1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng trọt góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng có hiệu quả kinh tế cao ở huyện đông sơn tỉnh thanh hoá

134 775 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Một Số Biện Pháp Kỹ Thuật Trồng Trọt Góp Phần Chuyển Dịch Cơ Cấu Cây Trồng Có Hiệu Quả Kinh Tế Cao Ở Huyện Đông Sơn Tỉnh Thanh Hoá
Tác giả Lê Văn Thành
Người hướng dẫn PGS.TS. Phạm Tiến Dũng
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Trồng Trọt
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp I

-

lê văn thành

'Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật

trồng trọt góp phần chuyển dịch cơ cấu

cây trồng có hiệu quả kinh tế cao

ở huyện Đông Sơn-tỉnh Thanh Hoá

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp

Chuyên ngành: trồng trọt Mã số: 60.62.01

Người hướng dẫn khoa học: pgs.tS phạm tiến dũng

Hà Nội – 2006

Trang 2

lời cam đoan

Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực và ch−a đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã

đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Lê Văn Thành

Trang 3

Lời cảm ơn

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng nổ lực của bản thân, tôi nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô, bạn bè, người thân và các cơ quan, đơn vị

Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Nông học đã trực tiếp giảng dạy, trang bị những kiến thức bổ ích trong suốt thời gian qua Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Phạm Tiến Dũng, người thầy đã tận tình giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thiện luận văn Cảm ơn các thầy cô giáo khoa sau đại học, bộ môn Công nghệ sinh học và Phương pháp thí nghiệm Cảm ơn các bạn đồng nghiệp trong lớp và đang công tác ở Huyện Cảm ơn các cơ quan: UBND Huyện, phòng Tài nguyên-Môi trường, phòng Nông nghiệp và PTNT, phòng Thống Kê, trạm Khuyến nông, Ban quản lý dự

án huyện Đông Sơn và các xã tham gia trong luận văn Cảm ơn những người thân trong gia đình và tất cả bạn bè, đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt luận văn này./

Tác giả

Lê Văn Thành

Trang 4

Mục lục

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

2 Tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học của đề tài 3

2.2 Tình hình nghiên cứu về hệ thống cây trồng trong và ngoài nước 21

3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 42

4.1.3 Đặc điểm đất đại, thổ nhưỡng: 58

Trang 5

4.2.2 Hiệu quả kinh tế của một số cây trồng phổ biến trong Huyện 66 4.2.3 So sánh hiệu quả tổng hợp của một số công thức luân canh chính 71 4.3 Xây dựng lịch thời vụ cho sản xuất lúa nước 81

4.3.2 Xây dựng cơ cấu giống cho vụ Đông xuân 2005-2006 86 4.3.3 Xây dựng cơ cấu giống cho vụ mùa 2005-2006 87 4.4 Nghiên cứu thử nghiệm mô hình sản xuất đa canh hiệu quả kinh tế cao 89 4.5 Thử nghiệm mô hình 3 giảm 3 tăng cho lúa nước 94 4.6 So sánh hiệu quả của chuyển đổi sản xuất vùng đất thấp 99 4.7 Đề xuất cơ cấu cây trồng ở huyện Đông Sơn giai đoạn 2006-2015 104

Trang 6

Danh mục các bảng

Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Đông Sơn (năm 2005) 49 Bảng 4.2 Tình hình phát triển dân số của huyện qua các năm (2001-2005) 52 Bảng 4.3 Một số chỉ tiêu kinh tế của huyện Đông Sơn qua các năm 53 Bảng 4.4 Một số chỉ tiêu khí tượng huyện Đông Sơn từ năm 2000-2005 55 Bảng 4.5 Các loại đất chính của huyện Đông Sơn 59 Bảng 4.6 Phân loại đất theo độ cao của địa hình và sử dụng 59 Bảng 4.7 Cơ cấu diện tích, năng suất của một số loại cây trồng qua các năm 64 Bảng 4.8 Hiệu quả kinh tế của hệ thống canh tác cây lúa nước 67 Bảng 4.9 Hiệu quả kinh tế của hệ thống canh tác cây ngô 68 Bảng 4.10 Hiệu quả kinh tế của hệ thống canh tác cây đậu tương 69 Bảng 4.11 Hiệu quả kinh tế của hệ thống canh tác cây lạc 70 Bảng 4.12 Năng suất cây trồng ở các công thức luân canh trên quỹ đất cao, vàn

Bảng 4.17 Lượng chất hữu cơ trả lại cho đất ở từng công thức luân canh trên đất

Bảng 4.18 So sánh tính bền vững của các công thức luân canh ở quỹ đất 3 vụ

Trang 7

Bảng 4.20 Tỷ lệ chết của mạ Xuân muộn ở các phương thức làm mạ 89 Bảng 4.21: Năng suất của giống lúa lai nhị ưu 63 được cấy trong vụ Xuân ở một

Bảng 4.22 Cơ cấu giống và thời vụ gieo cấy các giống lúa vụ Mùa 87 Bảng 4.23 Hiệu quả kinh tế của các cây trồng trong mô hình 89 Bảng 4.24 Kết quả của mô hình sản xuất đa canh trên 10 ha tại xã Đông Yên

Bảng 4.25 ảnh hưỏng đến khả năng đẻ nhánh, thời gian sinh trưởng 95 Bảng 4.26 ảnh hưởng đến khả năng chống đổ, các yếu tố cấu thành năng suất và

Bảng 4.27 Một số sâu bệnh hại chính tại thời điểm có mật độ, tỷ lệ bệnh cao

nhất 97

Bảng 4.29 Cơ cấu cá nuôi tính theo khối lượng ( kg/ha) 100

Bảng 4.33 Phương án chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở huyện Đông Sơn giai đoạn

2006-2010 107

Trang 8

Danh mục các biểu đồ

Hình 4.1 Diễn biến một số yếu tố khí hậu từ năm 2000-2005 ở huyện

Trang 9

Danh môc ch÷ viÕt t¾t

DT : DiÖn tÝch

DC : §èi chøng CSB : ChØ sè bÖnh TLB : ChØ sè bÖnh TLB : TØ lÖ bÖnh BVTV : B¶o vÖ thùc vËt

§EG : Tæng chi PhÝ TGST : Thêi gian sinh tr−ëng LMS : Lóa mïa sím

NPK : §¹m - L©n - Kali

NS : N¨ng suÊt

TB : Trung b×nh

DS : D©n sè NTTS : Nu«i trång thuû s¶n CLN : Cuèn l¸ nhá

CT : ChØ tiªu, C«ng thøc

Trang 10

1 Mở đầu 1.1 Đặt vấn đề

Việt Nam một nước đi lên từ nông nghiệp, một nền sản xuất chưa phát triển còn mang tính tự cung, tự cấp Cho đến nay, nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng lớn trong sản phẩm xã hội

Kết qủa nghiên cứu cho thấy, thực chất của nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam là hình thành nền nông nghiệp hàng hoá (nền nông nghiệp hàng hoá là nền nông nghiệp sản xuất ra

được nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế cao để bán là chính) vì vậy nông nghiệp hàng hoá phải đáp ứng được yêu cầu về số lượng, chất lượng và giá trị kinh tế theo nhu cầu của người tiêu dùng

Trong sản xuất nông nghiệp của huyện Đông Sơn những năm qua đã có những thay đổi lớn về cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đã từng bước hình thành các cụm kinh tế, tích cực khai thác khả năng quay vòng đất đai, đã nâng hệ số sử dụng đất từ 2,23 lần (năm 2000) lên 2,6 lần (năm 2005), lương thực bình quân

đầu người từ 510 kg (năm 2000) lên 680kg (năm 2005) Giá trị sản lượng bình quân 1 ha đất canh tác tăng từ 29,3 triệu đồng năm lên 35,2 triệu đồng năm (2005) Đối chiếu với mục tiêu phấn đấu 50 triệu đồng/ ha năm thì còn có

một khoảng cách khá xa, vì lẽ đó nên đề tài: ''Nghiên cứu một số biện pháp

kỹ thuật trồng trọt góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng có hiệu quả kinh tế cao ở huyện Đông Sơn-tỉnh Thanh Hoá'' được thực hiện

Trang 11

1.2 Mục đích, yêu cầu

- Nghiên cứu các biện pháp kết hợp 3 giảm, 3 tăng cho cây lúa nước

- Đánh giá được thực trạng sản xuất nông nghiệp và cơ cấu cây trồng của huyện Đông Sơn; những lợi thế, khó khăn trong quá trình sản xuất có hiệu quả kinh tế cao

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

ý nghĩa khoa học

- Nghiên cứu góp phần xây dựng cơ sở khoa học của việc đa dạng hoá

hệ thống trồng trọt góp phần cải thiện hệ thống canh tác của vùng lúa - màu ở phía Bắc huyện và vùng sản xuất lúa - cá ở phía Nam huyện

Trang 12

2 Tổng quan tài liệu

và cơ sở khoa học của đề tài

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Như vậy '' Hệ sinh thái'' là một khái niệm tương đối rộng, với ý nghĩa khẳng định quan hệ tương hỗ, quan hệ phụ thuộc qua lại, quan hệ tương tác, hay là tổ hợp các yếu tố theo chức năng thống nhất ( Odum E, 1979) trang 40-45

Hệ sinh thái tự nhiên có khả năng tự phục hồi và phát triển nhằm mục

đích kéo dài sự sống của cộng đồng sinh vật Hệ sinh thái tự nhiên có chu trình vật chất khép kín, nó trả lại hầu như toàn bộ khối lượng vật chất hữu cơ

và khoáng vô cơ cho đất, Đó là hệ sinh thái già rất ổn định

* Hệ sinh thái nông nghiệp

Hệ sinh thái nông nghiệp do con người tạo ra, và duy trì trên cơ sở các quy luật khách quan của các hệ sinh thái và mục đích thoả mãn nhu cầu nhiều mặt và ngày càng tăng, vì hệ sinh thái nông nghiệp có chu trình vật chất không khép kín Đó là hệ sinh thái thứ cấp ( hệ sinh thái trẻ), chịu sự tác động của

Trang 13

hệ sinh thái sinh trưởng mạnh và có năng suất cao Hệ sinh thái nông nghiệp

có số lượng ban đầu giảm, kém ổn định, dễ bị thiên tai địch hoạ phá hoại

Gần đây các nhà sinh thái học của các trường Đại học Đông Nam á ( SUAN) cho rằng hệ sinh thái nông nghiệp bao gồm hệ xã hội loài người và hệ sinh thái Từ đó họ đề xướng khái niệm '' Hệ sinh thái nhân văn'' (A Terry Rambo và Sajisse, 1984) [54] Khái niệm được đưa ra trên quan điểm cho rằng

có mối quan hệ giữa xã hội loài người và hệ sinh thái

* Nông nghiệp là sự kết hợp logic giữa sinh học, kinh tế, xã hội cùng

vận động trong môi trường tự nhiên Nghiên cứu hệ thống canh tác trên bình diện một vùng nông nghiệp nhỏ hay trang trại của nông hộ cũng không ngoài những quy luật trên ( Phạm Chí Thành, 1996) 7-11

* Lý thuyết hệ thống

Trong thế giới tự nhiên cũng như trong xã hội loài người mọi hoạt

động đều diễn ra bởi các hợp phần (components) có những mối liên hệ, tương tác hữu cơ với nhau được gọi là tính hệ thống Vì vậy, muốn nghiên cứu một

sự vật, hiện tượng, hoạt động nào đó chúng ta phải coi lý thuyết hệ thống là cơ sở của phương pháp luận và tính hệ thống là đặc trưng, bản chất của chúng

Lý thuyết hệ thống đã được nhiều người nghiên cứu và được áp dụng ngày càng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học giúp cho sự hiểu biết và giải thích các mối quan hệ tương hỗ Cơ sở lý thuyết hệ thống đã được L.Vonbertanlanty đề xướng vào đầu thế kỷ XX, đã được sử dụng như một cơ

sở để giải quyết các vấn đề phức tạp và tổng hợp Một vài năm gần đây quan

điểm về hệ thống được phát triển mạnh và áp dụng khá phổ biến trong lĩnh vực sinh học và nông nghiệp

Theo Đào Thế Tuấn, hệ thống là các tập hợp trật tự bên trong (hay bên

Trang 14

ngoài) của các yếu tố có liên quan đến nhau (hay tác động lẫn nhau), thành phần của hệ thống là các yếu tố Các mối liên hệ và tác động của các yếu tố bên trong mạnh hơn so với các yếu tố bên ngoài hệ thống và tạo nên trật tự bên trong của hệ thống Một hệ thống là một nhóm các yếu tố tác động lẫn nhau, hoạt động cho một mục đích chung [29]

Theo Phạm Chí Thành thì hệ thống là một tập hợp các tương tác giữa các thành phần tương hỗ bên trong một giới hạn xác định Phạm Chí Thành ( 1993) [36] định nghĩa hệ thống là một tập hợp các phần tử có quan hệ với nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất và vận động, nhờ đó xuất hiện những thuộc tính mới, thuộc tính mới được gọi là tính trồi

Để hệ thống phát triển bền vững cần nghiên cứu bản chất và đặc tính của các mối tương tác qua lại giữa các yếu tố trong hệ thống đó, điều tiết các mối tương tác chính là điều khiển hệ thống một cách có quy luật '' Muốn chinh phục thiên nhiên phải tuân theo những quy luật của nó''

Về mặt thực tiễn cho thấy việc tác động vào sự vật một cách riêng lẻ, từng mặt, từng bộ phận của sự vật đã dẫn đến sự phiến diện và ít hiệu quả áp dụng lý thuyết hệ thống để tác động vào sự vật một cách toàn diện, tổng hợp mang lại hiệu quả cao và bền vững hơn Do nông nghiệp là một hệ thống đa dạng và phức hợp, để phát triển sản xuất nông nghiệp ở một vùng lãnh thổ cần tìm ra các mối quan hệ tác động qua lại của các bộ phận trong hệ thống

và điều tiết mối tương tác đó phục vụ cho mục đích của con người nằm trong

hệ thống và quản lý hệ thống đó

* Hệ thống nông nghiệp ( Agricultural systems)

Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về hệ thống nông nghiệp (Agricultural system) Là tập hợp không gian của sự phối hợp các ngành sản xuất và các kỹ thuật do một xã hội thực hiện để thoả mãn các nhu cầu của

Trang 15

sinh thái và môi trường tự nhiên là đại diện và một hệ thống xã hội - văn hoá, qua các hoạt động xuất phát từ những thành quả kỹ thuật Cho rằng hệ thống nông nghiệp trước hết là một phương thức khai thác môi trường được hình thành và phát triển trong lịch sử, một hệ thống sản xuất thích ứng với các

điều kiện sinh thái, khí hậu của một không gian nhất định, đáp ứng với các

điều kiện và nhu cầu của thời điểm ấy Còn nhiều tác giả lại cho rằng hệ thống nông nghiệp thích ứng với các phương thức khai thác nông nghiệp của không gian nhất định do một xã hội tiến hành, là kết quả của sự phối hợp các nhân tố tự nhiên, xã hội - văn hoá, kinh tế và kỹ thuật

Mặc dù mỗi tác giả có một định nghĩa khác nhau về hệ thống nông nghiệp, nhưng nhìn chung họ đều thống nhất rằng hệ thống nông nghiệp thực chất là một hệ sinh thái nông nghiệp được đặt trong một điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, tức là hệ sinh thái nông nghiệp được con người tác động bằng lao động, các tập quán canh tác, hệ thống các chính sách…

Hệ thống nông nghiệp = hệ sinh thái nông nghiệp + các yếu tố kinh tế, xã hội

Hệ thống nông nghiệp bao gồm nhiều hệ phụ như hệ phụ trồng trọt; chăn nuôi, chế biến, ngành nghề; quản lý, lưu thông và phân phối

Hệ thống nông nghiệp theo Phạm Chí Thành ( 1993) [36] là: Một phức hợp của đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, lao động, các nguồn lợi và

đặc trưng khác trong một ngoại cảnh mà nông hộ quản lý tuỳ theo sở thích, khả năng và kỹ thuật có thể có

Nhìn chung hệ thống nông nghiệp là một hệ thống hữu hạn trong đó con người đóng vai trò trung tâm, con người quản lý và điều khiển các hệ thống nhỏ trong đó theo những quy luật nhất định, nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho hệ thống nông nghiệp

Hệ thống nông nghiệp có ba đặc điểm đáng quan tâm sau:

Trang 16

- Tiếp cận ''dưới lên'' và xem hệ thống mắc ở điểm nào tìm cách can thiệp để giải quyết cản trở

- Coi trọng mối quan hệ xã hội như những nhân tố của hệ thống

- Coi trọng phân tích động thái của sự phát triển

* Hệ thống canh tác ( Farming systems)

hệ thống canh tác ( HTCT) là sản phẩm của bốn nhóm biến số: Môi trường vật lý, kỹ thuật sản xuất, chi phối của nguồn tài nguyên và điều kiện kinh tế xã hội Trong HTCT vai trò của con người đặt ở vị trí trung tâm của

hệ thống và quan trọng hơn bất cứ nguồn tài nguyên nào kể cả đất canh tác Nhà thổ nhưỡng học người Mỹ đã chứng minh cho quan điểm này, ông cho rằng đất không phải là quan trọng nhất mà chính con người sống trên mảnh

đất đó Muốn phát triển một vùng nông nghiệp, kỹ năng của nông dân có tác

dụng hơn độ phì của đất ( Cao Liêm, 1996) [26] Như vậy Hệ Thống canh tác

là sự bố trí một cách thống nhất và ổn định các ngành nghề trong nông trại

được quản lý bởi hộ gia đình trong môi trường tự nhiên, sinh học và kinh tế xã hội, phù hợp với mục tiêu, sự mong muốn và nguồn lực của nông hộ

Trong nghiên cứu và xây dựng hệ thống canh tác ở miền Bắc, theo hệ thống phân các biến sinh thái và hệ thống phân ra các vi sinh thái của Valenza ( 1982) thay thế cho cách làm xây dựng chế độ canh tác chia chế độ canh tác ra làm hai phần: phần cứng và phần mềm Phần mềm là các biện pháp kỹ thuật có thể thay đổi theo thị trường, điều kiện kinh tế kỹ thuật, phong tục và kỹ năng lao động của nông dân còn phần cứng là những nội dung khó thay đổi

Một khái niệm khác coi trọng vai trò của con người là phân ra: Hệ sinh thái nông nghiệp ( Agro-ecosystems) và hệ kinh tế xã hội ( Socio- economic Systems) Trong đó hệ kinh tế - xã hội là hệ tích cực, sự biến đổi chung của

Trang 17

* Hệ thống trồng trọt ( Cropping Systems)

Hệ thống trồng trọt là hoạt động sản xuất cây trồng trong một nông

trại, nó bao gồm các hợp phần cần thiết để sản xuất một tổ hợp các cây trồng của nông trại và mối quan hệ của chúng với môi trường

Hệ thống cây trồng là tổ hợp cây trồng bố trí theo không gian và thời

gian với hệ thống biện pháp kỹ thuật được thực hiện nhằm đạt năng suất cây trồng cao và nâng cao độ phì của đất đai

Theo tác giả Đào Thế Tuấn (1984) [32] thì cơ cấu cây trồng là thành phần các giống và loài cây được bố trí theo không gian và thời gian trong một vùng sinh thái nông nghiệp nhằm tận dụng hợp lý nhất các nguồn lợi về tự nhiên, kinh tế - xã hội, Phùng Đăng Chinh (1987) [22] thì cho rằng cơ cấu cây trồng là thành phần và các loại giống cây trồng bố trí theo không gian và thời gian trong một cơ sở hay nột vùng sản xuất nông nghiệp

Nội dung cốt lõi của cơ cấu biểu hiện vị trí, vai trò của từng bộ phận và mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa chúng trong tổng thể Một cơ cấu có tính ổn định tương đối và được thay đổi để ngày càng hoàn thiện, phù hợp với

điều kiện khách quan, điều kiện lịch sử, xã hội nhất định Cơ cấu cây trồng lệ thuộc rất nghiêm ngặt vào điều kiện tự nhiên, các nguồn tài nguyên và điều kiện kinh tế - xã hội Việc duy trì hay thay đổi cơ cấu không phải là mục tiêu

mà chỉ là phương tiện để tăng trưởng và phát triển sản xuất Cơ cấu cây trồng còn là cơ sở để bố trí mùa vụ, chế độ luân canh cây trồng, thay đổi theo những tiến bộ khoa học kỹ thuật, giải quyết vấn đề mà thực tiễn sản xuất đòi hỏi và đặt ra cho ngành sản xuất trồng trọt những yêu cầu cần giải quyết

Cơ cấu cây trồng hợp lý là sự định hình về mặt tổ chức cây trồng trên

đồng ruộng về số lượng, tỷ lệ, chủng loại, vị trí và thời điểm, có tính chất xác

định lẫn nhau, nhằm tạo ra sự cộng hưởng các mối quan hệ hữu cơ giữa các loài cây trồng với nhau từ đó khai thác và sử dụng một cách tiết kiệm và có hiệu quả

Trang 18

nhất các nguồn tài nguyên cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

Cơ cấu cây trồng về mặt diện tích tỷ lệ các loại cây trồng trên diện tích canh tác, tỷ lệ này phần nào nói lên trình độ sản xuất của từng vùng Tỷ lệ cây lương thực cao, tỷ lệ cây công nghiệp, cây thực phẩm thấp, phản ánh trình độ phát triển sản xuất thấp Tỷ lệ các loại cây trồng có sản phẩm tiêu thụ tại chỗ cao, các loại cây trồng có giá trị hàng hoá và xuất khẩu thấp, chứng tỏ sản xuất nông nghiệp ở đó kém phát triển và ngược lại

Trong công tác quy hoạch phát triển nông nghiệp bền vững, xác định cơ cấu cây trồng hợp lý là một trong những cơ sở cho việc xác định phương hướng sản xuất Sự đa dạng hoá cây trồng và tăng trưởng theo các mục tiêu

cụ thể sẽ tạo nền tảng cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và phát triển kinh tế trong tương lai

Nguyễn Duy Tính (1995) [27] cho rằng chuyển đổi cơ cấu cây trồng là cải tiến hiện trạng cơ cấu cây trồng có trước sang cơ cấu cây trồng mới nhằm

đáp ứng những yêu cầu của sản xuất Thực chất của chuyển đổi cơ cấu cây trồng

là thực hiện hàng loạt các biện pháp (kinh tế, kỹ thuật, chính sách xã hội) nhằm thúc đẩy cơ cấu cây trồng phát triển, đáp ứng theo những mục tiêu của xã hội

Nghiên cứu cải tiến cơ cấu cây trồng là tìm ra các biện pháp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng nông sản bằng cách áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào hệ thống cây trồng hiện tại hoặc đưa ra những hệ thống cây trồng mới Hướng vào các hợp phần tự nhiên, sinh học, kỹ thuật, lao động, quản lý, thị trường để phát triển cơ cấu cây trồng trong những điều kiện mới nhằm

đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất

Nghiên cứu cải tiến cơ cấu cây trồng phải đánh giá đúng thực trạng, xác định cơ cấu cây trồng phù hợp với thực tế phát triển cả về định lượng và

định tính, dự báo được mô hình sản xuất trong tương lai; phải kế thừa được

Trang 19

tới tương lai để kết hợp các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội

Để đáp ứng nhu cầu nhiều mặt ngày càng tăng của con người đòi hỏi ngành nông nghiệp phải sản xuất ra ngày càng nhiều lương thực, thực phẩm

và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông sản hàng hoá; đồng thời tạo ra cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển Với những thành tựu của khoa học nông nghiệp, các hộ nông dân, các cơ sở sản xuất đã tập trung sản xuất những cây trồng có khả năng thích nghi cao với

điều kiện sinh thái và có lợi thế so sánh hơn các vùng khác trên thị trường, hình thành hệ thống cây trồng ngày càng có hiệu quả kinh tế cao Nhiều vùng sinh thái nông nghiệp có những tài nguyên tiềm ẩn to lớn, dưới ánh sáng của khoa học kỹ thuật, thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng hình thành nên những vùng chuyên canh tập trung mang tính hàng hoá cao, đem lại hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp Sử dụng một cách hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, kinh tế xã hội, gắn lợi ích trước mắt với hiệu quả lâu dài, bền vững, gắn lợi ích kinh tế với bảo vệ môi trường và cải tạo môi trường sinh thái (Nguyễn Duy Tính, 1995)[28], (Đào Thế Tuấn, 1997)[33] Việc xây dựng cơ cấu cây trồng mới phải góp phần hình thành nền nông nghiệp bền vững

Phát triển nông nghiệp bền vững chiếm vị trí quan trọng nhiều khi có tính quyết định trong sự phát triển chung của xã hội Khái niệm về phát triển nông nghiệp bền vững trong sự phát triển của xã hội loài người mới chỉ hình thành rõ nét trong những năm 1990 qua các hội thảo và xuất bả Điều cơ bản nhất của phát triển nông nghiệp bền vững là cải thiện chất lượng cuộc sống trong sự tiếp cận đúng đắn về môi trường để giữ gìn những tài nguyên cơ bản nhất cho thế hệ sau Có rất nhiều định nghĩa về nông nghiệp bền vững tuỳ theo tình hình cụ thể (dẫn theo Hội khoa học đất Việt Nam, 2000)[11]

Trang 20

Theo FAO (1989)[11] thì nông nghiệp bền vững bao gồm quản lý có hiệu quả tài nguyên cho nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu cuộc sống của con người; đồng thời giữ gìn và cải thiện tài nguyên thiên nhiên, môi trường và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

Còn theo Bộ Nông nghiệp Canada thì hệ thống nông nghiệp bền vững

là hệ thống có hiệu quả kinh tế, đáp ứng nhu cầu của xã hội về an ninh lương thực; đồng thời giữ gìn và cải thiện tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường sống cho đời sau (Baier, 1990)[11]

Các định nghĩa có thể có nhiều cách biểu thị khác nhau, song về nội dung thường bao gồm 3 thành phần cơ bản sau [18]:

- Bền vững về an ninh lương thực trong thời gian dài trên cơ sở hệ thống nông nghiệp phù hợp điều kiện sinh thái và không tổn hại môi trường

- Bền vững về tổ chức quản lý, hệ thống nông nghiệp phù hợp trong mối quan hệ con người cho cả đời sau

- Bền vững thể hiện ở tính cộng đồng trong hệ thống nông nghiệp hợp lý Theo định nghĩa của hệ thống nông nghiệp bền vững phải đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về ăn và mặc thích hợp có hiệu quả kinh tế, môi trường

và xã hội gắn với việc tăng phúc lợi trên đầu người Đáp ứng nhu cầu là một phần quan trọng cần đưa vào định nghĩa vì sản lượng nông nghiệp cần thiết phải

được tăng trưởng trong những thập kỷ tới Phúc lợi cho mọi người vì phúc lợi của đa số dân trên toàn thế giới còn rất thấp

Trong tất cả các định nghĩa, điều quan trọng nhất là phải biết sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, giữ vững và cải thiện tài nguyên môi trường, có hiệu quả kinh tế, năng suất cao và ổn định, tăng cường chất lượng cuộc sống, bình đẳng giữa các thế hệ và hạn chế rủi ro

Trang 21

công nghệ được cải tiến và hiệu suất kinh tế được nâng cao Quản lý đất bền vững chiếm một vị trí quan trọng hàng đầu trong nông nghiệp bền vững

Mục tiêu của quản lý đất bền vững là “điều hoà các mục tiêu và tạo cơ hội cho việc đạt được kết quả về môi trường, kinh tế và xã hội vì lợi ích của không chỉ các thế hệ hiện nay mà còn cho các thế hệ trong tương lai” trong khi vẫn duy trì và nâng cao chất lượng của tài nguyên đất

* Nông nghiệp bền vững

Tại hội nghị thượng đỉnh Rio De Janeiro, Braxin năm 1992, tổ chức

Uỷ ban thế giới về môi trường và phát triển (WCED-Word Committee for Environment and Development) của Liên Hợp Quốc đưa ra khái niệm của sự bền vững là: Việc quản lý và gìn giữ cơ sở của các nguồn tài nguyên thiên nhiên; sự định hướng các thay đổi về công nghệ và thể chế, nhằm đạt được sự thoả mãn các nhu cầu cho con người của thế hệ ngày nay và cho tất cả thế hệ mai sau Phát triển bền vững, với các kỹ thuật phù hợp có lợi ích về mặt kinh

tế và được xã hội chấp nhận cho phép giữ gìn đất, nước, các nguồn tài nguyên

di truyền thực vật, động vật giữ cho môi trường không bị huỷ hoại (FAO,1989) [51]

Trên quan điểm bền vững này, (FAO) 1989 [51] đưa ra một vài nguyên

tắc của hệ thống sản xuất nông nghiệp bền vững như sau:

- Trong nông nghiệp phải đa dạng hoá các loại hình sản xuất nông nghiệp, các hệ thống cây, con, các chế độ canh tác và kỹ thuật đi kèm

- Kết hợp được nhiều ngành nghề nông, lâm, ngư, chế biến trong một vùng nông nghiệp

- Dự đoán được biến động môi trường, hạn chế rủi ro và nạn suy thoái,

ô nhiễm môi trường

- Sử dụng hiệu quả các loại cây bản địa, các nguồn gien động, thực vật

Trang 22

hoang dã, quý hiếm, đa tác dụng

- Tài nguyên đất, nước, năng lượng sinh học cần sử dụng hợp lý không lạm dụng để mất đi khả năng tái sinh

Như vậy: nông nghiệp bền vững là cách quản lý nông nghiệp có hiệu

quả các nguồn tài nguyên đối với nông nghiệp để đảm bảo thoả mãn các nhu cầu của con người nhưng vẫn duy trì và tăng cường chất lượng của môi trường Để sản xuất nông nghiệp bền vững phải thiết lập hệ thống sản xuất ổn

định đáp ứng được các nhu cầu nhiều mặt của nông dân, mang lại hiệu quả kinh tế, vừa mang lại hiệu quả sinh học lẫn môi trường Việc quản lý hệ thống canh tác lâu bền bao hàm các quy trình sản xuất công nghệ, các chính sách và các hoạt động nông nghiệp, phi nông nghiệp nhằm hội nhập những nguyên lý kinh tế, xã hội với các yêu cầu bảo vệ môi trường ( Simraks, 1994) [53]

Học thuyết về phát triển nông nghiệp bền vững ở Australia cho rằng: Nông nghiệp bền vững là một hệ thống thiết kế để chọn môi trường bền vững cho con người liên quan đến cây trồng, vật nuôi, công trình xây dựng cơ sở hạ tầng Bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội, bền vững về môi trường có liên quan mật thiết với nhau

2.1.2 Những căn cứ làm cơ sở cho việc hình thành hệ thống cây trồng hợp lý

Hệ thống cây trồng là thành phần các giống và loài cây được bố trí theo không gian và thời gian trong một hệ thống sinh thái nông nghiệp, nhằm tận dụng hợp lý nhất nguồn lợi tự nhiên, kinh tế xã hội của nó Bố trí cây trồng hợp lý là biện pháp kỹ thuật tổng hợp nhằm sắp xếp lại các hoạt động của hệ sinh thái khi nó lợi dụng tốt nhất điều kiện khí hậu nhưng lại né tránh được thiên tai Lợi dụng đặc tính sinh học của cây trồng, tránh sâu bệnh và cỏ dại,

đảm bảo sản lượng cao và tỷ lệ hàng hoá lớn

Trang 23

Các nội dung trên đựơc thể hiện trong các công trình nghiên cứu của

Đường Hồng Dật 1993,1996; Bùi Huy Đáp 1983, 1996); Đào Thế Tuấn 1997) [5], [9],[10], [8], [2], [14], [15], [24], [22], [46] Việc xác định hệ thống cây trồng cho một vùng, một khu vực sản xuất đảm bảo hiệu quả kinh

tế ngoài việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa hệ thống cây trồng với các điều kiện khí hậu, đất đai, quần thể sinh vật, tập quán canh tác, còn có mối quan

hệ chặt chẽ với phương hướng sản xuất ở vùng, khu vực đó Một mặt phương hướng sản xuất quyết định cơ cấu cây trồng nhưng đồng thời cơ cấu cây trồng lại là cơ sở hợp lý nhất để xác định phương hướng sản xuất của vùng hoặc khu vực đó Vì vậy nghiện cứu bố trí hệ thống cây trồng có cơ sở khoa học sẽ có ý nghĩa quan trọng giúp cho các nhà quản lý xác định được phương hướng sản xuất một cách đúng đắn ( Phùng Đăng Chinh, 1987; Phạm Chí Thành, 1998) [6], [38]

Những nghiên cứu mới đây về hệ thống cây trồng của các tác giả đã chứng minh được mối quan hệ giữa cây trồng với các yếu tố tự nhiên

* Khí hậu và hệ thống cây trồng

Khí hậu là một thành phần rất quan trọng của các hệ sinh thái, là yếu

tố đầu tiên phải chú ý đến khi xác định hệ thống cây trồng Khí hậu cung cấp năng lượng chủ yếu cho quá trình tạo thành chất hữu cơ, tạo năng suất cây trồng Hệ thống cây trồng tận dụng cao nhất điều kiện khí hậu sẽ cho tổng sản phẩm và giá trị kinh tế cao nhất Vì thế có thể nói khí hậu là yếu tố quan trọng nhất của việc xác định hệ thống cây trồng Tuy nhiên bên cạnh đó khí hậu cũng gây ra những hiện tượng bất lợi như bão, lụt, úng Hệ thống cây trồng hợp lý là phải tránh được những tác hại của điều kiện bất lợi đó Khả năng đảm bảo nhiệt độ và ẩm độ cho các loại cây trồng ngắn ngày là 2 yếu tố chính dùng để xem xét bố trí hệ thống cây trồng Từ đó các nhà nông học đã

đưa ra các khái niệm về cây ưa nóng, cây ưa lạnh và loại cây trung gian với

Trang 24

nhiệt độ ranh giới 200 C Cây ưa nóng là loại cây có thể sinh trưởng tốt, ra hoa, kết quả tốt ở nhiệt độ trên 200C như lúa, lạc, mía Cây ưa lạnh là những loại cây sinh trưởng, ra hoa, kết quả tốt ở nhiệt độ dưới 200C Việc bố trí hệ thống cây trồng, đặc biệt đối với cây hàng năm phụ thuộc rất nhiều vào tổng tích ôn hàng năm có ở từng vùng, tiểu vùng sinh thái và nhiệt lượng mà cây cần để hoàn thành chu trình sinh trưởng và phát triển

Ngoài ra các nhà nông học cũng cho rằng, nước mưa cung cấp phần lớn lượng nước mà cây yêu cầu, nhất là các vùng đất không có khả năng tưới tiêu theo hệ thống thuỷ lợi Nước mưa ảnh hưởng đến quá trình canh tác và thu hoạch Do vậy khi xác định hệ thống cây trồng cũng cần chú ý đến lượng mưa hàng năm, hàng vụ ở các tiểu vùng và vùng sinh thái ( Lê Duy Thước,

1991 Lượng mưa hay độ ẩm đất tác động rất rõ đến các quá trình sinh trưởng, phát triển của hầu hết các loại cây trồng, đặc biệt là giai đoạn ra hoa Thiếu nước trước hoặc sau khi ra hoa cây sẽ giảm năng suất nghiêm trọng, nhưng ngược lại ở thời kỳ này mưa nhiều cũng gây tác hại rất lớn, cây khó có khả năng thụ phấn hoàn toàn, đất ngập úng thiếu không khí trong đất ảnh hưởng đến hoạt động của bộ rễ và sự sinh trưởng của cây Bố trí hệ thống cây trồng hợp lý là cần nắm cụ thể các chế độ mưa, nắng trong năm, trong mùa ở từng khu vực, có vậy mới tận dụng được tối ưu điều kiện thời tiết vùng đó để nhằm tạo ra được khối lượng sản phẩm có giá trị cao nhất

* Đất đai và hệ thống cây trồng

Đất là một thành phần quan trọng của hệ sinh thái, là nguồn cung cấp nước và dinh dưỡng cho cây trồng Điều kiện đất đai là một trong những căn

cứ quan trọng sau điều kiện khí hậu để bố trí hệ thống cây trồng Tuỳ thuộc vào điều kiện địa hình, độ dốc, chế độ nước ngầm, thành phần cơ giới của

đất để bố trí hệ thống cây trồng phù hợp Hoàng Văn Đức, 1992; Bùi Thị

Trang 25

còn lệ thuộc vào các yếu tố khác như: đất dốc xói mòn nhiều, các tính chất lý hoá của đất và các biện pháp canh tác có thể áp dụng để chống xói mòn theo các điều kiện cụ thể của vùng sinh thái

Quá trình sản xuất nông nghiệp trên đất dốc ở bất cứ nơi nào cũng luôn luôn chịu sự tác động của các nhân tố tự nhiên, kinh tế và xã hội lớn hơn so với các vùng đồng bằng Thêm vào đó một số yếu tố tiêu cực ( như xói mòn

đất màu do mưa và tình trạng khô hạn) sẽ làm suy giảm tính bền vững của hệ canh tác trên đất dốc dẫn đến làm giảm sản lượng và giá trị sản phẩm thu

được trên một đơn vị diện tích

Xói mòn đất do mưa lũ gây ra thường có ở các dạng: xói mòn bề mặt, xói mòn theo rãnh, đặc biệt ở những vùng đồi dốc với tập quán canh tác đơn giản, lạc hậu thì sự xói mòn xảy ra rõ rệt hơn Mục tiêu của bố trí hệ thống cây trồng ở vùng đất dốc nhằm tăng độ che phủ của đất, ngăn các dòng chảy hoặc giữ lại nước cho đất và tăng khả năng chống xói mòn của đất ở những vùng đó Với phương châm đó, các nhà khoa học đã đưa ra các giải pháp như xây dựng công trình ruộng bậc thang, bờ ngăn, luân canh, xen canh, trồng cây theo băng hoặc ứng dụng phương thức canh tác nông - lâm kết hợp Theo hướng này trong một tiểu vùng hoặc vùng sinh thái sẽ tạo ra được tầng che phủ đất, tăng độ phì đất tạo ra được một số lớn sản phẩm cây trồng trên một

đơn vị diện tích đồng thời hạn chế mức cao nhất rửa trôi, xói mòn đất Nguyễn Tử Siêm, 1993) [21], [27], [34] Do vậy, để bố trí được một hệ thống cây trồng có hiệu quả cao, các nhà nông học đã lựa chọn hướng trồng các loại cây có bộ rễ sâu, chịu hạn tốt và có khả năng cố định đạm cao trong nền

đất nghèo dinh dưỡng ( Lê Duy Thước, 1991) [39]

* Loại cây trồng và hệ thống cây trồng

Cây trồng là thành phần chủ yếu của hệ sinh thái nông nghiệp Bố trí hệ thống cây trồng là lựa chọn loại cây trồng nào để lợi dụng tốt nhất

Trang 26

các điều kiện khí hậu đất đai ở vùng đó, hoặc tạo cho cây trồng phát huy nhiều nhất khả năng thích ứng của chúng với điều kiện của vùng Nguyễn

Vi, 1982) [29], [48] Khác với khí hậu và đất đai là yếu tố mà con người ít

có khả năng thay đổi, cây trồng có thể lựa chọn và di thực hoặc thay đổi bản chất theo hướng mà con người mong muốn

Các nhà sinh lý học thực vật từ những năm 1960, đã chứng minh rằng không có loại cây trồng nào có khả năng sử dụng hết toàn bộ tài nguyên thiên nhiên ở một vùng ( bức xạ, nước, dinh dưỡng trong đất ) Hơn thế nữa, một

số dẫn chứng cho thấy ở các vùng có khí hậu nhiệt đới thì ánh sáng, nguồn nước, chất dinh dưỡng chưa được sử dụng đúng mức còn có thể khai thác tăng vụ sản xuất lên hơn nữa Điển hình nhất là cuộc cách mạng xanh ở các nước nhiệt đới đã du nhập và sản xuất thành công giống lúa nước IR8, ngắn ngày, năng suất cao, khả năng tăng vụ Các chế độ trồng xen, trồng gối liên tiếp nhau với các loại cây trồng khác nhau đã được chú ý nhiều ở hầu hết các nước có ngành nông nghiệp phát triển, nhất là những nước có diện tích canh tác đất nông nghiệp thấp nhưng dân số đông

Theo tác giả Shanet (1982) [12] thì hệ thống cây trồng là hoạt động sản xuất cây trồng trong nông trại bao gồm tất cả các hợp phần cần có để sản xuất một tổ hợp các cây trồng và mối quan hệ giữa chúng với môi trường, các hợp phần này bao gồm tất cả các yếu tố vật lý và sinh học cũng như kỹ thuật, lao động và quản lý

Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và tiến bộ khoa học, sự phân công trong nội bộ ngành Nông nghiệp ngày càng có sự thay đổi về tỷ lệ

và phát triển thêm nhiều nghề mới, xuất hiện nhiều phân hệ mang tính liên tục và không ngừng hoàn thiện, phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của xã hội về các sản phẩm nông nghiệp Quá trình sản xuất và tiêu dùng là 2 quá trình đan

Trang 27

nghiệp càng phát triển, phong phú và đa dạng thì càng đáp ứng đ−ợc nhu cầu tiêu dùng của xã hội ngày càng tăng Sự xuất hiện nhu cầu dùng mới ngày càng thúc đẩy, cải tiến cơ cấu sản xuất nông nghiệp, tạo ra nhiều sản phẩm mới Quan hệ này tuân theo nguyên lý phát triển, đ−ợc chuyển đổi từ thấp

đến cao, từ đơn giản đến phức tạp và ngày càng hoàn thiện hơn

Trang 28

* Phương thức canh tác và quần thể sinh vật với hệ thống cây trồng

Các biện pháp kỹ thuật như làm đất, tưới nước, bón phận, chăm sóc, cải tạo đất, trừ cỏ dại và sâu bệnh, chọn tạo ra giống cây trồng năng suất cao, luân canh thời vụ gieo trồng đều được coi là liên quan chặt chẽ đến hệ thống cây trồng Trong các hệ sinh thái nhân tạo, quần thể sinh vật sống là các thành phần như cỏ dại, thực vật bậc thấp, động vật nhỏ, côn trùng, vi sinh vật Các thành phần này có thể ảnh hưởng có lợi ít, nhiều hoặc có hại cho sự sống cây trồng Do đó khi bố trí hệ thống cây trồng cần chú ý đến các mối quan hệ này để hệ thống cây trồng đạt hiệu quả và kinh tế cao nhất ( Nguyễn

Vi, 1991) [49]

Các tiêu chuẩn cần có của hệ thống nông nghiệp là sự phối hợp giữa cây trồng và gia súc, phương pháp trồng trọt và chăn nuôi gia súc, cường độ lao động, vốn đầu tư, kiểu tổ chức sản xuất và tính chất hàng hoá, khả năng tiêu thụ của sản phẩm

Luân canh là biện pháp kỹ thuật nông nghiệp hoàn chỉnh có tổ chức để hoàn thành mục tiêu sản xuất nông nghiệp ở một vùng, tiểu vùng, khu vực nhất định dựa trên cơ sở lợi dụng tốt nhất các điều kiện tự nhiên và xã hội ở vùng đó Các chế độ canh tác khác nhau như thuỷ lợi, phân bón, nước, đất bảo vệ thực vật đều căn cứ vào loại giống cây trồng, trình tự luân phiên cây trồng trong hệ thống luân canh là cần xác định đúng chỗ đứng và khả năng thích nghi của các loại cây trồng

Mối quan hệ giữa các loại cây trồng trong luân canh là quan hệ cây trồng trước với cây trồng sau và ảnh hưởng của chúng trong một cơ cấu cây trồng ở vùng, tiểu vùng sinh thái Điều đó cho thấy trong bố trí cơ cấu cây trồng, việc xác định cây trồng trước và sau rất quan trọng, vừa đáp ứng được

Trang 29

trồng hoàn chỉnh hơn trong hệ thống luân canh

Cây trồng ở mỗi vùng có khả năng thích nghi dần với điều kiện ngoại cảnh và thường xuyên bị chi phối bởi các quy luật tự nhiên Điều kiện tự nhiên của từng tiểu vùng sinh thái đều có những nét đặc thù do đó khi đưa một loại cây trồng mới vào để thay đổi cơ cấu cây trồng và cải tiến hệ thống cây trồng cần phải chú ý đến tính chất này Bố trí cây trồng hoặc giống mới vào một địa bàn cụ thể thay cho một cơ cấu thích hợp để nhằm đạt được lợi ích kinh tế cao cần thoả mãn được nhu cầu sinh thái của nó

Như vậy theo quan điểm sinh thái cây trồng, không có loại cây nào có khả năng sử dụng hết tài nguyên thiên nhiên ở một vùng nông nghiệp Đó là nhận thức khoa học rất cơ bản khi đánh giá về tiềm năng của từng vùng và ngày càng được nhiều nhà khoa học nông nghiệp đi sâu nghiên cứu về hệ thống cây trồng Một trong những biện pháp kinh tế kỹ thuật nhằm tận dụng các nguồn lợi tự nhiên và kinh tế, xã hội là bố trí hệ thống cây trồng hợp lý cho một vùng hay một đơn vị sản xuất nông nghiệp Hệ thống cây trồng là thành phần cây trồng và các giống cây trồng được bố trí theo không gian và thời gian trong một cơ sở hay một vùng sản xuất Đào Thế Tuấn, 1984) [31] [45]

Hệ thống cây trồng là một trong những nội dung của hệ thống biện pháp kỹ thuật gọi là chế độ canh tác Hệ thống cây trồng là yếu tố cơ bản nhất của chế độ canh tác vì chính cây trồng quyết định nội dung của các biện pháp kỹ thuật khác ( Phùng Đăng Chinh, 1987) [6]

Trên cơ sở lý luận về hệ thống cây trồng và thực tế sản xuất nông nghiệp ở nước ta trong thời gian qua, Viện sĩ Đào Thế Tuấn đã nhận định: thời gian gần đây ngành trồng trọt nước ta chỉ mới được phát triển mạnh ở các vùng thuận lợi, còn đối với các vùng sinh thái khó khăn thì sự phát triển hoàn toàn không rõ rệt Việc phát triển trồng trọt trong thời gian tới cần phải

Trang 30

dựa vào '' hiệu ứng hệ thống'' bằng cách bố trí lại hệ thống cây trồng thích hợp với các điều kiện đất đai, khí hậu và các chế độ khác Phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp nhằm khai thác cao nhất các nguồn lợi tự nhiện, lao động và sử dụng có hiệu quả cao việc Đa dạng hoá cây trồng về loại, giống là một biện pháp nâng cao tính hiệu quả của hệ thống ( Đào Thế

Tuấn, 1997) [46]

2.2 Tình hình nghiên cứu về hệ thống cây trồng trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Trong thực tiễn sản xuất nông nghiệp lâu dài, ở những điều kiện sinh thái và xã hội khác nhau, ở nhiều nơi trên trái đất vào những thời điểm nhất

định của lịch sử đã hình thành những trung tâm cây trồng chủ yếu của nhân loại, bao gồm cả cây dại và cây trồng

Lịch sử nông nghiệp thế giới cũng chỉ rõ việc chuyển đổi sản xuất nông nghiệp từ trình độ tự cấp tự túc sang sản xuất nông nghiệp hàng hoá gắn liền với biến đổi sâu sắc hệ thống cây trồng

Từ cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ thứ 19, cuộc cách mạng hệ thống cây trồng được bắt đầu ở một số nước Tây Âu, chế độ độc canh trong sản xuất nông nghiệp được thay thế bằng các chế độ luân canh cây ngũ cốc và đồng

cỏ đồng thời sử dụng các loại cây họ đậu làm thức ăn gia súc kết hợp với nông cụ cải tiến và phân bón đã thực sự nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp (Phạm Chí Thành, 1996) [37] Các chế độ luân canh này đánh dấu một bước ngoặt trong quá trình phát triển nông nghiệp của Châu Âu Theo chế độ luân canh này, hệ thống cây trồng gồm một số cây chăm sóc giữa hàng như khoai tây, cây lấy củ, ngũ cốc, cỏ ba lá và ngũ cốc mùa hè Chế độ luân canh này cũng đồng thời với việc tăng cường các biện pháp kỹ thuật như

Trang 31

làm đất, bón phân Chính vì lẽ đó, năng suất ngũ cốc được tăng lên gấp 2 lần so với chế độ luân canh cũ và sản phẩm lương thực, thực phẩm được tăng lên gấp 4 lần trên cùng 1ha đất canh tác (như các loại cây có củ, quả được

đưa thêm vào hệ thống cây trồng và năng suất của chính cây ngũ cốc cũng

được tăng lên) Chế độ luân canh mới này đã tạo ra những điểm đột phá thắng lợi ở Anh, Bỉ, Hà Lan, Pháp và tiếp theo là các nước Châu Âu khác ( Bùi Huy Đáp, 1996) [14]

Theo tài liệu FAO (1986) dẫn theo (Đường Hồng Dật, 1993) [9]: Trong sản xuất nông nghiệp ở Mỹ có ba loại cây trồng chiếm vị trí chiến lược quan trọng hàng đầu là lúa mì (25 triệu ha), ngô (32 triệu ha) và đậu tương Năm 1924, diện tích đậu tương ở Mỹ là 40 vạn ha, năng suất 9 tạ/ha, nhưng

60 năm sau diện tích đậu tương đạt 28,5 triệu ha (tăng 70 lần), Sản lượng 57 triệu tấn

Từ những thập niên 60, các nhà sinh lý thực vật đã nhận thấy rằng không một loại cây trồng nào có thể sử dụng hoàn toàn triệt để tài nguyên thiên nhiên của mỗi vùng Các Viện nghiên cứu nông nghiệp trên thế giới hàng năm đã lai tạo, tuyển chọn ra nhiều loại giống cây trồng mới, đưa ra nhiều công thức luân canh, quy trình kỹ thuật tiến bộ, đề xuất cơ cấu cây trồng thích hợp cho từng vùng sinh thái nhằm tăng năng suất, sản lượng và giá trị sản lượng/đơn vị diện tích canh tác Viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI

đã góp nhiều thành tựu về cơ cấu giống lúa

ở Châu á các chế độ xen canh, gối vụ truyền thống cũng đã được chú

ý nghiên cứu và phát triển Năm 1960, Hàn Quốc, Đài Loan đã đạt chỉ số thâm canh tăng vụ 1,5 và 1,8 lần Cũng thời kỳ này, các nhà nghiên cứu của Viện lúa IRRI đã nhận thức rằng các giống lúa mới thấp cây, đứng lá, tiềm năng năng suất cao cũng chỉ có thể giải quyết vấn đề lương thực trong phạm

vi hạn chế Do đó từ những năm đầu của thập kỷ 70 họ đã đi sâu nghiên cứu

Trang 32

toàn bộ hệ thống cây trồng trên đất lúa theo hướng lấy lúa làm cây chủ đạo

và tăng cường phát triển các loại cây hoa mầu trồng cạn Các chế độ trồng xen, trồng gối, trồng nối tiếp ngày càng được chú ý nghiên cứu (Bùi Huy

Đáp, 1993 [13], [15] ở Châu á đã hình thành một ''mạng lưới hệ canh tác''

đó là một tổ chức hợp tác nghiên cứu giữa Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) và nhiều quốc gia trong vùng Hệ thống cây trồng trong mạng lưới này rất đa dạng và phong phú với một số mục tiêu rất cụ thể như:

- Thử nghiệm tăng vụ bằng các cây trồng mới ngắn ngày để thu hoạch trước mùa mưa lũ hoặc xen canh, luân canh tăng vụ

- Xác định hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh và khắc phục các yếu tố hạn chế để đạt được hiệu quả cao

Tổ chức FAO (1990) dẫn đã thông báo có tới 117 quốc gia trên toàn thế giới ứng dụng phương án chuyển hướng từ sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp thuần tuý sang nông - lâm kết hợp ở những vùng đồi núi và coi đây là bước tiến quan trọng trong cách mạng cây trồng Chương trình nghiên cứu nông nghiệp phối hợp toàn ấn Độ 1960 - 1972 lấy hệ thâm canh tăng vụ chu

kỳ 1 năm làm hướng chiến lược phát triển sản xuất nông nghiệp đã kết luận: ''

Hệ canh tác dành ưu tiên cho cây lương thực, chu kỳ 1 năm 2 vụ ngũ cốc (2

vụ lúa nước, hoặc 1 vụ lúa nước và 1 vụ lúa mỳ) đưa thêm vào một vụ trồng cây họ đậu'', Điều này đã giải quyết được các vấn đề chính là khai thác tối ưu tài nguyên của đất đai, góp phần ảnh hưởng tích cực đến độ phì nhiêu của đất trồng và đảm bảo lợi ích của người nông dân dẫn theo (Hoàng Văn Đức, 1992) [17]

Nhật Bản là một nước có điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Do đó các nhà khoa học nông nghiệp Nhật Bản đã tập trung nghiên cứu và đề ra các chính sách quan trọng, xây dựng những chương

Trang 33

trường nông sản và đẩy mạnh công tác khuyến nông, nhằm đảm bảo an ninh,

an toàn lương thực và thực hiện một số giải pháp về kỹ thuật, cải cách nông thôn… nhờ vậy đến nay Nhật Bản đã trở thành một quốc gia có nền công nghiệp nông nghiệp (nền nông nghiệp hiện đại) hàng đầu của thế giới (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, 1996)[31]

Các nhà khoa học Nhật Bản đã hệ thống hoá 4 tiêu chuẩn của hệ thống cây trồng là sự phối hợp giữa cây trồng và vật nuôi, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi gia súc, cường độ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất và sản phẩm làm ra, tính chất hàng hoá của sản phẩm (Nguyễn Duy Tính, 1995)[27]

Đài Loan là một nước có diện tích đất sản xuất nông nghiệp rất thấp, nhưng do cải tiến các biện pháp kỹ thuật, thực hiện các chính sách khuyến khích nên đã tạo cho nông nghiệp có những bước phát triển vượt bậc, không những cung cấp dồi dào lương thực mà còn chuyển vốn cho các ngành khác,

đóng góp rất lớn cho công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá và thúc đẩy nền kinh tế quốc dân phát triển Đài Loan thực hiện rộng rãi và áp dụng kinh doanh cần nhiều sức lao động và kỹ thuật vi sinh để nâng cao sản lượng cây trồng, nâng cao khả năng canh tác của đất đai, nhập thêm nhiều giống cây trồng mới có giá trị kinh tế cao Những biện pháp đó đã giúp Đài Loan chuyển sang nền nông nghiệp hàng hoá và xuất khẩu nhiều nông sản; đồng thời có

điều kiện đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp ở một số nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Đài Loan đã thành công trong việc nghiên cứu cây màu chịu bóng để trồng xen trong mía Các giống cây màu chịu hạn trồng vào mùa khô để tăng vụ sau khi thu hoạch lúa mùa Để phát triển nông nghiệp nông thôn, Đài Loan đã tiến hành cải cách ruộng đất, cải tiến kỹ thuật, phát triển nông nghiệp, thúc đẩy kiến thiết nông thôn Cơ cấu sản xuất nông nghiệp cũng chuyển dịch theo hướng phù hợp với yêu cầu của công nghiệp hoá, giảm

Trang 34

tỷ trọng sản lượng trồng trọt từ 71,9% (năm 1952) xuống 47,1% (năm 1981), tăng giá trị sản lượng công nghiệp từ 15,6% lên 19,5% [32]

Từ những mối liên hệ giữa cây trồng với môi trường và quản lý nông nghiệp đã đề ra phương pháp nghiên cứu hệ thống công thức luân canh cây trồng mới với hệ canh tác đơn giản để thay thế hệ thống canh tác cũ, nhằm khắc phục tình trạng mất cân bằng sinh học, có tiềm lực về mặt kinh tế, có khả năng thoả mãn những nhu cầu của con người mà không bóc lột đất đai, ô nhiễm môi trường Nông nghiệp bền vững, sử dụng những đặc điểm của cảnh quan và cấu trúc, sử dụng diện tích một cách ít nhất

Một số nhà khoa học nông nghiệp cho rằng, quá trình phát triển của hệ thống cây trồng là sự phát triển đồng ruộng đi từ đất cao đến đất thấp Có nghĩa là hệ thống cây trồng đã phát triển trên hệ thống đất cao trước, sau đó mới đến đất thấp, đây là quá trình hình thành của hệ sinh thái đồng ruộng

Chương trình nghiên cứu phối hợp toàn ấn Độ từ năm 1960 - 1972 đã lấy hệ thống thâm canh tăng vụ chu kỳ một năm làm hướng chiến lược phát triển sản xuất nông nghiệp và đã rút ra kết luận: hệ canh tác ưu tiên cho cây lương thực chu kỳ 1 năm, 2 vụ ngũ cốc và 1 vụ đậu đỗ đã đáp ứng được 3 mục tiêu là khai thác tối ưu tiềm năng đất đai, nâng cao độ phì của đất và

đảm bảo lợi ích của người nông dân Việc phát triển nhiều giống cây trồng cùng với việc bố trí lại cơ cấu cây trồng hợp lý đã đưa ấn Độ từ một nước thường xuyên thiếu lương thực trở thành một nước đủ ăn và có dư thừa để xuất khẩu

Cũng ở ấn Độ các nhà khoa học đã đề cập đến cơ cấu luân canh cây trồng hợp lý phụ thuộc vào điều kiện canh tác, các chính sách và giá cả nông sản hàng hoá Do đó, hàng loạt các công thức luân canh cho các vùng, tiểu vùng sinh thái

được khảo nghiệm, triển khai trên diện rộng đã cho năng suất cao

Trang 35

ở những khu vực đồng bằng, nông dân Châu á đã sử dụng nhiều hệ canh tác khác nhau, bao gồm các loại cây trồng khác nhau (lúa, ngô, đậu, đỗ, khoai ) Nhìn chung các hệ thống cây trồng có chế độ luân canh giữa cây trồng nước và cây trồng cạn, giữa cây lương thực và cây họ đậu, hoặc luân canh giữa không gian và thời gian cũng được nhiều nhà nghiên cứu để cập

đến và có những kết luận xác đáng

Vấn đề hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh trên đất lúa cũng

được nhiều nhà khoa học quan tâm Đó là cơ cấu luân canh cây trồng hợp lý, phụ thuộc vào điều kiện canh tác và giá cả nông sản hàng hoá trên thị trường

Từ năm 1975 đã hình thành mạng lưới nghiên cứu hệ thống cây trồng với 4 nước thành viên, đến thập kỷ 80 đã mở rộng phạm vi đến 16 nước và đã

tổ chức hội nghị ở Thái Lan vào năm 1981 Các nhà khoa học của các nước thành viên đã thống nhất một số giải pháp trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng như sau:

- Tăng vụ lúa ngắn ngày, thu hoạch trước mùa lũ

- Thử nghiệm tăng vụ cây màu bằng các cây trồng mới, xen canh, luân canh, thâm canh, tăng vụ…

- Xác định hiệu quả của các công thức luân canh, tìm và khắc phục các yếu tố hạn chế để phát triển công thức đạt hiệu quả cao

ở Thái Lan, công thức độc canh lúa xuân - lúa mùa hiệu quả kinh tế thấp và chi phí thuỷ lợi quá lớn, hơn nữa do độc canh lúa đã làm giảm độ phì của đất Vì vậy, họ đã chuyển sang sản xuất theo công thức luân canh đậu tương - lúa mùa, hiệu quả kinh tế tăng gấp đôi, đồng thời độ phì đất cũng tăng lên rõ rệt (Nguyễn Duy Tính, 1995)[28]

Mô hình sử dụng đất dốc hợp lý của Thái Lan bằng cách trồng cây họ

đậu thành băng theo đường đồng mức để chống xói mòn, tăng độ phì cho đất

Trang 36

và đem lại hiệu quả kinh tế cao Hệ thống cây trồng kết hợp trồng xen cây họ

đậu với cây lương thực trên đất dốc đã làm tăng năng suất cây trồng, tăng

được chất xanh tại chỗ, tăng nguồn vi sinh vật có ích trong đất Bình quân lương thực của Thái Lan trong 10 năm (1977 - 1987) đã tăng 3%, trong đó lúa gạo tăng 2,4%, ngô tăng 6,1%, ngoài ra các cây trồng có giá trị kinh tế cao như dừa, cao su, cà phê, chè cũng được chú ý phát triển… nhờ sản xuất nông nghiệp theo hướng đa cây trồng, đa thời vụ gắn với thị trường nên giá trị nông sản đã chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu

ở Trung Quốc, hệ thống cây trồng phổ biến là 2 vụ lúa và một vụ lúa mì, hoặc đậu Hà Lan, khoai tây trên các vùng đất một vụ lúa thì hệ thống cây trồng là một vụ lúa + một vụ cây trồng cạn dẫn theo (Bùi Thị Xô, 1994) [50]

Các kết quả nghiên cứu ở nhiều nơi trên thế giới dẫn theo ( Đinh Xuân

Đức, 1996) [8] cho thấy việc lựa chọn hệ thống cây trồng ở các vùng đất dốc,

đồi núi theo các nguyên tắc sau:

- Cây trồng năm đầu là những loại cây đòi hỏi nhiều chất dinh dưỡng như ngũ cốc rồi sau đó là các loại cây cần ít dinh dưỡng và dễ tính như sắn, khoai lang

- Trồng những loại cây hiệu quả ít hơn, nhưng có tác dụng như một dạng tái sinh thực vật Ví dụ: sử dụng công thức luân canh : ngũ cốc - sắn - mã đề Những cây trồng ít hiệu quả hơn thường là những cây lâu năm, nên mục đích chính là được dùng để thực hiện chu trình cải tạo đất

- Tuỳ theo độ dốc ở vùng sản xuất mà bố trí cây trồng và áp dụng biện pháp canh tác thích hợp Đất dốc dưới 200C, được trồng cây hàng năm với biện pháp chống xói mòn như đắp bờ, trồng cây theo đường đồng mức, trồng băng các loại cây xanh hay cỏ lâu năm Đất dốc trên 20 0C thường trồng cây lâu năm, cây ăn quả ( Phùng Đăng Chinh, 1987) [6]

Trang 37

Một số nước ở khu vực Đông nam á đã có nhiều công trình nghiên cứu về hệ thống nông nghiệp, cơ cấu cây trồng, kết quả nghiên cứu đã góp phần nâng cao năng suất, sản lượng và giá trị sản xuất của cây trồng ở Philippin đã tiến hành nghiên cứu hệ thống cây trồng trên các loại đất cao và thấp trong điều kiện có tưới và nhờ nước trời Còn Indonesia đã thử nghiệm các mô hình tăng vụ và đa dạng hoá cây trồng trên các loại đất có tưới 10 tháng, 7 tháng và 5 tháng Những mô hình thử nghiệm có 3 vụ lúa, 2 vụ lúa, 2

vụ lúa - 1 vụ màu, 1 vụ lúa - 1 vụ màu đã được áp dụng và nhân ra diện rộng, các cây màu chủ yếu là cây họ đậu, các loại rau, ngô

Xây dựng hệ thống canh tác kết hợp một biến dạng của hệ canh tác nhiều loài khác nhau trên cùng một lô đất Lợi ích của việc trồng kết hợp là làm tăng hiệu quả của sử dụng đất, nước, ánh sáng, dinh dưỡng đất, phân bón tạo điều kiện sinh thái tốt cho cây trồng sinh trưởng, phát triển và hạn chế bị sâu bệnh phá hại ở đây còn áp dụng phương pháp “cây trồng đồng hành” trong việc trồng xen để giảm sâu bệnh, như trồng hành xen với bắp cải, mùi của cây hành toả ra đã làm hạn chế côn trùng xuất hiện gây hại bắp cải

Hiện nay, xu hướng trong nghiên cứu của các nhà khoa học nông nghiệp

là tập trung nghiên cứu cải tiến hệ thống cây trồng trên các vùng đất bằng cách

đưa thêm một số loại cây trồng mới vào hệ canh tác nhằm tăng sản lượng nông sản/1 đơn vị diện tích canh tác/1 năm Cải tiến cơ cấu cây trồng theo hướng kết hợp hiệu quả kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường nhằm xây dựng nền nông nghiệp sinh thái phát triển bền vững (Nguyễn Duy Tính, 1995)[28]

Chương trình SALT (Sloping Agricultural Land Technology) của Philippin đã khảo nghiệm thành công hệ thống cây trồng và biện pháp canh tác cụ thể là: Các cây hàng năm và cây lâu năm được trồng thành băng xen kẽ nhau rộng 4 -5 m, các loại cây họ đậu có khả năng cố định

đạm được trồng thành 2 hàng rào này cao lên trên 1,5m, người ta đốn gốc

Trang 38

cách mặt đất cỡ 40 cm, cành lá được dùng rải lên băng che phủ ẩm và chống xói mòn Cây lâu năm thường là cà phê, cao su, cam Hệ số kinh tế thu nhập

từ hệ thống cấy trồng này cao hơn 3 lần so với hệ thống độc canh cổ truyền Mô hình này cũng được áp dụng ở Nigeria - gọi là canh tác theo băng (Lê Duy Thước, 1994) [41]

Rất nhiều kết quả nghiên cứu ở các nước Châu á - Thái Bình Dương

đã đi đến kết luận: Trên đất dốc của các vùng đồi núi, nếu phải sử dụng vào mục đích sản xuất lương thực thì nên trồng các loại cây có củ như sắn, khoai lang, khoai sọ Các loại cây này không đòi hỏi phải đầu tư cao và phần lớn

đều có thể chịu được xói mòn, hạn hán và cỏ dại hơn các loại cây ngũ cốc khác Đồng thời kết hợp trồng các cây họ đậu theo băng, đường đồng mức để chống xói mòn và tăng độ mỡ cho đất Hệ thống trồng xen cây họ đậu và cây lương thực đã làm tăng năng suất cây trồng, và tăng nguồn chất xanh tại chỗ,

đa dạng hoá các sản phẩm nông nghiệp, góp phần tăng thu nhập cho nông dân ( Bùi Huy Đáp, 1993) [13]

Gần đây các chương trình đầu tư cho nghiên cứu nông nghiệp của Liên Hợp Quốc đang ứng dụng chế độ canh tác cạn hợp lý ( dry farming) ở các loại hình đất dốc đồi núi theo hệ thống nông - lâm kết hợp Theo hướng này việc trồng cây rừng - cây nông nghiệp và phát triển chăn nuôi ở cùng một vùng đồi phù hợp với điều kiện sinh thái đã đạt được những hiệu quả kinh tế nhất định và cho áp dụng ở diện

Năm 1977, hội đồng quốc tế về nông - lâm kết hợp ( ICRAF) đã được thành lập nhằm tập trung nghiên cứu các hệ thống cây trồng theo phương thức nông lâm ở các vùng đồi có điều kiện sinh thái khó khăn Chương trình

được đánh giá có hiệu quả cao ở các nước Thái Lan, Lào, Nêpan, Banglađét (Lê Duy Thước, 1994) [41]

Trang 39

Theo B.T Kang và Rvan Deleldt khi nghiên cứu hệ thống nông - lâm kết hợp với việc ổn định sản lượng cây trồng ở các vùng Nhiệt Đới với sự tham khảo quá trình sản xuất ở các nước Châu Phi, đã cho rằng việc bổ sung cây Leucoea Leucocephala và Gliricidia sepium đã làm tăng sản lượng ngô lên cao một cách đáng kể ngay có đầu tư hoặc không đầu tư bón đạm

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Nền nông nghiệp nước ta từ những thời kỳ xa xưa cũng đã có một hệ thống cây trồng khá phong phú và được phát sinh từ rất sớm với lịch sử dân tộc Cùng với lúa nước là loại cây lương thực chủ yếu, trong cơ cấy cây trồng

đã có thêm rất nhiều loại cây khác, bao gồm cả cây nhiệt đới, á nhiệt đới và một số rau ôn đới Những giống cây trồng di thực từ phương Bắc xuống hoặc

từ phương Nam lên, đặc biệt là từ khi chủ nghĩa tư bản Châu Âu bắt đầu bành trướng và xâm lược vào các nước phương Đông, thì số lượng các loại cây trồng mới từ các lục địa khác đem vào nước ta ngày càng nhiều và đã làm cho hệ thống cây trồng ở một số vùng thay đổi đáng kể ( Bùi Huy đáp, 1996) [5]

Lịch sử đã ghi lại, từ thời Hùng Vương dân ta đã di chuyển từ vùng gò

đồi xuống vùng đồng bằng, ven biển để khai hoang xây dựng đồng ruộng sản xuất nông nghiệp và hình thành nên các thôn, bản Trong cuốn “Vân đài loại ngữ”, tác giả Lê Quý Đôn - một học giả nổi tiếng của Việt Nam đã ghi chép nhiều về giống lúa tẻ, lúa nếp mà dân ta thường gieo cấy từ thời tiền Lê (980

Trang 40

sản xuất, quy hoạch sử dụng đất lâu bền

Dưới thời thuộc Pháp (1867 - 1945), nhiều giống cây trồng mới đã

được tuyển chọn trong nước hoặc du nhập từ nước ngoài vào sản xuất trong nước ở các đồn điền như cà phê, cam, quýt, chè…, đặc bệt là cao su; cây cao

su đã được trồng với quy mô rộng lớn và được mở rộng ra đến tận Thanh Hoá Tuy nhiên, dù thời nào đi nữa thì ở nước ta cây lúa nước vẫn là cây trồng chính Năm 1880, Việt Nam đã xuất khẩu 300.000 tấn gạo cho các nước thuộc địa của Pháp

Do yêu cầu của việc tăng năng suất, sản lượng cây trồng để đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm của con người nên các nghiên cứu về trồng xen, trồng gối, luân canh, tăng vụ đã được nghiên cứu từ rất sớm và việc nghiên cứu

hệ thống nông nghiệp được bắt đầu từ nghiên cứu cơ cấu cây trồng

Trong nghiên cứu về hệ thống canh tác phải được bắt đầu bằng công tác kiểm kê các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, đánh giá được hệ canh tác truyền thống Việc cải tiến những hệ thống canh tác của nông dân

đang được các nhà khoa học nông nghiệp nước ta quan tâm nghiên cứu và bước đầu đạt được nhiều kết quả tốt

Công tác nghiên cứu về hệ thống cây trồng mới ở nước ta đã được các nhà khoa học thực sự chú ý vào đầu những năm 1960

Tác giả Bùi Huy Đáp (1979)[4] khi nghiên cứu cơ cấu cây trồng trên

đất canh tác chủ yếu nhờ nước trời ở miền Bắc đã đề xuất cơ cấu cây trồng là

2 vụ màu đông và xuân rồi sản xuất lúa tiếp chân, trong vụ xuân trồng các loại cây màu có thời gian sinh trưởng dài, ngắn khác nhau tuỳ theo trồng lúa mùa sớm hay mùa chính vụ Đây là chế độ canh tác có thể sử dụng triệt để tiềm năng của các loại đất cao hạn cấy 1 vụ lúa mùa trờ nước trời Trên chân

đất chuyên màu của vùng đất bãi ven sông, hệ thống cây trồng đem lại hiệu

Ngày đăng: 08/08/2013, 22:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ ánh, Bùi Đình Dinh (1992), Đất phân bón, cây trồng, Tạp chí khoa học đất, số 2, trang 35, 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất phân bón, cây trồ
Tác giả: Đỗ ánh, Bùi Đình Dinh
Năm: 1992
2. Lê Hữu Cần (1998), “Nghiên cứu cơ sở khoa học của sự hình thành hệ thống cây trồng mới ở các huyện vùng ven biển Thanh Hoá, Luận án TS khoa học nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu cơ sở khoa học của sự hình thành hệ thống cây trồng mới ở các huyện vùng ven biển Thanh Ho
Tác giả: Lê Hữu Cần
Năm: 1998
3. Phạm Văn Cầu (2000), Cơ cấu cây trồng ở Diễn Châu - Nghệ An,. Luận án tiến sỹ Nông nghiệp Tr−ờng ĐHNNI – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Cơ cấu cây trồng ở Diễn Châu - Nghệ An
Tác giả: Phạm Văn Cầu
Năm: 2000
4. Phạm Văn Chiêu (1964), Thâm canh tăng năng suất trong sản xuất nông nghiệp ở miền núi, Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp số, trang 198 - 200 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thâm canh tăng năng suất trong sản xuất nông nghiệp ở miền núi
Tác giả: Phạm Văn Chiêu
Năm: 1964
5. Tôn Thất Chiểu, Lê Thái Bạt (1993), Sử dụng tốt tài nguyên đất để phát triển và bảo vệ môi trường, Tạo chí khoa học đất, số 3 1993 trang 68 - 73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng tốt tài nguyên đất để phát triển và bảo vệ môi tr−ờng
Tác giả: Tôn Thất Chiểu, Lê Thái Bạt
Năm: 1993
6. Phùng Đăng Chính, Lý Nhạc - 1987, “Canh tác học”, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Canh tác học”
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
7. Lê Trọng Cúc (1996), Nghiên cứu sinh thái nhân văn và quản lý bền vững các hệ sinh thái miền núi Việt Nam. Hội thảo sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi tr−ờng, NXB Nông nghiệp, 21 - 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sinh thái nhân văn và quản lý bền vững các hệ sinh thái miền núi Việt Nam
Tác giả: Lê Trọng Cúc
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
8. Ngô Thế Dân, Trần An Phong (1993), Khai thác và giữ gìn đất tốt vùng trung du, miÒn nói n−íc ta, NXB NN, trang 5 -15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Khai thác và giữ gìn đất tốt vùng trung du, miÒn nói n−íc ta
Tác giả: Ngô Thế Dân, Trần An Phong
Nhà XB: NXB NN
Năm: 1993
9. Đ−ờng Hồng Dật (1993), Khoa học công nghệ và sự phát triển bền vững nền kinh tế hàng hoá ở các vùng miền núi, dân tộc NXB Nông nghiệp, 126 - 130 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học công nghệ và sự phát triển bền vững nền kinh tế hàng hoá ở các vùng miền núi, dân tộc
Tác giả: Đ−ờng Hồng Dật
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1993
10. Đ−ờng Hồng Dật (1996), “Một số suy nghĩ về phát triển nông nghiệp và nông thôn hiện nay”, Tạp chí nghiên cứu kinh tế, tháng 6 trang 43 - 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số suy nghĩ về phát triển nông nghiệp và nông thôn hiện nay”
Tác giả: Đ−ờng Hồng Dật
Năm: 1996
12. Bùi Huy Đáp (1987), Khả năng phát triển nông nghiệp ở vùng cao miền núi Bắc Bộ, Tạp chí KHKTNN, số 8 trang 3- 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng phát triển nông nghiệp ở vùng cao miền núi Bắc Bộ
Tác giả: Bùi Huy Đáp
Năm: 1987
13. Bùi Huy Đáp (1993), Về cơ cấu nông nghiệp Việt Nam, NXB nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về cơ cấu nông nghiệp Việt Na
Tác giả: Bùi Huy Đáp
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 1993
14. Hoàng Văn Đức (1992), Hội thảo về nghiên cứu và phát triển hệ canh tác cho nông dân trồng lúa Châu á, NXB nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Hội thảo về nghiên cứu và phát triển hệ canh tác cho nông dân trồng lúa Châu á
Tác giả: Hoàng Văn Đức
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 1992
15. Đinh Xuân Đức (1996), hiệu quả của một số cây trồng xen giữa cây ngắn ngày và cây dài ngày trên đất đồi khu vực Trị - Thiên Huế. Luận án thạc sĩ nông nghiệp, Tr−ờng Đại học nông nghiệp I – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: hiệu quả của một số cây trồng xen giữa cây ngắn ngày và cây dài ngày trên đất đồi khu vực Trị - Thiên Huế
Tác giả: Đinh Xuân Đức
Năm: 1996
16. Cao Liêm và CTV (1996), Sinh thái học nông nghiệp và bảo vệ môi tr−ờng, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái học nông nghiệp và bảo vệ môi tr−ờn
Tác giả: Cao Liêm và CTV
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
17. Odum. E.D (1979), Cơ sở sinh thái học, NXB đại học và giao dục chuyên nghiệp, trang 40 - 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh thái học
Tác giả: Odum. E.D
Nhà XB: NXB đại học và giao dục chuyên nghiệp
Năm: 1979
18. Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên (1993), Hiệu quả một số biện pháp canh tác và bón phân để bảo vệ đất và năng suất cây trồng trên đồi thoái hoá.Báo cáo tại tiểu ban trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và CNTP, tháng 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả một số biện pháp canh tác và bón phân để bảo vệ đất và năng suất cây trồng trên đồi thoái hoá
Tác giả: Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên
Năm: 1993
19. Phạm Chí Thành, Trần Văn Diễn (1993), Hệ thống nông nghiệp, NXB nông nghiệp, 7 - 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống nông nghiệp
Tác giả: Phạm Chí Thành, Trần Văn Diễn
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 1993
20. Phạm Chí Thành và CTV(1996), Hệ thống nông nghiệp, NXB nông nghiệp, 7 - 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Hệ thống nông nghiệp
Tác giả: Phạm Chí Thành và CTV
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 1996
22. Lê Duy Thước (1991), Về khí hậu, đất đai và vấn đề bố trí cây trồng ở miền Bắc Việt Nam, Tạp chí khoa học số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Về khí hậu, đất đai và vấn đề bố trí cây trồng ở miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Lê Duy Thước
Năm: 1991

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Tình hình sử dụng đất đai của huyện Đông Sơn (năm 2005) - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng trọt góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng có hiệu quả kinh tế cao ở huyện đông sơn   tỉnh thanh hoá
Bảng 4.1. Tình hình sử dụng đất đai của huyện Đông Sơn (năm 2005) (Trang 58)
Bảng 4.2. Tình hình phát triển dân số của huyện qua các năm   (2001-2005) - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng trọt góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng có hiệu quả kinh tế cao ở huyện đông sơn   tỉnh thanh hoá
Bảng 4.2. Tình hình phát triển dân số của huyện qua các năm (2001-2005) (Trang 61)
Bảng 4.3. Một số chỉ tiêu kinh tế của huyện Đông Sơn qua các năm - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng trọt góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng có hiệu quả kinh tế cao ở huyện đông sơn   tỉnh thanh hoá
Bảng 4.3. Một số chỉ tiêu kinh tế của huyện Đông Sơn qua các năm (Trang 62)
Bảng 4.4. Một số chỉ tiêu khí t−ợng huyện Đông Sơn từ năm 2000-2005. - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng trọt góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng có hiệu quả kinh tế cao ở huyện đông sơn   tỉnh thanh hoá
Bảng 4.4. Một số chỉ tiêu khí t−ợng huyện Đông Sơn từ năm 2000-2005 (Trang 64)
Hình 4.1. Diễn biến một số yếu tố khí hậu từ năm 2000-2005   ở huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng trọt góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng có hiệu quả kinh tế cao ở huyện đông sơn   tỉnh thanh hoá
Hình 4.1. Diễn biến một số yếu tố khí hậu từ năm 2000-2005 ở huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá (Trang 65)
Bảng 4.6. Phân loại đất theo độ cao của địa hình và sử dụng (năm 2005) - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng trọt góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng có hiệu quả kinh tế cao ở huyện đông sơn   tỉnh thanh hoá
Bảng 4.6. Phân loại đất theo độ cao của địa hình và sử dụng (năm 2005) (Trang 68)
Bảng 4.5. Các loại đất chính của huyện Đông Sơn (năm 2005) - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng trọt góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng có hiệu quả kinh tế cao ở huyện đông sơn   tỉnh thanh hoá
Bảng 4.5. Các loại đất chính của huyện Đông Sơn (năm 2005) (Trang 68)
Bảng 4.7. Cơ cấu diện tích, năng suất của một số loại cây trồng qua các năm (2000-2005) - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng trọt góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng có hiệu quả kinh tế cao ở huyện đông sơn   tỉnh thanh hoá
Bảng 4.7. Cơ cấu diện tích, năng suất của một số loại cây trồng qua các năm (2000-2005) (Trang 73)
Bảng 4.8. Hiệu quả kinh tế của hệ thống canh tác cây lúa n−ớc   tÝnh cho 1 ha (n¨m 2005) - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng trọt góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng có hiệu quả kinh tế cao ở huyện đông sơn   tỉnh thanh hoá
Bảng 4.8. Hiệu quả kinh tế của hệ thống canh tác cây lúa n−ớc tÝnh cho 1 ha (n¨m 2005) (Trang 76)
Bảng 4.9. Hiệu quả kinh tế của hệ thống canh tác cây ngô (năm 2005) - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng trọt góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng có hiệu quả kinh tế cao ở huyện đông sơn   tỉnh thanh hoá
Bảng 4.9. Hiệu quả kinh tế của hệ thống canh tác cây ngô (năm 2005) (Trang 77)
Bảng 4.10. Hiệu quả kinh tế của hệ thống   canh tác cây đậu t−ơng (năm 2005) - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng trọt góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng có hiệu quả kinh tế cao ở huyện đông sơn   tỉnh thanh hoá
Bảng 4.10. Hiệu quả kinh tế của hệ thống canh tác cây đậu t−ơng (năm 2005) (Trang 78)
Bảng 4.11. Hiệu quả kinh tế của hệ thống canh tác cây lạc (năm 2005) - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng trọt góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng có hiệu quả kinh tế cao ở huyện đông sơn   tỉnh thanh hoá
Bảng 4.11. Hiệu quả kinh tế của hệ thống canh tác cây lạc (năm 2005) (Trang 79)
Bảng 4.12. Năng suất cây trồng ở các công thức luân canh   trên quỹ đất cao, vàn cao ở huyện Đông sơn (năm 2005) - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng trọt góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng có hiệu quả kinh tế cao ở huyện đông sơn   tỉnh thanh hoá
Bảng 4.12. Năng suất cây trồng ở các công thức luân canh trên quỹ đất cao, vàn cao ở huyện Đông sơn (năm 2005) (Trang 81)
Bảng 4.13. Hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh   trên đất cao, vàn cao ở huyện Đông Sơn (năm 2005) - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng trọt góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng có hiệu quả kinh tế cao ở huyện đông sơn   tỉnh thanh hoá
Bảng 4.13. Hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh trên đất cao, vàn cao ở huyện Đông Sơn (năm 2005) (Trang 82)
Bảng 4.16. Chỉ số đa dạng ở các công thức luân canh   trên đất cao, vàn cao ở Huyện Đông sơn (năm 2005) - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng trọt góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng có hiệu quả kinh tế cao ở huyện đông sơn   tỉnh thanh hoá
Bảng 4.16. Chỉ số đa dạng ở các công thức luân canh trên đất cao, vàn cao ở Huyện Đông sơn (năm 2005) (Trang 86)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w