1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, phẩm chất một số giống hoa phong lan hồ điệp nhập nội

121 585 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, phẩm chất một số giống hoa phong lan hồ điệp nhập nội
Tác giả Hoàng Xuân Lam
Người hướng dẫn PGS.TS. Hoàng Ngọc Thuận
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp i

Hoàng xuân lam

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, phẩm chất một số giống

hoa phong lan hồ điệp nhập nội

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp

Chuyên ngành: Trồng trọt Mã số : 60.62.01

Người hướng dẫn khoa học: pgs.ts hoàng ngọc thuận

Hà Nội – 2006

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và ch−a từng đ−ợc ai công bố ở bất cứ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ−ợc ghi rõ nguồn gốc

Tác giả

Hoàng Xuân Lam

Trang 3

Luận văn được thực hiện tại Trung tâm Hoa cây cảnh - Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam Tại đây tôi đã nhận được sự giúp đỡ của Ban lãnh đạo Viện Di truyền Nông nghiệp, Lãnh đạo và các cán bộ Trung tâm Hoa cây cảnh trong suốt quá trình học tập cũng như tiến trình thực hiện đề tài nghiên cứu Tôi xin chân thành cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu đó

Tôi xin gửi lời cảm ơn Lãnh đạo Trường Đại học Nông nghiệp I

Hà Nội, Ban chủ nhiệm khoa Nông học, khoa sau Đại học, các Thầy Cô giáo trong bộ môn Rau - Hoa - Quả, khoa Nông học đã tạo mọi điều kiện

và giúp đỡ tôi về kiến thức và chuyên môn trong suốt 2 năm học tập và làm luận văn

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Gia

đình, người thân và toàn thể bạn bè, đồng nghiệp đã cổ vũ, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Một lần nữa, tôi xin chân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 8 năm 2006

Tác giả

Hoàng Xuân Lam

Trang 4

C¸c ch÷ viÕt t¾t trong luËn v¨n

Ph

C.cao

CT CTTN

NN & PTNT

Phalaenopsis ChiÒu cao C«ng thøc C«ng thøc thÝ nghiÖm

§é bÒn

§èi chøng

§−êng kÝnh Trung b×nh Growmore

§¹i häc N«ng nghiÖp I

Di truyÒn N«ng nghiÖp Trung t©m

Tr−íc c«ng nguyªn N«ng nghiÖp vµ Ph¸t triÓn N«ng th«n

Trang 5

Danh mục bảng biểu

Bảng 4.1 ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng của hoa phong lan

Hồ điệp giai đoạn sau ống nghiệm 48 Bảng 4.2: ảnh hưởng của giá thể đến tốc độ tăng trưởng lá phong lan

Hồ điệp giai đoạn sau ống nghiệm 50 Bảng 4.3: ảnh hưởng của phân bón lá đến tỷ lệ sống và tỷ lệ cây

xuất vườn của cây con sau ống nghiệm 52 Bảng 4.4: ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng lá và rễ cây

phong lan Hồ điệp sau ống nghiệm 54 Bảng 4.5 Đặc điểm sinh trưởng phát triển của hoa phong lan Hồ điệp

nhập nội ở các nền giá thể khác nhau 57 Bảng 4.6: ảnh hưởng của giá thể đến tỷ lệ cây ra hoa và chất lượng

hoa phong lan Hồ điệp 59 Bảng 4.7 ảnh hưởng của nồng độ Pomior đến sự tăng trưởng lá

của hoa phong lan Hồ điệp nhập nội 61 Bảng 4.8 ảnh hưởng của nồng độ Pomior đến tỷ lệ nở hoa và

chất lượng hoa phong lan Hồ điệp nhập nội 65 Bảng 4.9: ảnh hưởng của tỷ lệ phân bón lá Growmore đến khả năng

phân hoá mầm hoa phong lan Hồ điệp 67 Bảng 4.10: ảnh hưởng của tỷ lệ phân bón lá Growmore đến chất lượng

hoa phong lan Hồ điệp 69 Bảng 4.11 ảnh hưởng của loại phân bón lá đến khả năng sinh trưởng

phát triển của hoa phong lan Hồ điệp nhập nội 72 Bảng 4.12 ảnh hưởng của loại phân bón đến tỷ lệ nở hoa và chất lượng

hoa phong lan Hồ điệp nhập nội 74 Bảng 4.13: ảnh hưởng của dung dịch cắm hoa đến chất lượng và độ bền hoa cắt 77 Bảng 4.14: Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng các loại phân bón lá

Trang 6

cho hoa phong lan Hồ điệp 78

Danh mục đồ thị, biểu đồ Đồ thị 4.1a: Động thái tăng trưởng chiều dài lá 51

Đồ thị 4.1b: Động thái tăng trưởng chiều rộng lá 52

Đồ thị 4.2a: Tốc độ tăng trưởng chiều dài lá 55

Đồ thị 4.2b: Tốc độ tăng trưởng chiều rộng lá 55

Biểu đồ 4.1: ảnh hưởng của giá thể đến chiều cao cây 58

Đồ thị 4.3a: Động thái tăng trưởng chiều dài lá 63

Đồ thị 4.3b: Động thái tăng trưởng chiều rộng lá 64

Biểu đồ 4.2: ảnh hưởng của nồng độ Pomior đến khả năng ra nụ và nở hoa của hoa phong lan Hồ điệp 66

Biểu đồ 4.3: ảnh hưởng của tỷ lệ phân bón lá Growmore đến khả năng ra nụ và nở hoa của hoa phong lan Hồ điệp 68

Biểu đồ 4.4: ảnh hưởng của tỷ lệ phân bón lá Growmore đến chiều cao cành hoa phong lan Hồ điệp 70

Biểu đồ 4.5: ảnh hưởng của loại phân bón lá đến sinh trưởng của hoa phong lan Hồ điệp 73

Biểu đồ 4.6: ảnh hưởng của loại phân bón lá đến khả năng ra nụ và nở hoa của hoa phong lan Hồ điệp 75

Biểu đồ 4.7: ảnh hưởng của dung dịch cắm hoa đến độ bền hoa cắt của hoa phong lan Hồ điệp 78

Trang 7

Mục lục

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Danh mục chữ viết tắt iii

Danh mục bảng biểu iv

Danh mục đồ thị, biểu đồ v

Mục lục vi

Phần I: Mở đầu 9

1.1 Đặt vấn đề 9

1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 11

1.2.1 Mục đích 11

1.2.2 Yêu cầu 11

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn 11

Phần II: Tổng quan tài liệu 12

2.1 Nguồn gốc, vị trí phân loại, giá trị kinh tế và sử dụng của cây hoa lan 12 2.2 Đặc điểm thực vật học 14

2.3 Yêu cầu ngoại cảnh 17

2.4 Tình hình sản xuất và phát triển hoa lan trên thế giới và ở Việt Nam 24

2.5 Tình hình nghiên cứu cây hoa lan trên thế giới và ở Việt Nam 29

Phần 3: vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 41

3.1 Vật liệu nghiên cứu 41

3.2 Nội dung nghiên cứu 43

3.3 Phương pháp nghiên cứu 45

3.4 Các chỉ tiêu theo dõi 46

3.5 Xử lý số liệu 46

Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 47

4.1 Đánh giá tỷ lệ sống, khả năng sinh trưởng của giống hoa phong lan Hồ điệp giai đoạn sau ống nghiệm 47

Trang 8

4.1.1 ảnh hưởng của giá thể đến tỷ lệ sống của cây con sau ống nghiệm 47

4.1.2 ảnh hưởng của giá thể đến tốc độ tăng trưởng lá lan Hồ điệp con giai đoạn sau ống nghiệm 49

4.1.3 ảnh hưởng của phân bón lá đến tỷ lệ sống và tỷ lệ xuất vườn của cây lan con sau ống nghiệm 52

4.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng hoa phong lan Hồ điệp nhập nội 56

4.2.1 ảnh hưởng của giá thể đến khả năng sinh trưởng, phát triển của hoa phong lan Hồ điệp nhập nội 56

4.2.2 ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển của hoa phong lan Hồ điệp 61

4.3 Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng các loại phân bón lá trong sản xuất hoa phong lan Hồ điệp 78

Phần V: Kết luận và đề nghị 81

5.1 Kết luận 81

5.2 Đề nghị 82

Tài liệu tham khảo 83

Trang 9

là thứ hoa tượng trưng cho tâm hồn cao quý, tình yêu thiêng liêng, may mắn

và hạnh phúc Hay ở châu âu và bắc Mỹ thì coi hoa Tuylip là nàng hoa xuân kiều diễm, là vẻ đẹp huy hoàng trước phong ba bão táp Còn hoa Hồng là thứ hoa được cả thế giới ưa thích, nó tượng trưng cho sức mạnh của tình yêu sôi nổi và dịu dàng Hay hoa Cúc là thứ hoa không thể thiếu trong ngày hội đại hoàng của hai dân tộc Trung Hoa và Nhật Bản, nó tượng trưng cho chiến thắng, hạnh phúc, sự giàu sang và quyền quý Người Thái Lan đặc biệt yêu hoa Lan bởi đó là thứ hoa vừa giản dị vừa kiêu sa - nó là sự chắt lọc kỳ diệu nhất những tinh túy từ vẻ đẹp thiên nhiên ban tặng vào thế giới cây cỏ

Nhân dân ta cũng như nhân dân các nước trên thế giới đều rất yêu hoa, hoa được dùng trong các buổi hội hè, lễ Tết, cưới xin, ma chay, ngày vui, các dịp kỷ niệm , hoa đem lại cho con người những cảm xúc thẩm mỹ cao quý

mà không một thứ quà tặng nào có được Xét về mặt kinh tế, trồng hoa là nghề

đem lại lợi nhuận kinh tế cao Theo ITC (Trung tâm phát triển xuất khẩu của Liên Hợp Quốc) thì tổng kim ngạch xuất khẩu hoa tươi trên thế giới hàng năm khoảng 25 tỷ USD, dự kiến vào đầu thế kỷ XXI là 40 tỷ USD [39] ở Việt

Trang 10

Nam, trồng hoa cũng là một nghề sản xuất kinh doanh được đặc biệt quan tâm, nhất là ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Lạt, Hải Phòng, Quảng Ninh Chính vì vậy, diện tích trồng hoa đã không ngừng tăng lên Hiện tại Việt Nam có khoảng 13.400 ha hoa (không tính diện tích cây cảnh, cây bóng mát) [39] Trong các loại hoa thông dụng, cây hoa Lan được biết đến từ năm 2.800 TCN, trải qua lịch sử phát triển lâu dài của nó, đến nay

ở nhiều nước đã lai tạo được nhiều giống Lan mới đem lại giá trị kinh tế cao Giá trị của Lan không phải chỉ biểu hiện ở sắc đẹp và mùi thơm của hoa mà còn cả ở lá và rễ Đến nay loài người đã biết được trên 750 chi với 25.000 loài Lan tự nhiên và 75.000 loài Lan do kết quả chọn lọc và lai tạo [15]

Việt Nam có hàng trăm loài Lan được trồng rộng rãi trên khắp đất nước, trong đó lan Hồ điệp, Cattleya và Đai châu, là những loài Lan được nhiều người ưa chuộng Nó hấp dẫn người tiêu dùng về màu sắc đa dạng, mùi thơm quyến rũ và đặc biệt thu hút các nhà sản xuất kinh doanh bởi đặc tính bền lâu của hoa [41] Tuy nhiên, thực tế sản xuất hoa Lan ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn do thiếu giống tốt, kỹ thuật chưa đồng bộ, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, chưa có các quy trình kỹ thuật đầy đủ Do vậy, sản xuất còn manh mún,

lẻ tẻ, số lượng và chất lượng hoa Lan chưa đáp ứng được nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng Nhằm góp phần khắc phục hạn chế này, tạo điều kiện cho cây hoa Lan nói chung và lan Hồ điệp nói riêng phát triển có hiệu quả, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, phẩm

chất giống hoa phong lan Hồ điệp nhập nội”

Trang 11

1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích

- Xác định những nguyên nhân chính đã làm ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây hoa phong lan Hồ điệp Từ đó đề xuất các biện pháp kỹ thuật phù hợp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng hoa

- Trên cơ sở các biện pháp kỹ thuật, tìm ra quy trình phù hợp ứng dụng trong sản xuất giống hoa phong lan Hồ điệp nhập nội có chất lượng góp phần phát triển cây hoa phong lan Hồ điệp giúp các cơ sở sản xuất kinh doanh áp dụng tiến bộ kỹ thuật một cách khoa học và có hiệu quả nhất

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của hoa phong lan Hồ điệp có ý nghĩa trong thực tế sản xuất

- Trên cơ sở xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng, từ đó bổ sung một số biện pháp kỹ thuật giúp cây hoa phong lan Hồ điệp có điều kiện phát triển mạnh mẽ

- Các kết quả nghiên cứu được áp dụng cho sản xuất và giúp giải quyết các vấn đề trong nhân giống và chọn tạo giống

Trang 12

Phần II Tổng quan tài liệu

2.1 Nguồn gốc, vị trí phân loại, giá trị kinh tế và sử dụng của

cây hoa lan

Theo các tác giả: Nguyễn Tiến Bân [2], Trần Hợp [15], Võ Văn Chi -

Lê Khả Kế [5], Nguyễn Văn Chương, Trịnh Văn Thịnh [7], Koopowitz,- H [54], cây hoa lan Orchidaceae thuộc họ phong lan Orchidaceae, bộ lan Orchidales, lớp một lá mầm Monocotyledone Họ lan Orchidaceae ở trong lớp

đơn tử diệp, thuộc ngành ngọc lan, thực vật hạt kín Mangoliophyta, phân lớp hành Lilidae Họ Lan là họ có số lượng loài lớn đứng thứ hai sau họ Cúc, khoảng 15.000 - 35.000 loài phân bố từ 680 vĩ Bắc đến 560 vĩ Nam, nghĩa là từ gần cực Bắc như Thụy Điển, Alaska xuống tận các đảo cuối cùng cực Nam ở Australia Tuy nhiên, phân bố chính của họ này là ở các vĩ độ nhiệt đới, đặc biệt là châu Mỹ và Đông Nam á Ngay ở vùng nhiệt đới, họ Lan cũng phân bố rộng khắp từ vùng đầm lầy sát Hồ Biển qua các đồi núi thấp lên cả đồi núi cao Mặc dù đa số các loài lan chỉ mọc ở độ cao dưới 2.000 m so với mặt biển, song có ít loài sống được cả ở độ cao 5.000 m ở Colombia có một số loài phong lan sống ở núi quanh năm tuyết phủ [57] Đến nay loài người biết được

750 chi và khoảng 25.000 loài nhỏ Qua kết quả chọn lọc và lai tạo, các nhà chọn giống và trồng lan đã bổ sung thêm 75.000 loài lan mới (Saprothx - Tea hulturn, 1953; Camphell,1964), thường là những cây bụi sống trên mặt đất

được gọi là Địa lan hoặc bám vào thân, cành cây được gọi là Phong lan

Họ lan phân bố nhiều nhất trong hai vùng nhiệt đới, có 250 chi và 6.800 loài Các loài đặc sản ở châu Mỹ nhiệt đới gồm: Cattleya (60 loài), Epidendrum (500 loài), Odontoglosum (200 loài) ở vùng ôn hòa số loài lan

Trang 13

loài, Nam bán cầu có khoảng 40 chi và 500 loài (theo F Gbriger, 1971) [11] Lúc đầu lan được khai thác sưu tầm chỉ nhằm mục đích làm dược liệu và hương liệu Người ta cứ tưởng rằng cây lan được biết đến đầu tiên ở châu Âu qua bản viết tay bằng chữ Hy Lạp của Theophrastus (khoảng năm 370 - 285 TCN) nhưng thực ra cây hoa lan được biết đến đầu tiên ở phương Đông khoảng từ những năm 551 - 479 TCN [18] Theo Bretchacider thì từ đời vua Thần Nông (2800 TCN), lan rừng đã được dùng làm thuốc chữa bệnh Sau đó, cùng với vẻ đẹp và tác dụng chữa bệnh, nó có mặt ở khắp châu Âu Lan đối với người Trung Hoa hay người Nhật Bản tượng trưng cho tình yêu và vẻ đẹp, hương thơm tao nhã, nó thuộc về phái yếu, quý phái và thanh lịch [20]

ở Việt Nam, dấu vết nghiên cứu về lan buổi đầu không rõ rệt lắm, có lẽ người đầu tiên có khảo sát về lan ở Việt Nam là Gioalas Noureiro - Nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha, ông đã mô tả cây lan ở Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1789 trong cuốn “Flora cochin chinensis”, gọi tên các cây lan trong cuộc hành trình đến nam phần Việt Nam là Aerides, Phaius và Sarcopodium

mà đã được Bentham và Hooker ghi lại trong cuốn “Genera planterum” (1862

- 1883) [9] Chỉ sau khi người Pháp đến Việt Nam thì mới có những công trình nghiên cứu được công bố đáng kể là F Gagnepain và A Gnillaumin mô tả 70 chi gồm 101 loài cho cả 3 nước Đông Dương trong bộ “Thực vật Đông Dương chí” do H Lecomte chủ biên, xuất bản năm 1932 - 1934 [15]

Phân loại họ phong lan: các tác giả Phạm Hoàng Hộ [12], Trần Hợp

[15], sự phân chia họ phong lan khá phức tạp, theo truyền thống cổ điển, các nhà khoa học trước đây chia họ phong lan làm 3 họ phụ khá minh bạch Gần

đây do phân tích hoa đầy đủ hơn và đi sâu vào đặc tính di truyền, các nhà khoa học đã chia họ phong lan thành 6 họ phụ:

1 Apostasioideae 4 Orchidioideae

2 Cypripedioideae 5 Epidendroideae

Trang 14

3 Neottioideae 6 Vandoideae

Cả 6 họ phụ này đều phân bố rộng rãi trên trái đất Họ phong lan của Việt Nam cũng khá phong phú, theo thống kê sơ bộ có 120 chi, trên 800 loài Như vậy, hoa phong lan đã trở thành một đối tượng cực kỳ phong phú và đặc sắc của hệ thực vật Việt Nam, nó chẳng những là một trong những họ thực vật lớn nhất mà còn góp nhiều về mặt giá trị sử dụng cho nền kinh tế nước nhà

2.2.2 Thân lan

Trang 15

Có 2 nhóm thân chính là đơn thân và đa thân Thân lan có thể ngắn hay kéo dài, đôi khi phân nhánh, mang lá hay không mang lá [6], [18] ở nhóm đa thân thì đặc cây vừa có thân vừa có giả hành Giả hành là nơi dự trữ chất dinh dưỡng và nước để nuôi cây Đây được đánh giá là bộ phận rất cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của lan đa thân Giả hành có nhiều hình dạng tùy

từng loài lan như dạng hình thoi thấy ở loài Cattleya labiata , dạng hình trụ thấy ở loài Cattleya guttata , còn dạng hình tháp giống như Cymbidium

Cấu tạo giả hành gồm nhiều mô mềm chứa đầy dịch nhầy, phía ngoài có lớp biểu bì với vách tế bào dày, nhẵn bóng, bảo vệ để tránh sự mất nước khi gặp

điều kiện bất lợi [20] Lan Hồ điệp thuộc loại lan thân ngắn, không có giả hành, không phân nhánh và mang nhiều lá

ôm lấy thân [20] Lan Hồ điệp là loài có phiến lá to, dày và nạc, có màu xanh

đậm, xếp đối xứng ôm lấy thân cây Lan Hồ điệp cũng giống như đa số các loài lan khác, lá không có răng cưa

2.2.4 Hoa lan

Cấu tạo hoa lan cực kỳ phong phú và hấp dẫn Ta có thể gặp nhiều loài

mà mỗi mùa chỉ có một đóa hoa nở hoặc có nhiều cụm hoa mà mỗi cụm chỉ

đơm 1 bông Tuy nhiên, đa số các loài lan đều nở rộ nhiều hoa, tập hợp lại thành chùm phân bố ở đỉnh thân hay nách lá Hoa lan có cấu trúc cơ bản là

Trang 16

hoa mẫu ba, kiểu hoa đặc trưng của hoa lớp một lá mầm nhưng đã biến đổi rất nhiều để hoa có đối xứng qua một mặt phẳng Hoa lan thuộc hoa lưỡng tính, rất hiếm gặp loài đơn tính, bao hoa có dạng cánh xếp thành hai vòng [4], [20] Hoa lan có ba cánh đài, thường có cùng màu sắc và kích thước Tuy nhiên, các loài lan khác nhau, cánh đài có hình dạng biến đổi rất khác nhau Dạng hình tròn như các giống Vanda, Ascocentrum, nhọn như Cattleya, xoắn như các loài thuộc giống Laelia Nằm kề bên trong và xen kẽ với ba cánh đài là hai cánh hoa, thường cũng giống nhau về hình dạng, kích thước và màu sắc Cánh còn lại nằm ở phía trên hay phía dưới của hoa, thường có màu sắc và hình dạng đặc biệt khác hẳn hai cánh kia gọi là cánh môi hay cánh lưỡi Chính cánh môi quyết định phần lớn giá trị thẩm mỹ của hoa lan [18]

Trụ hoa là bộ phần sinh dục của hoa, bao gồm cả cơ quan sinh dục đực

và cái nên được gọi là trục - hợp - nhụy Phần cái mang noãn hình lồi, bề mặt dính chất nhầy Phần đực mang phấn khối, phấn của hoa lan không tách ra thành từng hạt nhỏ mà kết tụ lại thành những đám đặc có ít hay nhiều sáp Số lượng phấn khối là 2, 4, 6, 8 có dạng cong hay thuôn lưỡi liềm Hoa phong lan

có bầu hạ, thuôn dài kéo theo xuống Sự vặn xoắn toàn bộ hoa trong quá trình phát triển là đặc điểm của bầu Hoa thường bị vặn xoắn 1800 sao cho cánh môi khi hoa bắt đầu nở hướng ra bên ngoài, thuận lợi cho côn trùng đậu Hiếm khi hoa vặn 3600 như ở Malaxia, Paludosa hoặc không vặn gì do cuống hoa rủ xuống như loài Stanhopea Như thế khi hoa nở, cánh môi hướng lên trên, thích nghi với loại côn trùng ưa lộn đầu xuống dưới khi chui vào hoa Bầu hoa có 3

ô gọi là 3 tâm bì Trong bầu chứa vô số các hạt nhỏ li ti gọi là tiểu noãn nằm trên 3 đường, dọc theo chiều dài của 3 mép tâm bì Sau khi thụ phấn, thụ tinh, các tiểu noãn sẽ biến đổi và phát triển thành hạt trong khi đó bầu noãn sẽ phát triển thành quả Hoa lan Hồ điệp có màu sắc phong phú, hình dạng, kích thước

Trang 17

biến động lớn, số lượng hoa dao động từ 3 - 30 hoa Đa số là không có hương thơm, không có khả năng tự thụ phấn mà phải nhờ côn trùng hoặc được thụ phấn nhân tạo để đậu quả

2.2.6 Hạt lan

Hạt lan rất nhiều, nhỏ li ti Hạt chỉ cấu tạo bởi một khối chưa phân hoá, trên một mạng lưới nhỏ, xốp, chứa đầy không khí, sau 2 - 18 tháng hạt mới chín Phần lớn hạt thường chết vì khó gặp nấm cộng sinh cần thiết để nảy mầm do đó hạt nhiều, nhẹ có thể theo gió bay phát tán rất rộng nhưng hạt nảy mầm thành cây rất hiếm Chỉ trong những khu rừng già ẩm ướt vùng nhiệt đới mới đủ điều kiện cho hạt lan nảy mầm Khối lượng toàn bộ hạt trong 1 quả chỉ bằng 1/10 - 1/000 mg, trong đó không khí chiếm xấp xỉ 76 - 96% thể tích hạt

2.3 Yêu cầu ngoại cảnh

Theo một số tác giả Gries bach [47], Goh,- CJ và cộng sự [48], Goh,-

CJ [49], Goh,- CJ; Wara - Aswapati [50], Goh,- CJ; Halevy [51], Hew,- cs [52], Juntima - Pipatpongsa [53], cây lan yêu cầu các điều kiện ngoại cảnh khá phức tạp cả về nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng

Trang 18

Lan vùng lạnh: phân bố từ vĩ tuyến 28 - 400, các loại lan này không cần nuôi dưỡng trong nhà kính

Lan vùng nóng: phân bồ từ vĩ tuyến 12 - 150, nhiệt độ trung bình từ 24 -

250, biến động từ 18 - 400

Lan vùng trung gian: phân bố từ vĩ tuyến 15 - 280, vùng này có nhiệt độ xấp xỉ 90C vào tháng giêng và xấp xỉ 320C vào tháng 7

Căn cứ vào nhu cầu nhiệt độ của lan, người ta chia làm 3 nhóm:

Nhóm lan ưa nóng: bao gồm những loài lan chịu nhiệt độ ban ngày

không dưới 210C, ban đêm không dưới 18,50C Những loại lan này thường có nguốn gốc ở vùng nhiệt đới

Nhóm lan ưa nhiệt độ trung bình: bao gồm những loài lan chịu nhiệt độ

ban ngày không dưới 14,50C, ban đêm không dưới 13,50C

Nhóm lan ưa lạnh: bao gồm những loài lan chịu nhiệt độ ban ngày

không quá 140C, ban đêm không quá 130C Chúng thường xuất xứ ở vùng hàn

đới, ôn đới và các khu vực núi cao vùng nhiệt đới

Nhiệt độ ảnh hưởng đến hoạt động quang hợp và hô hấp của cây ở điều kiện nhiệt độ tối thích, hoạt động quang hợp và hô hấp của lan diễn ra thuận lợi, cây sinh trưởng, phát triển bình thường Ví dụ lan Hồ điệp, nhiệt độ lý tưởng vào ban ngày là 22 - 250C, vào ban đêm 180C [39] Nhiệt độ cũng ảnh

hưởng đến sự ra hoa của một số loài lan ở loài Paphiopedilum insigne và

Dendrobium nobile chỉ ra hoa khi nhiệt độ hạ xuống 130C hoặc thấp hơn Nếu nhiệt độ cao nó chỉ sinh trưởng sinh dưỡng Lan Hồ điệp chỉ ra hoa khi nhiệt

độ ban đêm giảm xuống dưới 210C [62]

2.3.2 ẩm độ

ẩm độ là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ quả trình sinh trưởng, phát triển của cây lan Đa số các loài lan thích hợp ở mức ẩm độ tương đối tối

Trang 19

- 90% Tuy nhiên trong từng mùa vụ cụ thể ẩm độ tương đối có sự thay đổi đã làm ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phát triển cũng như khả năng ra hoa của lan ở miền Bắc, vào mùa hè, những ngày có hiệu ứng gió phơn tây nam, ẩm

độ xuống dưới 50% đã ảnh hưởng xấu đến hoạt động sống của cây lan Vì vậy, chế độ tưới nước là chìa khoá quan trọng trong sản xuất hoa lan [26] Khi

đề cập đến ẩm độ đối với hoa lan, người ta thường lưu ý tới 3 loại ẩm độ:

ẩm độ của vùng: là ẩm độ của khu vực rộng lớn, nơi mà ta sẽ thiết lập

vườn lan ẩm độ này do điều kiện địa lý, địa hình quyết định

ẩm độ vườn: ẩm độ của chính vườn lan, ẩm độ này có thể cải tạo theo ý

muốn như đào ao, xây bể, làm mương rạch, trồng cây, làm giàn, tưới nước

ẩm độ trong chầu trộng lan: gọi là ẩm độ cục bộ, do cấu tạo của giá

thể, thể tích chậu, số lần tưới quyết định ẩm độ này phụ thuộc hoàn toàn vào

kỹ thuật của người trồng lan

Sự hài hoà của ẩm độ vùng, ẩm độ vườn giúp cho người trồng lan có thể sáng tạo sử dụng giá thể trồng, lượng nước tưới, thiết kế giàn che hợp lý Cần lưu ý là ẩm độ trong vườn cao sẽ tốt hơn ẩm độ cục bộ trong chậu cao bởi cây lan ít bị chết do ẩm độ trong vườn cao mà thường bị chết do ẩm độ cục bộ trong chậu cao Việc lựa chọn giá thể là một biện pháp hữu hiệu để điều tiết

ẩm độ thích hợp cho cây lan

2.3.3 ánh sáng

ánh sáng là điều kiện rất cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển thông qua quá trình quang hợp và hô hấp Nhu cầu về ánh sáng của các loài lan là rất khác nhau Vanda lá tròn, Arachinis, Renanthera yêu cầu 100% ánh sáng tự nhiên, tức là khoảng 40000 lux Dendrobium yêu cầu 70% ánh sáng tự nhiên, khoảng 15000 - 30000 lux Trong khi đó lan Hồ điệp (Phalaenopsis) nhu cầu chỉ là 30% ánh sáng tự nhiên, khoảng 5000 - 14000 lux [26] Cường

Trang 20

độ quang hợp gia tăng cùng với cường độ ánh sáng Tuy nhiên, khi cường độ

ánh sáng vượt quá một trị số giới hạn nào đó thì cường độ quang hợp không tăng lên nữa và có thể giảm do quá trình quang hô hấp Vì vậy, cần thiết kế vườn lan và hệ thống lưới che sao cho phù hợp với từng loài lan cụ thể Dựa vào nhu cầu ánh sáng của từng loài lan mà người ta chia ra làm 3 nhóm:

Nhóm lan ưa ánh sáng mạnh: Vanda, Renanthera, Cattleya

Nhóm lan ưa ánh sáng yếu: Phalaenopsis, Paphiopedilum

Nhóm lan ưa ánh sáng trung bình: Dendrobium, Cymbidium

ánh sáng ảnh hưởng đến khả năng phân hoá mầm hoa và ra hoa của một số loài lan Hầu hết các loài thuộc chi Cattleya, Dendrobium nếu thiếu

ánh sáng cây không ra hoa

Lan Hồ điệp tuy chịu được ánh sáng yếu nhưng thực tế nhu cầu về ánh sáng của chúng cao hơn nhiều Vì thế, không nên đặt lan Hồ điệp vào chỗ quá râm mát ở điều kiện Việt Nam, nếu cây lan Hồ điệp được trồng với 12 h chiếu sáng trong ngày (ánh sáng khuyếch tán), cây sẽ phát triển tốt, ít trường hợp lan Hồ điệp bị chết vì nắng trừ khi để ngoài nắng trực tiếp suốt quang kỳ

12 giờ chiếu sáng Vì vậy, việc bố trí các loại vải lưới nilong có ý nghĩa rất quan trọng trong việc trồng và chăm sóc lan Hồ điệp có hiệu quả

2.3.4 Độ thông thoáng

Độ thông thoáng là yếu tố rất quan trọng giúp cho cây lan sinh trưởng, phát triển bình thường Bản xứ của các loài lan là mọc ở rừng, môi trường sống thường là trên cây cao rất thông thoáng, đặc biệt đối với những loài lan

có hệ rễ cộng sinh với nấm và phát triển vươn dài trong không khí Vì vậy, vườn trồng lan đòi hỏi phải có độ thông thoáng nhất định đảm bảo không khí luôn mát mẻ Nếu vườn lan không được thông thoáng, khi gặp điều kiện ẩm

độ cao; nhiệt độ tăng, cây dễ bị bệnh Ngược lại, nếu vườn quá trống trải, gió

Trang 21

thổi mạnh sẽ làm cây mất nước cũng ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của lan

2.3.5 Yêu cầu dinh dưỡng đối với cây hoa lan

Cũng như nhiều loại cây trồng khác, dinh dưỡng có vai trò quan trọng

đối toàn bộ hoạt động sống của cây lan Nó ảnh hưởng sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hoa Cây lan được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng sẽ sinh trưởng khoẻ, ra nhiều hoa, hoa to, màu sắc đặc trưng và độ bền kéo dài Ngược lại, khi cây lan không được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng sẽ trở nên còi cọc, kém phát triển, không ra hoa hoặc ít hoa, hoa nhỏ, màu sắc kém đặc trưng và nhanh tàn Theo các tác giả Ajchara - Boonrote [43], Soebijanto và cs [64], Supaporn - Porprasit [66], dinh dưỡng cho lan hết sức quan trọng, nó không

đòi hỏi số lượng lớn nhưng phải đầy đủ các thành phần dinh dưỡng Nhu cầu dinh dưỡng của cây tuỳ thuộc vào thời kỳ sinh trưởng, phát triển của chúng

Vai trò của các nguyên tố dinh dưỡng đối với cây lan :

* Nhóm 1: gồm các nguyên tố Cacbon (C), Hydro (H), Oxy (O) Những

nguyên tố này có sẵn trong tự nhiên, mà cây có thể sử dụng được thông qua quá trình quang hợp

* Nhóm 2: gồm các nguyên tố đa lượng

- Vai trò của Nitơ (N): là hợp phần quan trọng của chất hữu cơ tạo diệp lục

tố, nguyên sinh chất, axit nucleic và protein Là nguyên tố giúp tăng trưởng và phát triển các mô sống Thiếu đạm cây lan sẽ còi cọc, ít ra lá, lá chuyển sang màu vàng, cây cằn cỗi, khó ra hoa Thừa đạm, thân lá lan sẽ xanh mướt, nhưng mềm yếu, dễ đổ và dễ bị sâu bệnh

- Vai trò của Photpho (P): P có vai trò trung tâm trong quá trình trao đổi năng lượng và protein, là thành phần của photphatides, axit nucleic, protein

là thành phần tất yếu của amino axit, ATP Nó cần thiết cho sự phân chia tế bào, là thành phần của NST, kích thích rễ phát triển P cần thiết cho sự phát

Trang 22

triển mô phân sinh, kích thích ra hoa, phát triển quả và hạt Nếu thừa P, cây thấp, lá dày, ra hoa sớm nhưng chùm hoa ngắn, nhỏ, cây mất sức rất nhanh sau khi ra hoa và khó hồi phục Thừa P thường dẫn đến thiếu kẽm, sắt và mangan Thiếu P, cây còi cọc, lá nhỏ, ngắn, xanh đậm, cây không ra hoa

- Vai trò của Kali (K): giúp tăng khả năng thẩm thấu qua màng tế bào, điều chỉnh pH và lượng nước ở khí khổng Hoạt hoá enzim có liên quan đến quang hợp và tổng hợp Hydrat Cacbon, giúp vận chuyển Hydrat Cacbon, tổng hợp protein, cải thiện khả năng sử dụng ánh sáng khi gặp điều kiện bất thuận Thiếu Kali, cây kém phát triển, lá già vàng dần từ 2 mép lá và chóp lá, sau lan dần vào trong, lá đôi khi bị xoăn lại, cây dễ bị bệnh tấn công, chậm ra hoa, hoa nhỏ, màu sắc không tươi và dễ dập nát Thừa Kali, thân lá không mỡ màng, lá nhỏ Thừa Kali dẫn đến thiếu Magiê và Canxi

- Vai trò của Canxi (Ca): là thành phần của màng tế bào dưới dạng Canxi pectate, cần thiết cho sự phân chia tế bào được bình thường Giúp cho màng tế bào vững chắc, duy trì cấu trúc NST, hoạt hoá nhiều enzim như: Phospholipase, agnine, triphosphate Thiếu Canxi, cây kém phát triển, rễ nhỏ

và ngắn, thân mềm, là nhỏ, cây yếu, dễ đổ ngã và sâu bệnh tấn công

- Vai trò của Magiê (Mg): là thành phần cấu tạo của diệp lục tố, thúc đẩy

sự vận chuyển lân của cây, là hoạt chất của hệ enzim gắn liền với sự chuyển hoá hydrat cacbon và tổng hợp axit nucleic Thiếu Magiê, thân lá ẽo uột, xuất hiện dải màu vàng ở phần thịt các lá già trong khi hai bên gân chính vẫn xanh

do diệp lục tố hình thành không đầy đủ, cây dễ bị sâu bệnh và khó nở hoa

- Vai trò của Lưu huỳnh (S): là thành phần của các axit amin chứa lưu huỳnh cũng như các amino axit Liên quan đến hoạt động trao đổi chất của vitamin, thiamin, biotin và coenzimA giúp cho cấu trúc protein được vững chắc Thiếu Lưu huỳnh, lá non chuyển màu vàng nhạt, cây còi cọc, kém phát

Trang 23

triển, sinh trưởng của chồi bị hạn chế, số hoa giảm

- Vai trò của Kẽm (Zn): liên quan đến sự tổng hợp sinh học của axit indolacetic, là thành phần thiết yếu của một số men Đóng vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp axit nucleic và protein Tăng cường khả năng sử dụng Lân và Đạm Thiếu Kẽm, xuất hiện các đốm nhỏ rải rác hay các vết sọc màu vàng nhạt chủ yếu trên các lá đã trưởng thành, các lá non trở nên ngắn, hẹp và mọc xít nhau, các đốt ngắn lại, cây thấp, khó ra hoa

- Vai trò của Đồng (Cu): là thành phần của men cytochrome oxydase và thành phần của nhiều enzim: ascorbic, axit axidase, xúc tiến quá trình hình thành vitamin Thiếu Đồng, xuất hiện các đốm màu vàng và quăn phiến lá,

đầu lá chuyển trắng, số hoa hình thành ít, cây rất dễ bị nấm tấn công

- Vai trò của Sắt (Fe): cần thiết cho sự tổng hợp và duy trì chất diệp lục tố trong cây Là thành phần chủ yếu của nhiều enzim, đóng vai trò chủ yếu trong

sự chuyển hoá axit nucleic, ảnh hưởng đến sự chuyển hoá ARN hoặc diệp lục

tố Thiếu Sắt, các lá non chuyển úa vàng, sau trở nên trắng nhợt cây còi cọc, ít

ra hoa và dễ bị sâu bệnh tấn công

- Vai trò của Mangan (Mn): xúc tác trong một số phản ứng enzimvà sinh lý trong cây Là thành phần của pyruvate carboxylase, liên quan đến quả trình hô hấp của cây, hoạt hoá các enzim liên quan đến sự chuyển hoá đạm và sự tổng hợp diệp lục tố Kiểm soát thế oxy hoá - khử trong tế bào ở các pha sáng và tối Thiếu Mangan, dẫn đến úa vàng ở giữa các gân của lá non, đặc trưng bởi

sự xuất hiện các đốm vàng và hoại tử, cây còi cọc, chậm phát triển

- Vai trò của Bo (B): ảnh hưởng đến hoạt động của một số enzim Bo có khả năng tạo phức với các hợp chất polyhydroxy khác nhau, tăng khả năng thấm ở màng tế bào Bo liên quan đến quá trình tổng hợp lignin và sự phân chia tế bào, sự tổng hợp protein Thiếu Bo, dẫn đến lá có kết cấu dày, đôi khi

bị cong lên và giòn Hoa không hình thành và rễ còi cọc, các cây con khi mọc

Trang 24

nếu thiếu Bo thường bị chết

- Vai trò của Molypden(Mo): xúc tiến quá trình cố định đạm và sử dụng

đạm của cây Mo là thành phần của men khử nitrat và men nitrogenase Thiếu

Mo, cây sẽ xuất hiện các đốm vàng ở giữa các gân lá dưới, nếu thiếu nặng các

đốm này lan rộng và khô, mép cũng khô dần, cây kém phát triển

- Vai trò của Clo (Cl): kích thích sự hoạt động của một số enzim và ảnh hưởng đến sự chuyển hoá hidrat carbon và khả năng giữ nước của các mô tế bào Thiếu Clo dẫn đến héo đỉnh lá non, úa vàng lá và cuối cùng chuyển màu

đồng thau, cây kém phát triển rồi chết khô

Nhìn chung, đa số loài lan có lối sống tự dưỡng, một số loài cộng sinh với nấm nên việc lấy dinh dưỡng từ môi trường bên ngoài khá thuận lợi Vì lan

là loài cây không cần nhiều dinh dưỡng nên bón phân cho lan tốt nhất là bón thường xuyên với nồng độ thấp, bằng hình thức phun qua lá, kết hợp với bón phân nhả chậm Tuỳ thuộc vào từng loài khác nhau, từng giai đoạn sinh trưởng

cụ thể mà bón phân với nồng độ và tỷ lệ N : P : K cho phù hợp

2.4 Tình hình sản xuất và phát triển hoa lan trên thế giới và ở

Việt Nam

2.4.1 Tình hình sản xuất và phát triển hoa lan trên thế giới

Trải qua nhiều thế kỷ, người ta chỉ biết gieo lan nảy mầm từ hạt [29] Bác sỹ, y tá người Anh John Haris và Weich đã biết đến vai trò của nấm Fungus trong việc nảy mầm hạt lan ở điều kiện tự nhiên Năm 1946, công trình nghiên cứu của TS Knudson (Mỹ) [27] đã mở ra công nghệ sinh học môi trường lan Nhờ vậy, người ta đã sản xuất được khối lượng cây lớn, đồng nhất trong thời gian ngắn, bảo tồn, duy trì nguồn và chọn lọc được những giống sạch virus từ các dòng được lai tạo, xây dựng các xí nghiệp sản xuất công nghiệp có sản lượng lớn và giá thành hạ

Trang 25

Phong lan đã được xuất khẩu và lưu thông như một ngành thương mại

và được phát triển nhanh ra nhiều nước, các nhà khoa học đã lai tạo và nuôi trồng được nhiều giống mới độc đáo Các quốc gia có tiềm năng sản xuất hoa lan bằng công nghệ tiên tiến là Anh, Pháp, Newdiland, Australia, Thái Lan,

Hà Lan Các giống nhập nội từ các công ty của Singpore, Malaysia đang phát triển trên diện tích 300 ha ở đảo Bulan Loddiges (1812) là người đầu tiên trên thế giới thiết lập vườn lan thương mại [67] Trong những thập kỷ gần đây, cùng với phương tiện giao thông phát triển mạnh mẽ, các thành tựu khao học

và sự phát triển về công nghệ sinh học được ứng dụng rộng rãi, do vậy việc xuất, nhập khẩu hoa lan ngày càng tăng với quy mô rất lớn Nhiều nước đã trở thành cường quốc xuất khẩu hoa lan như: Đài Loan, Thái Lan Hoa lan đã và

đang là nguồn lợi lớn của các nước Đông Nam á và thế giới [14], [44], [67]

Hiện nay, Thái Lan là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu hoa lan đạt

110 triệu USD trong năm 2003 [40] Thái Lan có 18 phòng nuôi cấy in vitro

hoa lan thương mại hoạt động ở Băng Cốc và các vùng phụ cận Hàng năm sản xuất 31,6 triệu cây con trong đó Dendrobium chiếm 80%, Mokara 5%, còn lại

là các loài lan khác Đài Loan đang tăng nhanh sản xuất Phalaenopsis và chọn tạo nhiều giống mới, hiện nay đã tạo ra được một số giống lan lai có khả năng cắt cành cao và trồng trong chậu [61] ở Singapore, nghề trồng hoa lan xuất khẩu trên quy mô lớn bắt đầu từ năm 1987 Nhà nước đã thấy rõ tiềm năng xuất khẩu loại hoa này trên thị trường thế giới nên đã mở rộng trang trại trồng hoa phong lan Năm 1992, xuất khẩu hơn 18 triệu USD, hiện nay Singapore chiếm 12% thị trường kinh doanh phong lan thế giới [14] Hà Lan đã đầu tư

20 triệu USD vào ấn Độ để lắp đặt các thiết bị máy móc đầu tư cho việc sản xuất hoa lan xuất khẩu Mỗi năm ấn Độ sản xuất được 10 triệu cây hoa lan [14] Nhật Bản cũng đã đầu tư 6,6 triệu USD cho Thái Lan để mở rộng cơ sở

Trang 26

sản xuất với công suất 10 triệu cây hoa phong lan mỗi năm Hiện nay, Nhật là khách hàng lớn nhất của Singapore với khả năng tiêu thụ 60% số cây phong lan của nước này [14]

Hiện tại, các nước sản xuất và kinh doanh xuất khẩu hoa phong lan chính trên thế giới là Hà Lan, Singapore, Philipin (thị trường á, Âu, Mỹ), ngoài ra còn nhiều nước nữa như: Pháp, Đức, Italia, Colombia là những nước kinh doanh xuất khẩu hoa đáng kể trên thế giới Tổng kim ngạch xuất khẩu hoa phong lan trên thế giới hàng năm đạt 21,1 tỷ USD [32] Riêng về việc xuất khẩu lan cắt cành trên thế giới những chủng loại được gọi là mặt hàng chính thì có tới > 95% có xuất xứ từ các vùng nhiệt đới Do vậy, từ năm 1967 các nước châu á như: Thái Lan, Singapore, Indonesia đã bắt đầu phát triển nhanh sản xuất kinh doanh xuất khẩu hoa phong lan một cách mạnh mẽ Tính

đến năm 2003, kim ngạch xuất khẩu hoa phong lan của Hà Lan đạt 1,8 tỷ USD Hoa phong lan ở Hà Lan được trồng trong nhà kính với tổng diện tích là 3081,75 ha Các nước trong khu vực Đông Nam á cũng đang chạy đua phát triển ngành lan Chính phủ Singapore đặt kế hoạch vào năm 2010 đạt 100 triệu USD xuất khẩu Thái Lan xây dựng đầy đủ cơ sở hạ tầng và mời các nhà sản xuất vào trồng Thủ tướng Malaysia giao 300 ha đất của bang Johor cho các nhà trồng lan và yêu cầu ngành lan phải mau chóng bắt kịp các nước phát triển Cả Đài Loan cũng đưa ra kế hoạch đến năm 2005 sẽ biến đất nước thành một Hà Lan thứ 2 Đa số các cây lan trên thị trường hiện nay là các giống lan lai của Cymbidium, Paphiopedium, Phraenopsis, Oncidium, Dendrobium và Cattleya Nhiều nhất là Dendrobium, Pharaenopsis, Oncidium

2.4.2 Tình hình sản xuất và phát triển hoa lan ở Việt Nam

Phong lan là loài hoa quý, không xa lạ gì với người Việt Nam Thậm chí

có thẻ nói đây là thứ “cây nhà lá vườn” cũng không có gì là cường điệu Vì lẽ

Trang 27

các nước Đông Nam á chúng ta trong đó có Việt Nam là vùng sản sinh ra nhiều loài lan mà lan rừng Việt Nam đa số là quý hiếm nên được nhiều chuyên viên về phong lan ở nước ngoài đánh giá cao Ông cha ta từ xưa cũng thích lặn lội vào rừng vào núi tìm lan về trồng nhưng do không nắm vững phần

kỹ thuật nuôi trồng cũng nhe chăm sóc nên qua thời gian hàng ngàn năm ngành nghề này cũng không tiến triển được bao nhiêu Chơi lan vẫn đơn thuần chỉ là để giải trí Việc trồng và chăm sóc lan còn thực hiện theo kinh nghiệm truyền thống vì vậy hiệu quả trồng lan chưa cao Thêm vào đó nước ta chiến tranh liên miên khiến nông nghiệp nói chung và nghề trồng lan nói riêng chậm phát triển hơn các nước khác vài chục năm nhiều kinh nghiệm nghiên cứu cho thấy rừng Việt Nam có trữ lượng lan lớn và tập trung nhiều loài lan quý hiếm mà nhiều nơi không có, cùng với đó là sự quan tâm của nhà nước và nguồn nhân lực dồi dào, khí hậu thuận lợi khiến cho ngành trồng lan nước ta những năm gần đây phát triển mạnh mẽ, nhiều phòng nghiên cứu về lan được thành lập đưa ngành trồng lan lên một tầm cao mới

Đặc biệt, phải kể đến trang trại RINSUN tại Gia Hiệp - Di Linh - Lâm

Đồng đã đầu tư trang thiết bị hiện đại có thể tự tạo ra nguồn cây giống để sản xuất Sản phẩm đặc biệt ở đây là lan Hồ điệp với 16 - 17 màu hoa khác nhau,

từ những màu phổ biến như: tím, trắng môi đỏ, trắng môi hồng, đỏ đến những màu mới lạ như: trắng điểm đen, vàng Trang trại đã đầu tư 10.000 m2diện tích nuôi trồng hiện đại, cung cấp trung bình 400.000 chậu lan Hồ điệp mỗi năm Ngoài tiêu thụ trong nước, lan Hồ điệp của trang trại còn xuất khẩu sang Mỹ, Nhật và các nước châu Âu, Đông Nam á Mặc dù nước ta có điều kiện thuận lợi hơn cả Thái Lan với miền nam khí hậu gió mùa ổn định, nhưng giá trị xuất khẩu hoa lan của Việt Nam còn khiêm tốn, từ 1998 - 2003 chỉ đạt khoảng 90,000 - 150,000 USD / năm [41]

Trang 28

Đối với thị trường hoa trong nước, sản lượng hoa phong lan cũng không

đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng Các cơ sở sản xuất hoa lan chỉ đáp ứng được 30 - 40% nhu cầu lan cắt cành còn lại phải nhập từ các nước khác Lần đầu tiên Phú Yên cung ứng 250.000 cây phong lan cho 1 doanh nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh để xuất khẩu Đây là lô phong lan đầu tiên được trung tâm giống và kỹ thuật cây trồng (sở NN & PTNT Phú Yên) nhân giống thành công bằng kỹ thuật vô tính Hiện Trung tâm đang áp dụng phương pháp nuôi cấy mô để sản xuất hàng loạt cây trồng khác tại làng hoa Bình Kiến, trong đó

có 11 loài hoa đang được thị trường ưa chuộng Sắp tới Trung tâm tiếp tục cung ứng 300.000 - 500.000 cây phong lan mỗi năm để xuất khẩu sang Canada, Đài Loan Cũng như ở một số thành phố lớn trong cả nước, ở Đà Nẵng phong trào chơi và sử dụng các loại hoa lan từ cao cấp đến bình dân cũng ngày càng tăng và ở mọi tầng lớp nhân dân Hiện tại ở Đà Nẵng có 3 loại hình chủ yếu trồng, kinh doanh và chơi các loại hoa lan

Lĩnh vực kinh doanh lan tại Việt Nam mới thực sự bắt đầu được hơn 10 năm nay Theo ông Đồng Văn Khiêm - Giám đốc Công ty Phong lan Xuất khẩu Thành phố thì khó khăn lớn nhất là Nhà nước chưa có chính sách phát triển ngành lan, chưa có một văn bản nào để khuyến khích, chính sách thuế không rõ ràng

Bên cạnh đó, việc xuất khẩu lan hiện còn qua uỷ thác, không tạo được

sự chủ động cho nhà sản xuất CITES Việt Nam (cơ quan kiểm tra việc buôn bán các loại động thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng) chưa hoạt động nên việc xuất lan cũng gặp khó khăn Nói tóm lại, vấn đề sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu hoa lan ở Việt Nam từ trước đến nay vẫn ở dạng tiềm năng Trong khi đó, sức cạnh tranh thị trường trên thế giới là rất lớn Những hoạt

động kinh doanh và xuất khẩu trong thời gian qua chỉ mới có ý nghĩa khởi

Trang 29

động, hứa hẹn một sự phát triển trong tương lai dựa trên những điều kiện thuận lợi sẵn có cho sự phát triển ngành trồng lan

2.5 Tình hình nghiên cứu cây hoa lan trên thế giới và ở Việt Nam

2.5.1 Tình hình nghiên cứu cây hoa lan trên thế giới

Do giá trị kinh tế và giá trị thẩm mỹ của cây hoa lan cao mà trên thế giới có rất nhiều nước đã đi sâu nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống cũng như chọn lọc và lai tạo giống mới

tế hiện nay hoa lan cũng có thể thụ phấn nhân tạo bằng những phương pháp thủ công đơn giản Sau khi thụ phấn, tiểu noãn biến đổi phát triển thành hạt, bầu noãn phát triển thành quả Quả chín tự nứt ra, các hạt phát tán và khi gặp

điều kiện thuận lợi sẽ nảy mầm thành cây lan con Cây lan này để ra hoa được phải mất 3 - 7 năm tuỳ theo từng loài [27], [59], [62] Do hạt lan quá nhỏ và hầu như không có chất dữ trữ, chỉ có 1 phôi chưa phân hoá nên không thể gieo hạt lan như các loại hạt khác Việc làm cho hạt lan nảy mầm, phát triển thành cây con là một vấn đề khó khăn trong thời kỳ đầu phát triển ngành lan [63]

Thực tế trên thế giới, việc nghiên cứu về cây phong lan được biết đến từ năm 1731 Song đến năm 1844, Newman - một nhà vườn người Pháp mới làm nảy mầm hạt lan bằng cách rắc hạt lên các cục đất quanh gốc cây lan to Sự

Trang 30

thành công này đã lan rộng nhưng chưa có lời lý giải cụ thể Từ khi con người biết ứng dụng các thành tựu khoa học thì ngành trồng lan đã có những bước tiến nhảy vọt Năm 1904, Noel Bernard thực hiện phương pháp gieo hạt cộng sinh với nấm để gây sự nảy mầm Ông nhận thấy, các cây lan con nảy mầm trong rừng đều bị nhiễm nấm ông đã cô lập các nấm ở rễ cây lan con và cấy vào hạt lan, bằng cách đó ông là người đầu tiên làm cho 100% hạt lan nảy mầm [60], [65] Nhưng cho đến khi phương pháp gieo hạt lan không cộng sinh với nấm được thực hiện thì ngành trồng lan trên thế giới mới thực sự có bước chuyển biến rõ rệt Năm 1909, Hans Burgff đã làm nảy mầm được hạt của

Laelio cattleya trên môi trường dinh dưỡng gồm 0,33% đường saccarose trong

điều kiện hoàn toàn bóng tối [26] Năm 1922, Lewis Knudso, một nhà khoa học ngời mỹ lại thành công trong việc gieo hạt ở môi trường thạch [40] Ông cũng nhận thấy rằng sự nảy mầm của hạt còn phụ thuộc vào thời gian hái quả

Dựa vào phương pháp nhân giống hữu tính, người ta có thể lai tạo để tạo

ra các con lai mang những đặc tính tốt của bố mẹ, tạo ra nhiều giống mới có màu sắc độc đáo, hình dáng, kích thước phong phú Đa số các cây hoa lan trên thị trường hiện nay là các giống cây lai của Cybidium, Paphiopedium, Phalaenopsis hoặc Cattleya Tuy vậy, hơn 1 thế kỷ trước đây, sự lai giống là một điều không thể tưởng tượng ra Giống hoa lai đầu tiên là sự lai giống giữa

Calanthe turcata và Calanthe masuca vào năm 1856 do ông Dominy thực

hiện Những sự lai giống tiếp theo được tiến hành vào những năm đầu tiên đó

đều do Dominy đảm nhận Do bởi kết quả này, các nhà nuôi trồng khác đã cạnh tranh với ông

Năm 1863, cây lai hai giống đầu tiên được tạo ra giữa Cattleya urossiae

x Laelia crispa Năm 1892, cây lai tam giống đầu tiên xuất hiện: Sophronitis granditlora x Laelia cattleya x Schillerziana Ngày nay, nhờ kết quả chọn lọc

Trang 31

và lai tạo đã có hàng nghìn giống đăng ký trở thành giống mới [15], [42] Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp nhân giống hữu tính là thời gian từ khi cây mọc đến khi ra hoa kéo dài, phải mất 3 - 4 năm, có giống 7 - 8 năm như Cattleya Mặt khác, đặc tính di truyền của con lai là không ổn định, do đó phương pháp này chỉ được áp dụng trong chọn lọc và lai tạo giống mới

* Nhân giống vô tính cây hoa lan

Trên thế giới, việc nhân giống vô tính cây hoa lan bằng hình thức tách chiết thông thường rất ít được áp dụng Do khoa học kỹ thuật phát triển mạnh

và được ứng dụng trong nông nghiệp, phương pháp nhân giống vô tính cây hoa lan bằng nuôi cấy mô tế bào ra đời, tạo ra một bước ngoặt lớn đối với ngành trồng lan trên thế giới Từ 1 tế bào với các tác nhân nhân tạo có thể tạo ra 1 cơ thể hoàn chỉnh, phương pháp này có thể nhân giống lan với tốc độ rất nhanh: 4 triệu cây con / năm với vốn ban đầu chỉ là 1 chồi non

Ban đầu Morel khám phá ra phương pháp nuôi cấy mô loài lan đa thân

Đến năm 1970, M vajrabhaya và T vajrabhaya đã cấy mô thành công loài lan

đơn thân Năm 1974, các nhà khoa học đã cấy mô thành công hầu hết các loại lan thuộc nhóm đơn thân khác [44] Cũng nhờ có phương pháp nuôi cấy mô tế bào, các cây lan đã chọn lọc từ phương pháp lai hữu tính được nhân với tốc độ rất nhanh có thể đáp ứng được nhu cầu sản xuất, kinh doanh, ngành hoa có giá trị này Lee,- YH; and Mowe (1983) [41] đã nuôi cấy đỉnh sinh trưởng giống phong lan Aranda trong môi trường Vacine và Went Mô tế bào thu được đã

được xử lý colchicine ở các nồng độ 0,05; 0,075; 0,1% trong 6 ngày cho kết quả tỷ lệ cao các mô bị chuyển sang màu nâu Theo các tác giả Duan,- J; cs (1996) [45], Eng,- PS; cs (1983) [46], Kukulczanka,- K (1985) [55], Mamaril,- J (1997) [56], môi trường có vai trò rất quan trọng trong quá trình nuôi cấy, nó cung cấp chất dinh dưỡng đảm bảo cho sự sinh trưởng của mô

Trang 32

cấy Môi trường dinh dưỡng thích hợp cho việc nuôi cấy mô cây hoa lan là môi trường: MS (Marushige - Shoog, 1962), VW (Vacine - Went, 1949), KC (Knudson C), F (Fonnesbeck, 1972) [45]

2.5.2 Tình hình nghiên cứu cây hoa lan ở Việt Nam

ở Việt Nam, ông cha ta đã biết trồng và thưởng ngoạn lan từ lâu Do hoa lan có cấu trúc rất kiêu kỳ và phức tạp nên được nhiều người ưa thích Hoa lan có những chạm trổ rất tinh vi, nhất là bộ phận cánh môi làm nhiều nhà

điêu khắc phải thán phục Hoa lan bao gồm nhiều màu sắc được pha trộn một cách hài hoà, cân đối, lắm khi lại hiện lên những nét tương phản rõ nét hay chìm lắng và huyền ảo Vì thế không phải ngẫu nhiên mà ông cha ta đã dùng cây hoa lan biểu hiện cho người quân tử “Mai, Lan, Cúc, Trúc” một đạo đức cao quý của người Việt Nam Không những thế, Việt Nam là nước có khí hậu gió mùa nóng ẩm, thiên nhiên đã đặc biệt ưu đãi cho dân tộc ta vì khắp vùng rừng núi từ Nam chí Bắc, từ đồng bằng đến tận cao nguyên, nhiều vùng nổi tiếng có nhiều giống phong lan quý hiếm được thế giới công nhận Chính vì vậy đã có những nghiên cứu về lan ở Việt Nam từ rất sớm

2.5.2.1 Những nghiên cứu về thu thập, chọn tạo và đánh giá nguồn gen

Nghiên cứu về cây lan ở Việt Nam những buổi đầu không rõ rệt lắm, nhiều tác giả cho rằng người đầu tiên có khảo sát về lan ở Việt Nam là Gioalas Noureiro - Nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha, ông đã mô tả cây lan ở Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1789 trong cuốn “Flora cochin chinensis”, sau này

đã được Bentham và Hooker ghi lại trong cuốn “Genera planterum” (1862 - 1883) [9] Sau khi người Pháp đến Việt Nam đã công bố những công trình nghiên cứu đáng kể là F Gagnepain và A Gnillaumin mô tả 70 chi gồm 101 loài cho cả 3 nước Đông Dương trong bộ “Thực vật Đông Dương chí” do H Lecomte chủ biên, xuất bản năm 1932 - 1934 [15] Một số tác giả khác cũng

Trang 33

đề cập đến lan Việt Nam như: Schumid, Tixer và Gunna Seidenfaden (1975) Bên cạnh đó có một số nhà khoa học Việt Nam cũng bước đầu nghiên cứu về lan như GS Phạm Hoàng Hộ với 289 loài được mô tả và vẽ hình trong cuốn

“Cây cỏ Việt Nam” [18] Năm 1991, phân viện sinh học Đà Lạt đã tổ chức thu thập các loại lan rừng của Lâm Đồng Các loài lan được đưa về trồng để theo dõi các đặc tính sinh học (thời vụ ra hoa, hình thái, màu sắc và hương thơm)

và xây dựng bộ sưu tập lan nhằm bảo tồn nguồn gen, làm nguyên liệu ban đầu cho công tác tuyển chọn và lai tạo những giống lan quý phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu

Việc xác định tên khoa học của các loài lan rừng được TS L.V Averyano thực hiện, đến nay ở Lâm Đồng nói riêng đã xác định được tên khoa học của 217 loài, thuộc 69 chi Trong số 239 loài lan của bộ sưu tập và danh mục 217 loài đã xác định tên khoa học và được ghi nhận có 2 loài mới của

Việt Nam là Liparis compressa Lindl và Thrixspermum leucarachne Ridl Có

7 loài cho đến nay chưa được ghi nhận có ở Lâm Đồng trong các tài liệu đã

được công bố là: Anoectochulus setaceus Blume, Bulbophyllum spadiciflorum Tixier, Coelogyne cristata Lindl, Eriathao gagnep, Pholidota ventricosa Blume Reichenb F, Thrixspermum calecolus Lindl Reichenb.f, Vandopsis

gigtantea Lindl Pfitz và 22 loài đặc hữu ở Việt Nam [13]

Từ năm 1996 - 1997, Nguyễn Xuân Linh và tập thể cán bộ Trung tâm Hoa cây cảnh - Viện Di truyền Nông Nghiệp đã thu thập được 88 loài lan

thuộc 34 chi, trong đó nhiều nhất là chi Cymbidium sw, sau đó đến chi

Dendrobium Trong 88 loài có 30 loài có khả năng nở hoa tại Hà Nội Chúng

được xem là nguồn gen quý cho công tác lai tạo giống sau này [19] Phạm Thị Liên, Nguyễn Xuân Linh, Lê Đức Thảo (2001) [17], khi đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống phong lan Hồ điệp nhập nội từ Hà

Trang 34

Lan đã đi đến kết luận: các giống lan Hồ điệp nhập nội đều có khả năng sinh trưởng và ra hoa tốt tại Hà Nội Các giống có nguồn gốc từ mô phân sinh sinh trưởng, phát triển và cho tỷ lệ ra hoa tốt hơn các giống có nguồn gốc từ hạt

2.5.2.2 Những nghiên cứu về nhân giống cây hoa lan ở Việt Nam

Trước những năm 1990, ở Việt Nam, phương pháp nhân giống hoa lan chủ yếu là những phương pháp cổ truyền như tách chiết, gieo hạt Chỉ từ sau

1990, do áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật mới và sản xuất thì phương pháp nhân giống bằng nuôi cấy mô mới được phát triển mạnh mẽ

* Nhân giống bằng phương pháp gieo hạt

Đối với hoa lan, việc tự thụ phấn là rất khó khăn, thông thường trong thực tế việc thụ phấn xảy ra nhờ côn trùng hoặc thụ phấn nhân tạo bởi con người Tuy phương pháp nhân giống lan bằng gieo hạt không phải là mới mẻ song do hạt lan rất khó nảy mầm nên phương pháp này cũng không được áp dụng phổ biến ở Việt Nam Phương pháp này chỉ sử dụng chủ yếu trong lai tạo nhằm tạo ra những giống mới có nhiều đặc tính mong muốn của con người

Với mong ước tạo ra những cây lan lai từ các cây tự nhiên của địa phương, từ năm 1990, nhóm cán bộ kỹ thuật của Đà Lạt đã bắt đầu thực hiện các phép lai đầu tiên trên cơ sở chọn lọc những cây bố mẹ mang các đặc tính

ưu việt Trong đó, nhóm phong lan được chọn là các cây trong chi Renanthera

và Vanda, đã đáp ứng phần nào các yêu cầu ngày càng đa dạng về mặt sưu tập, thưởng ngoạn và từng bước tạo tiền đề cho việc khai thác kinh tế hoa lan cắt cành [42] Các cây lan được chọn làm đối tượng thực hiện các phép lai ban

đầu gồm: Renanthera evrarfii Guillaum, Renanthera imschootiana Rofle,

Vanda denisoniana Bens.et Rchb.f, Vanda watsonii Rofle, Vanda masperoe

Guill Đây là các loài lan tự nhiên của Đà Lạt - Lâm Đồng, có vùng phân bố khá rộng Chúng đa dạng về màu sắc, hình thái và có loài có mùi thơm đặc

Trang 35

trưng Kết quả là đã thành công 2 cặp lai:

Renanthera evrarfii Guillaum x Renanthera imschootiana Rofle

Renanthera evrarfii Guillaum x Vanda denisoniana Bens.et Rchb.f

* Nhân giống bằng phương pháp tách chiết

Là phương pháp đơn giản, dễ làm, không tốn kém, tuy nhiên hệ số nhân giống là không cao Nguyễn Việt Thái (2002) [6] cho rằng, bất kể tháng nào trong năm cũng có thể tách chiết lan để trồng được Tuy nhiên, thời điểm tốt nhất cho việc tách chiết là vào đầu tháng mùa mưa, khí trời mát mẻ, cây đang

đà phát triển mạnh Cũng theo tác giả Nguyễn Việt Thái (2002) [6], đối với loài lan đơn thân, kinh nghiệm cho thấy phần ngọn được tách ra trồng mau ra hoa hơn là các đoạn ở phần thân Theo Nguyễn Công Nghiệp (2000) [26], phương pháp nhân giống bằng tách chiết với 3 giả hành có thể dùng cho tất cả các loài lan đa thân, trừ một số giống như: Cymbidium, Phaius có thể dùng 2

giả hành duy nhất Đối với các loài Dendrobium khoẻ như Dendrobium

caesar Alba, Dendrobium caesar Latil, Dendrobium popadour có thể cắt cây

con để nhân giống khi giả hành cây con trưởng thành Nếu cắt quá non sẽ cho

kết quả không tốt Đối với các loài Dendrobium yếu hơn như: Dendrobium

jacqueline Thomas, Dendrobium theodore Takiguchi ta có thể đợi cây con

mọc thêm 1 giả hành mới thì việc nhân giống bảo đảm hơn [42]

* Nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào

Hiện nay bằng công nghệ nuôi cấy in vitro, trong thời gian ngắn có thể

sản xuất một số lượng lớn các cây giống khoẻ, đồng đều và sạch bệnh Trường

ĐHNN I là một trong những cơ sở chính nghiên cứu về nuôi cấy mô hoa nói chung và cây hoa lan nói riêng Theo PGS TS Nguyễn Quang Thạch và cs, cây hoa lan dễ nhân trong ống nghiệm và có hệ số nhân giống cao Môi trường chính cho nuôi cấy lan là môi trường Knudson C Cùng với trường ĐHNN I,

Trang 36

Trung tâm Hoa cây cảnh kết hợp với Bộ môn Nuôi cấy mô tế bào của Viện Di truyền Nông Nghiệp đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của các chất điều tiết sinh trưởng đến quá trình nhân nhanh và khả năng ra rễ của chồi Kết quả đã

đưa ra được quy trình nhân giống lan Hồ điệp bằng nuôi cấy mô tế bào

2.5.2.3 Những nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất hoa lan

Trên cơ sở nhập nội, khảo nghiệm và đánh giá các mẫu giống, kết hợp với việc nhân giống Trung tâm Hoa cây cảnh đã đề xuất các biện pháp về giá thể, bón phân, chăm sóc Nguyễn Xuân Linh (1998) [18] cho rằng, nên tưới nước phân cho lan vào buổi sáng sớm hay lúc chiều mát, không nên tưới phân vào buổi trưa Bình thường tưới 1 lần trong 1 tuần, nếu vườn lan giâm mát thì khoảng cách dài hơn, 10 - 15 ngày / lần Ngược lại, vườn lan có nhiều ánh sáng có thể tưới 2lần / tuần Sau khi tưới phân nên tăng lượng nước tưới của ngày sau đó để rửa bớt muối còn đọng lại gây ảnh hưởng bất lợi cho lan Nguyễn Công Nghiệp (2000) [27] đã kết luận: mùa tăng trưởng của lan không nên dùng phân tổng hợp NPK loại 30 : 10 : 10, khi chớm nở hoa phải dùng loại phân có nồng độ lân cao để màu sắc hoa đặc trưng như phân NPK loại 10 : 10 : 20 hoặc 6 : 30 : 30 Trước khi cây bước vào mùa nghỉ, lan phải dùng loại phân bón có nồng độ kali cao để tăng sức chịu đựng như phân NPK loại 10 :

20 : 30 Cũng theo tác giả Nguyễn Công Nghiệp, không nên dùng nồng độ phân bón quá 1 g/lit nước vì sẽ làm cây lan chết hoặc thoái hoá Phân bón qua lá dưới dạng phun sương là rất hiệu quả Theo Việt Chương và KS Nguyễn Việt Thái (2002) [6], bón phân hỗn hợp

NPK loại 30 : 10 : 10 thúc đẩy tốt cho việc tăng trưởng, ra lá lan

NPK loại 10 : 20 : 10 bón thúc cho lan ra hoa sẽ cho hiệu quả cao

NPK loại 10 : 10 : 20 thúc đẩy lan ra rễ tốt

NPK loại 10 : 20 : 30 làm tăng sức chịu đựng và sức đề kháng cho lan

Trang 37

Hiện nay, do việc nuôi trồng phong lan đã đi vào sản xuất công nghiệp,

do đó rất nhiều cơ sở sản xuất đã pha sẵn các dung dịch dinh dưỡng để bón cho cây Trong đó chủ đạo gồm 3 nguyên tố chủ yếu N, P, K với các nguyên

tố vi lượng bổ sung thích hợp Phong lan sau khi được đưa ra khỏi chai cấy mô

sẽ phát triển qua 4 giai đoạn với 4 chế độ dinh dưỡng khác nhau:

™ Dưới 3 tháng tuổi dùng 3g đạm pha trong 10 lít nước, tưới 1 tuần 1 lần

™ 3 tháng tuổi dùng 5 g đạm pha trong 10 lít nước, tưới 10 ngày 1 lần

™ 4 - 10 tháng tuổi dùng phân NPK loại 3 : 1 : 1 tưới 15 ngày 1 lần

™ 10 - 16 tháng tuổi dùng phân NPK loại 2 : 2 : 2, pha 6g N + 6g P + 6g trong 10 lít nước, tưới 15 ngày 1 lần

™ 16 tháng tuổi trở lên, cho đến khi cây ra hoa dùng phân NPK =1 : 2 : 3

Cụ thể pha 5g N + 10g P + 15g K trong 10 lít nước, phun 15 ngày 1 lần sẽ cho hiệu quả cao nhất [41]

Theo tư vấn của Viện Di truyền Nông Nghiệp [39], lan rất cần bón phân nhưng không chịu dược nồng độ dinh dưỡng cao, vì vậy bón phân cho lan phải thực hiện thường xuyên và tốt nhất là phun phân qua lá Nồng độ và liều lượng phun tuỳ thuộc tuổi và thời kỳ phát triển của cây lan Đối với lan dưới 6 tháng tuổi phun phân NPK loại 30 : 15 : 10 nồng độ 500 ppm (0,5 g/l) 7 ngày 1 lần

Đối với lan 6 - 12 tháng, phun phân NPK loại 30 : 15 : 10 nồng độ 2000 ppm (2 g/l) định kỳ 7 ngày / lần Đối với lan 12 - 18 tháng phun phân NPK loại 10 :

30 : 20 nồng độ 3000 ppm (3 g/l) định kỳ 7 ngày / lần Khi vòi hoa xuất hiện phun phân NPK loại 15 : 20 : 25 nồng độ 2000 ppm sẽ cho kết quả tốt nhất Bón phân cho lan Hồ Điệp cũng tuân theo những nguyên tắc chung cơ bản, phải bón định kỳ đều đặn ở thời ra hoa cây được tưới hoặc phun dinh dưỡng NPK khi thấy cây lan nhú hoa tưới phân NPK (6 : 30 : 30) nồng độ 2 g/l nước, thời gian 7 - 10 ngày 1 lần hoa sẽ mập hơn, bền và màu sắc đặc trưng [42]

Trang 38

Khi hoa gần tàn cây có hiện tượng yếu đi nên cắt ngay cành hoa và tưới phân NPK loại 30 : 10 : 10

Bên cạnh những nghiên cứu về phân bón cho hoa lan, các nhà khoa học

đã nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật khác như chọn giá thể, tưới nước, làm giàn che, lắp đặt hệ thống thông gió cho lan Theo tác giả Việt Chương, Nguyễn Việt Thái (2001) [6] và Nguyễn Công Nghiệp (2000) [26], có thể sử dụng than hoa, gạch, dớn, xơ dừa, rễ lục bình, vỏ thông để trồng hoa lan Đây

là những vật liệu dễ kiếm ở điều kiện Việt Nam Có thể dùng một loại giá thể hoặc phối trộn các loại giá thể trên với nhau để trồng lan tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng vùng, từng đất nước và tuỳ thuộc vào loài lan cũng như

độ tuổi của lan Hoàng Thị Loan (2006) [22] khi nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng của lan Đai châu đã đi đến kết luận: “Giá thể than hoa kết hợp với rong biển thích hợp nhất đối với sinh trưởng của lan Đai châu nhập nội từ Thái Lan”

Theo Nguyễn Xuân Linh (1998) [18]: tưới nước cho lan ở giai đoạn cây con phải thận trọng, tưới nhẹ nhàng bằng vòi phun sương, mịn hạt, tưới thường xuyên 3 - 4 lần / ngày nếu quả khô Đối với lan trưởng thành thì tuỳ theo mùa, theo loài lan, thời kỳ sinh trưởng, giá thể trồng mà quyết định số lần tưới cũng như lượng nước tưới cho phù hợp

Nguyên tắc chung vẫn phải là tưới nhẹ nhàng, tưới nhiều lần, phong lan nói chung và lan Hồ điệp nói riêng rất sợ giá thể có ẩm độ cao cục bộ Do lan

Hồ điệp là loài đơn thân, không có giả hành nên không dự trữ nước, hơn nữa diện tích bốc hơi của bản lá khá lớn và chúng không có mùa nghỉ Vì thế phải cung cấp cho nó một lượng nước đầy đủ và thường xuyên trong suốt năm Trong mùa mưa, mỗi ngày tưới cho chúng 2 lần, trừ những ngày có mưa một lần vào 9h sáng và một lần vào 3h chiều Tưới như vậy sẽ đảm bảo cây khô ráo khi trời tối vì đọng nước ở nách lá suốt đêm có thể gây thối rữa Vào mùa

Trang 39

nắng nên tưới cho chúng một ngày ba lần [26]

2.5.2.4 Những nghiên cứu về tình hình sâu bệnh hại đối với cây hoa lan

Sự quan tâm và lo lắng cho hầu hết các nhà vườn trồng lan ở Việt Nam

là sâu và bệnh Thực tế cho thấy các loài côn trùng chỉ làm cho cây chậm phát triển và chúng ít gây thành dịch nhưng các loại bệnh có thể gây chết cây rất nhanh và chúng có thể phát tán nhanh, rộng khắp, rất dễ thành dịch Việt Nam

là nước có khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm thích hợp cho sự phát triển của vô số các loại bệnh gây hại đối với lan Việc phòng và ngừa bệnh là việc làm có ý nghĩa thực tiễn cao Vì vậy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tình hình sâu bệnh hại lan

Theo Việt Chương (2002) [26], sâu hại lan gồm có các loài rệp như: rệp bông, rệp sáp, rếp son, rệp bọc, bọ trĩ, bọ nhảy, sâu bướm, ong vẽ bùa, gián,

ốc sên gây hại Bệnh hại lan gồm hàng trăm thứ bệnh, chủ yếu do nấm và vi khuẩn, trong đó phải kể đến bệnh đốm lá, thàn thư, đốm vòng cánh hoa, đen thân, thối đen ngọn, thối mềm lá và bệnh thối rễ gây hại Theo Nguyễn Công Nghiệp (2000) [26], bệnh hại lan chủ yếu là bệnh thối đọt, khô căn hành, bệnh

ở đỉnh lá, bệnh đốm lá gây hại Có thể dùng một số loại thuốc sát khuẩn có

đồng để trị bệnh như: Oxiclorua đồng nồng độ 0,5 - 1% và nồng độ 0,25 - 0,35%, Boóc đô , các dẫn xuất có gốc Etylen, hỗn hợp Zinep và Clorua

đồng Cũng theo tác giả, trên cây lan có một số côn trùng gây hại như: kiến, gián, ruồi đục lá, hoa, rệp son, bọ trĩ có thể dùng Bassa, Malathion để phun phòng trừ Ngoài ra còn một số sinh vật khác như: ốc sên, chuột, cóc, thằn lằn cũng có khả năng gây hịa trên hoa lan

Bệnh thán thư do nấm Colletotrichum sp gây ra, nó có thể gây hại trên

nhiều loài lan [11] Bệnh thường phát sinh và gây hại từ tháng 3 - 10, tập trung vào khoảng tháng 4 đến tháng 6 Để hạn chế bệnh có thể áp dụng một số biện pháp: vệ sinh vườn lan, tưới nước hợp lý, có thể dùng một số loại thuốc như:

Trang 40

Candazole 50WP, Topsin M 70WP để phun định kỳ 7 - 10 ngày 1 lần

Tóm lại, cây hoa lan được biết đến từ năm 2800 TCN, trải qua lịch sử phát triển lâu dài của nó, đến nay ở nhiều quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam đang diễn ra mạnh mẽ Các nước trồng hoa đang rất chú trọng đầu tư cho sản xuất hoa lan, vì vậy diện tích trồng lan đang ngày được mở rộng trên toàn thế giới

Có rất nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực trồng và chăm sóc hoa lan Nhiều kết luận đã đi vào thực tiễn sản xuất và đang được áp dụng rộng rãi Tuy nhiên, để cây hoa lan phát triển mạnh hơn nữa và đứng vững trên thị trường cần có những nghiên cứu sâu hơn nữa về kỹ thuật nhân giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc nhằm tìm ra những quy trình cụ thể cho từng loài lan, phù hợp với nhu cầu sản xuất nhằm tăng thu nhập cho người trồng lan và hướng tới xuất khẩu trong tương lai

Ngày đăng: 08/08/2013, 22:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Tiến Bân (1990), Các cây Hạt kín ở Việt Nam, Tuyển tập các công trình nghiên cứu sinh thái và tài nguyên sinh vật, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các cây Hạt kín ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1990
3. Nguyễn Tiến Bân (1997), Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ Thực vật Hạt kín (Magonoliophyta angios permae) ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr. 67 - 83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ Thực vật Hạt kín (Magonoliophyta angios permae) ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1997
4. Võ Văn Chi (1978), Phân loại Thực vật, Nxb Giáo dục và Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại Thực vật
Tác giả: Võ Văn Chi
Nhà XB: Nxb Giáo dục và Đào tạo
Năm: 1978
5. Võ Văn Chi, Lê Khả Kế (1969), Cây cỏ th−ờng thấy ở Việt Nam, Nxb Khoa học, tr. 57 - 80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ th−ờng thấy ở Việt Nam
Tác giả: Võ Văn Chi, Lê Khả Kế
Nhà XB: Nxb Khoa học
Năm: 1969
6. Việt Ch−ơng, Nguyễn Việt Thái (2002), Kỹ thuật trồng và kinh doanh phong lan, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Tr. 11 - 79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng và kinh doanh phong lan
Tác giả: Việt Ch−ơng, Nguyễn Việt Thái
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2002
7. Nguyễn Văn Ch−ơng, Trịnh Văn Thịnh (1991), Từ điển Bách Khoa Nông nghiệp, Trung tâm Quốc gia biên soạn từ điển Bách khoa Việt Nam, Hà Néi, tr. 67 - 69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách Khoa Nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Văn Ch−ơng, Trịnh Văn Thịnh
Năm: 1991
8. Nông Văn Duy, Nguyễn Thị Lang và Cs (2001), Các loại Lan ở Lâm Đồng. Thông tin Khoa học - Công nghệ Lâm Đồng, Số 1 - năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các loại Lan ở Lâm "Đồng
Tác giả: Nông Văn Duy, Nguyễn Thị Lang và Cs
Năm: 2001
9. Nguyễn Hữu Duy, Phan Ngọc Cấp (1995), Mấy nét về cội nguông Phong lan - Đặc sản của các loài nhiệt đới, Việt Nam hương sắc, Số 1, tr. 15 - 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy nét về cội nguông Phong lan - Đặc sản của các loài nhiệt đới
Tác giả: Nguyễn Hữu Duy, Phan Ngọc Cấp
Năm: 1995
10. Nguyễn Thị Duyên (2004), Bước đầu nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm sinh học của một số loài lan thuộc chi Dendrobium tại Hà Nội, Báo cáo tốt nghiệp, tr. 33 - 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: B−ớc đầu nghiên cứu thành phần loài và đặc "điểm sinh học của một số loài lan thuộc chi Dendrobium tại Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thị Duyên
Năm: 2004
11. Nguyễn Thị Hoa (2000), Xác định sâu bệnh hại chính trên hoa cây cảnh có giá trị kinh tế cao, đề xuất các biện pháp phòng trừ tổng hợp, Báo cáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định sâu bệnh hại chính trên hoa cây cảnh có giá trị kinh tế cao, đề xuất các biện pháp phòng trừ tổng hợp
Tác giả: Nguyễn Thị Hoa
Năm: 2000
13. Phạm Hoang Hộ (1992), Cây cỏ miền Nam, Quyển 1 - 2, Bộ Giáo dục - Trung tâm học liệu, tr. 195 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ miền Nam
Tác giả: Phạm Hoang Hộ
Năm: 1992
14. Phan Thúc Huân (1989), Hoa, Lan, Cây cảnh và vấn đề phát triển sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, tr. 38 - 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa, Lan, Cây cảnh và vấn đề phát triển sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu
Tác giả: Phan Thúc Huân
Nhà XB: Nxb Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 1989
15. Trần Hợp (1990), Phong lan Việt Nam, Tập 1 - 2, Nxb Khoa học Kỹ thuật, tr. 68 - 92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong lan Việt Nam
Tác giả: Trần Hợp
Nhà XB: Nxb Khoa học Kỹ thuật
Năm: 1990
16. Đồng Văn Khiêm (1995), Tiếp thị sinh vật cảnh, hoa cây cảnh Việt Nam và thị tr−ờng thế giới, Việt Nam h−ơng sắc, số 25, tr. 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp thị sinh vật cảnh, hoa cây cảnh Việt Nam và thị tr−ờng thế giới
Tác giả: Đồng Văn Khiêm
Năm: 1995
17. Phạm Thị Liên, Nguyễn Xuân Linh, Lê Đức Thảo (2001), Đánh giá khả năng sinh tr−ởng, phát triển của một số giống lan Hồ điệp nhập nội từ Hà Lan, Kết quả nghiên cứu khoa học, Viện Di truyền Nông nghiệp, tr. 144 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả "năng sinh tr−ởng, phát triển của một số giống lan Hồ điệp nhập nội từ Hà Lan
Tác giả: Phạm Thị Liên, Nguyễn Xuân Linh, Lê Đức Thảo
Năm: 2001
18. Nguyễn Xuân Linh (1998), Hoa và kỹ thuật trồng hoa, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 145 - 162 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa và kỹ thuật trồng hoa
Tác giả: Nguyễn Xuân Linh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
19. Nguyễn Xuân Linh (2002), Điều tra, thu thập, đánh giá, bảo tồn nguồn gen hoa cây cảnh khu vực miền Bắc Việt Nam, tr. 9 - 150 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra, thu thập, đánh giá, bảo tồn nguồn gen hoa cây cảnh khu vực miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Xuân Linh
Năm: 2002
20. Nguyễn Xuân Linh (2002), Kỹ thuật trồng hoa cây cảnh, Nxb Nông nghiệp, tr. 92 - 108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng hoa cây cảnh
Tác giả: Nguyễn Xuân Linh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
21. Nguyễn Xuân Linh, Phạm Thị Liên (1998), "Sapa nguồn lan rừng quý hiếm”, Tạp chí rau hoa quả, Số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sapa nguồn lan rừng quý hiếm
Tác giả: Nguyễn Xuân Linh, Phạm Thị Liên
Năm: 1998
38. Tìm kiếm thông tin trên Website: http://www.google.com 39. http://www.caycanhvietnam.com Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thành phần hoá học của phân bón lá Pomior - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, phẩm chất một số giống hoa phong lan hồ điệp nhập nội
Bảng th ành phần hoá học của phân bón lá Pomior (Trang 42)
Bảng 4.1. ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng của hoa phong lan Hồ - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, phẩm chất một số giống hoa phong lan hồ điệp nhập nội
Bảng 4.1. ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng của hoa phong lan Hồ (Trang 48)
Bảng 4.2: ảnh hưởng của giá thể đến tốc độ tăng trưởng lá phong lan Hồ - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, phẩm chất một số giống hoa phong lan hồ điệp nhập nội
Bảng 4.2 ảnh hưởng của giá thể đến tốc độ tăng trưởng lá phong lan Hồ (Trang 50)
Đồ thị 4.1a: Động thái tăng tr−ởng chiều dài lá - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, phẩm chất một số giống hoa phong lan hồ điệp nhập nội
th ị 4.1a: Động thái tăng tr−ởng chiều dài lá (Trang 51)
Đồ thị 4.1b: Động thái tăng tr−ởng chiều rộng lá - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, phẩm chất một số giống hoa phong lan hồ điệp nhập nội
th ị 4.1b: Động thái tăng tr−ởng chiều rộng lá (Trang 52)
Bảng 4.4: ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng lá và rễ cây phong  lan Hồ điệp sau ống nghiệm - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, phẩm chất một số giống hoa phong lan hồ điệp nhập nội
Bảng 4.4 ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng lá và rễ cây phong lan Hồ điệp sau ống nghiệm (Trang 54)
Đồ thị 4.2a: Tốc độ tăng trưởng chiều dài lá - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, phẩm chất một số giống hoa phong lan hồ điệp nhập nội
th ị 4.2a: Tốc độ tăng trưởng chiều dài lá (Trang 55)
Đồ thị 4.2b: Tốc độ tăng trưởng chiều rộng lá - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, phẩm chất một số giống hoa phong lan hồ điệp nhập nội
th ị 4.2b: Tốc độ tăng trưởng chiều rộng lá (Trang 55)
Bảng 4.5. Đặc điểm sinh tr−ởng phát triển của hoa phong lan Hồ điệp  nhập nội ở các nền giá thể khác nhau - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, phẩm chất một số giống hoa phong lan hồ điệp nhập nội
Bảng 4.5. Đặc điểm sinh tr−ởng phát triển của hoa phong lan Hồ điệp nhập nội ở các nền giá thể khác nhau (Trang 57)
Bảng 4.6 chỉ rừ, chất l−ợng hoa của lan Hồ điệp trờn nền giỏ thể tổng hợp đạt  cao nhất, biểu thị qua chỉ tiêu đ−ờng kính cành và chiều dài cành hoa - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, phẩm chất một số giống hoa phong lan hồ điệp nhập nội
Bảng 4.6 chỉ rừ, chất l−ợng hoa của lan Hồ điệp trờn nền giỏ thể tổng hợp đạt cao nhất, biểu thị qua chỉ tiêu đ−ờng kính cành và chiều dài cành hoa (Trang 60)
Đồ thị 4.3a: Động thái tăng tr−ởng chiều dài lá - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, phẩm chất một số giống hoa phong lan hồ điệp nhập nội
th ị 4.3a: Động thái tăng tr−ởng chiều dài lá (Trang 63)
Bảng 4.8. ảnh hưởng của nồng độ Pomior đến tỷ lệ nở hoa và chất lượng  hoa phong lan Hồ điệp nhập nội - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, phẩm chất một số giống hoa phong lan hồ điệp nhập nội
Bảng 4.8. ảnh hưởng của nồng độ Pomior đến tỷ lệ nở hoa và chất lượng hoa phong lan Hồ điệp nhập nội (Trang 65)
Bảng 4.9: ảnh hưởng của tỷ lệ phân bón lá Growmore đến khả năng  phân hoá mầm hoa phong lan Hồ điệp - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, phẩm chất một số giống hoa phong lan hồ điệp nhập nội
Bảng 4.9 ảnh hưởng của tỷ lệ phân bón lá Growmore đến khả năng phân hoá mầm hoa phong lan Hồ điệp (Trang 67)
Bảng 4.10: ảnh hưởng của tỷ lệ phân bón lá Growmore đến chất lượng  hoa phong lan Hồ điệp - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, phẩm chất một số giống hoa phong lan hồ điệp nhập nội
Bảng 4.10 ảnh hưởng của tỷ lệ phân bón lá Growmore đến chất lượng hoa phong lan Hồ điệp (Trang 69)
Bảng 4.11. ảnh hưởng của loại phân bón lá đến khả năng sinh trưởng  phát triển của hoa phong lan Hồ điệp nhập nội - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, phẩm chất một số giống hoa phong lan hồ điệp nhập nội
Bảng 4.11. ảnh hưởng của loại phân bón lá đến khả năng sinh trưởng phát triển của hoa phong lan Hồ điệp nhập nội (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm