Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp I
Người hướng dẫn khoa học: TS nguyễn hữu nam
Hà Nội - 2006
Trang 2lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và ch−a từng đ−ợc ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đ−ợc chỉ
rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Khuyên
Trang 3Lời cảm ơn
Tôi xin trân trọng cảm ơn phòng đào tạo sau đại học, Khoa chăn nuôi thú y, trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội đã tạo điều kiện để tôi thực hiện và hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới thầy giáo : TS Nguyễn Hữu Nam đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn thạc sỹ nông nghiệp này Xin cảm ơn các quý cơ quan, các trang trại chăn nuôi sau đây đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này:
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô và các cán bộ trong hai bộ môn Truyền nhiễm- Bệnh lý- Vi sinh, Dược- Nội chẩn- Độc chất học, Khoa chăn nuôi trường Đại học nông nghiệp 1 Hà Nội
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của các chủ trang trại, cán bộ quản lý các trang trại chăn nuôi lợn siêu nạc: Trại Ông Cơ, Ông Đẩu, Ông Hiệp, Ông Lộc đã tận tình tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn
Nhân dịp này, tôi gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo giảng dạy chương trình cao học, các bạn bè đồng nghiệp, gia đình đã giúp đỡ tạo
điều kiện để tôi hoàn thành bản luận văn.
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Khuyên
Trang 4Mục lục
1 Đặt vấn đề 11
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 12
1.4 Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu 12
2 Tổng quan tài liệu 13
2.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về hội chứng tiêu chảy 132.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 132.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 14
2.3 Cấu trúc vi thể của một số cơ quan trong hệ tiêu hoá của lợn 18
Trang 52.4 Hệ vi khuẩn đường ruột của lợn 202.4.1 Nhóm vi khuẩn định cư vĩnh viễn: chủ yếu thuộc nhóm vi khuẩn
2.5 Đại cương về “Hội chứng tiêu chảy ở lợn” 262.5.1 Nguyên nhân gây "Hội chứng tiêu chảy" 262.5.2 Một số bệnh điển hình gây triệu chứng ỉa chảy 28
3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 37
3.2 Nguyên liệu, địa điểm và đối tượng nghiên cứu 37
4 Kết quả và thảo luận 46
4.1 Kết quả nghiên cứu tỷ lệ mắc Hội chứng tiêu chảy của lợn ở các trang trại 46
Trang 64.2 KếT QUả SO SáNH Tỷ Lệ MắC HộI CHứNG TIÊU CHảY CủA LợN TạI 4 TRANG TRạI 594.3 Kết quả Khảo sát một số chỉ tiêu huyết học của lợn mắc hội chứng tiêu chảy 694.3.2 Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu hệ bạch cầu của lợn bệnh 724.3.2 Kết quả khảo sát hàm l−ợng Protein huyết thanh 744.4 Kết quả nghiên cứu triệu chứng, bệnh tích chủ yếu của lợn mắc hội chứng tiêu chảy 784.4.1 Kết quả theo dõi triệu chứng bệnh tích đại thể của lợn mắc hội
Trang 7Bảng 4.5 Kết quả so sánh tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy ở các trại 60
Bảng 4.6 Kết quả theo dõi tỷ lệ nuôi sống con đến cai sữa ở các trại 67
Bảng 4.7: Kết quả khảo sát một số chỉ tiêu hệ hồng cầu của lợn bị mắc hội
Bảng 4.8: Kết quả khảo sát chỉ tiêu bạch cầu của lợn mắc hội chứng tiêu
chảy 72
Bảng 4.9: Kết quả khảo sát hàm l−ợng protein của lợn bị tiêu chảy 75
Biểu đồ 4.9a: Các tiểu phần Protein của lợn mắc Hội chứng tiêu chảy 76
Bảng 4.10: Kết quả nghiên cứu triệu chứng lâm sàng của lợn mắc hội chứng
Trang 8Danh mục biểu đổ
Biểu đồ 4.1a: biểu diễn tỷ lệ mắc Hội chứng tiêu chảy theo 47tuần tuổi của lợn ở trại Ông Cơ từ tháng 1- 4/ 2006 47Biểu đồ 4.1b: biểu diễn tỷ lệ mắc Hội chứng tiêu chảy 47theo tháng của lợn ở trại Ông Cơ từ tháng 1- 4/2006 47Biểu đồ 4.2a: Biểu diễn tỷ lệ mắc Hội chứng tiêu chảy theo 50tuần tuổi của lợn ở trại Ông Đẩu từ tháng 1- 4/ 2006 50Biểu đồ 4.2b: Biểu diễn tỷ lệ mắc Hội chứng tiêu chảy 50theo thỏng của lợn ở trại Ông Đẩu từ tháng 1- 4/ 2006 50Biểu đồ 4.3a: Biểu diển tỷ lệ mắc Hội chứng tiêu chảy theo 53tuần tuổi của lợn ở trại Ông Hiệp từ tháng 1- 4/ 2006 53Biểu đồ 4.3b: Biểu diễn tỷ lệ mắc Hội chứng tiêu chảy theo 53tháng của lợn ở trại Ông Hiệp từ tháng 1- 4/ 2006 53Biểu đồ 4.4a: Biểu diễn tỷ lệ mắc Hội chứng tiêu chảy theo tuần 56tuổi của lợn ở trại Ông Lộc từ tháng 1- 4/ 2006 56Biểu đồ 4.4b: Biểu diễn tỷ lệ mắc Hội chứng tiêu chảy theo tháng 56của lợn ở trại Ông Lộc từ tháng 1- 4/ 2006 56Biểu đồ 4.5.a: Biểu đồ so sánh tỷ lệ mắc Hội chứng tiêu chảy theo tuần tuổi của lợn siêu nạc ở 4 cơ sở nghiên cứu 62 Biểu đồ 4.5.b: biểu đồ tổng quát so sánh tỷ lệ mắc Hội chứng tiêu chảy của lợn ở 4 cơ sở nghiên cứu 62 Biểu đồ 4.5.c: Tổng hợp biểu diển tỷ lệ mắc Hội chứng tiêu chảy theo tuần tuổi của lợn siêu nạc ở cả 4 cơ sở nghiên cứu 67 Biểu đồ 4.6a : Công thức bạch cầu của lợn bệnh 73Biểu đồ 4.6b : Công thức bạch cầu của lợn khoẻ 73
Biểu đồ 4.9b: Các tiểu phần Protein của lợn khoẻ 76
Trang 9Danh mục các ảnh
ảnh 1: lợn con theo mẹ bị tiêu chảy (2 ngày tuổi) 91
ảnh 1: lợn con theo mẹ bị tiêu chảy (2 ngày tuổi) 91
ảnh 3: lợn con theo mẹ bị tiêu chảy (2 tuần tuổi) 91
ảnh 4: lợn bị tiêu chảy trong bệnh dịch tả lợn (12 tuần tuổi) 91
ảnh 5: lợn con phân trắng (2 tuần tuổi) 91
ảnh 6: lợn con phân trắng (1 tuần tuổi) 91
ảnh 7: lợn sau cai sữa mắc tiêu chảy (6 tuần tuổi) 92
ảnh 8: lợn choai bị tiêu chảy (9 tuần tuổi) 92
ảnh 9: ruột lợn khoẻ 92
ảnh 10: ruột lợn chứa máu tiêu chảy, ruột căng phồng xung huyết màu đỏ 92
ảnh 11: ruột lợn bị tiêu chảy, hạch màng treo ruột sưng to, xuất huyết 92
ảnh 12: ruột lợn bị tiêu chảy, phân vàng bệnh TGE 92
ảnh 13: ruột viêm cata, tiêu chảy do E.coli 93
ảnh 14: lợn bị tiêu chảy, ruột bị viêm đỏ, gan tụ máu sẫm màu do nhiễm trùng huyết 93
ảnh 15: ruột xung huyết đỏ: do viêm ruột cata 93
ảnh 16: viêm ruột xuất huyết đỏ độc tố đường ruột 93
ảnh 17: ruột lợn khoẻ (HE x 60) 93
ảnh18: lông nhung ruột lợn khoẻ (HE x 60) tế bào biểu mô xếp chặt chẽ 93
ảnh 19: ruột lợn trong hội chứng tiêu chảy (HE x 60) lớp biểu mô ruột bị hoại tử bắt màu hồng đều lớp hạ niêm mạc thấm nước phù 94
ảnh 20: ruột lợn mỏng dính trong bệnh TGE (HE x 60) biểu mô ruột bị hoại tử bắt màu hồng đều, lớp biểu mô rách nát hạ niêm mạc thấm nước phù 94
ảnh 21: hoại tử biểu mô kết tràng bắt màu hồng đều (HE x 60) 94
ảnh22: tăng sinh các nang lympho ở hệ niêm mạc ruột (HE x 60) 94
ảnh 23: xuất huyết và hoại tử niêm mạc ruột (HE x 60) 94
ảnh 24: gan lợn bị tụ máu màu đỏ do vi quản xuyên tâm dãn rộng chứa đầy hồng cầu (HE x 60)……… 94
Trang 10Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
AEEC : Adhrica Enterophathogenic E.coli Colv : Colicin V phasmid
EPEC : Enteropathogenic E.coli ETEP : Enterotoxigenic E.coli
ED : Edema Disease EDP : Edema Disease Producing Ent : Enterotoxin
Trang 111 Đặt vấn đề 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng luôn giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Với việc áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào trong chăn nuôi có rất nhiều hộ chăn nuôi với quy mô trang trại hiện đại Việc phát triển mạnh ngành chăn nuôi không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng sản phẩm trong nước mà còn cung cấp một lượng lớn nguyên liệu cho ngành chế biến thực phẩm xuất khẩu, tạo công ăn việc làm cho nông dân Bên cạnh đó chất thải của ngành chăn nuôi còn được tận dụng làm khí đốt, phân bón cho cây trồng do vậy ngành chăn nuôi càng phát triển càng tạo ra khả năng tăng thu nhập cho nông dân
Để đẩy mạnh hơn nữa ngành chăn nuôi lợn ngoài việc tập trung nghiên cứu về giống, thức ăn, phương thức chăn nuôi, các biện pháp thú y bảo vệ đàn gia súc hết sức quan trọng, đặc biệt là mắc hội chứng tiêu chảy
Đây là một vấn đề rất nan giải trong chăn nuôi vì hiện nay một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở lợn như dịch tả, tụ huyết trùng,… đã có những biện pháp phòng trị đạt hiệu quả cao Riêng với bệnh tiêu chảy đến nay vẫn là hội chứng khá phổ biến và rất khó phòng trị, gây thiệt hại về kinh tế và làm giảm chất lượng con giống, giảm chất lượng thịt
Có rất nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về vấn đề này ở nhiều phương diện khác nhau Tuy nhiên, ở mỗi vùng có tiểu khí hậu khác nhau, phương thức chăn nuôi khác nhau, công tác phòng bệnh khác nhau thì dịch bệnh và hội chứng tiêu chảy cũng xảy ra ở mức độ khác nhau Do vậy việc nghiên cứu, tìm hiểu hội chứng tiêu chảy ở một số cơ sở chăn nuôi nhất định có ý nghĩa quan trọng góp phần bổ sung lý luận vào quá trình phòng và điều trị đạt hiệu quả cao Với ý nghĩa và mục tiêu mong muốn làm giảm thiệt hại do bệnh gây
ra chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu một số đặc điểm
Trang 12bệnh lý chủ yếu của lợn siêu nạc mắc hội chứng tiêu chảy"
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
- Xác định đ−ợc tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy của lợn siêu nạc ở các lứa tuổi khác nhau và nuôi theo mô hình chuồng hở, chuồng bán kín, chuồng kín
- Xác định đ−ợc các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đại thể chủ yếu của bệnh
- Nghiên cứu sự biến đổi của các chỉ tiêu huyết học của lợn mắc hội chứng tiêu chảy
- Nghiên cứu biến đổi bệnh lý vi thể của một số cơ quan ở lợn bệnh
1.3 ý nghĩa của đề tài
Chăn nuôi theo mô hình công nghiệp đã góp phần hạn chế đ−ợc tình hình dịch bệnh cho các trang trại Nh−ng bên cạnh đó hội chứng tiêu chảy vẫn
là một vấn đề rất nan giải ch−a tìm ra đ−ợc biện pháp phòng trị tối −u
Do vậy chúng tôi hy vọng từ những kết quả nghiên cứu thực tế sẽ giúp cho các nhà làm công tác quản lý dịch bệnh và các nhà chăn nuôi có những biện pháp phòng chống hữu hiệu hơn đối với hội chứng tiêu chảy nhằm nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi
1.4 Đối t−ợng, phạm vi và thời gian nghiên cứu
Đối t−ợng nghiên cứu
Các đàn lợn theo mẹ, cai sữa, nuôi đến 13 tuần tuổi mắc hội chứng tiêu chảy (HCTC)
Trang 132 Tổng quan tài liệu
2.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về hội chứng tiêu chảy
2.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Các nhà khoa học trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về
bệnh tiêu chảy ở lợn
Theo Smith và cộng sự (1968) [69] đã công bố về khả năng của
Escherichia Coli truyền plasmid do salmonella typhimurium, salmonella
cholera suis bằng phương pháp truyền ngang qua đường tiếp hợp khi nuôi cấy
các vi khuẩn này trong cùng một môi trường
Theo Sokol và cộng sự (1981) [64] sở dĩ vi khuẩn E.coli từ vai trò cộng
sinh thường trực trong đường ruột trở thành vi khuẩn gây bệnh là vì trong quá trình sống cá thể vi khuẩn tiếp nhận được các yếu tố gây bệnh mà theo ông đó
là các yếu tố gây dung huyết (HY) yếu tố cạnh tranh (Col) yếu tố bám dính
(K88, K99) yếu tố độc tố đường ruột (Enterotoxin), yếu tố kháng sinh R Các yếu tố gây bệnh này không được truyền qua ADN của chromosome mà di truyền bằng ADN nằm ngoài chromosome được gọi là plasmid, qua hiện
tượng trao đổi di truyền bằng tiếp hợp Chính nhờ các yếu tố gây bệnh này đã giúp cho vi khuẩn bám dính vào tế bào nhung mao ruột non, từ đó gây dung
huyết, nhiễm độc huyết
Sperjiadi và cộng sự (1981) dùng hỗn hợp vi khuẩn đường ruột E.coli
và Salmonella phân lập được từ cơ sở chăn nuôi gà để chế vacxin với việc ngăn cản sự xâm nhập của 2 loại vi khuẩn này Tác giả đã kết luận: vacxin
được chế có khả năng ngăn cản sự bám dính và xâm nhập của E.coli và
Salmonella cảm nhiễm trong môi sinh thậm chí cả khi công cường độc
Trang 14- Các vi khuẩn đường ruột có khả năng bám dính vào tế bào nhung mao ruột Các chủng không gây bệnh không có kháng nguyên bám dính (Carter
G.R và cộng sự (1995) [ 48]
- Tiến sỹ Khoo Teng Huat (1995) đã thống kê được có rất nhiều nguyên nhân gây mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn, trong đó thống kê được16 loại vi khuẩn, 11 loại virus gây ra hội chứng này
- Theo Bulsa, I G et al (1982) [44] các vi khuẩn E.coli gây bệnh đường
ruột có khả năng bám dính vào tế bào nhung mao ruột, sự bám dính này là do Pili thực hiện Trong 5 loại kháng nguyên, kháng nguyên K là yếu tố bám dính trong cấu trúc Pili bao gồm K88ad, K99 và 987p
2.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
ở Việt Nam bệnh tiêu chảy ở lợn đã xảy ra từ rất lâu và đã có rất nhiều
nhà khoa học nghiên cứu về bệnh này
Năm 1970, Nguyễn Vĩnh Phước kết hợp với xí nghiệp thú y phân lập và giám định vi khuẩn E.coli trong bệnh ỉa chảy của lợn sơ sinh ở Quang Trung, Kiều Thị, Cầu Ngãi, Yên sở Đến năm 1974 ông cũng xác định được tỷ lệ nhiễm tiêu chảy xảy ra ở mọi lứa tuổi và ở lợn sơ sinh tỷ lệ nhiễm cao hơn lợn
trưởng thành
Theo Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ (1996) [6] chia nguyên nhân gây tiêu chảy là do vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng, thức ăn
đặc biệt là sự có mặt của trực khuẩn đường ruột (Enterobacteriaceae) Các
loại vi khuẩn này thường sống trong phân, các chất chứa trong ruột và hạch ruột Khi sức đề kháng của con vật bị giảm sút, điều kiện ngoại cảnh thay đổi thì các vi khuẩn này có cơ hội xâm nhập và trỗi dậy gây mất cân bằng của hệ
vi khuẩn đường ruột gây tiêu chảy
- Nguyễn Thị Nội năm (1986) [20] đã chỉ ra các loại vi khuẩn tham gia
Trang 15vào quá trình ỉa chảy của lợn là: Salmonella, E.coli, Streptococus, Klebsiella,
Proteus, Pseudomonas, Clostridium, Treponema
- Bùi Thị Tho, Phạm Khắc Hiếu (1996) [ 35] kiểm tra tính kháng sinh
của E coli phân lập từ lợn con bị bệnh phân trắng tại các tỉnh phía Bắc trong
20 năm (1975 – 1995) cho thấy tính kháng thuốc của loại vi khuẩn này tăng
rất nhanh, tính kháng với nhiều loại kháng sinh cũng tăng rất nhanh
- Việc E.coli kháng thuốc không chỉ gây khó khăn cho công tác thú y
mà còn có khả năng lây truyền tính kháng sinh nhiều loại khuẩn khác, gây ô
nhiễm môi trường
- Theo tác giả Cù Hữu Phú, Nguyễn Ngọc Nhiên, Vũ Bình Minh, Đỗ Ngọc
Thuý (2000) [23 ] các tác giả đã phân lập vi khuẩn E.coli và Salmonella ở lợn mắc
bệnh tiêu chảy, đã xác định được các chủng E.coli mẫn cảm cao với các loại
kháng sinh Nitrofurazolidon (85%), Neomycine (80%), Sulfonamid (75%)
- Phạm Ngọc Thuý và cộng sự năm (2002) [36] nghiên cứu tính kháng
kháng sinh của E.coli phân lập từ lợn con ỉa phân trắng đã kết luận E.coli
kháng mạnh với các loại kháng sinh: Amoxillin, Tetracyclin, Streptomycin
Chloramphenicol, Sulfamethoxazol, tỷ lệ kháng đều trên 76%
2.2 Sinh lý tiêu hoá hấp thu của lợn
Hệ tiêu hoá là một trong những hệ thống hoàn chỉnh nhất gồm ống tiêu hoá và tuyến tiêu hoá hoạt động nhịp nhàng dưới sự điều hành của hệ thần kinh thực vật Như chúng ta đã biết lợn là loài gia súc có dạ dày trung gian giữa dạ dày đơn và dạ dày kép, túi mù nằm ở phía trái vùng thượng vị Quá trình tiêu hoá của lợn bao gồm:
- Tiêu hoá ở miệng
- Tiêu hoá ở dạ dày
Trang 16- Tiêu hoá ở ruột
2.2.1 Tiêu hoá ở miệng
ở miệng xảy ra quá trình tiêu hoá cơ học, thức ăn được xé nhỏ kết hợp với nước bọt thuận lợi cho việc nuốt Trong nước bọt có men Amilaza, vì thế một phần tinh bột được phân giải ở miệng Thức ăn ở miệng không lâu do vậy không có khả năng hấp thu được Nhưng nước bọt giúp hoà tan một số thành phần của thức ăn như NaCl, đường… làm hưng phấn vị giác, kích thích thức
ăn giúp quá trình tiêu hoá thức ăn tốt hơn ở các giai đoạn sau
2.2.2 Tiêu hoá ở dạ dày
Tiêu hoá ở dạ dày xảy ra đồng thời cả quá trình tiêu hoá cơ học và tiêu hoá hoá học Dưới sự co bóp của dạ dày, thức ăn được nhào trộn, với dịch vị của dạ dày và một số men tiêu hoá thức ăn khác
Cấu tạo của màng nhày dạ dày gồm các vùng: thực quản, manh nang (túi mù), thượng vị, thân vị, hạ vị Vùng thực quản không có tuyến, vùng manh nang và thượng vị chỉ có tuyến tiết ra dịch nhày, trong đó có men pepsin
và axit chlohydric (HCl) Tuyến thân vị và hạ vị tiết ra dịch vị gồm: HCl (axit chlohydric), men pepsin, men kimozin, men lipaza… Men pepsin có hoạt tính phân giải protit, men kimozin làm ngưng kết sữa nhanh, men lipaza làm phân giải lipit, men amilaza một phần tiết ra từ dạ dày, một phần được đưa xuống từ nước bọt để phân giải gluxit Trong dạ dày lợn có quá trình lên men vi sinh vật
ở manh nang tạo ra các axít béo, nhưng hàm lượng axít béo không đáng kể (hàm lượng không quá 0,1%) Dạ dày tiết ra dịch vị liên tục, khi cho ăn lượng dịch vị tiết nhiều hơn, thấm ướt thức ăn Thức ăn không dừng ở dạ dày lâu mà
được đẩy xuống ruột trong khi ăn hoặc ngay sau khi ăn Vì thế sự hấp thu ở dạ dày là không đáng kể
ở lợn con mới sinh ra sống nhờ sữa mẹ, sau khi cai sữa phải sống tự lập
Trang 17cho nên phải trải qua một quá trình thay đổi không ngừng về hình thái cấu tạo
và hoạt động sinh lý của ống tiêu hoá để thích nghi với điều kiện sống
Lợn con trước 1 tháng tuổi trong dịch vị có axít chlohydric tự do, vì lúc này lượng axít tiết ra ít và nhanh chóng kết hợp với dịch nhày nên hiện tượng này gọi là thiếu axit Chlohydrit.Vì thiếu axít này, các vi khuẩn theo sữa hay thức ăn vào dạ dày không bị tiêu diệt và nó sẽ sinh sôi ngay từ trong dạ dày sau đó chuyển xuống ruột non gây ảnh hưởng đến hoạt động tiêu hoá ở ruột
2.2.3 Tiêu hoá ở ruột
Sau khi ở dạ dày, thức ăn được đưa xuống ruột Tại đây thức ăn được tiêu hoá và hấp thụ là chủ yếu dưới tác dụng của dịch ruột, dịch tuỵ và dịch mật Quá trình hấp thu chủ yếu ở ruột non
- Dịch mật: sinh ra ở gan và tích trữ lại ở túi mật, nó được đổ vào tá
tràng một cách có phản xạ qua ống choledoque.Thành phần dịch mật gồm sắc
tố mật và axít mật là chủ yếu Dịch mật có tác dụng làm giảm sức căng bề mặt của dung dịch và nhũ hoá mỡ, làm tăng tác dụng của men lipaza amilaza, proteaza của dịch tuỵ và dịch ruột Axit mật tạo thành phức chất với axit béo
và phức chất này được hoà tan và hấp thu ở ruột
- Dịch tuỵ: do tuyến tuỵ tiết ra thông qua ống dẫn tuỵ (ống will
sung) đổ vào tá tràng Dịch tuỵ chứa các men tripsin, kimotripsin, saccalaza, lipaza… Vì vậy dịch tuỵ có vai trò rất quan trọng đối với quá trình sinh trưởng phát triển của lợn con, nó phân giải 60 - 80% protit, gluxit và lipit của thức ăn
- Dịch ruột: do các tuyến Lieberkun trên màng nhầy của ruột non,
tuyến Brunner ở tá tràng tiết ra theo các lỗ tuyến đổ và tá tràng Trong dịch ruột có chứa dịch nhầy hạt lơ lửng và các men: aminopolipeptidaza, dipeptidaza, prolinaza, acginaza, mantaza, lactaza, sacaraza Các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể phần lớn được hấp thu ở ruột non, những chất còn
Trang 18lại được nhu động ruột đẩy xuống ruột già qua van hồi manh tràng
ở ruột già nhờ có các tuyến tiêu hoá của ruột già tiết ra ít dịch nên quá trình tiêu hoá ở đây chủ yếu nhờ men tiêu hoá từ dưỡng chấp ở ruột non chuyển xuống, men có sẵn trong thức ăn, cây cỏ và cả men do các vi sinh vật khu trú trong ruột già sinh ra Dưỡng chấp dừng lại ở ruột gìa 18 -20 giờ để diễn ra quá trình tái hấp thu các chất dinh dưỡng mà ruột non hấp thu chưa hết, chủ yếu là nước và axit béo bay hơi Những chất không được hấp thu và chất cặn bã được tích lại ở trực tràng rồi thải ra ngoài qua lỗ hậu môn
Khi cơ thể mắc bệnh ở đường tiêu hoá thì các hoạt động tiết dịch và co bóp đường ruột đều thay đổi, dần dần các cơ quan này sẽ bị tổn thương, cấu trúc vi thể ở những cơ quan đó bị phá huỷ mất đi chức năng sinh lý bình thường gây hại cho cơ thể Do vậy, để tìm hiểu về những thay đổi cấu trúc vi thể khi lợn mắc bệnh ta cần biết cấu trúc bình thường của những bộ phận như gan ruột
2.3 Cấu trúc vi thể của một số cơ quan trong hệ tiêu hoá của lợn
2.3.1 Cấu trúc của gan
Gan là tuyến ngoài ống tiêu hoá, nằm dưới cơ hoành trong xoang bụng, xiên từ trái sang phải, dưới phúc mạc là một màng bọc tổ chức liên kết đặc, có vách ngăn đi vào trong chia thành nhiều tiểu thuỳ ở lợn có nhiều tổ chức gian thuỳ, do đó tổ chức gian thuỳ thấy rõ hơn ở loài gia súc khác, bằng mắt thường có thể nhìn thấy các tiểu thuỳ Mỗi tiểu thuỳ gan có hình đa giác to chừng 0.5 - 1mm, các tiểu thuỳ xếp khít lại với nhau tạo ra các thuỳ gan Các
tế bào gan trong mỗi tiểu thuỳ xếp với nhau theo hình phóng xạ hướng từ trung tâm tiểu thuỳ ra ngoại vi hình thành nên bè Remark Nằm gần trung tâm tiểu thuỳ gan là tĩnh mạch giữa tiểu thuỳ Giữa các tiểu thuỳ gan hình thành
Trang 19nên quãng cửa, ở đó bao gồm động mạch gian thuỳ, tĩnh mạch gian thuỳ và ống mật gian thuỳ
Các tế bào gan hình đa giác nhân tròn bắt màu xanh, nguyên sinh chất bắt màu hồng khi nhuộm HE ở mặt trong của gan những chỗ chia nhánh của mao quản thấy những tế bào hình sao gọi là tế bào kupfer, phần lớn bề mặt của tế bào nằm trong máu làm nhiệm vụ thực bào Tế bào kupfer thực bào của hạt keo, hạt kim loại vi khuẩn và hồng cầu già yếu
2.3.2 Cấu trúc ruột non
Ruột non là nơi kết thúc quá trình tiêu hoá thức ăn đồng thời cũng là nơi hấp thu chủ yếu các chất dinh dưỡng từ thức ăn ở đây có các tuyến tiết dịch tiêu hoá và các phần hấp thụ đặc biệt như gấp nếp lông nhung và riềm hút Nhờ sự co bóp của áo cơ, thức ăn được đẩy xuống dưới dần dần
Như chúng ta đã biết cấu tạo của ruột non gồm ba lớp từ trong ra ngoài:
- Niêm mạc: niêm mạc ruột non có nhiều gấp nếp và hướng theo nhiều chiều Chính những gấp nếp này làm cho diện tích niêm mạc tăng gấp 2 - 3 lần Niêm mạc có phần lồi lên kéo dài như những cái lông gọi là lông nhung
- Biểu mô: biểu mô phủ lên niêm mạc là biểu mô đơn trụ, có riềm hút Dưới kính hiển vi điện tử cho thấy rằng trên mặt tự do của mỗi tế bào có tới
3000 vi nhung, giúp tăng diện tích hấp thu lên tới 30 lần
Trên niêm mạc tá tràng ngoài tuyến ruột còn có tuyến tá tràng (tuyến Brunner) Nằm ở hạ niêm mạc có khi chiến toàn bộ lớp ấy khiến cho thành ruột dày hẳn lên Về hình thái cho thấy tuyến ruột thuộc loại tuyến ống túi có phân nhánh tế bào của tuyến này và tuyến hạ vị gần giống nhau, giữa các tế bào này còn thấy các tế bào tối ster nằm xen vào
- Hạ niêm mạc: tạo bởi tổ chức liên kết có chứa nhiều mạch quản và thần kinh, ở tá tràng giữa các tuyến cũng gặp các sợi cơ trơn Nang kín lâm ba
Trang 20ở hạ niêm mạc có khi phá cả lớp cơ niêm lên lớp đệm giáp sát biểu mô, ở lớp này có rất nhiều nang kín lâm ba, tế bào mỡ, huyến quản lâm ba và thần kinh
- Lông nhung: lông nhung là những phần lồi hình trụ của niêm mạc Tổ chức liên kết có nhiều sợi cơ trơn từ cơ niêm phát đến, dưới biểu mô có một lưới mao quản và ở chính giữa là mao quản lâm ba gọi là ống dưỡng chấp Trên đỉnh lông nhung có những nhánh động mạch ngắn kéo dài nối thẳng với tĩnh mạch Tĩnh mạch này sau tiếp nhận các mao quản từ lông nhung khác
đến Trong thời gian hấp thu thì máu chảy từ mạch quản về tĩnh mạch trong thời gian yên nghỉ thì máu đi theo nhánh nối thẳng với tĩnh mạch nói trên Tất cả các mạch quản đều được nối chằng chịt với nhau bởi sợi lưới Sợi lưới ấy tạo thành dàn cốt của lông nhung Tế bào biểu mô có trên bề mặt lông nhung
được xen kẽ với các tế bào hình đài (ở đỉnh lông nhung không có các tế bào này), tế bào biểu mô được cấu tạo hình trụ có đời sống ngắn
2.3.3 Cấu trúc của ruột già
Ruột già có cấu trúc gần giống như ruột non chỉ khác một số đặc điểm sau đây:
- ở ruột già không có tuyến Brunner, có tuyến ruột nhưng tuyến ruột không có tế bào Pannet, các tuyến này chủ yếu hấp thu nước và tiết ra một số men không đáng kể
- Màng cứng của biểu mô phủ đơn trụ thì mềm
- Giữa các tuyến được xen kẽ bởi các tế bào hình đài tiết dịch nhầy, nhất là tuyến ruột và có nhiều nang kín lâm ba
- Lông nhung chỉ có trong thời kỳ phôi thai, còn thời kỳ trưởng thành thì không có
2.4 Hệ vi khuẩn đường ruột của lợn
ở trạng thái sinh lý bình thường giữa vật chủ và hệ vi sinh vật bên trong
Trang 21đường tiêu hoá cũng như các vi sinh vật với nhau trong tập đoàn của chúng luôn ở trạng thái cân bằng Theo Lê Khắc Thận (1964) [31], Nguyễn Thị Nội (1986) [20 ] trong đường tiêu hoá của lợn luôn có rất nhiều vi sinh vật cư trú, chúng giữ chức năng nhất định trong quá trình tiêu hoá và có vai trò sinh lý quan trọng với cơ thể Tạ Thị Vịnh và cộng sự (1995) [39] cũng cho rằng: hệ
vi sinh vật sống cộng sinh trong đường tiêu hoá cùng với vật chủ hình thành
hệ thống sinh thái, mà sự cân bằng này rất cần thiết cho sức khoẻ vật chủ
Nguyễn Vĩnh Phứơc (1978) [24], Nguyễn Thị Nội (1986) [20 ] và Trần
Cừ (1987) [1] cho biết: số lượng và thành phần của các loại vi khuẩn đường ruột tăng dần từ tá tràng xuống trực tràng
Hệ vi khuẩn đường ruột bao gồm hai nhóm vi khuẩn lớn
- Nhóm vi khuẩn định cư vĩnh viễn
Nhóm vi khuẩn này thích nghi với môi trường của đường tiêu hoá trở
thành nhóm vi khuẩn bắt buộc gồm: Escheridic Coli, Salmonella, Shigella,
Klebsiella, Proteus, Bifido bacterium bifium
- Nhóm vi khuẩn vãng lai: chúng là bạn đồng hành của thức ăn, nước
uống vào hệ tiêu hoá và gồm: Staphylococus, Streptococcus, Bacillus Subtilis
Trong đường tiêu hoá của lợn còn có thêm cả các trực khuẩn yếm khí gây thối
rữa Chostridium perfrigens, Bacillus puticficus, Bacillus sporegenres,
2.4.1 Nhóm vi khuẩn định cư vĩnh viễn: chủ yếu thuộc nhóm vi khuẩn đường ruột "Enterobacteriaceae"
* Enterobacteriaceae: là một họ lớn bao gồm các trực khuẩn gram âm,
sống trong đường tiêu hoá của người và gia súc, tồn tại trong phân rác, nước tiểu, trong đất hoặc trong thực vật
- Enterobacteriaceae đại diện có: E.coli, Salmonella Klebsiella,
Shigella, Proteus
Trang 22* Eschrichia Coli (E.coli)
Vi khuẩn E.coli luôn tồn tại trong đường tiêu hoá người và gia súc, gia
cầm Đây là loại vi khuẩn phổ biến nhất hành tinh, chúng có mặt ở mọi nơi,
mọi chỗ Khi có những điều kiện trong cơ thể vật chủ thì các chủng E.coli trở
lên cường độc gây bệnh cho gia súc, gia cầm
- Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1980) [25], Nguyễn Như Thanh (1978)
[30]: bình thường E.coli cư trú ở phần sau của ruột, ít khi có ở dạ dày và phía
trước của ruột non
- Cấu trúc kháng nguyên của E.coli rất phức tạp có đủ ba loại kháng
nguyên O, H, K Kháng nguyên K cũng có nhiều loại như L, A, B Dựa vào
cấu trúc kháng nguyên người ta chia E.coli ra làm các Serotyp khác nhau
Hiện nay đã xác định được 170 kháng nguyên O; 80 kháng nguyên K; 56 kháng nguyên H và một số quyết định kháng nguyên F
Theo Lê Văn Tạo (1989) [26] cơ chế gây bệnh đường ruột của E.coli sau khi xâm nhập vào lớp tế bào biểu mô của thành ruột ở đây vi khuẩn phát triển, nhân lên làm phá huỷ lớp tế bào biểu mô gây viêm ruột, đồng thời sản
sinh ra độc tố đường ruột (Enterotoxin): gồm độc tố chịu nhiệt (ST) và độc tố
không chịu nhiệt (LT) Độc tố chịu nhiệt làm tăng tính thẩm suất của tế bào thành ruột và phá huỷ tế bào, còn độc tố không chịu nhiệt sẽ tác động vào quá trình trao đổi muối, nước làm rối loạn quá trình này
* Salmonella
Salmonella thuộc bộ Eubacteriales, họ Enterobacteriaceae Vi khuẩn Salmonella được gọi là trực khuẩn đường ruột ở điều kiện bình thường,
Salmonella không gây bệnh mà có vai trò góp phần giữ cân bằng hệ sinh vật
đường tiêu hoá Khi sức đề kháng của cơ thể bị giảm sút, vi khuẩn xâm nhập vào một số cơ quan nội tạng và gây bệnh
Trang 23Theo Bergey’s (1957) [46 ] Salmonella là trực khuẩn gram âm, hai đầu tròn, kích thước nhỏ, có lông có khả năng di động (trừ Salmonella gallinarum
ruột do Salmonella sản sinh ra có hai thành phần: độc tố thẩm xuất nhanh và
độc tố thẩm xuất chậm Salmonella sinh ra nội độc tố gồm hai loại: độc tố ruột
gây xung huyết, mụn loét trên ruột và độc tố thần kinh gây triệu chứng thần kinh Cơ chế gây bệnh khá phức tạp nên việc chẩn đoán chính xác các loại trực khuẩn salmonella là việc hết sức cần thiết, có ý nghĩa to lớn trong việc bảo vệ đàn lợn cũng như sức khoẻ cộng đồng
* Klebsiella
Theo Nguyễn Như Thanh (1997) [30] Klebsiella là những trực khuẩn
không di động, không hình thành nha bào, thường giáp mô, bắt mầu gram âm, không hình thành Indol lên men adonit và isonit, phân giải urê, có phản ứng
MR(+), và MR(-) Giống này có hai type điển hình là: Klebsiella pneumoniae
và Klebsiella aerogenes
- Các vi khuẩn thuộc giống Klebsiella có 3 kháng nguyên K, O dạng S
bóng láng, kháng nguyên O dạng R nhám
Vi khuẩn Klebsiella sống trong tự nhiên ở mọi nơi, trong đất, nước
hoặc ký sinh ở đường hô hấp của người và động vật, là nguyên nhân gây bội nhiễm vi khuẩn ở đường hô hấp Nếu ở điều kiện bình thường trực khuẩn không gây bệnh
* Proteus
Trang 24Proteus thường ký sinh ở đường ruột, bình thường với số lượng ít không gây bệnh Nhưng khi có yếu tố tác động bất lợi vào cơ thể làm cho sức đề kháng của cơ thể giảm thì vi khuẩn trỗi dậy gây bệnh và gây tổn thương tại nơi cư trú
* Shigella
Shigella là loại trực khuẩn gram âm, không có khả năng di động, lên
men đường glucoza, không lên men đường lactoza
Shigella thường cư trú tại phần ruột già, là một trong những tác nhân
gây lên bệnh viêm dạ dày ruột
2.4.2 Nhóm vi khuẩn vãng lai
Đây là nhóm vi khuẩn đồng hành cùng thức ăn nước uống vào đường tiêu hoá Bình thường chúng không có khả năng gây bệnh, chỉ khi nào sức đề kháng của cơ thể bị giảm sút, chúng góp phần tạo nên quá trình loạn khuẩn trong đường tiêu hoá, làm mất trạng thái cân bằng giữa hệ vi khuẩn đường ruột với cơ thể, khi đó dễ làm cho gia súc bị bệnh Nhóm này gồm có các vi khuẩn sau
* Staphylococus (tụ cầu khuẩn)
Theo Nguyễn Như Thanh (1997) [30] Staphylococus aureus là loại vi
khuẩn gây bệnh hay gặp nhất, nó gây lên nhiễm trùng ở các loài gia súc, gia cầm, nhất là ở những trang trại chăn nuôi tập trung có mật độ cao, gây thiệt hại rất lớn về kinh tế
* Streptococus (liên cầu khuẩn)
Liên cầu khuẩn “Streptococus” là những vi khuẩn hình cầu xếp thành
chuỗi uốn khúc dài ngắn khác nhau Trong nước, thức ăn, không khí, trong cơ thể động vật và người đều có thể tìm thấy liên cầu khuẩn
Như chúng ta đã biết Streptococus cùng Staphylococus là những vi
Trang 25khuẩn vãng lai luôn có trong cơ thể động vật ở những điều kiện bình thường chúng không gây hại, chỉ khi nào cơ thể có sức đề kháng giảm sút chúng mới góp mặt làm rối loạn sự cân bằng hệ thống vi khuẩn đường ruột, gây ra hội chứng tiêu chảy
* Bacillus subtilis (B.subtilis)
Bên cạnh những vi khuẩn gây hại, nhóm vãng lai còn có những vi khuẩn
có lợi, đó là Bacillus subtilis, trực khuẩn sống hoại sinh trong ống tiêu hóa và không gây bệnh Theo Hồ Văn Nam (1997) [17] khi lợn bị tiêu chảy, Bacillus
subtilis thường giảm đi về số lượng do sự nhân lên nhanh chóng của các vi
khuẩn gây bệnh khác Vi khuẩn B.Subtilis có hệ thống men tương đối hoàn
chỉnh, có men diastaza, có tác dụng thuỷ phân gluxit, protit và lipit, men cellulaza thuỷ phân cellulose thành đường dễ hấp thu, có men lipaza và lexitinaza thuỷ phân các chất hữu cơ Ngoài ra vi khuẩn còn có khả năng tiêu
hoá gelatin, fibrin ở thành nha bào của B.Subtilis, có men giống như
lysozym, có khả năng dung giải trực tiếp proteus, một loại vi khuẩn hay gây bệnh tiêu chảy cho gia súc Chính nhờ hệ thống men này mà vi khuẩn giúp cho quá trình tiêu hóa và hấp thu được tốt hơn
Như vậy trong đường ruột của gia súc có rất nhiều loại vi sinh vật khác nhau, có loại luôn cố định cư trú, có loại tuỳ điều kiện đến cư trú Trong điều kiện bình thường đây chỉ là một nhóm vi sinh vật sống cộng sinh cùng nhau ở trong cơ thể vật chủ, tạo sự cân bằng vi sinh thái cho cơ thể vật chủ Các vi sinh vật này ngoài việc giúp cho quá trình tiêu hoá hấp thu chất dinh dưỡng, nhiều loại vi khuẩn còn có khả năng tổng hợp các vitamin, các chất ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh Bên cạnh đó hệ vi sinh vật đường ruột còn giữ vai trò “hàng rào vi khuẩn” ngăn chặn vi khuẩn gây bệnh xâm nhập vào
đường ruột nhờ tác dụng đối kháng giữa các vi sinh vật Nhưng khi trạng thái cân bằng bị mất thì chính những vi khuẩn này sẽ phát triển và sinh độc tố gây
Trang 26hại cho cơ thể vật chủ
2.5 Đại cương về “Hội chứng tiêu chảy ở lợn”
Hội chứng tiêu chảy của lợn là biểu hiện lâm sàng của những quá trình bệnh lý đặc thù ở đường tiêu hoá Hiện tượng lâm sàng này tuỳ thuộc theo đặc
điểm, tính chất, độ tuổi mắc bệnh và tuỳ theo yếu tố nguyên nhân mà được gọi với nhiều tên khác nhau: bệnh lợn con phân trắng, chứng khó tiêu, tiêu chảy
sau cai sữa, chứng rối loạn tiêu hoá, Colibacillosis, Sall… hoặc tiêu chảy là
triệu chứng thường gặp ở nhiều ký sinh trùng bệnh do virus, vi khuẩn
Theo nhiều công trình nghiên cứu của tác giả đã khẳng định tiêu chảy là hội chứng bệnh lý liên quan đến rất nhiều các yếu tố mà các yếu tố đó là nguyên nhân Có thể là nguyên nhân thứ phát, nguyên nhân nguyên phát, nhưng việc phân biệt được rõ ràng đâu là nguyên nhân gây ra tiêu chảy là một vấn đề không đơn giản Song cho dù là nguyên nhân nào gây tiêu chảy thì hậu quả của chúng đều gây viêm nhiễm, tổn thương thực thể đường tiêu hoá và cuối cùng là một quá trình nhiễm trùng
2.5.1 Nguyên nhân gây "Hội chứng tiêu chảy"
Có rất nhiều tác giả trong và ngoài nước đưa ra những nguyên nhân của
“Hội chứng tiêu chảy” Việc phân biệt các nguyên nhân chỉ là tương đối nhằm mục đích xác định nguyên nhân nào chính, xuất hiện trước, nguyên nhân nào
kế phát, để có biện pháp phòng trị cụ thể, hiệu quả
Nguyên nhân nội tại
Theo Phạm Khắc Hiếu (1997) [11] ở gia súc non, lớp vỏ đại não chưa phát triển nên sự thích nghi chống đỡ với những thay đổi ngoại cảnh là kém Bên cạnh
đó hệ thống đường tiêu hoá chưa hoàn chỉnh, phản xạ tiết dịch tiêu hoá chưa rõ ràng, độ axit của dịch vị thấp làm cho hoạt động tiêu hoá và diệt khuẩn kém
Mặt khác, lợn con ở 1- 2 tuần đầu khả năng tổng hợp và dự trữ các chất
Trang 27kém nên lợn con thường bị thấp đường huyết, thiếu sắt và các khoáng vi lượng
Cu, Mg, Zn, Ca, Se, Thời kỳ đầu, khả năng tăng nhanh nhưng đến giai đoạn
sự tiết sữa của mẹ giảm dần cả về số lượng và chất lượng cũng làm cho sức đề kháng của con giảm, do vậy lợn con dễ bị Stress do môi trường thay đổi Sự thiếu men tiêu hoá làm sữa không đông tạo điều kiện thuận lợi cho hệ vi khuẩn có hại phát triển tăng lên sản sinh ra độc tố gây hại cho cơ thể, làm mất
sự cân bằng trạng thái của vi sinh vật dễ gây ra tiêu chảy
Chính vì thế, việc quản lý chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn sơ sinh bằng cách bổ xung các khoáng và vitamin cho lợn là rất quan trọng
Do ngoại cảnh
Có rất nhiều nguyên nhân tác động của ngoại cảnh có thể gây rối loạn quá trình cân bằng trạng thái trong đường ruột của vật chủ
Yếu tố thời tiết và điều kiện chăm sóc
Theo Sử An Ninh (1993) [19] yếu tố thời tiết lạnh ẩm là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh phân trắng lợn con
Còn theo Đái Duy Ban (1980) thì yếu tố dinh dưỡng ảnh hưởng đến sức
đề kháng tự nhiên của cơ thể Nếu lợn con không được bú sữa đầu, sẽ không nhận được kháng thể từ sữa mẹ rất dễ bị mắc viêm ruột ỉa chảy Khi lợn con theo mẹ, phản ứng thích nghi, bảo vệ chưa hoàn thiện, nên trong điều kiện nhiệt độ quá nóng, quá lạnh mưa gió, độ ẩm cao kết hợp với việc vệ sinh chuồng trại kém, khẩu phần thức ăn không hợp lý, sữa mẹ kém chất lượng lợn con dễ mắc hội chứng tiêu chảy
Trong thực tế vào những tháng mưa nhiều, kèm theo khí hậu lạnh, tỷ lệ lợn con bị tiêu chảy tăng lên rõ rệt, có khi tăng đến 90 - 100% trong đàn (Nguyễn Vĩnh Phước (1978) [24] và Đào Trọng Đạt (1996) [5]) Do vậy việc dọn vệ sinh sạch sẽ, giữ ẩm, làm khô chuồng nuôi, bổ sung dinh dưỡng hợp lý cho lợn con và lợn mẹ là vô cùng quan trọng với sức khoẻ lợn con Đây là
Trang 28những nguyên nhân rất dễ làm sức đề kháng của lợn giảm và tạo điều kiện tốt cho các vi khuẩn bội nhiễm dẫn đến gây bệnh
Thí dụ bệnh TGE (Transmissible Gastro Enterritis) và bệnh dịch tả lợn
do giống virus pestis suum thuộc họ Togaviridae gây ra Và còn có rất nhiều
các loại virus có thể gây ra hội chứng tiêu chảy đặc thù riêng
Do ký sinh trùng
Theo Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) [15] cho rằng sán lá ruột lợn
(Fasciolopsis busky), giun đũa (Ascaris suum) và một số đơn bào (Protozoa)
đều có thể gây ra tiêu chảy ở lợn Tác hại của chúng là cướp chất dinh dưỡng của cơ thể, tiết ra các độc tố làm giảm sức đề kháng gây trúng độc tạo điều kiện cho bệnh khác phát sinh Chúng còn gây ra tổn thương các niêm mạc ruột, gây viêm ruột gây ỉa chảy Do vậy viêc tẩy giun sán là rất quan trọng
trong phòng trị tiêu chảy
2.5.2 Một số bệnh điển hình gây triệu chứng ỉa chảy
Như chúng ta đã biết có rất nhiều bệnh gây ra triệu chứng ỉa chảy và đó
là các phản ứng của cơ thể và hậu quả có liên quan đến đường ruột như:
* Bệnh viêm dạ dày, ruột truyền nhiễm (TGE - Transmissible Gastro
Trang 29Enteritis)
Đây là một bệnh mới được phát hiện trong vòng 20 năm trở lại đây, bệnh gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi tập trung Nguyên nhân do virus
thuộc nhóm Coronavirus gây viêm dạ dày ruột, lây lan nhanh và tỷ lệ chết rất
cao trong vòng vài ngày, tuỳ theo lứa tuổi Bệnh thường xảy ra ở lợn con dưới
2 tuần tuổi, lợn bệnh mất nước sút cân nhanh, lợn bị nôn mửa và ỉa chảy phân
có nhiều nước, màu vàng hoặc hơi xanh, lổn nhổn mùi khó chịu
Do virus TGE phá huỷ gần như toàn bộ nhung mao của ruột nên khi mổ khám thành ruột non mỏng như tờ giấy cuộn thuốc lá và dạ dày có chứa sữa không tiêu màu trắng Bệnh này xảy ra chủ yếu với lợn con gây tổn thất lớn ở lợn trưởng thành, bệnh này ở thể mang bệnh ít biểu hiện
* Bệnh dịch lợn
Bệnh do một loại virus thuộc họ Togavididae giống Pestissuum, là virus
thuộc nhóm ARN gây ra
Bệnh xảy ra quanh năm và trong mọi điều kiện thời tiết, bệnh được lây
từ những con vật ốm tiếp xúc với con vật khoẻ, được truyền qua môi trường không khí, thức ăn, nước uống
Bệnh xảy ra với mọi lứa tuổi các giống lợn lây lan nhanh, tỷ lệ chết cao, cao nhất vẫn là lợn choai có khi chết đến 100%
- Bệnh này có triệu chứng: sốt cao 41- 420C, kéo dài 4 - 5 ngày liền, thời gian sốt con vật đi táo, sau nhiệt độ giảm con vật đi ỉa lỏng, loãng, màu xanh đen mùi thối khắm khó chịu (đặc trưng) gia súc mệt mỏi, ủ, rũ, bỏ ăn Ngoài những triệu chứng trên bệnh còn biểu hiên: trên da có những điểm xuất huyết bằng đinh ghim hoặc mũi kim Niêm mạc mắt mũi bị viêm, chảy ra nước mắt, nước mũi, nhiều trường hợp có dử đóng lại ở khoé mắt hình thành
mủ Bệnh tích đặc trưng là hạch lâm ba xuất huyết, rìa lách nhồi huyết hình thành răng cưa, ruột loét ở niêm mạc vùng van hồi manh tràng, vết loét giống
Trang 30hình cúc áo bề mặt phủ bựa có thành
* Bệnh do Rotavirus
Bệnh do virus thuộc họ Reoviridae gây ra Bệnh hay xảy ra ở lợn 1 - 5
ngày tuổi, tỷ lệ chết cao 50 - 100% Triệu chứng điển hình của bệnh là phân nhão như hồ rồi đến phân lẫn nhiều nước màu vàng trắng hoặc xám, chứa nhiều chất vón Do virus cư trú và huỷ hoại làm thoái hoá lớp nhung mao ruột nên khả năng tiêu hoá và hấp thu kém Do vậy khi lợn khỏi bệnh nếu được nuôi tiếp lợn sẽ còi cọc và chậm lớn, ở lợn lớn ít có biểu hiện lâm sàng
* Bệnh do E.coli (Colibaccillosis)
Sau khi xâm nhập vào hệ thống tiêu hoá trước hết vi khuẩn bám dính vào tế bào nhung mao ruột non bằng các yếu tố bám dính.Tại đây vi khuẩn
phát triển nhân lên, phá huỷ tế bào tổ chức, gây viêm và sản sinh Toxigenic và
Verotoxin, gây tụ huyết, xuất huyết gây tử vong rất nhanh, hoặc vi khuẩn cư
trú tại ruột tạo ra chứng viêm ruột cấp Nếu con vật vượt qua giai đoạn này thường để lại bệnh tích ở hạch màng treo ruột, gan, lách và túi mật.Với những gia súc trưởng thành khoẻ mạnh có thể không có triệu chứng lâm sàng nhưng có bệnh tích ở phủ tạng, vùng bụng Căn cứ vào các giai đoạn gây bệnh cho các lứa tuổi chia ra hai loại Bệnh lợn con phân trắng và bệnh tiêu chảy ở lợn
+ Bệnh phân trắng lợn con: thường xảy ra ở lợn sơ sinh đến 21 ngày tuổi
với những đặc điểm: lợn xù lông, gầy còm, suy nhược, các đầu xương nhô ra, mắt chũng sâu, phân lỏng nhiều nước thay đổi từ màu sáng trong sang màu trắng
+ Bệnh tiêu chảy ở lợn con: thường xuyên xảy ra ở lợn từ 4 tuần tuổi
đến sau cai sữa Bệnh này có triệu chứng giống bệnh phân trắng lợn con, nhưng mức độ tiêu chảy của lợn không nặng và phân đổi màu nâu xám hoặc xám xanh
Trang 31* Bệnh phó thương hàn (Salmonellosis)
Salmonellosis là vi khuẩn gây bệnh viêm ruột chủ yếu do 2 chủng Salmonella cholera suis chủng Kunzendorf hay Salmonella typhysuis chủng Voldargsen gây bệnh thể mãn tính Bệnh này thường xảy ra ở lợn sau cai sữa
đến 4 tháng tuổi lợn lớn ít mắc hơn
Triệu chứng: con vật bỏ ăn, sốt cao 40,50 C - 41,60 C, ho khan khò khè, lúc đầu đi táo, sau khi nhiệt độ hạ xuống, con vật ỉa chảy nặng, phân lỏng sống màu vàng bột như cám, da xuất hiện những đám tụ máu, gan có những
điểm hoại tử hoặc áp se, lợn chết ở những ngày đầu lách sưng to, tụ máu Nếu lợn mắc ở thể mãn tính lách dai như cao su Niêm mạc ruột già viêm loét, vết loét lan tràn bờ nông, có khi vết loét chất lên nhau Do ỉa chảy nhiều, con vật
dễ dẫn đến lòi dom và giai đoạn sau liệt cơ vòng hậu môn cho nên phân tự chảy ra Da nhợt nhạt lông xù, bụng hóp lại hõm sâu xuống Do đặc tính của bệnh nên khi dùng kháng sinh điều trị chúng ta phải thận trọng vì rất dễ làm tăng khả năng mang trùng
* Bệnh hồng lỵ do treponema
Bệnh do xoắn khuẩn Treponema hyodysenteria gây nên thường kết hợp
với phẩy trùng Vibrio và các nhóm vi khuẩn đường ruột khác Nếu chỉ có một
mình vi khuẩn Treponema thì không gây bệnh, trong môi trường sạch các vi
khuẩn khác
Bệnh thường xảy ra ở lợn sau cai sữa từ 3 - 6 tháng tuổi, dấu hiệu lâm sàng chủ yếu là tiêu chảy, phân có lẫn máu tươi, màng niêm mạc và dịch lầy nhầy do viêm ruột già, manh tràng trực tràng Cơ thể suy nhược, mất nước, chậm lớn và ảnh hưởng đến chỉ số tiêu tốn thức ăn
* Bệnh ruột cấp tính lúc sơ sinh
Bệnh do Clostridium perfringens gây ra Bệnh xảy ra ở lợn trong vòng
một tuần tuổi nhất là vào thời điểm 1 - 3 ngày tuổi sau khi sinh Bệnh là do
Trang 32cảm nhiễm kế phát làm cho diễn biến ở mức độ trầm trọng khác nhau
Triệu chứng chủ yếu là tiêu chảy ra máu, tỷ lệ chết cao, có bệnh tích ở ruột non xuất huyết máu đỏ tươi
* Bệnh tiêu chảy do Protozoa
Các loại protozoa có sẵn trong hệ tiêu hoá của lợn Cryptospodium gây
ra ỉa chảy cho lợn con mới đẻ, các loại khác như: Balantium coli, Coccidia
đều gây ra triệu chứng là tiêu chảy, trong trường hợp kết hợp các yếu tố khác
sẽ gây ra rối loạn tiêu hoá
2.6 Các biện pháp phòng bệnh tiêu chảy
Tiêu chảy là hiện tượng bệnh lý gây ra bởi nhiều nguyên nhân đa dạng phức tạp làm mất sự cân bằng của hệ vi sinh vật trong đường tiêu hoá Do vậy việc phòng và trị bệnh hội chứng tiêu chảy vẫn là một vấn đề nan giải
Theo Trịnh Văn Thịnh (1985) [32 ], Đào Trọng Đạt (1996) [5], Hồ Văn Nam và cộng sự (1997) [17] cũng cho rằng: yếu tố chăm sóc, nuôi dưỡng tốt cho lợn con, lợn mẹ, lợn con được bú sữa đầu sớm, lưu ý đến các thành phần dinh dưỡng khoáng, vitamin trong khẩu phần ăn sẽ hạn chế được hội chứng tiêu chảy
Bên cạnh đó các yếu tố chăm sóc Stress xấu cũng là một trong những
tác nhân gây hội chứng tiêu chảy, Nguyễn Phước Tương (1996), Phạm Gia Ninh (1980), Sử An Ninh (1991) [19], Phạm Khắc Hiếu (1998) [12] cho rằng chúng ta tăng cường lò sưởi, giữ ấm cho lợn con, rắc mùn cưa, vỏ chấu rải nền chống rét, chống ẩm sẽ hạn chế được hội chứng tiêu chảy
Nghiên cứu của Nguyễn Như Viên (1976) [40], Trần Minh Hùng (1978), Đái Duy Ban (1980) cho biết ở lợn con thường có triệu chứng thiếu máu do thiếu sắt do đó dẫn đến lợn con thường bị rối loạn tiêu hoá gây ỉa chảy.Trên cơ sở đó Lê Thị Tài (1993), Hoàng Danh Dự (1993) đã dùng
Trang 33Dextran Fe tiêm bổ sung cho lợn phòng chống suy dinh dưỡng và các bệnh
- Phòng bệnh bằng các chế phẩm sinh học
Đó là hỗn hợp của các vi khuẩn sống: Bacillus subtilis, Colibacterium
và Lactobacillus đưa vào đường ruột để giúp tạo điều kiện cân bằng lại hệ
sinh vật
Nguyễn Như Viên (1976) [40] đã thành công trong chế phẩm Bacillus
subtilis để phòng và chữa bệnh viêm ruột ỉa chảy ở các lứa tuổi
Các nhà khoa học Nhật Bản đã đưa ra chế phẩm EM (Effective
Trang 34Microosgaisms) trong đó có dùng các vi khuẩn có ích, đặt biệt là nhóm vi
khuẩn Lactic để phòng hội chứng tiêu chảy
Tác giả Trần Thị Hạnh, Đặng Xuân Bình (2002) [9] đã thử nghiệm một
số chế phẩm sinh học phòng bệnh tiêu chảy phân trắng lợn con do E.coli và
Cl.Perfringens Khi dùng chế phẩm này cho lợn nái dùng 2 tuần trước khi đẻ,
cho uống 200ml/con/ngày liên tục trong 3 ngày đã làm giảm tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy từ (55,5% xuống còn 28,12%) Ngoài ra còn rút ngắn được thời gian điều trị bệnh từ 3 ngày xuống 1,8 ngày, giảm tỷ lệ lợn con chết do tiêu chảy xuống 7,4 % so với lô đối chứng, khối lượng bình quân lợn cai sữa tăng lên là 0.46 kg/con so với lô đối chứng
- Phòng bệnh bằng kháng sinh
Có rất nhiều nhà chăn nuôi đã có chủ trương cho kháng sinh vào thức
ăn để phòng tiêu chảy và kích thích tăng trưởng của lợn con Do hệ vi sinh vật
đường ruột rất đa dạng, phức tạp nên các thuốc kháng sinh đưa vào rất dễ bị kháng thuốc Theo Bùi Thị Tho, Phạm Khắc Hiếu (1995) [34] đã tiến hành kiểm tra tính kháng thuốc do việc sử dụng thuốc trong phòng và trị bệnh khác nhau dẫn đến tính mẫn cảm và tính kháng thuốc của vi khuẩn khác nhau
- Phòng bệnh bằng vaccin
Đây là biện pháp có hiệu quả cao trong phòng bệnh bởi vì vi khuẩn có vai trò quan trọng trong hội chứng tiêu chảy ở lợn
Theo Smith (1965), Halls và Kokler (1978), Lê Văn Tạo (1990 ) [60] đã
lựa chọn giống vi khuẩn E.coli để sản xuất vacxin phòng bệnh Tuy nhiên
E.coli có rất nhiều typ và khả năng biến chủng nhanh, vacxin có hiệu lực thay
đổi tuỳ từng vùng nên việc áp dụng một loại vacxin cho nhiều địa phương thường không có hiệu quả Nguyễn Thị Nội và cộng sự (1989), Cù Hữu Phú, Nguyễn Ngọc Nhiên, Đỗ Ngọc Thuý (2000) [23] đã kết luận nên sử dụng giai
Trang 35đoạn đầu vacxin cần được chế từ các Serotype tại chỗ là tốt nhất
Lê Văn Tạo và cộng sự (2001) [29] nghiên cứu sản xuất kháng thể khác
từ lòng đỏ trứng gà phòng bệnh tiêu chảy do E.coli ở lợn con Khi đưa vào ứng
dụng đã điều trị với lợn 2 - 4 tuần tuổi bị tiêu chảy do E.coli, kết quả 100% lợn khỏi sau khi uống và tiêm phúc mạc kháng thể trên 3 ngày lên không gây phản ứng phụ
2.7 Điều trị
Việc điều trị hội chứng tiêu chảy phải điều trị sớm ngay khi mới phát hiện bằng nhiều biện pháp tổng hợp Đó là phải loại bỏ nguyên nhân gây bệnh, thải trừ chất chứa trong đường tiêu hoá, bảo vệ niêm mạc ruột, chống mất nước và điện giải phải sử dụng các loại kháng sinh để gây ức chế hoặc tiêu diệt vi khuẩn, để tạo lại hệ cân bằng sinh thái của hệ vi sinh vật đường ruột
Ngày này cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, người
ta đã sử dụng hàng trăm loại kháng sinh (kháng sinh được chiết xuất từ nấm,
vi khuẩn và kháng sinh tổng hợp) làm cho việc điều trị bệnh cho gia súc gia cầm ngày càng có hiệu quả
Tác giả Hồ Đình Chúc, Nguyễn Văn Hạnh, Đặng Thế Huynh và Nguyễn Vĩnh Phước (1978) dùng kháng sinh điều trị viêm ruột ỉa chảy ở lợn
ngay từ khi mới phát hiện chloroxit, oxytetramycin, tetramycin 40mg/1kg trọng lượng cơ thể trong 4 ngày liền, có thể dùng sulfaguanidin, sulfathiazon,
sulfamerazin từ 1 - 3 ngày trong 4 - 5 ngày liền
Theo Phạm Thị Hương (2004) [14] để điều trị tiêu chảy ở lợn con có thể
dùng một loại kháng sinh như: Amikacin hoặc Apramycin
Tuy nhiên khi sử dụng những loại kháng sinh trên chúng ta phải luôn
Trang 36chú ý đến hiện tượng nhờn thuốc của vi khuẩn, phải biết phối hợp các loại kháng sinh để làm tăng thêm hiệu quả trong điều trị Bên cạnh đó chúng ta có thể sử dụng huyết thanh để chữa bệnh bằng cách gây tốt miễn dịch cho từng loại bệnh
Tóm lại: để điều trị bệnh đạt kết quả cao chúng ta phải tìm hiểu kỹ
nguyên nhân, điều trị sớm nhất, kết hợp các biện pháp tổng hợp, và sử dụng các loại thuốc kháng sinh đúng và hợp lý để đem lại hiệu quả kinh tế lớn cho người chăn nuôi
Trang 373 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.1 Nội dung nghiên cứu
3.1.1 Khảo sát tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy của lợn theo các lứa tuổi
từ sơ sinh đến 13 tuần tuổi
3.1.2 Khảo sát tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy theo các lứa tuổi từ sơ sinh đến 13 tuần tuổi ở các trang trại chăn nuôi lợn siêu nạc theo phương thức chuồng hở, chuồng bán kín, kín hoàn toàn
3.1.3 Khảo sát một số chỉ tiêu huyết học lợn mắc hội chứng tiêu chảy 3.1.4 Tổng hợp các triệu chứng chính của lợn mắc hội chứng tiêu chảy 3.1.5 Mổ khám, kiểm tra bệnh tích lợn ốm, chết, do hội chứng tiêu chảy gây ra
3.1.6 Nghiên cứu biến đổi bệnh lý vi thể của: ruột, gan, phổi, thận và hạch, lợn chết do mắc hội chứng tiêu chảy
3.2 Nguyên liệu, địa điểm và đối tượng nghiên cứu
3.2.1 Nguyên liệu
* Dung dịch hóa chấ t
- Dung dịch nước muối sinh lý (NaCl 0,9%), dung dịch Natri bicacbonnat, dung dịch cồn - axit (HCl 1%)
- Hoá chất dùng để cố định bệnh phẩm (Formol 10%)
- Hoá chất dùng trong quá trình làm tiêu bản gồm: cồn Ethylic 700, 900,
1000, Xylen, Parafin, Hematoxylin, Eosin
* Mẫu nghiên cứu
- Khảo sát tỷ lệ tiêu chảy được tiến hành trên lợn các lứa tuổi
Trang 38- Mẫu máu nghiên cứu trên lợn khoẻ và lợn mắc HCTC ở 2 tuần tuổi
- Các mẫu máu, gan, ruột non, hạch màng treo ruột, phổi, thận lấy từ những lợn con chết do mắc hội chứng tiêu chảy ở 2 tuần tuổi
3.2.2 Địa điểm nghiên cứu
- Thời gian thực tập từ 1/1/2006 đến 01/05/2006 tại 4 trang trại chăn nuôi lợn siêu nạc:
Nguyễn Hữu Cơ: Tiên Lữ - Hưng Yên Nguyễn Văn Đẩu: Từ Sơn - Bắc Ninh Nguyễn Văn Hiệp: Văn Giang - Hưng Yên
Lê Huy Lộc: Cẩm Giàng - Hải Dương
3.2.3 Đối tượng nghiên cứu
Lợn siêu nạc từ 1 đến 13 tuần tuổi, gồm các giống lợn: Landrace
(CP109), Yorshire (CP 209), Durroc (CP809), Pietrain (CP 609)
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Chuẩn bị
- Chọn những đàn lợn có cùng thời gian đẻ, cùng có chế độ ăn uống và cách quản lý, chăm sóc như nhau để tiến hành theo dõi
- Ghi sổ nhật ký hàng ngày, lập bảng theo dõi
3.3.2 Phương pháp xác định tỷ lệ lợn mắc hội chứng tiêu chảy
- Tiến hành theo dõi thường xuyên, quan sát nền chuồng, sàn chuồng, kiểm tra từng cá thể để xem lợn con mắc hội chứng tiêu chảy (HCTC) hay có các bệnh khác không
- Dựa vào các đặc điểm sau để nhận biết được lợn mắc HCTC:
Trang 39+ Đối với những đàn lợn con theo mẹ: lợn bú ít, chậm chạp, lông xù Lợn đi ngoài quan sát thấy phân lúc đầu lổn nhổn sau loãng như hồ màu trắng xám hoặc trắng vàng, có lẫn bọt khí Lợn đi ỉa nhiều lần, phân dính bết ở đuôi
và khoeo chân,
+ Đối với lợn sau cai sữa: phân nhão hoặc loãng màu đen hoặc vàng, có thể có bọt có mùi thối khắm Lợn đi ỉa nhiều lần phân dính bết vào hậu môn khoeo chân,
Sau khi đã theo dõi và điều trị chúng ta ghi chép vào nhật ký và ghi
rõ số tai, số nái, nhóm tuổi, ô chuồng ngày tháng bị bệnh Từ đó ta dự
đoán ra các nguyên nhân bị bệnh và một số vấn đề cần lưu ý khi ta kết thúc thí nghiệm
Số lợn con mắc HCTC
Số con theo dõi
3.3.3 Phương pháp đếm số lượng hồng cầu
Đếm bằng buồng đếm Newbauer trên kính hiển vi quang học Đếm ở 5
ô trung bình ở khu vực trung tâm của buồng đếm: 1 ô ở giữa và 4 ô ở 4 góc Trong mỗi ô trung bình đếm số lượng hồng cầu ở 16 ô con theo nguyên tắc: trên - phải hoặc dưới - trái để tránh hiện tượng một hồng cầu được đếm hai lần Tính số lượng hồng cầu trong 1 mm3máu (đơn vị: triệu / mm3)
3.3.4 Phương pháp xác định bạch cầu(%): theo công thức Schilling, đơn vị tính %
- Nguyên tắc: những bạch cầu trong máu không giống nhau, chúng khác nhau về hình thái, kích thước nhân, màu sắc của các hạt và nguyên sinh chất
- Tiến hành: dùng một lam kính sạch và trong, lau khô lam kính, sau đó nhỏ một giọt máu (bằng hạt đậu tương) lên lam kính thứ hai có cạnh phẳng để
Trang 40tiếp súc với lam kính có máu với góc nghiêng 450, lùi lam kính thứ hai đến giọt máu để dàn đều theo cạnh lam kính rồi đẩy nhanh lam kính thứ hai trượt trên mặt lam kính thứ nhất ta sẽ được một lam kính mỏng và dàn đều Để khô
lam kính máu sau đó đưa cố định bằng cồn Metylic trong 5 giây rồi nhuộm
Giemsa và đưa lam kính soi trên kính hiển vi với vật kính đầu
- Tiến hành phân loại theo Schilling: đếm bạch cầu liên tiếp nhau ở 4 góc
và hai đầu của tiêu bản màu theo hình chữ chi, ghi riêng từng loại bạch cầu
3.3.5 Phương pháp định lượng hemoglobin
Trong môi trường axit Chlohydric (HCL), Hemoglobin chuyển thành Chlohydrat hematin có màu nâu sẫm Dùng phương pháp so màu bằng huyết sắc kế Shali, dựa vào ống màu chuẩn để đọc kết quả
Đơn vị tính là g%: số gam Hemoglobin có trong 100 ml máu
3.3.6 Phương pháp tính tỷ khối huyết cầu - Hematocrit
Phương pháp của Wintrobe, dùng máy ly tâm huyết học TH - 12
- Dụng cụ: ống Hematocrit, giá để ống, thước đo, bông sắp máy li tâm
- Thao tác: máu tĩnh mạch đã có chất chống đông, hút máu vào ống rồi cho vào máy li tâm huyết học TH - 12 với vận tốc 3000 vòng/ phút trong 15 phút -20 phút Chú ý khi đặt ống phải đặt đối xứng, lượng máu hút vào phải
đều nhau, khi ly tâm xong phải lấy ống Hematocrit, dùng bông lau sạch ở ngoài Sau đó gắn vào một đầu của ống Hematocrit mang ra đo trên thước Kết quả đo được tính là tỷ khối huyết cầu, đơn vị là %