện thời tiết nhiều mây cũng hạn chế
đáng kể ong tiến hành ghép đôi giao phối và đẻ trứng kí sinh Sâu non của ruồi
kí sinh thuộc họ Tachinidae và ong kí sinh thuộc họ Ichneumonidae có xu tính
ánh sáng âm, thường nằm sâu trong cơ thể sâu non kí chủ
Gió là nhân tố giúp cho ong Trichogramma phát tán thụ động đi xa
ở Peru, ong mắt đỏ đã được gió đưa đi xa với tốc độ là 1 dặm/tháng, còn ở
Trang 19Lousiana (Mỹ) tốc độ đó là 500 feet/3 tuần Sử dụng bẫy tấm trứng ngài
mạch Sitotroga người ta thấy ong có thể phát tán đi xa tới 100 feet trong
vòng 48 giờ (Metcalfe và Brenière, 1969) [122] Chưa có những nghiên cứu
về vai trò của yếu tố gió đối với các loài ong và ruồi kí sinh khác
Đối với các loài đuôi kìm (Dermaptera), các tác giả đều nhận thấy rằng chúng rất nhạy cảm đối với yếu tố ẩm độ quá thấp (khô hạn) hoặc quá cao (úng ngập) (Bharadwaj, 1966; Capinera, 1999; Situmorang và Gabriel, 1988) [41], [48], [154]
- ảnh hưởng của yếu tố dinh dưỡng:
Dinh dưỡng là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, khả năng sinh sản, khả năng sống cũng như khả năng kí sinh của các loài thiên
địch (Navarajan Paul, 1980) [131] Trưởng thành các loài ong kí sinh thuộc họ Braconidae, Ichneumonidae và Encyrtidae thường phải ăn thêm trước khi đẻ trứng, thức ăn thêm thường là đường hoặc là mật hoa Nguồn cung cấp đường
và mật cho ong trong tự nhiên chủ yếu lấy từ mật hoa, giọt sương hoặc là chất tiết của cây trồng Chính vì vậy việc trồng xen cây mía với các loại cây trồng khác, đặc biệt là các loại cây trồng họ đậu Leguminaceae có hoa đang được nhiều nước trồng mía trên thế giới quan tâm nghiên cứu và áp dụng (David và Ananthanarayana, 1991) [67]
Ngài gạo C cephalonica nếu được nhân nuôi bằng bột lúa miến nghiền
nát trộn với 8% men rượu hoặc với bột đậu xanh và lạc nhân tách đôi thì kích
thước và khả năng kí sinh của ong mắt đỏ T chilonis sẽ được nâng lên đáng
kể, do ong được hấp thụ thêm một số vitamin và axít amin quan trọng như glysine, analine và tyrosine, (David và cs., 1987) [66]
Brewar và King (1981) [46] thấy rằng sâu non sâu đục thân (đầu tuổi 5)
có trọng lượng tăng lên sau khi bị ong A flavipes kí sinh 120 giờ, nguyên
nhân có thể là do khả năng biến đổi thức ăn hoặc khả năng hấp thụ dinh dưỡng của sâu non sâu đục thân bị kí sinh hiệu quả hơn so với sâu non không bị kí
Trang 20sinh Cũng theo tác giả, dường như sức ăn của sâu non sâu đục thân bị kí sinh
có tăng lên cùng với sự gia tăng số lượng kí sinh phát triển bên trong 1 sâu non kí chủ Sâu non sâu đục thân tuổi 1 bị kí sinh thường không thể phát triển tới tuổi 4 được nhưng sâu non tuổi 2 hoặc lớn hơn thì có thể phát triển tới tuổi
5 hoặc tới khi kí sinh chui ra khỏi cơ thể sâu Số lượng kí sinh trong cơ thể sâu non kí chủ tăng lên theo tuổi sâu non
Đối với các loài côn trùng bắt mồi sâu đục thân mía, nghiên cứu về vai trò của của yếu tố thức ăn đối với chúng hiện nay có rất ít Ali và Reegan (1985) [31] đã nghiên cứu và thấy rằng ruộng mía gốc có tiến hành phòng trừ
cỏ dại ở mức trung bình có mật độ quần thể côn trùng bắt mồi cao hơn so với ruộng thường xuyên được làm sạch cỏ Các tác giả cũng có nhận xét rằng việc duy trì với tỷ lệ nhất định các loài cỏ hàng năm, cỏ lá rộng sẽ góp phần làm giàu số lượng côn trùng bắt mồi trên đồng ruộng Ali và cs (1984) [30] cũng
đã xác định được tỷ lệ % số lượng côn trùng bắt mồi trên cỏ lá hẹp là 37,5% nhiều hơn so với trên cỏ lá rộng là 28,67%
- ảnh hưởng của yếu tố giống mía và kỹ thuật canh tác:
(i) ảnh hưởng của yếu tố giống mía:
Ong Telenomus sp có tỷ lệ kí sinh trứng sâu đục ngọn hại trên các
giống mía là rất khác nhau, với giống mía Co 1148 thì tỷ lệ kí sinh là 24,48%, với giống mía CoJ 67 là 17,37%, với giống mía SES 275 là 8,86%, còn trên
giống lúa miến Sorghum halepense là 5,93% (Jayanthi, 1991) [99] Kết quả nghiên cứu của Inayatullah (1983) [95] cho thấy phân sâu non sâu C partellus, S inferens và S uniformis hại trên cây lúa miến và cây ngô có tính hấp dẫn đối với ong A flavipes rất mạnh, trong khi đó phân do sâu E depressella, C infuscatellus và A steniellus hại trên mía lại ít có tính hấp dẫn ong hơn Tuy nhiên, đối với các chủng ong A flavipes nhập nội từ ấn Độ vào
Mỹ thì lại bị hấp dẫn rất mạnh bởi phân do sâu non sâu đục thân D saccharalis thải ra (Mohyuddin và cs., 1981) [125] Loài ong A flavipes cũng
Trang 21chỉ thấy kí sinh trên các loài sâu đục thân Chilo spp., mà không thấy kí sinh trên loài sâu đục rễ E depressella hoặc A steniellus (Beg và Inayatullah, 1980) [37] Trong điều kiện phòng thí nghiệm, trưởng thành cái A flavipes bị
hấp dẫn bởi cây ngô nhưng không bị hấp dẫn bởi cây mía (Jayanthi, 1991)
[99] Tỷ lệ kí sinh sâu non sâu đục thân C partellus của loài ong A flavipes
trên ruộng ngô (28,8%), cao hơn so với trên ruộng mía (13,7%) và trên ruộng lúa (2,8%) (Alam và cs., 1972) [25]
(ii) ảnh hưởng của yếu tố kỹ thuật canh tác:
Các biện pháp kỹ thuật canh tác không chỉ là yếu tố quan trọng trong chương trình phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng mà còn là yếu tố có ảnh hưởng đến quần thể các loài thiên địch Nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu về vấn đề này và thu được một số kết quả
Theo Ingram và cs (1951) [96], việc đốt lá mía trước và sau khi thu
hoạch không thấy có ảnh hưởng đến tỷ lệ kí sinh của các loài ong mắt đỏ trên pha trứng sâu đục thân mía D saccharalis Các loài thiên địch khác của sâu
đục thân D saccharalis nhìn chung cũng không bị ảnh hưởng bởi việc đốt lá
(Degaspari và cs., 1983) [71] Mặc dù vậy, ở Cuba, qua nghiên cứu người ta
thấy rằng tỷ lệ kí sinh của ruồi L diatraeae trên sâu đục thân D saccharalis
bị giảm xuống một cách đáng kể khi tiến hành đốt lá trong điều kiện khô hạn kéo dài (Scaramuzza, 1945) [147] Còn ở Barbados, Alam và Gibbs (1979) [26] ghi nhận rằng việc đốt lá trước thu hoạch đã gây nên tác hại rất rõ rệt đến
2 loài kí sinh quan trọng của sâu đục thân D saccharalis là Lixophaga sp và Apanteles sp Tỷ lệ kí sinh của ruồi Lixophaga sp ở ruộng mía không đốt lá là
38,2%, trong khi đó ở ruộng mía có đốt lá là 23,9% Còn tỷ lệ kí sinh của loài
ong Apanteles sp trên ruộng không đốt lá là 38,7% và trên ruộng có đốt lá là 23,6% Tương tự như vậy, tỷ lệ kí sinh sâu non sâu đục thân D saccharalis ở
công thức không đốt lá trung bình cao hơn công thức đốt lá 20,3% (Macedo
và cs., 1984) [114] Ngoài ra, biện pháp trải lá, không đốt lá mía sau thu
Trang 22hoạch ở Pakistan cũng thấy rất có hiệu quả trong việc hạn chế mức độ gây hại
của loài sâu C infuscatellus (Makhdun và cs., 2001) [116]
Qua nghiên cứu ảnh hưởng của việc trồng độc canh cây mía hoặc trồng xen mía với các loài cây họ đậu như cây đậu đen, cây đậu xanh, cây đậu đũa,
đến các loài thiên địch của sâu đục thân mía, Srikhanth và cs (2000) [157] thấy
rằng tỷ lệ gây hại của loài sâu C infuscatellus hầu như không có sự khác biệt rõ rệt giữa các công thức trồng xen và độc canh, trong khi loài sâu đục ngọn mía S excerptalis gần như không thấy xuất hiện gây hại trên các công thức trồng xen,
còn số lượng các loài côn trùng bắt mồi như kiến, bọ rùa ở các công thức trồng xen và độc canh cây mía có khác nhau nhưng không rõ rệt
Đối với các biện pháp kỹ thuật canh tác khác, cho đến nay vẫn còn rất ít các công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của chúng đối với các loài thiên địch của sâu đục thân mía, đó là các biện pháp như thời vụ trồng mía, luân canh, tưới nước, kỹ thuật để mía gốc,
- ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc trừ sâu:
Khi đánh giá ảnh hưởng của các loại thuốc trừ sâu đến ong mắt đỏ T chilonis và T japonicum, Navarajan Paul và cs (1976) [130] thấy rằng việc
phun thuốc parathion phòng trừ sâu đục thân mía 1 hoặc 2 ngày trước khi thả ong đã gây nên những tác động xấu, làm cho ong bị chết rất nhiều Phun thuốc lên lá trừ sâu đục thân đã để lại dư lượng thuốc có thể gây ảnh hưởng đến ong
kí sinh kéo dài tới 10 ngày và 21 ngày tương ứng đối với ong T chilonis và T japonicum Thực tế là hiệu quả của biện pháp thả ong mắt đỏ T chilonis phòng
trừ sâu đục thân mía 4 vạch có liên quan chặt chẽ với việc sử dụng thuốc trừ sâu trước đó (Sithanantham và cs., 1974) [151] Sithanantham và Navarajan Paul (1980) [153] đã xác định được thời gian cách ly gây chết đối với loài ong mắt
đỏ T chilonis của các loại thuốc trừ sâu endosulfan, endrin, endrin + thiometon,
leptophos, phosalone và chlopyriphos tương ứng là 1, 7, 6, 7, 7 và 9 ngày Rajendran và Hanifa (1997) [141] thấy rằng việc phun 2.000 ppm thuốc
Trang 23endosulfan hoặc monocrotophos đã làm giảm tỷ lệ vũ hóa của ong mắt đỏ T chilonis từ 78,2% (đối chứng không phun) xuống còn tương ứng là 43,2% và
34,1% trong vụ mía 1994/95, và từ 85,8% xuống còn tương ứng là 50,3% và 42,1% trong vụ mía 1995/96, trong khi năng suất mía và tỷ lệ hại của sâu đục thân mía 4 vạch hầu như không bị ảnh hưởng của việc xử lí thuốc Độ độc của thuốc đối với thiên địch phụ thuộc vào giai đoạn phát dục của các loài thiên
địch lúc sử dụng thuốc (Sithanantham và Navarajan Paul, 1980) [153] Hơi thuốc phorate có ảnh hưởng đến thời gian sống của trưởng thành ong Elasmus
sp Trong điều kiện bình thường, thời gian sống của ong trung bình là 4,73 ngày
(biến động từ 1 - 9 ngày), nhưng sau khi tiếp xúc với hơi thuốc phorate thời gian sống của ong bị giảm xuống chỉ còn trung bình 2 ngày (biến động từ 1 - 4 ngày), ong bị chết nhiều nhất là vào ngày thứ hai, ngoài ra quá trình ghép đôi giao phối và đẻ trứng cũng không xảy ra (Singh và cs., 1979) [150] Xử lí đất trồng mía trước khi trồng bằng các loại thuốc lindane, chlorpyryphos và sevidol dạng hạt (G) và dùng loại thuốc endosulfan phun lên lá hầu như không có ảnh
hưởng đến hoạt động của loài ruồi Sturmiopsis inferens trên đồng ruộng Tuy
nhiên, khi xử lí đất bằng thuốc lindane dạng nhũ dầu (EC) lại thấy có ảnh hưởng đến các loài côn trùng kí sinh Còn xử lí đất trước khi trồng mía bằng các loại thuốc carbofuran, chlorpyriphos, sevidol dạng hạt (G) hay rắc lên ngọn lá bằng các loại thuốc lindane, chlopyriphos và sevidol dạng hạt đều thấy không
có ảnh hưởng đến các loài côn trùng kí sinh (Easwaramoorthy và cs., 1990) [75] Ngoài ra, việc phun các loại thuốc decamethrin với nồng độ 0,005% và cypermethrin vớinồng độ 0,02% cũng dường như không có ảnh hưởng đến loài
ruồi kí sinh S inferens (Ramachandran, 1986) [143] Nhận xét về mối tương
quan giữa việc sử dụng thuốc trừ sâu và các loài côn trùng bắt mồi trên ruộng mía, người ta thấy rằng tác hại của các loại thuốc trừ sâu đối với các loài côn trùng bắt mồi đôi khi lớn hơn rất nhiều so với các loài sâu hại, bởi vì thuốc trừ sâu không chỉ tác động trực tiếp mà còn tác động gián tiếp thông qua thức ăn
đến các loài côn trùng bắt mồi (Croft và Brown, 1975) [61] Reagan và cs
Trang 24(1972) [145] thấy rằng sau 1 lần sử dụng thuốc Mirex (0,3%) với liều lượng
6,75 kg/ha để trừ sâu đục thân mía D saccharalis, tỷ lệ cây bị sâu hại không những không giảm mà còn tăng lên 16% so với ruộng đối chứng Nguyên nhân
được xác định là do thuốc Mirex đã giết chết một số lượng lớn các loài kiến bắt mồi, ngoài ra tỷ lệ chết của các loài côn trùng bắt mồi khác như các loài bọ chân chạy (Carabidae), bọ cánh cộc (Staphylinidae), dế, trên ruộng có xử lí thuốc Mirex cũng cao hơn rất nhiều so với ruộng đối chứng không xử lí thuốc
Kết quả tương tự cũng được ghi nhận ở Brazil Tỷ lệ sâu đục thân mía D saccharalis bị các loài côn trùng bắt mồi miệng hút và miệng nhai tiêu diệt trên
lô ruộng có xử lí thuốc trừ sâu parathion tương ứng chỉ còn 11,4% và 31,2% thấp hơn so với các tỷ lệ tương ứng đó trên ruộng đối chứng không xử lí (8,5%
và 50,4%), còn tỷ lệ cây bị sâu hại trên lô có xử lí thuốc đã tăng từ 8,4% (đối chứng) lên 16,5% (David và Ananthanarayana, 1991) [67] Sử dụng thuốc
heptachlor xử lí đất trừ sâu đục thân mía D saccharalis trước khi trồng được
thấy là có ảnh hưởng rõ rệt đối với quần thể các loài côn trùng bắt mồi trên ruộng mía, đặc biệt là các loài kiến Trong khi đó việc sử dụng loại thuốc aziphos methyl theo cách tương tự lại thấy ít có ảnh hưởng đến các loài kiến (Negm và Hensley, 1967) [132] ở Brazil, việc sử dụng các loại thuốc aldicarb, carbofuran, phenthoate, carbaryl và endosulfan với liều lượng 1,5 kg a.i./ha
phun lên bẹ lá và chế phẩm vi khuẩn Dipel (Bacillus thuringiensis) trộn với bột
lá ngô với liều lượng 0,54 kg a.i./ha được thấy là có ảnh hưởng đối các loài côn trùng bắt mồi, làm cho dịch sâu đục thân mía bùng phát trở lại mạnh mẽ hơn (David và Ananthanarayana, 1991) [67] ở ấn Độ, qua nghiên cứu người ta thấy việc phun các loại thuốc lidanevà phosalone có thể làm giảm đáng kể mật
độ các loài kiến bắt mồi trên ruộng mía, nhưng phun thuốc leptophos lại góp phần làm tăng mật độ các loài kiến bắt mồi trên ruộng mía Ngoài ra việc sử dụng các loại thuốc lindane, endosulfan và mephosfolone để xử lí đất trước khi
Trang 25trồng mía hầu như không thấy có ảnh hưởng đến các loài nhện và kiến bắt mồi (Sithanantham, 1980) [152]
- ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc trừ cỏ:
Theo Mathes và cs (1953) [118], các loại muối natri hoặc muối amino của thuốc trừ cỏ 2,4 D hầu như không ảnh hưởng đến ong mắt đỏ
Trichogramma sp và ruồi kí sinh Lixophaga sp., nhưng các chất ester do
thuốc phân huỷ tạo ra lại thấy có hại đối với 2 loài thiên địch này
1.2.3 Nghiên cứu về biện pháp bảo vệ và lợi dụng một số loài thiên địch quan trọng
Trên thế giới, việc sử dụng ong mắt đỏ Trichogramma trong phòng trừ
các loài sâu đục thân mía đã được tiến hành từ những năm đầu thập kỷ 1920 ở vùng Louisiana (Mỹ) và Barbados (Manjunath, 1991) [117] Hiện nay biện pháp này đã được thương mại hoá và được sử dụng rộng rãi trong phòng trừ nhiều loại sâu hại cây trồng khác nhau thuộc bộ cánh vảy (Lipidoptera) ở các nước Nam Mỹ, Mỹ và Liên Xô (cũ), đặc biệt trong phòng trừ các loài sâu đục thân mía ở các nước như Pakistan (Ashraf và Fatima, 1996) [35], ấn Độ (David
và Easwaramoorthy, 1986) [65], Trung Quốc (Pu và Liu, 1962) [138],
ở ấn Độ, có tới 12 loài ong mắt đỏ Trichogramma và 2 loài
Trichogrammatoidea có thể sử dụng được trong phòng được trừ các loài sâu
hại cây trồng (David và Easwaramoorthy, 1986) [65] Tuy nhiên hiện nay chỉ
có 2 loài được nhân nuôi hàng loạt và sử dụng rộng rãi trong phòng trừ sâu
đục thân mía là loài T chilonis và T japonicum Trong khi loài ong mắt đỏ T chilonis chủ yếu được sử dụng trong phòng trừ sâu C infuscatellus và C sacchariphagus indicus, thì loài T japonicum lại chủ yếu được sử dụng để phòng trừ sâu S excerptalis (Manjunath, 1991) [117] Thí nghiệm thả ong mắt
đỏ trừ sâu C infuscatellus được tiến hành lần đầu tiên ở ấn Độ từ những năm
đầu thập kỷ 1930 và đã thu được kết quả đáng khích lệ với tỷ lệ kí sinh trứng
Trang 26tăng từ 62% lên 90%, năng suất mía tăng lên đạt 75 tấn/ha (Kunhikannan,
1931) [104] Thả ong mắt đỏ T chilonis trên ruộng mía có trồng xen với cây rau mùi (Coriandrum sativum) với tỷ lệ diện tích 1 mía : 2 rau mùi cho hiệu quả phòng trừ sâu C infuscatellus cao nhất Tuy nhiên thả ong trên ruộng mía trồng xen với cây đậu bắp (Abelmoschus esculentus) lại cho hiệu quả phòng
trừ thấp nhất, thấp hơn so với việc thả ong trên ruộng mía trồng xen với các
cây trồng khác như cây đậu tương (Glycine max) hay cây đậu Pháp (Phaseolus vulgaris) (Rachappa và Naik, 2000) [139] Đối với loài sâu Chilo sacchariphagus indicus, Sithanantham (1980) [152] cho rằng việc thả ong mắt
đỏ định kỳ hàng tuần từ tháng thứ 4 - 11 có tác dụng làm giảm đáng kể tỷ lệ
gây hại của sâu, tỷ lệ cây bị hại ở ruộng có thả ong và ruộng không thả ong
tương ứng là 52,7% và 73,6%, còn tỷ lệ lóng bị hại tương ứng là 6,3% và 13,4% Theo Solayappan (1980) [156], ruộng mía thả ong có chữ đường cao hơn so với ruộng không thả 0,18 đơn vị, góp phần làm tăng thêm 69,7 kg
đường/ha hay 83,64 tấn đường trên toàn bộ diện tích thả ong Tương tự như vậy, kết quả các thí nghiệm thả ong mắt đỏ khác ở ấn Độ, phòng trừ các loài
sâu A steniellus, C auricilius và S excerptalis cũng đem lại hiệu quả khá cao
(Misra và cs., 1986) [123] ở Trung Quốc, loài ong mắt đỏ T evanescens đã
được thả trên diện rộng ở 3 tỉnh khác nhau với mật độ thả từ 90.000 - 150.000 ong/ha/lần thả, hàng năm thả từ 6 - 9 lần (Pu và Liu, 1962) [138].Kết quả cho thấy tỷ lệ kí sinh trứng các loài sâu đục thân mía ở ruộng có thả ong và ruộng
đối chứng đã tăng lên tương ứng là từ 60% lên 97,5% và từ 0% lên 48,6%, trong khi tỷ lệ hại có chiều hướng giảm xuống, tỷ lệ lóng bị hại trên ruộng có thả ong và ruộng đối chứng tương ứng giảm từ 2,0 - 11,8% và từ 11,4 - 18%
ở Đài Loan, Chen (1963) [54] đã tổng kết và cho biết sau 8 năm liền thả ong
mắt đỏ T chilonis, tỷ lệ hại do sâu đục thân mía gây ra đã giảm tới 80% ở Pakistan, việc thả ong mắt đỏ T chilonis trên diện rộng liên tục trong 4 năm
(1992 - 1995) đã góp phần khống chế tỷ lệ cây bị hại dưới ngưỡng kinh tế, tỷ
Trang 27lệ kí sinh trứng ở ruộng mía có thả ong luôn dao động ở mức khá cao từ 43 - 68% trong các tháng từ tháng 4 - 9 (Ashraf và Fatima, 1996) [35] ở Thái Lan, sau 8 lần thả (50.000 ong/ha/lần), tỷ lệ cây bị hại đã giảm từ 20% xuống còn 4% (đối chứng 10%) (Meenakanit và cs., 1988) [121] Trong khi đó ở Ai cập, El-Heneidy và cs (1989) [76] thấy rằng sau khi thả 336.000 - 490.000 ong mắt đỏ/ha, tỷ lệ cây mía bị sâu đục thân gây hại ở cuối vụ đã giảm 35 - 50% Nhìn chung các tác giả đều cho rằng ong mắt đỏ đã làm giảm đáng kể thiệt hại do nhóm sâu đục thân mía gây ra
Trong số các loài ong kí sinh sâu non sâu đục thân mía, chỉ có một số
ít loài được nhân nuôi và sử dụng trong phòng trừ sâu đục thân mía Trong
đó loài ong kén trắng C flavipes được nhân nuôi và sử dụng phổ biến nhất
ở Mỹ, người ta đã sử dụng loài C flavipes nhập nội từ ấn Độ để phòng trừ
loài sâu đục thân mía D saccharalis rất có hiệu quả (Bennett, 1965) [38]. ở
Brazil, sau 10 năm tiến hành thả ong kén trắng C flavipes, tỷ lệ kí sinh sâu non sâu đục thân mía D saccharalis đã tăng từ 5 - 6% năm 1974 lên 28,7%
năm 1984, đồng thời tỷ lệ cây bị sâu gây hại cũng giảm từ 8,5% năm 1974
xuống còn 2,5% năm 1984, lợi ích kinh tế của việc thả ong C flavipes trừ
sâu đục thân mía đem lại ước tính 474.000 tấn đường, tương đương với 111 triệu USD (Macedo và cs., 1984) [114] Những nghiên cứu tiếp theo ở bang
Sao Paulo của Araujo và cs (1986) [34] đã chỉ rõ nếu thả ong kén trắng C flavipes với số lượng từ 10.000 ong/ha trở lên thì chắc chắn việc phòng trừ
sâu đục thân mía sẽ thành công Thành công này có thể có được ngay cả khi diện tích các giống mía mẫn cảm sâu đục thân tăng lên (Macedo và Botelho,
1986) [114] Cũng ở Brazil, loài ong kén trắng C flavipes còn được thả kết hợp cùng với 2 loài ruồi kí sinh là M minense và P claripalpis Sau khi thả
ong người thấy rằng trong tổng 25,96% số sâu non sâu đục thân mía bị kí
sinh, loài ong kén trắng C flavipes chiếm 7,97%, loài M minense chiếm 17,39%, loài P claripalpis chiếm 0,38%, phần còn lại là do các loài kí sinh
Trang 28khác (Botelho, 1980) [44] ở Trinidad, qua điều tra người ta đã xác định
được rằng có tới 50 - 90% số sâu non sâu đục thân D saccharalis bị ong C flavipes kí sinh sau khi tiến hành thả trong một thời gian dài, tuy nhiên ở những vùng có thả ong kén trắng C flavipes, loài ruồi kí sinh L diatraeae
dường như bị biến mất Ngoài ra, 250.000 ong kén trắng được thả thử nghiệm trong vụ mía 1980 - 1981 cũng mang lại hiệu quả phòng trừ rõ rệt và
kéo dài (Vignes, 1981) [163] Còn sau 3 năm tiến hành thả ong kén trắng C flavipes, tỷ lệ cây bị sâu gây hại ở khu vực phía Tây Bắc Malaysia đã giảm từ
15% xuống còn 5%, ở khu vực Lampung, Sumatra (Indonesia) đã giảm từ
45% xuống còn 7% (Ubandi và Sunaryo, 1986) [161] ở Madagascar, C flavipes đã được sử dụng trong phòng trừ loài sâu đục thân mía 4 vạch từ
năm 1955 nhưng không đem lại hiệu quả Tuy nhiên, vào năm 1960 - 1961, người ta đã tiến hành thử nghiệm lại bằng chủng ong nhập nội từ Mauritius
và đến năm 1963 thì thấy ong đã có khả năng tự thích nghi và tồn tại tốt, vượt ra ngoài phạm vi thả ong tới 4 km với tỷ lệ kí sinh đạt 10% Đến năm
1966, tỷ lệ kí sinh sâu non tuổi cuối đã tăng lên 46%, còn tỷ lệ kí sinh sâu non sắp hoá nhộng là 15% Hàm lượng đường bị mất do sâu đục thân đã giảm từ 4,5% xuống còn 3,5% (Betbeder-Matibet và Malinge, 1967) [40]
Gần đây, ong kén trắng C flavipes còn được nhân nuôi và thử nghiệm trong phòng trừ loài sâu đục thân mía C tumidicostalis ở Thái Lan, kết quả thử
nghiệm cho thấy tỷ lệ kí sinh ở ruộng có thả ong bao giờ cũng cao hơn ruộng
đối chứng từ 6 - 16% (Suasa-ard, 2000) [158]
Bên cạnh các loài ong kí sinh, một số loài ruồi kí sinh như L diatraeae,
M minense, P claripalpis, S inferens, cũng được nhân nuôi và thử nghiệm
trong phòng trừ các loài sâu đục thân mía ở nhiều nước trên thế giới Năm 1932,
người ta đã tiến hành nhập nội và thả 5.555 con ruồi L diatraeae trưởng thành ở vùng Antigua và St Kitts để phòng trừ loài sâu đục thân mía D saccharalis, sau
thời gian sử dụng, người ta thấy rằng ở St Kitts loài ruồi này đã tỏ ra thích nghi
Trang 29tốt và có hiệu quả phòng trừ cao, làm giảm tỷ lệ cây bị sâu hại từ 20% năm 1932 xuống còn 5% năm 1937 và luôn duy trì dưới 5% trong các năm tiếp theo (Bennett, 1969) [39].Thả ruồi L diatraeae và ong kén trắng C flavipes kết hợp
với việc đốt lá mía trước khi thu hoạch ở Barbados đã làm giảm tỷ lệ cây bị hại
do sâu đục thân mía D saccharalis từ 16% xuống còn 5%, trong đó người ta
xác định được 2 loài côn trùng kí sinh này đã làm giảm 10% tỷ lệ gây hại, còn
sự thay đổi cơ cấu giống mía làm giảm từ 1 - 1,5% và việc đốt lá trước khi thu hoạch làm giảm từ 1,5 - 2% số cây bị hại (David và Kurup, 1991a) [68] ở đảo
Antilies, khi thả kết hợp thả 2 loài ruồi L diatraeae và M ninense phòng trừ sâu
đục thân mía người ta thấy tỷ lệ sâu non sâu đục thân mía bị kí sinh đã được nâng lên rõ rệt, đạt tổng số 78%, trong khi thả riêng rẽ từng loài cũng đạt tỷ lệ kí sinh khá cao với 56% số sâu non sâu đục thân bị kí sinh (Bennett, 1969) [39]
Một loài ruồi kí sinh khác là P claripalpis cũng được nhân nuôi và sử dụng trong phòng trừ loài sâu đục thân mía D saccharalis ở Peru Kết quả cho thấy,
sau khi thả ruồi tỷ lệ kí sinh sâu non sâu đục thân đã tăng từ 22% năm 1952 lên 73,7% năm 1957 Ruồi trưởng thành sau khi thả có thể phân tán nhanh cách xa nơi thả tới 20 km và có thể kéo dài sự tồn tại tới 4 tháng (David và Kurup, 1991a) [68] Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả nêu trên, các kết quả nghiên cứu khác trên thế giới lại cho thấy rằng việc sử dụng các loài ruồi kí sinh trong phòng trừ các loài sâu đục thân mía không phải lúc nào và ở đâu cũng mang lại hiệu quả cao Có nhiều thí dụ minh chứng cho nhận xét nêu trên, đó là sự thất
bại khi sử dụng loài ruồi L diatraeae nhập nội từ Đài Loan phòng trừ sâu C auricilius, A steniellus và C infuscatellus ở ấn Độ (Jai Rao, 1967) [98] hay sự thất bại khi sử dụng loài ruồi D striatalis trừ sâu C venosatus ở Đài Loan
(Ishida, 1927) [97],… mặc dù những kết quả thử nghiệm trong phòng thí nghiệm trước đó cho kết quả kí sinh rất cao Ví dụ: Trong điều kiện phòng ở ấn
Độ, loài ruồi L diatraeae nhập nội từ Đài Loan có thể kí sinh sâu C auricilius,
A steniellus và C infuscatellus với tương ứng lên tới 93%, 88% và 70%, nhưng
Trang 30sau khi đem thả 563 và 433 con ruồi cái trưởng thành cho 2 vùng Uttar Pradesh
và Karnataka, người ta chỉ thu được 3 nhộng ruồi từ 1 sâu non sâu C auricilius
bị kí sinh (Jai Rao, 1967) [98] Tương tự như vậy, trong điều kiện phòng, loài
ruồi D striatalis có thể kí sinh loài sâu đục thân mía 4 vạch với tỷ lệ lên tới
58,2%, tuy nhiên trong điều kiện tự nhiên, sau khi thả tổng cộng 30.096 con ruồi cái trưởng thành liên tục trong 3 năm từ 1966 - 1968, người ta lại hầu như không phát hiện thấy bất cứ con sâu nào bị ruồi kí sinh (Williams, 1968) [166] Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng trên theo David và Kurup (1991a) [68]
là do các loài ruồi kí sinh phản ứng rất nhạy cảm trước sự biến động của các yếu
tố môi trường, đặc biệt là yếu tố nhiệt độ và ẩm độ
Ngoài các loài ong và ruồi kí sinh kể trên, có một số loài ong kí sinh
sâu non khác như loài ong cự I javensis, loài ong kén nhỏ A pyralophagus,
2 loài ong nhỏ râu ngắn P furvus và T howardi, cũng được nhân nuôi và
thử nghiệm trong phòng trừ một số loài sâu đục thân mía ở một số nước như
ấn Độ, Papua New Guinea, Nam Phi, (Gupta, 1958; Kuniata và Sweet, 1994; Leslie, 2000) [86], [106], [111] Tuy nhiên, do hiệu quả phòng trừ thấp
và không ổn định nên đến nay việc sử dụng các loài ong này mới chỉ dừng ở mức độ thử nghiệm, chưa được phổ biến áp dụng rộng rãi trong thực tiễn sản
xuất Riêng đối với nhóm ong đen Telenomus spp do rất khó nhân nuôi hàng
loạt trong phòng nên người ta hầu như không chú ý đến việc sử dụng mà chủ yếu đi sâu nghiên cứu quy luật phát sinh, phát triển và kí sinh của chúng trong tự nhiên nhằm tìm ra các biện pháp bảo vệ và lợi dụng tối đa khả năng
kí sinh, điều hoà mật độ quần thể các loài sâu đục thân mía trong tự nhiên (David và cs., 1991) [70]
Đối với nhóm côn trùng bắt mồi, cho đến nay trên thế giới cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về các loài côn trùng bắt mồi sâu đục thân mía, song do khả năng nhân nuôi hàng loạt chúng trong phòng gặp nhiều khó khăn nên người ta chủ yếu nêu ra vấn đề bảo vệ, lợi dụng chúng như làm
Trang 31sạch cỏ ở mức độ trung bình (Ali và Reagan, 1985) [31], tăng cường bóc lá tạo điều kiện thuận lợi cho các loài côn trùng bắt mồi tìm kiếm và tiêu diệt vật mồi (Negm và Hensley, 1969) [133], hạn chế đốt lá sau thu hoạch (Macedo và cs., 1984) [114], Chưa thấy có những nghiên cứu về vấn đề nhân nuôi và sử dụng chúng trong phòng trừ các loài sâu đục thân mía
1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.3.1 nghiên cứu về thành phần và vai trò của côn trùng kí sinh, bắt mồi sâu đục thân mía
Nhìn chung các nghiên cứu về thành phần côn trùng kí sinh, bắt mồi sâu đục thân mía ở nước ta còn ít, chủ yếu mang tính chất điều tra, khảo sát ban đầu, chưa có những nghiên cứu sâu, toàn diện cho tất cả các vùng sinh thái, kể cả những vùng mía được đánh giá là bị sâu đục thân mía gây hại nặng nhất nước như vùng Đông Nam bộ
Trên phạm vi cả nước, tác giả Hồ Khắc Tín và cs (1982) [20] thấy rằng
trứng các loài sâu đục thân mía mình vàng E schistaceana, sâu đục thân mía
4 vạch P venosatus, sâu đục thân mía 5 vạch đầu nâu C infuscatellus thường
bị loài ong mắt đỏ T evanescens kí sinh Riêng trên trứng sâu đục thân mía 4 vạch, sâu đục thân mía 5 vạch đầu nâu còn có thể bị loài ong đen Phanurus
sp kí sinh Trên sâu non và nhộng sâu đục thân mía mình vàng có thể bị ong Stenaraevides octocinetus kí sinh Kết quả điều tra của Lương Minh Khôi và
Nguyễn Thị Diệp (1995) [7] đã xác định được 11 loài thiên địch sâu hại mía ở Việt Nam, trong đó có 4 loài thiên địch phổ biến của nhóm sâu đục thân mía
là ong mắt đỏ Trichogramma sp và ong đen Telenomus sp kí sinh trứng; ong kén trắng A flavipes và ong cự đen M sinicus kí sinh sâu non
ở miền Bắc, theo Pham Binh Quyen và cs (1995) [135] có 2 loài côn
trùng kí sinh trứng phổ biến của nhóm sâu đục thân mía là ong mắt đỏ T chilonis và ong đen Telenomus sp Trong khi đó, ở miền Nam, kết quả điều tra
Trang 32khảo sát Lương Minh Khôi và Nguyễn Thị Diệp (1997) [10] xác định được 6 loài thiên địch Cũng ở miền Nam nhưng trên phạm vị hẹp hơn, kết quả điều tra bước đầu của Viện Nghiên cứu mía đường năm 1995 ở miền Đông Nam bộ
đã xác định được 10 loài côn trùng kí sinh sâu đục thân mía, trong đó loài ong
đen Telenomus sp được đánh giá là có khả năng điều hòa số lượng loài sâu
đục thân mía 4 vạch và sâu đục ngọn mía trong thời gian từ tháng 9 - 11 hàng năm Còn kết quả điều tra khảo sát của Cao Anh Đương (1998) [4] ở Viện Nghiên cứu mía đường Bến Cát, tỉnh Bình Dương trong vụ mía đông xuân
1997 - 1998 đã xác định được 18 loài côn trùng kí sinh và 29 loài côn trùng
bắt mồi các loài sâu đục thân mía Trong đó, ong mắt đỏ T chilonis, ong đen Telenomus sp., ong kén trắng C flavipes, ong kí sinh sâu non Elasmus sp và
bọ đuôi kìm Anisolabis annulipes là những loài có triển vọng trong việc hạn
chế số lượng các loài sâu đục thân mía trên đồng ruộng Kết quả điều tra gần
đây nhất của tác giả Đỗ Ngọc Diệp (2002) [3] ở miền Đông Nam bộ đã xác
định được 9 loài thiên địch của sâu đục thân mía 4 vạch, 7 loài thiên địch của sâu đục thân mình tím và 12 loài thiên địch của sâu đục thân mình hồng, trong
đó các loài ong mắt đỏ Trichogramma chilonis, ong đen Telenomus beneficiens, ong kén trắng Cotesia flavipes và bọ đuôi kìm Euborellia annulipes bắt gặp nhiều nhất
Mặc dù đã xác định được một số loài thiên địch quan trọng của nhóm sâu đục thân mía thông qua điều tra thành phần và mức độ phổ biến của từng loài Tuy nhiên, cho đến nay, có rất ít tác giả và công trình nghiên cứu trong nước đi sâu đánh giá vai trò của chúng trong việc điều hòa số lượng quần thể sâu đục thân mía trên đồng ruộng
Lương Minh Khôi (1997) [9] mô tả rằng các loài ong mắt đỏ Trichogramma spp thường đẻ trứng vào trong trứng các loài sâu đục thân mía và ong non
sống trong trứng Mỗi quả trứng sâu đục thân bị kí sinh có thể có từ 1 - 3 ong Trứng bị kí sinh biến thành màu đen và chết Ong mắt đỏ thường không kí
Trang 33sinh hết toàn bộ số trứng trong ổ, mà chỉ kí sinh những trứng nằm ở lớp ngoài
Cũng theo tác giả Lương Minh Khôi (1997) [9], các loài ong đen Telenomus spp có đặc tính kí sinh trứng sâu đục thân mía cũng tương tự như các loài ong
mắt đỏ, nhưng kí sinh trứng sâu đục ngọn mía nhiều hơn và mỗi quả trứng bị
kí sinh thường chỉ có 1 ong và ong có thể kí sinh tới lớp trứng giữa Loài ong
kén trắng A flavipes thì thường bắt gặp nhiều trong thời gian từ tháng 10 đến
tháng 3 năm sau trên ruộng mía vụ hè thu Tỷ lệ sâu non các loài sâu đục thân mía 5 vạch đầu nâu, sâu đục thân mía 4 vạch và sâu đục thân mía hồng bị kí sinh trung bình trong tự nhiên tương ứng là 6,9%, 6,4% và 0,6% Còn loài ong
cự đen M sinicus thường kí sinh sâu non sâu đục thân mía mình hồng, sâu đục
thân mía 5 vạch đầu nâu, sâu đục thân mía 4 vạch và sâu đục thân mía mình vàng với tỷ lệ tương ứng là 6,3%; 3,1%, 2,6% và 1,4% Theo Pham Binh
Quyen và cs (1995) [135], có tới 7,6% số trứng sâu đục thân mía 4 vạch bị loài ong mắt đỏ T chilonis kí sinh, 18,0% số ổ trứng sâu đục ngọn mía và sâu
đục thân mía 4 vạch bị kí sinh bởi loài ong đen Telenomus sp và 74,4% số trứng bị kí sinh bởi cả 2 loài T chilonis và Telenomus sp Trong khi đó, kết
quả nghiên cứu của Cao Anh Đương (1998) [4] tại Viện Nghiên cứu mía
đường Bến Cát, tỉnh Bình Dương trong vụ mía đông xuân 1998 - 1999 cho biết
có tới 68,84% và 57,90% số trứng sâu đục thân mía 4 vạch bị loài ong đen
Telenomus sp kí sinh tương ứng trên ruộng mía gốc và mía tơ Kết quả điều
tra của tác giả Đỗ Ngọc Diệp (2002) [3] trong 3 năm 1999 - 2001 tại miền
Đông Nam bộ cho rằng có 26,97% và 21,35% số trứng sâu đục thân mía 4
vạch tương ứng bị các loài ong mắt đỏ Trichogramma spp và các loài ong đen Telenomus spp kí sinh Ngoài ra, trong năm 2000, tác giả còn tiến hành điều
tra và xác định được tỷ lệ sâu non sâu đục thân mía 4 vạch bị loài ong kén
trắng C flavipes kí sinh biến động từ 3,0 - 44,3% tùy thuộc vào tháng điều tra
Đặc biệt trong thời gian từ tháng 8 -11, tỷ lệ này đạt mức khá cao, từ 32,3 - 44,3%, trong đó tháng 8 - 9 có tỷ lệ kí sinh cao nhất
Trang 341.3.2 Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái học một số loài thiên địch sâu đục thân mía quan trọng
Cho tới nay, đã có một số công trình nghiên cứu ở trong nước về đặc
điểm sinh học, sinh thái học của một số loài thiên địch quan trọng của nhóm sâu đục thân mía, như các công trình nghiên cứu về loài ong mắt đỏ màu đen
T japonicum và ong mắt đỏ màu vàng T chilonis kí sinh trứng Trong khi đó,
có rất ít các công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái học các loài thiên địch quan trọng khác của nhóm sâu đục thân mía như các loài ong đen
Telenomus spp., ong kén trắng C flavipes, ong nhỏ râu ngắn T howardi,
hoặc các loài côn trùng bắt mồi như bọ đuôi kìm, bọ chân chạy, bọ rùa, bọ xít bắt mồi,
ở Việt Nam, đặc điểm sinh học, sinh thái học loài ong mắt đỏ T
japonicum đã được nghiên cứu khá đầy đủ Theo Hà Quang Hùng (1984) [6], trong điều kiện thí nghiệm, thời gian phát dục pha trứng ong mắt đỏ T japonicum kéo dài 12 - 24 giờ, ong non 2 - 2,5 ngày, nhộng 2,5 - 3 ngày,
trưởng thành 1 ngày, vòng đời trung bình từ 7,0 - 7,3 ngày Khoảng nhiệt độ
từ 25 - 30oC thuận lợi cho ong kí sinh và vũ hóa, ở nhiệt độ này ong có vòng
đời 8 - 9 ngày Khi nhiệt độ tăng tới 35oC làm ảnh hưởng xấu tới quá trình phát dục, ức chế sự hoạt động và kí sinh của ong (Trần Thị Lài, 1981) [12] Khi nghiên cứu ảnh hưởng của ẩm độ tới ong mắt đỏ, Mai Phú Quý và cs (1978) [15] đã kết luận rằng ẩm độ ít ảnh hưởng tới thời gian phát triển nhưng
có ảnh hưởng đến tỷ lệ vũ hóa và tỷ lệ kí sinh của ong T japonicum ẩm độ từ
70 - 90% là thích hợp cho ong phát triển, ẩm độ quá thấp hoặc quá cao đều
ảnh hưởng xấu đến sự vũ hóa và kí sinh của ong Nhiệt độ khởi điểm phát dục
của của loài ong T japonicum là 10,6oC, trong điều kiện mùa đông ở miền Bắc Việt Nam, loài ong mắt đỏ này phát triển chậm và bình thường, không rơi vào trạng thái đình dục ở giai đoạn tiền nhộng (Mai Phú Quý, 2001) [17] Khả
năng sinh sản của loài ong mắt đỏ màu đen T japonicum đã được Vũ Quang
Trang 35Côn và cs (1991) [1] nghiên cứu trên cả trứng kí chủ tự nhiên (sâu đục thân
lúa 2 chấm Tryporyza incertulas, sâu đục thân lúa 5 vạch Chilo suppressalis, sâu cuốn lá nhỏ Cnaphalocrosis medinalis) và trứng kí chủ nhân tạo Corcyra cephalonica Các tác giả này cho biết, đối với sâu hại lúa, tỷ lệ trứng bị kí sinh
phụ thuộc vào phương thức đẻ trứng của loài sâu kí chủ Số trứng bị kí sinh
đối với kiểu đẻ thành ổ (sâu đục thân lúa 2 chấm, sâu đục thân lúa 5 vạch) cao hơn so với kiểu đẻ rải rác từng quả (sâu cuốn lá nhỏ) Trong cùng phương thức
đẻ thành ổ thì số lớp trứng mỏng (sâu đục thân lúa 5 vạch) có tỷ lệ kí sinh cao hơn ổ có nhiều lớp trứng và có phủ lông (sâu đục thân lúa 2 chấm) Khả năng
kí sinh của ong mắt đỏ phụ thuộc chặt chẽ vào mật độ trứng vật chủ Khoảng cách giữa các trứng và vật chủ càng ngắn thì khả năng kí sinh của ong mắt đỏ càng tăng Kết quả này cũng đã được kiểm chứng thông qua khả năng gây nhiễm từ 5 - 135 trứng ngài gạo cho một ong cái, khi số lượng vật chủ tăng thì
số lượng trứng bị kí sinh cũng tăng lên theo đường cong tới điểm cực đại rồi bắt đầu nằm ngang
Những nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài ong mắt
đỏ màu vàng T chilonis ở trong nước chủ yếu được tiến hành trên các loài sâu
hại của nhiều loại cây trồng khác nhau không phải là cây mía, như công trình nghiên cứu của Hà Quang Hùng (1984) [6] trên sâu hại lúa; của Mai Phú Quý
và cs (1993) [16], Nguyễn Xuân Thành và Vũ Quang Côn (1993) [19] trên loài
sâu đo xanh hại đay; của Nguyễn Văn Hoa và cs (2002) [5], Phạm Văn Lầm và
Trần Thanh Tháp (2000) [13], Phạm Bình Quyền (2002) [18], Bùi Tuấn Việt và
cs (1995) [22] trên các loài sâu đục thân ngô; của Phạm Hữu Nhượng (1996) [14] trên loài sâu xanh hại bông,
Theo Phạm Hữu Nhượng (1996) [14], trong điều kiện phòng thí nghiệm
ở Nha Hố (Ninh Thuận), loài ong mắt đỏ màu vàng T chilonis có thời gian
phát triển mỗi thế hệ từ 6,6 - 7,9 ngày, mỗi năm có 51 thế hệ trong phòng và
48 thế hệ ngoài tự nhiên Ong có khả năng sinh sản cao, trong điều kiện 27 -
Trang 3629oC, mỗi ong cái có thể kí sinh trung bình 75,65 ± 12,37 trứng ngài gạo Khi nuôi trên 100 thế hệ trong phòng bằng trứng ngài gạo vẫn có thể kí sinh khá cao trên trứng sâu xanh hại bông, nhưng đã có biểu hiện giảm khả năng sinh sản trên trứng ngài gạo Ong mắt đỏ đang nằm trong trứng ngài gạo ở giai
đoạn 5 ngày chịu lạnh tốt hơn giai đoạn 3 ngày và có thể bảo quản lạnh (6 -
8oC) được tới 30 ngày vẫn cho tỷ lệ vũ hóa cao ( 76-78%) Nhiệt độ khởi điểm
phát dục của loài ong mắt đỏ màu vàng T chilonis là 10,42oC (Mai Phú Quý, 2001) [17]
Ngoài các kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái học của các loài ong mắt đỏ kí sinh trứng sâu đục thân mía kể trên, còn có một số kết
quả nghiên cứu về loài ong đen Telenomus sp kí sinh trứng; loài ong kén trắng Cotesia flavipes và loài ong cự đen Melaboris sinicus kí sinh sâu non
các loài sâu đục thân mía của tác giả Lương Minh Khôi (1997) [9] Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu này hoặc mang tính chất mô tả bước đầu hoặc là kết quả dịch thuật đơn giản, chưa phải là những kết quả nghiên cứu thí nghiệm trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam nói chung, miền Đông Nam bộ nói riêng 1.3.3 Nghiên cứu về biện pháp bảo vệ và lợi dụng một số loài thiên địch quan trọng
Tương tự như những công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái học, cho đến nay, hầu hết các công trình nghiên cứu trong nước về biện pháp bảo vệ và lợi dụng các loài thiên địch trong phòng trừ nhóm sâu đục thân mía mới tập trung vào nhóm ong mắt đỏ, trong đó chủ yếu là đối với loài ong
màu đen T japonicum và loài ong màu vàng T chilonis, còn các nhóm thiên
địch khác hầu như rất ít được quan tâm nghiên cứu
Theo Pham Binh Quyen và cs (1995) [135], sau 5 lần thả ong mắt đỏ T chilonis với tổng số 500.000 ong/ha, tỷ lệ kí sinh trứng sâu đục ngọn mía và
sâu đục thân mía 4 vạch đã tăng lên tương ứng đạt 40% và 79,3% Còn kết quả nghiên cứu của Lương Minh Khôi và Nguyễn Thị Diệp (1996) [8] cho thấy
Trang 37sau khi thả ong mắt đỏ T chilonis, tỷ lệ trứng sâu đục thân bị kí sinh tăng
151,9%, mật độ sâu non sâu đục thân giảm 17,1% và tỷ lệ cây bị sâu hại giảm
từ 3,47 - 34,27% so với đối chứng Trong đó ruộng mía xen lạc và đậu giảm từ 3,47% - 8,37%, ruộng mía xen ngô giảm 20,67% và ruộng mía trồng thuần giảm 34,27% Tương tự như vậy, kết quả thí nghiệm của Lương Minh Khôi (1998) [11] cho thấy ruộng có thả ong mắt đỏ, tỷ lệ trứng sâu đục thân mía 4 vạch và sâu đục ngọn mía bị kí sinh tăng lên khá cao, từ 89,7% - 32,9%, đồng thời mật độ sâu non giảm 22,1 - 30,5% và tỷ lệ cây bị hại giảm 30,3 - 41,6%
so với ruộng không thả ong Trong điều kiện khí hậu miền Đông Nam bộ, tác giả Đỗ Ngọc Diệp (2002) [3] đã tiến hành thu ong giống từ tự nhiên, nhân
nuôi trong phòng bằng kí chủ ngài gạo Corcyra cephalonica sau đó đem thả
ra đồng phòng trừ sâu đục thân mía 4 vạch và sâu đục thân mía 5 vạch đầu nâu, theo đó tỷ lệ cây và lóng bị hại ở công thức có thả ong đã giảm tương ứng
từ 16,4 - 41,8% và 1,3 - 4,0%; mật độ sâu non giảm từ 52,8 - 127,1 con/100
m2 và tỷ lệ trứng sâu bị kí sinh tăng lên từ 20,3 - 64,8% so với lô đối chứng không thả ong Cũng theo tác giả, việc thả định kỳ 50.000 ong/ha/tuần từ tháng thứ 4 đến tháng thứ 11 sau khi trồng cho hiệu quả phòng trừ cao nhất
Trang 38Chương 2
vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 2.1 vật liệu nghiên cứu
2.1.1 Cây trồng nghiên cứu
Cây mía Saccharum officinarum L thuộc họ hòa thảo Gramineae, được
trồng phổ biến để chế biến ra đường saccaro, một loại nhu yếu phẩm quan trọng của con người (bên cạnh gạo và muối) ở miền Đông Nam bộ, hàng năm cây mía thường được trồng vào 2 thời vụ chủ yếu như sau: Vụ hè thu (đầu mưa): trồng từ 15/4 - 15/6, mía thu hoạch từ 10 - 12 tháng tuổi; Vụ đông xuân (cuối mưa): trồng từ 10 - 15/11, mía thu hoạch từ 12 - 15 tháng tuổi
Giống thí nghiệm là các giống mía trồng phổ biến trong vùng nghiên
cứu như: VN 84-4137, ROC 10, ROC 16 và VĐ 79-177 (phụ lục 2)
2.1.2 sâu hại nghiên cứu
Bao gồm những loài côn trùng hại thân cây mía thuộc bộ cánh vảy (Lepidoptera) thường được gọi chung là sâu đục thân mía
2.1.3 Thiên địch của sâu hại nghiên cứu
Bao gồm các loài côn trùng kí sinh và côn trùng bắt mồi của nhóm sâu
đục thân mía phổ biến ở vùng Bến Cát, tỉnh Bình Dương và phụ cận
2.1.4 THứC ĂN NHÂN TạO NUÔI SÂU và bọ đuôi kìm
- Thức ăn nhân tạo dùng để nuôi sâu non sâu đục thân mía 4 vạch và sâu đục thân mình mía hồng được trộn theo công thức và phương pháp của Đỗ
Ngọc Diệp (2002) [3] (phụ lục 1)
- Thức ăn nhân tạo nuôi bọ đuôi kìm là bánh bích quy dành cho chó
LASDOG (phụ lục 4) được chọn theo gợi ý của Easwaramoorthy, Viện Giống
mía Coimbatore, ấn Độ (1999, thông tin cá nhân)
2.1.5 THUốC Bảo vệ thực vật sử dụng trong thí nghiệm
Sử dụng các loại thuốc hoá học được phép sử dụng ở Việt Nam như các
Trang 39loại thuốc trừ sâu Diazinon (Diaphos 10H, 50 ND), Carbosulfan (Marshal 5 G, Marchal 200 SC), Cartap (Padan 4 H và 95 SP) và Fipronil (0.3 G và 5 SC); các loại thuốc trừ cỏ như Diuron (Ansaron 80 WP), Ametryne (Gesapax 500 DD) và Paraquat (Gramoxone 20 SL)
2.1.6 DụNG Cụ, HóA CHấT Và THIếT Bị thí nghiệm
Tủ sinh thái SANYO MLR-350H, tủ nuôi sâu vô trùng, tủ sấy MEMMERT Đức, máy xay sinh tố PHILIPS, kính lúp điện Liên Xô, kính hiển
vi NIKON Nhật bản, hoá chất nuôi sâu (mật ong, bột ngô, bột thân cây mía, men bia, bột mầm lúa mỳ, axit sorbic, axit ascorbic, thuốc kháng sinh, bột agar), các dụng cụ (hộp nuôi sâu, lưới, lồng lưới, ống nghiệm, kính lúp tay, chổi lông, vợt, ống hút, dao, kéo) và các hóa chất khác (cồn, foócmol),
2.2 địa điểm và thời gian NGHIÊN CứU
2.2.1 địa điểm nghiên cứu
Đề tài được thực hiện chủ yếu ở các địa điểm sau:
- Phòng thí nghiệm côn trùng (Bộ môn Bảo vệ thực vật) và khu ruộng thí nghiệm thuộc Viện Nghiên cứu mía đường Bến Cát, tỉnh Bình Dương
- Vùng mía nguyên liệu của Công ty đường Bình Dương tại xã Tân An, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (cách Viện 5 km)
Khí hậu ở khu vực này thuộc loại nhiệt đới gió mùa ôn hòa, không có bão, đặc trưng cho khí hậu vùng đất cao miền Đông Nam bộ Một năm có hai mùa rõ rệt, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau và mùa mưa từ tháng 5
đến tháng 10 Nhiệt độ bình quân các tháng thấp nhất là 24,2oC và cao nhất là 28,6oC Nhiệt độ trung bình năm 27oC Biên độ nhiệt độ ngày đêm dao động trung bình từ 7,5 - 13,8oC Lượng mưa trung bình năm 1.979 mm tập trung chủ yếu vào các tháng từ tháng 5 - 10 Trong đó các tháng có mưa ít nhất là
tháng 1, 2 và 3 Các tháng có mưa nhiều nhất là 7, 8 và 9 (phụ lục 3)
2.2.2 THờI GIAN NGHIÊN CứU
Đề tài được thực hiện từ tháng 12/1999 đến tháng 6/2003
Trang 402.3 nội dung nghiên cứu
1) Điều tra thành phần, xác định vị trí số lượng các loài sâu đục thân mía và thiên địch (côn trùng kí sinh, bắt mồi) của chúng ở vùng Bến Cát, tỉnh Bình Dương và phụ cận
2) Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học và biến động mật độ các
loài thiên địch quan trọng: ong mắt đỏ Trichogramma chilonis Ishii, ong kén trắng Cotesia flavipes Cameron, ong nhỏ râu ngắn Tetrastichus howardi Olliff
và bọ đuôi kìm Euborellia annulipes Lucas
3) Tìm hiểu ảnh hưởng của biện pháp xen canh, bóc lá, đốt lá, trừ cỏ và
sử dụng thuốc trừ sâu đến các loài thiên địch sâu đục thân mía
4) Bước đầu tiến hành thử nghiệm thực hiện một số biện pháp bảo vệ và lợi dụng thiên địch trong phòng trừ tổng hợp sâu đục thân mía
2.4 PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
Tiến hành điều tra và bố trí các thí nghiệm theo các phương pháp của Shunmugasundaram và Mukunthan (1986) [148]
2.4.1 phương pháp nghiên cứu trong phòng
- Thí nghiệm nghiên cứu vòng đời ong mắt đỏ Trichogramma chilonis và thời gian phát dục pha trứng kí chủ
Ong mắt đỏ T chilonis sử dụng trong thí nghiệm được thu từ tự nhiên trên các ổ trứng sâu đục thân mía 4 vạch bị kí sinh Trứng sâu đục thân mía 4
vạch sử dụng trong thí nghiệm được thu từ sâu nhân nuôi bằng thức ăn nhân tạo trong phòng theo phương pháp của Đỗ Ngọc Diệp (2002) [3] Thí nghiệm
được tiến hành trong tủ sinh thái ở các ngưỡng nhiệt độ cố định 15, 20, 25, 30
và 33oC; ẩm độ 80%, mỗi nhiệt độ theo dõi 30 mẫu ong hoặc trứng Theo dõi các chỉ tiêu: vòng đời của ong và thời gian phát dục trứng kí chủ (ngày)
- Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến thời gian sống
và hiệu quả kí sinh của ong mắt đỏ Trichogramma chilonis
Thí nghiệm được tiến hành song với thí nghiệm trên Mỗi nhiệt độ sử dụng 10 cặp ong đực cái mới vũ hóa và 20 ổ trứng sâu đục thân mía 4 vạch