1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và thời vụ gieo trồng của một số dòng, giống đậu tương trong điều kiện vụ hè thu và vụ xuân trên đất gia lâm hà nội

94 633 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và thời vụ gieo trồng của một số dòng, giống đậu tương trong điều kiện vụ hè thu và vụ xuân trên đất gia lâm hà nội
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp

Trang 1

1 Mở đầu

1.1 Đặt vấn đề

Cây đậu tương (Glycine max (L) Merrill.) là cây công nghiệp ngắn ngày được trồng ở nhiều nước trên thế giới nhờ giá trị nhiều mặt của nó và

được xem như “Vàng mọc từ đất”, “Cây đỗ thần”

Giá trị kinh tế chủ yếu của cây đậu tương được quyết định bởi các thành phần chứa trong hạt đậu tương, gồm có protein (38 - 42%), lipit (18 - 22%), hydratcacbon (30 - 40%), chất khoáng (4 - 5%) [11] Vì thế, đậu tương

đứng hàng đầu trong 4 loại cây trồng (lúa mì, lúa nước, ngô, đậu tương) về cung cấp lượng đạm Protein đậu tương có giá trị cao không những về hàm lượng lớn mà còn có đầy đủ và cân đối các loại axit amin cần thiết đối với sự tăng trưởng và sức đề kháng của cơ thể

Do đó, từ hạt đậu tương có thể chế biến được nhiều loại thực phẩm khác nhau như đậu phụ, tương chao, sữa đậu nành, cà phê đậu tương, sôcola đậu tương, bánh kẹo, batê, thịt nhân tạo,

Ngoài ra, khô dầu đậu tương cũng được đánh giá cao trong công nghiệp chế biến thức ăn gia súc, chiếm 60% giá trị toàn bộ thức ăn có đạm Dầu đậu tương được sử dụng làm thực phẩm: Dầu rán, salat và làm mỡ thực vật, trong công nghiệp dầu đậu tương còn được dùng làm xi, sơn, mực in, xà phòng, chất dẻo, cao su nhân tạo, thuốc trừ sâu,…[1]

Đặc biệt, đậu tương còn là cây trồng cải tạo đất, tăng độ phì nhiêu cho đất nhờ khả năng cố định nitơ của khí quyển thông qua bộ rễ cộng sinh với vi khuẩn

nốt sần Rhizobium japonicum và để lại trong đất 60 - 80 kg N/ha/vụ chưa kể chất

hữu cơ có trong thân lá [15]

ở Việt Nam, đậu tương còn là cây trồng luân canh, xen canh, gối vụ rất quan trọng trong cơ cấu cây trồng, góp phần nâng cao năng suất, cải tạo đất và nâng hệ số sử dụng bền vững tài nguyên đất đai

Trang 2

Do lợi ích của cây đậu tương đem lại rất đa dạng và điều kiện nhiệt đới

ẩm của nước ta rất thích hợp cho cây đậu tương phát triển Cho nên, đậu tương xứng đáng là cây trồng hiện đại có nhiều triển vọng Chính vì vậy mà năng suất, diện tích và sản lượng đậu tương ngày một tăng lên

Bảng 1.1: Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương ở Việt Nam

Những biện pháp kỹ thuật có thể góp phần nhằm tăng năng suất đậu tương đó là sử dụng các giống mới cho năng suất cao, nghiên cứu thời vụ gieo trồng, bón phân hợp lý, Xuất phát từ thực tiễn sản xuất đậu tương ở Việt Nam nói chung và sản xuất đậu tương vùng Gia Lâm - Hà Nội nói riêng chúng

tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và thời vụ gieo trồng của một số dòng, giống đậu tương trong điều kiện vụ hè thu và vụ xuân trên đất Gia Lâm – Hà Nội”

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích

- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất, khả năng chống chịu của một số dòng, giống đậu tương Từ đó đề xuất được các dòng, giống

có triển vọng cho vụ hè thu và xuân để đưa vào sản xuất thử

- Xác định thời vụ gieo trồng thích hợp với giống ĐT12, D140 ở vụ xuân

1.2.2 Yêu cầu

- Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái của các dòng, giống đậu tương

Trang 3

- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của các dòng, giống đậu tương

- Đánh giá khả năng chống chịu của các dòng, giống đậu tương

- Xác định các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng, giống

đậu tương

- Đánh giá ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng khác nhau tới khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống ĐT12 và giống D140, từ đó xác

định thời vụ gieo trồng thích hợp cho vụ xuân

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.3.1 ý nghĩa khoa học

- Nghiên cứu đặc điểm hình thái, đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu, năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng, giống đậu tương là cơ sở khoa học khi đề xuất các dòng, giống làm vật liệu chọn, tạo giống cũng như đề xuất các dòng, giống có triển vọng để phát triển trong sản xuất

- Xác định thời vụ gieo trồng hợp lý cho hai giống ĐT12 và giống D140

Trang 4

2 Tổng quan tài liệu

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Yêu cầu sinh thái của cây đậu tương

Địa lý: Đậu tương được trồng từ xích đạo đến vĩ độ 550 Bắc và 550Nam, từ vùng thấp hơn mực nước biển cho đến những vùng cao trên 2000m so với mặt nước biển [64]

Nhiệt độ: Đậu tương có nguồn gốc ôn đới, nhưng không phải là cây

trồng chịu rét Tổng tích ôn biến động từ 1600 – 20000C đối với giống chín sớm và từ 3200 – 36000C đối giống chín muộn

Nhiệt độ thích hợp nhất cho đậu tương mọc nhanh là 300C, phạm vi nhiệt độ tối thiểu và tối đa cho thời kỳ mọc là 5 – 400C [48] Nhiệt độ thích hợp nhất cho

đậu tương sinh trưởng là 22 – 270C [46] Ngoài ra, nhiệt độ ảnh hưởng sâu sắc đến sinh trưởng, phát triển và các quá trình sinh lý khác của cây đậu tương [1]:

- Nhiệt độ thấp ảnh hưởng đến ra hoa kết qủa Nhiệt độ 100C ngăn cản sự phân hoá hoa Dưới 180C đã có khả năng làm quả không đậu

- Nhiệt độ cao trên 400C ảnh hưởng sâu sắc đến hình thành đốt, sinh trưởng lóng và phân hoá hoa

- Nhiệt độ ảnh hưởng rõ rệt đến sự cố định đạm nitơ của đậu tương Vi khuẩn

Rhizobium japonicum bị hạn chế trên 330C Nhiệt độ 25 – 270C hoạt động của

vi khuẩn nốt sần tốt nhất Nhiệt độ thích hợp cho quang hợp là 25 – 300C

- Sự vận chuyển các chất trong cây càng chậm khi nhiệt độ càng thấp và

ngừng lại ở nhiệt độ 2 – 30C

Độ ẩm: Đậu tương là cây ưa ẩm [54], nhu cầu nước của cây đậu tương

thay đổi tuỳ điều kiện khí hậu, kỹ thuật trồng trọt và thời gian sinh trưởng

Đối với đậu tương, nếu nhiệt độ không khí, quang chu kỳ có ảnh hưởng

đến sinh truởng của cây thì chế độ ẩm là yếu tố khí hậu liên quan chặt chẽ đến năng suất hạt Nhu cầu nước tăng dần khi cây lớn, độ ẩm đặc biệt cần thiết vào thời kỳ mọc và thời kỳ hình thành quả Thiếu nước vào thời kỳ ra hoa làm

Trang 5

giảm tỷ lệ đậu quả, hạn vào thời kỳ quả mẩy làm giảm năng suất đậu tương rất lớn Tổng lượng nước cần cho cả vụ đậu tương biến động từ 3000 - 3500m3/ha [7]

Vào thời kỳ cao điểm lượng nước cần dùng là 7,6 mm/ngày, hệ số sử dụng nước từ 1500 - 3500 m3 cho việc hình thành 1 tấn hạt [16]

ánh sáng: Là yếu tố ảnh hưởng sâu sắc đến hình thái cây đậu tương vì

nó làm thay đổi thời gian nở hoa và chín, do đó ảnh hưởng đến chiều cao cây, diện tích lá và nhiều đặc tính khác của cây, bao gồm cả năng suất hạt

Đậu tương có phản ứng chặt chẽ với độ dài ngày, là một cây ngày ngắn

điển hình: Để ra hoa kết quả được, cây đòi hỏi phải có ngày ngắn, các giống khác nhau phản ứng với độ dài ngày khác nhau

Thời kỳ cây con (từ 1-2 lá thật) mẫn cảm nhất với ánh sáng ngày ngắn, giảm dần ở giai đoạn nụ và hầu như dừng lại ở giai đoạn ra hoa

Nếu thời gian chiếu sáng 1 ngày ít hơn 12 giờ thì mọi giống chín muộn cũng như giống chín sớm, sau khi mọc 25 - 30 ngày đều ra hoa trái lại trong

điều kiện ngày dài cây sẽ ra hoa muộn hơn, trong điều kiện ngày dài liên tục cây sẽ sinh trưởng dinh dưỡng hầu như vô tận và không ra hoa kết quả

Độ dài ngày cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu quả và tốc độ lớn của quả, ngày ngắn tăng tỷ lệ đậu quả và tốc độ tích luỹ chất khô

Sau khi ra hoa nếu gặp điều kiện ngày dài, nhiệt độ không khí cao, đậu tương có hiện tượng rụng quả và ít hạt

Đất đai: Có thể trồng đậu tương trên nhiều loại đất khác nhau, từ đất

sét, sét pha thịt, đất thịt, thịt pha cát,… cho đến đất cát nhẹ Tuy nhiên, đất trồng được đậu tương phụ thuộc lớn vào điều kiện khí hậu Nói chung, đất trồng hoa màu và thoát nước tốt đều có thể trồng được đậu tương tốt

Đất có độ pH = 6 – 7 là thích hợp cho cây sinh trưởng và hình thành nốt sần Trong điều kiện đất đai ở Việt Nam vì lượng mùn trong đất còn thiếu trầm trọng (do rửa trôi) và chưa được chú trọng đúng mức Do đó, việc bón nhiều phân hữu cơ cho đậu tương sẽ làm tăng năng suất đậu tương

Trang 6

Nước ta thuộc vùng Đông Nam châu á, nằm ở vĩ độ địa lý từ 8030’N (mũi Cà Mau) đến 23022’B (mũi Đồng Văn - Hà Giang), khí hậu mang tính nhiệt đới Tuy vậy, do địa hình phức tạp và bị ảnh hưởng của chế độ gió mùa nên tính nhiệt đới bị biến đổi ở nhiều vùng và không ổn định qua các năm

Song nhìn chung khí hậu Việt Nam lại có nền nhiệt cao, năng lượng bức xạ mặt trời dồi dào, với lượng mưa lớn (Hà Nội: 1600mm/năm, Tp Hồ Chí Minh: 1948mm/năm) rất thích hợp cho cây đậu tương sinh trưởng, phát triển ở hầu hết các vùng trong cả nước

Đối với khí hậu vùng Đồng bằng Bắc bộ được chia làm 2 mùa rõ rệt: + Mùa đông tương đối lạnh, thời kỳ lạnh nhất khoảng 3 tháng, tập chung vào tháng 1 Trong đó mùa lạnh phân biệt 2 nửa mùa rõ rệt: Lạnh khô

từ tháng 10 đến tháng 12, độ ẩm không khí xuống 75 - 80% Lạnh ẩm từ tháng

1 đến tháng 3, độ ẩm không khí cao 80 - 99%, trời có mưa phùn và ít nắng

+ Vào mùa hè, nền nhiệt độ tương đối cao, nhiệt độ trung bình các tháng: 250 -280 C, lượng mưa trên 1500mm, bão thường xẩy ra và tập trung vào tháng 8 - tháng 9

Khí hậu vùng Đồng bằng Bắc bộ tương đối thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Quanh năm có thể trồng trọt nhiều loại cây trồng nói chung và cây

đậu tương nói riêng

Như vậy, xét về điều kiện khí hậu thời tiết ở nước ta đối chiếu với

điều kiện sinh thái của cây đậu tương, về cơ bản đáp ứng nhu cầu cần thiết của cây đậu tương Đặc biệt, ở miền Bắc, thời tiết luôn diễn biến phức tạp đã tạo ra nhiều yếu tố bất lợi như đầu vụ xuân quá khô và lạnh vào giai đoạn nẩy mầm, cuối vụ hè thường mưa to kéo dài gây ngập úng, gẫy, đổ và làm thối hạt đậu tương, dẫn đến làm giảm năng suất đậu tương Song những yếu

tố bất lợi trên có thể khắc phục bằng cách chọn, tạo ra các giống đậu tương thích hợp với điều kiện thời tiết ở nước ta từ tập đoàn giống phong phú hiện

Trang 7

* Cơ sở khoa học trong việc bố trí thời vụ trồng

Thời vụ là một trong những biện pháp kỹ thuật quan trọng quyết định rất lớn đến năng suất đậu tương Đồng thời, cũng là biện pháp để phòng trừ sâu bệnh hại Việc bố trí thời vụ khác nhau sẽ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu

tố ngoại cảnh như nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa, sâu bệnh,…

Để tạo ra năng suất cây trồng nói chung cây đậu tương nói riêng thì trong quá trình sinh trưởng phát triển của quần thể luôn nằm trong mối quan

hệ dinh dưỡng của quần xã sinh vật Nghĩa là trong đó luôn diễn ra cuộc đấu tranh về thức ăn và không gian sống, mỗi 1 loài sinh vật trong quần xã là 1 mắt xích thức ăn và mỗi loài sinh vật có thể là mắt xích của nhiều chuỗi thức

ăn khác Trong đó cây xanh được coi là sinh vật sản xuất, là đầu mối của tất cả các chuỗi dinh dưỡng Mối quan hệ bị chi phối bởi quy luật hình tháp sinh thái, đó là trong chuỗi thức ăn, số lượng cá thể của mắt xích trước bao giờ cũng lớn hơn số lượng cá thể của mắt xích sau và chỉ có như thế thì quần xã mới tồn tại được

Vì thế trong 1 mùa vụ, nếu trồng quá sớm hoặc quá muộn gặp điều kiện thời tiết xấu làm cây sinh trưởng kém dễ dàng mẫn cảm với nguồn bệnh xung quanh, hoặc không né tránh được thời kỳ gây hại nặng nhất của sâu bệnh dẫn

đến số lượng cá thể nguồn bệnh phát triển mạnh hơn số lượng cá thể cây trồng, kéo theo năng suất cây trồng giảm đáng kể

Do đó phải bố trí thời vụ hợp lý tức là nhằm tạo ra những điều kiện tối

ưu về nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa, dinh dưỡng và hạn chế sâu bệnh hại phát triển để cây trồng sinh trưởng phát triển tốt đạt năng suất cao

Theo Nguyễn Văn Lầm (1999) [20], thời vụ trồng không gọn đối với một loài cây trồng sẽ kéo dài thời gian hiện diện của loại cây trồng đó trên

đồng ruộng, tạo điều kiện thuận lợi về thức ăn cho các loài dịch hại (đặc biệt

là loài dịch hại chuyên tính) sinh trưởng phát triển Để xác định thời vụ thích hợp cho từng loại cây trồng ở mỗi địa phương cần dựa vào điều kiện thời tiết

Trang 8

khí hậu, đặc điểm phát sinh và phá hại của dịch hại chính trên từng cây trồng

ở địa phương cũng như kinh nghiệm, tập quán trồng trọt lâu đời của nông dân

địa phương Vì thế theo tác giả, thời vụ gieo trồng thích hợp:

- Là thời vụ thuận tiện cho việc gieo trồng mà đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao

- Là thời vụ phải tạo nên sự lệch pha giữa giai đoạn xung yếu của cây trồng và sự phát triển của dịch hại

- Là biện pháp canh tác phòng trừ dịch hại có hiệu quả Biện pháp này chỉ có hiệu quả khi áp dụng đồng loạt trên quy mô tương đối rộng và nó mang tính cộng đồng

2.2 Cơ sở thực tiễn

Đậu tương không những là nguồn cung cấp protein, vitamin, khoáng chất cho người, thức ăn gia súc, nguyên liệu mà còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị trên thế giới [5], [29] Một số nghiên cứu gần đây đã phát hiện ra trong chế phẩm đậu tương có nhiều chất hạn chế gây bướu cổ, ức chế được bệnh ung thư

và chất Phaftoestrogen có thể hạ thấp được mức cholesterol ở tỷ lệ 10% [10]

Trên cơ sở những hiểu biết về tầm quan trọng ngày càng cao về cây đậu tương thì việc mở rộng diện tích và tăng năng suất đậu tương để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và cải thiện khẩu phần ăn của con người, làm thức ăn gia súc, gia cầm và để xuất khẩu là việc làm cần thiết ở nước ta Trong điều kiện khí hậu miền Bắc Việt Nam rất thuận lợi cho việc mở rộng diện tích và tăng năng suất đậu tương bằng cách trồng 3 vụ đậu tương trong năm, đưa cây đậu tương vào hệ thống luân canh với cây lúa nước vừa góp phần cải tạo đất vừa làm tăng thêm thu nhập cho người nông dân

Cây đậu tương là cây trồng có thời gian sinh trưởng tương đối ngắn so với các cây lương thực chính, nên đậu tương là cây trồng luân canh, xen canh, gối vụ rất quan trọng trong cơ cấu cây trồng góp phần nâng cao năng suất cây trồng vụ sau, nâng cao hệ số sử dụng đất Theo nhận xét ở nhiều vùng luân

Trang 9

canh cây đậu tương với lúa, ngô hoặc trồng xen đậu tương với ngô đều làm tăng năng suất lúa, ngô ở một số vùng Lục Ngạn (Bắc Giang), Bắc Hà (Cao Bằng) cấy lúa sau trồng đậu tương xuân năng suất lúa tăng từ 1 - 2 tạ/ha [7]

Hiện nay, cây đậu tương được đưa vào nhiều công thức luân canh cho hiệu quả kinh tế cao: Đậu tương xuân - Lúa mùa sớm - Cây vụ đông

Đậu tương xuân - Lúa mùa sớm - Cày ải qua đông

ở vùng Trung du, Đồng bằng Bắc bộ, đậu tương xuân là vụ sản xuất chính, chiếm 60 - 65% diện tích ở miền Bắc Việt Nam và cũng là vụ cho tiềm năng suất cũng như sản lượng cao

Đối với các chân đất cao, vàn ở vùng đồng bằng và trung du hầu hết trồng đậu tương hè, hoặc hè thu với 1 số công thức luân canh tăng vụ phổ biến:

Lúa xuân - Đậu tương hè sớm - Lúa mùa muộn Khoai lang xuân - Đậu tương hè thu - Ngô đông Ngô xuân - Đậu tương hè thu - Ngô đông

Ngô xuân - Đậu tương hè chính vụ - Cày ải Lạc xuân - Đậu tương hè - Ngô đông

Từ cuối những năm 1980, ở miền Bắc đã phát động phong trào trồng

đậu tương đông tăng vụ Vụ đông năm 1980 ở miền Bắc đã trồng được 3000

ha đậu tương, năm 1981 diện tích trồng tăng lên 9000 ha Theo Trần Đình Long (1999) [36] thì tiềm năng phát triển sản xuất đậu tương đông trên đất 2

vụ lúa ở vùng ở Đồng bằng Bắc bộ là rất lớn, trên 800.000 ha

Việc tăng thêm 1 vụ đậu tương đông, ngày càng khẳng định rõ vai trò của cây đậu tương, nó chiếm giữ 1 vị trí chiến lược quan trọng trong nền kinh

tế nông nghiệp ở nước ta đồng thời còn tạo thêm công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập cho người nông dân và có tác dụng cải tạo đất Bên cạnh đó, việc trồng đậu tương ít tốn kém hơn các loại cây trồng khác Hiện nay, ở một số huyện thuộc tỉnh Hà Tây đã đưa diện tích trồng đậu tương đông lên 75 - 80% như ở Chương Mỹ, Thường Tín, Phúc Thọ,… Đến nay, đậu tương đã được

Trang 10

trồng ở hầu hết các tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng với diện tích mỗi

vụ là 30 - 50 nghìn ha và năng suất đạt 13 - 15 tạ/ha

Hiện nay, các giống đậu tương trồng phổ biến ở vụ đông của Đồng bằng Bắc bộ là AK03, AK05, VX93, VX92, ĐT93, AK06, V74, ĐH4, DN42, D140, D912 Tuy nhiên, vụ đậu tương đông cũng gặp không ít khó khăn như hạn cuối vụ, cây ra hoa kết quả thường gặp rét, thu hoạch phơi khó khăn và chưa có giống chịu rét để gieo trồng vào vụ muộn sau ngày 10 tháng 10 trên

đất cấy 2 vụ lúa Để khắc phục các hiện tượng đó cần chọn, tạo ra các giống

đậu tương có năng suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu với sâu bệnh thích hợp với điều kiện thời tiết vụ đông ở nước ta

Đậu tương đông được bố trí trồng trong một số công thức luân canh như:

Lúa xuân - Lúa mùa sớm - Đậu tương đông Ngô xuân - Đậu tương đông (đất bãi)

Trong thực tế, ở nhiều nơi người dân thường trồng đậu tương không

đúng thời vụ do nhiều lý do khác nhau Trong đó, do chưa nắm vững được quy trình kỹ thuật của giống, đồng thời dưới tác động xấu của điều kiện ngoại cảnh bất lợi như lạnh khô ở giai đoạn nẩy mầm, mưa to kéo dài vào thời kỳ thu hoạch trong vụ xuân và hạn cuối vụ, cây ra hoa kết quả gặp rét trong vụ

đông, dẫn đến hiệu quả sản xuất đậu tương thấp Do đó, phải trồng đúng thời

vụ cho mỗi giống dựa vào các yếu tố như giống, đất đai, điều kiện ngoại cảnh

và kỹ thuật canh tác của người dân

2.3 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và ở Việt Nam

2.3.1 Trên thế giới

Đậu tương là cây trồng ngắn ngày có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao, đồng thời có phạm vi thích ứng rộng từ 480 vĩ độ Bắc đến 300 vĩ độ Nam [11], có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau Đậu tương là một trong 8 cây lấy dầu quan trọng (chiếm 97% sản lượng cây lấy dầu trên thế giới) [4]

Do nhu cầu sử dụng nguồn protein thực vật ngày càng cao, sản xuất đậu

Trang 11

tương trên thế giới cũng không ngừng tăng nhanh Hiện nay, đậu tương được

trồng ở hầu hết các nước trên thế giới nhưng tập chung chủ yếu ở khu vực

châu Mỹ chiếm 79,03%, tiếp đến là khu vực châu á chiếm 23,15% [15]

Bảng 2.1: Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương trên thế giới

Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (triệu tấn)

Nguồn: FAOSTAT, July, 2003

Như vậy, diện tích trồng đậu tương trên thế giới năm 2002 là 79,41 triệu

ha so với năm 1995 là 62,50 triệu ha, tăng 6,91% Song song với việc mở rộng

diện tích trồng đậu tương thì năng suất đậu tương bình quân trên toàn thế giới

hàng năm cũng tăng lên (năm 2002 là 22,65 tạ/ha đã tăng 2,34% so với năng

suất năm 1995 là 20,31 tạ/ha) Với việc không ngừng mở rộng diện tích và

nâng cao năng suất đã đưa sản lượng đậu tương trên toàn thế giới năm 2002

lên 179,91 triệu tấn, tăng 42,93 % so với năm 1995 là 126,98 triệu tấn

Hiện nay, 4 nước sản xuất đậu tương lớn nhất thế giới là Mỹ, Brazil,

Argentina, Trung Quốc, các nước này chiếm khoảng 90 - 95% tổng sản lượng

đậu tương của thế giới Trong đó, Mỹ là nước sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu

đậu tương lớn nhất

Với diện tích hơn 29,54 triệu ha trồng hàng năm, Mỹ chiếm gần 2/3 sản

lượng đậu tương trên thế giới, đến năm 2002 sản lượng đậu tương của Mỹ đạt

78,67 triệu tấn, tăng 6,45 triệu tấn so với năm 2001 Hiện nay, Mỹ là nước đứng

Trang 12

đầu thế giới về sản xuất và xuất khẩu đậu tương

Bảng 2.2: Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương

Nguồn: Số liệu thống kê Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ 2003

ở Brazil, từ giữa năm 1960, cây đậu tương mới trở thành cây trồng quan trọng, là nước có diện tích trồng và năng suất đậu tương lớn thứ 2 trên thế giới sau Mỹ, diện tích trồng đậu tương năm 2002 là 15,90 triệu ha tăng 2,3 triệu ha

so năm 2001 Về năng suất, năm 2002 đạt tới 2,74 tấn/ha với sản lượng là 43,50 triệu tấn

Tiếp đến là Arhentina và Trung Quốc, trước đây Trung Quốc đước xếp ở

vị trí thứ 3 sau Mỹ và Brazil về sản xuất và cũng là nước trồng đậu tương từ rất lâu Nhưng từ những năm 1999 trở về, Arhentina đã vượt Trung Quốc cả về diện tích, năng suất và sản lượng Năm 2002 diện tích trồng đậu tương ở Arhentina là 11,3 triệu ha, trong khi đó Trung Quốc là 9,10 triệu ha Đặc biệt về năng suất

đậu tương của Arhentina cao hơn hẳn (đạt 29,50 tấn/ha năm 2002) trong khi Trung Quốc chỉ đạt 15,45 tấn/ha năm 2002) Mặc dù Trung Quốc đứng hàng thứ

4, song hiện nay Trung quốc vẫn là nước đứng đầu châu á về diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương Do dân số đông cùng với nhu cầu tiêu dùng trong nước tăng nên Trung Quốc từ một nước xuất khẩu đã trở thành nước nhập khẩu

đậu tương

Hiện nay, trên thế giới có khoảng trên 100 nước trồng đậu tương nhưng

Trang 13

không phải nước nào cũng tự túc được nhu cầu đậu tương trong nước, phần lớn

các nước đều phải nhập khẩu đậu tương Châu á mới sản xuất ra 1/2 số lượng

đậu tương cần dùng Hàng năm, châu á phải nhập khẩu 8 triệu tấn hạt đậu

tương, 1,5 triệu tấn dầu, 1,8 triệu tấn sữa đậu nành Trong những nước nhập

khẩu đậu tương ở châu á, các nước nhập khẩu nhiều nhất là Trung Quốc, Nhật

Bản, Đài Loan, Triều Tiên, Indonesia, Malaysia, Philippin

2.3.2 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam

Việt Nam có lịch sử trồng đậu tương từ rất lâu và cách dùng hạt đậu tương

để chế biến thành thức ăn đã thành tập quán quen thuộc của người dân Việt Nam

Trước kia, đậu tương chỉ được trồng ở vùng núi cao (Cao Bằng, Lạng Sơn) sau đó

được trồng rải rác ở khắp các vùng trong nước từ Bắc vào Nam

Bảng 2.3: Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam

Trước cách mạng tháng 8 năm 1945 diện tích đậu tương còn rất ít

32.200 ha, năng suất thấp 4,1 tạ/ha Sau khi thống nhất đất nước, diện tích

trồng đậu tương của cả nước đạt 39.954 ha, năng suất đạt 5,2 tạ/ha [4]

Năm 1980, diện tích trồng đậu tương ở nước ta là 40.000 ha, năng suất

Trang 14

đạt 7 tạ/ha Đến năm 1990 - 1992 diện tích trồng đậu tương tăng lên 110.000 - 120.000 ha, năng suất tăng từ 8,5 - 9 tạ/ha [3] Như vậy, sau 10 năm diện tích gieo trồng tăng gấp 3 lần và năng suất tăng 10%

Diễn biến về diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương ở nước ta năm

2003 tăng lên rất nhanh so với năm 2000 Năm 2003 diện tích trồng đậu tương của nước ta là 166,5 nghìn ha, tăng lên 42,4 nghìn ha so với năm 2000, năng suất đạt 13,5 tạ/ha, tăng 1,5 tạ/ha so với năm 2000 Riêng sản lượng đậu tương năm 2003 đạt 225,3 nghìn tấn, tăng hơn năm 2000 là 76 nghìn tấn

Hiện nay, cả nước đã hình thành 6 vùng chính sản suất đậu tương, đó là vùng Đông Nam Bộ có diện tích lớn nhất 26,2%, miền núi Bắc Bộ 24,7%,

Đồng bằng sông Hồng 17,5%, Đồng bằng sông Cửu Long12,4% Tổng diện tích 4 vùng này chiếm 60% diện tích trồng đậu tương của cả nước Đậu tương trồng ở vụ xuân chiếm 14,2%, vụ hè thu 31,6%, vụ hè 2,68%, vụ thu đông 22,1%, vụ đông xuân 29,7% Về sản lượng, riêng 3 vùng, Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 63,8% sản lượng đậu tương của cả nước Đặc biệt, Đồng bằng sông Cửu Long chỉ chiếm 12,4% diện tích nhưng lại chiếm 20,9% sản lượng đậu tương của cả nước và năng suất bình quân cao nhất nước 16 tạ/ha [4]

Để đẩy mạnh việc phát triển đậu tương ở các vùng núi phía Bắc, Lào Cai đã xây dựng mô hình trồng đậu tương giống mới nguyên chủng trên diện tích là 100 ha nhằm đáp ứng nhu cầu về giống tại chỗ cho các địa phương, đặc biệt trong vụ hè và hè thu, tỉnh tiếp tục triển khai trồng thêm 400 ha đậu tương [32] Qua đó, diện tích trồng đậu tương được mở rộng góp phần nâng cao năng suất và sản lượng đậu tương ở nước ta

Như vậy, sản xuất đậu tương ở nước ta ngày càng phát triển Từ đó cho thấy vai trò quan trọng của cây đậu tương đối với nhu cầu về đạm trong bữa ăn hàng ngày của người dân Nhưng nhìn chung, năng suất đậu tương ở nước ta còn rất thấp so với các nước trong khu vực châu á và chỉ bằng 43% so với năng

Trang 15

suất bình quân trên thế giới

Vì vậy, định hướng nghiên cứu phát triển đậu tương trong giai đoạn

2001 - 2010 của nước ta như sau [25]:

- Chọn các giống có tiềm năng năng suất cao (cho vụ xuân) đạt từ 3 đến

4 tấn/ha để đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho người và làm thức ăn gia súc

- Chọn giống có hàm lượng dầu cao đạt từ 20 - 25% (những giống hiện nay mới đạt từ 18 - 22%)

- Chọn giống có thời gian sinh trưởng cực ngắn dưới 75 ngày để trồng trong vụ hè giữa 2 vụ lúa

- Chọn giống ngắn ngày 80 - 85 ngày cho vụ thu đông ở Đồng bằng Bắc bộ

- Chọn giống đậu tương có phẩm chất hạt tốt, khối lượng 100 hạt đạt trên 30g, rốn trắng (các giống hiện có đạt từ 10 - 15 g/100 hạt, rốn đen) để xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản với giá 600 - 800 USD/1 tấn hạt

2.4 Một số nghiên cứu về chọn tạo giống đậu tương trên thế giới và ở Việt Nam

2.4.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài

Khi nghiên cứu phản ứng của các giống đậu tương ngắn ngày cho thấy nhân tố môi trường có vai trò trội hơn trong sự biến đổi của các yếu tố cấu thành năng suất và các tính trạng hình thái

Sau khi ra hoa, nếu đậu tương gặp điều kiện ngày ngắn, thời gian sinh trưởng không bị ảnh hưởng nhưng khối lượng chất khô toàn cây giảm Tuy nhiên, năng suất hạt trong trường hợp này lại tăng đáng kể do ngày ngắn có lợi cho tích luỹ chất khô vào hạt dẫn đến tăng số quả và khối lượng quả Nếu gặp điều kiện ngày dài khi có hoa, kết hợp nhiệt độ không khí cao sẽ làm tăng hiện tượng rụng và lép quả đậu tương [60]

Năng suất hạt có tương quan thuận với ngày chín, chiều cao cây và khối lượng hạt [63] Đồng thời, cũng có một mối tương quan thuận chặt giữa năng suất hạt với số quả trên cây, chiều cao cây, thời gian 50% số cây ra hoa và thời gian sinh trưởng [50] Nhưng theo Kwon và cộng sự 1(1972) [51] khi nghiên

Trang 16

cứu tập đoàn giống đậu tương lại cho rằng, năng suất hạt lại tương quan nghịch với thời gian sinh trưởng và giai đoạn từ gieo đến ra hoa

Năm 1972 Malhotra và cộng sự [52] đã xác định được hệ số tương quan thuận chặt giữa năng suất với số quả trên cây và số cành cấp 1, nhưng giữa năng suất với khối lượng 1000 hạt lại có mối tương quan nghịch

Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa các đặc tính di truyền với khả năng thích ứng và năng suất hạt đã phát hiện ra rằng, phần lớn các giống trong sản xuất đều có lá chét rộng, các giống có lá chét rộng thường cho năng suất cao hơn các giống có lá chét hẹp Hình dạng lá chét và số hạt trên quả do cùng 1 loại gen quy định Cây có lá chét bình thường, hình trứng thì quả thường có 2 -

3 hạt Cây có lá chét hẹp quả thường có 3 đến 4 hạt, cây có lá chét hình bầu dục quả thường có 1 đến 2 hạt [44]

Tìm hiểu phản ứng của cây đậu tương từ khi lá mầm xuất hiện với độ dài chiếu sáng khác nhau thấy rằng thời gian sinh trưởng sinh dưỡng của cây

đậu tương phụ thuộc vào độ dài chiếu sáng 8, 10, 12 và 14 giờ [61]

Hiện nay, nguồn gen đậu tương trên thế giới được lưu trữ chủ yếu ở 15 nước là Đài Loan, Australia, Trung Quốc, Pháp, Nigieria, ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Bắc Triều Tiên, Nam Phi, Thụy Điển, Thái Lan,

Mỹ và Liên Xô với tổng số 45.038 mẫu giống [22]

Công tác nghiên cứu về chọn, tạo giống đậu tương trên thế giới phát triển tới mức đã tạo ra được những giống đậu tương trên cơ sở bất dục (hãng giống Teweleseed), giống đậu tương có khả năng trung tính với ánh sáng cho phép trồng nhiều vụ trong năm và ở các vĩ độ khác nhau Nhiều tập đoàn giống đậu tương đã được các tổ chức quốc tế khảo nghiệm ở rất nhiều vùng sinh thái khác nhau với mục đích là thử nghiệm tính thích nghi của giống ở từng điều kiện môi trường khác nhau tạo điều kiện so sánh giống địa phương với giống nhập nội, thứ hai là đánh giá phản ứng của các giống trong điều kiện môi trường khác nhau

Trang 17

Mỹ là nước luôn đứng đầu thế giới về diện tích và sản lượng đậu tương nhờ các phương pháp chọn lọc, nhập nội, gây đột biến và lai tạo họ đã tạo

được những giống đậu tương mới Những dòng nhập nội có năng suất cao đều

được sử dụng làm giống gốc trong các chương trình lai tạo và chọn lọc Từ thí nghiệm đầu tiên ở Mỹ được tiến hành vào năm 1804 tại Bang Pelecibuanhia,

đến năm 1893 ở Mỹ có trên 10.000 mẫu giống đậu tương thu nhập được từ các nơi trên thế giới Giai đoạn 1928 - 1932 trung bình mỗi năm nước Mỹ nhập nội trên 1190 dòng từ các nước khác nhau Hiện nay, Mỹ đã đưa vào sản xuất trên 100 dòng, giống đậu tương và đã tạo ra một số giống có khả năng chống chịu tốt với bệnh Phytopthora và thích ứng rộng như Amsoy 71, Lec 36, Clark

63, Herkey63 Hướng chủ yếu của công tác nghiên cứu chọn giống là sử dụng các tổ hợp lai cũng như nhập nội, thuần hoá trở thành giống thích nghi với từng vùng sinh thái, đặc biệt là nhập nội để bổ xung vào quỹ gen Mục tiêu của công tác chọn giống ở Mỹ là chọn ra những giống có khả năng thâm canh cao, phản ứng với quang chu kỳ, chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh bất thuận, hàm lượng protein cao, dễ bảo quản và chế biến [54]

ấn Độ, tuy diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương không lớn bằng

Mỹ nhưng diện tích trồng đậu tương đạt 8% diện tích trồng đậu tương của thế giới và đứng hàng thứ năm về công tác nghiên cứu Năm 1963 ấn Độ bắt đầu khảo nghiệm các giống địa phương và nhập nội tại trường đại học tổng hợp Pathga Năm 1967 thành lập tổ chức AICRPS (The all India covtdinated research project on soybean và NRCS (National Research Centre for Soybean) đã tập chung nghiên cứu về genotype và đã phát hiện ra 50 tính trạng phù hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới, đồng thời phát hiện ra các giống có sức chống chịu cao với bệnh khảm virus, tạo ra được một số giống có triển vọng như: Birsasoil,

ĐS74-24-2, ĐS73-16 Năm 1985, 6 giống trong 32 giống đậu tương triển vọng

có năng suất cao, nhạy cảm trên trung bình và ổn định đó là giống HM93,

PK73-94, PK321, Bragg và SH1 đã được Singh và Chaudhary xác định [56]

Trang 18

Brazil là nước đứng thứ 2 trên thế giới về sản xuất đậu tương Năm 1976 gần 1500 dòng đậu tương đã được trung tâm nghiên cứu quốc gia chọn, tạo ra Trong đó có 1 số giống có năng suất cao thích hợp với vùng đất có vĩ độ thấp

ở trung tâm Brazil như Numbaira, IAC - 8, Cristalina Năng suất cao nhất là giống Cristalina đạt 3,8 tấn/ha Trong thời gian tới, hướng nghiên cứu chủ yếu của nước này là chọn, tạo ra các giống đậu tương có thời gian từ trồng đến ra hoa là 40 - 50 ngày, từ trồng đến chín là 107 - 120 ngày và cho năng suất cao, chất lượng hạt tốt và kháng bệnh như giống BR79-1098, BR-10,

Châu á được coi là khu vực sản xuất đậu đỗ quan trọng của thế giới Do vậy, các tổ chức Quốc tế, Viện Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế, Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu châu á, Viện nghiên cứu lúa Quốc tế cùng tham gia nghiên cứu về đậu tương để xác định và chọn tạo được các giống có khả năng thích ứng rộng rãi với điều kiện của các nước trong khu vực

Với giống đậu tương nửa hữu hạn, hạt nhỏ G2120 do Trung tâm nghiên cứu phát triển rau màu Đông Nam á chọn tạo ra đã đánh dấu một bước mới trong việc tạo ra giống có tiềm năng suất cao (7 tấn) Tuy nhiên, những giống cho năng suất cao thường mẫn cảm với sâu bệnh Vì thế, một số giống mới tiếp tục được tạo ra có khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh như AGS 129, AGS 19, AGS 29 và các giống cho năng suất cao (trên 5 tấn/ha) như: AGS 129, AGS 154,… [57] Đặc biệt, vào năm 1980, Trung tâm nghiên cứu phát triển rau màu Đông Nam á đã thiết lập hệ thống tuyển chọn đánh giá đậu tương và kết quả là 6 nước sau đây được công nhận có 7 giống đậu tương mới

Trang 19

Wilisa giống Tawan G 2120 Honduras Darco-1 Năng suất cao, thời gian ngắn và chống bệnh đốm lá

Mỹ Dowlingb Chống bệnh rỉ sắt

Malaysia T 30050 Năng suất cao

Taiwan Kaohsiung

No 9

Thích hợp trồng vào vụ xuân và vụ hè

Trong khu vực châu á, Trung Quốc là nước đứng đầu về sản lượng (15,45 triệu tấn năm 2002) chiếm gần 10% tổng sản lượng thế giới Mấy năm gần đây Trung Quốc đã không ngừng ứng dụng các công nghệ khoa học mới nhằm cải tiến các dạng cũ tạo ra các dạng mới có khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh và cỏ dại, phù hợp với khí hậu tiểu vùng và đồng thời chọn giống có năng suất cao trên 2 tấn/ha

Viện khoa học Nông nghiệp Đài Loan đã bắt đầu chương trình chọn tạo giống từ năm 1961 và đã đưa vào sản xuất 1 số giống như Kaohsing 3, Tai nung 3, Tai nung 4,…Các giống này (đặc biệt là Tai nung 4) được dùng làm nguồn gen kháng bệnh trong các chương trình lai tạo giống ở các cơ sở khác như Trạm thí nghiệm Marjo (Thái Lan), Trường Đại học Philippin [14]

Theo Sumarno (1987) [58], khi nghiên cứu chọn giống đậu tương ở Indonesia cho biết nguyên nhân làm giảm năng suất đậu tương ở Indonesia là do: Giống địa phương năng suất thấp, hạt giống kém chất lượng, làm đất và phòng trừ cỏ dại kém, bị nhiễm sâu bệnh, quá nhiều nước trong thời kỳ sinh trưởng hoặc khô hạn ở thời kỳ sinh thực, trồng đậu tương trên đất không thích hợp và đầu tư thấp Vì vậy, ngoài việc chọn tạo ra các giống đậu tương có năng suất cao thì giống đó đòi hỏi phải có thêm các yếu tố quan trọng khác đó là:

- Thích nghi với mức tối thiểu hoặc không cần làm đất và cỏ dại

- Chín sớm: Các giống có thời gian sinh trưởng ngắn ngày (75 ngày), chín sớm để tránh khô hạn trong suốt thời kỳ sinh trưởng sinh thực

Trang 20

- Khả năng nẩy mầm: ở vùng nhiệt đới hạt đậu tương nhanh chóng bị hư hỏng khi bảo quản ở điều kiện bình thường Hạt giống có khả năng nẩy mầm tốt là rất quan trọng

- Môi trường cụ thể: Môi trường ẩm ướt, nhiều mưa, ánh sáng yếu và mây

mù thì yêu cầu làm đất đầy đủ và làm cỏ thường xuyên giúp cho đậu tương phát triển Trời khô ráo, nhiệt độ cao có thể trồng đậu tương trên đất vừa trồng lúa và cùng cạnh tranh dinh dưỡng với cỏ Vì thế, phải trồng những giống thích hợp với môi trường cụ thể để cho năng suất đậu tương cao

- Chịu pH thấp: Ngoại ô Java, hầu hết đất bị chua, (pH thấp từ 4,5 – 5), trồng các giống đậu tương cho năng suất cao ở vùng đất này là rất cần thiết

- Chịu bóng: Cây đậu tương trồng trên đất không thường xuyên luân canh với cây trồng khác, bóng tối có thể làm giảm 60% năng suất đậu tương Cho nên phải chọn những giống đậu tương trồng được trong bóng râm thì cây mới sinh trưởng phát triển và cho năng suất tốt

- Giống chống chịu: Đậu tương vùng ôn đới bị tấn công bởi rất nhiều loài côn trùng như chân chạy (Plusia chalcytes), bọ xít xanh, sâu khoang, sâu bore

đục quả đậu tương (Etiella zinckenella), ruồi đục quả đậu tương (Agromyra phaseoli), xén tóc ăn lá đậu tương (Phaedonia inclusa) Rất khó để chọn ra những giống chống chịu được hầu hết các loại côn trùng Nên chọn ra các giống chống chịu với một vài loài nào đó là cả một quá trình lâu dài

Về bệnh: Bệnh rỉ sắt là bệnh quan trọng, bệnh nặng có thể làm mất 75% năng suất đậu tương Bệnh rỉ sắt sẽ không còn là vấn đề nghiệm trọng khi ta luân canh với cây trồng khác không phải là cây họ đậu Bệnh virus làm cho cây có biểu hiện khảm vàng, còi cọc và mầm bị lụi Bệnh do virus hại có thể làm mất 100% năng suất đậu tương Việc chọn ra giống chống chịu với bệnh

rỉ sắt và bệnh virus đều quan trọng như nhau

2.4.2 Những nghiên cứu trong nước

ở Việt Nam, công tác chọn tạo giống đậu tương tập chung vào một số

Trang 21

hướng chính sau đây [4]

- Chọn giống thích hợp cho từng thời vụ gieo trồng khác nhau: Miền Nam chọn bộ giống thích hợp cho 2 vụ là mùa khô và mùa mưa ở các tỉnh phía Bắc, chọn bộ giống thích hợp cho cả 3 vụ xuân, hè đông

- Xác định các bộ giống thích hợp cho các vùng sinh thái khác nhau

- Chọn giống có năng suất cao

Trong những năm qua công tác chọn tạo giống đậu tương liên tục được phát triển, nhiều giống đậu tương mới được đưa vào sản xuất Đồng thời các phương pháp để chọn tạo ra các giống đậu tương mới cũng rất phong phú như lai hữu tính, xử lý đột biến, chọn lọc cá thể, thu thập và nhập nội giống đậu tương,… Nhưng thành công lớn nhất phải kể đến là phương pháp lai hữu tính Lai hữu tính là phương pháp cơ bản để tạo ra các biến dị tổ hợp phục vụ cho chọn lọc Nhờ lai hữu tính mà có thể phối hợp được các đặc tính và tính trạng

có lợi, những ưu điểm tốt nhất của bố mẹ để tạo ra con lai theo các mục đích khác nhau Trong những năm qua đã có rất nhiều giống đậu tương được tạo ra bằng con đường này như AK04, ĐT92, ĐT93, VX93, Đ96-02, TL 57-(A-57),

Từ năm 1991 - 1995, công tác chọn tạo giống đậu tương ở các trường

Đại học cũng như các viện nghiên cứu Nông nghiệp đã đạt được những thành tựu đáng kể đó là

Vũ Đình Chính (1982) [2], bộ môn Cây Công Nghiệp - Trường Đại Học

Trang 22

Nông Nghiệp I Hà Nội, đã sử dụng phương pháp lai hữu tính từ tổ hợp lai DL02

x ĐH4 tạo ra giống D140 Năm 1995, D140 được đưa vào thí nghiệm so sánh giống chính quy Kết quả là D140 có thể sinh trưởng tốt ở cả 3 vụ trong năm, thời gian sinh trưởng 90 - 100 ngày, khả năng thích ứng rộng, tỷ lệ quả 3 hạt cao, khối lượng1000 hạt lớn, mầu sắc đẹp, năng suất cao (18 - 19 tạ/ha)

Cũng trong thời gian này, Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (1995) [33] đã chọn tạo ra:

Giống đậu tương ĐT80, đây là giống có thời gian sinh trưởng trung ngày, phản ứng với chu kỳ ánh sáng nên vụ hè thu 95 – 100 ngày, vụ xuân 90 – 100 ngày, vụ thu 80 – 85 ngày, sinh trưởng mạnh nhất ở vụ hè, số quả trên cây nhiều, năng suất trung bình 1,2 – 1,5 tấn/ha Cứng cây, chống đổ, ra hoa nhiều đợt, bộ rễ ăn sâu, rộng giúp cây trống đổ, chịu hạn Thích hợp nhất là vụ

hè thu ở miền núi, có thể trồng trong vụ xuân ở miền núi, trung du và đồng bằng, nhân giống vụ đông ở trung du đồng bằng Giống đã được công nhận là giống quốc gia

Giống đậu tương AK05, giống có thời gian sinh trưởng trung bình (90 –

95 ngày), sinh trưởng khoẻ, chống bệnh khá, có tiềm năng năng suất cao, chịu rét, phẩm chất tốt, mẫu mã đẹp đáp ứng được nhu cầu thị hiếu Năng suất luôn

ổn định qua các năm, các vùng sinh thái khác nhau AK05 phát triển tốt trong

điều kiện vụ xuân và vụ đông Giống AK05 đã được công nhận là giống quốc gia tháng 1/1995

Giống đậu tương M103, có thời gian sinh trưởng trung bình 85 – 90 ngày, sinh trưởng khỏe, thích ứng rộng, có thể gieo trồng 3 vụ trong năm nhưng thích hợp nhất ở vụ hè, năng suất có thể đạt 15 - 25 tạ/ha Giống có hạt

to màu đẹp, phẩm chất tốt Có thể gieo trồng trên nhiều loại đất khác nhau

Giống đậu tương VX 9-2, đây là giống có tiềm năng suất cao (trung bình

đạt 18 tạ/ha, có khả năng chống đổ và chống chịu sâu bệnh tốt đặc biệt là bệnh

rỉ sắt VX 9-2 thích hợp cho vụ xuân và vụ thu đông ở vùng đồng bằng và trung

Trang 23

du miền Bắc

Giống đậu tương DT 84, là giống ngắn ngày (84 - 90 ngày), có khả năng thích ứng rộng, có tiềm năng năng suất cao, cho năng suất thực tế trung bình cao hơn các giống đậu tương khác trong cùng thời gian sinh trưởng từ 10 – 30%, thích nghi tốt với điều kiện thời tiết bất thuận, chống chịu sâu bệnh khá, chất lượng hạt giống tốt

Giống đậu tương AK 04, là giống có nhiều đặc điểm sinh lý của giống cho năng suất cao, diện tích lá, hiệu suất quang hợp sau thời kỳ ra hoa đều cao, khả năng vận chuyển tích luỹ chất khô về hạt tốt Giống có năng suất cao, thích hợp cho vùng thâm canh, khả năng chống đổ tốt

Giống đậu tương V48, giống có thời gian sinh trưởng trung bình thích hợp cho gieo trồng trong vụ đông và vụ xuân V84 là giống có kiểu hình cây gọn, bộ lá đẹp, sinh trưởng khoẻ, chống đổ khá Giống có tỷ lệ quả 3 hạt cao, khối lượng hạt khá cao, do đó giống có tiềm năng năng suất cao

Giống đậu tương ĐT 93, giống có thể trồng và cho thu hoạch khá ở cả 3

vụ trong năm, thời gian sinh trưởng ngắn ở cả 3 vụ Vụ xuân và vụ đông cho năng suất xấp xỉ AK 03, vụ hè thì năng suất hơn hẳn giống Lơ Hà Bắc ĐT93

là giống có giá trị thương phẩm cao

Ngoài ra, còn có một số giống đậu tương triển vọng như TL57, DT90, AGS 314, VN1

Trong năm 1995 - 1996,Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (1997) [34] đã:

Nhập nội một số giống đậu tương rau, sản phẩm của đậu tương rau là quả xanh ở thời kỳ chín, hạt to, mềm, vị ngọt, nó được coi là một trong những loại rau xanh ngon nhất ở Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc và Triều Tiên

Đậu tương rau trồng trong điều kiện miền Bắc nước ta cho năng suất khá cao,

có giống đạt 6 -7 tấn quả có giá trị thương phẩm/1ha (giống AGS333 đạt 7783 kg/ha) Màu sắc vỏ hạt, chiều dài quả 2 hạt, 3 hạt hầu hết các giống đều đạt

Trang 24

yêu cầu trên (4,5cm) Nhưng chiều rộng quả 2 hạt, 3 hạt chỉ có 7 giống đạt yêu cầu trong đó có 3 giống là AGS 331, AGS 334, và AGS 335 đạt trên 1,3

cm Đa số các giống đậu đều có thời gian sinh trưởng trung bình trên 90 ngày Thời gian từ mọc đến thu hoạch quả tươi từ 69 - 80 ngày, thời gian từ khi quả

đẫy hạt đến khi quả bắt đầu chín kéo dài rất thuận lợi cho thu hoạch quả xanh Các giống đậu rau đều cứng cây, chống đổ tốt, vỏ quả dày ít bị sâu đục quả

Khảo sát một số chỉ tiêu về chất lượng và phẩm chất hạt trong tập đoàn 541 giống đậu tương nhập nội từ 26 nước, 4 châu (á, âu, Phi, Mỹ) đã cho kết quả:

- Qua khảo sát 5 chỉ tiêu (Khối lượng 1000 hạt, khối lượng hạt khô/cây, hàm lượng đạm, hàm lượng dầu và thời gian sinh trưởng) chúng đều có hệ số tương quan nhỏ (nghĩa là tương quan không chặt)

- Trong 3 chỉ tiêu về phẩm chất hạt đậu tương (khối lượng 1000 hạt, hàm lượng đạm, hàm lượng dầu) nên chú ý chọn theo khối lượng 1000 hạt là chính sẽ có hiệu quả cao hơn

- Khi chọn các chỉ tiêu về chất lượng hạt phải quan tâm đến chế độ chăm sóc và yếu tố ngoại cảnh tác động

- Đã chọn ra 11 giống hạt to, 10 giống ngắn ngày, 10 giống năng suất hạt/cây cao, 9 giống hàm lượng đạm cao và 10 giống hàm lượng dầu cao Những giống này có thể sử dụng theo từng chỉ tiêu hoặc làm bố mẹ lai tạo ra các giống tổng hợp nhiều đặc tính quý

- Giới thiệu 3 giống đậu tương có phẩm chất hạt cao là Murayutaka, Enrei và M103

Theo Trần Đình Long (1999) [36] thì tiềm năng phát triển sản xuất đậu tương đông trên đất hai vụ lúa ở vùng Đồng bằng sông Hồng là rất lớn Chỉ tính riêng các tỉnh thuộc vùng này và một phần nhỏ thuộc vùng Trung du khu Bốn cũ diện tích lúa mùa trên 800.000 ha Nếu chỉ đưa 50% diện tích này vào cấy lúa mùa sớm thì mỗi vụ có thể trồng được khoảng 400.000 ha đậu tương

đông Như vậy, ngoài 2 vụ lúa còn tăng thêm được 1 vụ đậu tương và thu được

Trang 25

sản lượng trên 560.000 tấn đậu tương sản phẩm hàng hoá, góp phần đưa vụ

đông trở thàng vụ sản xuất chính, tăng thu nhập cho nông dân và phá thế độc canh cây lúa ở vùng đất trũng Đồng bằng sông Hồng

Trong năm 1998, từ 52 mẫu giống đậu tương (bao gồm các giống đậu tương được trồng phổ biến trong sản xuất và các mẫu giống nhập nội từ Trung tâm nghiên cứu rau màu châu á), Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam đã phân lập được 2 giống đậu tương GC 86004-9 và AGS129 Đây là 2 giống kháng được bệnh đốm chấm vi khuẩn (vụ hè) và bệnh gỉ sắt, có tiềm năng năng suất cao Cũng trong thời gian trên, bộ môn Di truyền và Miễn Dịch thực vật của viện cũng tạo ra được giống đậu tương ĐT 99-1 Đây là giống có đặc tính sinh trưởng khoẻ, thời gian sinh trưởng ngắn, có khả năng kháng 1 số bệnh hại chính trên cây đậu tương Đặc biệt, giống có thể trồng

85 - 98 ngày có thể trồng 3 vụ trong năm AK06 cho năng suất cao và ổn

định ở vụ Xuân đạt 23,5 tạ/ha, vụ hè 24,2 tạ/ha, vụ Động đạt 17,0 tạ/ha AK06 nhiễm nhẹ với các loài sâu bệnh, chống chịu khá với điều kiện thời tiết bất lợi, thích ứng rộng trên các hệ thống canh tác ở vùng Đồng bằng sông Hồng

Trung tâm tài nguyên di truyền Thực vật đã đánh giá tập đoàn đậu tương trong ngân hàng gen cây trồng theo mùa vụ gieo trồng và giới thiệu các nguồn gen cho chọn tạo giống và sản xuất Kết quả là đã phân được 4 nhóm thời gian sinh trưởng theo các mùa vụ khác nhau là nhóm cực sớm, nhóm chín sớm, nhóm chín sớm trung bình, và nhóm chín trung bình Phân lập được 9 giống đậu tương kháng bệnh gỉ sắt và 87 giống kháng bệnh virus

Trang 26

Với mục tiêu trong giai đoạn 1995 - 2000 là đưa năng suất đậu tương lên

ít nhất là 1,5 tấn/ha, mở rộng diện tích gieo trồng đặc biệt là các tỉnh miền Bắc để

có sản lượng khoảng 50.000 tấn mỗi năm Để đạt được mục tiêu nhà nước đề ra, ngoài việc triển khai thực hiện tốt chương trình nghiên cứu phát triển đậu đỗ quốc gia, hàng năm Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm Đậu đỗ - Viện khoa học

kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam đã xúc tiến các mối quan hệ hợp tác với nhiều tổ chức quốc tế về lĩnh vực cây đậu tương Đặc biệt, là mối quan hệ giữa trung tâm với tổ chức nghiên cứu khoa học công nghệ nhiệt đới.liên hợp úc thông qua dự

án “Cải tiến giống và tính thích nghi của đậu tương tại Việt Nam và úc’’ được ký kết vào ngày 21/09/1999 giữa chính phủ úc, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ giáo dục và Đào tạo Việt Nam Nội dung cơ bản tại Việt Nam là tăng năng suất và sản lượng đậu tương thông qua cải tiến giống, áp dụng và tăng cường các phương pháp canh tác tiên tiến ở vụ đông và vụ xuân của vùng Đồng bằng sông Hồng Một số kết quả trong bước đầu thực hiện dự án đã đạt được qua thử nghiệm 56 giống bộ EV01, 20 giống bộ PA01 và 90 giống nhập nội từ úc trong các vụ tại các tỉnh trong cả nước cho thấy:

- Nhiều giống có năng suất cao thích hợp cho vụ xuân tại nhiều vùng sinh thái khác nhau như 95389, CM60, MSBR22, 94127-3-1-2, MSBR20 năng suất đạt 1,9 - 3,5 tấn/ha

- Một số giống thích hợp cho vụ hè là SJ4, LO-75-1558,… năng suất

đạt 2,2 đến 2,8 tấn/ha

- Một số giống thích hợp cho vụ đông như 95389, Empoga 304,…

- Một số giống thích hợp cho vụ hè là SJ4, LO-75-1558, năng suất đạt 1,5 đến 2,2 tấn/ha

- Một số giống thích hợp cho cả 3 vụ như MSBR20, CLS 2111, CM60

- Một số giống thích hợp cho Đồng bằng sông Cửu Long như 95389, CM60, MSBR20, CLS2111, Emgopa 304,…

Trang 27

- Một số giống thích hợp cho vùng núi Đông Bắc là SJ4, LO-75-1558

- Một số giống thích hợp cho vùng Đồng bằng sông Hồng là 95389, CM60, CM60, MSBR20, MSBR22,…

Cũng trong năm 2000, Viện khoa học kỹ thụât Nông nghiệp Việt Nam

đã chọn tạo giống đậu tương kháng bệnh gỉ sắt và cho năng suất cao ĐT2000,

có thời gian sinh trưởng 100 - 110 ngày, thích hợp gieo trồng trong vụ xuân

ĐT2000 có tiềm năng năng suất cao 4,42 tấn/ha Kết quả khảo nghiệm nhiều vùng cho thấy năng suất ĐT2000 đạt 19,5 - 30,5 tạ/ha Trong sản xuất thử trên

đồng ruộng nông dân, giống ĐT2000 đạt năng suất cao 2,7 - 3,0 tấn/ha) Cùng thời gian đó, giống ĐT12 cũng được chọn ra Đây là giống có thời gian sinh trưởng cực ngắn (71 - 80 ngày), có thể trồng 3 vụ trong năm, đặc biệt rất phù hợp trên đất đậu tương hè giữa 2 vụ lúa Năng suất trung bình đạt (13 - 22 tạ/ha) Giống ĐT12 có khả năng chống đổ, chống tách quả, nhiễm bệnh ở mức nhẹ và trung bình [38]

Theo Nguyễn Thị Văn và CTV (2003) [41], kết quả nghiên cứu các giống đậu tương nhập nội từ úc tại trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, kết quả cho thấy:

- Một số mẫu giống đậu tương nhập nội từ úc sau khi chọn lọc có khả năng thích ứng, có thời gian sinh trưởng phù hợp, có thể trồng ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ

- Trong 25 mẫu giống thử nghiêm, mẫu giống điển hình có triển vọng cho năng suất cao là CLS 1.112 Tuy nhiên, CLS 1.112 chưa ổn định về mặt di truyền, cần tiếp tục chọn lọc trong thời gian tới, có thể đưa vào mạng lưới khảo nghiệm giống nhà nước và thử nghiệm trong sản xuất

- Mẫu giống 96031411 thuộc loại hình sinh trưởng vô hạn, có thời gian sinh trưởng dài từ 125 - 135 ngày, phân cành nhiều, cao cây, có thành phần sinh khối lớn Đề nghị thử nghiệm phát triển ở vùng trung du và miền núi phía Bắc

Trang 28

- Các mẫu giống có khả năng chịu rét khá, có thể trồng được ở vụ đông muộn như G12120.94252 - 911, 94252 - 1 sẽ là nguồn gen quý phục vụ công tác chọn tạo giống đậu tương có khả năng chịu rét để phát triển trong vụ

đông

Đến năm 2003, Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam đã chọn lọc được giống đậu tương TN- 01 Đây là giống cho năng suất cao và ổn định trong nhiều năm Giống có khả năng thích ứng rộng cả về mặt sinh thái cũng như thời vụ gieo trồng, cho năng suất cao nhất trong vụ đông, có khả năng kháng bệnh và chống đổ khá, thời gian sinh trưởng trung bình [40]

Trong năm 2004, Viện nghiên cứu Ngô đã lai tạo và chọn lọc được giống đậu tương ĐN-5 Đây là giống đậu tương mới, có thời sinh trưởng trung bình, sinh trưởng khoẻ, khả năng chống bệnh khá và chịu hạn tốt Giống phân cành nhiều, cao cây trung bình, sai quả, kích cỡ hạt trung bình, mầu sắc quả

và vỏ hạt đẹp, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng ĐN-5 cho năng suất cao ở cả 3 vụ gieo trồng ( Xuân-Hè-Đông, năng suất tương ứng là 19,03 tạ/ha; 18,52 tạ/ha;15,37 tạ/ha) có thể thay thế 1 phần các giống đậu tương cũ như V74, VX9-3 [42 ]

Trong công tác chọn tạo giống, muốn tăng hiệu quả chọn lọc phải căn

cứ vào các tính trạng ít bị ảnh hưởng bởi điều kiện ngoại cảnh, phải xác định

được hệ số biến dị và nguồn gốc gây ra biến dị Muốn có năng suất cao phải căn cứ vào các chỉ tiêu như số đốt trên cây, số hạt trong quả, khối lượng 1000 hạt để phân lập và chọn lọc [21]

Khi nghiên cứu biến động của một số tính trạng số lượng ở các giống

đậu ăn hạt qua các đợt gieo trồng ở Đồng bằng sông Hồng, Vũ Tuyên Hoàng

và Đào Quang Vinh (1984) [13] cho biết sự biến động theo giống thấp hơn sự biến động theo đợt trồng Một số tính trạng như số đốt trên thân, số đốt mang quả có hệ số biến động theo giống tương đương hệ số biến động theo đợt trồng Các tác giả còn cho biết gữa năng suất hạt với các tính trạng số lượng

Trang 29

có mối quan hệ với nhau Xác định được mối quan hệ của năng suất với các tính trạng số lượng và phạm vi biến động giữa các tính trạng đó sẽ đưa ra được phương hướng tác động hợp lý để nâng cao năng suất Đối với những tính trạng tương quan chặt với năng suất nhưng biến động nhiều theo điều kiện trồng trọt thì nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật tác động, những tính trạng tương đối ổn định có thể làm căn cứ khi trồng

Đánh giá khả năng chịu hạn của 1004 mẫu giống đậu tương được nhập nội từ năm 1988 - 1991 cho thấy những giống có khả năng chịu hạn tốt đều có nguồn gốc từ Trung Quốc Những giống này thường thấp cây, phiến lá dầy, nhỏ và nhọn, có mật độ lông phủ trên lá cao Ngoài ra, khả năng chịu hạn tương quan thuận chặt với mật độ lông phủ và mật độ khí khổng ở cả mặt trên

và mặt dưới lá nhưng kích thước khí khổng có tương quan rất yếu với khả năng chịu hạn của các mẫu giống [12]

Trần Đình Đông và CTV (1994) [9], khi đánh giá khả năng thích ứng của số dòng đậu tương đột biến qua các thời vụ đã xác định được các dòng S13, S25, S52 ít nhậy cảm với điều kiện môi trường, có năng suất ổn định qua các thời vụ đồng thời có thể gieo trồng được cả 3 vụ trong năm

2.5 Những nghiên cứu về xác định thời vụ trồng đậu tương

Trong chọn tạo giống đậu tương mới thì việc xác lập các biện pháp kỹ thuật phù hợp để đậu tương sinh trưởng phát triển tốt, phát huy hết tiềm năng năng suất của giống là vấn đề không thể thiếu, góp phần hoàn thiện quy trình sản suất giống Trong đó, vấn đề xác đinh thời vụ hợp lý cho từng giống sẽ tạo

điều kiện cho cây phát triển cân đối tận dụng mọi điều kiện về chế độ ánh sáng, lượng mưa, dinh dưỡng,… là rất cần thiết

ở nước ta, cây đậu tương được gieo trồng gần như quanh năm nhất là

điều kiện khí hậu thời tiết của vùng Đồng bằng Bắc Bộ Trên thực tế cây đậu tương cũng đã được sắp xếp vào tất cả các vụ trong năm ở mỗi vùng khác nhau thường có những vụ chính chiếm một tỷ lệ diện tích lớn hơn các vụ khác

Trang 30

Thời vụ gieo trồng trong điều kiện sản xuất có nhiều vụ nối tiếp nhau, đan xen nhau là cả một vấn đề bố trí phức tạp, nhưng kinh nghiệm “Nhất thì nhì thục” của nông dân ta không chỉ đúng với lúa mà còn đúng cả với các cây màu trong

đó có cây đậu tương Do nhiều yếu tố khác nhau chi phối nên thời vụ của các giống, các vụ, các vùng khác nhau không thể giống nhau nên mỗi địa phương, thậm chí mỗi nhà cần xác định cho mình thời vụ cụ thể thích hợp làm sao cho vừa phù hợp được với quy luật sinh trưởng phát triển của giống mà mình sử dụng, đồng thời có thể tránh được những khó khăn về điều kiện thời tiết cũng như các đợt phát sinh của sâu bệnh hại

Theo quy trình kỹ thuật sản xuất đậu tương của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn cho các tỉnh phía Bắc [28] như sau:

- Các giống chín trung bình: Gieo từ 15/5 đến 20/6

- Các giống chín muộn: Gieo từ 25/4 đến 20/5

3 Vụ thu

- ở miền núi với những giống chín trung bình gieo từ 20/6 đến 10/7

- ở vùng núi mà hay có các trận mưa to thì nên kết thúc sớm hơn

- Vùng đồng bằng, trung du miền núi Bắc bộ và khu Bốn cũ:

+ Vụ xuân: Vùng Đồng bằng Bắc bộ và Thanh Hoá phải gieo làm sao để thu hoạch được trước 10/6, còn miền núi phải thu hoạch trước 31/5, để giải phóng

đất làm lúa mùa, vùng từ Nghệ An lại tránh sao cho khi đậu tương ra hoa, quả

Trang 31

rộ không gặp gió Lào

+ Vụ hè thường gieo từ 10 - 30 tháng 5, vùng đồi núi có thể dùng giống chín muộn và gieo đầu tháng 5 lúc bắt đầu có mưa để khi có mưa to cây cũng

đã lớn, đất cũng đỡ xói mòn

+ Vụ hè thu với các nhóm giống chín trung bình nên gieo từ 6/6 đến 15/7

Đây là vụ đậu tương ở miền núi và Trung du phía Bắc Vùng đồi Nghệ An có thể gieo đến cuối tháng 7

+ Vụ thu đông gieo vào cuối tháng 9 đầu tháng 10, chậm nhất là 10/10

- Vùng Đồng bằng sông Cửu Long ở đây thường có hai vụ mà chủ yếu là trong mùa khô

+ Vụ 1 gieo trong tháng 12, sau khi gặt lúa và thu hoạch vào tháng 2, thường có tập quán là gieo sạ vào lúa

+ Vụ 2 thường gieo vào cuối tháng 2 đầu tháng 3 và thu hoạch vào tháng 5 bằng các giống chín sớm để thu hoạch được trước mùa mưa

- Vùng Đông Nam Bộ, ở đây cũng trồng 2 vụ đậu tương nhưng lại trồng vào mùa mưa

+ Vụ 1 gieo đầu tháng 5 khi bắt đầu có mưa to

+ Vụ 2 gieo vào đầu tháng 8 và thu hoạch và cuối tháng 10 đầu tháng 11 là lúc đã vào mùa khô

- Vùng Duyên hải NamTrung Bộ cũng gieo đậu tương vào tháng 1, 2 đầu mùa mưa và thu hoạch vào tháng 4, 5

- Vùng Tây Nguyên, ở đây cũng có 2 vụ tương tự như ở miền Đông Nam Bộ: + Vụ 1 gieo từ đầu đến giữa tháng 5 và thu hoạch vào tháng 8

+ Vụ 2 gieo từ tháng 8 và thu hoạch vào tháng 11 cũng vào mùa khô Vụ này nơi nào có nước tưới cũng cho năng suất cao

Trong nội dung dự án CS1/95/130 cải tiến giống và tính thích nghi của

đậu tương ở Việt Nam đã nghiên cứu ảnh hưởng của giống và thời vụ gieo trồng đến sinh trưởng phát triển và năng suất đậu tương vụ hè 2002 vùng núi,

Trang 32

Xuân Mai - Hà Tây , kết quả như sau [43]:

- Năng suất của các giống ổn định trong cả 3 thời vụ gieo Giống CM60

có thời gian sinh trưởng dài cho năng suất cao nhất đạt 2,4 tấn/ha Các giống

có thời gian sinh trưởng trung bình cho năng suất khá là M103 (1,67 tấn/ha)

và TN12 (1.6 tấn/ha) ở các thời vụ gieo muộn (27/7 và 12/8), năng suất chất khô cao hơn Đồng thời ở các giống ngắn ngày có hệ số kinh tế cao hơn

- Qua 3 thời vụ gieo, các giống có thời gian sinh trưởng ngắn thì sinh trưởng ổn định hơn, cho năng suất chất khô và năng suất hạt không sai khác giữa các thời vụ Các giống có thời gian sinh trưởng dài thường sinh trưởng rút ngắn lại, cho năng suất chất khô cao hơn trong các thời vụ gieo sau, nhưng cho năng suất hạt không khác nhau giữa 3 thời vụ

- Có sự tương quan giữa chỉ số diện tích lá, khối lượng chất khô lá và sự hấp thu ánh sáng giai đoạn kết thúc đến năng suất chất khô và năng suất hạt Năng suất hạt cao nhất khi LAI đạt 3,5 m2lá/m2đất và khối lượng chất khô lá đạt khoảng 150g/m2 đất, tại đó năng suất hạt đạt 2,4 tấn/ha trong điều kiện thí nghiệm

Theo Hinson K, E.E.Hartwig (1990) [44] cho rằng ở vùng nhiệt đới mùa gieo trồng thích hợp với sản xuất đậu tương phần lớn do chế độ mưa quyết định Thời gian gieo trồng thay đổi trong năm, có nghĩa là cây đậu tương sẽ mọc dưới điều kiện thời gian kéo dài khác nhau của chu kỳ sáng Thời gian kéo dài của chu kỳ ánh sáng có thể ảnh hưởng rõ rệt đến quá trình tăng trưởng và năng suất đậu tương Trong thực tế ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, hiệu quả của chu kỳ ánh sáng đối với sự tăng trưởng và phát triển

đậu tương phụ thuộc và các giống và thời gian kéo dài của mùa vụ gieo trồng Các giống thích nghi với mùa vụ gieo trồng ngắn thì ít có phản ứng với những thay đổi về độ dài ngày Điều đó không có nghĩa là chúng không nhậy cảm với chu kỳ ánh sáng mà là chu kỳ ánh sáng khá ngắn cũng đủ để kích thích sự

ra hoa sớm vào bất cứ thời điểm gieo trồng nào trong năm

ở những nơi mà mùa mưa kéo dài hoặc nơi xa xích đạo, các giống gieo

Trang 33

trồng có phản ứng rõ hơn đối với những biến đổi về chu kỳ sáng trải qua trong năm vì việc gieo trồng những giống đó bị trì hoãn sang mùa hạ nên thời gian tới lúc chín bị rút ngắn Sự giảm bớt số ngày từ lúc nhú mầm đến lúc chín do việc gieo trồng bị chậm lại, chủ yếu vào thời kỳ cây trước khi ra hoa Thời kỳ sinh dưỡng bị rút ngắn thường đi đôi với giảm chiều cao cây và sản lượng cuối cùng Phần lớn trường hợp thời điểm gieo trồng tối ưu đối với những giống có phản ứng với phạm vi chu kỳ sáng trong mùa vụ gieo trồng chính là thời điểm cho phép tăng trưởng sinh dưỡng vào lúc độ dài của ngày giảm dần Với độ ẩm thích hợp thì thời gian sinh trưởng của cây khoảng 110 - 130 ngày thường đi

đôi với năng suất tối đa Vì thời gian sinh trưởng dài của giống biến thiên theo thời điểm gieo trồng, nên muốn đạt được thời gian sinh trưởng mong muốn thì

đòi hỏi phải có sự đồng bộ chặt chẽ giữa thời điểm gieo trồng và giống

Khi thời điểm gieo trồng dẫn đến giai đoạn sinh trưởng sinh thực xẩy ra vào thời kỳ độ dài của ngày tăng thì thời gian sinh trưởng của các giống nhậy cảm với chu kỳ sáng có thể kéo dài rõ rệt Do đó, đối với trường hợp này (trồng vào mùa đông) thì các giống có thời gian sinh trưởng ngắn tỏ ra rất phù hợp

2.6 Các yếu tố hạn chế sản xuất đậu tương ở Việt Nam

Một là yếu tố kinh tế, hộ nông dân có thu nhập thấp nên không có khả năng mua giống tốt và phân bón, vật tư nông nghiệp để đầu tư trồng đậu tương Kết quả điều tra cho thấy 75 - 80% số hộ nông dân ở Bắc Giang, Thanh Hoá, Nghệ An thiếu vốn đầu tư thâm canh, trong khi nhà nước chưa có chính sách hỗ trợ tích cực như trợ giá giống mới trong 1 vài năm đầu để nông dân mạnh dạn sử dụng giống mới cho sản xuất Giá bán sản phẩm đậu tương không ổn định cũng là nguyên nhân quan trọng cản trở cho sản xuất đậu tương Hệ thống cung ứng giống còn bất cập Đến nay trong cả nước chưa có cơ quan hay công ty nào chịu trách nhiệm cung ứng giống đậu đỗ vì giống đậu

đỗ chứa hàm lượng dầu cao dễ bị mất sức nẩy mầm, khó bảo quản Giống chủ yếu do nông dân tự chọn, bảo quản và trao đổi lẫn nhau do vậy dẫn đến tình

Trang 34

trạng lẫn giống Đây là 1 trong những vấn đề làm cho năng suất đậu tương thấp và không ổn định Các cơ quan nghiên cứu chọn tạo ra giống mới có tiềm năng năng suất cao nhưng do thiếu vốn, thiếu cơ sở vật chất để tổ chức sản xuất và dịch vụ cung ứng giống nên tốc độ phát triển giống mới còn chậm so với yêu cầu của sản xuất Vấn đề thuỷ lợi, thiếu nước vào thời điểm gieo trồng

và quá dư thừa nước vào thời kỳ thu hoạch do công trình thuỷ lợi chưa đáp ứng yêu cầu tưới tiêu thuận lợi vẫn thường xuyên xẩy ra làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm

Hai là yếu tố phi sinh học, khí hậu, đất đai bất thuận là yếu tố quan trọng hạn chế năng suất đậu tương Nhìn chung, khí hậu ở nước ta phù hợp với sinh trưởng phát triển của đậu tương Tuy nhiên, vào thời điểm trồng nhiệt

độ thường xuống thấp (16 - 180C) làm hạt nẩy mầm kém, tốc độ mọc ban đầu chậm Cá biệt có năm nhiệt độ xuống thấp dưới 100C liên tục trong vòng 10 -

15 ngày làm ảnh hưởng đến mật độ cây trên đồng ruộng và năng suất thấp

Ba là giống và sâu bệnh, đây là hai yếu tố sinh học quan trọng Đậu tương là cây truyền thống của nông dân ta, song năng suất đậu tương còn rất thấp so với tiềm năng Thiếu giống có tiềm năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt, chống chịu sâu bệnh và khả năng thích ứng rộng cho các vùng sinh thái khác nhau là nguyên nhân chủ yếu hạn chế năng suất đậu tương Trong những năm gần đây, công tác chọn tạo giống đã thu được một số kết quả đáng khích lệ Các giống đậu tương mới cũng dần dần thay thế các giống cũ Tuy nhiên, nếu đem so sánh với các cây trồng khác như lúa, ngô thì số lượng giống như trên là quá ít và thiếu sự đa dạng về nhóm giống cho các điều kiện và nhu cầu khác nhau Ngoài ra, việc mở rộng áp dụng giống mới trong sản xuất còn chậm

Sâu bệnh là một trong yếu tố hạn chế quan trọng đối với đậu tương Sâu hại nguy hiểm nhất là dòi đục quả, sâu đục quả, bọ xít, sâu xanh, bọ nhẩy, bọ trĩ, nhện Trong đó, dòi đục thân thường gây hại làm chết cây giai đoạn mới

Trang 35

mọc, sâu đục thân làm chết cây, sâu xanh hại hoa và sâu đục quả làm giảm

đáng kể năng suất Còn bệnh hại chủ yếu là lở cổ rễ, gỉ sắt, sương mai, đốm chấm vi khuẩn, virut hại lá Trong các bệnh trên, ở miềm Bắc bệnh gỉ sắt thường gây hại nặng trọng vụ xuân, bệnh virut khảm lá, đốm chấm vi khuẩn thường gây hại nặng trong vụ hè

Trang 36

3 Vật liệu, phương pháp và nội dung nghiên cứu

3.1 Vật liệu nghiên cứu

Thí nghiệm khảo sát tập các dòng, giống đậu tương

Vật liệu nghiên cứu gồm tập đoàn các dòng, giống đậu tương (50 dòng, giống đậu tương)

Thí nghiệm so sánh một số dòng, giống đậu tương triển vọng

Vật liệu nghiên cứu gồm 7 dòng, giống đậu tương sau:

Thí nghiệm thời vụ gieo trồng

Vật liệu nghiên cứu bao gồm 2 giống đậu tương là: ĐT12 và D140

3.2 Phương pháp nghiên cứu

Thí nghiệm khảo sát tập đoàn: Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp tập đoàn (Phương pháp tuần tự không lặp lại) Lấy giống DT84 làm đối chứng Mỗi dòng, giống được gieo thành một luống Cứ 10 dòng, giống thì

được gieo giống đối chứng Diện tích một dòng, giống là 3m2 Với tổng diện tích là 150m2(chưa kể bảo vệ)

Thí nghiệm so sánh: Gồm 7 dòng, giống (7 công thức) được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh 3 lần nhắc lại lấy giống đậu tương V74 làm đối chứng Diện tích 1 ô thí nghiệm là 10m2 với tổng diện tích là 10m2 x 7 x 3 =

210 m2 (chưa kể bảo vệ)

Thí nghiệm thời vụ: Bao gồm 4 thời vụ trên 2 giống ĐT12 và D140

Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp Split – plot Diện tích 1 ô thí nghiệm là 10m2, với tổng diện tích là 240m2 (chưa kể bảo vệ)

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Các thí nghiệm nghiên cứu

Trang 37

3.3.1.1 Thí nghiệm khảo sát tập đoàn đậu tương trong điều kiện vụ hè thu

2003 và vụ xuân 2004

3.3.1.2 Thí nghiệm so sánh một số dòng, giống đậu tương vụ xuân 2004

3.3.1.3 Thí nghiệm ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến sinh trưởng, phát triển

và năng suất của 2 giống đậu tương ĐT12 và D140 vụ xuân

3.3.2 Quy trình kỹ thuật cho các thí nghiệm

Thí nghiệm khảo sát tập đoàn

Vụ hè thu gieo: 15/7/2003

Thí nghiệm thời vụ

Thời vụ 1 gieo: 01/02/2004

Thời vụ 2 gieo: 10/02/2004

Thời vụ 3 gieo: 20/02/2004

Thời vụ 4 gieo: 01/03/2004

Trang 38

Phun thuốc kịp thời để phòng trừ các loại sâu, bệnh hại

3.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi

3.3.3.1 Các đặc trưng hình thái

- Màu sắc thân mầm

- Lá: Hình dạng, màu sắc lá

- Màu sắc hoa, màu sắc quả, màu sắc hạt, màu sắc rốn hạt

3.3.3.2 Các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển

- Thời gian từ gieo – mọc (ngày)

- Tỷ lệ mọc mầm (%)

- Thời gian từ gieo - ra hoa (ngày)

- Thời gian từ gieo – thu hoạch (ngày)

- Thời gian nở hoa (ngày)

- Chiều cao thân chính (cm)

- Đường kính thân (mm)

- Diện tích lá (dm2/cây) ở 3 thời kỳ: + Bắt đầu ra hoa

+ Hoa rộ + Quả mẩy

- Theo dõi nốt sần ở 3 thời kỳ: + Bắt đầu ra hoa

+ Hoa rộ

Trang 39

+ Quả mẩy

Đếm tổng số nốt sần, nốt sần hữu hiệu, vô hiệu và cân khối l−ợng nốt sần

- Khả năng tích luỹ chất khô ở cả 3 thời kỳ: + Bắt đầu ra hoa

+ Hoa rộ + Quả mẩy

- Các yếu tố cấu thành năng suất

+ Khả năng chống đổ: Đếm số cây đổ, tính tỷ lệ, phân cấp Theo TCN

10 - 98, chia thành các cấp sau:

+ Khả năng chống chịu sâu bệnh hại

Sâu cuốn lá: Đếm số lá bị cuốn/tổng số lá/cây, tính tỷ lệ %

Sâu đục quả: Đếm số quả bị hại/tống số quả theo dõi, tính tỷ lệ %

Trang 40

Rệp: Theo TCN 10 - 95, phân cấp hại đối với loại trích hút theo 3 cấp như sau:

Cấp 1: Nhẹ (xuất hiện rải rác) Cấp 2: Trung bình (phân bố dưới 1/3 dảnh, búp, cờ, cây) Cấp 3 : Nặng (phân bố trên 1/3 dảnh, búp, cờ, cây)

Đốm vi khuẩn, sương mai: Theo TCN 10 - 98, đánh giá theo cấp bệnh 1

- 9 như sau:

Cấp 1: Không bị bệnh Cấp 3:1 - 5% diện tích lá bị bệnh Cấp 5: 6 -15% diện tích lá bị bệnh Cấp 7:16 - 50% diện tích lá bị bệnh

Cấp 9: > 50% diện tích lá bị bệnh 3.4 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được sử lý theo phương pháp thống kê số học bằng phần mềm IRISTAT

Ngày đăng: 08/08/2013, 22:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Bình, Vũ Đình Chính, Nguyễn Thế Côn, Lê Song Dự, Đoàn Thị Thanh Nhàn, Bùi Xuân Sửu (1996), Giáo trình cây công nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây công nghiệp
Tác giả: Nguyễn Văn Bình, Vũ Đình Chính, Nguyễn Thế Côn, Lê Song Dự, Đoàn Thị Thanh Nhàn, Bùi Xuân Sửu
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
2. Vũ Đình Chính (1995), Nghiên cứu tập đoàn giống để chọn giống đậu t−ơng thích hợp chho vụ hè vùng Đồng bằng trung du Bắc bộ, Luận án tiến sĩ nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tập đoàn giống để chọn giống đậu t−ơng thích hợp chho vụ hè vùng Đồng bằng trung du Bắc bộ
Tác giả: Vũ Đình Chính
Năm: 1995
3. Nguyễn Sinh Cúc (1995), Nông nghiệp Việt Nam 1945 - 1995, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp Việt Nam 1945 - 1995
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
5. Cù Xuân D− (1989), “Phát triển sản xuất đậu đỗ để đáp ứng nhu cầu l−ơng thực, thực phẩm ở n−ớc ta”, Nông nghiệp và Công nghệ thực phẩm, 2(4), tr. 196 - 199 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển sản xuất đậu đỗ để đáp ứng nhu cầu l−ơng thực, thực phẩm ở n−ớc ta”, "Nông nghiệp và Công nghệ thực phẩm
Tác giả: Cù Xuân D−
Năm: 1989
6. Lê Song Dự (1988), Cơ cấu mùa vụ đậu t−ơng ở Đồng bằng và trung du Bắc Bộ, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu mùa vụ đậu t−ơng ở Đồng bằng và trung du Bắc Bộ
Tác giả: Lê Song Dự
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1988
7. Lê Song Dự (1997), Cải tiến giống đậu t−ơng ở miền Bắc Việt Nam, NXB Nông nghiệp, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải tiến giống đậu t−ơng ở miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Lê Song Dự
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
8. Nguyễn Danh Đông (1997), Kỹ thuật trồng đậu t−ơng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng đậu t−ơng
Tác giả: Nguyễn Danh Đông
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
9. Trần Đình Đông và CTV (1994), “Khả năng thích ứng với các thời vụ khác nhau của một số dòng giống đậu tương đột biến”, Tuyển tập kết quảnghiên cứu khoa học của khoa sau Đại học tr−ờng Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, 13(2) tr. 28 - 29, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng thích ứng với các thời vụ khác nhau của một số dòng giống đậu tương đột biến”, "Tuyển tập kết quả "nghiên cứu khoa học của khoa sau Đại học tr−ờng Đại học Nông nghiệp I Hà Nội
Tác giả: Trần Đình Đông và CTV
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1994
10. Bùi T−ờng Hạnh (1997), Đỗ t−ơng với phụ nữ lớn tuổi, Báo khoa học và đời sống số 51 ngày 16/12/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ t−ơng với phụ nữ lớn tuổi
Tác giả: Bùi T−ờng Hạnh
Năm: 1997
11. Nguyễn Văn Hiển (2000), Giáo trình chọn giống cây trồng, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chọn giống cây trồng
Tác giả: Nguyễn Văn Hiển
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
12. Nguyễn Huy Hoàng (1992), Nghiên cứu và đánh giá khả năng chịu hạn của các mẫu giống đậu t−ơng nhập nội ở miền Bắc Việt Nam, Luận án PTS Khoa học Nông nghiệp, Viện Khoa học Kỹ thuật Nộng nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và đánh giá khả năng chịu hạn của các mẫu giống đậu t−ơng nhập nội ở miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huy Hoàng
Năm: 1992
13. Vũ Tuyên Hoàng và Đào Quang Vinh (1978 -1983), “Biến động của một số tính trạng số l−ợng ở các giống đậu ăn hạt qua các đợt gieo trồng tạiĐồng bằng sông Hồng”, Tuyển tập kết quả nghiên cứu về cây l−ơng thực và cây thực phẩm, 1(2), tr. 24 - 26, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến động của một số tính trạng số l−ợng ở các giống đậu ăn hạt qua các đợt gieo trồng tại Đồng bằng sông Hồng”, "Tuyển tập kết quả nghiên cứu về cây l−ơng thực và cây thực phẩm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
14. Vũ Tuyên Hoàng và CTV (1995), “Thành tựu của ph−ơng pháp tạo giống mới bằng đột biến phóng xạ trên thế giới”, Tập san tổng kết Khoa học Kỹ thuật Nông - Lâm nghiệp, 2(12), tr.23 - 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành tựu của ph−ơng pháp tạo giống mới bằng đột biến phóng xạ trên thế giới”, "Tập san tổng kết Khoa học Kỹ thuật Nông - Lâm nghiệp
Tác giả: Vũ Tuyên Hoàng và CTV
Năm: 1995
15. Lê Độ Hoàng và CTV (1997), T− liệu về cây đậu t−ơng, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: T− liệu về cây đậu t−ơng
Tác giả: Lê Độ Hoàng và CTV
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
Năm: 1997
16.Vũ Thế Hùng (1981), “ảnh hưởng của độ ẩm đất, hạn, úng đến năng suất đậu t−ơng”, Kết quả nghiên cứu khoa học Nông Nghiệp 1976 - 1978, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ảnh hưởng của độ ẩm đất, hạn, úng đến năng suất đậu t−ơng"”, Kết quả nghiên cứu khoa học Nông Nghiệp 1976 - 1978
Tác giả: Vũ Thế Hùng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1981
18. Trần Văn Lài, Trần Nghĩa, Ngô Quang Thắng, Lê Trần Hùng, Ngô Đức D−ơng (1993), Kỹ thuật gieo trồng lạc, đậu, vừng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật gieo trồng lạc, đậu, vừng
Tác giả: Trần Văn Lài, Trần Nghĩa, Ngô Quang Thắng, Lê Trần Hùng, Ngô Đức D−ơng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1993
19. Trần Văn Lài (1996), “Phát triển cây đậu đỗ làm thực phẩm và cải tạo đất ở Việt Nam”, Nông nghiệp trên đất dốc - thách thức và tiềm năng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển cây đậu đỗ làm thực phẩm và cải tạo đất ở Việt Nam”, "Nông nghiệp trên đất dốc - thách thức và tiềm năng
Tác giả: Trần Văn Lài
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
20. Nguyễn Văn Lầm (1999), Biện pháp canh tác phòng chống sâu bệnh và cỏ dại trong nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp canh tác phòng chống sâu bệnh và cỏ dại trong nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Văn Lầm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1999
21. Trần Long (1977), “Sử dụng một số nhân tố đột biến để tạo vật liệu khởi đầu trong công tác chọn giống đậu t−ơng”, Tuyển tập kết quả nghiên cứu khoa học nông nghiệp 1967 - 1977 của tr−ờng Đại học Nông nghiệp II, 24(8), tr. 34 -36, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng một số nhân tố đột biến để tạo vật liệu khởi đầu trong công tác chọn giống đậu t−ơng”, "Tuyển tập kết quả nghiên cứu khoa học nông nghiệp 1967 - 1977 của tr−ờng Đại học Nông nghiệp II
Tác giả: Trần Long
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1977
22. Trần Đình Long (1991), Tiến bộ về trồng lạc và đậu đỗ ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến bộ về trồng lạc và đậu đỗ ở Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Long
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1991

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Diện tích, năng suất và sản l−ợng đậu t−ơng ở Việt Nam                                 N¨m - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và thời vụ gieo trồng của một số dòng, giống đậu tương trong điều kiện vụ hè thu và vụ xuân trên đất gia lâm hà nội
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản l−ợng đậu t−ơng ở Việt Nam N¨m (Trang 2)
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất và sản l−ợng đậu t−ơng trên thế giới  N¨m  Diện tích (triệu ha) Năng suất (tạ/ha)  Sản l−ợng (triệu tấn) - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và thời vụ gieo trồng của một số dòng, giống đậu tương trong điều kiện vụ hè thu và vụ xuân trên đất gia lâm hà nội
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản l−ợng đậu t−ơng trên thế giới N¨m Diện tích (triệu ha) Năng suất (tạ/ha) Sản l−ợng (triệu tấn) (Trang 11)
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất và sản l−ợng đậu t−ơng   của một số n−ớc trên thế giới - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và thời vụ gieo trồng của một số dòng, giống đậu tương trong điều kiện vụ hè thu và vụ xuân trên đất gia lâm hà nội
Bảng 2.2 Diện tích, năng suất và sản l−ợng đậu t−ơng của một số n−ớc trên thế giới (Trang 12)
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất đậu t−ơng ở Việt Nam - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và thời vụ gieo trồng của một số dòng, giống đậu tương trong điều kiện vụ hè thu và vụ xuân trên đất gia lâm hà nội
Bảng 2.3 Tình hình sản xuất đậu t−ơng ở Việt Nam (Trang 13)
Bảng 4.1: Thời gian sinh tr−ởng của các dòng, giống đậu t−ơng (ngày)  Từ mọc-nở hoa  Từ nở hoa-chín Tổng TGST T - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và thời vụ gieo trồng của một số dòng, giống đậu tương trong điều kiện vụ hè thu và vụ xuân trên đất gia lâm hà nội
Bảng 4.1 Thời gian sinh tr−ởng của các dòng, giống đậu t−ơng (ngày) Từ mọc-nở hoa Từ nở hoa-chín Tổng TGST T (Trang 42)
Bảng 4.2: Một số chỉ tiêu sinh tr−ởng của các dòng, giống đậu t−ơng  Chiều cao thân - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và thời vụ gieo trồng của một số dòng, giống đậu tương trong điều kiện vụ hè thu và vụ xuân trên đất gia lâm hà nội
Bảng 4.2 Một số chỉ tiêu sinh tr−ởng của các dòng, giống đậu t−ơng Chiều cao thân (Trang 45)
Bảng 4.3: Tỷ lệ sâu, bệnh hại của các dòng, giống đậu t−ơng  Sâu cuốn lá - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và thời vụ gieo trồng của một số dòng, giống đậu tương trong điều kiện vụ hè thu và vụ xuân trên đất gia lâm hà nội
Bảng 4.3 Tỷ lệ sâu, bệnh hại của các dòng, giống đậu t−ơng Sâu cuốn lá (Trang 47)
Bảng 4.4.1: Các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng, giống đậu t−ơng - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và thời vụ gieo trồng của một số dòng, giống đậu tương trong điều kiện vụ hè thu và vụ xuân trên đất gia lâm hà nội
Bảng 4.4.1 Các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng, giống đậu t−ơng (Trang 49)
Bảng 4.4.2: Các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng, giống  Tỷ lệ quả 1 hạt - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và thời vụ gieo trồng của một số dòng, giống đậu tương trong điều kiện vụ hè thu và vụ xuân trên đất gia lâm hà nội
Bảng 4.4.2 Các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng, giống Tỷ lệ quả 1 hạt (Trang 50)
Bảng 4.5: Năng suất của các dòng, giống đậu t−ơng  Năng suất cá - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và thời vụ gieo trồng của một số dòng, giống đậu tương trong điều kiện vụ hè thu và vụ xuân trên đất gia lâm hà nội
Bảng 4.5 Năng suất của các dòng, giống đậu t−ơng Năng suất cá (Trang 52)
Bảng 4.6: Thời gian và tỷ lệ mọc mầm của một số dòng, giống đậu t−ơng  triển vọng - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và thời vụ gieo trồng của một số dòng, giống đậu tương trong điều kiện vụ hè thu và vụ xuân trên đất gia lâm hà nội
Bảng 4.6 Thời gian và tỷ lệ mọc mầm của một số dòng, giống đậu t−ơng triển vọng (Trang 54)
Bảng 4.7: Thời gian sinh tr−ởng của một số dòng, giống đậu t−ơng triển  vọng (ngày) - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và thời vụ gieo trồng của một số dòng, giống đậu tương trong điều kiện vụ hè thu và vụ xuân trên đất gia lâm hà nội
Bảng 4.7 Thời gian sinh tr−ởng của một số dòng, giống đậu t−ơng triển vọng (ngày) (Trang 55)
Bảng 4.8: Các chỉ tiêu sinh tr−ởng của các dòng, giống đậu t−ơng  triển vọng  TT  Dòng, giống  Chiều cao - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và thời vụ gieo trồng của một số dòng, giống đậu tương trong điều kiện vụ hè thu và vụ xuân trên đất gia lâm hà nội
Bảng 4.8 Các chỉ tiêu sinh tr−ởng của các dòng, giống đậu t−ơng triển vọng TT Dòng, giống Chiều cao (Trang 56)
Bảng 4.10: Diện tích lá và chỉ số diện tích lá của một số dòng, giống đậu  t−ơng triển vọng - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và thời vụ gieo trồng của một số dòng, giống đậu tương trong điều kiện vụ hè thu và vụ xuân trên đất gia lâm hà nội
Bảng 4.10 Diện tích lá và chỉ số diện tích lá của một số dòng, giống đậu t−ơng triển vọng (Trang 59)
Bảng 4.11: Khả năng hình thành nốt sần của một số dòng, giống đậu  t−ơng triển vọng - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và thời vụ gieo trồng của một số dòng, giống đậu tương trong điều kiện vụ hè thu và vụ xuân trên đất gia lâm hà nội
Bảng 4.11 Khả năng hình thành nốt sần của một số dòng, giống đậu t−ơng triển vọng (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm