1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất hạt giống cây hy thiêm (siegesbeekia orientalis l ) vùng đồng bằng thanh hoá

88 763 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất hạt giống cây hy thiêm (Siegesbeekia orientalis L.) vùng đồng bằng Thanh Hoá
Tác giả Phạm Xuân Luôn
Người hướng dẫn PGS.TS Đoàn Thị Thanh Nhàn
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Trồng trọt
Thể loại Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 3,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

trường đại học nông nghiệp i

-

Phạm Xuân Luôn

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất hạt giống cây Hy thiêm (Siegesbeekia orientalis L.)

vùng đồng bằng Thanh Hoá

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp

Chuyên ngành: Trồng trọt Mã số: 60.62.01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đoàn Thị Thanh Nhàn

Hà nội - 2006

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác

Mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn

và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc

Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật với lời cam đoan này

Tác giả luận văn

Phạm Xuân Luôn

Trang 3

Lêi c¶m ¬n

Tác giả luận văn xin chân thành cám ơn:

PGS.TS ðoàn Thị Thanh Nhàn ñã trực tiếp hướng dẫn giúp ñỡ và chỉ bảo tận tình trong suốt quá trình tác giả thực hiện công trình nghiên cứu

Lãnh ñạo trường ðại học Nông nghiệp I – Hà Nội, khoa Nông học, phòng ñào tạo sau ðại học ñã giúp ñỡ, ñộng viên và tạo mọi ñiều kiện ñể tác giả hoàn thành luận văn

Lãnh ñạo Viện Dược liệu, Hội ñồng khoa học Viện Dược liệu, Phòng quản lý khoa học và ñào tạo Viện Dược liệu ñã tạo ñiều kiện thuận lợi cho tác giả thực hiện ñề tài

Trung tâm Nghiên cứu Dược liệu Bắc trung bộ, các cộng sự ñã giúp ñỡ tác giả một cách nhiệt tình có hiệu quả

Các thầy cô giáo, bạn bè thân hữu ñã quan tâm ñộng viên tác giả

T¸c gi¶ luËn v¨n

Ph¹m Xu©n Lu«n

Trang 4

2.1 Nguồn gốc thực vật cây Hy thiêm (Siegesbeckia orientalis L.) 112.2 Đặc điểm sinh vật học của Họ Cúc và Loài Hy thiêm 14

2.4 Phân bố và điều kiện sống trong tự nhiên của Hy thiêm 162.5 Giới thiệu một số bài thuốc và thuốc có Hy thiêm 172.6 Công trình nghiên cứu kỹ thuật sản xuất hạt giống Hy thiêm 20

2.8 Cơ sở khoa học xác định kỹ thuật thu hoạch hạt giống Hy thiêm 252.9 Cơ sở khoa học nghiên cứu xác định thời vụ trồng Hy thiêm

2.10 Cơ sở khoa học nghiên cứu xác định khoảng cách trồng Hy thiêm

3 Đối tượng, địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu 373.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 37

Trang 5

3.4 Các biện pháp kỹ thuật thực hiện thí nghiệm 41

4.1 Đánh giá quá trình sinh trưởng sinh dưỡng của cây Hy thiêm 45

4.2 Kết quả theo dõi quá trình sinh trưởng sinh thực của cây Hy thiêm 46

4.2.2 Kết quả nghiên cứu các giai đoạn hình thành hoa, quả của cây Hy thiêm 484.3 Kết quả nghiên cứu thu hoạch hạt giống bằng các biện pháp kỹ thuật

4.4 Kết quả dánh giá khả năng mọc mầm của hạt giống Hy thiêm 544.4.1 Thời gian ngủ nghỉ của hạt giống Hy thiêm 54

4.5 ảnh hưởng của thời vụ và khoảng cách trồng đến khả năng sinh trưởng

4.5.3 Năng suất hạt giống thu được qua các thời vụ và khoảng cách

4.5.4 Năng suất lý thuyết và thực thu của hạt giống Hy thiêm của các

Trang 6

2 Về kỹ thuật thu hoạch hạt giống Hy thiêm 69

5 Về kỹ thuật canh tác để nâng cao năng suất chất l−ợng hạt giống 71

Phụ lục

Trang 7

Bảng 2.3 Khoảng cách trồng ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng

Bảng 2.4 ảnh hưởng của khoảng cách, mật độ trồng đến sinh trưởng và

Bảng 4.1 Sự sinh trưởng cuả cây con Hy thiêm ở thời kỳ vườn ươm 39 Bảng 4.2 Khả năng sinh trưởng, phát triển của Hy thiêm ở ruộng thí

Bảng 4.3 Khả năng và tỷ lệ ra hoa kết quả của cây Hy thiêm theo thời

Bảng 4.4 Thời gian ra hoa kết quả của cây Hy thiêm 51 Bảng 4.5 Kết quả về năng suất hạt giống Hy thiêm thu được với các biện

Bảng 4.6: Khả năng nảy mầm của hạt Hy thiêm trong quá trình bảo quản 55

Bảng 4.8 ảnh hưởng của thời vụ gieo hạt đến sinh trưởng của cây con

Trang 8

Danh mục các đồ thị, biểu đồ

Đồ thị 4.2 Quá trình sinh trưởng phát triển đường kính gốc của Hy thiêm 42

Đồ thị 4.3 Quá trình sinh trưởng phát triển về kích thước lá cây Hy thiêm 43 Biểu đồ 4.1 Thời kỳ ra hoa kết quả của Hy thiêm (thời vụ trồng13/01/2004) 46

Đồ thị 4.4 Khả năng tăng trưởng chiều cao cây 61

Đồ thị 4.5 Khả năng tăng trưởng đường kính gốc 61 Biểu đồ 4.2 Năng suất hạt giống trong các công thức thí nghiệm 66

1

Trang 9

1 Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây Hy thiêm có tên khoa học là Siegesbeckia orientalis L thuộc họ Cúc - Asteraceae là cây thân thảo, mọc hoang hàng năm ở nước ta và một số nước Châu á như Nhật Bản, ấn độ, Trung Quốc, Inđônêsia, Philippin, … [13], [40] Là cây thuốc Nam thiết yếu trong danh mục cây thuốc thiết yếu Y học cổ truyền Việt Nam [36] Vị thuốc Hy thiêm được nhân dân ta sử dụng lâu đời trong các bài thuốc y học cổ truyền và gần đây đo có mặt ở hàng chục thành phẩm trong công nghiệp dược Hy thiêm thật sự đo và đang đóng góp quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cộng đồng

Vị thuốc Hy thiêm được dùng chủ yếu trị các bệnh phong thấp, bán thân bất toại, đau nhức các khớp xương, chữa các bệnh phong, bệnh hoa liễu, chữa suy nhược thần kinh, mất ngủ và cao huyết áp [37]

Nhu cầu dược liệu Hy thiêm ở nước ta mỗi năm ước tính 300 – 400 tấn Triển vọng nhu cầu nguồn Dược liệu này sẽ lớn hơn rất nhiều vì trong quá trình hội nhập Quốc tế Dược liệu Hy thiêm sẽ có cơ hội được xuất khẩu Tuy nhiên, hiện tại dù nhu cầu còn ở mức khiêm tốn nhưng nguồn dược liệu Hy thiêm thu hái tự nhiên vẫn chưa đáp ứng được bởi đo bị khai thác cạn kiệt

Kết quả nghiên cứu thuần hoá cây Hy thiêm bước đầu đo cho thấy rằng chúng ta có thể trồng trọt được Hy thiêm Tuy nhiên khó khăn lớn nhất là chưa thu hoạch được hạt giống đảm bảo chất lượng tốt vì trong điều kiện tự nhiên cũng như trong trồng trọt, Hy thiêm có quá trình ra hoa kết phức tạp khiến cho việc thu hoạch hạt giống không đơn giản như nhiều loài cây khác trong cùng

họ Cúc

Do vậy, muốn chủ động sản xuất được Dược liệu Hy thiêm đáp ứng thoả mon nhu cầu nguyên liệu sản xuất thuốc, trước hết phải nghiên cứu cho

Trang 10

được kỹ thuật sản xuất hạt giống Hy thiêm Đây là vấn đề then chốt, rất cần thiết và có tính quyết định để phát triển Dược liệu Hy thiêm

Với tinh thần đó, được sự thống nhất của Viện Dược liệu, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Đoàn Thị Thanh Nhàn, chúng tôi thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất hạt giống cây Hy thiêm (Siegesbeckia orientalis L.) vùng đồng bằng Thanh Hoá”

1.2 Mục đích, yêu cầu

1.2.1 Mục đích

Trên cơ sở nghiên cứu thực nghiệm, đề xuất kỹ thuật sản xuất hạt giống

Hy thiêm phục vụ nghiên cứu phát triển dược liệu, đáp ứng nhu cầu nguyên liệu sản xuất thuốc trong nước và xuất khẩu trong những năm tới

1.2.2 Yêu cầu

- Đánh giá được quá trình sinh trưởng, phát triển và tìm hiểu khả năng

ra hoa kết quả của Hy thiêm trong điều kiện trồng trọt

- Xác định được biện pháp kỹ thuật thu hoạch hạt giống Hy thiêm có hiệu quả và chất lượng tốt

- Xác định được thời vụ, khoảng cách trồng Hy thiêm cho năng suất chất lượng hạt giống tốt, phục vụ sản xuất Dược liệu

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.3.1 Khoa học

- Xây dựng được kỹ thuật sản xuất hạt giống Hy thiêm, người nông dân

có cơ hội tiếp cận kỹ thuật sản xuất hạt giống, tiến tới sản xuất dược liệu đáp ứng nhu cầu thị trường Như vậy, về mặt khoa học đề tài góp phần bảo tồn

được nguồn gen cây thuốc Hy thiêm bền vững trong nông hộ theo hướng sản xuất hàng hoá

Trang 11

- Nghiên cứu thành công kỹ thuật sản xuất hạt giống Hy thiêm, đề tài

đo góp phần đa dạng hoá giống cây trồng trong nông nghiệp nông thôn

1.3.2 Thực tiễn

- Về x3 hội: Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, đề xuất phương pháp sản xuất hạt giống Hy thiêm, phục vụ nghiên cứu phát triển dược liệu, đáp ứng nhu cầu làm thuốc cho xo hội mà thực tiễn đang đặt ra

- Về kinh tế: Hiện nay, nhiều vùng nông thôn có nguồn lao động dồi dào, giàu quỹ đất canh tác Đề tài thành công là cơ hội để nông dân ở những vùng có ưu thế phát triển áp dụng hữu hiệu, đưa giống cây Hy thiêm vào trồng trọt theo hướng sản xuất hàng hoá, chắc chắn sẽ nâng cao thu nhập trên diện tích canh tác, góp phần cải thiện đời sống vốn còn khó khăn

- Về sức khoẻ: Nhu cầu xo hội đang cần với số lượng lớn nguồn dược liệu Hy thiêm Kết quả đề tài có giá trị thực tiễn trong việc chủ động sản xuất hạt giống Hy thiêm có năng suất và chất lượng tốt Trên cơ sở đó sẽ thu hút nhiều nông hộ tham gia sản xuất dược liệu, đáp ứng thoả mon nguồn dược liệu phục vụ nhu cầu để sản xuất thuốc

Như vậy đề tài góp phần bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng mà thực tiễn đang đặt ra

Trang 12

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu Hy thiêm

2.1 Nguồn gốc thực vật cây Hy thiêm (Siegesbeckia orientalis L.)

Theo Phạm Hoàng Hộ [13] và Võ Văn Chi [8], cây thuốc Hy thiêm

được dùng phổ biến hiện nay trong y học cổ truyền và công nghiệp dược ở Việt Nam có tên khoa học Siegesbeckia orientalis L thuộc họ Cúc - Asteraceae Còn có tên gọi khác là Cỏ đĩ, Chó đẻ hoa vàng…

Giải thích tên gọi khác nhau này theo Đỗ Tất Lợi [18], cây Hy thiêm

đầu tiên thấy ở nước Sở (miền nam Trung Quốc) dân địa phương gọi “Hy” (lợn), gọi cỏ có vị đắng cay có độc là “Thiêm” Vì cây có khí vị như mùi con lợn nên gọi là “Hy thiêm” hoặc “Hy thiêm thảo” Gọi là “Cỏ đĩ” bởi Hy thiêm

có hoa mang nhiều chất dính, khi người ta đi qua hoa quả dính vào người (thực ra đây là đặc điểm phát tán hạt giống của Hy thiêm khi quả chín…)

Về nguồn gốc thực vật theo Lê Đình Bích [5], trong giới thực vật được chia làm 2 phân giới: Bậc thấp và bậc cao, trong thực vật bậc cao có rất nhiều ngành thì ngành Ngọc lan (hạt kín) đáng quan tâm vì ngành này trên thế giới

có 250.000 – 300.000 loài, trong đó Việt Nam có tới 9462 loài Ngành Ngọc lan được chia làm 2 lớp: Lớp Hành (một lá mầm); và lớp Ngọc lan (hai lá mầm) Lớp Ngọc lan được chia làm nhiều phân lớp, trong đó phân lớp Cúc có

2 bộ thì bộ Cúc được quan tâm nhiều hơn bởi bộ này có họ Cúc là họ có số loài làm thuốc đông nhất trong giới thực vật có hoa gồm 125 chi trên 350 loài, trong đó có 51 loài thường làm thuốc Trong 51 loài này có 18 loài làm vừa thuốc y học cổ truyền vừa làm nguyên liệu công nghiệp dược như Astiso, Cúc hoa, Hy thiêm, Thanh cao hoa vàng, Bạch truật… rõ ràng họ Cúc là kho tàng nghiên cứu phát triển cây thuốc Chi Siegesbeekia là một trong 125 chi nêu trên, trong chi này có loài S.orientalis L thuộc đối tượng nghiên cứu của đề tài

Tóm lại nguồn gốc cây Hy thiêm được thể hiện theo sơ đồ 1 như sau:

Trang 13

Phân giới thựcvật bậc thấp Nghành rêu

Ngành lá thông

Ngành thông đất Ngành cỏ tháp bút Ngành xương xỉ Ngành thông (hạt kín)

Lớp Ngọc Lan (2 lá mầm) Lớp Hành (1 lá

Chi Artium (Ngưu hoàng….)

Chi Asemisia (Ngải cứu,…) Chi Atractylodes (Bạch truật…) Chi Plumea (Đại bi…)

Chi Actiso Chi Chrysanthemum (Cúc…) Chi Stevia (Cỏ ngọt)

………

Giới thực vật

Phân giới thực vật bậc cao

Ngành ngọc lan (hạt kín)

Trang 14

Sơ đồ1: Nguồn gốc cây Hy thiêm:

Như vậy, cây Hy thiêm thuộc loài S.orientalis L và đó cũng là đối tượng nghiên cứu của đề tài

Theo Nguyễn Thị Phương Thảo [29], ở Việt Nam chi Siegesbeekia có 4 loài trong 9 loài được phát hiện trên thế giới đó là:

- Loài Siegesbeekia glabrescens Makino Cũng gọi là Hy thiêm, cỏ dính

- Loài Siegesbeekia Integrifolia Gagnep, gọi là Hy thiêm lá nguyên Phân bố ở Đắc Lắc, Lâm Đồng (Đà Lạt, Đức Trọng) là loài đặc hữu sống ở độ cao từ 1.000 – 1.600m so với mặt nước biển, chưa thấy tài liệu nào nói cây này làm thuốc

- Loài Siegesbeekia orientalis L còn gọi là Hy thiêm; Cỏ đĩ, loài này

được dùng phổ biến để làm thuốc trong Y học cổ truyền, Y học dân gian và là nguyên liệu làm thuốc trong công nghiệp Dược – là đối tượng nghiên cứu của

Mặc dù vậy, nhưng loài S.orientalis L vẫn được dùng phổ biến để chữa bệnh, cũng là loài phân bố trong tự nhiên ở nước ta rộng roi được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất

Trang 15

2.2 Đặc điểm sinh vật học của Họ Cúc và Loài Hy thiêm

2.2.1 Mô tả họ Cúc – Asteraceae

Theo Lê Đình Bích [5], Họ Cúc là cây cỏ hay bụi, ít khi là dây leo hay cây gỗ Lá đơn, ít khi lá kép hoặc tiêu giảm, mọc so le, không có lá kèm

Cụm hoa là đầu, các đầu có thể tụ họp thành từng chùm đầu hoặc ngù

đầu Mỗi đầu có một đế cụm hoa chung phẳng lồi hoặc lõm thành hình chén Phía ngoài đế chung được bao bọc bởi những lá bắc xếp xít nhau trên một hàng hoặc nhiều hàng gọi là tổng bao lá bắc Số hoa trên một đầu cũng khác nhau từ một đến nhiều Mỗi hoa trên một kẽ lá hình vẩy nhỏ Hoa lưỡng tính hoặc đơn tính, có khi vô tính do cả bộ nhị và nhuỵ không phát triển Đài không bao giờ có dạng lá Tràng 5 dính nhau thành ống có 5 thuỳ hoặc hình lưỡi nhỏ có 3 – 4 răng hoặc thành hình môi, môi trên 3 thuỳ, môi dưới có 2 thuỳ Bộ nhị (4 - 5), chỉ nhị rời và dính vào ống tràng, bao phấn dính lại với nhau thành 1 ống, mở bằng khe nứt dọc vào phía trong Bộ nhuỵ có 2 lá noon dính ngoài thành bầu dưới ô, chứa 1 noon, gốc vòi nhuỵ có tuyến mật Núm nhuỵ luôn chia thành 2 nhánh, ban đầu ép lại với nhau, mặt trong của núm nhuỵ là nơi tiếp nhận hạt phấn, mặt ngoài có lông để quét hạt phấn khi vòi nhuỵ đi qua bao phấn Những hạt phấn này được sâu bọ mang đi thụ phấn cho hoa khác, khi các nhánh cuả núm nhuỵ đo tách ra

Quả đóng, mỗi quả có 1 hạt Để giúp sự phát tán, mỗi quả có thể có một chùm lông (phát tán nhờ gió), có gai nhọn có móc nhỏ hoặc có lông dính (phát tán nhờ động vật) Hạt có phôi lớn không có nội nhũ

2.2.2 Mô tả loài Hy thiêm - S.orientalis L

Theo Viện Dược liệu [43], Hy thiêm là cây thân thảo (cỏ), sống hàng năm, cao từ 30 – 90 cm Phân nhiều cành nằm ngang có lông, lá mọc đối hình tam giác hay hình quả trám dài 4 – 10 cm, rộng 3 – 6 cm, cuống ngắn phiến lá men theo cuống, đầu nhọn mép lá có răng không đều và đôi khi chia đều ở

Trang 16

phía cuống, 3 gân chính mảnh, mặt dưới lá hơi có lông Cụm hoa có cuống dài

từ 1 – 2 cm, mảnh, có lông Năm lá bắc ngoài to, hình thìa có lông dính, lá bắc trong hình trái xoan ngược, đầu cụt, hoa màu vàng, 5 cái ngoài là hoa cái hình lưỡi, những hoa khác lưỡng tính hình ống, không có mào lông, tràng có lưỡi ngắn Quả bế hình trứng có 5 cạnh, tròn ở đỉnh, gốc thuôn dần, nhẵn, màu

đen

Ra hoa vào tháng 4 – 5 đến tháng 8 – 9, mùa quả tháng 6 – 10

Cây Hy thiêm mọc hoang dại trong tự nhiên được chụp ở ảnh 1 như sau:

2.3 Thành phần hoá học và dược tính

Theo Võ Văn Chi [8], toàn cây Hy thiêm có chất đắng daturosid, orientin (diterpen lacton); 3,7 dimethylquercetin

Trang 17

Theo Viện Dược liệu [43], Hy thiêm có chứa daturosid (chất này thuỷ phân cho glucose và darutugenol), orientin, orientalid và 3,7 dimethylquercetin:

Theo Phạm Trương Thị Thọ, Phạm Duy Mai [32], trong lá Hy thiêm S.orientalis L chứa Daturosid và darutigenol Bằng phương pháp chiết tách, các tác giả đo tách được 2 nhóm chất, trong đó nhóm I có tác dụng chống viêm liều cao, nhóm II có tác dụng rõ ràng chống viêm trên chuột, đây có thể hoạt chất chống viêm của Hy thiêm

Một số tác giả nước ngoài; Nam Koo Dong, Kim Ja Hoan [46] cho rằng trong Hy thiêm có một chất đắng không phải là ancaloit hay glucozit gọi là darutin – dẫn xuất của axit Salixylic Các tác giả đo tách được 5 diterpenoids

từ cây Hy thiêm lông – Siegesbeekia pubescens Makino:

Theo Đoàn Thị Nhu [22], lá Hy thiêm có tác dụng ức chế rõ rệt giai

đoạn viêm cấp tính và ức chế yếu giai đoạn viêm mon tính thực nghiệm Độc tính cấp của Hy thiêm tương đối thấp (77,5g/kg trọng lượng) Do đó có thể bào chế các thuốc điều trị bệnh khớp

2.4 Phân bố và điều kiện sống trong tự nhiên của Hy thiêm

ở Việt Nam cây Hy thiêm phân bố rộng cả về kinh độ và vĩ độ Thường mọc rải rác ở trung du, miền núi và đồng bằng từ các tỉnh Lào Cai đến Nghệ

An, có gặp ở một số tỉnh Tây Nguyên Hy thiêm thường ưa ẩm, ánh sáng, sợ nắng nóng, rét và ngập úng ở những khu đất ẩm màu mỡ trên các boi sông, triền sông, trong các thung lũng, nương rẫy, ruộng hoang, ruộng trồng ngô hoặc trong vườn nhà màu mỡ thường gặp Hy thiêm mọc hoang [18]

Vùng trung du, đồng bằng Bắc Trung bộ của Việt Nam, Hy thiêm thường mọc vào đầu mùa xuân (tháng 1 - 2); ra hoa kết quả từ tháng 3 – 6, cây lụi vào cuối mùa hè (tháng 7 - 8) Miền núi cao trên 800m trở lên so với mặt

Trang 18

biển, hàng năm cây mọc vào cuối mùa xuân (tháng 3 - 4); ra hoa kết quả vào mùa thu (tháng 9 - 10), tàn lụi vào đầu mùa đông (tháng 11 - 12) [25]

Hạt Hy thiêm trong tự nhiên có thời gian ngủ nghỉ dài dưới đất, cây mọc theo thời vụ trong điều kiện độ ẩm của đất cao 80 – 90% trở lên, nhiệt độ không khí từ 25 – 270C Tỷ lệ cây mọc ngoài tự nhiên rất thấp, ước tính khoảng 2 - 3% [43]

2.5 Giới thiệu một số bài thuốc và thuốc có Hy thiêm

2.5.1 Trong y học cổ truyền

Vị thuốc Hy thiêm có trong nhiều bài thuốc y học cổ truyền Theo, Đỗ Tất Lợi, Hy thiêm được sử dụng chủ yếu để chữa các bệnh phong tê thấp hoặc thấp khớp Một số bài thuốc tiêu biểu được áp dụng phổ biến trong dân gian như sau:

* Chữa phong tê thấp:

- Theo Hải Thượng Lon ông, nếu phong đau nên dùng:

Hy thiêm 80g + Vỏ Chân chim 80g + rễ Cỏ chỉ 80g + rễ Sung súc 80g +

rễ cây Bươm bướm 60g + cây Bấn đỏ 40g + cây Bấn trắng 40g + ô dược 40g + Cỏ xước 40g + rễ Bưởi bung 40g + Cỏ roi ngựa 24g + cây Bạc thau + cỏ Nụ

áo + Ngò đất

Nếu là phong tê: dùng các vị nêu trên + rau Đắng đất

- Theo kinh nghiệm cổ truyền:

+ Trị phong thấp: Hy thiêm thảo 100g + Thiên niên kiện 50g, ngày uống 2 lần trước khi ăn

+ Trị phong thấp, tê mỏi, đau nhức xương: dùng cao mềm Hy thiêm 30g + bột Hy thiêm 20g + bột Thiên niên kiện 10g + bột Xuyên khung 5g làm thành viên như hạt ngô đồng Ngày uống 2 lần sau bữa ăn, mỗi lần 4 - 5 viên

Trang 19

+ Chữa miệng méo, mắt xếch, phong thấp đau nhức: dùng Hy thiêm thảo 10g bột, chưng 9 lần luyện mật làm viên bằng hạt ngô uống 2 lần /ngày với rượu nóng

+ Chữa miệng méo, trợn mắt, cấm khẩu không nói được, thường sủi bọt mép: uống lâu có thể sáng mắt, rõ tai, đen nhánh râu tóc và cứng mạnh gân cốt: lá và cành non cây Hy thiêm thu vào mồng 5 tháng 5, rửa sạch, hông được

9 lần sao khô tán nhỏ làm bằng hạt ngô, mỗi lần uống 40 viên với nước cơm hoặc rượu nóng (Trung Quốc Dược học Đại từ điển)

+ Chữa phong tê thấp thân nhiệt, đau lưng, đau các khớp: Hy thiêm 50g + Ngưu tất 20g + Thổ phục linh 20g + Lá lốt 10g

+ Chữa phong thấp, bại liệt nửa người, miệng méo, mắt xếch, mất tiếng: danh y Lê Minh Hạp thời Tự Đức đo ghi đơn cao Hy thiêm + Máu mào gà [18]

* Trị viêm khớp:

- Chữa viêm khớp dạng thấp: Hy thiêm 16g + rễ Vòi voi 16g + Thổ phục linh 16g + Ngưu tất 12g + rễ Huyết đằng 12g + Sinh địa 12g + Nam độc lực 10g + rễ cây Cà gai leo 10g + rễ cây Cúc áo 10g + Huyết dụ 10g

- Chữa viêm đa khớp dạng thấp: dùng Hy thiêm thảo 2g sắc nước cốt gia thêm đường đen, cô lại thành cao, lần uống 1 chén trà nhỏ, ngày uống 2 lần

- Trị viêm khớp do phong thấp, tê tay, tê chân, đau nhức gân xương: Hy thiêm thảo, Bạch mao đằng, mỗi thứ 3 chỉ, Xú ngô đồng hoặc Ngưu tất 5 chỉ sắc uống

- Chữa giai đoạn sớm của viêm đa khớp dạng thấp, đau nhức khớp: Hy thiêm 16g + Ngưu tất 16g + Thổ phục linh 12g + Ké đầu ngựa 12g + cành Dâu 12 g + Cà gai leo 12g+ Tỳ giải 12g + Lá lốt 10g [18]

Theo Viện dược liệu, Hy thiêm còn được dùng để chữa một số bệnh khác như:

* Chữa cao huyết áp:

Trang 20

- Hy thiêm 8g + Ngưu tất 6g + Thảo quyết minh 6g + Hoàng cầm 6g + Trạch tả 6g + Chi tử 6g + Long đởm thảo 4g

- Hy thiêm thảo, Hoè hoa mỗi thứ 5 chỉ sắc uống Cũng có thể dùng trong suy nhược thần kinh, mất ngủ (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách)

* Chữa chàm: (Nhị rượu thang gia giảm)

Hy thiêm 12g + Hoàng bá 12g + Ké đầu ngựa 12g +Bình phù 12g + Bạch tiên bì 12g + Thương truật 8g + Phòng phong 8g

* Trị xuất huyết ngoại thương, đinh nhọt, rắn cắn:

Hy thiêm thảo tươi liều lượng tuỳ ý, rửa sạch gio nát đắp nơi đau (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách)

* Trị đau đầu cảm mạo:

Hy thiêm thảo 3 chỉ + Lục nguyệt sương 5 chỉ + Lử tô 3 chỉ + Thông bạch 3 chỉ sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách)

* Trị ăn vào bị nôn mửa ra:

Dùng Hy thiêm thảo sấy khô tán bột luyện mật làm viên uống với nước nóng (Bách nhất tuyên phương)

* Hoàn tê thấp:

Trang 21

- Hy thiêm + Ngưu tất + Quế nhục + Cẩu tích + Sinh địa + Ngũ gia bì

- Viên Hy đan: (từ bài thuốc phong bà Giằng dân tộc Mường Thanh Hoá) Hy thiêm + Ngũ gia bì + Mo tiền chế

- Hà thủ ô + Thương nhĩ tử + Thiên niên kiện + Phòng kỷ + Huyết giác + Thổ phục linh + Hy thiêm + Đương quy

- Sinh địa + Hy thiêm + Cẩu tích + Ngưu tất + Quế chi + Chân chim

- Hy thiêm + Ngũ gia bì chân chim + Mo đề chế + Tam thất

* Rượu thuốc phong thấp

- Hy thiêm + Kê huyết đằng + Ngũ gia bì + Thổ phục linh

- Thổ phục linh + Ngũ gia bì + Chân chim + Cẩu tích + Quế chi + Huyết giác + Hy thiêm + Thiên niên kiện

- Hy thiêm + Hà thủ ô + Cẩu tích + Ké đầu ngựa + Thên niên kiện + Thổ phục linh + Tang chi + Kê huyết đằng + võ Ngũ gia bì + Cẩu tích

- Cẩu tích + cành dâu + Hà thủ ô + Hoài sơn + Huyết giác + Hy thiêm +

Kê huyết đằng + Ngũ gia bì + Ngưu tất + Thiên niên kiện + Thổ phục linh

- Hà thủ ô đỏ + Cẩu tích + Hy thiêm + Thiên Niên kiện + Thổ phục linh

- Ngũ gia bì + Hy thiêm + Quế chi + Cẩu tích

- Hy thiêm + Ngũ gia bì + Cẩu tích + Đỗ trọng + Đương quy + Huyết giác + Tang ký sinh + Thiên niên kiện + Thổ phục linh + Kê huyết đằng [4]

Từ những dẫn liệu nêu trên có thể thấy Hy thiêm rất gắn bó với đời sống con người vì con người đo sử dụng khá nhiều Hy thiêm để chữa bệnh cho bản thân và cộng đồng Vì vậy nghiên cứu sản xuất giống nhằm tiến tới chủ

động sản xuất nguồn dược liệu Hy thiêm, đáp ứng nhu cầu nguyên liệu làm thuốc là hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển của xo hội

2.6 Công trình nghiên cứu kỹ thuật sản xuất hạt giống Hy thiêm

2.6.1 Ngoài nước

- Chưa thấy tài liệu nào nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống và dược liệu

Hy thiêm

Trang 22

- Chỉ gặp một số tài liệu của Trung Quốc, Hàn Quốc nghiên cứu về thành phần hoá học và tác dụng dược lý của hoạt chất trong cây Hy thiêm 2.6.2 Trong nước

Rất ít công trình nghiên cứu về giống và phát triển Hy thiêm (có lẽ chưa

+ Khối lượng 1000 hạt (khô) = 1,750 g; hạt gieo 3 ngày thì mọc Thu dược liệu kể từ khi hạt mọc là 60 – 65 ngày

+ Kỹ thuật thu hạt là rung nhẹ cây, hạt chín sẽ rụng xuống dụng cụ hứng Cách thu này có tỷ lệ mọc cao từ 60 – 80% Nếu thu hạt giống bằng cách cắt cả cây phơi khô đập lấy hạt thì tỷ lệ nảy mầm chỉ đạt 10 – 15 % (do thu cả hạt già lẫn hạt non)

+ Thời vụ cây mọc tập trung từ ngày 15/01 đến 15/03 (quan sát ở tự nhiên), các tháng sau đó mọc rải rác Nên thời vụ thu hoạch dược liệu tập trung từ tháng 3 đến tháng 6 hàng năm Những tháng sau đó sẽ thu dược liệu

đạt khoảng 5% tổng sản lượng dược liệu khai thác cả năm

Theo Phạm Văn Thắng [30], thời vụ trồng từ cuối tháng 1 đến cuối tháng 2 hàng năm thì năng suất dược liệu cao hơn cả, còn trồng từ 20/3 – 10/4

sẽ cho năng suất dược liệu thấp

Nhận xét:

Về ưu điểm:

Trang 23

Các tác giả đo nêu được:

+ Khẳng định hạt Hy thiêm thu được đem gieo, hạt mọc tốt

+ Đề xuất kỹ thuật thu hoạch hạt giống Hy thiêm bằng cách rung nhẹ cây cho hạt chín rơi rụng xuống dụng cụ hứng dưới gốc cây Với cách thu hạt này hạt mọc cao, còn nếu chặt cả cây đem phơi sẽ cho hạt giống kém về tỷ lệ nảy mầm

+ Đo quan sát được trong tự nhiên Hy thiêm mọc nhiều vào thời điểm

đầu vụ xuân và cho năng suất dược liệu cao nếu thu từ tháng 3 đến tháng 5

+ Thời vụ thu dược liệu mà các tác giả đo nêu là hoàn toàn theo cảm tính, thiếu cơ sở khoa học vì các tác giả chưa khẳng định được vào thời điểm nào thu dược liệu sẽ đạt năng suất chất lượng cao Để khẳng định thời điểm thu hạt và dượcliệu chính xác nhất định phải đánh giá quá trình sinh trưởng phát triển của cây trồng mà trong công trình của mình các tác giả đo không đề cập đến

+ Xác định khối lượng 1000 hạt nhưng các tác giả không nêu được đây

là hạt thu được từ cây trồng trọt hay cây hoang dại Hạt thu được từ phương

Trang 24

pháp rung cây hay là phương pháp thu cả cây (vì thực tế 2 loại hạt này có kích thước khác nhau, thậm chí tỷ lệ mọc cũng hoàn toàn khác nhau)

+ Các tác giả đo nêu: Hy thiêm mọc rải rác quanh năm (tuy mọc nhiều

ở vụ xuân) nhưng lại lưu ý là: Chỉ đến tháng 6 hàng năm dược liệu thu mua khai thác đạt 95% so với lượng thu mua dược liệu cả năm, còn 5% chỉ thu ở những tháng còn lại Như vậy, cái gọi là rải rác quanh năm là chưa đúng hơn nữa, đây là ước đoán chứ không có phương pháp nào đánh giá Nhưng dẫu sao các tác giả cũng đo nêu được Hy thiêm mọc chủ yếu ở mùa xuân, các mùa khác có mọc nhưng ít và rất ít

Tóm lại, các kết quả nghiên cứu Hy thiêm mới chỉ bước đầu có tính thăm dò, đặt cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo mà đề tài chúng tôi đang thực hiện có tính kế thừa, nhằm tiến tới tìm được kỹ thuật thu hoạch hạt giống

Hy thiêm có đủ độ tin cậy về khoa học, có hiệu quả và chất lượng đảm bảo tốt phục vụ sản xuất dược liệu

Chúng tôi rất trân trọng những thành công bước đầu của một số tác giả

đo nghiên cứu cây Hy thiêm cách đây hàng chục năm Nhưng cũng khẳng

định rằng, các kết quả nghiên cứu sản xuất hạt giống Hy thiêm nêu trên chưa

đủ cơ sở khoa học để chúng ta ứng dụng và chủ động phát triển Hy thiêm Nguồn dược liệu Hy thiêm vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào thu hái tự nhiên hoang dại cho đến ngày nay

Trang 25

Theo Klemm C D (1991) [47], ở một số nước tiên tiến có nền y học phát triển nhu cầu sử dụng thuốc có nguồn gốc từ cây cỏ ngày càng gia tăng như: Nhật Bản năm 1985 là 4,3 tỷ USD, Hoa Kỳ là 3,9 tỷ USD/năm ở ấn độ sản xuất Đông dược năm 1996 đạt 10 tỷ rupi, năm 2000 ước tính 40 tỷ rupi

Theo Nguyễn Duy Thuần [35], ở Việt Nam đo nghiên cứu thuần hoá khoảng 40 loài cây thuốc hoang dại trở thành cây trồng, đáp ứng nhu cầu làm thuốc với số lượng lớn mà tự nhiên không thể tái sinh được như: Quế, Thảo quả, Thanh cao hoa vàng….Như vậy, nếu so với tài nguyên vốn có (trừ 300 loài thuộc 40 họ thực vật được nhập nội) vẫn còn khoảng trên 3000 loài cây thuốc còn sử dụng theo kinh nghiệm trong phạm vi cộng đồng, chưa trở thành hàng hoá chính thức ở thị trường Trong những năm gần đây nhu cầu sử dụng cây cỏ làm thuốc ngày càng gia tăng ước tính mỗi năm cần khoảng 50.000 tấn Dược liệu các loại, trong đó 30.000 tấn cho Y học cổ truyền và 20.000 tấn cho công nghiệp Dược

Tuy nhiên, nguồn Dược liệu ở thị trường Việt Nam đang phụ thuộc vào nguồn Dược liệu Trung Quốc rất lớn Có nhiều nguyên nhân để giải thích cho thực trạng này ở một đất nước có tiềm năng Dược liệu đa dạng và phong phú như Việt Nam Nguyên nhân chủ yếu là nguồn tài nguyên cây làm thuốc đang suy giảm mạnh

Theo Nguyễn Văn Tập [28], hiện nay hầu hết các loài cây làm thuốc và

động vật làm thuốc có giá trị chữa bệnh và giá trị kinh tế cao mọc phổ biến ở

tự nhiên trước đây chúng không có khả năng khai thác lớn được nữa như Vàng

đắng, Hoàng đằng, Ngũ gia bì gai, Hà thủ ô đỏ, Nhân trần, Hy thiêm, ích mẫu…Một số loài trở nên khan hiếm thật sự như Ba kích, Đẳng sâm, Sâm Ngọc Linh, Sâm Vũ diệp, Hoàng Liên, … Tác giả cũng đo tổng hợp hiện có

123 loài thuộc 53 họ được đưa vào danh lục đỏ, sách đỏ Việt Nam và danh mục thuộc nghị định 48-CP-2002 của Chính phủ Trong đó có tới 55 loài được phân hạng (theo IUCN) ở mức bị đe doạ tuyệt chủng cao và rất cao

Trang 26

Đối với cây Hy thiêm, theo báo cáo của Lường Văn Sơn [24]: “Nhu cầu

sử dụng Hy thiêm trong những năm gần đây của Công ty trên 100 tấn (khô)/năm làm nguyên liệu sản xuất thuốc Hy đan - mặt hàng truyền thống của Thanh Hoá đo và đang được lưu hành trên toàn quốc và có hướng xuất khẩu Cách đây 20 - 30 năm, số lượng nêu trên có thể thu mua được ở Thanh Hoá Nhưng ngày nay, vất vả lắm cũng chỉ thu mua được 20 - 25 tấn Nếu mở rộng phạm vi thu mua đến các tỉnh vốn có nhiều Hy thiêm tự nhiên như Hoà Bình, Bắc Thái,… cũng chỉ thu mua thêm 25 - 30 tấn” Như vây, Hy thiêm

đang nằm trong nhóm cây thuốc suy giảm đáng kể về trữ lượng ở tự nhiên

Nhằm góp phần khắc phục tình trạng thiếu nguyên liệu làm thuốc trong tình hình nhiều loài cây thuốc quý ở tự nhiên đang bị mai một, đồng thời tạo cơ hội cho nông dân Việt Nam có điều kiện tham gia sản xuất cây thuốc để phát triển kinh tế, theo Nguyễn Gia Chấn [7], cần quan tâm nghiên cứu thuần hoá những loài cây thuốc có nhu cầu trở thành cây chủ động trong trồng trọt Việc tạo ra khối lượng Dược liệu lớn đáp ứng nhu cầu xo hội chỉ có thể nằm trong cơ cấu cây trồng ở một số vùng có ưu thế

Như vậy lựa chọn đề tài trồng cây Hy thiêm để nghiên cứu kỹ thuật sản xuất hạt giống nhằm tiến tới chủ động sản xuất Dược liệu Hy thiêm đáp ứng nhu cầu nguyên liệu sản xuất thuốc trong nước và xuất khẩu là hoàn toàn có cơ sở

2.8 Cơ sở khoa học xác định kỹ thuật thu hoạch hạt giống Hy thiêm

Cũng như nhiều loài cây thuốc thuộc họ Cúc, sự ra hoa kết quả của Hy thiêm thành nhiều đợt, mỗi đợt cách nhau một số ngày cho nên hạt chín không tập trung Hơn nữa khi quả Hy thiêm chín dễ bị rơi rụng bởi tổng bao lá bắc khô già sớm và tự tách ra, không còn khả năng để giữ các quả trên một đế hoa chung, đây là điều kiện thuận lợi để quả phát tán trong tự nhiên nhờ gió mạnh, mưa to hoặc động vật qua lại dính phải

Trang 27

Thông thường đối với nhiều loài cây thân thảo, khi thu hoạch hạt giống người ta để cây già đồng đều mới tiến hành thu hạt bằng cách cắt cả cây hoặc cành đem phơi và chọn lọc hạt Nhưng đối với Hy thiêm nếu làm như vậy thì chỉ thu được hạt non hoặc hạt mới ra đợt sau ở các cành cấp 4, cấp 5, cấp 6 vì những quả trên các cành chính như cành cấp 1, cấp 2, cấp 3 hạt đo chín và bị rơi rụng

Từ thực tế đó, tuy đo có một số công trình nghiên cứu tìm cách thu hoạch hạt giống, phục vụ sản xuất dược liệu Hy thiêm từ cây mọc tự nhiên bằng cách rung nhẹ cây cho hạt rơi rụng Hoặc có kỹ thuật thu hoạch hạt giống Hy thiêm trồng trọt bằng cách, hái lượm những quả chín trên cây theo từng đợt vv Những kỹ thuật thu hoạch hạt giống như vậy chắc chắn không mang lại hiệu quả cao, không phù hợp với thực tế sản xuất theo hướng công nghiệp đang đòi hỏi cần thu hoạch hạt giống với số lượng lớn phục vụ sản xuất Dược liệu ở quy mô lớn

Rõ ràng rằng cần phải nghiên cứu tìm biện pháp thu hoạch hạt giống như thế nào để vừa được hạt giống tốt vừa có năng suất cao và mang lại hiệu quả kinh tế

Phương pháp thu hoạch hạt giống bằng cách sử dụng túi P.E bao chùm cây, cành… là các biện pháp kỹ thuật có nhiều ưu điểm như: thu được hạt chín

đồng loạt, chỉ tổ chức thu hạt một lần so với các biện pháp thu hạt trước đó

Tuy nhiên cần phải nghiên cứu đánh giá chất lượng hạt giống một cách chuẩn xác khi thực hiện biện pháp này

2.9 Cơ sở khoa học nghiên cứu xác định thời vụ trồng Hy thiêm cho năng suất hạt giống cao

2.9.1 Cơ sở khoa học

- Thời vụ thích hợp để cây trồng nói chung, cây Hy thiêm nói riêng có khả năng cho hạt giống năng suất, cao phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có

Trang 28

yếu tố tự nhiên đóng vai trò quan trọng Theo các tác giả Lê Quang Huỳnh, Phùng Đăng Chinh, Đào Kim Miên cho rằng: Nhiều tác giả cho rằng yếu tố tự nhiên (bao gồm các yếu tố ngoại cảnh theo thời gian, không gian) có vai trò quyết định đó là: nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa và đặc biệt là độ dài ánh sáng đo giúp cho sự phát triển và tích luỹ vật chất tối đa đối với cây trồng kể cả khi thời tiết khô ráo và nhiệt độ cao phù hợp cho hạt chín và thu hoạch Tuy nhiên

điều kiện khí hậu cũng có rất nhiều hiện tượng gây bất lợi cho sinh trưởng của cây trồng: hạn hán, lũ lụt, mưa boo, nắng nóng, rét đậm, rét hại…nên cần phải nghiên cứu bố trí thời vụ hợp lý [17]

Khi còn ở hoang dại, nhiều loài cây đo biết điều chỉnh mình để tồn tại,

đồng thời đo vận dụng điều kiện tự nhiên theo không gian, thời gian, địa lí tránh những bất ổn mà yếu tố tự nhiên thường xảy ra, để duy trì nòi giống một cách bền vững Qua khảo sát sự tồn tại và duy trì nòi giống cây Hy thiêm tự nhiên cho thấy:

+ ở vùng đồng bằng, trung du hoặc vùng núi thấp dưới 500m so với mặt biển tại một số tỉnh Bắc Trung bộ: Thanh Hoá, Nghệ An Hy thiêm thường mọc vào tháng 12, mọc tập trung vào tháng 1, tháng 2 Khi thời tiết đo lập xuân, từ tháng 4 trở đi thấy ít mọc Từ tháng 3 đến tháng 4 thấy cây ra hoa rất nhiều, đến tháng 7 có lẽ do thời tiết nắng nóng, nhiệt độ không khí lên cao cây bắt đầu tàn lụi Như vậy, trong khoảng từ tháng 4 đến tháng 6, hạt Hy thiêm đo chín và rơi rụng xuống đất hoặc được phát tán nhờ gió, mưa, động vật Hạt đo nằm trong đất, có thời gian ngủ nghỉ dài cho moi đến mùa xuân năm sau lại mọc Tuy nhiên, sự chọn lọc khắc nghiệt này của tự nhiên đo làm cho số hạt sống đến vụ sau không nhiều, bởi lũ lụt, mưa gió cuốn trôi, hạt làm thức ăn cho chim, chuột [25]

+ Vùng miền núi cao trên 800m trở lên so với mặt biển: Khảo sát khu vực Mường Lống (Nghệ An), Son Bá Mười, Đục Vịn (Thanh Hoá) cho thấy: Hạt mọc từ tháng 4 đến tháng 8 hàng năm, cây ra hoa từ tháng 7 cho đến

Trang 29

tháng 10 Cây bắt đầu lụi vào thời kỳ giá rét tháng 11 trở đi Hạt Hy thiêm chín và phát tán từ tháng 9 cho đến tháng 11 Hạt cũng đo có thời gian ngủ nghỉ dài trong đất, khi có điều kiện ngoại cảnh thuận lợi hạt sẽ mọc mầm và lại phát triển theo một chu kỳ sống của Hy thiêm hàng năm [26]

Như vậy, ở sự chọn lọc tự nhiên đo cho Hy thiêm có thời vụ thích hợp

để sinh trưởng, phát triển không những duy trì sự sống mà còn duy trì được nòi giống trong thế giới thực vật vô cùng phong phú và đa dạng

Khi đưa Hy thiêm vào trồng để sản xuất giống hoặc dược liệu; vấn đề nghiên cứu tìm thời vụ phù hợp để sản xuất Hy thiêm có hiệu quả là rất quan trọng, tránh những thời vụ bất thuận cho Hy thiêm, giảm tổn thất đối với người sản xuất là việc cần phải được nghiên cứu một cách cụ thể và chính xác 2.9.2 Một số kết quả nghiên cứu về sự ảnh hưởng của thời vụ trồng cây thuốc đến năng suất và chất lượng dược liệu

Theo Viện Dược liệu [42], thời vụ gieo trồng Thanh cao (làm thuốc chữa sốt rét) khác nhau, sẽ cho năng suất dược liệu và hàm lượng hoạt chất Artemisinin cũng khác nhau (theo bảng 2.1)

Bảng 2.1 ảnh hưởng của thời vụ đến năng suất chất lượng

Dược liệu Thanh cao

Địa điểm Gieo trồng (ngày)

Năng suất

DL (khô) kg/ha

Hàm lượng Artemisinin (%)

Hà Nội

15/12/1987 15/01/1988 15/02/1988 15/03/1988

Trang 30

Trần Toàn [38] đo cho biết, thời vụ tốt nhất để trồng ích mẫu là vụ đông xuân (trồng từ cuối tháng 10-11) năng suất hạt giống 250 - 270kg/ha, trong khi ích mẫu trồng vụ xuân hè từ tháng 1 - 2 thì năng suất dược liệu và giống thấp hơn Còn các vụ khác thì hầu như không có năng suất hoặc rất thấp

Bằng phương pháp khối, định lượng Ancaloit toàn phần của lá sen (thuốc an thần), Nguyễn Kim Cẩn, Đinh Thị Thuyết [6] đo chứng tỏ rằng sự thay đổi hàm lượng Ancaloit theo tuổi và thời vụ thu hoạch lá (bảng 2.2):

Bảng 2.2 Sự thay đổi hàm lượng Ancaloit trong lá sen

phụ thuộc thời vụ thu lá

Hàm lượng Ancaloit toàn phần (%) theo

DL khô tuyệt đối

Thời kỳ sinh trưởng phát triển

- Lá là là mặt nước

- Lá cuộn tròn

- Lá bánh tẻ

26/5/1996 26/5/1996 26/5/1996

1,82 1,78 1,28

Chưa có nụ hoa

- Lá là là mặt nước

- Lá cuộn tròn

- Lá bánh tẻ

16/6/1996 16/6/1996 16/6/1996

1,23 1,87 1,73

Nụ nhiều, hoa bắt đầu nở

- Lá là là mặt nước

- Lá cuộn tròn

- Lá bánh tẻ

17/7/1996 17/7/1996 17/7/1996

1,09 2,21 1,57

Hoa nở rộ

Khi nghiên cứu thời vụ trồng Xuyên khung (cây thuốc nhập nội - đầu vị thuốc Bắc), Phạm Văn Thắng [31] cho rằng thời vụ trồng Xuyên khung tại Tam Đảo từ 20/1 - 20/2 cho năng suất dược liệu cao nhất từ 31,56 - 34,78

Trang 31

tạ/ha Nhưng nếu trồng muộn 20/3 - 10/4 năng suất dược liệu chỉ đạt 22,14 - 28,9 tạ/ha

Nguyễn Thị Hoà, Nguyễn Bá Hoạt [16], cho biết thời vụ trồng Nhân trần (nhuận gan, mật) từ 1/3 - 15/3 cho năng suất cao nhất 0,51 - 0,55 kg/m2 Khi trồng từ 1/4 trở đi thì năng suất giảm chỉ đạt 0,24 - 0,39 kg/m2

Theo Nguyễn Bá Hoạt [15], nếu trồng Astisô ở Sa pa (Lào Cai) theo các thời vụ khác nhau thì sự sinh trưởng, phát triển và năng suất Dược liệu sẽ khác nhau:

- Trồng vào 1/10 cây sẽ cao 85cm, số lá trên cây 27; năng suất lá tươi

đạt ở mức cao nhất 46250kg/ha

- Trồng vào 1/11 cây sẽ cao 82cm, số lá trên cây 22; năng suất lá tươi

đạt ở mức cao nhất 39500kg/ha

- Trồng vào 1/12 cây sẽ cao 71cm, số lá trên cây 20; năng suất lá tươi

đạt ở mức cao nhất 34500kg/ha

Tương tự như vậy khi trồng Đương quy Nhật Bản ở Sapa, tác giả cho thấy:

- Nếu trồng vào 10/09 cây cao khi thu hoạch 52cm; chiều dài củ 23,3cm; đường kính củ 4,5cm; khối lượng củ (g/cây) 54gram; năng suất (tấn khô/ha) đạt ở mức cao nhất 2,9 ± 0,5

- Nếu trồng vào 10/10 cây cao khi thu hoạch 49cm; chiều dài củ 24,4cm; khối lượng củ (g/cây) 43gram; năng suất (tấn khô/ha) 2,8gr khô/ha

- Nếu trồng vào 10/11 cây cao khi thu hoạch 45cm; chiều dài củ 21cm;

đường kính củ 2,8cm; khối lượng củ (g/cây) 31gram; năng suất (tấn khô/ha)

đạt ở mức thấp 1,9 ± 0,3

Theo Đoàn Thị Thanh Nhàn [21], đối với hoa Cúc (thuốc tiêu độc), thời

vụ trồng có ảnh hưởng không những đến các chỉ tiêu sinh trưởng (tỷ lệ sống, thời gian hồi xanh, chiều cao cây) mà còn ảnh hưởng đến các yếu tố cấu thành

Trang 32

năng suất, nếu trồng từ 15/6 - 30/6 năng suất hoa Cúc: 10,80 - 11,98 tấn/ha Nhưng nếu trồng thời vụ 15/7 thì năng suất chỉ 8 tấn/ha

Các công trình khoa học đo chứng tỏ thời vụ ảnh hưởng đến năng suất chất lượng nông sản không những đối với các cây thuốc mà còn đối với các cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp

Cục khuyến nông và khuyến lâm [10], khuyến cáo rằng đối với cây Lúa gieo cấy đúng thời vụ và thực hiện thâm canh tốt, lúa sẽ cho năng suất cao Trần Khắc Thi, Trần Ngọc Hùng [33] cho biết đối với cây Cải củ, gieo chính

vụ từ cuối tháng 8 đến hết tháng 9, thu hoạch tháng 9 - 11 cho năng suất cao Nhưng nếu gieo từ tháng 4 - 6 thì vụ này cho năng suất thấp Đối với cây Đậu bắp: vụ xuân gieo cuối tháng 2 - 3, thu hoạch từ tháng 5 - 9, nếu gieo muộn cây sớm ra hoa, năng suất giảm Đối với Đậu Hà Lan: vụ chính gieo từ 5/10 - 5/11, nếu gieo muộn bệnh phấn trắng gây hại nặng làm năng suất giảm rõ rệt

Tóm lại: Thời vụ luôn luôn ảnh hưởng đến năng suất cây trồng Do vậy các nhà khoa học khi xây dựng quy trình sản xuất một nông sản nào đó, họ thường quan tâm đến yếu tố thời vụ để tìm được thời vụ phù hợp nhất cho mỗi cây trồng Hy thiêm không nằm trong trường hợp ngoại lệ

Trên cơ sở khảo sát đặc điểm sinh trưởng phát triển của Hy thiêm ở các vùng sinh thái khác nhau và các kết quả nghiên cứu về thời vụ của một số loài cây thuốc Việc xác định nghiên cứu tìm khung thời vụ phù hợp trồng Hy thiêm cho năng suất hạt giống cao là hoàn toàn đúng và có cơ sở khoa học chắc chắn

2.10 Cơ sở khoa học nghiên cứu xác định khoảng cách trồng Hy thiêm cho năng suất hạt giống cao

2.10.1 Cơ sở khoa học

- Các kết quả nghiên cứu đo chứng minh rằng, năng suất cây trồng được tạo ra bởi năng suất cá thể và quần thể, việc nghiên cứu xác định khoảng cách

Trang 33

trồng hợp lý sẽ tạo cho cây trồng khoẻ mạnh, sinh trưởng đồng đều do cây sử dụng tối đa nguồn dinh dưỡng trong đất, trên không đặc biệt là nguồn ánh sáng mặt trời

Theo tài liệu dẫn của Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch [27], mặt

đất hàng năm nhận năng lượng tia mặt trời khoảng 100.000 cal/cm2/năm, thế nhưng hiệu suất sử dụng năng lượng tia mặt trời của cây xanh rất thấp Hàng năm quang hợp trung bình của toàn cầu chỉ 33 cal/cm2, nghĩa là quang hợp mới chỉ biến đổi được 1/2000 năng lượng thu được, tương ứng 2%, trong khi

đó chính quang hợp là nguồn gốc để tạo ra năng suất và phẩm chất cây trồng, quyết định 90 - 95% năng suất cây trồng

Hà Thị Thanh Bình [1] cho rằng mật độ gieo trồng với khoảng cách nhất định liên quan tới yếu tố cấu thành năng suất ở khoảng cách thích hợp tạo điều kiện đồng đều cho các cá thể phát huy hết khả năng sinh trưởng, phát triển thuận lợi cho năng suất cao Điều này được quyết định bởi quang hợp của quần thể Cường độ quang hợp của quần thể chịu sự chi phối của cường độ

ánh sáng Vì vậy việc quyết định khoảng cách gieo trồng có ý nghĩa trong việc

sử dụng ánh sáng Do đó, trong quá trình trồng trọt con người cần điều khiển hoạt động quang hợp bằng cách bố trí khoảng cách cây trồng một cách hợp lý 2.10.2 Một số kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách đến năng suất cây trồng

- Theo Viện Dược liệu [42], khoảng cách trồng Thanh cao khác nhau, cho năng suất và hàm lượng hoạt chất Artemisinin cũng khác nhau (bảng 2.3)

Trang 34

Bảng 2.3 Khoảng cách trồng ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng

Dược liệu Thanh cao

Khoảng cách

(cm) Địa điểm NS (kg/ha) HL(%) NS

(kg/ha) HL (%) 20x20

1220

1730

1490

1,02 1,15 1,23

NS (kg/ha) HL(%) NS

(kg/ha) HL (%) 25x25

25x25

25x25

Ninh Bình Thanh Hoá

1450

1500

1500

0,85 0,85 0,86 25x30

25x30

25x30

Ninh Bình Thanh Hoá

1650

1600

1750

1,02 0,97 0,85 25x40

25x40

25x40

Ninh Bình Thanh Hoá

1600

1700

1800

1,06 1,04 0,90 25x50

25x50

25x50

Ninh Bình Thanh Hoá

1400

1550

1700

1,1 1,05 0,90

Khi nghiên cứu cây Nhân trần, Nguyễn Thị Hoà, Nguyễn Bá Hoạt [16] thấy rằng cùng lượng phân đạm, trồng Nhân trần ở khoảng cách 15 x 15 cm và

15 x 20 cm cho năng suất dược liệu cao nhất từ 0,68 - 0,74 kg/m2 nhưng cùng lượng đạm đó ở khoảng cách trồng 15 x 25 nhân trần cho năng suất dược liệu thấp hơn 0,57 - 0,58kg/m2

Theo Đoàn Thị Thanh Nhàn [21], thời vụ 15/6 và 30/6 trồng Cúc hoa với khoảng cách khóm x khóm là 30 và 20 cm thì năng suất cao hơn so với

Trang 35

khóm x khóm là 40cm Công thức khóm x khóm là 30cm có năng suất cao nhất 12,95 tấn/ha

Phạm Văn ý, Nguyễn Văn Thuận, Bùi Thị Bằng [44] cho biết khoảng cách trồng Đương quy (cây nhập nội - đầu vị thuốc bắc) ở Đồng bằng Bắc bộ

20 x10cm và 20 x 20cm cho năng suất Dược liệu lệch nhau không đáng kể song cao hơn hẳn khoảng cách trồng 20 x 30cm

Khi nghiên cứu cây ích mẫu, Lê Khúc Hạo, Ngô Quốc Luật, Nguyễn Duy Thuần [12] thấy rằng nếu trồng ích mẫu trong 3 công thức về khoảng cách 20 x 10cm; 20 x 20cm; 20 x 30cm với lượng phân bón như nhau thì công thức trồng khoảng cách 20 x 20cm cho năng suất và hiệu quả cao nhất

Nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách, mật độ trồng đến sinh trưởng

và năng suất Dược liệu của một số cây thuốc di thực quý tại Sapa (Lào Cai), Nguyễn Bá Hoạt [15] đo có nhận xét rằng chiều cao cây có xu hướng giảm đi theo sự tăng lên của khoảng cách trồng Năng suất Dược liệu tăng lên khi khoảng cách trồng tăng lên, mật độ trồng thưa dần Tuy nhiên sự tăng giảm này đều có giới hạn nhất định (bảng 2.4)

Trang 36

Bảng 2.4 ảnh hưởng của khoảng cách, mật độ trồng đến sinh trưởng và

năng suất dược liệu Stt

Tên cây

thuốc

N/c

Khoảng cách trồng (cm)

Chiều cao cây (cm)

Khối lượng

củ (gr/củ)

Năng suất dược liệu (tấn/ha)

Sâu bệnh hại (%)

30 x 20 (15 vạn cây/ha) 127,9 ± 4,5 81,26 ± 17,5

(tươi) 7,8 ± 0,4

(tươi)

30 x 30 (11 vạn cây/ha) 120,5 ±3,7 134,15 ± 16,2

(tươi) 9,8 ± 0,5

(tươi)

1 Ô đầu

30 x 40 (8,3 vạn cây/ha) 118,8 ± 4,1 157,31 ± 16,4

(tươi) 7,6 ±0,6

(tươi) 30x30 (11

vạn cây/ha) 125,6 ± 4,5 23,6 ± 3,5

(khô) 1,95 ± 0,15

(khô) 30x40 (8,3

(khô) 1,87 ± 0,15

(khô)

20 x 10 (50 vạn cây/ha) 69,5 ± 3,5 9,32 ± 2,5

(khô) 1,88 ± 0,17

(khô)

23,5

20 x 20 (25 vạn cây/ha) 61,5 ± 3,2 15,21 ± 2,2

(khô) 2,29 ± 0,11

(khô)

21,72

20 x 20 (25 vạn cây/ha) 123,2 ± 4,0 24,85 ±

4(khô) 2,61 ± 0,12

(khô)

12,25

20 x 30 (15 vạn cây/ha) 114,3 ± 3,5 33,71 ±

Trang 38

3 đối tượng, địa điểm, nội dung

và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng

Vật liệu ban đầu là nguồn hạt giống Hy thiêm được thu từ tập đoàn cây

mẹ trồng tại ruộng thí nghiệm của Trung tâm Nghiên cứu Dược liệu Bắc Trung bộ trước đó Hạt giống đo được chọn lọc từ những cây có đặc điểm: khoẻ, mập, cây cao, sinh trưởng đồng đều, không biểu hiện bệnh hại

3.1.3 Thời gian và quy mô thí nghiệm

- Năm 2004: nghiên cứu kỹ thuật thu hoạch hạt giống với quy mô 90m2

(chưa tính dải bảo vệ)

- Năm 2005: nghiên cứu thời vụ, khoảng cách trồng Hy thiêm ảnh hưởng

đến năng suất hạt giống với quy mô 225m2 (chưa tính dải bảo vệ)

3.2 Nội dung nghiên cứu

3.2.1 Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của cây Hy thiêm trong thời

vụ đông xuân 2003 – 2004 (giai đoạn vườn ươm và ruộng thí nghiệm)

3.2.2 Tìm hiểu quá trình ra hoa, kết quả của Hy thiêm trong điều kiện trồng trọt

Trang 39

3.2.3 Nghiên cứu kỹ thuật thu hoạch hạt giống bằng những biện pháp khác nhau (dùng túi P.E chùm cây, chùm cành và không sử dụng túi P.E để cây ra hoa kết quả như ở tự nhiên)

3.2.4 Theo dõi khả năng nảy mầm của hạt giống Hy thiêm dưới ảnh hưởng của các phương pháp thu hoạch hạt giống khác nhau

3.2.5 Tìm hiểu ảnh hưởng của thời vụ, khoảng cách trồng đến khả năng nảy mầm, sinh trưởng, phát triển, năng suất hạt giống (vườn ươm và ruộng thí nghiệm)

3.2.6 Đánh giá mức độ sâu bệnh hại và biện pháp phòng trừ

Các công thức thí nghiệm được bố trí như sau:

Công thức 1: Sử dụng túi PE cỡ nhỏ có kích thước dài 40 - 50cm, rộng

30 - 40cm Túi được đục lỗ nhỏ thoát nước và không khí nhưng không cho hạt

được lọt ra khỏi túi Chọn những cành chính nhiều hoa quả tiến hành chùm lại Thời gian chùm vào buổi sáng và hoa nở trên cành khá nhiều Đây là kiểu thu hoạch chùm cành

Công thức 2: Sử dụng túi PE cỡ lớn có kích thước: Dài ≥ 80 cm, rộng ≥ 50cm, túi được đục lỗ nhỏ thoát nước và không khí nhưng không cho hạt lọt ra khỏi túi Chùm toàn bộ cây đương độ hoa quả Đây là kiểu thu hoạch chùm cây

Công thức 3: không chùm túi PE, giữ nguyên hiện trạng cây trồng Thu hoạch hạt cùng thời gian với cây có bao túi PE, công thức này làm đối chứng

Trang 40

Trên cơ sở 3 công thức (3 cách thu hạt) đánh giá năng suất, chất lượng hạt giống ở mỗi cách thu hoạch hạt khác nhau

- Các công thức thí nghiệm được bố trí theo sơ đồ bố trí sau:

- Các bước thực hiện:

+ Đánh giá về sinh trưởng: Các cá thể theo dõi được đeo thẻ có đánh số

cứ 15 ngày theo dõi 1 lần về kích thước cây biến đổi theo thời gian

+ Đánh giá về sự ra hoa kết quả: Các cá thể theo dõi được đeo thẻ có

đánh số Cứ 15 ngày lại theo dõi một lần Xác định số tổng bao hoa/cá thể

đồng thời xác định thời gian cây tập trung ra hoa kết quả

+ Đánh giá về thời gian từ khi ra hoa đến khi quả chín: Mỗi cá thể chọn

1 số hoa nở đồng đều, đeo thẻ cho các hoa đó để theo dõi các pha tạo hạt: từ khi hoa nở, tạo quả đến khi quả chín

+ Kỹ thuật để thu hạt giống: Có 3 công thức khác nhau, mỗi công thức nhắc lại 3 lần, thể hiện 9 ô thí nghiệm Mỗi ô thí nghiệm đánh giá 10 cá thể tại

5 điểm trên đường chéo mỗi ô (mỗi điểm đánh giá 2 cá thể)

- Các điểm lấy mẫu trong mỗi ô theo đường chéo sau: (các điểm cách

Dải bảo vệ Dải bảo vệ

Ngày đăng: 08/08/2013, 22:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. ảnh hưởng của thời vụ đến năng suất chất lượng  D−ợc liệu Thanh cao. - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất hạt giống cây hy thiêm (siegesbeekia orientalis l ) vùng đồng bằng thanh hoá
Bảng 2.1. ảnh hưởng của thời vụ đến năng suất chất lượng D−ợc liệu Thanh cao (Trang 29)
Bảng 2.3. Khoảng cách trồng ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng  D−ợc liệu Thanh cao - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất hạt giống cây hy thiêm (siegesbeekia orientalis l ) vùng đồng bằng thanh hoá
Bảng 2.3. Khoảng cách trồng ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng D−ợc liệu Thanh cao (Trang 34)
Bảng 2.4. ảnh hưởng của khoảng cách, mật độ trồng đến sinh trưởng và  năng suất d−ợc liệu - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất hạt giống cây hy thiêm (siegesbeekia orientalis l ) vùng đồng bằng thanh hoá
Bảng 2.4. ảnh hưởng của khoảng cách, mật độ trồng đến sinh trưởng và năng suất d−ợc liệu (Trang 36)
Bảng 4.1. Sự sinh trưởng cuả cây con Hy thiêm ở thời kỳ vườn ươm.  (vụ đông xuân 2003 - 2004)  Thời gian từ khi gieo đến mọc (ngày)KÝch th−íc c©y contr−íc khi trồng  (cm) Sè lá và kÝch th−íc lá S©u bệnh hại Lô  hạt gièng Sè l−ợng  hạt gièng  (g) - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất hạt giống cây hy thiêm (siegesbeekia orientalis l ) vùng đồng bằng thanh hoá
Bảng 4.1. Sự sinh trưởng cuả cây con Hy thiêm ở thời kỳ vườn ươm. (vụ đông xuân 2003 - 2004) Thời gian từ khi gieo đến mọc (ngày)KÝch th−íc c©y contr−íc khi trồng (cm) Sè lá và kÝch th−íc lá S©u bệnh hại Lô hạt gièng Sè l−ợng hạt gièng (g) (Trang 47)
Đồ thị 4.1. Quá trình sinh tr−ởng phát triển - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất hạt giống cây hy thiêm (siegesbeekia orientalis l ) vùng đồng bằng thanh hoá
th ị 4.1. Quá trình sinh tr−ởng phát triển (Trang 49)
Đồ thị 4.2. Quá trình sinh tr−ởng phát triển đ−ờng kính gốc của Hy thiêm Quá trình sinh tr−ởng của Hy thiêm về đ−ờng kính gốc - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất hạt giống cây hy thiêm (siegesbeekia orientalis l ) vùng đồng bằng thanh hoá
th ị 4.2. Quá trình sinh tr−ởng phát triển đ−ờng kính gốc của Hy thiêm Quá trình sinh tr−ởng của Hy thiêm về đ−ờng kính gốc (Trang 50)
Đồ thị 4.3. Quá trình sinh tr−ởng phát triển về kích th−ớc lá cây Hy thiêm   Qua bảng 4.2 và các đồ thị 4.1, 4.2, 4.3 chúng tôi nhận thấy: - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất hạt giống cây hy thiêm (siegesbeekia orientalis l ) vùng đồng bằng thanh hoá
th ị 4.3. Quá trình sinh tr−ởng phát triển về kích th−ớc lá cây Hy thiêm Qua bảng 4.2 và các đồ thị 4.1, 4.2, 4.3 chúng tôi nhận thấy: (Trang 51)
Bảng 4.3. Khả năng và tỷ lệ ra hoa kết quả của cây Hy thiêm theo thời gian  (vô Xu©n 2004) - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất hạt giống cây hy thiêm (siegesbeekia orientalis l ) vùng đồng bằng thanh hoá
Bảng 4.3. Khả năng và tỷ lệ ra hoa kết quả của cây Hy thiêm theo thời gian (vô Xu©n 2004) (Trang 54)
Bảng 4.4. Thời gian ra hoa kết quả của cây Hy thiêm - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất hạt giống cây hy thiêm (siegesbeekia orientalis l ) vùng đồng bằng thanh hoá
Bảng 4.4. Thời gian ra hoa kết quả của cây Hy thiêm (Trang 59)
Bảng 4.5. Kết quả về năng suất hạt giống Hy thiêm thu đ−ợc với các biện  pháp kỹ thuật khác nhau - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất hạt giống cây hy thiêm (siegesbeekia orientalis l ) vùng đồng bằng thanh hoá
Bảng 4.5. Kết quả về năng suất hạt giống Hy thiêm thu đ−ợc với các biện pháp kỹ thuật khác nhau (Trang 61)
Bảng 4.6: Khả năng nảy mầm của hạt Hy thiêm   trong quá trình bảo quản - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất hạt giống cây hy thiêm (siegesbeekia orientalis l ) vùng đồng bằng thanh hoá
Bảng 4.6 Khả năng nảy mầm của hạt Hy thiêm trong quá trình bảo quản (Trang 63)
Bảng 4.7. Khả năng nảy mầm của hạt Hy thiêm - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất hạt giống cây hy thiêm (siegesbeekia orientalis l ) vùng đồng bằng thanh hoá
Bảng 4.7. Khả năng nảy mầm của hạt Hy thiêm (Trang 64)
Bảng 4.8. ảnh hưởng của thời vụ gieo hạt đến sinh trưởng của cây con   tại v−ờn −ơm . - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất hạt giống cây hy thiêm (siegesbeekia orientalis l ) vùng đồng bằng thanh hoá
Bảng 4.8. ảnh hưởng của thời vụ gieo hạt đến sinh trưởng của cây con tại v−ờn −ơm (Trang 66)
Bảng 4.9. Thời vụ, khoảng cách ảnh hưởng đến sinh trưởng của Hy thiêm 2005  Ghi chú:  I: Ngày trồng;     I – VI: Mỗi lần đánh giá cách nhau 15 ngày;      VII: Ngày thu hoạch hạt trạng thái cây đo già - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất hạt giống cây hy thiêm (siegesbeekia orientalis l ) vùng đồng bằng thanh hoá
Bảng 4.9. Thời vụ, khoảng cách ảnh hưởng đến sinh trưởng của Hy thiêm 2005 Ghi chú: I: Ngày trồng; I – VI: Mỗi lần đánh giá cách nhau 15 ngày; VII: Ngày thu hoạch hạt trạng thái cây đo già (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm