A. PHẦN MỞ ĐẦU Việt Nam nằm ở một vị trí có điều kiện thuận lợi để sản xuất và xuất khẩu nông sản. Các mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam đã đóng góp rất lớn vào giá trị xuất khẩu hàng hóa và thu ngoại tệ cho đất nước. Sau 4 năm gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO ngành nông nghiệp Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể đóng góp vào nền kinh tế quốc dân, bên cạnh đó còn một số hạn chế và thách thức đối với ngành nông nghiệp Việt Nam nói chung và các sản phẩm chủ lực trong xuất khẩu từ Nông nghiệp nói riêng. Đóng góp to lớn vào giá trị xuất khẩu của cả nước thì cần nhắc tới 6 mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam như: Gạo, cà phê, cao su, hồ tiêu, chè và hạt điều. 1. Lý do chọn đề tài: Việt Nam là nước đang phát triển đi lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu, trình độ thấp. Dựa vào điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp tham gia vào thị trường quốc tế. Trước kia với chế độ tập trung quan liêu bao cấp, thị trường Việt Nam chỉ gói gọn thị trường trong nước, nền kinh tế đình trệ, dần dần đâm vào khủng hoảng và suy thoái. Với sự lãnh đạo tài tình của Đảng cộng sản Việt Nam đã tìm ra con đường đúng đắn mở rộng thị trường ngoài nước để giao lưu, học hỏi và trao đổi sản phẩm, đẩy mạnh quá trình phát triển của sản xuất. Nông nghiệp không nằm ngoài sự vận động đó. Sản phẩm nông nghiệp Việt Nam nổi tiếng trên trường quốc tế vì giá rẻ và sản phẩm thủ công chiếm tỉ trọng lớn, chất dinh dưỡng được đảm bảo,.. Tuy nhiên các mặt hàng nông sản của Việt Nam khi tham gia vào thị trường quốc tế không chỉ gặp những thuận lợi nhất định mà còn gặp rất nhiều khó khăn. Để nghiên cứu sâu hơn về các mặt hàng nông sản Việt Nam chúng tôi quyết định thực hiện đề tài này nhằm mục đích nhận biết rõ những thuận lợi và khó khăn của các mặt hàng nông sản Việt Nam vốn là thế mạnh của kinh tế cả nước để từ đó Nhà nước và cơ quan chức năng có những điều chỉnh phù hợp để nâng cao năng suất cũng như giá trị sản lượng nông sản xuất khẩu thu lại nhiều lợi ích cho đất nước. Là sinh viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn nhóm chúng tôi quyết định làm đề tài này để tìm hiểu sâu thêm và củng cố thêm kiến thức đã thu thập được. Đó là mục đích để thực hiện nghiên cứu đề tài này. 2. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn và lý luận về công tác xuất khẩu nông sản Việt Nam ra thị trường quốc tế sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, từ đó tìm ra những thuận lợi khó khăn của 6 mặt hàng nông sản chủ lực để tìm cách hạn chế khó khăn và tận dụng cơ hội để nâng cao giá trị xuất khẩu và góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu: Phân tích cơ sở lý luận để làm rõ các quan điểm, nhận định, tiên đoán của các nhà kinh tế về vấn đề xuất khẩu của Việt Nam khi tham gia nhập WTO. Phân tích những thuận lợi, khó khăn của 6 mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam khi tham gia xuất khẩu. Đề xuất một số giải pháp và kết luận cần thiết khi thực hiện đề tài. 4. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là những bài báo, đề tài của các tác giả nói về tình hình xuất khẩu nông sản Việt Nam, tập trung nghiên cứu các bài viết về 6 nông sản chủ lực nêu trên. 5. Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thị trường xuất khẩu của 6 mặt hàng nông sản chủ lực: gạo, cà phê, cao su, hồ tiêu, chè, điều của Việt Nam kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO, tức từ ngày 7/11/2006. 6. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thống kê Phương pháp thu thập số liệu Phương pháp phân tích Phương pháp quan sát,.. Dựa vào các số liệu thu thập được phân tích vấn đề từ đó tìm ra những kết luận cần thiết để giải quyết vấn đề.
Trang 1Đề tài: Vấn đề xuất khẩu 6 mặt hàng nông sản chủ
lực của Việt Nam sau khi gia nhập WTO
A PHẦN MỞ ĐẦU
Việt Nam nằm ở một vị trí có điều kiện thuận lợi để sản xuất và xuất khẩu nông sản.Các mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam đã đóng góp rất lớn vào giá trị xuất khẩuhàng hóa và thu ngoại tệ cho đất nước Sau 4 năm gia nhập tổ chức thương mại thế giớiWTO ngành nông nghiệp Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể đóng góp vàonền kinh tế quốc dân, bên cạnh đó còn một số hạn chế và thách thức đối với ngành nôngnghiệp Việt Nam nói chung và các sản phẩm chủ lực trong xuất khẩu từ Nông nghiệp nóiriêng Đóng góp to lớn vào giá trị xuất khẩu của cả nước thì cần nhắc tới 6 mặt hàng nôngsản chủ lực của Việt Nam như: Gạo, cà phê, cao su, hồ tiêu, chè và hạt điều
1 Lý do chọn đề tài :
Việt Nam là nước đang phát triển đi lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu, trình độthấp Dựa vào điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp tham gia vàothị trường quốc tế Trước kia với chế độ tập trung quan liêu bao cấp, thị trường Việt Namchỉ gói gọn thị trường trong nước, nền kinh tế đình trệ, dần dần đâm vào khủng hoảng vàsuy thoái Với sự lãnh đạo tài tình của Đảng cộng sản Việt Nam đã tìm ra con đường đúngđắn mở rộng thị trường ngoài nước để giao lưu, học hỏi và trao đổi sản phẩm, đẩy mạnhquá trình phát triển của sản xuất Nông nghiệp không nằm ngoài sự vận động đó Sản phẩmnông nghiệp Việt Nam nổi tiếng trên trường quốc tế vì giá rẻ và sản phẩm thủ công chiếm
tỉ trọng lớn, chất dinh dưỡng được đảm bảo, Tuy nhiên các mặt hàng nông sản của ViệtNam khi tham gia vào thị trường quốc tế không chỉ gặp những thuận lợi nhất định mà còngặp rất nhiều khó khăn Để nghiên cứu sâu hơn về các mặt hàng nông sản Việt Nam chúngtôi quyết định thực hiện đề tài này nhằm mục đích nhận biết rõ những thuận lợi và khókhăn của các mặt hàng nông sản Việt Nam vốn là thế mạnh của kinh tế cả nước để từ đóNhà nước và cơ quan chức năng có những điều chỉnh phù hợp để nâng cao năng suất cũngnhư giá trị sản lượng nông sản xuất khẩu thu lại nhiều lợi ích cho đất nước Là sinh viênchuyên ngành Kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn nhóm chúng tôi quyết định làm
đề tài này để tìm hiểu sâu thêm và củng cố thêm kiến thức đã thu thập được Đó là mụcđích để thực hiện nghiên cứu đề tài này
Trang 22 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn và lý luận về công tác xuất khẩu nông sản Việt Nam
ra thị trường quốc tế sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, từ đótìm ra những thuận lợi khó khăn của 6 mặt hàng nông sản chủ lực để tìm cách hạn chế khókhăn và tận dụng cơ hội để nâng cao giá trị xuất khẩu và góp phần tăng trưởng kinh tế đấtnước
3 Nhiệm vụ nghiên cứu :
Phân tích cơ sở lý luận để làm rõ các quan điểm, nhận định, tiên đoán của các nhàkinh tế về vấn đề xuất khẩu của Việt Nam khi tham gia nhập WTO
Phân tích những thuận lợi, khó khăn của 6 mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Namkhi tham gia xuất khẩu
Đề xuất một số giải pháp và kết luận cần thiết khi thực hiện đề tài
4 Đối tượng nghiên cứu :
Đối tượng nghiên cứu là những bài báo, đề tài của các tác giả nói về tình hình xuấtkhẩu nông sản Việt Nam, tập trung nghiên cứu các bài viết về 6 nông sản chủ lực nêu trên
5 Phạm vi nghiên cứu :
Nghiên cứu thị trường xuất khẩu của 6 mặt hàng nông sản chủ lực: gạo, cà phê, cao
su, hồ tiêu, chè, điều của Việt Nam kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của
tổ chức thương mại thế giới WTO, tức từ ngày 7/11/2006
6 Phương pháp nghiên cứu:
Trang 3B NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trong một nền kinh tế mở thì hoạt động xuất nhập khẩu là không thể thiếu được vàđóng một vai trò quan trọng ảnh hưởng to lớn đến tăng trưởng của một nước
Xuất khẩu, trong lý luận thương mại quốc tế là việc bán hàng hoá và dịch vụ chonước ngoài, trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo IMF là việc bán hàng hóacho nước ngoài (theo điều 28, mục 1, chương 2 luật thương mại Việt Nam 2005) xuấtkhẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vựcđặc biệt nằm trên lãnh thổ việt nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định củapháp luật
Trong tính toán tổng cầu,xuất khẩu được coi là nhu cầu bên ngoài, đối với những nềnkinh tế mà cầu nội địa yếu, thì xuất khẩu có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế.Chính vì thế, nhiều nước đang phát triển theo đuổi chiến lược công nghiệp hoá hướng vàoxuất khẩu Việt Nam là một nước có tiềm năng về xuất khẩu nông sản.Tuy nhiên ,lạichưa phát huy được hết ưu thế đó của mình
Sự gia nhập vào tổ chức thương mại vừa là cơ hội lớn vừa là thách thức không nhỏcho nền kinh tế Việt Nam trong hoạt động xuất nhập khẩu.Nếu chúng ta không nghiêmkhắc nhìn lại và khắc phục thì những ưu thế về thị trường hoa quả sẽ không còn nữa.Các nước láng giềng của Việt Nam như Trung Quốc ,Thái Lan…vừa là thị trườngcủa ta vừa là đối thủ mạnh cạnh tranh với ta trên thị trường này.Họ đã có rất nhiều thay đổitrong các chính sách để thích nghi trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ hiệnnay, đặc biệt là trong “sân chơi” WTO
Tìm hiểu một chút về WTO
Tên đầy đủ là: World Trade Organization
WTO – Hiệp hội thương mại thế giới là sân chơi chung cho thị trường toàn cầu Là
Tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh điều chỉnh những hoạt động buôn bán đa phươngmang tính chất tương đối tự do, công bằng và tuân thủ những luật lệ rõ ràng
Là Tổ chức Quốc tế duy nhất quản lý luật lệ giữa các quốc gia trong thương mại quốc
tế, đó là những hiệp định đã và đang tiếp tục được đàm phán và ký kết giữa các quốc giahoặc lãnh thổ quan thuế thành viên
Những thuận lợi và khó khăn của Việt Nam khi gia nhập WTO
Thuận lợi không nhiều
Trang 4Đầu tư nước ngoài sẽ gia tăng trong lĩnh vực nông nghiệp, đem vào công nghệ mới,tiên tiến để thúc đẩy ngành chế biến nông sản, nhờ đó giúp mở mang những vùng đấthoang hóa, sản xuất những sản phẩm nông nghiệp độc đáo mà những công ty này đang cóthị trường, đưa hàng nông sản Việt Nam ra thị trường thế giới nhiều hơn sau.
Khi Việt Nam gia nhập WTO, những lợi ích tiềm năng như mở rộng thị trường chonhững mặt hàng xuất khẩu truyền thống nông nghiệp và thủy sản, đồng thời chúng ta có cơhội tiếp cận cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO (về lâu dài) giúp tránh được những vụkiện vô lý như cá tra - cá ba sa giữa Việt Nam và Mỹ Một khi ngành nông nghiệp đứngvững trên sân chơi WTO thì kinh tế nông nghiệp trở thành động lực chính thúc đẩy côngcuộc xóa đói giảm nghèo Lúc đó, nông nghiệp là chìa khóa tạo ra sự ổn định và phát triểnvùng nông thôn Trong bối cảnh đó, ngành nông nghiệp có thêm nhiều cơ hội phát triển
Cùng với những ưu thế sẵn có của nông sản Việt Nam, việc gia nhập WTO tiếp tụctạo đà thuận lợi cho xuất khẩu nông sản Bên cạnh những bạn hàng truyền thống, hầu hếtcác ngành hàng xuất khẩu trong năm nay đều tiếp nhận thêm những bạn hàng mới Nếunhư nhiều năm trước đây, xuất khẩu cao su của Việt Nam chủ yếu tập trung vào thị trườngTrung Quốc thì năm qua đã có sự chuyển dịch rõ rệt Từ đầu năm đến nay sản lượng cao suxuất khẩu sang Trung Quốc giảm chỉ còn khoảng 59%, trong khi xuất sang các thị trườngkhác như Hàn Quốc, Đài Loan, Malaixia, Đức lại tăng đáng kể Đặc biệt, sản lượng cao suxuất sang thị trường Malaixia trong năm nay đã tăng 3 lần so với năm trước và đây đượcđánh giá là thị trường chiến lược của cao su Việt Nam trong tương lai Với ngành chè,những nỗ lực cải thiện chất lượng chè Việt Nam sau khi gia nhập WTO còn mang lại kếtquả rõ nét hơn Theo Hiệp hội hội Chè Việt nam, sau những nỗ lực của ngành chè trongviệc đầu tư phát triển các cơ sở công nghiệp chế biến chè theo quy hoạch, đồng thời tổchức lại ngành chè theo hướng từng bước hiện đại hoá, tăng nhanh tỷ lệ các sản phẩm chètinh chế, có chất lượng cao và đa dạng hoá sản phẩm, năm nay giá chè xuất khẩu của ViệtNam đã được cải thiện đáng kể với mức tăng khoảng 25%, tương ứng mức tăng 270-280USD/tấn
Thách thức quá lớn
Khó khăn về trình độ phát triển
Mặc dù đã trải qua gần 20 năm mở cửa và đổi mới, nhưng hiện nay, Việt Nam vẫn
là nước đang phát triển ở trình độ thấp Gần 80% dân số vẫn sống dựa vào nông nghiệp,nền kinh tế thị trường đang trong giai đoạn hình thành và còn nhiều ảnh hưởng của thờikinh tế tập trung bao cấp Tình trạng độc quyền vẫn tồn tại khá nặng nề trong một số lĩnhvực, nhất là tài chính, ngân hàng, điện, bưu chính viễn thông; khả năng cạnh tranh của
Trang 5doanh nghiệp còn rất thấp; hệ thống pháp luật hiện hành chưa đáp ứng các yêu cầu của hộinhập… Tất cả các yếu tố ấy làm cho tiến trình hoàn tất các thủ tục và đáp ứng các điềukiện tham gia WTO của ta chậm trễ Những yêu cầu về mở cửa thị trường do các thànhviên WTO đưa ra rất cao, trong khi Việt Nam chỉ đủ sức đưa ra những cam kết thấp
Bất lợi của người đi sau
Việc gia nhập WTO sau 148 nước, trong đó có những nước tiềm năng xuất khẩu lớnnhư Thái Lan, Trung Quốc… càng làm tăng sự bất lợi của Việt Nam Việc Trung Quốc trởthành thành viên chính thức của WTO năm 2001 đã khiến Việt Nam khó khăn hơn trongviệc cạnh tranh với hàng hóa Trung Quốc vốn đang tràn ngập thị trường thế giới với giá rẻ.Việt Nam và Trung Quốc vốn tương đối giống nhau về trình độ kinh tế cũng như các mặthàng xuất khẩu Xuất khẩu chủ lực của Việt Nam có bốn sản phẩm giống của Trung Quốc,
đó là hàng dệt may, giày dép, gốm sứ và hàng điện tử Cả Việt Nam và Trung Quốc đều cómục tiêu là xuất sang các thị trường Nhật, ASEAN, EU, Mỹ Là thành viên của WTO, TrungQuốc được hưởng những mức thuế ưu đãi khi xuất sang các nước này, do vậy cuộc cạnhtranh sẽ ngày càng trở nên gay gắt
Cạnh tranh với các nước phát triển và đang phát triển
Gia nhập WTO nghĩa là tham gia một sân chơi bình đẳng Nhiều nước đang pháttriển có cùng trình độ như Việt Nam, có các chủng loại hàng hóa, dịch vụ tương tự nhưchúng ta, nhưng họ đã gia nhập WTO trước và đã được hưởng một số ưu đãi Việt Nam sẽ
là đối thủ cạnh tranh với các nước đang phát triển khác về hàng xuất khẩu vào các thịtrường lớn như Mỹ, EU… Để duy trì lợi thế cạnh tranh, các nước này không muốn chúng
ta có những điều kiện ưu đãi hơn họ khi chúng ta gia nhập WTO Vì vậy, trong quá trìnhđàm phán đa phương và song phương, Việt Nam cần khẳng định quyết tâm tham gia mộtsân chơi bình đẳng, tôn trọng lợi ích của các quốc gia khác, đặc biệt là với các đối tác cótiềm năng xung đột cạnh tranh nhưng đồng thời phải thuyết phục để họ hiểu thực trạngkinh tế Việt Nam và có những nhân nhượng thỏa đáng
Khi gia nhập WTO, Việt Nam cũng sẽ phải cạnh tranh với các nước đã phát triển,nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp mà Việt Nam có thế mạnh Việt Nam mong muốn giữnguyên mức trợ cấp xuất khẩu như hiện nay và dần dần giảm xuống phù hợp với các điềukhoản của WTO Thế nhưng, tại một số nước phát triển, nông sản vẫn tiếp tục được trợ giá
và rõ ràng hàng nông sản Việt Nam xuất sang các nước phát triển sẽ khó cạnh tranh đượcvới hàng nông sản nội địa vốn vẫn đang được các nước này bảo hộ
Mâu thuẫn giữa năng lực thực thi và năng lực cam kết
Trang 6Để tham gia WTO, Việt Nam không những phải hoàn thiện khung luật pháp đápứng điều kiện của một nước thành viên mà còn phải nghiêm túc thực hiện cam kết đó Đểđáp ứng các yêu cầu trên, Chính phủ Việt Nam đã đề ra Chương trình xây dựng luật pháp
để gia nhập WTO với hai phần: luật phục vụ nghĩa vụ của các nước thành viên WTO (bắtbuộc) như:
Luật về an toàn thực phẩm: suốt trong quá trình sản xuất, trái cây và rau quả ViệtNam phải có Chứng chỉ “nông nghiệp an toàn” hay “nông nghiệp tốt” (Good AgriculturalPractices, GAP) để chứng minh mặt hàng này luôn an toàn vệ sinh
Luật về chất lượng: mặt hàng nông sản Việt Nam phải cần rất nhiều chứng chỉ,chẳng hạn như chứng chỉ xác nhận nguồn gốc giống (chứng chỉ xác nhận giống khôngthuộc loại cây biến đổi gen, GMO), chứng chỉ báo cáo chất lượng (hàm lượng protein,chống oxy hóa, vitamine, đồng bộ về giống, độ chín, kích cỡ và màu sắc) để chứng minhmặt hàng có chất lượng cao và bổ dưỡng
Luật về số lượng: lượng hàng hóa lưu hành trong thị trường nông sản thế giới ngàynay vừa lớn về số (trăm tấn, ngàn tấn, vạn tấn), vừa đồng bộ (giống, kích cỡ, màu sắc, baobì) và chính xác về thời gian giao hàng (đúng ngày quy định hoặc thứ Tư mỗi tuần, tuầnđầu mỗi tháng )
Luật về giá cả: để yểm trợ cho cạnh tranh, giá cả trở nên một yếu tố quyết định Đây
là một thứ “luật bất thành văn” của bất cứ một cơ sở sản xuất hay một quốc gia nào trên thếgiới muốn tham dự cuộc chơi Nông dân Việt Nam phải hết sức quan tâm đến điểm này đểmặt hàng luôn có giá rẻ - vốn là một lợi thế của Việt Nam trong mấy năm qua
Trong bốn luật chơi kể trên, cái khó nhất cho nông nghiệp Việt Nam hiện nay là chutrình “nông nghiệp an toàn” hay “nông nghiệp tốt”, GAP Đây là một chương trình kiểmtra an toàn thực phẩm xuyên suốt từ A đến Z của dây chuyền sản xuất, bắt đầu từ khâuchuẩn bị nông trại, canh tác đến khâu thu hoạch, sau thu hoạch, tồn trữ, kể cả những yếu tốliên quan đến sản xuất như môi trường, các chất hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, bao bì
và ngay cả điều kiện làm việc và phúc lợi của người làm việc trong nông trại
Như vậy, chu trình nông nghiệp an toàn GAP là một bộ hồ sơ trình bày công nghệsản xuất của nông trại đồng thời cũng là bộ hồ sơ ghi chép chi tiết những hoạt động củanông trại đó Một số các nước ASEAN như Malaysia, Thái Lan, Singapore và Indonesiatuy có biên soạn chương trình GAP cho mình, nhưng việc xuất khẩu rau quả và trái cây của
họ vẫn không thuận lợi hơn vì những chu trình này đã không đáp ứng các đòi hỏi khắt khecủa thị trường châu Âu, Hoa Kỳ và Nhật Bản - là những thị trường vùng ôn đới có điềukiện khí hậu, khoa học kỹ thuật nông nghiệp và văn hóa ẩm thực khác biệt
Trang 7Cam kết khi gia nhập WTO không cho phép Chính phủ Việt Nam trợ cấp xuất khẩu.Tuy nhiên, Chính phủ được phép trợ cấp khuyến nông và phục vụ phát triển nông nghiệp.Vậy thì xây dựng chiến lược phát triển mạnh ngành trái cây, rau quả và hoa; nhanh chónghoàn thành chu trình nông nghiệp an toàn VietGAP; và dấy lên một phong trào tập huấnVietGAP đều khắp cho nông dân mới là trợ cấp WTO đúng kiểu nhất để Chính phủ giúpnông dân tham gia vào một cuộc chơi tuy hào hứng nhưng đầy bất trắc rủi ro
Việt Nam hứa sẽ tuân thủ các cam kết của mình ngay sau khi gia nhập WTO cho dùcác cam kết này có thể mâu thuẫn với pháp luật hiện hành Tuy vậy, việc thực thi các camkết là khó vì yêu cầu của các nước rất cao trong khi hệ thống pháp luật của ta chưa hoànchỉnh, nhiều quy định mới được thông qua, hoặc mới ban hành nhưng chưa được áp dụngtrong thực tiễn
Theo Hiệp định về các khía cạnh sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPs) củaWTO, các nước thành viên phải có hệ thống bảo vệ bản quyền, bằng phát minh, sáng chế,nhãn mác hàng hóa… rất nghiêm ngặt Thế nhưng, ở nước ta, việc sản xuất hàng giả, hàngnhái, ăn cắp bản quyền, mẫu mã… vẫn diễn ra tràn lan và chưa được giải quyết triệt để.Tình hình trên làm cho các doanh nghiệp Việt Nam khó có thể cạnh tranh bình đẳng vàđúng luật trên thị trường thế giới
Trang 8CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU
6 MẶT HÀNG NÔNG SẢN CHỦ LỰC
1 Gạo
Mặt hàng nông sản nước ta nhìn chung có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước
và thị trường quốc tế Trong 15 nhóm hàng xuất khẩu chủ lực thì có hơn một nửa là hàngnông sản, bao gồm: gạo, cà phê, nhân điều, hồ tiêu, cao su,, chè, rau quả, lạc nhân Một sốmặt hàng xét về quy mô có thể tác động đến thị trường và giá cả trên thế giới như gạo, càphê Robusta, hồ tiêu, cao su, nhân điều Sau ba năm gia nhập WTO, mặc dù phải đốimặt với nhiều khó khăn, thách thức nhưng nông sản Việt Nam cũng đạt được nhiều thànhtựu đáng kể
Trong các mặt hàng nông sản thì gạo chiếm tỷ trọng cao nhất, gạo không nhữnggóp phần ổn định tình hình lương thực trong nước mà còn chiếm tỷ lệ cao trong sảnlượng lương thực thế giới Mặt hàng này đã đem lại cho nền kinh tế Việt Nam nguồn ngoại
tệ tương đối cao đồng thời góp phần làm tăng vị thế của Việt Nam trong thị trường thếgiới Điều đó cho thấy mặt hàng lúa gạo đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống ngườidân Việt Nam cũng như trong công cuộc phát triển kinh tế Việt Nam
Trong nhiều năm, Việt Nam luôn là nước xuất khẩu gạo lớn đứng thứ 2 trên thế giới,
có sức cạnh tranh mạnh mẽ với các cường quốc sản xuất lúa gạo như Thái Lan và Ấn Độ
1.1 Thành tựu sau ba năm gia nhập WTO
Năm 2007
Năm 2007, cả nước đã xuất khẩu được 4,54 triệu tấn gạo với kim ngạch 1,47 tỷ USD,giảm 0,64% về lượng nhưng tăng 15,2% về trị giá so với năm 2006 Đơn giá xuất khẩutrung bình đạt cao nhất từ trước tới nay, đạt trung bình 324 USD/tấn, tăng 20,44% so vớigiá xuất khẩu trung bình năm 2006 và tăng 22,72% so với giá xuất khẩu trung bình năm
2005
Về chủng loại
Năm 2007, xuất khẩu gạo 15% tấm đạt 1,512 triệu tấn với kim ngạch 501,5 triệuUSD, tăng 15,04% về lượng và tăng 37,96% về trị giá so với năm 2006; tăng 21,84% vềlượng và tăng 44,67% về trị giá so với năm 2005 Năm 2007, loại gạo này được xuất khẩuchủ yếu sang các thị trường Indonesia (900.225 tấn, trị giá 281 triệu USD): Cuba (407.460tấn, trị giá 160 triệu USD); Malaixia (50.490 tấn, trị giá 15 triệu USD)…
Về thị trường
Trang 9Đứng đầu về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam năm 2007 là Philippine với1,454 triệu tấn, trị giá 464,87 triệu USD,giảm 3,71% về lượng nhưng tăng 8,3% về trị giá
so với năm 2006 Xuất khẩu sang thị trường này chủ yếu là gạo 25% tấm
Xuất khẩu sang Indonesia năm 2007 tăng khá mạnh, đạt 1,11 triệu tấn gạo với trị giá360,66 triệu USD, tăng tới 226,6% về lượng và tăng 244,75% về trị giá so với năm 2006;còn so với năm 2005 tăng 1029,39% về lượng và tăng 1220,74% về trị giá Thị trường nàychủ yếu nhập khẩu gạo 15% tấm và gạo nếp 10% tấm
Năm 2008
Sản lượng lúa cả nước là 38 triệu tấn, xuất khẩu gạo đạt kim ngạch 4,709 triệu tấnvới giá trị là 2,882 tỉ USD Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2008 cũng đạt mứccao, bình quân là 550 USD/tấn, gần gấp đôi so với năm 2007
Thị Trường xuất khẩu năm 2008
Trang 10Năm 2009
Cả nước hiện có 216 doanh nghiệp xuất khẩu gạo Năm 2009, thị trường hàng hoá thếgiới chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế nghiêm trọng,trong đó có lúa gạo Dưới sự điều hành xuất khẩu linh hoạt của Chính phủ, năm qua, cảnước đã xuất khẩu được 6,052 triệu tấn gạo, là năm xuất khẩu nhiều nhất từ trước đến nay;trong đó chủng loại gạo cao cấp chiếm đến 40, 25% Tổng giá trị xuất khẩu đạt 2,463 tỉUSD (giá FOB); về số lượng tăng 29,35% so năm 2008 Theo dự báo của ngành nôngnghiệp, lượng lúa hàng hoá cần tiêu thụ trong năm 2010 là hơn 11, 5 triệu tấn và sản lượngtồn từ năm 2009 chuyển sang thì lượng gạo hàng hoá cần tiêu thụ trong năm 2010 là 7,25triệu tấn
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong tháng 4 năm 2010lượng xuất khẩu gạo của cả nước đạt 700 ngàn tấn, đạt giá trị 385 triệu USD, đưa tổnglượng gạo xuất khẩu 4 tháng đầu năm lên 2,14 triệu tấn, thu về 1,18 tỷ USD Riêng cácdoanh nghiệp thành viên của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) trong 4 tháng năm
2010 đã ký hợp đồng xuất khẩu hơn 3,9 triệu tấn gạo các loại và hiện đã xuất đi được gần 2triệu tấn So với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu gạo 4 tháng đầu năm 2010 giảm 13,85% về
số lượng, nhưng giá trị FOB chỉ giảm 1,26%, trị giá CIF tăng 0,23% Trong đó, các hợpđồng tập trung chiếm trên 60 % (tăng 2,3%) và hợp đồng thương mại trên 39% (giảm hơn30% so với năm trước) Giá xuất khẩu bình quân đạt 466,95 USD/tấn, tăng 59,53 USD/tấn
so với cùng kỳ năm 2009
Việc ký kết và giao hàng các hợp đồng thương mại có dấu hiệu khôi phục trở lạitrong tháng 3 và tháng 4 năm 2010 Hợp đồng thương mại tháng 3 tăng hơn 139% so vớitháng 2 và tháng 4 tăng hơn 39,8% so với tháng 3 năm 2010 Điều này cho thấy, xuất khẩugạo của nước ta đang có những tín hiệu lạc quan Hiện nay, thị trường cũng thể hiện một sốyếu tố tích cực như: Iraq đang đấu thầu 120.000 tấn; Brazil mất mùa, thiếu gạo, có thểnhập 1,5 triệu tấn và tác động đến nhu cầu gạo từ châu Á; Trung Quốc bị hạn hán, có thểnhập một lượng lớn lương thực; Nam Mỹ hiện xuất khẩu gạo giá cao, không cạnh tranhđược với các nguồn châu Á
Hiện nay, gạo Việt Nam có mặt trên 100 nước chiếm 20%thị phần gạo thế giới Bêncạnh đó, giá trị gạo của ta cũng ngày càng được đánh giá cao hơn
1.2 Khó khăn, hạn chế
Thứ nhất, sản lượng gạo tăng nhưng giá trị không tăng; gạo Việt Nam xuất khẩu giá thấp nhất thế giới
Trang 11Từ nhiều năm nay, Việt Nam vẫn là nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 trên thế giới chỉsau Thái Lan Có một thực tế là chúng ta xuất khẩu mỗi năm một tăng và năm 2009 đạtmức kỉ lục 6 triệu tấn Tuy nhiên, khi nhìn lại về giá trị thì hạt gạo Việt Nam lại thuộc hàngthấp trong các nước xuất khẩu Nhiều người cho rằng: đã đến lúc cần tính toán lại, nhằmnâng cao giá trị mặt hàng vốn được xem là lợi thế của chúng ta.
Số liệu mới đây của Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho thấy gạo 5% tấm của Thái Lanđược chào bán 500 USD/tấn, Pakistan chào bán 415 USD/tấn trong khi Việt Nam chỉ cóthể chào bán 400 USD/tấn Tương tự, gạo 25% tấm của Việt Nam cũng thấp hơn khoảng70USD/tấn so với Thái Lan
Tình trạng trên đã kéo dài từ nhiều năm nay, qua đó cho thấy mặc dù chúng ta luônduy trì vị trí thứ 2 về số lượng gạo xuất khẩu trên thế giới nhưng mức lợi nhuận thực mang
về lại chưa tương xứng Theo các doanh nghiệp xuất khẩu, gạo Việt Nam vẫn được bán rathế giới, nhưng không phải ai cũng biết về chất lượng, về tên gọi của gạo Việt Nam
Các chuyên gia nông nghiệp cho rằng do chú trọng vào tăng năng suất hơn là chấtlượng nên suốt một thời gian dài, gạo Việt Nam chủ yếu được sản xuất từ những giốngphẩm chất thấp
Ngoài ra, việc hình thành những vùng chuyên canh lúa xuất khẩu vẫn còn khó khăn
do tỉ lệ đất của mỗi nông hộ khá thấp Như tại ĐBSCL, bình quân một hộ trồng lúa chỉ có1,3 hecta Trong đó có đến 30,6% hộ có diện tích từ 0,2 - 0,5 hecta và 7,7% hộ có diện tíchdưới 0,2 hecta
Các chuyên gia nông nghiệp cho rằng do chú trọng vào tăng năng suất hơn là chấtlượng nên suốt một thời gian dài, gạo Việt Nam chủ yếu được sản xuất từ những giốngphẩm chất thấp
Thứ hai, thị trường gạo khó ổn định Việt Nam là nước xuất khẩu lúa gạo lớn
nhưng nông dân lại không được hưởng nhiều lợi nhuận do giá cả và thị trường liên tục biến
động bất lợi Theo Bộ Tài chính, từ khi hộ gia đình nông dân được xem là đơn vị kinh tế tự
chủ, thóc gạo cung ứng ra thị trường do hàng triệu hộ nông dân sản xuất tạo nên một thịtrường cạnh tranh hoàn hảo
Tuy nhiên, có vẻ như sự cạnh tranh hoàn hảo ở đây chỉ nhìn từ phía người bán khimỗi hộ nông dân chỉ bán ra một lượng thóc gạo rất nhỏ so với toàn thị trường Nông dânkhông thể độc quyền về thị trường thì cũng không độc quyền về giá, phải chấp nhận giá thịtrường; một số lượng nhỏ nông dân tham gia hay rút khỏi thị trường cũng không ảnhhưởng đến mức giá chung
Trang 12Trong khi đó, người mua thì lại có quyền tự do lựa chọn mà không cần biết ngườibán là ai Với tính mùa vụ của lúa gạo, có thời điểm hàng triệu hộ nông dân cùng bán lúagạo Khi đó, người mua là những DN, các tư thương nhân cơ hội đó để ép giá, nông dân bị
lỗ vốn nhưng họ không thể tích trữ để giữ giá vì không có vốn
Các doanh nghiệp xuất khẩu lớn được kỳ vọng là người bình ổn thị trường mua lúatrực tiếp đến nông dân khoảng 20%, 80% còn lại mua qua “trung gian” và lực lượng nàyluôn ép giá bán xuống dưới giá mà các doanh nghiệp mua Vì vậy, lợi nhuận của người sảnxuất luôn bị giảm sút Điệp khúc “được mùa, rớt giá” thể hiện rõ ở những thời điểm nàynhưng nông dân không tự mình khắc phục được
Ngược lại, vào lúc giáp hạt, người sản xuất hết lúa bán ra ít, khối lượng cung nhỏ hơnmức cầu nên giá thóc, gạo trên thị trường tăng cao Vì thế, giá cao nhưng nông dân khônghưởng lợi gì Thực tế, đầu 2008, khi giá thế giới tăng kéo theo giá trong nước tăng ảo Tuynhiên, giá tăng chỉ gây khó cho người tiêu dùng, còn nông dân cũng không được hưởngnhiều vì lúa không còn để bán
Chuyên gia của Bộ Tài chính nhận định, sự biến động của thị trường đã tác độnglàm dịch chuyển, thậm chí phá vỡ cơ cấu sản xuất, cây trồng làm cho sản xuất không ổnđịnh, người sản xuất không yên tâm đầu tư do giá cả không ổn định, dẫn đến thua lỗ, phásản Trong quá trình kinh doanh người trồng lúa tuy biết điều đó nhưng không thể tự khắcphục được những bất lợi của thị trường mà đòi hỏi phải có sự can thiệp hỗ trợ của Nhànước
Thứ ba, gạo chất đầy kho Cuối tháng 2-2010, khi giá lúa gạo trong nước đang có
dấu hiệu xuống thấp, ngay lập tức VFA đã chỉ đạo 30 doanh nghiệp lớn thu mua tạm trữtrong hai đợt với số lượng 1,5 triệu tấn gạo Việc thu mua tạm trữ đã được doanh nghiệpchấp hành khá tốt Nhiều doanh nghiệp hy vọng giá gạo giảm chỉ trong thời gian ngắn rồilên lại khi thị trường sôi động Trái với dự đoán, xuất khẩu gạo trong thời gian gần đâyđang có chiều hướng không thuận lợi khi thị trường ế ẩm, giá gạo giảm mạnh Thị trườngkhông thuận lợi cùng với việc phải đẩy mạnh thu mua tạm trữ đã khiến các doanh nghiệpgạo gặp nhiều khó khăn Ví dụ Công ty Lương thực Trà Vinh trong kho còn tồn khoảng60.000-70.000 tấn Đây chính là gánh nặng mà công ty đang phải chịu trước áp lực của lãisuất ngân hàng 13-14%/năm như hiện tại Dù lượng gạo tồn còn khá nhiều nhưng trướcmắt công ty vẫn phải mua gạo tạm trữ theo chủ trương của hiệp hội Nếu công ty khôngmua thì nông dân không biết bán gạo cho ai Thị trường trầm lắng thế này, công ty cũngchưa biết giải quyết sao” - Giám đốc Nguyễn Văn Việt lo lắng Hơn thế nữa, hị trường gạothế giới đang trầm lắng đã gây ảnh hưởng tới xuất khẩu gạo của công ty Công ty không có
Trang 13thêm được hợp đồng xuất khẩu nào mới Những năm trước vào thời điểm này, Công tyLương thực Trà Vinh ký được khá nhiều hợp đồng thương mại nhưng trong năm nay rất ít,chỉ chiếm khoảng 10% lượng gạo xuất khẩu của công ty Từ đầu năm đến nay, công tyxuất khẩu được khoảng 30.000 tấn, chủ yếu sang thị trường tập trung Malaysia, Philippinesvới những hợp đồng được ký giữa chính phủ hai nước.
Thứ tư là cơ chế điều hành xuất khẩu gạo bộc lộ nhiều yếu kém Bên cạnh
những kết quả khả quan, việc điều hành xuất khẩu gạo thời gian qua bộc lộ nhiều tồn tạicần chấn chỉnh Với cơ chế điều hành như hiện nay, tất cả mọi doanh nghiệp đều có quyềnkinh doanh xuất khẩu gạo Số lượng doanh nghiệp xuất khẩu gạo đã lên đến hơn 200 doanhnghiệp Điều đáng nói là trong số đó có nhiều doanh nghiệp không đáp ứng được nhữngyêu cầu tối thiểu về cơ sở vật chất phục vụ xuất khẩu Thậm chí, nhiều doanh nghiệpkhông dự trữ đủ lượng gạo cần thiết cho xuất khẩu, chỉ khi ký được hợp đồng xuất khẩumới tổ chức mua lúa gạo của dân, dẫn đến tình trạng tới mùa thu hoạch, nông dân phải chờdoanh nghiệp ký hợp đồng xuất khẩu, thương lái mới đến mua Nếu giữ cơ chế cũ, ViệtNam mỗi năm xuất tới 6 triệu tấn gạo, nếu chia cho hàng trăm doanh nghiệp thì sẽ tăngthêm chi phí Hơn nữa, từ 2011, Việt Nam cho phép doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vàolĩnh vực sản xuất và xuất khẩu gạo, kéo theo khả năng dư thừa các nhà máy xay xát, khochứa
1.3 Giải pháp:
Thứ nhất, giữ giá để ổn định thị trường Theo dự báo mới nhất của Bộ Nông
nghiệp Mỹ, sản lượng gạo toàn cầu năm 2010 đạt khoảng 436,3 triệu tấn, giảm 2,5% so vớinăm 2009 Trong khi đó, dự báo tiêu thụ gạo toàn cầu năm 2010 sẽ ở mức kỷ lục 437,1triệu tấn, cao hơn 2,2 triệu tấn so với năm 2009 Theo các chuyên gia, mặc dù dự báo sảnlượng gạo toàn cầu năm 2010 sụt giảm, sức tiêu thụ tăng và thương mại tăng nhưng do ảnhhưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế vẫn còn, tất yếu sẽ tác động đến sứcmua nên tình hình thị trường vẫn diễn biến phức tạp: giá gạo có thể tăng do nhu cầu tăng;nhu cầu tăng nhưng sức mua có thể giảm (do thu nhập giảm); sự cạnh tranh của các loạilương thực có thể thay thế khác (đặc biệt là lúa mì, giá lại thấp hơn nhiều so với gạo)
Căn cứ dự báo sản lượng lúa gạo năm 2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triểnNông thôn báo cáo Thủ tướng theo văn bản số 457/BNN-KH ngày 11/2/2010, lượng lúahàng hoá cần tiêu thụ trong năm 2010 là 11,54 triệu tấn, chưa kể tồn kho năm 2009 chuyểnsang, Hiệp hội Lương thực Việt Nam đã đưa ra kế hoạch xuất khẩu năm 2010: quý 1 xuấtkhẩu 1,2 triệu tấn, quý 2 xuất khẩu 2 triệu tấn, quý 3 xuất 1,5 triệu tấn và quý 4 là 1,3 triệu
Trang 14tấn Thị trường xuất khẩu chính vẫn là Philippinnes, Malaysia, Cuba, châu Phi… (khôngthay đổi nhiều so với năm 2009).
Để công tác xuất khẩu gạo đạt hiệu quả cao hơn, Hiệp hội lương thực Việt Nam cầnphát huy hơn nữa vai trò đại diện cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo Việt Nam tham vấn choChính phủ chỉ đạo, điều hành công tác xuất khẩu gạo đạt được hiệu quả; tăng cường côngtác thông tin thị trường trực tiếp đến nông dân; các doanh nghiệp cần xây dựng vùng nguyên liệu chuyên canh để bảo đảm sản xuất đáp ứng yêu cầu chất lượng và xây dựngthương hiệu hàng hoá nâng cao giá trị hàng hoá Cần tổ chức lại hệ thống thương lái và xayxát gắn kết với các doanh nghiệp xuất khẩu để mua lúa gạo theo giá thị trường, không dướimức giá tối thiểu của Chính phủ phê duyệt Duy trì và mở rộng thị trường xuất khẩu, bằngcác đa dạng sản phẩm, tăng cường mối quan hệ với các khách hàng truyền thống và thiếtlập khách hàng mới
Để đạt được các mục tiêu xuất khẩu đề ra như trên, các doanh nghiệp xuất khẩutrước hết cần thống nhất, đoàn kết dưới sự điều phối của Hiệp hội Lương thực Việt Nam,theo sự chỉ đạo và điều hành của Chính phủ, kiên quyết đấu tranh với hiện tượng tiêu cực,bán phá giá, gây thiệt hại đến quyền lợi của người sản xuất, của doanh nghiệp Và trướcnhững biến động khó lường trong năm 2010, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo cần giữ giágạo ổn định, có thể chấp nhận được để cạnh tranh với các quốc gia xuất khẩu khác
Thứ hai, nâng cao sức cạnh tranh của lúa gạo Việt Nam Trước mắt, Việt Nam
cần nâng cao năng lực điều phối điều hành giữa Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp vàPhát triển Nông thôn, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và Ủy ban Nhân dân các tỉnh,thành phố vùng sản xuất lúa gạo cũng như VFA trong công tác chỉ đạo, điều phối hoạtđộng xuất khẩu
Việc tổ chức lại các doanh nghiệp xuất khẩu gạo, loại bỏ bớt thành phần tham giaxuất khẩu tự phát và chạy theo lợi nhuận thương mại; tạo cơ chế tích tụ quy mô hoạt độngxay xát, chế biến và dự trữ thông qua việc quy định cấp phép kinh doanh có điều kiện cũngrất cần thiết
Việc liên kết chặt chẽ giữa sản xuất, kinh doanh, nâng cao giá trị, chất lượng và xâydựng thương hiệu hạt gạo Việt Nam đang trở nên cấp thiết trong xu thế hội nhập, công tácmarketing là hết sức cần thiết trong việc đưa hạt gạo Việt Nam ra thị trường thế giới Cũngnhư bao loại hàng hóa khác, gạo Việt Nam cũng cần phải định vị thương hiệu và nếukhông có chiến lược rõ ràng thì việc bán gạo cũng chi phối bởi quy luật cung cầu như baoloại hàng hóa thông thường khác; phương phải nhanh chóng tổ chức lại sản xuất theohướng cánh đồng một giống ở những tổ hợp tác, trang trại, hợp tác xã Điều này sẽ thuận
Trang 15lợi cho việc gieo sạ đồng loạt, khống chế dịch bệnh và thực hiện quy trình cơ giới hóa mộtcách đồng bộ.
Bên cạnh đó, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ hợp lý cho nông dân và doanhnghiệp trong việc bao tiêu, tiêu thụ sản phẩm Có như vậy, hạt gạo Việt Nam mới cóthương hiệu, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế./
Thứ ba, Cần xây dựng thương hiệu cho gạo Việt Nam, tăng giá trị hạt gạo Việt Nam Việt Nam xuất khẩu lượng gạo lớn nhưng giá luôn thấp hơn gạo của Thái Lan vàichục USD/tấn, nguyên do là gạo Việt Nam chưa có thương hiệu và chất lượng chưa ổnđịnh
Trong khi đó, trên thị trường nội địa, gạo đóng gói có nhãn hiệu bày bán ở các siêuthị cũng có giá cao hơn gạo cùng loại ở các sạp khoảng 20% Do đó, điều cần làm là xâydựng thương hiệu lúa gạo trên cơ sở chuẩn hóa chất lượng lúa gạo theo tiêu chuẩn quốc tế
Điều kiện là doanh nghiệp có chiến lược xây dựng thương hiệu gạo chất lượng caotham gia “Liên kết bốn nhà”, cụ thể là tham gia chuỗi giá trị, liên kết xây dựng vùngnguyên liệu thông qua hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, để bảo đảm chất lượng nguồn nguyênliệu chế biến.Theo ông Richard Moore, chuyên gia Thương hiệu thế giới: "Giá gạo liênquan đến chất lượng gạo và phương cách giao hàng Nâng cao giá trị hạt gạo cần sự đầu tưlớn về tiếp thị, bao bì và bán hàng Xây dựng thương hiệu hạt gạo từ sản phẩm thôngthường khi gắn lên bao bì một thương hiệu là gắn với tạo dựng uy tín và liên hệ với kháchhàng trên thị trường Thái Lan làm thương hiệu rất tốt nên họ vẫn là nước xuất khẩu gạođứng đầu thế giới và giá trị luôn cao hơn Việt Nam"
Còn Chủ tịch Hiệp hội Makerting thế giới, ông Hermawan Kartajaya, khi nói vềvấn đề này đã cho rằng do chúng ta chưa khám phá ra tính đặc trưng của hạt gạo Việt Nam,làm cho nó trở nên nổi trội lên và giúp cho người tiêu dùng có thể phân biệt đâu là gạo ViệtNam, đâu là gạo Thái Lan hay Trung Quốc Có như thế, chúng ta mới đánh đúng vào tâm
lý của người tiêu dùng Một khi đã được nhận biết và ưa chuộng một thương hiệu, vấn đềgiá cả sẽ trở thành thứ yếu và người ta sẵn sàng bỏ tiền ra để mua vì sự hài lòng, thay vìphải phân vân hay mặc cả về giá cả
Vì vậy, vấn đề tạo mối liên hệ chặt chẽ với nông dân, nâng cao chất lượng và xâydựng thương hiệu sản phẩm, duy trì và mở rộng thị trường xuất khẩu Phải xem đây lànhững vấn đề cốt tử, mang tính vĩ mô của nền kinh tế khi vẫn còn dựa vào thế mạnh nôngnghiệp
Bộ Công Thương cho biết, theo cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, kể từ năm
Trang 16lộ trình này, hiện nay các công ty kinh doanh gạo nước ngoài cũng đã thiết lập đại diện tạiViệt Nam, mặc dù không tham gia trực tiếp xuất khẩu gạo, nhưng họ đã cung cấp dịch vụ,làm đại lý cho công ty lương thực tỉnh, hoặc ký hợp đồng với các công ty xuất khẩu Đâycũng là điều đáng lo cho các doanh nghiệp xuất khẩu gạo trong nước nếu không có sựchuẩn bị kịp thời.
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, năm 2010 xuất gạo sẽ có nhiều thách thức,đòi hỏi phải có sự liên kết chặt chẽ giữa sản xuất và kinh doanh, vì thương mại có tác dụnghướng dẫn sản xuất và xác định kết quả sản xuất bằng cách tiêu thụ hợp lý sản phẩm làm
ra Vì vậy, muốn nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu để nâng cao giá trị sảnphẩm và xác lập thị phần , các doanh nghiệp cần liên kết với nông dân xây dựng vùngnguyên liệu chuyên canh để bảo đảm sản xuất đáp ứng yêu cầu chất lượng và xây dựngthương hiệu riêng
Thứ tư, đẩy mạnh công tác điều hành xuất khẩu gạo Trên cơ sở phương hướng
và nhiệm vụ đề ra, Hiệp hội Lương thực Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò đại diện chodoanh nghiệp tham gia xuất khẩu gạo Việt Nam, tham vấn cho Chính phủ chỉ đạo điềuhành công tác xuất khẩu gạo đạt được hiệu quả cao nhất Trước mắt cần tập trung cácnhiệm vụ chính sau đây:
Liên kết chặt chẽ giữa sản xuất kinh doanh thương mại có tác dụng hướng dẫn sảnxuất và xác định kết quả sản xuất bằng cách tiêu thụ hợp lý sản phẩm làm ra Do đó cần cóbiện pháp tăng cường thông tin thị trường trực tiếp đến nông dân
Nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu để nâng cao giá trị sản phẩm và xáclập thị phần Doanh nghiệp cần xây dựng vùng nguyên liệu chuyên canh để bảo đảm sảnxuất đáp ứng yêu cầu chất lượng và xây dựng thương hiệu riêng Có thể nghiên cứu môhình liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trên cơ sở thành lập tổ hợp tác hoặc công ty
cổ phần sản xuất và tiêu thụ lúa gạo, trong đó nông dân có thể góp vốn bằng quyền sử dụngđất và lao động, doanh nghiệp đầu tư giống, vật tư đầu vào và tiêu thụ sản phẩm, bảo đảmlợi ích hài hòa giữa doanh nghiệp và người sản xuất
Phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, chính quyền địa phương và hội nông dân cáccấp triển khai các biện pháp hỗ trợ nông dân trong sản xuất, thu hoạch và đầu tư cải thiệncông nghệ sau thu hoạch, để hạn chế thất thoát và nâng cao chất lượng sản phẩm
Tổ chức lại hệ thống thương lái và xay sát gắn kết với các doanh nghiệp xuất khẩu.Thương lái, cơ sở xay xát và cung ứng gạo xuất khẩu phải đăng ký và mua lúa gạo theo giáthị trường, nhưng không dưới mức giá tối thiểu được Chính phủ hướng dẫn, để bảo đảmmức lãi hợp lý cho nông dân, có sự giám sát và quản lý của chính quyền địa phương
Trang 17Duy trì và mở rộng thị trường xuất khẩu, trên cơ sở đa dạng sản phẩm, tăng cườngquan hệ với các khách hàng truyền thống và thiết lập quan hệ khách hàng mới.
Nâng cao hiệu quả sản xuất và kinh doanh trên cơ sở bảo đảm giá bán phù hợp vớigiá thị trường, không để bị ép giá và đặc biệt là cạnh tranh phá giá
Phát huy nội lực, tăng cường sức cạnh tranh để đáp ứng yêu cầu hội nhập ngày càngsâu rộng đối với ngành hàng trong thời gian tới Các doanh nghiệp Việt Nam phải khẩntrương chuẩn bị các điều kiện để cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài được kinhdoanh lúa gạo tại Việt Nam theo cam kết với WTO vào năm 2011, trên cơ sở kiện toàn cơ
sở vật chất, tăng cường năng lực mua vào dự trữ, chế biến, bảo quản, nâng cao chất lượng,nâng cao tay nghề và khả năng tiếp thị, ổng định và mở rộng thị trường xuất khẩu
Những thách thức đặt ra đối với xuất khẩu gạo Việt Nam trong thời gian tới là rất lớn
và khó khăn, nhưng cần vượt qua để đáp ứng yêu cầu xuất khẩu, đưa ngành lương thựcViệt Nam lên tầm cao mới Để thực hiện có kết quả các mục tiêu đề ra, các doanh nghiệptrước hết cần thống nhất, đoàn kết với sự điều phối của Hiệp hội Lương thực Việt Nam,theo sự chỉ đạo và điều hành của Chính phủ vì lợi ích chung, tạo sức mạnh để cạnh tranhtrên thị trường thế giới trong điều kiện hội nhập ngày càng sâu rộng Kiên quyết đấu tranhvới những hiện tượng tiêu cực, gian lận, bán phá giá, gây thiệt hại đến quyền lợi của ngườisản xuất và lợi ích quốc gia./
2 Cao su
Trong số các mặt hàng nông sản chủ lực thì cao su là mặt hàng tương đối quantrọng tham gia vào xuất khẩu thu lại ngoại tệ cho đất nước Việt Nam là một nước có điềukiện thuận lợi để sản xuất và xuất khẩu cao su, tuy nhiên bên cạnh đó còn nhiều khó khăntrong các giai đoạn để sản xuất và xuất khẩu mặt hàng này Sau đây là điển hình cho nhữngthành tựu và khó khăn mà ngành cao su gặp phải:
2.1 Thành tựu
Những thành tựu đạt được của ngành cao su Việt Nam sau khi gia nhập WTO:
Sau khi gia nhập WTO thị trường của Việt Nam đã được mở rộng rất nhiều Sau 2năm tham gia tổ chức thương mại thế giới cao su Việt Nam đã xuất khẩu sang hơn 45 thịtrường, có mặt tại Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, và mở rộng sang Đông Âu, TrungĐông, Nam Mỹ và Châu Phi Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm
2008, 2009 sản xuất và xuất khẩu cao su có dấu hiệu ngừng trệ tuy nhiên hiện tại ngànhcao su đã có dấu hiệu phục hồi và đạt được thành tựu đáng kể:
Cùng thời điểm này năm 2009, do suy thoái kinh tế, các ngành sản xuất nguyên liệu
Trang 18giá tăng lên 3.000 USD/tấn và hiện nay tăng lên mức 3.300 USD/tấn, tăng gần 300% sovới năm 2009
Do giá tăng nên hai tháng đầu năm 2010, tuy xuất khẩu cao su của Việt Nam mới đạthơn 76.300 tấn, giảm 0,1% về lượng nhưng lại tăng 87% (xấp xỉ 192,7 triệu USD) về trịgiá so với cùng kỳ
Sau đây là bảng tổng kết và dự tính hoạt động và khai thác cao su Việt Nam
2 tháng đầu năm 2010 2 tháng đầu năm 2009
( nguồn Tổng cục thống kê, các bộ ngành, các thương nhân)
Hiện Việt Nam có trên 500 nhà xuất khẩu cao su, xuất khẩu trên 80% sản lượng.Nước ta cũng nhập cao su từ Thái Lan, Campuchia và Indonesia Geruco là công ty xuấtkhẩu cà phê lớn nhất cả nước
70% lượng cao su xuất khẩu của nước ta là sang Trung Quốc, các thị trường xuấtkhẩu quan trọng khác bao gồm Malaysia, Singapore, Hàn Quốc, Nga, Đài Loan, Mỹ, Nhật
Đặc biệt sau khi gia nhập WTO thì ngành cao su Việt Nam đã có những bướcchuyển mạnh từ khâu sản xuất đến xuất khẩu, từ giải quyết việc làm đến vấn đề bảo vệ môitrường, nâng cao đời sống nhân dân,…Ví dụ điển hình là trong năm 2009 hàng vạn côngnhân của Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam đã vượt khó khăn do ảnh hưởng của
Trang 19khủng hoảng kinh tế toàn cầu vẫn giữ được những thành quả đáng tự hào Phong trào thiđua của Công nhân đã giúp đẩy nhanh sản xuất và nâng cao trình độ người lao động Nếunhư năm 2003 có 42 sáng kiến làm lợi khoảng 7 tỷ đồng thì năm 2008 đã có gần 100 sángkiến với giá trị làm lợi lên tới 55 tỷ đồng Tiền lương của công nhân được cải thiện rõ rệtnăm 2008 mức lương công nghân đã lên tới 5 triệu đồng/tháng/người
Ngoài các phong trào thi đua lao động giỏi, phát huy sáng kiến, luyện tay nghề, thìnhiều phong trào thi đua khác cũng được nhân rộng từ mọi cấp, đơn vị trên cả nước Đơn
cử với việc thành lập Câu lạc bộ 2 tấn, ngành CSVN đã thúc đẩy hàng loạt đơn vị một cuộc
“chạy đua” về năng suất sản phẩm Ban đầu, chỉ có 11 nông trường tham gia đạt 2 tấn/ha;nhưng về sau, có tới 10 Cty đạt 2 tấn/ha ở miền Đông Nam Bộ
Tiếp theo, một số Cty ở duyên hải miền Trung đạt 1,8 tấn/ha, có 52 nông trường ởTây Nguyên đạt trên 2 tấn/ha Đặc biệt, có 11 nông trường liên tục duy trì năng suất 2tấn/ha từ những ngày chưa thành lập Câu lạc bộ 2 tấn; thậm chí, có nông trường đạt tới con
số kỷ lục 2,4 - 2,8 tấn/ha
Theo công đoàn Cao su Việt Nam, điều quan trọng nhất trong hàng loạt giải pháp
“vượt khó” kể trên, là tập đoàn cố gắng giữ mức tiền lương, thu nhập của trên 86.000 CNkhông bị giảm Thậm chí, một số Cty có mức lương cao trên 6 triệu đồng/người/tháng như:Tân Biên (6,4 triệu đồng), Dầu Tiếng (6,04 triệu đồng) Một số Cty đạt trên 5 triệuđồng/tháng/người như: Tây Ninh (5,7 triệu đồng), Chư Sê (5,18 triệu đồng), Đồng Phú(5,14 triệu đồng)
Theo th ng kê m i nh t th c tr ng xu t nh p kh u s n ph m c a cao su Vi t ới nhất thực trạng xuất nhập khẩu sản phẩm của cao su Việt ất thực trạng xuất nhập khẩu sản phẩm của cao su Việt ực trạng xuất nhập khẩu sản phẩm của cao su Việt ạng xuất nhập khẩu sản phẩm của cao su Việt ất thực trạng xuất nhập khẩu sản phẩm của cao su Việt ập khẩu sản phẩm của cao su Việt ẩu sản phẩm của cao su Việt ản phẩm của cao su Việt ẩu sản phẩm của cao su Việt ủa cao su Việt ệt Nam 4 tháng đầu năm có sự chuyển biến rõ rệt u n m có s chuy n bi n rõ r t ăm có sự chuyển biến rõ rệt ực trạng xuất nhập khẩu sản phẩm của cao su Việt ển biến rõ rệt ến rõ rệt ệt
Nguồn: Tổng cục Hải quan, Hiệp hội Cao su Việt Nam tổng hợp
Vỏ xe là mặt hàng chủ lực trong các sản phẩm cao su xuất cũng như nhập Kimngạch xuất khẩu vỏ xe trong 4 tháng đầu năm đạt 64,6 triệu USD, chiếm khoảng 82,9 %tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm cao su Xuất khẩu vỏ xe có mức tăng trưởng khá, tăng43,1 % về trị giá, tăng 19,9% về số lượng và tăng 19,3% về giá so với cùng kỳ năm trước
Trang 20Chiếm tỷ lệ cao nhất về giá trị xuất khẩu là vỏ xe tải (62,5%), kế đến là vỏ xe máy 2 bánh(20,2%), vỏ xe đạp (8,1%), vỏ xe công nghiệp (6,3%) Đặc biệt vỏ xe ô-tô tuy giá trị xuấtkhẩu còn ít nhưng đáng khích lệ vì cùng kỳ năm 2009 không xuất khẩu được
Trong 4 tháng đầu năm 2010, vỏ xe Việt Nam được xuất trên 102 thị trường Hoa Kỳ
có thị phần dẫn đầu, chiếm 25,7% với những sản phẩm chính là vỏ xe tải,vỏ xe côngnghiệp, vỏ xe đặc ruột, kế đến là Malaysia (7 %), Ai Cập (6,6%), Brazil (4,8%) vàCambodia (4,4%)
Những công ty dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu lốp xe là Cty TNHH Lốp xe KumhoViệt Nam (45,1%), Casumina (11,9%), Cty Cao su Kenda Việt Nam (11,8%), Cty TNHHCông nghiệp Cao su Chính Tân (4,9%), Cty CP Cao su Đà Nẵng (4,7%), Cty TNHH Sămlốp Liên Phúc (4,6%)
Thị trường của vỏ xe Việt Nam xuất khẩu trong 4 tháng đầu năm 2010
Thị trường Ngàn USD Thị phần % Các sản phẩm chính được xuất khẩu
Hoa Kỳ 16.640 25,7 Vỏ xe tải, xe công nghiệp, vỏ xe đặc ruột
Vỏ xe tải, xe máy 2 bánh, xe con, xe công nghiệp,OTR
Ai Cập 4.261 6,6 Vỏ xe tải, xe máy 2 bánh, ruột vỏ xe
Brazil 3.130 4,8 Vỏ xe tải, xe máy 2 bánh, xe đạp
Rập 1.851 2,9 Vỏ xe tải, xe máy 2 bánh, xe công nghiệp, ruột vỏ xe
Úc 1.418 2,2 Vỏ xe tải, công nghiệp, xe máy 2 bánh, xe nông nghiệp
Vỏ xe máy 2 bánh, xe tải, ruột vỏ xe, xe công nghiệp,OTR
Nhật Bản 1.260 1,9 Vỏ xe công nghiệp, ruột vỏ xe, xe con, xe nông nghiệp
Nguồn: Tổng cục hải quan, Hiệp hội cao su Việt Nam tổng hợp.
Trang 21nhanh hoạt động thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài là việc làm cần thiết Sau khi gia nhập tổchức thương mại thế giới các nước đã tăng dần tỉ lệ đầu tư vốn vào Việt Nam.
Trong bối cảnh như vậy, ngành cao su Việt Nam đang rất cần sự hợp tác của các nhàđầu tư nước ngoài, đặc biệt trong lĩnh vực chế biến, để nâng cao giá trị gia tăng cho ngành
“Nhiều công ty cao su của Việt Nam đang kêu gọi nguồn vốn đầu tư Các nhà đầu tưnước ngoài có thể đầu tư vào ngành cao su Việt Nam thông qua việc tham gia cổ phần tạicác doanh nghiệp, như Công ty cổ phần Cao su Tây Ninh (TRC), Công ty Cao su ĐồngPhú (DRC), Công ty Cao su Hòa Bình (HRC) ” Bên cạnh đó, một số nhà đầu tư nướcngoài lo ngại rằng, việc Mỹ áp dụng thuế nhập khẩu cao đối với sản phẩm lốp ô tô củaTrung Quốc sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến xuất khẩu cao su của Việt Nam, bởi hiện nay,sản phẩm cao su của Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc Đây là khó khănthách thức đối với ngành cao su Việt Nam hiện nay
Ngoài những khó khăn về vốn ngành cao su Việt Nam thì vấn đề đầu ra cho sảnphẩm cao su cũng gặp nhiều khó khăn Sau khi gia nhập WTO thì việc nhập khẩu vào cácthị trường phải tuân thủ những điều kiện hay gọi là rào cản qui định của tổ chức Việt Nam
là nước đang phát triển nên việc tiếng nói trên trường quốc tế vẫn gặp rất nhiều khókhăn.Các nước cạnh tranh xuất khẩu 1 mặt hàng chung vào 1 thị trường nào đó thì ViệtNam luôn gặp những rào cản về kỹ thuật hoặc những rào cản về giá cả Việc giảm sút tỷ lệxuất khẩu các loại nông sản trong một số giai đoạn qua là do thị trường quốc tế diễn biếnphức tạp và Việt Nam chưa tìm được giải pháp để chiếm lĩnh thị trường lâu dài và bềnvững
Một khó khăn nữa đối với ngành cao su Việt nam là vấn đề lao động, ngành này sửdụng quá nhiều lao động chân tay và công việc rất vất vả Đây là khó khăn thách thức vớingành cao su nói riêng và ngành nông nghiệp nói chung Lao động trong ngành cao su chủyếu là trình độ thấp ko được đào tạo bài bản mà chủ yếu qua kinh nghiệm
Ngành cao su và chế biến các sản phẩm từ cao su có thể áp dụng khoa học côngnghệ tiên tiến hiện đại Tuy nhiên Việt Nam luôn đi chậm hơn so với các nước phát triểnđến tận mấy chục năm Vì vậy thực trạng về khoa học công nghệ với ngành cao su là mộtkhó khăn lớn của ngành này
Tiếp theo khó khăn trên thì một rào cản hữu hình cũng là khó khăn để phát triểnngành cao su Việt Nam Hiện nay có rất nhiều qui định của nhà nước để phát triển ngànhcao su tuy nhiên những chính sách đó thực hiện không đạt được hiệu quả rõ rệt Vì vậy đểthúc đẩy xuất khẩu cao su thì cần có những biện pháp phát triển sản xuất cao su trong nước
Trang 22Sau khi gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO cũng có những ảnh hưởng tiêucực tới xuất khẩu cao su Việt Nam: Giá cả các mặt hàng thiết yếu với nền kinh tế ( nhưdầu thô) biến động không ngừng và rất khó lường đã đẩy giá các mặt hàng liên quan biếnđộng theo dẫn đến lạm phát, phá sản, khủng hoảng kinh tế Dẫn tới ảnh hưởng tới ngànhcao su Đồng đô la mất giá do nền kinh tế Mỹ suy thoái và chính sách của Mỹ để giải quyếtvấn đề thâm hụt thwowgn mại dẫn đến giá trị thanh toán nhập khẩu dựa vào đồng đô lachiếm tỷ lệ lớn Đặc biệt khi thị trường mở thì khả năng cạnh tranh với các đối thủ xuấtkhẩu trong vùng ( Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia, Indonesia) sẽ càng khốc liệt hơn Trên đây không phải là toàn bộ những khó khăn ảnh hưởng tới xuất khẩu cao suViệt Nam nhưng đó là điển hình để từ đó chúng ta tìm biện pháp thích hợp để phát triểnngành cao su đặc biệt là đẩy mạnh xuất khẩu.
2.3 Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cao su Việt Nam
Để phát triển cao su Việt Nam trong tương lai cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: Đầu tư vốn sản xuất thúc đẩy phát triển trồng và khai thác cây cao su hiệu quả Giải pháp đẩy mạnh công tác khuyến nông, chuyển giao khoa học kỹ thuật cho các
hộ trồng cao su đăc biệt là công tác giống
Giải pháp về thị trường xuất khẩu cao su trên thế giới Cần làm tốt công tác nghiêncứu thị trường xuất khẩu hàng hóa: Tình hình cung cầu cao su thế giới Làm tốt công tác
dự báo sự biến động cung cầu để có thể có cơ hội tốt để phát triển
Đẩy mạnh việc nghiên cứu xây dựng các nhà máy chế biển thành phẩm từ cao su vìViệt Nam chủ yếu xuất khẩu cao su ở dạng thô Cần hoàn thiện hệ thống chế biến mủ cao
su phát triển các xưởng sản xuất tạo ra các sản phẩm phù hợp nâng cao giá trị xuất khẩu Tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đẻ phát triển ngànhcao su Đặc biệt đầu tư để tiếp cận với công nghệ hiện đại, công tác quản lý tiên tiến để sảnphẩm tạo ra có đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Hiện nay Trung Quốc là nước nhập khẩu cao su nhiều nhất của Việt Nam tuy nhiênthị trường xuất khẩu này chủ yếu là thị trường tiểu ngạch vì thế định hướng chuyển sangbuôn bán cao su chính ngạch để giảm bớt rủi ro trong thanh toán Để thực hiện mục tiêunày thì cần mở rộng quyền kinh doanh cho các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu cao su,tận dụng khả năng thích ứng nhanh cạnh tranh năng động của các doanh nghiệp Cần đadạng hóa sản phẩm cần được triển khai
Tăng cường các biện pháp hỗ trợ về tài chính, tín dụng trong xuất khẩu Chú trọng ápdụng các dạng trợ cấp cho phép của WTO và AFTA ( dạng trợ cấp “màu xanh lá cây”)( Nguyễn Hữu Khải, 2004)
Trang 23Cần có sự qui hoạch cụ thể của các địa phương để khống chế sự phát triển tự phát vàtăng nhanh diện tích trồng cao su.
2 tháng đầu năm 2010 2 tháng đầu năm 2009
Việt Nam hiện là nước xuất khẩu và sản xuất hạt tiêu đen lớn nhất thế giới, vớidoanh số bán năm 2009 chiếm một nửa tổng mậu dịch tiêu toàn cầu Nước ta còn mua hạttiêu từ Campuchia sau đó tái xuất khẩu
Các tỉnh Tây Nguyên hiện chiếm 97,8% tổng sản lượng tiêu cả nước
Thị trường xuất khẩu hạt tiêu của nước ta đứng đầu là châu Á, chiếm 42% tổng xuấtkhẩu, tiếp đến là EU với 37,5%, châu Phi 10,5% và Mỹ 10%
Theo Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA), thị trường hồ tiêu đang có nhiều thuận lợi, nhu cầu nhập khẩu tăng mạnh và giá hạt tiêu xuất khẩu cũng tăng ở mức cao
Riêng trong tháng 2/2010, các doanh nghiệp Việt Nam đã xuất khẩu 9.000 tấn hạt tiêu, đạt kim ngạch 28 triệu USD, nâng sản lượng hạt tiêu xuất khẩu trong 2 tháng đầu năm lên 17.000 tấn
Do giá xuất cao nên dù sản lượng hạt tiêu xuất khẩu chỉ tăng khoảng 10% nhưng giá trị kim ngạch tăng ở mức cao 33% so với cùng kỳ năm 2009
Niên vụ 2009-2010, sản lượng hạt tiêu của Việt Nam dự kiến giảm mạnh do ảnh hưởng thiên tai (cơn bão số 9 và số 11 năm 2009 gây thiệt hại lớn cho nhiều vùng trồng hồ tiêu với dự kiến sản lượng sẽ sụt giảm khoảng 15%)
Tuy nhiên, nhờ đầu tư chăm sóc, phục hồi, thời vụ thu hoạch hồ tiêu đã bắt đầu và dự kiến sản lượng chỉ sụt giảm khoảng 5-7%
Dự kiến, nguồn cung hạt tiêu của Việt Nam trong năm nay sẽ đạt hơn 100.000 tấn, tương đương năm 2009