NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH PHÂN TÍCH ĐẠM VÀ MELAMINE TRONG THỨC ĂN GIA SÚC VINA 7 BẰNG PHƯƠNG PHÁP SÓNG VUÔNG QUÉT NHANH TRÊN CỰC GIỌT CHẬM Tác giả VÕ HỮU THỊNH Khóa luận được đệ trình để đáp
Trang 1NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH PHÂN TÍCH ĐẠM VÀ MELAMINE TRONG THỨC ĂN GIA SÚC VINA 7 BẰNG PHƯƠNG PHÁP SÓNG
VUÔNG QUÉT NHANH TRÊN CỰC GIỌT CHẬM
Tác giả
VÕ HỮU THỊNH
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu
cấp bằng kỹ sư ngành Công nghệ Hóa học
Giáo viên hướng dẫn:
TS Nguyễn Trọng Giao
TS Phan Phước Hiền
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Bộ môn Công nghệ Hóa học đã truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như những kinh nghiệm vô giá trong suốt quá trình học tập
Em xin chân thành cảm ơn:
Tiến Sĩ Nguyễn Trọng Giao, Chuyên viên Khoa học cao cấp, Trung tâm Nhiệt Đới Việt - Nga, Chi nhánh phía Nam
Tiến Sĩ Cù Thành Sơn, Phó phòng Phân tích hóa lý, Viện Khoa Học Vật Liệu Ứng Dụng
Tiến Sĩ Phan Phước Hiền, Giảng viên Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM
Đã tận tình giúp đỡ, tạo tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá thực hiện bài luận văn này
Cuối cùng em xin gửi lời chúc sức khỏe đến quý thầy cô
Tp.HCM, tháng 8 năm 2009 Sinh viên thực hiện
Võ Hữu Thịnh
Trang 3TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu: “ Nghiên cứu quy trình phân tích đạm và melamine trong thức
ăn gia súc Vina 7 bằng phương pháp sóng vuông quét nhanh trên cực giọt chậm” Đề tài được thực hiện tại Viện Khoa học Vật liệu & Ứng dụng Thời gian thực hiện thí nghiệm 01/03/09 đến 15/08/09
Kết quả thu được:
Quy trình phân tích đạm trong thức ăn gia súc bằng phương pháp sóng vuông quét nhanh trên cực giọt chậm
Tính chất điện hóa của melamine
Trang 5MỤC LỤC
Trang tựa Trang i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt iii
Summary iv
Mục lục v
Danh sách từ viết tắt vii
Danh sách hình viii
Danh sách bảng x
Chương 1: MỞ ĐẦU 1 U 1.1 Đặt vấn đề 1
1.1.1 Tầm quan trọng của protein (đạm) 1
1.1.2 Hiện trạng melamine trong thực phẩm 1
1.1.3 Melamine trong thức ăn gia súc 2
1.2 Mục đích đề tài 2
1.2.1 Phân tích tổng hàm lượng đạm có trong thức ăn gia súc 2
1.2.2 Phân tích hàm lượng melamine có trong thức ăn gia súc 2
1.2.3 Kết luận hàm lượng đạm hấp thu có trong thức ăn gia súc 3
1.3 Nội dung đề tài 3
1.3.1 Khảo sát lựa chọn dung dịch nền cho chuẩn đạm và melamine 3
1.3.2 Xây dựng đường chuẩn đạm và melamine 3
1.3.3 Tối ưu hóa các điều kiện hoạt động của máy 4
1.3.4 Chuẩn bị và xử lý mẫu 5
1.3.5 Xác định hàm lượng protein thô 6
1.3.6 Kiểm tra so sánh hàm lượng protein thô bằng phương pháp Kendan 6
1.3.7 Yêu cầu 7
Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 8 U 2.1 Đạm (protein) 8
2.1.1 Định nghĩa 8
2.1.2 Các bậc cấu trúc của protein 8
2.1.3 Chức năng của protein 10
2.1.4 Sự biến tính của protein 12
2.2 Melamine 12
2.2.1 Melamine 12
2.2.2 Tổng hợp 13
2.2.3 Ứng dụng 13
2.2.4 Độc tính 13
2.3 Tiêu chuẩn melamine 14
2.4 Các phương pháp phân tích đạm và melamine 14
2.4.1 Phương pháp phân tích đạm 14
2.4.2 Phương pháp phân tích melamine 16
2.5 Phương pháp VA (voltamatery) 17
Trang 62.5.1.2 Phương trình Ilcovich 19
2.5.1.3 Ý nghĩa 20
2.5.2 Các loại cực phổ trong phương pháp VA (voltamatery): 20
2.5.2.1 Cực phổ cổ điển 20
2.5.2.2 Cực phổ xung vi phân 22
2.5.2.3 Cực phổ sóng vuông 23
2.5.2.4 Kỹ thuật stripping 27
2.5.3 Máy ANALYZER SQF-505: 29
2.5.3.1 Lĩnh vực áp dụng 34
2.5.3.2 Khả năng phân tích 35
2.5.3.3 Những ưu điểm của máy: 35
Chương 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH 42
3.1 Phân tích hàm lượng đạm tổng 42
3.1.1 Nguyên tắc 42
3.1.2 Hóa chất 42
3.1.3 Thiết bị 42
3.1.4 Các bước thực hiện thí nghiệm 43
3.1.4.1 Pha dung dịch 43
3.1.4.2 khảo sát 44
3.1.4.3 Đường chuẩn đạm (amoni sulfat) (NH4)2SO4 53
3.1.4.4 Tiến hành 54
3.1.4.5 Kết quả phân tích nitơ tổng trên máy SQF-505: 55
3.1.5 Tính kết quả 59
3.2 Phân tích hàm lượng melamine 60
3.2.1 Nguyên tắc 60
3.2.2 Hóa chất 60
3.2.3 Thiết bị 60
3.2.4 Các bước thực hiện thí nghiệm 61
3.2.4.1 Pha dung dịch 61
3.2.4.2 Tiến hành 62
3.2.4.3 Đường chuẩn melamine 74
Chương 4: KẾT LUẬN - BÀN LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75
4.1 Đạm tổng 75
4.1.1 Kết luận 75
4.1.1.1 Các điều kiện phân tích và thông số chạy máy 75
4.1.1.2 Quy trình phân tích 75
4.1.2 Bàn luận 77
4.2 Melamine 77
4.2.1 Kết luận 77
4.2.2 Bàn luận 78
4.3 Kiến nghị 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
AAS: Atomic Absorption Spectrometry: Phổ hấp thu nghuyên tử
AFS: Automic Fluorescence spectrometry: Phổ huỳnh quang nguyên tử
UV: Ultraviolet: Phổ hấp thu bức xạ
MS: Mass Spectrum: Khối phổ
GC: Gas Chromatography: Sắc ký khí
HPLC: High Pressure Liquid Chromatography: Sắc ký lỏng cao áp
VA: Voltamatery
LoD: Limit of Detection: Giới hạn phát hiện
LD50: Limit of exposure dose producing 50% mortality:
Liều lượng gây chết 50% động vật thí nghiệm
Trang 8DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1 Các dạng cấu trúc của protein 10
Hình 2.2 Melamine kết hợp với axit cyanuric tạo thành melamin cyanurate 14
Hình 2.3 Sơ đồ qui trình phân tích của máy sắc ký lỏng cao áp 17
Hình 2.4 Điện thế theo thời gian trong cực phổ cổ điển 21
Hình 2.5 Dạng tính hiệu ghi nhận của cực phổ cổ điển 21
Hình 2.6 Cách đặt thế trong cực phổ xung vi phân 22
Hình 2.7 Đồ thị tính hiệu cực phổ cổ điển (A), cực phổ xung vi phân (B) 23
Hình 2.8 Cách đặt thế trong cực phổ sóng vuông cổ điển 25
Hình 2.9 Cách đặt thế trong cực phổ sóng vuông trên cực giọt tĩnh 25
Hình 2.10 Cách đặt thế trong cực phổ sóng vuông trên cực giọt chậm 26
Hình 2.11 Đồ thị cực phổ sóng vuông; cùng dòng (A), ngược dòng (B), dòng thực (C) 27
Hình 2.12 Nguyên tắc stripping anode 28
Hình 2.13 Chu kỳ sống của một giọt thủy ngân 31
Hình 2.14 Điện cực calomen bảo hòa 32
Hình 2.15 Tế bào cực phổ với ba điện cực 33
Hình 2.16 Máy phân tích đa năng SQF-505 33
Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc cường độ dòng của (NH4)2SO4 vào giá trị pH 44
Hình 3.2 Phổ peak của amoni sulfat ứng với pH = 3,5 và pH = 4,0 (ứng với mỗi giá trị pH thực hiện phép đo cường độ dòng 3 lần) 45
Hình 3.3 Phổ peak amoni sulfat ứng với các tỷ lệ NaAc : HCHO khác nhau 46
Hình 3.4 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc cường độ dòng của (NH4)2SO4 vào tỷ lệ NaAc : HCHO 47
Hình 3.5 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc cường độ dòng của (NH4)2SO4 vào nồng độ NaAc 48
Hình 3.6 Phổ peak amoni sulfat ứng với các chiều quét khác nhau 48
Hình 3.7 Phổ peak amoni sulfat ứng với các bước thế khác nhau 49
Hình 3.8 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc cường độ dòng của (NH4)2SO4 vào bước thế 50
Hình 3.9 Phổ peak amoni sulfat ứng với các biên độ xung khác nhau 50
Hình 3.10 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc cường độ dòng của (NH4)2SO4 vào biên độ xung 51
Hình 3.11 Phổ peak amoni sulfat ứng với thời gian rơi khác nhau 52
Hình 3.12 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc cường độ dòng của (NH4)2SO4 vào thời gian rơi 52
Hình 3.13 Kết quả các phép đo và đường chuẩn đạm (amoni sulfat) (NH4)2SO4 53
Hình 3.14 Kết quả vô cơ hóa mẫu - pha loãng - chuẩn độ 55
Hình 3.15 Kết quả phân tích nồng độ nitơ tổng trên mẫu thứ I ( lần 1) 56
Hình 3.16 Kết quả phân tích nồng độ nitơ tổng trên mẫu thứ I ( lần 2) 56
Trang 9Hình 3.17 Kết quả phân tích nồng độ nitơ tổng trên mẫu thứ I ( lần 3) 57
Hình 3.18 Kết quả phân tích nồng độ nitơ tổng trên mẫu thứ II ( lần 1) 57
Hình 3.19 Kết quả phân tích nồng độ nitơ tổng trên mẫu thứ II ( lần 2) 58
Hình 3.20 Kết quả phân tích nồng độ nitơ tổng trên mẫu thứ II ( lần 3) 58
Hình 3.21 Phổ peak melamine trên các loại dung dịch nền khác nhau 62
Hình 3.22 Phổ peak của melamine trên nền NaAc với độ pH khác nhau 63
Hình 3.23 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc cường độ dòng của melamine vào độ pH 63
Hình 3.24 Phổ peak của melamine ứng với các nồng độ dung dịch khác nhau 64
Hình 3.25 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc cường độ dòng của melamine vào nồng độ dung dịch nền 65
Hình 3.26 Phổ peak của melamine trên nền NaAc 1,5M với chế độ quét khác nhau 66
Hình 3.27 Phổ peak của melamine trên nền NaAc 1,5M với khi quét xuôi và quét ngược 66
Hình 3.28 Phổ peak của melamine trên nền NaAc 1,5M với các giá trị Vstep khác nhau 67
Hình 3.29 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc cường độ dòng của melamine vào bước thế 68
Hình 3.30 Phổ peak của melamine trên nền NaAc 1,5M với các giá trị Vpulse (mV) khác nhau 69
Hình 3.31 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc cường độ dòng của melamine vào biên độ xung 69
Hình 3.32 Phổ peak của melamine trên nền NaAc 1,5M với các giá trị Tdrop (ms) khác nhau 70
Hình 3.33 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc cường độ dòng của melamine vào thời gian rơi 70
Hình 3.34 Phổ peak của melamine trên nền NaAc 1,5M với các giá trị thế tích góp (mV) khác nhau 71
Hình 3.35 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc cường độ dòng của melamine vào thế tích góp 72
Hình 3.36 Phổ peak của melamine trên nền NaAc 1,5M với các giá trị thời gian tích góp (s) khác nhau 73
Hình 3.37 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc cường độ dòng của melamine vào thời gian tích góp 73
Hình 3.38 Kết quả các phép đo và đường chuẩn Melamine 74
Trang 10DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1 Chức năng của các nhóm protein 10 Bảng 2.2 Các ion kim loại điển hình được phân tích bằng phương pháp cực
phổ sóng vuông 36 Bảng 2.3 Các hợp chất hữu cơ được phân tích bằng cực phổ sóng vuông 38 Bảng 3.1 cường độ dòng (nA) sau 3 lần đo ứng với các giá trị pH khác
nhau 44 Bảng 3.2 Sự phụ thuộc cường độ dòng và thế bán sóng của amoni sulfat
vào tỷ lệ NaAc : HCHO 46 Bảng 3.4 Sự phụ thuộc cường độ dòng và thế bán sóng của amoni sulfat
vào chiều quét 49 Bảng 3.5 Sự phụ thuộc cường độ dòng và thế bán sóng của amoni sulfat
vào bước thế 49 Bảng 3.6 Sự phụ thuộc cường độ dòng và thế bán sóng của amoni sulfat
vào biên độ xung 51 Bảng 3.7 Sự phụ thuộc cường độ dòng và thế bán sóng của amoni sulfat
vào thời gian rơi 52 Bảng 3.8 Kết quả phân tích nồng độ nitơ tổng (ppm) trên mẫu thức ăn sau
khi phá mẫu 55 Bảng 3.9 Sự phụ thuộc cường độ dòng và thế bán sóng của melamine với
độ pH 63 Bảng 3.10 Sự phụ thuộc của cường độ dòng và thế bán sóng vào nồng độ
dung dịch nền 64 Bảng 3.11 Sự phụ thuộc cường độ dòng và thế bán sóng của melamine chế
độ quét 66 Bảng 3.12 Sự phụ thuộc cường độ dòng và thế bán sóng của melamine khi
quét xuôi và quét ngược 66 Bảng 3.13 Sự phụ thuộc cường độ dòng và thế bán sóng của melamine với
bước thế 67 Bảng 3.14 Sự phụ thuộc cường độ dòng và thế bán sóng của melamine với
biên độ xung 69 Bảng 3.15 Sự phụ thuộc cường độ dòng và thế bán sóng của melamine với
thời gian rơi 70 Bảng 3.16 Sự phụ thuộc cường độ dòng và thế bán sóng của melamine với
thế tích góp 71 Bảng 3.17 Sự phụ thuộc cường độ dòng và thế bán sóng của melamine với
thời gian tích góp 73
Trang 11Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
1.1.1 Tầm quan trọng của protein (đạm)
Protein là hợp chất hữu cơ đặt biệt quan trọng với cơ thể sống của chúng ta
Nó cung cấp cho cơ thể từ 10% - 15% năng lượng sống và là hợp chất cần thiết
để cơ thể sinh trưởng và phát triển
Các loại Protein đơn giản chỉ gồm các axit amin còn các loại Protein phức tạp
hơn có liên kết thêm với các nhóm bổ sung Protein chiếm tới trên 50% khối
lượng khô của tế bào và là vật liệu cấu trúc của tế bào
Protein là thành phần không thể thiếu được của mọi cơ thể sống Chúng đóng
vai trò cốt lõi của cấu trúc nhân, của mọi bào quan, đặc biệt là hệ màng sinh học
có tính chọn lọc cao
1.1.2 Hiện trạng melamine trong thực phẩm
Trong thời gian qua, melamine được biết đến như là một chất độc có liên
quan đến việc gây bệnh sạn thận cho người, và các ảnh hưởng khác đến sức khỏe
con người đang được nghiên cứu thêm
Việc thêm Melamine vào sữa do nhà sản xuất có dụng ý làm tăng hàm lượng
protein biểu kiến trong sữa vì melamine vốn có hàm lượng nitơ cao Đây là vấn
đề liên quan việc: “chạy theo lợi nhuận mà bỏ quên đạo đức”
Nhiều năm qua, melamine được cho vào sữa làm cho sữa và hàng loạt sản
phẩm từ sữa đều bị nhiễm melamine, gây ảnh hưởng sức khỏe cho con người
trong một thời gian dài
Thực sự đây mánh khóe lừa gạt do sự giới hạn của các công cụ phân tích cũ,
như phương pháp Kendan (Kjeldahl) và Dumas không chính xác
Trang 121.1.3 Melamine trong thức ăn gia súc
Melamine trong thức ăn gia súc cũng không phải là trường hợp ngoại lệ Để
đánh lừa hàm lượng đạm có trong thức ăn gia súc người ta đã bổ xung thêm
melamine từ khâu nguyên liệu (bánh dầu, bột bắp, bột mì hoặc bột cá…) hoặc
trong quy trình chế biến
Các phương pháp phân tích hiện đại như: Sắc ký lỏng cao áp (HPLC), sắc ký
lỏng kết hợp với khối phổ (LC/MS)… đủ điều kiện để phân tích dư lượng
melamine, tuy nhiên để phân tích và đưa ra kết quả phải mất một thời gian khá
lâu, không kịp thời giải quyết nhanh chóng vấn đề
Như vậy, melamine là một vấn nạn nóng bỏng và bức xúc hiện nay Với mục
đích xác định hàm lượng đạm thực và melamine trong thức ăn gia súc nhanh
chóng - kịp thời và chính xác Được sự phân công của Bộ Môn Công Nghệ Hoá
Học, được sự hướng dẫn của:
TS Nguyễn Trọng Giao; TS Phan Phước Hiền
Chúng tôi thực hiện đề tài: “Xây dựng quy trình phân tích đạm và melamine
trong thức ăn gia súc súc VINA 7 bằng phương pháp sóng vuông quét nhanh trên
cực giọt chậm”
1.2 Mục đích đề tài
1.2.1 Phân tích tổng hàm lượng đạm có trong thức ăn gia súc
Từ quá trình vô cơ hóa mẫu, bằng cách sử dụng máy phân tích “ANALYZER
SQF-505” với phương pháp sóng vuông quét nhanh trên cực giọt chậm, ta xác
định hàm lượng đạm tổng (đạm biểu kiến) gồm có đạm thực (đạm hấp thu) và
đạm không hấp thu (như melamine) ở trong mẫu thức ăn gia súc
1.2.2 Phân tích hàm lượng melamine có trong thức ăn gia súc
Xác định hàm lượng melamine trên mẫu thực bằng máy “ANALYZER
SQF-505”, đồng thời được kiểm nghiệm lại và so sánh bằng phương pháp phân tích
sắc ký lỏng cao áp
Trang 131.2.3 Kết luận hàm lượng đạm hấp thu có trong thức ăn gia súc
Sau khi đã có kết quả từ hai quá trình phân tích: Phân tích tổng hàm lượng
đạm và melamine có trong thức ăn gia súc Từ đó, ta xác định được hàm lượng
đạm hấp thu thực tế có trong mẫu thức ăn gia súc hiện nay
1.3 Nội dung đề tài
1.3.1 Khảo sát lựa chọn dung dịch nền cho chuẩn đạm (NH 4 ) 2 SO 4 và
melamine
Lựa chọn được dung dịch nền thích hợp có một vai trò rất quan trọng trong
phân tích điện hóa
Bằng cách pha chế và sử dụng lần lượt các dung môi khác nhau, với nồng độ
và độ pH khác nhau, với mục đích nhằm bắt tính hiệu từ thế bán sóng của chuẩn
đạm và melamine
Dung dịch nền lựa chọn theo các yêu cầu sau:
- Hòa tan được chất cần phân tích
- Cho sóng chất cần phân tích rõ
- Không làm hỏng chất cần phân tích
Từ đó, chọn ra dung dịch nền thích hợp (nồng độ và pH tối ưu) để tiến hành
quá trình xây dựng đường chẩn và phân tích mẫu
1.3.2 Xây dựng đường chuẩn đạm và melamine
Khi đã có dung dịch nền thích hợp, ta thực hiện:
Pha các dung dịch chuẩn có nồng độ khác nhau
Thực hiện phép đo chuẩn trên máy phân tích
Các chuẩn có nồng độ khác nhau sẽ có tính hiệu dòng khác nhau Từ đó, ta
dựng được đường chuẩn ngay trên máy
Trang 141.3.3 Tối ưu hóa các điều kiện hoạt động của máy
- Giới hạn thế cho quá trình ghi phổ gồm:
Vstart: Thông thường chọn trước giá trị đỉnh thế khoảng 300 mV để chân
sóng đủ rõ
Vstop: Thông thường chọn sau giá trị đỉnh thế khoảng 300 mV để chân sóng
đủ rõ
Sao cho, các peak xuất hiện rõ ở giữa vùng quét của thế, điều này làm cho
phổ đồ cân đối và đẹp hơn
- Bước quét thế một chiều (Vstep):
Ta có thể chọn các giá trị: 2; 4; 6; 8; 10 mV, tùy vào từng trường hợp quét mà
ta chọn bước quét thế cho phù hợp:
Khi quét khảo sát sơ bộ, quét toàn thang, nên chọn chế độ 8 hoặc 10mV Nếu
chúng ta chọn giá trị nhỏ (2 hoặc 4 mV) trong quá trình ghi phổ, giọt sẽ rơi
trước điểm kết thúc và không thu được phổ mong muốn
Trong nhiều trường hợp tốc độ quét cũng ảnh hưởng ít nhiều tới chiều cao
sóng, nhất là khi có hiện tượng hấp thụ xảy ra trong quá trình quét thế
- Biên độ xung vuông (Vpulse):
Ta có thể chọn các giá trị 10; 20; 30; 40 mV Biên độ xung càng lớn sóng
càng cao nhưng độ phân giải lại giảm xuống Chọn xung quá lớn sóng có thể
tù, độ phân giải sẽ kém đi Thông thường hay chạy chế độ 20, 30mV
- Thời điểm bắt đầu quét thế trong đời sống một giọt thủy ngân (time-drop):
Ta có thể cài đặt các giá trị 1000; 2000; 3000; 4000; 5000 ms (miligiây)
Giá trị này thể hiện thời điểm bắt đầu ghi sóng kể từ thời điểm hình thành một
giọt thủy ngân mới
Để ghi toàn phổ ta nên chọn giá trị 1000 hay 1500 ms , để trong quá trình ghi
giọt không bị rơi
Trang 15Giá trị Time-drop càng lớn sóng càng lớn vì được ghi ở vùng giọt lớn, cường
độ dòng qua cực làm việc càng cao Khi định lượng ta thường chọn các giá trị
3000, 4000 hay 5000 ms để độ nhạy được nâng cao
- Lựa chọn chiều quét thế:
Việc phối hợp giữa Vstart, Vstop hợp lý tạo ra sự quét thuận (tăng thế dần
theo chiều âm) hay quét ngược (tăng thế dần theo chiều dương) Thay đổi
chiều quét ảnh hưởng rất nhiều tới dạng sóng, đặc biệt là với các chất hữu cơ
Với các kim loại nặng phản ứng điện hóa xảy ra thuận nghịch và sự hấp phụ
không ảnh hưởng nhiều thì việc đổi chiều quét ít ảnh hưởng tới sóng Với
nhiều chất hữu cơ khi đổi chiều quét có thể làm sóng đẹp hơn, nhạy hơn hay
ngược lại Có những trường hợp phân tích các chất hữu cơ, khi đổi chiều quét
có thể làm mất sóng hoàn toàn hay làm xụất hiện một sóng rất đẹp
Sự thay đổi chiều quét, thay đổi dung dịch nền là một kỹ thuật rất đơn giản và
hiệu quả trong phân tích định tính và định lượng Bằng thủ thuật này người ta
có thể loại trừ sự ảnh hưởng của một số chất cản trở và làm cho sóng của chất
cần phân tích cao hơn, đẹp hơn Ví dụ khi phân tích vitamin C trong các nước
ép hoa quả, sóng oxy hòa tan và sóng của một số chất khác có mặt trong nước
ép hóa quả có thể ảnh hưởng khá nhiều tới sóng vitamin C khi quét xuôi,
nhưng khi quét ngược sóng vitamin C sẽ cao lên, còn các sóng khác lại giảm
xuống [1]
1.3.4 Chuẩn bị và xử lý mẫu
Việc lấy mẫu, chuẩn bị mẫu là một khâu rất quan trọng trong toàn bộ quy
trình phân tích Kết quả phân tích đúng hay sai phụ thuộc rất nhiều vào giai
đoạn này
Sau khi lấy mẫu thức ăn gia súc từ thị trường, ta cần phải xử lý một số
bước sau để phân tích hàm lượng đạm tổng có trong mẫu:
Vô cơ hóa một lượng mẫu nhỏ bằng phương pháp Kendan trong các ống
nghiệm, trung hòa, thêm đệm pH axit nhẹ có chứa formaldehit và đem đo
Trang 161.3.5 Xác định hàm lượng protein thô
Thực hiện vô cơ hóa mẫu, rồi thực hiện phép đo trên máy phân tích
ANALYZER SQF-505
Ta có thế xác định hàm lượng đạm trong mẫu thức ăn gia súc bằng phương
pháp nội chuẩn hoặc phương pháp thêm chuẩn
Phương pháp nội chuẩn:
- Chuẩn bị một dãy dung dịch chuẩn có nồng độ khác nhau
- Thực hiện đo các mẫu chuẩn
- Xây dựng đường chuẩn (thể hiện mối quan hệ giữa dòng và nồng độ)
- Bằng cách đo dòng của mẫu ta xác định được nồng độ thông qua đường
chuẩn
Phương pháp thêm chuẩn:
- Đo dòng của mẫu chưa biết nồng độ
- Thêm chuẩn có thể tích xác định, ở các nồng độ xác định khác nhau, đồng
thời thực hiện phép đo dòng
- Dựa vào các số liệu thực nghiệm, ta suy ra lại nồng độ của mẫu
1.3.6 Kiểm tra so sánh hàm lượng protein thô bằng phương pháp Kendan
(Kjeldahl)
Chuẩn bị mẫu và gửi đến trung tâm phân tích, protein thô trong mẫu sẽ được
định lượng bằng phương pháp Kendan (Kjeldahl) Phương pháp này chỉ có ý
nghĩa dùng để kiểm tra lại hàm lượng protein thô trong mẫu
- Sau khi có kết quả từ trung tâm phân tích, ta rút ra nhận xét và đưa ra kết luận
hàm lượng protein thô có trong mẫu thức ăn gia súc Đồng thời đánh giá độ
nhanh - nhạy và chính xác của máy phân tích ANALYZER SQF-505
Trang 171.3.7 Yêu cầu
- Chọn ra được chất nền phù hợp để phân tích đạm và melamine
- Xây dựng được đường chuẩn đạm và melamine
- Chọn được điều kiện cháy máy tốt nhất
- Xác định được hàm lượng đạm trong thức ăn gia súc
- Cho thấy được khả năng nhanh và nhạy của phương pháp phân tích
Trang 18Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đạm (protein)
2.1.1 Định nghĩa:
Protein (Protit hay Đạm) là những đại phân tử được cấu tạo theo nguyên tắc
đa phân mà các đơn phân là axít amin Chúng kết hợp với nhau thành một mạch
dài nhờ các liên kết peptide (gọi là chuỗi polypeptide) Các chuỗi này có thể xoắn
cuộn hoặc gấp theo nhiều cách để tạo thành các bậc cấu trúc không gian khác
nhau của protein
Theo quan điểm hóa học thì protein là một lớp chất hữu cơ rất lớn, có hai đặc
điểm quan trọng:
Trong thành phần cấu tạo luôn có nitrogen (N) với tỷ lệ ổn định ≈ 16%
Có trọng lượng phân tử rất cao, nên gọi là đại phân tử protein [5]
2.1.2 Các bậc cấu trúc của protein:
Người ta phân biệt ra 4 bậc cấu trúc của protein
Cấu trúc bậc một:
Các axit amin nối với nhau bởi liên kết peptit hình thành nên chuỗi
polypepetide Đầu mạch polypeptide là nhóm amin của axit amin thứ nhất và
cuối mạch là nhóm cacboxyl của axit amin cuối cùng Cấu trúc bậc một của
protein thực chất là trình tự sắp xếp của các axit amin trên chuỗi polypeptide
Cấu trúc bậc một của protein có vai trò tối quan trọng vì trình tự các axit amin
trên chuỗi polypeptide sẽ thể hiện tương tác giữa các phần trong chuỗi
polypeptide, từ đó tạo nên hình dạng lập thể của protein và do đó quyết định tính
chất cũng như vai trò của protein Sự sai lệch trong trình tự sắp xếp của các axit
amin có thể dẫn đến sự biến đổi cấu trúc và tính chất của protein
Trang 19Cấu trúc bậc hai:
Là sự sắp xếp đều đặn các chuỗi polypeptide trong không gian Chuỗi
polypeptide thường không ở dạng thẳng mà xoắn lại tạo nên cấu trúc xoắn α và
cấu trúc nếp gấp β, được cố định bởi các liên kết hyđro giữa những axit amin ở
gần nhau Các protein sợi như keratin, Collagen (có trong lông, tóc, móng,
sừng) gồm nhiều xoắn α, trong khi các protein cầu có nhiều nếp gấp β hơn
Cấu trúc bậc ba:
Các xoắn α và phiến gấp nếp β có thể cuộn lại với nhau thành từng búi có
hình dạng lập thể đặc trưng cho từng loại protein Cấu trúc không gian này có vai
trò quyết định đối với hoạt tính và chức năng của protein Cấu trúc này lại đặc
biệt phụ thuộc vào tính chất của nhóm -R trong các mạch polypeptide Chẳng hạn
nhóm -R của cystein có khả năng tạo cầu đisulfur (-S-S-), nhóm -R của prolin
cản trở việc hình thành xoắn, từ đó vị trí của chúng sẽ xác định điểm gấp, hay
những nhóm -R ưa nước thì nằm phía ngoài phân tử, còn các nhóm kị nước thì
chui vào bên trong phân tử Các liên kết yếu hơn như liên kết hyđro hay điện
hóa trị có ở giữa các nhóm -R có điện tích trái dấu
Cấu trúc bậc bốn:
Khi protein có nhiều chuỗi polypeptide phối hợp với nhau thì tạo nên cấu trúc
bậc bốn của protein Các chuỗi polypeptide liên kết với nhau nhờ các liên kết yếu
như liên kết hyđro
Trang 20Hình 2.1 Các dạng cấu trúc của protein [Nguồn: http://www.yellowtang.org/images/levels_of_protein_s_c_la_784.jpg]
2.1.3 Chức năng của protein:
Bảng 2.1 Chức năng của các nhóm protein
Collagen và Elastin tạo nên cấu trúc sợi rất bền của mô liên kết, dây chẳng, gân Keratin tạo nên cấu trúc chắc của da, lông, móng Protein tơ nhện, tơ tằm tạo nên độ bền vững của tơ nhện, vỏ kén
Protein Enzyme
Xúc tác sinh học:
tăng nhanh, chọn lọc các phản ứng sinh
Các Enzyme thủy phân trong dạ dày phân giải thức ăn, Enzyme Amylase trong nước bọt phân giải tinh bột
Trang 21hóa chín, Enzyme Pepsin phân giải
Protein, Enzyme Lipase phân giải Lipid
Protein vận động
Tham gia vào chức năng vận động của tế bào và cơ thể
Actinin, Myosin có vai trò vận động
cơ Tubulin có vai trò vận động lông, roi của các sinh vật đơn bào
Protein thụ quan
Cảm nhận, đáp ứng các kích thích của môi trường
Thụ quan màng của tế bào thần kinh khác tiết ra (chất trung gian thần kinh) và truyền tín hiệu
dưỡng
Albumin lòng trắng trứng là nguồn cung cấp axit amin cho phôi phát triển Casein trong sữa mẹ là nguồn cung cấp Acid Amin cho con Trong hạt cây có chứa nguồn protein dự trữ cần cho hạt nảy mầm
Trang 222.1.4 Sự biến tính của protein:
Khái niệm sự biến tính:
Dưới tác dụng của các tác nhân vật lý như tia cực tím, sóng siêu âm, khuấy cơ
học hay tác nhân hóa học như axit, kiềm mạnh, muối kim loại nặng, các cấu
trúc bậc hai, ba và bậc bốn của protein bị biến đổi nhưng không phá vỡ cấu trúc
bậc một của nó, kèm theo đó là sự thay đổi các tính chất của protein so với ban
đầu Đó là hiện tượng biến tính protein Sau khi bị biến tính, protein thường thu
Melamine là một bazơ hữu cơ ít tan trong nước có công thức hóa học là
C3H6N6, danh pháp theo IUPAC là 1,3,5-triazine-2,4,6-triamine
Về thuật ngữ, theo tiếng Đức từ Melamine xuất phát từ hai thuật ngữ hóa học
kết hợp lại đó là Melam (là một sản phẩm dẫn xuất sau khi chưng cất amoni
thiocyanat) và Amin
Melamine là trime của cyanamid, giống như cyanamid, phân tử của chúng
chứa 66% nitơ theo khối lượng
Melamine được chuyển hóa từ cyromazine trong cơ thể của động thực vật
Melamine kết hợp với axit cyanuric tạo thành melamine cyanurat
Trang 232.2.2 Tổng hợp:
Melamine được Liebig tổng hợp lần đầu tiên vào năm 1834 Đầu tiên canxi
cyanamid được chuyển thành dicyandiamid sau đó đun nóng đến trên nhiệt độ
nóng chảy để tạo thành melamine Tuy nhiên, hiện nay các quy trình sản xuất
melamine trong công nghiệp đều dùng urê theo phương trình phản ứng sau:
Phản ứng được diễn giải theo hai bước sau
Đầu tiên urê phân hủy tạo thành axit cyanic và ammoni, đây là phản ứng thu
Melamin khi phản ứng với formaldehit tạo thành keo melamin Khi trộn lẫn
với một số nhựa, chúng tạo thành hỗn hợp có khả năng chống cháy do khi cháy
chúng giải phóng ra một lượng khí nitơ
Vào thập niên 1950 và 1960, melamine từng được sử dụng như là phân bón vì
nó hàm chứa lượng protein khá cao, nhưng khi đưa vào ứng dụng thì thất bại
2.2.4 Độc tính:
Hiện có ít nghiên cứu về độ độc của melamine gây ra với con người Các
nghiên cứu ở động vật cho thấy rằng LD50 của melamine ở chuột > 3000 mg/kg
Bản thân Melamine có độc tính thấp, nhưng khi chúng kết hợp với axit cyanuric
sẽ gây nên sỏi thận do tạo thành hợp chất không tan melamin cyanurat
Trang 24kết hợp với axit cyanuric tạo thành melamin cyanurate
Hình 2.2 Melamine
[Nguồn: http://www.thehealthculture.com/img/melamine-cyanurate.gif]
Ăn melamine có thể dẫn đến tác hại về sinh sản, sỏi bàng quang hoặc suy thận
và sỏi thận, có thể gây ung thư bàng quang [7]
2.3 Tiêu chuẩn melamine
Bộ Y tế đã chấp nhận ngưỡng melamine trong thực phẩm dành cho trẻ em
dưới 36 tháng tuổi không vượt quá 1mg/kg thực phẩm (1 ppm) [8]
Bộ NN&PTNT đã chấp nhận ngưỡng 2,5mg/kg trong nguyên liệu và thức ăn
chăn nuôi (2,5ppm) [9]
2.4 Các phương pháp phân tích đạm và melamine
2.4.1 Phương pháp phân tích đạm [10]
Định lượng Protein bằng phương pháp Lowry
+ Nguyên tắc: Dựa vào phản ứng màu của protein và thuốc thử Folin, cường
độ màu của dung dịch tỷ lệ thuận với nồng độ protein, và dựa vào đường
chuẩn của protein, có thể tính được hàm lượng protein của mẫu nghiên cứu
Định lượng Protein bằng phương pháp Coomassie Brilliant Blue G – 250
Trang 25+ Nguyên tắc: Phương pháp này dựa vào sự thay đổi màu xảy ra khi
Coomassie Brilliant Blue G – 250 liên kết với protein trong dung dịch axit
Dạng proton hoá của thuốc nhuộm Coomassie Blue có màu đỏ da cam
Thuốc nhuộm liên kết chặt chẽ với các protein, tương tác với cả nhóm kỵ
nước và các nhóm mang điện tích dương trên phân tử protein Trong môi
trường của các gốc mang điện tích dương, sự proton hoá không xảy ra và có
màu xanh xuất hiện
Định lượng Protein bằng phương pháp quang phổ
+ Nguyên tắc: Phát hiện và đo protein: Phương pháp đơn giản nhất để đo
nồng độ protein trong dung dịch là độ hấp thụ tia cực tím của nó Nếu
protein tinh sạch thì nồng độ tuyệt đối của nó được tính theo giá trị được đo
Nếu protein không tinh sạch thì nồng độ của protein tổng số được tính tương
đối từ độ hấp phụ
Định lượng Protein bằng phương pháp Dumas
+ Nguyên tắc: Phương pháp đốt cháy Dumas để xác định protein thô Quy
trình dùng một thiết bị lò điện đun nóng mẫu phân tích lên đến 600oC trong
một lò phản ứng được bịt kín với sự hiện diện của oxy Hàm lượng nitơ của
khí đốt sau đó được đo bằng cách dùng máy dò dẫn nhiệt Mỗi lần xác định
chỉ cần khoảng 2 phút
Phương pháp Kendan:
Phương pháp phân tích Kendan phương pháp để xác định hàm lượng nitơ
có trong các chất vô cơ và hữu cơ, đã được phát triển hơn trăm năm qua bởi
Johan Kjeldahl
Mẫu protein (chứa nitơ dưới dạng hợp chất hữu cơ) được vô cơ hóa bởi
acid đậm đặc, có thể dùng acid sulfuric đặc hoặc acid nitri đặc Kết quả nhằm
thu muối amoni sulfat hoặc amoni nitrat Được biểu diễn bởi phương trình:
Protein + H SO → (NH ) SO + CO (g) + SO (g) + H (2.4)2 4 4 2 4 2 2 2
Trang 26Tiếp theo đun muối amoni thu được bằng dung dịch xút nhằm để chuyển
gốc NH4 của muối amoni thành NH3 và thu lấy NH3 theo phương trinh:
(NH ) SO + 2NaOH → Na SO + 2H O(l) + 2NH (g)4 2 4 2 4 2 3 (2.5)
bằng acid boric theo phương trình:
2.4.2 Phương pháp phân tích melamine
Phương pháp sắc ký lỏng cao áp:
Nguyên tắc:
Dựa trên sự phân bố của chất tan giữa hai chất lỏng không trộn lẫn vào
nhau khi cho một chất lỏng di chuyển qua (pha động) qua chất lỏng đứng yên
(pha lỏng)
Thông thường pha tĩnh là dung môi phân cực, pha động thường là nước
hoặc dung môi hữu cơ Đôi khi pha tĩnh là những chất ít phân cực lúc đó pha
động phải là dung môi phân cực hữu cơ
HPLC dựa vào pha động ( dạng lỏng) để phân tách các thành phần trộn lẫn
vào nhau Những thành phần này đầu tiên được hoà tan vào trong dung môi
và sau đó dưới tác dụng của áp suất cao, chúng sẽ bị lôi kéo di chuyển qua cột
sắc ký Trong cột, hỗn hợp sẽ được phân tách thành những cấu tử của chúng
Sự tương tác giữa các chất tan với pha lỏng và pha tĩnh có thể phụ thuộc
vào chọn lựa khác nhau của dung môi và pha tĩnh, kết quả HPLC sẽ thu được
nhiều cấu tử khác nhau mà các kỹ thuật sắc ký khác không thực hiện được và
nó dễ dàng phân tách số lượng lớn các hoá chất trộn lẫn vào nhau
Trang 27Qui trình phân tích của máy HPLC:
Hệ thống sử
lý dữ liệu
Hình 2.3 Sơ đồ qui trình phân tích của máy sắc ký lỏng cao áp
2.5 Phương pháp VA (voltamatery):
Hiện nay, yêu cầu phân tích hàm lượng các chất ở nồng độ rất nhỏ (phân tích
lượng vết) là rất phổ biến và cần thiết Tuy nhiên, các phương phân tích hóa học bị
giới hạn và chưa đáp ứng được Nên người ta chuyển sang chú trọng các phương
pháp vật lý như:
AAS (phổ hấp thu nghuyên tử), AFS (phổ huỳnh quang nguyên tử), UV (phổ hấp
thu bức xạ), MS (khối phổ), GC (sắc ký khí), HPLC (sắc ký lỏng cao áp), VA
(voltamatery)…
Voltamatery là một kỹ thuật điện hóa học tiêu biểu Nghiên cứu mối quan hệ
đường dòng - thế trong các quá trình oxy hóa khử ở điều kiện khác nhau Tính hiệu
dòng nhận được có mối quan hệ với thế sử dụng thông qua tế bào điện hóa Cực phổ
là một trong những phương pháp phân tích điện hóa tiêu biểu, mà ta có thế nghiên
cứu được các phản ứng oxy hóa khử trên điện cực giọt thủy ngân, diện tích của nó
chỉ vài milimet vuông Bằng các phép đo như vậy người ta thiết lập được thành phần
định tính và định lượng của các chất tác dụng [8]
Trang 28Năm 1992, J Heyrovsk đã công bố công trình mô tả một phương pháp phân tích
điện hóa mới được gọi là phép phân tích cực phổ, chính nhờ phát minh này mà ông
đã được tặng giải thưởng khoa học cao quý - giải thưởng Nobel năm 1959
Sau hơn nữa thể kỷ từ thời điểm phát minh ra công trình này, phương pháp cực
phổ đã đặt cơ sở để phát triển phương pháp phân tích điện hóa
Trong bài diễn thuyết của Heyrovsky đã xem xét một trong các ưu điểm của
phương pháp cực phổ chính là khả năng phân tích dung dịch pha loãng đến 10-5M,
khi dùng các điện cực thủy ngân phân tích mẫu, thể tích của chúng nhỏ đến 0,05ml
và khả năng xác định được hầu hết các nguyên tố ở dạng này hay dạng khác và xác
định được hàng trăm hợp chất hữu cơ [2]
Phương pháp phân tích này được ứng dụng nhiều trong các nghành vô cơ, hóa lý
và hóa sinh cho những mục đích thông thường như nghiên cứu về quá trình oxi hóa
khử, quá trình hấp phụ và cơ chế vận chuyển điện tử đến các bề mặt điện cực Đây là
một công cụ quan trọng trong phân tích các ion vô cơ và các chất hữu cơ trong dung
dịch Phương pháp này ngày càng được cải tiến nhằm tăng độ nhạy, độ chọn lọc và
giảm giá thành nhắm mở rộng phạm vi ứng dụng của phương pháp Hơn nữa khi kết
hợp phương pháp này với phương pháp sắc ký lỏng cao áp, nó trở thành một phương
pháp rất mạnh trong phân tích các chất phức tạp [15]
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại đặt biệt là máy tính điện tử,
vật liệu mới…phương pháp này lại tiếp tục được cải tiến và phát triển Nó được ứng
dụng trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khoa học, đồng thời có hàng trăm công trình
nghiên cứu được công bố dựa trên nền tản của phương pháp này
Ngày nay, người ta còn kết hợp phương pháp cực phổ với nhiều loại điện cực
siêu nhỏ, nhằm nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đơn phân tử Các điện cực
tương tự được sử dụng để giám sát sự di truyền của các tế bào sống, kiểm tra động
lực chuyển động của các hạt điện tử…[7]
Voltammetry là kỹ thuật phân tích điện hóa dựa trên nghiên cứu quan hệ đường
dòng – thế khi tiến hành điện phân chất cần phân tích trong điều kiện đặc biệt, với
cách đặt thế và ghi dòng đặc biệt đặc trưng cho từng kỹ thuật
Trang 292.5.1 Cơ sở phương pháp phân tích VA (voltamatery):
2.5.1.1 Dòng điện khuếch tán cực phổ:
Chất điện hoạt được chuyển động đến bề mặt của điện cực theo cơ chế:
- Sự chuyển dịch của các phần tử chuyển dịch do có dòng điện đi qua
- Sự đối lưu gây ra bởi sự khuấy trộn dung dịch hay bởi gradient tỷ trọng,
nhiệt độ hoặc nồng độ
Phù hợp với mô hình đơn giản nhất của quá trình được khống chế bởi sự
khuếch tán, dòng điện quan sát được trực tiếp liên hệ với sự khác nhau giữa nồng
độ của phần tử điện hoạt trong thể tích dung dịch C và trên bề mặt của điện cực
C0 Do vậy có thể viết:
K: Là hệ số tỷ lệ Theo nguyên tắc thì thế của điện cực giọt thủy ngân xác định nồng độ bề mặt
(C0) của chất điện hoạt Như vậy, nồng độ bề mặt nhỏ đến mức (so sánh với nồng
độ trong thể tích dung dịch) mà hiệu số (C –C0) thực tế trở nên cân bằng C và
dòng điện đạt đến giá trị giới hạn được gọi là dòng khuếch tán, nó được ký hiệu id
Ứng dụng phân tích của phương pháp cực phổ có liên quan với sự phụ thuộc
trực tiếp giữa dòng khuếch tán và nồng độ của chất điện hoạt trong thể tích dung
dịch
2.5.1.2 Phương trình Ilcovich:
Do sự khuếch tán của chất điện hoạt đến giọt thủy ngân đang trưởng lớn trong
các điều kiện của phép đo cực phổ là một quá trình phức tạp Nên không có một
biểu thức toán học nào chính xác hoàn toàn đối với dòng điện khuếch tán Tuy
nhiên, một giả thuyết gần đúng dẫn đến phương trình IlcovichL:
1/2 2/3 1/6
Trang 30m: Tốc độ chảy thủy ngân từ ống mao quản (mg/giây)
Phương trình này giải thích tốt ảnh hưởng của tất cả các biến cơ bản có liên
quan đến dòng điện khuếch tán [2]
2.5.1.3 Ý nghĩa:
Phương pháp phân tích cực phổ có ý nghĩa rất quan trọng như một phương
pháp phân tích nhanh nhạy nhờ có hai đặc tính của hai đường cong dòng điện -
thế hay của các cực phổ đồ nhận được nhờ điện cực giọt thủy ngân
Thứ nhất, ví trí của cực phổ đồ trên trục thế có thể chỉ ra chất nào đã tham gia
quá trình chuyển electron
Thứ hai, trong các điều kiện thực nghiệm dễ dàng thực hiện, trên giản đồ xuất
hiện dòng khuếch tán giới hạn mà giá trị của nó phụ thuộc vào nồng độ của chất
hoạt động điện [2]
2.5.2 Các loại cực phổ trong phương pháp VA (voltamatery):
2.5.2.1 Cực phổ cổ điển:
Cực phổ cổ điển hoạt động dựa trên nguyên tắt sự phụ thuộc cường độ dòng
với thế đặt vào khi điện phân dung dịch chất điện ly với điện cực làm việc có bề
mặt nhỏ
Trang 31Hình 2.4 Điện thế theo thời gian trong cực phổ cổ điển
Hình 2.5 Dạng tính hiệu ghi nhận của cực phổ cổ điển
Ưu điểm:
Thời gian phân tích nhanh, chi phí thấp, giới hạn phát hiện 10-5 M
Trong nhiều trường hợp có thể xác định đồng thời 3-5 chất có trong cùng một
dung dịch
Nhược điểm:
Điện cực thủy ngân dể bị oxy hóa, nên không thể xác định được các chất có
thế bán sóng dương hơn thế bán bán sóng của Hg2+/Hg (+0,35 V)
Trang 322.5.2.2 Cực phổ xung vi phân
Kỹ thuật này cũng tương tự như cực phổ xung thông thường, điện thế quét
cũng là chuổi xung điện thế Có điều khác biệt với cực phổ xung thông thường là
xung điện thế được cố định với biên độ nhỏ (10-100mV) và những xung tiếp với
mức thay đổi điện thế nhỏ Dòng được đo ở hai điểm bắt đầu và kết thúc của một
xung Những điểm được chọn phải cho phép không có sự phân rã bởi dòng Phép
đo giữa các dòng khác nhau tại những điểm ứng với mỗi xung được xác định và
đối chiều với điện thế [13]
Hình 2.6 Cách đặt thế trong cực phổ xung vi phân [14]
Trang 33Hình 2.7 Đồ thị tính hiệu cực phổ cổ điển (A), cực phổ xung vi phân (B) [14]
Ưu điểm:
Có thể xác định đồng thời các chất hiện diện trong cùng một loại dung dịch
thế bán sóng của chúng cách nhau 50 mV (trong cực phổ cổ điển là 200 mV)
Cho độ nhạy và độ chính xác, giới hạn phát hiện 10-7 ÷10-8 M
Cung cấp những thông tin ban đầu về dạng tồn tại của chất phân tích
Nhược điểm:
Không phân giải được các chất trong hệ phức tạp mà khoảng cách các giá trị
thế bán sóng E1/2 nhỏ hơn 50 mV [4]
2.5.2.3 Cực phổ sóng vuông:
Tính hiệu kích thích trong cực phổ sóng vuông tồn tại đối xứng với biên độ
của xung sóng vuông chồng chất lên nhau dạng bậc thang Không thể đánh giá
dòng thực bởi có sự khác nhau giữa dòng thuận nghịch và điện thế oxy hóa khử
Chiều cao của peak là thể hiện nồng độ của mẫu chất điện hoạt và giới hạn đo có
thể đạt tới 10-8M
Phương pháp cực phổ sóng vuông có rất nhiều thuận lợi, có độ nhạy hơn hẳn
loại bỏ được dòng nền Một ưu điểm nữa là tốc độ phân tích nhanh (với điện cực
Trang 34thông số khác nhau trên cùng một mẫu) Dòng này là kết quả của sự kiểm soát
của máy tính và lấy tính hiệu trung bình, sao cho những số liệu thực nghiệm có
tính lặp lại tương đồng tính hiệu tăng tỷ lệ với nồng độ
Ứng dụng của cực phổ sóng vuông là tiền đề để nghiên cứu các điện cực hoặc
thực hiện các phản ứng hóa học đồng hóa chất xúc tác, xác định lượng vết của
một số mẫu, sử dụng kết hợp đầu dò điện hóa với sắc ký lỏng cao áp [13]
Ưu điểm:
Thời gian phân tích nhanh nên có thể lặp lại phép tính phân tích nhiều lần
Theo tính toán, với xung sóng vuông có chu kỳ 5ms và bước thế là 10mV, để
thu được một cực phổ đồ sóng vuông hoàn chỉnh trong phạm vi quét thế là 0-1 V
chỉ cần 0,5 giây Trong cùng điều kiện, thí nghiệm trên cực phổ xung vi phân
phải cần 50 giây
Giảm LoD tới mức 10-7-10-8 M [16]
Cực phổ sóng vuông gồm:
Cực phổ sóng vuông cổ điển
Cực phổ sóng vuông trên cực giọt tĩnh
Cực phổ sóng vuông trên cực giọt chậm
Cực phổ sóng vuông cổ điển
Kỹ thuật này sử dụng một chuổi xung điện thế liên tục có biện độ tăng dần,
những phép đo dòng được thực hiện khi gần kết thúc một xung, đây là khoảng
thời gian cho phép thực hiện đo dòng Phép đo luôn được thực hiện trong một
dung dịch nền ổn định thích hợp trên điện cực giọt thủy ngân hoặc điện cực rắn
Dòng điện thế được nâng lên nhờ điện thế ban đầu Ei Thời gian sống của một
xung điện thế (t) từ 1-100ms và toàn bộ thời gian của một chuổi xung từ 0,1-5s
Phổ đồ biểu diễn dòng theo trục thẳng đứng và thế theo trục nằm ngang, có hình
bậc thang [13]
Trang 35Hình 2.8 Cách đặt thế trong cực phổ sóng vuông cổ điển
Cực phổ sóng vuông trên cực giọt tĩnh
Đây là kỹ thuật hiện đại trong phân tích cực phổ Điện cực giọt thủy ngân có thể
được giữ trong thời gian tùy ý để thực hiện phép đo đầu xung và cuối xung Kỹ thuật
cho kết quả quả nhanh nhạy Tuy nhiên rất tốn kém
Hình 2.9 Cách đặt thế trong cực phổ sóng vuông trên cực giọt tĩnh
Trang 36Cực phổ sóng vuông trên cực giọt chậm
Kỹ thuật này, ta cũng thực hiện phép đo dòng đầu xung cuối xung Dựa vào
thời gian ổn định trong chu kỳ sống của một giọt thủy ngân để thực hiện phép đo
Kỹ thuật này được trình bày kỹ hơn ở phần máy ANALYZER SQF-505
Hình 2.10 Cách đặt thế trong cực phổ sóng vuông trên cực giọt chậm
Trang 37Hình 2.11 Đồ thị cực phổ sóng vuông; cùng dòng (A), ngược dòng (B), dòng thực
(C) [14]
2.5.2.4 Kỹ thuật stripping:
Kỹ thuật stripping ta còn gọi là phương pháp volt-ampe hòa tan Độ nhạy của
phương pháp rất cao, ứng dụng trong phân tích lượng vết Độ nhạy của kỹ thuật
stripping có thể đạt 10-12M
Nguyên tắc: Phương pháp này gồm hai bước, bước thứ nhất là làm giàu chất
cần phân tích lên bề mặt điện cực hoạt động dưới dạng một kết tủa (kim loại, hợp
chất khó tan…) với điện thế của điện cực tương ứng với dòng giới hạn Bước thứ
hai hòa tan chất cần phân tích ra Việc tích tụ và hòa tan trở lại giúp cường độ
dòng điện tăng lên đáng kể
Kỹ thuật stripping hòa tan cơ bản:
* Stripping anode:
Ban đầu đặt một thế âm lên điện cực làm việc, các ion dương (thường là kim
loại) bị hút lên bề cực mặt giọt thủy ngân, ở đây các ion dương bị khử thành kim
loại và bám lên bề mặt cực giọt thủy ngân Sau đó, thực hiện quét thế từ âm sang
dương và thực hiện đo dòng, khi đó các kim loại được hòa tan ra lại thành các ion
Trang 38kim loại, dòng khếch tán thu được (ở thế bán sóng nhất định) tỷ lệ với nồng độ
ion dương (ứng với thế bán sóng đó) trong dung dịch
Hình 2.12 Nguyên tắc stripping anode
* Stripping cathode:
Quá trình ngược lại với stripping anode Tuy nhiên kỹ thuật stripping cathode
ít được sử dụng hơn stripping anode
* Stripping hấp phụ:
Các hợp chất hữu cơ có xu hướng bám trên bề mặt cực giọt thủy ngân, khi
thời gian tích góp trên giọt thủy ngân càng lớn thì các chất hữu cơ bám càng nhiều
Sau đó thực hiện quét thế từ âm sang dương hoặc ngược lại và thực hiện đo dòng
Dòng khuếch tán thu được (ở thế bán sóng nhất định) tỷ lệ với nồng độ chất hữu cơ
(ứng với thế bán sóng đó) có trong dung dịch
Các yếu tố ảnh hưởng đến phương pháp:
Diện tích bề mặt: Diện tích bề mặt ảnh hưởng đến cường độ và diện tích peak
Diện tích peak càng lớn tương ứng với dòng thu được cũng càng lớn Trong quá
trình thực phép đo mà diện tích bề mặt thay đổi sẽ làm giảm độ lặp và gây sai số
Tính chất bề mặt: Bề mặt điện cực ảnh hưởng đến hoạt tính của điện cực, ảnh
hưởng đến khả đến khả năng làm giàu và hòa tan chất cần phân tích gây sai lệch
trong kết quả đo
Trang 39Tốc độ khuấy: Ảnh hưởng đến khả năng khuếch tán, hấp thụ chất cần phân
tích lên bề mặt điện cực Do đó ảnh hưởng đến chiều cao peak thu được Tuy
nhiên, tốc độ khuấy cũng ảnh hưởng đến độ ổn định của kết quả đo
Ngoài ra, các đại lượng khác như thời gian làm giàu, thế tích góp cũng ảnh
hưởng đến kết quả đo
2.5.3 Máy ANALYZER SQF-505:
ANALYZER SQF-505 là thiết bị phân tích điện hóa hiện đại hoạt động theo
nguyên lý sóng vuông quét nhanh trên cực giọt châm, cực tĩnh, cực rắn Đây là
sản phẩm của sự kết hợp giữa kỹ thuật phân tích điện hóa hiện đại với công nghệ
thông tin, công nghệ phần mềm Nguyên lý hoạt động cơ bản của máy
ANALYZER SQF-505 có thể tóm tắt như sau:
Ta nhúng vào dung dịch nền có chứa chất cần phân tích 3 điện cực:
Cực làm việc - Working Electrode:
Là một cực giọt thủy ngân có tốc độ chảy ổn định khoảng 10 giây một giọt
(với kỹ thuật Stripping nhanh ta dùng cực giọt thủy ngân có tốc độ chảy trên 10
giây một giọt)
Điện cực giọt thủy ngân tạo ra từ một ống mao quản đường kính khoảng
50µm và được nối với một bầu thủy ngân Dưới tác dụng của trọng lực thủy ngân
chảy ra từ đầu dưới của ống mao quản ở dạng nhiều giọt giống nhau mà đường
kính của chúng khoảng 0,5mm, còn diện tích của nó khoảng vài mm2
Bằng cách chọn chiều cao của cột thủy ngân ta có thể thay đổi được tốc độ
chảy, có nghĩa là thay đổi thời gian xuất hiện của một giọt thủy ngân, sự trưởng
lớn và bức nó ra khỏi đầu ống mao quản Bình thường oxy được khử trên catot
thủy ngân, tham gia vào phản ứng từng nấc:
Trang 40Và che mất các phản ứng của các chất khác, để loại bỏ oxy người ta thổi khí
nitơ đi qua dung dịch trước khi ghi phổ đồ, hoặc sử dụng phương pháp bù nền
được lập trình sẵn
Những ưu nhược điểm của điện cực giọt thủy ngân: [2]
Để ghi được các đường cong dòng điện - thế người ta dùng các vi điện cực từ
nhiều kim loại, ví dụ như platin Tuy nhiên, điện cực giọt thủy ngân so với các
điện cực khác có 3 ưu điểm sau:
Thứ nhất, sự trưởng lớn liên tục và sự rơi giọt thủy ngân chỉ ra rằng định kỳ
một vài giây một bề mặt mới của điện cực chịu tác dụng của dung dịch; phù hợp
với điều đó quá trình điện phân trên các giọt trước không gây ảnh hưởng đến
phản ứng nghiên cứu
Thứ hai, quá thế hoạt hóa lớn của sự tách khí hydro trên giọt thủy ngân trơ
nên quý giá để nghiên cứu các quá trình catot, trong nhiều trường hợp để nghiên
cứu sự khử ion của kim loại
Thư ba, với điện cực đã cho có thể nhận được một dòng giới hạn ổn định, nó
liên hệ một cách định lượng với nồng độ của các phân tử tương tác
Thủy ngân có một nhược điểm quan trọng khi dùng nó làm vật liệu điện cực -
sự tương đối dễ bị oxy hóa Điện cực giọt thủy ngân bắt đầu chịu sự hòa tan trong
môi trường không tạo phức, ví dụ như HClO4 (acid pecloric), ở gần thế +0,25V
so với điện cực clomen bảo hòa, khi có dung dịch ion clorua 1M thì thủy ngân bị
oxy hóa đến clorua thủy ngân (I) không tan ở thế 0V so với điện cực so sánh
Như vậy, việc dùng điện cực giọt thủy ngân chủ yếu bị hạn chế bới sự nghiên cứu
các quá trình catot, mặc dầu một số phần tử dễ bị oxy hóa cũng có thể được xác
định bằng phương pháp này