1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu thực trạng quản lý nhà nước đối với báo chí ở tỉnh kiên giang

24 175 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 147,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Sau hơn 25 năm đổi mới, cùng với kinh tế, nền báo chí cách mạng Việt Nam đã không ngừng phát triển và đạt được những thành tựu quan trọng. Báo chí đã bám sát đời sống xã hội, cung cấp những thông tin đa chiều, sâu sắc; tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước hiệu quả. Vai trò của báo chí ngày càng nâng cao trong đời sống xã hội, đặc biệt là trong quá trình đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí. Trước tình hình đó, ngày 17101997, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ban hành Chỉ thị 22CTTW về việc tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản. Đây chính là động lực để kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa X thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí ngày 1261999. Điều này cho thấy, Nhà nước ta đã thể hiện sự cố gắng trong quá trình quản lý hoạt động báo chí phù hợp với điều kiện, tình hình mới. Tuy nhiên, khi mà sự phát triển không đi cùng với việc nâng cao năng lực quản lý phù hợp đã làm cho hoạt động báo chí bộc lộ nhiều bất cập, thiếu ổn định. Đó chính là xu hướng thương mại hóa, xa rời tôn chỉ mục đích, đối tượng phục vụ; làm lộ bí mật, an ninh quốc gia; nhiều tờ báo chạy theo thị hiếu tầm thường, đăng bài ảnh dung tục, thiếu văn hóa, đi ngược lại thuần phong mỹ tục; nhiều địa phương vì lý do này hoặc lý do khác đã gây cản trở hoạt động của phóng viên, cung cấp thông tin sai lệch v.v... Trong khi đó, dưới góc độ Nhà nước thì các công cụ quản lý về báo chí mà chủ yếu là pháp luật chưa hoàn thiện, không phù hợp với thực tiễn phát triển sinh động trong lĩnh vực báo chí thời gian gần đây. Tất cả đã đặt ra nhu cầu cần phải có những giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước cả về phương diện pháp lý lẫn thực tiễn. Chính từ bức xúc như vậy mà tác giả đã tiến hành chọn đề tài “Tìm hiểu thực trạng quản lý Nhà nước đối với báo chí ở tỉnh Kiên Giang ” để làm tiểu luận môn học 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Đây là một lĩnh vực tương đối mới có rất ít đề tài liên quan nghiên cứu đến vấn đề này.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau hơn 25 năm đổi mới, cùng với kinh tế, nền báo chí cách mạng Việt Nam

đã không ngừng phát triển và đạt được những thành tựu quan trọng Báo chí đã bámsát đời sống xã hội, cung cấp những thông tin đa chiều, sâu sắc; tuyên truyền chủtrương, chính sách của Đảng và Nhà nước hiệu quả Vai trò của báo chí ngày càngnâng cao trong đời sống xã hội, đặc biệt là trong quá trình đấu tranh chống thamnhũng, quan liêu, lãng phí Trước tình hình đó, ngày 17-10-1997, Bộ Chính trị BanChấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ban hành Chỉ thị 22-CT/TW về việc tiếptục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản Đâychính là động lực để kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa X thông qua Luật sửa đổi, bổsung một số điều của Luật Báo chí ngày 12-6-1999 Điều này cho thấy, Nhà nước ta

đã thể hiện sự cố gắng trong quá trình quản lý hoạt động báo chí phù hợp với điềukiện, tình hình mới

Tuy nhiên, khi mà sự phát triển không đi cùng với việc nâng cao năng lựcquản lý phù hợp đã làm cho hoạt động báo chí bộc lộ nhiều bất cập, thiếu ổn định

Đó chính là xu hướng thương mại hóa, xa rời tôn chỉ mục đích, đối tượng phục vụ;làm lộ bí mật, an ninh quốc gia; nhiều tờ báo chạy theo thị hiếu tầm thường, đăngbài ảnh dung tục, thiếu văn hóa, đi ngược lại thuần phong mỹ tục; nhiều địa phương

vì lý do này hoặc lý do khác đã gây cản trở hoạt động của phóng viên, cung cấpthông tin sai lệch v.v Trong khi đó, dưới góc độ Nhà nước thì các công cụ quản lý

về báo chí mà chủ yếu là pháp luật chưa hoàn thiện, không phù hợp với thực tiễnphát triển sinh động trong lĩnh vực báo chí thời gian gần đây

Tất cả đã đặt ra nhu cầu cần phải có những giải pháp hữu hiệu để nâng caohiệu quả quản lý Nhà nước cả về phương diện pháp lý lẫn thực tiễn Chính từ bức

xúc như vậy mà tác giả đã tiến hành chọn đề tài “Tìm hiểu thực trạng quản lý Nhà nước đối với báo chí ở tỉnh Kiên Giang ” để làm tiểu luận môn học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đây là một lĩnh vực tương đối mới có rất ít đề tài liên quan nghiên cứu đếnvấn đề này

Trang 2

+ PGS.TS Lê Thanh Bình, ThS.Phí Thị Thanh Tâm: Quản lý Nhà nước và pháp luật về báo chí (sách chuyên khảo dành cho học viên ngành báo chí truyền

thông) - NXB Văn Hóa Thông Tin, 2009

+ TS.Lê Minh Toàn (chủ biên): Quản lý Nhà nước về thông tin và truyền thông (sách chuyên khảo dành cho cán bộ, viên chức, học viên, sinh viên) - NXB

Chính Trị Quốc Gia, 2009

Trên thực tế, nguồn tài liệu tham khảo, các sách khảo cứu chuyên đề về quản

lý báo chí không nhiều Các công trình nghiên cứu khoa học trong tỉnh cũng chưa

có công trình nào nỗi bật

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Xây dựng và làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về hoạt động báo chí và quản

lý Nhà nước đối với hoạt động báo chí, vai trò và đóng góp của báo chí trong đờisống xã hội

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Nội dung được đề cập chủ yếu của đề tài là báo chí ở Kiên Giang, thực trạngquản lý Nhà nước đối với hoạt động này

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp chủ yếu để tiến hành nghiên cứu đề tài này dưa trên cơ sởcủa phép biện chứng duy vật, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin

Tác giả cũng sẽ sử dụng tổng hợp các phương pháp hệ thống hóa, phân tích,

so sánh

6 Kết cấu của tiểu luận

Ngoài phần mở bài và danh mục tài liệu tham khảo tiểu luận gồm có 2 chương

Trang 3

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI BÁO CHÍ

1.1 Khái quát về báo chí

1.1.1 Khái niệm và lịch sử hình thành báo chí Việt Nam

1.1.1.1 Khái niệm báo chí

Trong xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra một cách mạnh mẽ trên thế giới nhưhiện nay, hoạt động thông tin nói chung và báo chí nói riêng ngày càng đóng vai tròquan trọng trong đời sống xã hội Báo chí đang thực sự có những bước đột biến, đivào chiều sâu về cả lượng và chất Trong hơn 25 năm thực hiện chính sách vàđường lối đổi mới do Đảng ta lãnh đạo, các phương tiện truyền thông đại chúngđóng vai trò hết sức quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội

và đấu tranh phòng chống tội phạm

Báo chí thực sự đã trở thành một trong những kênh thực hiện nhiệm vụ tuyêntruyền quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhànước; phát hiện và phản ánh tâm tư, nguyện vọng của quần chúng; những vấn đềbức xúc trong đời sống xã hội; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực,quan liêu lãng phí và suy thoái đạo đức, lối sống… Báo chí cũng đã góp phần giáodục truyền thống tốt đẹp của dân tộc, truyền thống cách mạng, góp phần nâng caodân trí, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, phong phú và đa dạng về đời sống tinh thầncủa nhân dân… Bên cạnh những vấn đề trên, báo chí nước ta trong quá trình đổimới và hội nhập đã góp phần nâng cao chất lượng thông tin đối ngoại, góp phầnquan trọng giới thiệu đất nước, văn hóa con người Việt Nam với bạn bè quốc tế;thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng, đa phương hóa các quan hệquốc tế của Đảng, Nhà nước ta; góp phần nâng cao uy tín và vị thế Việt Nam trêntrường quốc tế

Do vậy, việc nhận thức vai trò của báo chí là một vấn đề bức thiết trong mọithời đại, mọi hình thái Nhà nước Nó có ý nghĩa rất lớn góp phần vào việc điều hoàcác mối quan hệ xã hội theo định hướng chung của Nhà nước, tạo ra một môitrường ổn định để phát triển kinh tế, xã hội

Trang 4

Theo triết học cổ Hy Lạp: “Chữ báo chí xuất phát từ chữ information có nghĩa là thông tin, thông báo, báo tin và được hiểu như việc tạo ra hình thái giúp cho sự hiểu biết của con người về thế giới xung quanh đang tồn tại bằng việc lấy hiện thực khách quan để phản ánh một cách liên tục, xuyên suốt trong quan hệ chặt chẽ giữa nhà báo - tác phẩm - công chúng” 1

Tác giả Trần Hữu Quang trong cuốn Xã hội học truyền thông đại chúng thì khẳng định: “Báo chí truyền thông là một quá trình truyền đạt, tiếp nhận và trao đổi thông tin nhằm thiết lập các mối liên hệ giữa con người với con người” Theo

đó, tác giả này định nghĩa, “truyền thông đại chúng là quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi đến mọi người trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như phát thanh, truyền hình” 2

Điều 3 Luật Báo chí quy định: Báo chí nói trong luật này là báo chí ViệtNam, bao gồm: báo in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn), báo nói(chương trình phát thanh), báo hình (chương trình truyền hình, chương trình nghe -nhìn thời sự được thực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau), báo điện tử

(được thực hiện trên mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc

thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài

1.1.1.2 Lịch sử hình thành, phát triển của báo chí Việt Nam

Báo chí ra đời do nhu cầu thông tin, giao tiếp, giải trí và nhận thức của conngười Mặc dù ra đời chậm hơn các hình thái ý thức xã hội khác nhưng báo chí đãnhanh chóng trở thành một trong những lĩnh vực xung kích bởi khả năng phản ánhhiện thực xã hội đa dạng, sinh động và luôn vận động phát triển

Lịch sử báo chí Việt Nam tính từ năm 1865 khi tờ “Gia Định báo” ra đời,

tờ báo Quốc ngữ Việt Nam đầu tiên - Gia Định báo ra số 1 tại Sài Gòn, đánh dấu

cột mốc khởi nguyên của báo chí Việt Nam Tuy nhiên trong thời gian này, thực dânPháp đã siết chặt sự quản lý đối với báo chí và chính vì lẽ đó, trước sự đấu tranh củacông luận, vào năm 1881, chính quyền thực dân Pháp buộc phải ban hành đạo luật

để nới lỏng kiểm soát báo chí tại Nam Kỳ

Đến năm 1888, tờ nguyệt san “Thông loại khóa trình” số 1 - tờ báo Quốc

ngữ thứ tư đầu tiên được phát hành Và sau đó một thời gian dài, lãnh tụ Nguyễn Ái

Trang 5

Quốc sáng lập báo Thanh Niên và cho phát hành số đầu tiên vào ngày 21-6-1925,

khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam Ngày 21-6-1925 đã trở thành ngày kỷniệm Báo chí cách mạng Việt Nam hàng năm Tiếp theo đó, vào ngày 5-8-1930, tạp

chí Cộng sản - tạp chí lý luận và chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, ban đầu có tên là Tạp chí Đỏ.

Liên tiếp trong các năm 1945 và 1946, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn

xã Việt Nam được thành lập Cũng trong năm 1946, những người viết báo Việt Nam

đã tập hợp lại trong một tổ chức gọi là Đoàn Báo chí Việt Nam - tiền thân của HộiNhà báo Việt Nam hiện nay Đến tháng 4-1949, lớp học về báo chí đầu tiên tronglịch sử nước ta mang tên Huỳnh Thúc Kháng được Đoàn Báo chí kháng chiến mở

để đào tạo cán bộ báo chí, thu hút gần 60 học viên Đây là lớp học báo chí đầu tiêntrong lịch sử báo chí Việt Nam Và một năm sau, Đoàn Báo chí cách mạng đượcchấn chỉnh thành Hội Những người viết báo Việt Nam Ngày 2-6-1950, Chính phủchính thức ban hành quyết định thành lập Hội Những người viết báo Việt Nam vàHội gia nhập ngay Mặt trận Liên Việt Đại hội lần thứ nhất, Hội Những người làmbáo Việt Nam họp ở chiến khu Việt Bắc năm 1950 Đại hội đã ra bầu Ban Chấphành Trung ương Hội gồm 10 nhà báo, ông Xuân Thủy được bầu làm Hội trưởng.Hội Nhà báo Việt Nam cũng chính thức được kết nạp vào tổ chức Tổ chức Quốc tếCác nhà báo (OIJ) nhân Đại hội lần thứ III của tổ chức này, họp ở Phần Lan vàotháng 7-1950 Đúng 20 năm sau, ngày 7-9-1970, Đài Truyền hình Việt Nam đượcthành lập và Việt Nam đến thời điểm này đã hội đủ 3 loại hình báo chí truyền thống:báo viết, báo nói và báo hình

Vào ngày 7-7-1976, sau khi miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất, HộiNhững người viết báo Việt Nam cùng với Hội Những người viết báo yêu nước vàdân chủ miền Nam hợp nhất thành Hội Nhà báo Việt Nam Nhân kỳ họp thứ 6 vàotháng 12-1989, Quốc hội khóa VIII quyết định thông qua Luật Báo chí (Luật Báochí được công bố và có hiệu lực từ năm 1990) Luật này thay thế Luật số 100-L002ngày 20-5-1957, quy định chế độ báo chí Và luật này được sửa đổi, bổ sung vào kỳhọp thứ 5 Quốc hội khóa X diễn ra trong tháng 6-1999 Trước đó, vào tháng 4-1995,Hội Nhà báo Việt Nam chính thức là thành viên Liên đoàn Báo chí các nước trongHiệp hội Đông Nam Á (CAJ)

Trang 6

Từ năm 1997, internet bắt đầu hoạt động tại Việt Nam đến nay, số lượng báođiện tử, trang tin điện tử chính thức được thành lập Loại hình này cũng tăng lênnhanh chóng và dần chiếm ưu thế trong lĩnh vực báo chí.

Trong năm 2005, Đại hội lần thứ VIII Hội Nhà báo Việt Nam đã thông quaQuy định về đạo đức nghề nghiệp người làm báo Việt Nam gồm 9 điều, thông quaĐiều lệ sửa đổi Hội Nhà báo Việt Nam Và gần đây nhất, vào tháng 8 - 2010, Đạihội lần thứ IX Hội Nhà báo Việt Nam tiếp tục thông qua Điều lệ sửa đổi Hội Nhàbáo Việt Nam và khẳng định, báo chí Việt Nam tiếp tục giáo dục, nâng cao nhậnthức chính trị, củng cố niềm tin của nhân dân, động viên mọi tiềm năng, sức mạnhcủa toàn dân tộc thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và phát triển đất nước dưới

sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Đồng thời, báo chí cũng có trách nhiệmvạch trần và làm thất bại mọi âm mưu phá hoại về tư tưởng của các thế lực thù địch,tuyên truyền quảng bá văn hóa dân tộc, những thành tựu mọi mặt của công cuộc xâydựng, phát triển đất nước, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sự đồngthuận xã hội, sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân các nước trên thế giới Báo chíphải không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng, tăng cường tính chuyên nghiệp,đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới của đất nước và nhu cầu thông tin ngày càngcao của xã hội

1.2 Quản lý Nhà nước đối với báo chí

1.2.1 Khái niệm và các nguyên tắc quản lý Nhà nước đối với báo chí

1.2.1.1 Khái niệm quản lý Nhà nước đối với báo chí

Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội,

là cơ quan ngôn luận của các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, làdiễn đàn của nhân dân lao động Báo chí không chỉ làm nhiệm vụ thông tin mà cònthực hiện công tác tuyên truyền làm cho các hoạt động xã hội phát triển theo địnhhướng của nhà cầm quyền và bình ổn xã hội Như vậy báo chí cũng là hình thứchoạt động cần sự quản lý của Nhà nước

Nói đến quản lý Nhà nước đối với báo chí là nói đến những hoạt động của

bộ máy Nhà nước nhằm đảm bảo cho hoạt động báo chí được ổn định và phù hợpvới xu thế phát triển chung của xã hội Với vai trò là thiết chế trung tâm trong hệthống chính trị, Nhà nước đại diện cho nhân dân, đảm bảo cho công dân được thực

Trang 7

hiện các quyền cơ bản của mình, trong đó có quyền về tự do ngôn luận, tự do báochí Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọngtrong việc đấu tranh chống các thế lực thù địch lợi dụng chính sách tự do ngôn luận,

tự do báo chí để đưa ra các luận điệu sai trái, thực hiện chiến lược “diễn biến hòabình” gây mất an ninh chính trị và trật tự trong nước

Qua việc khái quát trên chúng ta có thể hiểu “Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực báo chí cũng như bất kỳ một dạng quản lý xã hội nào khác, là dạng quản lý công vụ quốc gia của bộ máy Nhà nước - là công việc của bộ máy hành pháp Nó là

sự tác động có tổ chức và được điều chỉnh bằng pháp luật, trên cơ sở quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hoạt động báo chí do các cơ quan có thẩm quyền trong hệ thống hành pháp từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội, thỏa mãn nhu cầu tự do báo chí của công dân” 3

- Chủ thể của hoạt động quản lý: Nhà nước mà chủ yếu đó là các cơ quanNhà nước trong bộ máy Nhà nước hay các cá nhân quản lý chuyên ngành về hoạtđộng báo chí được Nhà nước trao quyền về quản lý Nhà nước đối với báo chí

- Khách thể của việc quản lý: Đó là trật tự quản lý trong quá trình truyền đạt,tiếp nhận và trao đổi thông tin nhằm thiết lập các mối liên hệ giữa con người vớicon người

- Đối tượng của hoạt động quản lý: Tất cả những tổ chức, cá nhân v.v thựchiện những hoạt động liên quan đến báo chí

- Mục đích của hoạt động quản lý: Phát huy mọi nguồn lực tạo ra một cơ chếhợp lý cho hoạt động báo chí và đảm bảo quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trênbáo chí của công dân

1.2.1.2 Các nguyên tắc quản lý Nhà nước đối với báo chí

Các hoạt động của báo chí xét trên hình diện chung có ảnh hưởng rất lớn đếnđời sống xã hội Vì vậy, muốn đảm bảo được các hoạt động này đi vào khuôn khổđặt dưới sự điều chỉnh của pháp luật, chúng ta cần có những nguyên tắc quản lý phùhợp Sau đây là những nguyên tắc cơ bản trong quản lý Nhà nước đối với báo chí

* Nguyên tắc tôn trọng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của công dân

Trang 8

Tôn trọng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí là một nguyêntắc hiến định Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, đãđược sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 củaQuốc hội khóa X (sau đây gọi là Hiến pháp năm 1992) quy định công dân có quyền

tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin 4 Quy định này đã được cụthể hoá bằng Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung năm 1999 Cụ thể Điều 2, Luật Báo chísửa đổi, bổ sung năm 1999 quy định: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dânthực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chíphát huy đúng vai trò của mình” Và Điều 4 luật này cụ thể hóa như các quyền tự dobáo chí, tự do ngôn luận như sau: “Được thông tin qua báo chí về mọi mặt của tìnhhình đất nước và thế giới; tiếp xúc, cung cấp thông tin cho cơ quan báo chí và nhàbáo; gửi tin, bài, ảnh và tác phẩm khác cho báo chí mà không chịu sự kiểm duyệtcủa tổ chức, cá nhân nào và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin;phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thựchiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ýkiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức củaĐảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và thành viên của các tổ chức đó”

Để đảm bảo nguyên tắc này, Nhà nước cần phải luôn tạo ra những cơ chếpháp lý phù hợp với các loại hình hoạt động báo chí nhằm phục vụ tốt nhất nhu cầucủa đông đảo quần chúng nhân dân Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần đề ra mộtphương thức hướng các hoạt động báo chí tuân thủ pháp luật, nhằm tạo điều kiện tốt

để các cơ quan chức năng Nhà nước thuận lợi hơn trong việc quản lý

* Nguyên tắc đảm bảo quyền thụ hưởng thành quả hoạt động báo chí một cách bình đẳng của tất cả công dân

Ở nước ta, pháp luật trong quản lý Nhà nước đối với báo chí là công cụ kháquan trọng nhằm bảo tồn, phát triển nền văn hóa dân tộc hiện đại, nhân văn; tiếp thutinh hoa văn hóa và tiến bộ về khoa học, công nghệ của nhân loại, đảm bảo cho quátrình hội nhập môi trường thông tin, báo chí toàn cầu được nhanh chóng và thànhcông Tất cả thành quả này của báo chí cần được phổ cập đến toàn thể các đốitượng thụ hưởng khác nhau trong xã hội Đây được xem như một nguyên tắc biểu

Trang 9

hiện tính nhân văn sâu sắc với mục tiêu nâng cao chất lượng dân trí

Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung năm 1999 đã quy định: “Nhà nước có chính sách

hỗ trợ ngân sách, tạo điều kiện cho xuất bản, phát hành báo chí đến với nhân dâncác vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh tế - xãhội đặc biệt khó khăn, đến với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài” 5

Vì vậy, Nhà nước cần có chính sách để người dân được dễ dàng tiếp cận các ấnphẩm của các loại hình báo chí Huy động các nguồn lực khác nhau để bảo đảm sựhoạt động của các cơ quan báo chí với nhiều tôn chỉ mục đích khác nhau nhằm phục

vụ tốt nhất nhu cầu về thông tin và phát triển dân trí của các tầng lớp khác nhautrong xã hội Cần có chính sách đẩy mạnh sự phát triển và khả năng sẵn sàng phục

vụ của các cơ quan báo chí đối với các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn

cơ sở cho việc chống phá Nhà nước ta, chống phá công cuộc xây dựng xã hội xã hộichủ nghĩa, chống phá sự nghiệp đại đoàn kết nhân dân Đây là những hành vi vôcùng nguy hiểm làm thiệt hại đến lợi ích cả một quốc gia dân tộc Nhà nước ta luônluôn đề ra kim chỉ nam cho hoạt động của mình trước tình hình lợi dụng đó là kiênquyết đấu tranh và đấu tranh đến cùng để chống lại các hành vi đầy mưu đồ này Vìvậy, trên cơ sở cụ thể hóa Hiến pháp 1992, Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung năm 1999một mặt khẳng định sự tôn trọng quyền tự do báo chí của công dân, mặt khác đã tạo

ra hành lang pháp lý ngăn chặn triệt để những âm mưu này khi quy định: “Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ; không một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động Không

Trang 10

ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân” 6 Đây được xem như quan điểm chung nhất nhằm nghiêm cấm việc lợi dụng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận

trên báo chí để phá hoại hoà bình, độc lập, thống nhất đất nước, kích động bạo lực

và tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của Nhànước; chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc; gây rối trật tự công cộng, xâm phạmđến tính mạng, sức khỏe, danh dự, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ côngdân, hoạt động mê tín dị đoan và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật Mọi hành

vi vi phạm đều được xử lý theo đúng quy định của pháp luật

1.2.2 Cơ sở pháp lý của quản lý Nhà nước đối với báo chí

Cách mạng Tháng 8 thành công, Đảng và Nhà nước ta đã chăm lo xây dựng

hệ thống văn bản pháp lý tạo cơ sở cho việc quản lý Nhà nước đối với báo chí.Ngày 10-10-1945, Hồ Chủ tịch đã ra sắc lệnh về việc duy trì tạm thời các luật lệ

hiện hành, nhưng nêu rõ: “Những điều khoản trong các luật cũ được tạm thời giữ lại do sắc lệnh này, chỉ thi hành khi nào không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính phủ dân chủ cộng hòa”.

Và cũng từ thời điểm này, vấn đề hoạt động báo chí, ngôn luận rất được Nhànước ta quan tâm Vì vậy, ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đượcthành lập, Hiến pháp đầu tiên 1946 ra đời đã ghi nhận quyền tự do báo chí, tự dongôn luận của công dân Đến Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 đềuquy định về tự do báo chí, ngôn luận; không ai được xâm phạm đến quyền này củanhân dân và cũng nghiêm cấm việc lợi dụng quyền tự do báo chí để xâm phạm lợiích của Nhà nước, tập thể và công dân

Tính đến nay đã có hơn 40 văn bản được Nhà nước ta ban hành liên quan đếnbáo chí như: Sắc lệnh 41 ngày 29-3-1946 về chế độ kiểm duyệt báo chí; Sắc lệnh số

282 ngày 14-12-1956 về chế độ báo chí, Luật số 100/SL-L-002 ngày 20-5-1957 quyđịnh chế độ báo chí (Luật Báo chí 1957); Nghị định số 197/TTg ngày 9-7-1957 quyđịnh chế độ và quyền lợi của người làm báo chuyên nghiệp và Nghị định số298/TTg ngày 9-7-1957 quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí năm 1957; Nghiđịnh số 133/HĐBT ngày 20-4-1992 của Hội đồng Bộ trưởng quy định chi tiết thi

Trang 11

hành Luật Báo chí về các mặt; Chỉ thị 63/CT-TW về tăng cường sự lãnh đạo củaĐảng đối với công tác báo chí-xuất bản; Nghị định số 384/HĐBT về tăng cườngcông tác quản lý báo chí- xuất bản; Thông tư số 131/TT-VP ngày 20-11-1990 của

Bộ Văn hóa - Thông tin hướng dẫn thi hành Nghị định 384/HĐBT và có điều chỉnhmột số tiêu chuẩn nghiệp vụ của chức danh viên chức báo chí, Bộ luật Hình sự

1999, Bộ luật Dân sự 1995… Mặc dù các văn bản này không đồng bộ và mang tínhphổ quát, thể hiện các quan điểm khác nhau của Nhà nước ta đối với báo chí trongtừng giai đoạn lịch sử khác nhau nhưng phần nào đã đặt ra một cơ sở pháp lý để các

cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước đốivới báo chí của mình

Ngày 28-12-1989, Quốc hội thông qua Luật Báo chí và ngày 2-1-1990, Chủtịch Hội đồng Nhà nước ký lệnh công bố Luật Báo chí nước Cộng hòa Xã hội Chủnghĩa Việt Nam thay thế Luật Báo chí năm 1957 Đến ngày 12-6-1999, Quốc hộikhóa X đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí và có hiệulực đến ngày nay

Luật Báo chí năm 1990 vừa kế thừa những nguyên tắc đúng đắn của LuậtBáo chí năm 1957, vừa bổ sung và hoàn thiện một bước luật pháp của Nhà nước ta

về báo chí Luật Báo chí năm 1990 cũng phản ánh những thay đổi to lớn trong đờisống kinh tế - xã hội của nước ta trong sự nghiệp đổi mới do Đảng Cộng sản ViệtNam khởi xướng và lãnh đạo

Song song đó, Chính phủ cũng ban hành Nghị định số 51/2002/NĐ-CP ngày26-4-2002 quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí; Luật sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Luật Báo chí Trong nghị định này, đã đi sâu vào quy định một số điểmmới của Luật Báo chí hiện hành

Nhìn chung, hai văn bản pháp luật hiện hành này đã khắc phục được một sốnhược điểm của các văn bản trước, định hình cho chức năng quản lý báo chí bằngcác cơ sở pháp lý rất cụ thể, rõ ràng và chặt chẽ

1.2.3 Nội dung quản lý Nhà nước đối với báo chí

Trên cơ sở quy định của pháp luật, để đảm bảo cho hoạt động báo chí được diễn

ra thông suốt, đáp ứng nhu cầu về thông tin của quần chúng nhân dân, Nhà nướcluôn xây dựng nội dung quản lý Nhà nước đối với báo chí trên cơ sở phù hợp với

Trang 12

thẩm quyền pháp lý của từng chủ thể quản lý nhất định theo các điều kiện lịch sửtrong từng giai đoạn Các nội dung quản lý Nhà nước đối với báo chí cũng được xácđịnh và xây dựng nhằm mục tiêu một mặt quá trình thực hiện chủ trương, chínhsách của Đảng và Nhà nước về báo chí một cách nhanh chóng, chính xác, mặt khácchống lại mọi âm mưu, thủ đoạn của thế lực thù địch lợi dụng tự do ngôn luận, tự

do báo chí để chống phá ta

Các nội dung quản lý Nhà nước đối với báo chí đề cập ở đây xuất phát từ cácquy định hiện hành của Đảng và Nhà nước ta gồm Luật Báo chí sửa đổi, bổ sungnăm 1999 và Nghị định 51/2002/NĐ-CP ngày 26-4-2002 Theo đó, Luật Báo chísửa đổi, bổ sung năm 1999 quy định các nội dung quản lý Nhà nước đối với báo chíbao gồm:

Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển sự

nghiệp báo chí;

Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về báo chí;xây dựng chế độ, chính sách về báo chí;

Tổ chức thông tin cho báo chí; quản lý thông tin của báo chí;

Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệpcho đội ngũ cán bộ báo chí;

Tổ chức, quản lý hoạt động khoa học, công nghệ trong lĩnh vực báo chí;

Quản lý hợp tác quốc tế về báo chí, quản lý hoạt động của báo chí Việt Namliên quan đến nước ngoài và hoạt động báo chí nước ngoài tại Việt Nam;

Hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chế độ, chính sách, quy hoạch,

kế hoạch phát triển báo chí và việc chấp hành pháp luật về báo chí; thi hành cácbiện pháp ngăn chặn hoạt động báo chí trái pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo,

xử lý vi phạm trong hoạt động báo chí" 7

Tóm lại, Nhà nước quản lý toàn bộ xã hội, hoạt động báo chí liên quan đếnnhiều lĩnh vực xã hội khác nhau nên cần được Nhà nước quản lý Mục đích quản lýNhà nước đối với báo chí nhằm bảo đảm cho hoạt động báo chí diễn ra trong khuônkhổ của pháp luật vì lợi ích chung cho toàn xã hội

1.2.4 Ý nghĩa của việc quản lý Nhà nước đối với báo chí

Ngày đăng: 21/07/2018, 15:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w