Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo
Trường Đại học Nông nghiệp I
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và ch−a từng đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đ4 đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đ4 đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 19 tháng 9 năm 2006
Tác giả
Trang 3Cùng với sự nỗ lực của bản thân, trong quá trình thực hiện đề tài, tôi cũng luôn nhận được sự động viên giúp đỡ, tạo điều kiện của lãnh đạo cùng toàn thể bạn bè đồng nghiệp của chuyên ngành thú y tỉnh Bắc Giang
Nhân dịp hoàn thành luận văn, một lần nữa tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới nhà trường, các thầy cô giáo, các cơ quan, bạn bè đồng nghiệp cùng người thân đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu thực hiện đề tài
Hà Nội, ngày 19 tháng 9 năm 2006 Tác giả Tác giả
Vũ Văn Tĩnh Vũ Văn Tĩnh
Trang 4danh mục các chữ viết tắt
A Axít
ĐVC Đơn vị cacbon
E coli Escherichia coli ELISA Enzime Linked Immunosozbent Assay FAO Food and Agricultural Organisation
Hb Hemoglobin
HF Holstein Friesian HLHSTbq Hàm l−ợng huyết sắc tố bình quân LBC Lâm ba cầu
LT Heat labile toxin (độc tố không chịu nhiệt) NĐHSTbq Nồng độ huyết sắc tố bình quân
Pr Protein sGPT Serum -glutamat-pyruvat-transminaza sGOT Serum -glutamat-oxaloaxetat-transminaza SKTĐ Sức kháng tối đa
SKTT Sức kháng tối thiểu
ST Heat Stabile toxin (độc tố chịu nhiệt) TKHC Tỉ khối huyết cầu
VFA Volative fatty acids (axít béo bay hơi)
VTM Vi ta min
Trang 6Danh mục ảnh
ảnh 3.1 Lấy máu tĩnh mạch cổ bò 60
ảnh 4.2 Bò khoẻ mạnh bình thường 66
ảnh 4.3, 4.4 Bò viêm ruột ỉa chảy cấp tính và mạn tính 66
ảnh 4.5 Trạng thái phân của bò khoẻ 68
ảnh 4.6, 4.7.Trạng thái phân của bò viêm ruột cấp tính và mạn tính 68
ảnh 4.8, 4.9, 4.10, 4.11 Các loại bạch cầu ở bò viêm ruột ỉa chảy 83
ảnh 4.12, 4.13, 4.14 Sự tổn thương ở đường tiêu hoá của bò viêm ruột ỉa chảy .96
ảnh 4.15 Hiện tượng xung huyết ruột, các mạch quản d4n rộng chứa đầy hồng cầu 98
ảnh 4.16, 4.17.Hiện tượng xuất huyết ruột, hồng cầu thoát khỏi mạch quản 98 ảnh 4.18, 4.19 Lông nhung dính lại với nhau, đứt nát 89
Trang 7Danh mục bảng biểu
Bảng 4.1 Thân nhiệt, mạch đập và tần số hô hấp của bò viêm ruột ỉa chảy 62 Bảng 4.2 Thể trạng của bò viêm ruột ỉa chảy 66 Bảng 4.3 Trạng thái phân và số lần đi ỉa trong ngày ở bò viêm ruột ỉa chảy 68 Bảng 4.4 Số lượng hồng cầu, tỉ khối huyết cầu, thể tích bình quân
của hồng cầu ở bò viêm ruột ỉa chảy 71 Bảng 4.5 Sức kháng hồng cầu, hàm lượng hemoglobin lượng hemoglobin
bình quân của hồng cầu của bò viêm ruột ỉa chảy 75 Bảng 4.6 Số lượng bạch cầu và công thức bạch cầu ở bò bị viêm ruột ỉa chảy 78 Bảng 4.7 Hàm lượng đường huyết, độ dự trữ kiềm trong máu bò
viêm ruột ỉa chảy 84 Bảng 4.8 Kết quả kiểm tra chức năng gan bằng phản ứng Gros và hoạt
độ men sGOT, sGPT trong huyết thanh bò viêm ruột ỉa chảy 87 Bảng 4.9 Hàm lượng protein tổng số và tỉ lệ các tiểu phần protein
trong huyết thanh bò viêm ruột ỉa chảy 90 Bảng 4.10 Hàm lượng natri, kali, canxi trong huyết thanh
bò viêm ruột ỉa chảy 94 Bảng 4.11 Các vị trí tổn thương trên đường tiêu hóa bò viêm ruột ỉa chảy 97 Bảng 4.12 Một số biến đổi giải phẫu vi thể ở đường tiêu hóa trong
bệnh viêm ruột ỉa chảy ở bò 98 Bảng 4.13 So sánh hiệu quả 2 phác đồ điều trị bò viêm ruột ỉa chảy….……92
Trang 8Mục lục
Lời cam đoan i
Lời cám ơn ii
Danh mục viết tắt iii
Danh mục hình iv
Danh mục ảnh v
Danh mục bảng biểu vi
Mục lục vii
1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 11
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 12
2 tổng quan tàI liệu 13
2.1 Một số t− liệu về con bò 13
2.2 Tình hình chăn nuôi bò trên thế giới và ở Việt Nam 14
2.2.1 Tình hình chăn nuôi bò trên thế giới 14
2.2.2 Tình hình chăn nuôi bò ở Việt Nam 15
2.3 Các giống bò hiện có ở Việt Nam 17
2.3.1 Giống bò nội 17
2.3.2 Giống bò ngoại 18
2.3.3 Các giống bò lai 20
2.4 Đặc điểm tiêu hoá ở bò 21
2.4.1 Tiêu hoá ở miệng 22
2.4.2 Tiêu hoá ở dạ dày 22
2.4.3 Tiêu hoá tại ruột 26
2.5 Bệnh viêm ruột ỉa chảy ở gia súc 26
2.5.1 Khái niệm về ỉa chảy 26
2.5.2 Nguyên nhân gây viêm ruột ỉa chảy 27
Trang 92.5.3 Cơ chế sinh bệnh viêm ruột ỉa chảy 33
2.5.4 Bệnh lí bệnh viêm ruột ỉa chảy ở gia súc 34
2.5.5 Hậu quả của viêm ruột ỉa chảy 38
2.6 Biện pháp điều trị hội chứng ỉa chảy 48
2.6.1 Loại trừ những sai sót trong nuôi dưỡng 48
2.6.2 Khắc phục rối loạn tiêu hoá và chống nhiễm khuẩn 49
2.6.3 Điều trị hiện tượng mất nước và chất điện giải 49
3 Đối tượng - địa điểm - nội dung và phương pháp nghiên cứu 44
3.1 Đối tượng nghiên cứu 54
3.2 Địa điểm nghiên cứu 54
3.3 Nội dung nghiên cứu 54
3.3.1 Một số chỉ tiêu lâm sàng 54
3.3.2 Một số chỉ tiêu huyết học 54
3.3.3 Xác định mức độ tổn thương bệnh lí đường ruột 55
3.3.4 Xây dựng phác đồ điều trị bệnh viêm ruột ỉa chảy 55
3.4 Phương pháp nghiên cứu 55
3.4.1 Một số chỉ tiêu lâm sàng 55
3.4.2 Một số chỉ tiêu huyết học 55
3.4.3 Xác định tổn thương bệnh lí đường ruột ở bò viêm ruột 58
3.4.4 Xây dựng phác đồ điều trị ở bò viêm ruột cấp: chia bò bệnh làm 2 lô và ứng dụng trên 2 phác đồ điều trị khác nhau .58
3.4.5 Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu 58
4 Kết quả và thảo luận 61
4.1 Kết quả theo dõi các chỉ tiêu lâm sàng 61
4.1.1 Thân nhiệt 61
4.1.2 Tần số hô hấp 63
4.1.3 Tần số tim mạch 64
Trang 104.1.4 Thể trạng 65
4.1.5 Trạng thái phân và số lần đi ỉa trong ngày 67
4.2 Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lí máu 69
4.2.1 Số lượng hồng cầu 70
4.2.2 Tỉ khối huyết cầu 72
4.2.3 Thể tích bình quân của hồng cầu 73
4.2.4 Sức kháng của hồng cầu 74
4.2.5 Hàm lượng huyết sắc tố và lượng huyết sắc tố bình quân của hồng cầu 76
4.2.6 Số lượng bạch cầu 77
4.2.7 Công thức bạch cầu 79
4.3 Kết quả xét nghiệm một số chỉ tiêu sinh hóa máu 83
4.3.1 Hàm lượng đường huyết 83
4.3.2 Độ dự trữ kiềm trong máu 85
4.3.3 Kiểm tra chức năng gan bằng phản ứng Gros 85
4.3.4 Hoạt độ men sGOT, sGPT trong huyết thanh 86
4.3.5 Protein và các tiểu phần protein trong huyết thanh 88
4.3.6 Hàm lượng natri, kali trong huyết thanh 93
4.3.7 Hàm lượng canxi trong huyết thanh 95
4.4 Xác định tổn thương bệnh lí đường ruột 96
4.4.1 Giải phẫu đại thể 96
4.4.2 Giải phẫu vi thể 97
4.5 Điều trị bệnh viêm ruột ỉa chảy ở bò 100
5 Kết luận và đề nghị 105
5.1 Kết luận 105
5.2 Đề nghị 106
Tài liệu tham khảo 9
Trang 111 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong 10 năm gần đây, giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi liên tục đạt mức tăng trưởng khá, vào khoảng 5,2% bình quân hàng năm; cao hơn đáng kể
so với mức tăng trưởng tổng giá trị sản xuất chung của ngành nông nghiệp (4,5%) Đặc biệt trong năm 2002, ngành chăn nuôi đ4 đạt tốc độ tăng trưởng
kỉ lục 9,9%, mức cao nhất trong vòng 10 năm qua
Thực hiện chủ trương về chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, giá trị sản phẩm chăn nuôi năm 2003 đ4 đạt được 22,94 nghìn tỉ đồng, tăng 73,08% so với năm 1995 Tỉ trọng giá trị sản phẩm của ngành chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp đ4 tăng từ 18,9% (1995) lên mức 22,5% (2003) Ngành chăn nuôi đ4 từng bước trở thành một ngành sản xuất hàng hoá chiếm tỉ trọng lớn trong sản xuất nông nghiệp, được coi là ngành mũi nhọn trong công tác xoá đói, giảm nghèo cho nhân dân (Cục Chăn nuôi, 2006[4])
Để ngành chăn nuôi phát triển toàn diện, cân đối, tận dụng tối đa thế mạnh về điều kiện tự nhiên, x4 hội của từng vùng sinh thái, tạo ra nhiều sản phẩm đa dạng phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, bên cạnh việc phát triển ngành chăn nuôi lợn, gia cầm thì chăn nuôi đại gia súc, đặc biệt là chăn nuôi bò đang là vấn đề rất được quan tâm
Theo số liệu thống kê ngày 01/8/2003 của Tổng cục thống kê, tổng đàn
bò cả nước là 4.394.468 con, trong đó bò sinh sản nuôi, nuôi thịt và cày kéo là 4.315.243 con chiếm 98,1% tổng đàn Đàn bò được nuôi ở khắp các vùng sinh thái trong cả nước, hàng năm đóng góp một lượng lớn thực phẩm cho tiêu dùng Ngoài ra, nó còn là nguồn cung cấp sữa cho các nhà máy chế biến, đáp ứng sức cày kéo cho nông dân và còn cung cấp lượng phân hữu cơ đáng kể cho ngành trồng trọt
Trang 12Mặc dù nghề chăn nuôi bò đ4 được hình thành từ lâu ở nước ta nhưng quy mô chăn nuôi còn nhỏ, bình quân mỗi hộ nuôi từ 3 - 5 con, phương thức chăn nuôi còn mang tính quảng canh, tận dụng là chủ yếu nên năng suất chăn nuôi còn thấp Đồng thời, trong quá trình chăn nuôi, nông hộ luôn phải đối mặt với rất nhiều dịch bệnh xảy ra trên đàn bò Một trong những bệnh thường gặp và gây ra những thiệt hại đáng kể là bệnh viêm ruột ỉa chảy Đó là nguyên nhân làm giảm sức kéo, giảm khả năng sinh trưởng phát triển của đàn bò
Xuất phát từ những nhu cầu thực tế, với mục tiêu đưa ra những kết luận mang tính khoa học về đặc điểm bệnh lí của bệnh viêm ruột ỉa chảy ở đàn bò ngoài tự nhiên, từ đó đưa ra biện pháp điều trị có hiệu quả và triệt để hơn, góp phần thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển bền vững và mang lại hiệu quả kinh
tế cao, vì vậy chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu một số đặc
điểm bệnh lí của bệnh viêm ruột ỉa chảy ở bò và biện pháp điều trị''
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Xác định quá trình biến đổi lâm sàng của bò khi bị bệnh
- Xác định một số chỉ tiêu sinh lí - sinh hoá máu khi bò mắc bệnh
- Xác định tổn thương bệnh lí ở đường ruột khi bò bị viêm ruột ỉa chảy
- Đưa ra phác đồ điều trị bệnh đạt hiệu quả cao, góp phần làm giảm thiệt hại do bệnh gây nên
Trang 132 tổng quan tàI liệu
2.1 Một số tư liệu về con bò
Bò là loài gia súc nhai lại thuộc họ sừng rồng (Bovidae), phân họ Bovinae, gồm hai nhánh: bò (Bovina) và trâu (Bubalina), bộ phụ nhai lại (Ruminantia), bộ guốc chẵn (Artiodactyta), lớp có vú (Manmalian)
Poephagus mutus Prezewalski là bò Tây Tạng hoang và con cháu thuần hoá của nó
Bò Banteng (hay Tsin) của Đông Nam châu á là Bibos Javanicus hoặc Uibos banteng Bò Banteng đ4 được thuần hoá thành bò Bali Gaus (hay seladang) ở Bắc ấn Độ và bán đảo Malaixia là Bibos Gaurus Bò Gaus được thuần hoá thành bò Gayal hoặc Mithan (Đào Văn Tiến, 1971[36])
Giống bò Bison gồm hai loài là Bison bison châu Mỹ (Linnaeus) và Bison bonasus châu Âu (Linnaeus)
Bò nhà được thuần hoá từ bò rừng khoảng 8.000 - 7.000 năm trước Công nguyên Lúc đầu bò được thuần hoá và nuôi ở ấn Độ, từ đó lan sang Nam á, Địa Trung Hải và Trung Âu, về sau phát triển ở châu Âu, châu á và châu Phi (Đặng Huy Huỳnh, 1986[10])
Trang 142.2 Tình hình chăn nuôi bò trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1 Tình hình chăn nuôi bò trên thế giới
Mức độ phát triển của ngành chăn bò phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và
địa lí tự nhiên khác nhau ở mỗi nước Sự phát triển rất cao của ngành chăn nuôi bò sữa tập trung ở phần lớn các nước: châu Âu, Bắc Mỹ, Tân Tây Lan và châu úc Các nước có nền kinh tế kém phát triển ở châu á và châu Phi chủ yếu tập trung chăn nuôi bò thịt hoặc bò kiêm dụng thịt - cày kéo Cũng cần thấy rằng ở các nước châu á có số lượng gia súc có sừng là rất lớn, nhưng sức sản xuất của chúng thấp, sản phẩm ít nên không đáp ứng được nhu cầu về thịt
và sữa (Nguyễn Trọng Tiến và cộng sự, 2001[37])
Theo Cục Chăn nuôi (2006)[4], trong những năm gần đây, sự phát triển của ngành chăn nuôi trâu, bò có một số biểu hiện: ở các nước châu Âu, cùng với sự phát triển cao của ngành chăn nuôi lấy sữa (Đan Mạch, Hà Lan, Thụy Điển và một số nước khác), sự phát triển về số lượng và sức sản xuất sữa tương đối ổn định ở Mỹ xuất hiện sự biến đổi về tỉ lệ giữa đàn trâu, bò hướng sản xuất sữa và thịt ở đây đang có khuynh hướng mở rộng nghề nuôi
bò lấy thịt và thu hẹp bò lấy sữa Điều này có liên quan đến nhu cầu trong nước và xuất khẩu Sự phát triển các giống bò thịt còn thấy ở các nước Trung
và Nam Mỹ
Theo tài liệu của FAO (1980), sản xuất thịt trên toàn thế giới đạt 142,2 triệu tấn, trong đó thịt trâu, bò đạt 45,4 triệu tấn, chiếm 32% Các nước châu
Âu, Bắc và Trung Mỹ phát triển ngành chăn nuôi bò lấy thịt rất mạnh, đặc biệt
ở Mỹ, sản lượng thịt bò chiếm 24,4 % tổng sản lượng toàn thế giới
Sự phát triển của ngành chăn nuôi trâu, bò cũng đ4 tạo ra khoảng 300 giống
bò (121 giống bò Zebu) và 38 giống trâu
Phương thức nuôi dưỡng đàn trâu, bò tuỳ thuộc vào điều kiện và tập
Trang 15quán của từng nước ở các nước châu Âu, chăn nuôi bò theo hướng thịt, sữa chiếm ưu thế Hệ thống quản lí chủ yếu là b4i chăn - chuồng nuôi cùng với việc sử dụng rộng r4i đồng cỏ lâu năm, khẩu phần thức ăn trong giai đoạn mùa
hè là thức ăn thô xanh và cỏ trên đồng cỏ, còn mùa đông dùng thức ăn nhiều nước, củ quả ở đây, người ta đặc biệt chú ý đến thức ăn củ quả phơi tái Thức
ăn tinh trong khẩu phần bò sữa và bê là 20 đến 30 %, còn khi vỗ béo bò lấy thịt là 30 đến 40 % Đối với bò sữa, trong giai đoạn nuôi tại chuồng, bò được
bổ sung thức ăn 2 lần vào thời gian vắt sữa
Khi nuôi dưỡng bê hậu bị, người ta cho ăn sữa và thức ăn tinh hạn chế Nhiều nước như Anh, Pháp, Đan Mạch sử dụng rất phổ biến loại sữa thay thế
và thức ăn tinh hỗn hợp (Cục Chăn nuôi, 2006[4])
2.2.2 Tình hình chăn nuôi bò ở Việt Nam
Từ ngàn xưa, chăn nuôi trâu bò đ4 gắn bó với người nông dân Việt Nam Ngày nay, vị trí của chúng còn mở rộng hơn nhiều Trong 5 năm qua, chăn nuôi của nước ta đ4 phát triển nhanh về số lượng và chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của x4 hội về thịt, trứng, sữa Chăn nuôi bò đ4 có nhiều cơ hội tốt để phát triển và tăng trưởng về số lượng đàn bò và cải tiến về chất lượng giống
Số lượng và tốc độ tăng trưởng đàn bò của cả nước giai đoạn 2001-2005 như sau:
Trang 16giống cao sản đ4 được nhập về nước trong hai năm vừa qua nhằm đáp ứng nhu cầu giống phát triển chăn nuôi bò của nhân dân Tỉ lệ đàn bò lai chiếm trên 30% tổng đàn bò, là đàn bò nền để tiếp tục lai tạo bò thịt chất lượng cao Một
số tỉnh đ4 có các trang trại bò tư nhân qui mô lớn hàng trăm con như các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Bình Phước, Bình Dương và Lâm Đồng,…(Cục Chăn nuôi, 2006[4])
Theo đánh giá của Cục Chăn nuôi, phương thức chăn nuôi bò thịt hiện nay chủ yếu là chăn nuôi quảng canh, ít đầu tư vào thức ăn, đồng cỏ, chuồng trại Chỉ một số ít các trang trại quy mô lớn có đầu tư vào chuồng trại, đồng cỏ nhưng cũng ở mức độ thấp do nguồn vốn hạn chế hoặc thiếu tư vấn kĩ thuật, công nghệ phù hợp Kết quả điều tra kĩ thuật tình hình chăn nuôi bò tại các địa phương cho thấy việc áp dụng các tiến bộ kĩ thuật rất hạn chế, ví dụ như chưa
sử dụng thức ăn tinh nuôi bò hay ủ rơm với u rê chỉ được một số ít các hộ áp dụng (chưa đến 5%) Thực sự, tại Việt Nam chưa có ngành chăn nuôi bò thịt theo hướng hàng hoá và chuyên nghiệp, thịt bò cung cấp trên thị trường chủ yếu là thịt từ trâu bò bị loại thải (khi già yếu, bệnh,…) và bê đực nuôi vỗ béo
Quy mô chăn nuôi phổ biến hiện nay là chăn nuôi nông hộ, quy mô nhỏ Khảo sát bước đầu tại Ninh Thuận, một tỉnh có đàn bò tương đối đông thuộc khu vực Duyên hải miền Trung cho thấy hộ chăn nuôi bò quy mô dưới 10 con chiếm hơn 75% Tại Trà Vinh, tỉnh có đàn bò đông nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long, tỉ lệ hộ chăn nuôi có quy mô nhỏ (dưới 5 con) chiếm hơn 82% Tại khu vực các tỉnh Đông Nam Bộ, bước đầu nhiều trang trại chăn nuôi bò có quy mô lớn với
200 -1000 con/trang trại đ4 được hình thành, chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá đang được hình thành và phát triển Nhiều trang trại chăn nuôi bò đ4 đầu tư hệ thống chuồng trại quy mô, đúng quy cách kĩ thuật, đồng cỏ cao sản, hệ thống phối giống và quản lí giống được chú ý đúng mức (Cục Chăn nuôi, 2006[4])
Trang 17Bên cạnh đó, ngành chăn nuôi trâu bò sữa cũng dần được hình thành Trong những năm 70, nhờ sự giúp đỡ của các nước Trung Quốc, Cu Ba, ấn
Độ,… ngành đ4 xây dựng các trung tâm sản xuất sữa: Mộc Châu, Lâm Đồng, Sông Bé, Phùng Thượng, Phù Đổng, Ba Vì Theo số liệu hống kê ngày 01/8/2005 của Tổng Cục Thống kê: sản lượng sữa năm 2005 đạt 197,68 ngàn tấn, tăng trưởng 30,64% so với năm trước Tuy số lượng còn thấp so với nhu cầu của đất nước, nhưng đó là nền móng cho tương lai Nhờ sự giúp đỡ của chính phủ Cu Ba, chúng ta đ4 xây dựng trung tâm nuôi trâu bò đực giống phục
vụ chương trình nhân giống trong cả nước Các chương trình nghiên cứu nuôi thích nghi các giống trâu bò ngoại như Holstein friesian ở Mộc Châu, Lâm
Đồng, giống bò Sind và Sahiual ở Ba Vì Các chương trình lai tạo cũng được triển khai tốt
Việc xây dựng và cải tạo đồng cỏ cũng đạt kết quả tốt, hàng nghìn héc
ta đồng cỏ luân phiên đ4 được xây dựng mới, các giống cỏ năng suất cao như
cỏ Mộc Châu (Paspalum urvillei steua), cỏ Ghinê (Pamicum maximum), cỏ Pangola, cỏ Voi, King glas, Stylo centhes,… đang được mở rộng ra nhiều vùng khí hậu khác nhau (Cục Chăn nuôi, 2006[4])
2.3 Các giống bò hiện có ở Việt Nam
2.3.1 Giống bò nội
Bò Việt Nam có nguồn gốc từ bò Bos Taurus, nhánh bò châu á, có u như bò ấn Độ, hầu hết có màu vàng, vàng nhạt hoặc vàng đậm nên có tên chung là bò vàng Việt Nam Bò này nuôi chủ yếu làm sức kéo từ lâu đời, chưa
được cải tạo nên không có thiên hướng sản xuất rõ rệt, không có tên riêng mà thường được gọi theo địa danh: bò Thanh Hoá, bò Nghệ An, bò Bình Định, bò Phú Yên, bò Cao Bằng,… Bò vàng Việt Nam có tầm vóc nhỏ, năng suất thấp,
Trang 18khối lượng bò cái khi trưởng thành thường chỉ đạt 160 - 180 kg, bò đực 250 -
280 kg Bò cái 3,5 tuổi đẻ lứa đầu Tỉ lệ đẻ hàng năm là 47 - 50 %, bê sơ sinh nặng 12 - 14 kg Sản lượng sữa bình quân 300 - 400 kg, vừa đủ cho bê bú Tỉ
lệ thịt xẻ 42 - 44 % (Nguyễn Trọng Tiến và cộng sự, 2001[37])
2.3.2 Giống bò ngoại
2.3.2.1 Bò Hà Lan (Holstein Friesian)
Bò Hà Lan được tạo ra ở tỉnh Fulixon thuộc phía bắc Hà Lan từ thế kỉ XIV Ngày nay, giống bò này được phân bố rất rộng trên thế giới và được coi
là một trong sáu giống bò sữa có tác dụng lớn trong ngành chăn nuôi Giống
bò này có đặc điểm màu lông lang trắng đen, một số có màu lang trắng đỏ hoặc toàn màu đen Sáu điểm trắng đặc trưng cho giống bò Hà Lan là điểm trắng ở trán, vai có vệt trắng kéo dài xuống bụng và bốn chân, đuôi trắng
Bò cái Hà Lan nặng 450 - 470 kg, bò đực nặng 750 - 1100 kg Bê sơ sinh đạt 35 - 45 kg Tỉ lệ thịt xẻ 40 - 45 % Sản lượng sữa bình quân trong một chu kì 300 ngày đạt 5000 kg
ở nước ta, bò Hà Lan được nuôi ở vùng Mộc Châu (Sơn La), Tam
Đường (Lai Châu), Than Uyên (Lai Châu), Đức Trọng (Lâm Đồng) Năng suất sữa đạt 4500 kg/ chu kì, có con cao sản đạt 6500 kg (Nguyễn Trọng Tiến và cộng sự, 2001[37])
2.3.2.2 Bò Zebu
Bò Zebu hay còn gọi là bò U (Bos Taurus Indicus) để chỉ tất cả những giống bò nhiệt đới có u ở vai nuôi nhiều ở ấn Độ, Pakixtan, Cu Ba và một số nước châu Phi Trong nhóm bò Zebu có các giống bò Sind, Sahiwanl, Ongol, Brahman,… Bò Zebu có yếm phát triển, mặt dài, trán dô, tai cúp, sừng thẳng, chân thanh chắc, lông màu nâu hoặc nâu cánh dán, màu trắng, màu xám, màu vàng,… So với bò châu Âu thì nhỏ con hơn, nhưng thích hợp với khí hậu nóng
ẩm, chống chịu được với nhiều loại bệnh kí sinh trùng nhiệt đới
Trang 19Trong những năm gần đây, Việt Nam đ4 nhập một số bò Sahiwal nuôi ở nông trường Dục Mĩ (Khánh Hòa) để nhân thuần và dùng con đực cải tạo đàn
bò vàng Việt Nam Năm 1987, nước ta cũng nhập 250 con của Pakixtan nuôi ở nông trường Việt Nam - Mông Cổ (Ba Vì) (Nguyễn Văn Thưởng, 2003[34]) 2.3.2.3 Bò Jersey
Bò Jersey được tạo thành ở đảo Jersey nước Anh, do sự tạp giao giữa giống bò Bsơtanhơ (Pháp) và bò địa phương về sau có tăng thêm máu bò Nocmangdi (Pháp)
Bò Jersey có màu lông xám hoặc vàng xám, đầu nhỏ, mặt cong, mắt lồi,
cổ thanh dài, có yếm phát triển Bò cái nặng 300 - 350 kg, bò đực nặng 400 -
450 kg Sản lượng sữa bình quân đạt 3000 kg/ chu kì
Hiện nay, nước ta có nhập giống và tinh đông viên của giống bò này,
đang dùng cho phối giống với bò Laisind và bò lai F1 HF để nâng cao sản lượng sữa và tỉ lệ mỡ sữa của những giống này (Nguyễn Trọng Tiến và cộng
sự, 2001[37])
2.3.2.4 Bò nâu Thụy Sĩ
Bò nâu Thụy Sỹ được tạo thành ở vùng núi Anpơ của Thụy Sỹ Giống
bò này có khả năng thích nghi với vùng núi cao, có sức chịu đựng tốt, thích nghi nhanh với nhiều loại khí hậu khác nhau Nhìn chung có màu lông thuần nhất là màu nâu Thể trọng bò cái 650 - 700 kg, bò đực là 800 - 950 kg, bê sơ sinh 31 - 37 kg Sản lượng sữa bình quân là 3500 - 4000 kg/ chu kì
Năm 1970, nước ta đ4 nhập giống bò này từ Cu Ba Qua theo dõi thấy giống bò này có khả năng thích nghi tốt với điều kiện khí hậu nước ta (Nguyễn Văn Thưởng, 2003[34])
2.3.2.5 Bò Hereford
Đây là giống bò thịt của Anh, được tạo ra ở đảo Hereford bằng phương pháp nhân giống thuần chủng chọn lọc và tăng cường dinh dưỡng Giống này có
Trang 20màu lông đỏ khác nhau; đầu, ngực, phần dưới bụng, bốn chân và đuôi có màu trắng Bò cái trưởng thành nặng 500 - 550 kg, có khi đến 700 - 750 kg, bò đực
800 - 900 kg, có thể tới 1100 kg Bê sơ sinh nặng 28 - 34 kg Sản lượng sữa bình quân là 1200 - 1800 kg/ chu kì
Hiện nay, Việt Nam đ4 nhập tinh đông lạnh của giống Hereford cho lai với bò cái Laisind để thăm dò khả năng cho thịt của con lai (Nguyễn Trọng Tiến và cộng sự, 2001[37])
2.3.3 Các giống bò lai
2.3.3.1 Bò lai Sind
Là bò lai được hình thành trên cơ sở cho lai giữa bò vàng Việt Nam với
bò Sind ấn Độ Hiện nay đàn bò này chiếm khoảng 15 - 30 % tổng số đàn bò nội và được phân bố ở hầu khắp các tỉnh, đặc biệt ở Ba Vì, vùng phụ cận Hà Nội, Biên Hòa, vùng phụ cận thành phố Hồ Chí Minh
Khối lượng bò cái lúc trưởng thành nặng 280 - 320 kg, bò đực nặng 450
- 500 kg Sản lượng sữa bình quân đạt 918,9 kg/ chu kì Bê sơ sinh đạt 18 - 25
kg Bò lai Sind có khả năng thích nghi rộng r4i ở mọi miền đất nước (Nguyễn Trọng Tiến và cộng sự, 2001[37])
2.3.3.2 Bò lai HF (Holstein Friesian)
Là bò lai giữa bò đực giống HF với bò cái Sind ở các mức độ khác nhau Trong nhóm bò lai này có:
- Bò lai F1 với 1/2 máu bò HF: là kết quả lai đời một giữa đực giống HF với bò cái lai Sind Hầu hết bò cái lai F1 có màu lông đen Bò F1 trưởng thành con đực nặng 500 - 600 kg, bò cái nặng 350 - 420 kg, bê sơ sinh nặng 25 - 30
kg Sản lượng sữa bình quân đạt 2000 - 3000 kg/ chu kì
- Bò lai F2 với 3/4 máu bò HF: là kết quả lai cấp tiến giữa bò đực giống
HF với bò cái F1 1/2 máu bò HF Về ngoại hình, bò lai F2 gần giống như bò
HF với màu lông lang trắng đen Khối lượng trưởng thành con đực nặng 600 -
Trang 21700 kg, con cái nặng 400 - 500 kg, bê sơ sinh nặng 30 - 35 kg Sản lượng sữa bình quân 3000 - 3500 kg/ chu kì
- Bò lai F2 có 1/4 máu HF (lai phản giao): là kết quả lai giữa đực giống Sind hoặc lai Sind với bò cái F1 1/2 máu bò HF Con lai nuôi thịt đến 24 tháng tuổi đạt 290 - 300 kg (Nguyễn Trọng Tiến và cộng sự, 2001[37])
2.3.3.3 Bò lai Charolais
Là kết quả lai kinh tế giữa đực giống Charolais với bò cái lai Sind để tạo
ra đàn bò lai F1 nuôi lấy thịt Bê lai Charolais nuôi ở nông trường Hà Tam (Gia Lai) đến 27 tháng tuổi đạt 293 - 300 kg
2.4 Đặc điểm tiêu hoá ở bò
Tiêu hoá là quá trình phân giải thức ăn từ miệng tới ruột già nhằm biến
đổi các hợp chất hữu cơ phức tạp của thức ăn thành những chất đơn giản mà cơ thể có thể hấp thu được Quá trình tiêu hoá diễn ra dưới ba tác động: cơ học, hoá học và vi sinh vật học Ba quá trình này diễn ra đồng thời và có ảnh hưởng tương hỗ lẫn nhau dưới sự điều tiết của thần kinh và thể dịch
Bò là loài gia súc nhai lại, dạ dày có bốn túi gồm dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách và dạ múi khế Dạ cỏ là phần quan trọng trong quá trình tiêu hoá của bò Khi còn nhỏ (dưới một năm tuổi) bê uống sữa, sữa thông qua sự đóng mở của r4nh thực quản để đi thẳng từ miệng qua dạ lá sách xuống dạ múi khế Lúc này, sữa tiêu hoá chủ yếu ở dạ múi khế nên khối lượng dạ múi khế chiếm tới
70 % khối lượng dạ dày của bê, các dạ khác chỉ chiếm 30 % khối lượng Khi
bò trưởng thành, dạ cỏ phát triển mạnh và chiếm tới 80 % khối lượng dạ dày của bò, dạ múi khế chỉ còn 7 %, dạ tổ ong và dạ lá sách chiếm 13 %
R4nh thực quản bắt đầu từ thượng vị qua dạ tổ ong - lá sách đến dạ múi khế và có hình lòng máng Khi bê uống sữa hoặc nước, cơ mép r4nh thực quản khép chặt lại làm cho r4nh thực quản như một cái ống, sữa và nước chảy thẳng qua dạ lá sách vào dạ múi khế
Trang 22Thụ quan của phản xạ khép r4nh thực quản phân bố ở lớp màng nhầy của lưỡi, miệng và hầu Thần kinh truyền vào của phản xạ khép r4nh thực quản là thần kinh lưỡi, thần kinh dưới lưỡi và nhánh hầu của thần kinh sinh ba Trung khu phản xạ ở hành n4o liên hệ chặt chẽ với trung khu bú, mút Thần kinh truyền ra là thần kinh mê tẩu Khi cắt dây mê tẩu thì phản xạ khép r4nh thực quản bị mất Một số chất hoá học gây khép r4nh thực quản như NaCl,
Na2SO4, đường,… Con vật càng trưởng thành thì r4nh thực quản càng không thể khép chặt hoàn toàn được Lúc đó r4nh thực quản chỉ còn là cái gờ có tác dụng dẫn nước khi gia súc uống
2.4.1.Tiêu hoá ở miệng
Quá trình tiêu hoá ở miệng bao gồm tiêu cơ học và tiêu hoá hoá học Nước bọt tiết ra từ 3 đôi tuyến, bao gồm tuyến mang tai, tuyến dưới hàm và tuyến dưới lưỡi cùng nhiều tuyến nhỏ nằm rải rác trong lớp thượng bì niêm mạc miệng Sự phân tiết nước bọt ở loài nhai lại là quá trình liên tục và kiềm tính, nó làm đệm cho sản phẩm axit trong quá trình lên men dạ cỏ Ngoài ra,
nó còn có tác dụng làm ướt và tăng bề mặt tiếp xúc của thức ăn giúp cho quá trình nuốt và nhai lại, cung cấp các chất điện giải như: Na+, K+, Mg++, Ca++, photpho và urê Lượng nước bọt tiết khá nhiều (75-100lít/ngày đêm) và có độ kiềm khá cao (pH = 8,1), có tác dụng bảo đảm độ ẩm và độ kiềm thích hợp trong dạ cỏ, tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật dạ cỏ hoạt động, có chứa nhiều vitamin C cần cho vi sinh vật dạ cỏ phát triển (Nguyễn Trọng Tiến và cộng sự, 2001[37])
2.4.2 Tiêu hoá ở dạ dày
Dạ dày của gia súc nhai lại gồm 4 túi, 3 túi trước (dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách) gọi chung là dạ dày trước Dạ dày trước không có tuyến tiết dịch tiêu hoá, chỉ có các tế bào phụ tiết dịch nhầy Túi thứ tư là dạ múi khế, dạ này thực
Trang 23sự có các tuyến tiết dịch tiêu hoá Dung tích dạ dày bò rất lớn từ 140 - 230 lít,
bê 95 - 150 lít
Dạ cỏ được coi như “một thùng lên men lớn”, tiêu hoá ở dạ cỏ đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tiêu hoá của gia súc nhai lại: 50% vật chất khô của khẩu phần được tiêu hoá ở dạ cỏ Trong dạ cỏ, các chất hữu cơ của khẩu phần được biến đổi mà không có sự tham gia của enzim tiêu hoá Tiêu hoá cellulose và một số chất khác của thức ăn được thực hiện nhờ các enzim của vi sinh vật sống cộng sinh trong dạ cỏ
Nhiệt độ trong dạ cỏ là 38- 410C, độ ẩm 80-90%, môi trường yếm khí, nồng độ oxy nhỏ hơn 1% Sự nhu động của dạ cỏ yếu nên thức ăn dừng lại lâu trong dạ cỏ, môi trường ở dạ cỏ gần như trung tính (pH = 6,5-7,4) và tương
đối ổn định nhờ tác dụng trung hòa axit của các muối phosphat và bicacbonate trong nước bọt Với các điều kiện như vậy, dạ cỏ là môi trường thuận lợi cho khu hệ vi sinh vật trong dạ cỏ sinh sản và phát triển (Vansoest P.J., 1982[69]; Allison M.J., 1984[43])
Hệ vi sinh vật dạ cỏ phát triển rất đa dạng và phong phú, bao gồm 3 nhóm chính:
- Vi khuẩn (Bacteria): số lượng vi khuẩn trong dạ cỏ rất lớn và rất đa dạng Hiện nay đ4 phát hiện thấy trong dạ cỏ có tới 200 loài vi khuẩn khác nhau, số lượng có đến 109 vi khuẩn/1 gram chất chứa dạ cỏ (25 - 50 tỉ vi khuẩn/ml chất chứa), là chủng loại hoạt động mạnh nhất trong hệ vi sinh vật dạ cỏ (Cù Xuân Dần, Bộ môn Sinh lí gia súc,1996[5]; Lê Khắc Thận, 1985[32])
Hệ vi sinh vật dạ cỏ có nhiệm vụ phân giải cellulose, tinh bột, đường
đơn và tạo ra các sản phẩm như a lactic, a succilic, a foocmic,
- Nguyên sinh động vật (Protozoa): số lượng protozoa có mặt trong dạ cỏ biến động từ 105-106 protozoa/1gram chất chứa dạ cỏ, trong đó 90,46 % thuộc loài
Trang 24Entodium; 6,9% thuộc loài Diplodinium và 2,645% thuộc loài Isotricha (Prins P.A và cộng sự, 1980[64]) Nhóm protozoa tấn công phân giải tất cả các thành phần chủ yếu của thức ăn, kể cả các tế bào thực vật Thông thường thì nhóm protozoa luôn cạnh tranh với nhóm vi khuẩn bởi cả hai đều sử dụng chung một nguồn thức ăn, ngoài ra chúng còn ăn rất nhiều loài vi khuẩn, sử dụng protein của vi khuẩn để tổng hợp thành protein của bản thân Như vậy, protein thực vật trong cấu trúc của vi khuẩn được đặc trưng bởi sự thiếu một số a amin không thay thế, đ4 được hấp thu bởi các loài protozoa và được chuyển hoá thành protein động vật để cung cấp cho vật chủ
- Nấm (Fungi): Nấm trong dạ cỏ thuộc loại nấm yếm khí, khoảng
103 bào tử/1gram chất chứa dạ cỏ Chức năng của nấm được mô tả như bước khởi đầu quan trọng, công phá nguyên liệu không hòa tan của thành
tế bào thực vật Bắt đầu từ bên trong, chúng làm giảm độ chắc bền trong cấu trúc thực vật của thức ăn, do vậy làm tăng sự phá vỡ các mảnh thức ăn trong quá trình nhai lại, giúp cho vi khuẩn bám chắc vào các cấu trúc tế bào và tiêu hoá thức ăn Nấm phá vỡ phức chất hemicellulose-lignin và lignin hòa tan nhưng thực tế chúng không phân huỷ được lignin, như vậy xơ mà được bảo vệ bởi lignin thì khả năng tiêu hoá sẽ bị giảm rất nhiều
Nấm phân lập được ở dạ cỏ bao gồm: Neocllimastix, Frontalispira Woonas Communis và Sphaecômnas Communis (Orpin, 1975, 1976, 1977) và nhiều loài khác cũng đ4 được phát hiện
Như vậy, vai trò của hệ vi sinh vật dạ cỏ đối với tiêu hoá thức ăn ở loài nhai lại đặc biệt quan trọng Loài nhai lại không thể tự tiêu hoá được các loại thức ăn mà nhờ vào hệ vi sinh vật dạ cỏ lên men thức ăn, đặc biệt là thành phần xơ trong thức ăn để tạo thành các axit béo bay hơi (VFA) cung cấp năng lượng cho cơ thể Cũng nhờ có hệ vi sinh vật dạ cỏ mà loài nhai lại còn sử dụng được các loại nitơ phi protein và tự đảm bảo nhu cầu vitamin K và nhóm
B (Cù Xuân Dần, Bộ môn Sinh lí gia súc, 1996[5])
Trang 25Quá trình phân giải xơ được chia ra ba giai đoạn chủ yếu:
- Cellulose Đường đơn (Cellobioza)
- Cellobioza Đường đơn (Glucoza)
- Glucoza Axít béo bay hơi (VFA)
Động thái nhai lại: là đặc điểm tiêu hoá sinh lí ở loài dạ dày bốn túi Thức
ăn qua miệng được nhai dập rồi nuốt xuống dạ cỏ ở dạ cỏ, thức ăn mới được nhào bóp, trộn đều với thức ăn cũ, những thức ăn nhỏ được đưa vào dạ tổ ong, dạ lá sách
và dạ múi khế, còn những loại to thì được ợ trở lại miệng để nhai lại Trung bình một ngày đêm bò nhai lại khoảng 7 giờ Trong khi nhai lại, mỗi phút dạ cỏ nhu
động 2-3 lần Bò thường nhai lại khi yên tĩnh hoặc sau khi ăn 30-45 phút
Nhờ có động thái nhai lại và hệ vi sinh vật dạ cỏ mà khả năng tiêu hoá chất xơ ở bò rất cao, lên tới 57-60% (Nguyễn Văn Thưởng, 2003[34])
Dạ tổ ong có chức năng đẩy thức ăn rắn và chưa được tiêu hoá hết trở lại dạ cỏ, đồng thời đẩy thức ăn đ4 được tiêu hoá vào dạ lá sách Dạ tổ ong cũng giúp cho việc đẩy các viên thức ăn lên miệng để nhai lại Sự lên men thức ăn ở đây giống như ở dạ cỏ
Thành dạ lá sách có những lá to nhỏ làm tăng diện tích bề mặt của chúng Lông nhung được phủ khắp trên bề mặt làm tăng diện tích bề mặt lên 28% (Lauver, 1973[12]) Dạ lá sách có nhiệm vụ chủ yếu là nghiền nát các tiểu phần thức ăn cùng với việc hấp thu nước và các ion Na+, K+,… hấp thu axít béo bay hơi trong dưỡng chất đi qua dạ lá sách Theo Leng (1970)[12] có khoảng 10% tổng số axit béo hình thành ở dạ cỏ, tổ ong và lá sách được hấp thu ở dạ lá sách; 25% Na+ và 10% K+ được hấp thu (Mc Donald, 1948 [12])
Dạ múi khế là bộ phận dạ dày tuyến gồm 2 phần: thân vị và hạ vị Các tuyến ở dạ múi khế tiết liên tục vì thức ăn ở dạ dày trước thường xuyên vào dạ múi khế Mỗi lần cho ăn, dịch múi khế tăng tiết do có phản xạ tác dụng lên tuyến múi khế Trong dịch múi khế có các enzim: pepxin, kimozin, lipaza; có
pH là 2,17 - 3,14 ở bò và 2,5 - 3,4 ở bê Quá trình tiêu hoá trong dạ múi khế giống như ở dạ dày đơn
Trang 262.4.3 Tiêu hoá tại ruột
Ruột non được chia thành tá tràng, không tràng và hồi tràng Thức ăn sau khi được tiêu hoá ở dạ dày sẽ được đưa xuống ruột non ở ruột non, dưới tác động của dịch tụy, dịch mật và dịch ruột, thức ăn sẽ được phân giải đến sản phẩm cuối cùng và được hấp thu theo phương thức thẩm thấu chủ động
Ruột già ở động vật nhai lại bao gồm manh tràng, kết tràng và trực tràng Manh tràng và kết tràng hạn chế sự vận chuyển thức ăn chưa được tiêu hoá Do vậy, lượng thức ăn này tiếp tục lên men vi sinh vật, nhung mao ở đây rất nhỏ làm tăng diện tích bề mặt của chúng Tế bào Goplif (tế bào hình chén) ở ruột già rất phát triển có thể làm tăng tiết dịch thẩm ướt Dịch khi phân tiết là glucoprotein trung hòa và polimer của L - fucos, D - galuctos, nacetyl aminosuger, sialie axit và mannose (Nguyễn Trọng Tiến và cộng sự, 2001[37])
Quá trình phân giải cellulose, các thành phần axit béo bay hơi và sự tạo thành metan ở ruột già cũng giống như lên men vi sinh vật dạ cỏ, tuy nhiên số lượng thấp hơn 10-100 lần Nhưng vật chủ chỉ sử dụng được sản phẩm tiêu hoá từ thức ăn còn vi sinh vật thì bị chuyển hoá ra ngoài theo phân
2.5 Bệnh viêm ruột ỉa chảy ở gia súc
2.5.1 Khái niệm về ỉa chảy
ỉa chảy theo định nghĩa của Vũ Triệu An (1978)[1], là ỉa nhanh, nhiều lần trong ngày và trong phân có nhiều nước do rối loạn phân tiết hấp thu và nhu động ruột
ở gia súc, nhiều bệnh gây tổn thương ở đường tiêu hoá và gây triệu chứng ỉa chảy: dịch tả lợn, dịch tả trâu bò, bệnh phó lao (Paretuberculosis),… bệnh do kí sinh trùng: giun đũa, sán lá gan, kí sinh trùng đường máu (tiên mao trùng),… Những bệnh trên thường do một sinh vật tác động gây viêm ruột dẫn
đến ỉa chảy
Trang 27Nhiều trường hợp viêm ruột ỉa chảy do những tác nhân khác nhau gây rối loạn tiêu hoá, sau đó là quá trình bội nhiễm vi khuẩn, virus sẵn có trong
đường ruột, làm cho bệnh trầm trọng Bệnh viêm ruột mà chúng tôi nghiên cứu thuộc loại bệnh này Thực tế khi phân ra hai nguyên nhân, nguyên phát và thứ phát chỉ là tương đối Chỉ nên nêu những yếu tố nào là chính, xuất hiện trước; yếu tố nào là phụ hoặc xuất hiện sau, để từ đó đưa ra phác đồ phòng bệnh hoặc điều trị có hiệu quả (Moon H.W, 1978[60]; Lê Minh Chí, 1995[3])
Bệnh viêm ruột ở gia súc là một quá trình viêm ở ruột, thường là thể cata và triệu chứng chủ yếu của nó là ỉa chảy với nhiều dịch viêm (Hồ Văn Nam và cộng sự, 1997[17]; Russel A và cộng sự, 1991[66])
Tuỳ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh, sức đề kháng của cơ thể và thời gian xảy ra bệnh mà có các thể bệnh khác nhau:
- Viêm dạ dày - ruột: do trúng độc thức ăn, hoá chất hoặc do kế phát bệnh truyền nhiễm hay bệnh kí sinh trùng Bệnh làm trở ngại rất lớn tới tuần hoàn và dinh dưỡng ở vách ruột, làm cho lớp tổ chức dưới niêm mạc bị viêm, dẫn đến vách dạ dày và ruột bị xung huyết, xuất huyết, hoá mủ, hoại tử, thậm chí còn gây nên nhiễm độc và bại huyết
- Viêm ruột cata cấp tính: là thể viêm xảy ra trên lớp biểu mô của vách ruột, làm ảnh hưởng tới nhu động và hấp thu của ruột
2.5.2 Nguyên nhân gây viêm ruột ỉa chảy
Có nhiều công trình nghiên cứu về nguyên nhân gây viêm ruột ỉa chảy: những khiếm khuyết trong thức ăn, nuôi dưỡng, tác động của vi khuẩn và virus, vai trò của kí sinh trùng
Những ghi chép lâm sàng và kết quả thực nghiệm của Wierer G., Gordon W.A., Lucke D., Butler D.G (1983)[70] cho thấy, khẩu phần ăn mất cân đối, thức ăn bẩn,… thường dẫn đến viêm ruột ỉa chảy
Theo Russel A., William R., Monlux S., Monlux A (1991)[66], thức ăn kém phẩm chất kích thích màng nhày của ruột và gây viêm ruột ỉa chảy
Trang 28Nhận xét về nguyên nhân gây viêm ruột ỉa chảy của vật nuôi ở nước ta, Trịnh Văn Thịnh (1985)[35]; Hồ Văn Nam và cộng sự (1997)[17] đều cho rằng: thức ăn kém phẩm chất (bẩn, nấm mốc,…), khẩu phần không thích hợp, nuôi dưỡng không đúng, thức ăn quá nóng, quá lạnh,… là nguyên nhân gây rối loạn tiêu hoá, viêm ruột ỉa chảy
Các sai sót trong công tác quản lí, bảo quản chế biến thức ăn dẫn đến hậu quả thức ăn lên men, phân giải các chất hữu cơ sinh ra chất độc như indon, scatol, H2S,… tác động làm niêm mạc xung huyết, tăng mẫn cảm, tăng nhu động ruột gây ỉa chảy (Buddle J.R, 1992[46])
Theo Trịnh Văn Thịnh (1985)[35], lợn ăn quá nhiều, thức ăn quá nóng hoặc quá lạnh, kém chất lượng, ôi thiu, mốc,…Cho ăn uống thất thường, khẩu phần ăn không hợp lí, dễ gây viêm ruột ỉa chảy ở lợn
Theo Purvis G.M và cộng sự (1985)[65]; Wierer G và cộng sự (1983) [70], sự mất cân đối chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn, thức ăn kém phẩm chất, thức ăn nhiễm bẩn thường dẫn đến viêm ruột ỉa chảy
Theo kết quả nghiên cứu của Sử An Ninh (1995)[22], yếu tố lạnh ẩm có tác động lớn đối với bệnh phân trắng lợn con, yếu tố này làm cho lợn con không giữ được cân bằng hoạt động của trục hạ khâu n4o - tuyến yên - tuyến thượng thận, làm biến đổi hàm lượng ion Fe++, Na+, K+ trong máu, làm giảm sức đề kháng của cơ thể lợn con dẫn đến viêm ruột ỉa chảy
Ngày càng có nhiều tư liệu chứng tỏ rằng hệ vi khuẩn đường ruột, khi rối loạn tiêu hoá - môi trường thay đổi đ4 sinh sôi, sản sinh độc tố, tác động vào niêm mạc ruột làm viêm ruột nặng thêm, bệnh càng trầm trọng
Theo Lê Văn Tạo, Phạm Sỹ Lăng (2005)[28], các vi khuẩn sẵn có trong
đường ruột, khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ tăng về số lượng và gây nên hiện tượng loạn khuẩn hoặc vi khuẩn từ ngoài nhiễm qua thức ăn, nước uống vào
đường tiêu hoá rồi phát triển và gây bệnh
Trang 29Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Quang (2004)[26], trong phân bò bê ở trạng thái sinh lí bình thường có số lượng vi khuẩn bình quân là 18.742.500 vi khuẩn/1gram phân, khi mắc hội chứng tiêu chảy, số lượng vi khuẩn tăng lên tới 61.465.000 vi khuẩn/1gram phân
Trước hết là Escherichia coli (E coli), một vi khuẩn xuất hiện rất sớm ở
đường ruột người và động vật sơ sinh, khoảng 2 giờ sau khi sinh E coli thường ở ruột già, ít khi ở dạ dày và ruột non Trong đường ruột động vật, E coli chiếm khoảng 80 % quần thể các vi khuẩn hiếu khí, đồng thời là tác nhân gây bệnh không thể phủ nhận
Theo Sojka W.J, 1965[67], trong 187 bê thì có 96 con bị viêm dạ dày ruột do E coli gây ra, chủ yếu do các Serotype O101, O15, O78, O9 và một phần
do Serotype O117, O8 gây ra
Theo Lê Minh Chí (1995)[3], Enterotoxingenic E coli đóng vai trò quan trọng trong bệnh viêm ruột ỉa chảy của bò
Có rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước đ4 chứng minh được vai trò gây hội chứng ỉa chảy của E coli, thể hiện ở chỗ so với các mẫu xét nghiệm của gia súc bình thường thì các mẫu bệnh phẩm của gia súc tiêu chảy có tỉ lệ nhiễm E coli cao hơn, đồng thời có hiện tượng bội nhiễm rất rõ, tổng số vi khuẩn E coli/1gram phân tăng lên đáng kể
Tác giả Tạ Thị Vịnh và Đặng Thị Khánh Vân, khi nghiên cứu E.coli và Salmonella độc ở lợn bình thường và lợn tiêu chảy, cho biết: tỉ lệ nhiễm E.coli
độc ở lợn bình thường là 14,66% và ở lợn tiêu chảy lên tới 33,84%
Theo kết quả điều tra của Nguyễn Thị Nội, Nguyễn Ngọc Nhiên, Cù Hữu Phú và cộng sự (1989)[23] về tình hình nhiễm vi khuẩn đường ruột tại một số cơ sở chăn nuôi lợn, cho thấy: ở lợn khoẻ có khoảng 20% số mẫu xét nghiệm tìm thấy E.coli độc; trong khi đó, ở những cơ sở có lợn tiêu chảy mạn tính và liên tục, E.coli độc chiếm tới 100%
Trang 30Năm 1997, các tác giả Hồ Văn Nam và cộng sự đ4 xét nghiệm 140 mẫu phân lợn khoẻ ở các lứa tuổi (từ sơ sinh đến lợn nái) và cho biết 100% lợn ở các lứa tuổi có E.coli; khi xét nghiệm 170 mẫu phân lợn tiêu chảy ở các lứa tuổi tương tự, thì tỉ lệ này cũng là 100%, nhưng có hiện tượng vi khuẩn bội nhiễm, số lượng vi khuẩn E.coli trong 01 gram phân tăng lên rất nhiều (Hồ Văn Nam và cộng sự, 1997[18])
Tác giả Vũ Bình Minh, Cù Hữu Phú, 1999[15] thông báo, ở lợn tiêu chảy, tỉ lệ phát hiện E.coli độc trong phân là 80-90% số mẫu xét nghiệm
Theo Nguyễn Bá Hiên, 2001[9], nhìn chung, ở lợn tiêu chảy có số lượng E.coli trung bình/1gram phân tăng 1,90 lần so với lợn khoẻ, đặc biệt tăng cao nhất ở lợn 1 -
động vật khác nhau, trừ yếu tố F1 chung cho nhiều chủng E.coli
Sau khi bám dính vào niêm mạc ruột, vi khuẩn E.coli sản sinh ra độc tố ruột, làm thay đổi nước và chất điện giải của ruột, dẫn tới tiêu chảy
Độc tố của E.coli bao gồm hai thành phần: độc tố chịu nhiệt và độc tố không chịu nhiệt Độc tố chịu nhiệt (Heat stabile toxin - ST), chịu được nhiệt
Trang 31độ 1200C/15 phút Độc tố không chịu nhiệt (Heat labile toxin - LT) bị vô hoạt
ở nhiệt độ 600C/15 phút
Song song với E coli, trong hệ vi khuẩn hiếu khí của đường ruột, Salmonella chiếm tỷ lệ khá cao và vai trò của nó trong hội chứng tiêu chảy ở gia súc đ4 được nhiều tác giả nói đến
Kết quả điều tra của Nguyễn Quang Tuyên (1995)[33] cho thấy, trâu bò tại một số vùng ở miền Bắc Việt Nam mắc hội chứng tiêu chảy chiếm một tỉ lệ khá cao và đ4 phát hiện vai trò của Salmonella là 38,55 % (ở trâu ỉa chảy); 42,60 % (ở bò ỉa chảy); 61,95 % (ở bê ỉa chảy) và 56,39 % ở nghé ỉa chảy
Phan Thị Thanh Phượng (1988)[25] thông báo kết quả đ4 phân lập thấy Salmonella thường xuyên có trong đường ruột lợn và cho rằng: trong những
điều kiện chăn nuôi, quản lí kém làm cho sức đề kháng của cơ thể giảm, chính
vi khuẩn Salmonella trở nên độc và phát triển mạnh mẽ gây viêm ruột ỉa chảy
Theo Vũ Đạt và Đoàn Thị Băng Tâm (1995)[6], khi phân lập phân trâu bò
ỉa chảy thấy các serotype: S Dublin, S Enteritidis, S Typhimurium, và cho rằng vi khuẩn Salmonella đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh bệnh
Vi khuẩn Salmonella đ4 được xác nhận là một nguyên nhân quan trọng gây ra hội chứng tiêu chảy ở gia súc nói chung và ở trâu bò nói riêng.Theo Nguyễn Thị Oanh, Phùng Quốc Chướng (2003)[24], tỉ lệ nhiễm Salmonella ở trâu tại ĐăkLăk là 45,36% và bò là 41,25% Khi trâu bò ở trạng thái tiêu chảy có
tỉ lệ nhiễm Salmonella cao hơn 1,5 lần so với trâu bò ở trạng thái khoẻ mạnh
Nguyễn Quang Tuyên (1995)[33] phân lập Salmonella ở phân trâu bò ỉa chảy tại Bắc Thái, Ba Vì và Hà Nội cho thấy tỉ lệ nhiễm Salmonella cao hơn
ba lần so với trâu bò khoẻ mạnh
Theo Clarence M Fraser và các cộng sự, 1991[49], Salmonella gây bệnh ỉa chảy ở ngựa trưởng thành gồm những serotype sau: Salmonella
Trang 32typhimurium S enteridis, S agona, S heidelberg và S newport Trong đó, serotype Salmonella typhimurium thấy xuất hiện nhiều hơn các serotype khác
Salmonella gây bệnh cho người và gia súc bằng các yếu tố gây bệnh là
độc tố và bằng các yếu tố gây bệnh không phải là độc tố
Theo Jones và Richardson (1981)[61], khả năng bám dính của Salmonella lên tế bào nhung mao ruột là bước khởi đầu quan trọng trong quá trình gây bệnh Mỗi loại vi khuẩn đều sinh ra một số yếu tố có cấu trúc đặc trưng để liên kết giữa chúng với điểm tiếp nhận trên tế bào, với Salmonella, đó chính là Fimbriae type 1- một dạng protein phân cực có cấu trúc bậc 1 bao gồm nhiều đơn vị xác định, có trọng lượng phân tử từ 8.000 đến 28.000 dalton (1 dalton= 10-27 gram)
Khi yếu tố bám dính Fimbriae của Salmonella có diện tích ion bề mặt trái với diện tích ion bề mặt tế bào nhung mao ruột thì điểm tiếp xúc có lực hút xảy ra và vi khuẩn bám dính lên bề mặt tế bào (Jones và cộng sự, 1982 [62]) Như vậy, Fimbriae có nhiệm vụ quan trọng là tạo điều kiện cho Salmonella từ ruột đi vào biểu mô và phân tán vào các tổ chức khác của cơ thể
Theo Lê Văn Tạo (1986)[27], khả năng bám dính của vi khuẩn Salmonella lên tế bào biểu mô ruột là yếu tố gây bệnh quan trọng, nó giúp cho
vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể vật chủ và gây bệnh
Sau khi xâm nhập được vào trong tế bào, vi khuẩn Salmonella tiếp tục hành trình xuyên tế bào (transcytose) qua mặt đối diện Thời gian cần thiết cho sự xuyên bào mất tối thiểu là 4 giờ (Finlay B.B và cộng sự, 1988 [54])
Đa số các trường hợp ỉa chảy do kế phát E coli và Salmonella đều dẫn tới nhiễm trùng huyết
Ngoài hai vi khuẩn E coli và Salmonella thường xuyên có trong đường ruột và được coi là những tác nhân gây bệnh quan trọng trong chứng viêm ruột
Trang 33ỉa chảy, còn có nhiều tư liệu nói về vai trò của virus Theo Clarence M Fraser
và các cộng sự, 1991[49], Rotal virus là loại virus chủ yếu gây bệnh viêm ruột
ỉa chảy ở ngựa con Nó có khả năng lây lan rất nhanh, chúng có thể lây cho cả
đàn ngựa con trong 3 - 5 ngày, thường xảy ra với ngựa con dưới 2 tháng tuổi, tuy nhiên có thể nhiễm với cả ngựa trưởng thành Hiện tượng ỉa chảy xuất hiện sau 4 -7 ngày hoặc sau vài tuần Có thể chẩn đoán bằng cách quan sát dưới kính hiển vi điện tử hoặc làm phản ứng ELISA (phản ứng ELISA cho kết quả chính xác và nhanh nhất)
Theo Lê Văn Tạo và Phạm Sỹ Lăng (2005)[28], kí sinh trùng kí sinh ở
đường ruột làm tổn thương nơi kí sinh, có loại tiết độc tố, tác động đến cơ thể, làm giảm sức đề kháng của cơ thể, tạo điều kiện cho mầm bệnh xâm nhập
Trong khi tiến hành nghiên cứu xác định các bệnh kí sinh trùng phổ biến ở bê nghé, Nguyễn Đức Tân và cộng sự bước đầu xác định được tỉ lệ nhiễm cầu trùng ở bê nghé tại các địa phương là 56,78 % và chúng có vai trò rất lớn trong hội chứng tiêu chảy của bê nghé
2.5.3 Cơ chế sinh bệnh viêm ruột ỉa chảy
Tiêu chảy có thể do 1 trong 3 cơ chế hoặc kết hợp cả 3 cơ chế gây ra
- Hấp thu kém đơn thuần hoặc hấp thu kém kết hợp với lên men vi sinh vật dẫn đến tiêu chảy Khi hấp thu kém, các chất chứa trong lòng ruột bị tồn đọng sẽ kích thích ruột tăng cường co bóp nhằm đẩy nhanh các chất đó ra ngoài
- Tăng tiết dịch trong sự nguyên vẹn về cấu trúc ruột nhưng rối loạn chức năng chuyển hoá của ruột như trong Colibacillocis, độc tố đường ruột,…
- Tăng rỉ viêm trong các bệnh có đặc trưng tăng tính thấm thành mạch và tăng tính thấm biểu mô
Những nhân tố gây bệnh từ bên ngoài hay bên trong cơ thể tác động vào
hệ thống nội thụ cảm của ruột sẽ làm trở ngại cơ năng vận động và tiết dịch
Trang 34của ruột, tạo điều kiện thuận lợi cho những vi sinh vật đường ruột phát triển, làm tăng quá trình lên men và thối rữa trong ruột Loại vi khuẩn lên men chất bột đường sinh ra nhiều axit hữu cơ như a acetic, a aceto acetic, a.butyric, a.propyonic,…và các chất khí như CH4, CO2, H2,…Loại vi khuẩn phân giải protein sinh ra indol, scatol, crecol, phenol, H2S, NH3,…và các amino acid Từ
sự lên men và thối rữa đó đ4 làm thay đổi độ pH ở trong ruột và cản trở quá trình tiêu hoá - hấp thu
Trong quá trình phát bệnh, các kích thích lí hoá tác động và gây nên viêm, niêm mạc ruột xung huyết, thoái hoá, cơ năng tiết dịch tăng, đồng thời cộng với dịch thẩm xuất tiết ra trong quá trình viêm làm cho nhu động ruột tăng và gây nên ỉa chảy Do bị ỉa chảy, con vật rơi vào tình trạng mất nước, mất các chất điện giải, máu đặc lại và gây nên hiện tượng toan huyết
Những chất phân giải trong quá trình lên men ở ruột ngấm vào máu gây nhiễm độc, những chất khí sinh ra sẽ kích thích ruột làm tăng nhu động và gây
đau bụng
Do viêm lâu ngày làm cho vách ruột thay đổi về kết cấu: vách ruột bị mỏng, tuyến ruột bị teo, lớp tế bào thượng bì thoái hoá, tổ chức liên kết tăng sinh, trên bề mặt niêm mạc ruột bị loét hay thành sẹo, có những vết màu đỏ sạm hay đỏ nâu, ruột thường giảm nhu động và gây táo bón Thức ăn trong ruột tích lại thường lên men và kích thích vào niêm mạc ruột lại gây ỉa chảy Vì vậy con bệnh có hiện tượng táo bón, ỉa chảy xuất hiện xen kẽ có tính chu kì
Trong thực tế, từ một cơ chế ban đầu, trong quá trình tiến triển thường kéo theo các cơ chế khác làm cho quá trình sinh bệnh ngày càng phức tạp thêm
2.5.4 Bệnh lí bệnh viêm ruột ỉa chảy ở gia súc
Nghiên cứu bệnh lí bệnh viêm ruột ỉa chảy ở gia súc, các tư liệu công
bố tập trung chủ yếu về biến đổi tổ chức, tình trạng mất nước và mất chất điện giải, trạng thái trúng độc của cơ thể bệnh
Trang 35Về giải phẫu bệnh, nhiều tài liệu cho thấy viêm ruột ở gia súc thường là thể cata - viêm chủ yếu trên niêm mạc ruột Những trường hợp viêm dạ dày - ruột, viêm tầm sâu là rất ít
Về sự biến đổi cấu trúc niêm mạc đường ruột gia súc trong bệnh viêm ruột, các tư liệu chủ yếu nghiên cứu ở lợn
Kết quả khảo sát của Pearson G.R và Mc Nulty M.S (1977)[63] cho thấy viêm ruột non, chủ yếu là ở không tràng, hồi tràng, các lông nhung bị teo ngắn, biến dạng, tuyến Liberkuhn tăng sinh sâu, các biểu mô phủ lông nhung biến dạng
Những biến đổi về tổ chức niêm mạc ruột của gia súc: niêm mạc ruột non xung huyết nhẹ, lớp hạ niêm mạc phù nhẹ, có nhiều tế bào ái toan thâm nhiễm, nhung mao ruột biến dạng, bề mặt biểu bì thoái hoá, các tuyến Liberkuhn giảm Hệ thống nhung mao bị tổn thương, hàng loạt các enzim tiêu hoá bị ức chế
Theo Hồ Văn Nam và cộng sự (1993)[16], sự tổn thương đường tiêu hoá
ở trâu viêm ruột chủ yếu là niêm mạc dạ cỏ dễ bóc, niêm mạc ruột non, kết tràng thuỷ thũng, có ít đám tụ máu, xuất huyết ở manh tràng và số lượng bạch cầu tăng chủ yếu là bạch cầu trung tính
Nguyễn Tài Lương (1981)[14]; Phạm Ngọc Thạch (1999)[30]: khi nghiên cứu tổn thương vi thể ở trâu viêm ruột ỉa chảy cho thấy nhung mao ruột biến dạng, bề mặt biểu bì thoái hoá, các tuyến Liberkuhn giảm, hệ thống nhung mao bị tổn thương, hàng loạt các enzim tiêu hoá bị ức chế
Tạ Thị Vịnh và cộng sự, 1995[41] khi nghiên cứu về biến đổi cấu trúc niêm mạc ruột non ở lợn mắc bệnh phân trắng cho thấy lông nhung teo ngắn
so với lợn bình thường, biến dạng có hình tù, tròn, nhọn, sắp xếp lộn xộn không định hướng, nát, có nhiều tạp chất so với lông nhung lợn bình thường
Trang 36có hình ngón tay sắp xếp đều, định hướng Tế bào biến dạng từ đơn trụ sang
đơn hộp hoặc dẹt, diềm bàn chải đứt nát, có nơi mất hoàn toàn Màng tế bào không rõ, nguyên sinh chất có nhiều hốc trắng, tan hoặc đông vón hoặc tản vụn mất hạnh nhân, màng nhân nhăn nhúm
Phạm Ngọc Thạch (1995)[29] khi nghiên cứu tổn thương đường ruột ở trâu mắc bệnh viêm ruột mạn tính cho thấy trâu bệnh có bệnh tích chủ yếu ở
đường tiêu hoá, dạ dày trước thay đổi không rõ, niêm mạc ruột non và kết tràng thuỷ thũng có những đám tụ máu rải rác, một số ca bệnh có sự thay đổi cấu trúc niêm mạc ruột (dày lên), gan có nhiều đám hoại tử
Theo Nguyễn Thị Đào Nguyên (1993)[21], ở trâu viêm ruột, số lượng hồng cầu, hàm lượng hemoglobin, tỉ khối huyết cầu thay đổi theo quá trình bệnh lí, viêm cấp tính, các chỉ tiêu đó tăng, viêm mạn tính, các chỉ tiêu đó giảm, bệnh càng kéo dài gia súc thiếu máu càng rõ
Theo các tác giả Macfaslance W.V, Naylor J.M, Tan M., Raghavan G.V (1987)[58] cũng nhận xét: khi gia súc bị viêm ruột mạn tính thì cơ quan tạo máu bị ảnh hưởng và số lượng hồng cầu trong máu thấp
Khi viêm ruột, do rối loạn tiêu hoá, thức ăn bị phân giải lên men, sinh
ra chất độc Hệ vi sinh vật đường ruột sinh sôi, sản sinh ra nhiều độc tố Các chất độc đó cùng với các sản phẩm của viêm, tổ chức bị phân huỷ, tất cả ngấm vào máu, trước hết tác động vào gan, làm chức năng gan bị rối loạn
Theo Hooper P.T (1972)[56] và Hamur A.N (1980)[55], khi bị viêm ruột ỉa chảy chức năng gan và tụy bị rối loạn
Trong máu gia súc có nhiều loại đường: glucoza, fructoza, glycogen, galactoza, trong đó quan trọng nhất là glucoza ở trâu bò, hàm lượng đường huyết khoảng 76mg%; hàm lượng đó cũng như các động vật khác là tương đối ổn
định ở động vật cao cấp có nhiều cơ quan điều tiết sự trao đổi gluxit như tuyến
Trang 37thượng thận, tuyến tụy nhưng gan có vai trò quan trọng nổi bật Gan là kho dự trữ gluxit dưới dạng glycogen và cung cấp đường thường xuyên cho máu
Thật vậy, khi hàm lượng đường trong máu tăng cao (sau khi ăn no), glucoza sẽ chuyển thành glycogen và khi nồng độ glucoza trong máu thấp thì
ở gan sẽ diễn ra quá trình phân giải glycogen để giữ hàm lượng đường luôn ổn
định trong máu
Glycogen trong gan, ngoài được tổng hợp từ glucoza trong máu, nó còn
có nguồn gốc từ a béo, a amin sinh đường
Tất cả các quá trình trao đổi trung gian của gluxit đều diễn ra chủ yếu ở gan Vì vậy, khi gan bị tổn thương, hàm lượng đường huyết thường giảm
Gan còn có vai trò quan trọng trong việc chuyển hoá đạm, trong sự điều hòa số lượng và chất lượng của protein huyết thanh
Protein huyết thanh bao gồm albumin và globulin Dùng phương pháp
điện di người ta chia các protein huyết thanh thành 4 phân suất lớn: albumin,
α, β và γ - globulin
Gan tổng hợp hầu hết các albumin (khoảng 80%), còn globulin chủ yếu
là α và β - globulin; gan tham gia tích cực vào quá trình chống đông máu bằng cách tạo ra fibrinogen, prothrombin,…
γ- globulin tăng trong tất cả các trường hợp có tăng kháng thể trong cơ thể như nhiễm khuẩn, miễn dịch, xơ gan,…(Vũ Triệu An, 1978[1])
Việc xác định protein tổng số và các tiểu phần của nó trong huyết thanh
có nhiều ý nghĩa trong chẩn đoán bệnh, đặc biệt là chẩn đoán rối loạn chức năng gan
Trong các bệnh gan cấp tính và mạn tính, albumin trong huyết thanh thường giảm, còn các globulin, đặc biệt là γ - globulin lại tăng lên vì vậy tỷ lệ A/G giảm
Trang 382.5.5 Hậu quả của viêm ruột ỉa chảy
Khi tác động vào cơ thể, từng nguyên nhân gây bệnh có quá trình sinh bệnh và gây ra hậu quả cụ thể Tuy nhiên, khi hiện tượng ỉa chảy xảy ra, cơ thể chịu một quá trình sinh bệnh và hậu quả có những nét đặc trưng chung, đó
là sự mất nước, mất các chất điện giải, rối loạn cân bằng axit- bazơ (Becht J.L, 1986[45]; Lê Minh Chí, 1995[3]) Tuỳ theo viêm ruột cấp hay mạn tính mà hậu quả có khác nhau, có thể biểu diễn bằng hình 2.1
Hình 2.1 Sơ đồ cơ chế và hậu quả của viêm ruột ỉa chảy
Rối loạn hấp
thu
Viêm ruột ỉa chảy
Nhiễm toan
Khối lượng tuần hoàn giảm
Giảm huyết áp
Trụy mạch Nhiễm độc thần kinh
Trang 39Đối với ỉa chảy cấp tính, cơ thể bị mất nước nhiều, nhanh qua phân và kéo theo mất lượng muối khoáng Trước tiên gây giảm tuần hoàn, giảm huyết
áp, có thể dẫn đến trụy tim mạch do máu bị mất nước - máu bị cô đặc Đồng thời cơ thể mất muối kiềm của dịch tụy, dịch mật và dịch ruột dẫn tới nhiễm axit Từ chỗ giảm tuần hoàn dẫn đến rối loạn chuyển hoá các chất, mô bào thiếu oxy, gây tăng cường chuyển hoá yếm khí, làm cho tình trạng nhiễm axit tăng lên, gây nhiễm độc thần kinh, d4n mạch, thúc đẩy thêm quá trình rối loạn huyết động học, hình thành vòng xoắn bệnh lí ngày càng trầm trọng (Nguyễn Hữu Nam, 2001[19]; Vũ Triệu An, 1978[1]; Church N.V, 1994[50])
Ngược lại, ỉa chảy mạn tính tuy không gây tình trạng mất nước, mất muối lớn, song do ỉa chảy kéo dài nên gây rối loạn hấp thu, dẫn đến cơ thể thiếu protein, vitamin, chất khoáng, cuối cùng dẫn đến suy dinh dưỡng, thiếu máu, còi xương,…
2.5.5.1 Tình trạng mất nước khi ỉa chảy
Theo Vũ Triệu An (1978 [1]) và Church N.V (1994)[50], nước là thành phần cơ bản của cơ thể Nó cần cho các phản ứng sinh hoá, quá trình trao đổi chất, hoạt động của các chất điện giải trong cơ thể
Nước là thành phần không thể thiếu được của mọi sinh vật Trong cơ thể động vật, nước chiếm khoảng 60 - 80 % khối lượng cơ thể Nó duy trì khối lượng tuần hoàn, qua đó duy trì huyết áp, làm dung môi cho quá trình chuyển hoá các chất dinh dưỡng, vận chuyển và đào thải các chất, làm môi trường cho các phản ứng hoá sinh, trực tiếp tham gia các phản ứng thuỷ phân, oxy hoá,… làm giảm ma sát giữa các màng, tham gia điều hòa nhiệt
Nhu cầu về nước của gia súc rất lớn, nếu có thể mất hết mỡ, đường và một nửa protein trong mô bào, thể trọng giảm 40% thì con vật vẫn còn sống Nhưng nếu cơ thể mất 10% nước thì con vật có thể chết (Cù Xuân Dần, Bộ môn Sinh lí gia súc, 1996 [5])
Trang 40Tổng số nước trong cơ thể (50 - 70% khối lượng cơ thể) Nước nội bào
và lượng nước trong cơ thể khoẻ mạnh thường ổn định Khi bị viêm ruột, cơ thể không những không hấp thu được nước từ ngoài vào mà còn bị mất nước
do tiết dịch Hơn nữa, do tổ chức bị tổn thương, niêm mạc tăng tiết cùng với dịch rỉ viêm, dịch tiết có thể tăng gấp 80 lần so với bình thường Gia súc ỉa chảy kéo theo một lượng nước và chất điện giải bài xuất ra ngoài, cơ thể mất nước và chất điện giải (Hình 3) với hàng loạt các biến đổi bệnh lí khác nhau (Vũ Triệu An, 1978[1])
Khi trọng lượng cơ thể giảm 5% do mất nước, các rối loạn bắt đầu xuất hiện, khi mất 20 - 25% lượng nước thì rất nguy hiểm cho cơ thể do bị rối loạn huyết động học và toàn bộ quá trình chuyển hoá Do vậy, trong quá trình điều trị viêm ruột ỉa chảy, việc xác định mức độ mất nước và các biện pháp phòng chống mất nước luôn được chú ý hàng đầu
Trên thực tế, chúng ta thường gặp hai trường hợp của sự mất cân bằng nước và chất điện giải
*Sự mất nước ngoại bào
Nổi bật nhất của trường hợp này là mất muối và mất nước Từ đó làm giảm thể tích khu vực này
Dấu hiệu lâm sàng:
- Toàn thân sút kém, mệt mỏi