Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp
Trang 1
Hµ N«i, 2006
Trang 2Danh mục các biểu đồ và đồ thị viii
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 3
3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ dứa trên thế giới và trong nước 81.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước trên cây dứa 111.3.1 Tình nghiên cứu ở nước ngoài 111.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 19
Chương 2 Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 30
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 30
Trang 3hình thành chồi và hệ số nhân giống dứa Cayen
3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật khử đỉnh sinh trưởng ở
giai đoạn vườn giâm đến khả năng ra chồi dứa Cayen
52
3.2.1 ảnh hưởng của thời vụ đến khả năng ra chồi của dứa sau khử
đỉnh trong giai đoạn vườn giâm
53
3.2.2 ảnh hưởng của chiều cao chồi khi khử đỉnh sinh trưởng đến sự
hình thành chồi mới ở giai đoạn vườn giâm
55
3.2.3 ảnh hưởng của số lượng chồi/hom được khử đỉnh sinh trưởng
trong giai đoạn vườn giâm đến sự hình thành chồi mới
57
3.2.4 ảnh hưởng của thời vụ ra ngôi đến khả năng sinh trưởng của
chồi dứa được nhân giống bằng khử đỉnh sinh trưởng trong
vườn giâm
60
3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ và kỹ thuật khử đỉnh sinh
trưởng ở giai đoạn vườn ươm đến khả năng ra chồi dứa Cayen
64
3.3.1 ảnh hưởng của thời vụ khử đỉnh sinh trưởng đến khả năng ra
chồi dứa Cayen trên cây ở vườn ươm
64
3.3.2 ảnh hưởng của kích thước cây khi khử đỉnh sinh trưởng đến
sự hình thành chồi mới ở giai đoạn vườn ươm
66
3.3.3 Khả năng sinh trưởng của chồi tách lần 1 ở các thời vụ khử
đỉnh khác nhau sau ra ngôi trên vườn ươm
68
3.3.4 Khả năng sinh trưởng của chồi tách lần thứ 2 và 3 ở các thời
vụ khử đỉnh sau ra ngôi trên vườn ươm
70
3.4 ảnh hưởng của GA3 và MET đến khả năng ra chồi của dứa
Cayen trong vườn giâm
73
3.4.1 ảnh hưởng của GA3 đến khả năng ra chồi của hom giâm trong
vườn giâm
74
3.4.2 ảnh hưởng của MET đến khả năng ra chồi của hom giâm
trong vườn giâm
76
3.4.3 ảnh hưởng của xử lý MET sau khử đỉnh sinh trưởng đến khả
năng ra chồi của dứa Cayen trên vườn ươm
77
3.4.4 Khả năng sinh trưởng của chồi dứa nhân giống bằng xử lý 79
Trang 4MET trên vườn ươm
3.5 ảnh hưởng của nồng độ xử lý MET đến khả năng ra chồi dứa
Cayen trên ruộng sản xuất
83
3.5.1 ảnh hưởng của nồng độ xử lý MET đến khả năng ra chồi của
dứa sau khi cây nở hoa
83
3.5.2 ảnh hưởng của thời vụ xử lý MET đến khả năng ra chồi của
dứa Cayen sau khi cây nở hoa
85
3.5.3 ảnh hưởng của thời điểm xử lý MET đến khả năng ra chồi của
dứa Cayen trên cây khi ra hoa
86
3.5.4 ảnh hưởng của nồng độ xử lý GA3 sau khi xử lý MET đến khả
năng sinh trưởng của chồi trên cây dứa được ra hoa
89
3.5.5 Khả năng sinh trưởng của cây dứa Cayen được nhân giống
bằng các biện pháp khác nhau trên vườn sản xuất
Trang 5Danh mục các bảng số liệu
Bảng Trang
3.1 ảnh hưởng của thời vụ giâm đến khả năng ra chồi dứa Cayen 44
3.2 ảnh hưởng của thời vụ giâm đến khả năng nảy chồi của hom
3.3 Động thái ra chồi trên hom của một số loại thực liệu nhân
3.4 ảnh hưởng của phương pháp tách hom giâm đến thời gian
hình
thành chồi và hệ số nhân giống dứa cayen 51
3.5 ảnh hưởng của thời vụ đến khả năng ra chồi của dứa sau khử
3.6 ảnh hưởng của chiều cao chồi khi khử đỉnh sinh trưởng đến sự
hình thành chồi mới trong giai đoạn vườn giâm 55
3.7 ảnh hưởng của số lượng chồi/hom giâm được khử đỉnh sinh
trưởng đến sự hình thành chồi mới trong giai đoạn vườn giâm 57
3.8 ảnh hưởng của thời vụ ra ngôi đến khả năng sinh trưởng của
chồi dứa ở lần tách thứ nhất được nhân giống bằng khử đỉnh
sinh trưởng 60 3.9 Khả năng sinh trưởng của chồi dứa Cayen ở các đợt tách từ cây
khử đỉnh sinh trưởng ở vườn giâm 63
3.10 ảnh hưởng của thời vụ khử đỉnh sinh trưởng đến khả năng ra
chồi dứa Cayen trên cây ở vươn ươm 64
3.11 ảnh hưởng của kích thước cây khi khử đỉnh sinh trưởng đến sự
hình thành chồi mới ở giai đoạn vườn ươm 66
3.12 Khả năng sinh trưởng của chồi tách lần 1 ở các thời vụ khử
đỉnh khác nhau sau ra ngôi trên vườn ươm 69
3.13 Khả năng sinh trưởng của chồi tách lần thứ 2 và 3 ở các thời
vụ khử đỉnh trên vườn ươm 71
3.14 ảnh hưởng GA3 đến khả năng ra chồi của hom giâm trong giai 74
Trang 6đoạn vườn giâm
3.15 ảnh hưởng của xử lý GA3 đến khả năng sinh trưởng của chồi
dứa Cayen trong vườn giâm ở lần tách thứ nhất 75 3.16 ảnh hưởng của MET đến khả năng ra chồi của hom giâm 76 3.17 ảnh hưởng của xử lý MET sau khử đỉnh sinh trưởng đến khả
năng ra chồi dứa Cayen trên cây 30 - 35 lá trong vườn ươm 78 3.18 Khả năng sinh trưởng của chồi dứa nhân giống bằng xử lý
MET sau khử đỉnh sinh trưởng trên cây 30 - 35 lá trong vườn
3.19 Khả năng sinh trưởng của chồi dứa nhân giống bằng xử lý
MET sau khử đỉnh sinh trưởng trên vườn ươm ở các lần tách
3.20 ảnh hưởng của xử lý MET đến khả năng ra chồi dứa sau khi
3.21 ảnh hưởng của thời vụ xử lý MET ở thời điểm khi cây bắt đầu
nở hoa đến khả năng ra chồi dứa Cayen 85 3.22 ảnh hưởng của thời điểm xử lý MET đến khả năng ra chồi
dứa Cayen trên cây khi ra hoa 87 3.23 ảnh hưởng của xử lý GA3 trên chồi hoasau khi đã xử lý MET
đến khả năng sinh trưởng của chồi dứa Cayen 89 3.24 Khả năng sinh trưởng của chồi dứa được nhân giống bằng xử
lý MET trên cây dứa sau khi ra hoa chính vụ 90 3.25 Hệ số nhân và thời gian nhân giống dứa Cayen ở các phương
3.26 Khả năng sinh trưởng của cây dứa Cayen được nhân giống
bằng các biện pháp khác nhau trên vườn sản xuất
94 3.27 Giá thành sản xuất cây giống dứa Cayen bằng các phương
danh mục các biểu đồ và đồ thị
Trang 7Đồ thị 3.1 Động thái ra chồi trên hom của một số thực liệu nhân
Đồ thị 3.2 ảnh hưởng của chiều cao chồi được khử đỉnh sinh
trưởng ở các thời vụ khác nhau giai đoạn vườn giâm
đến sự hình thành chồi mới 56
Đồ thị 3.3 ảnh hưởng của số lượng chồi/hom giâm được khử đỉnh
sinh trưởng ở giai đoạn vườn giâm đến sự hình thành chồi mới ở các thời vụ khác nhau 59
Đồ thị 3.4 Động thái tăng trưởng khối lượng chồi của chồi giống
sau ra ngôi ở các thời vụ khác nhau 62 Biểu đồ 3.1 Số chồi thu được sau khử đỉnh trên cây có kích thước
khác nhau qua các thời vụ khử đỉnh 68 Biểu đồ 3.2 Thời gian từ ra ngôi đến đủ tiêu chuẩn trồng mới của
các lần tách chồi qua các thời vụ khác nhau 73
Trang 8Mở đầu
1 Đặt vấn đề
Cây dứa (Ananas comosus L Merr) là cây ăn quả quý được trồng phổ
biến ở các nước trong vùng nhiệt đới từ 300 vĩ độ Bắc - 300 vĩ độ Nam Cây dứa đã bắt đầu được trồng ở Trung Quốc, Nam Phi từ những năm 1600, sau đó
được mở rộng diện tích trồng ở nhiều nước trên thế giới [54], [49] Nhờ sự phát triển của kỹ thuật chế biến đồ hộp, đến nay ngành trồng dứa ngày càng phát triển mạnh mẽ và dứa trở thành một trong những loại cây ăn quả có giá trị hơn về kinh tế và xuất khẩu Trên thế giới, dứa được xếp vào một trong 5 loại cây ăn quả có diện tích và sản lượng đứng đầu (nho, cây có múi, chuối, táo và dứa) [49]
ở Việt Nam, dứa là một trong ba chủng loại cây ăn quả có diện tích trồng và sản lượng lớn (chuối, dứa và cây có múi) Đến năm 2004, cả nước có 44.271 ha dứa, diện tích cho sản phẩm là 34.402 ha, với năng suất bình quân cho cả dứa Cayen và dứa Queen là 12,06 tấn/ha và tổng sản lượng đạt 414.863 tấn Trong tổng diện tích dứa trên, diện tích dứa Cayen khoảng xấp xỉ 10.000
ha và năng suất dứa bình quân ở một số vùng dứa tập trung khoảng 45 - 50 tấn/ha Hiện nay, với các đặc tính ưu việt của giống, các vùng dứa nguyên liệu
đã và đang mở rộng diện tích dứa Cayen, nâng cao tỷ lệ diện tích của giống trong cơ cấu các giống dứa đang được trồng Tuy nhiên, diện tích dứa Cayen vẫn đang còn quá thấp, cần được đẩy nhanh Cayen lên cao hơn so với hiện nay, nhanh chóng đáp ứng nguồn nguyên liệu chế biến phù hợp với thị hiếu của đa số của các nhà nhập khẩu trên thế giới
Thực hiện đề án phát triển rau, quả và hoa cây cảnh thời kỳ 1999 - 2010
đã được phê duyệt của Chính phủ, trong thời gian 2000 - 2004, cả nước đã đầu tư mở rộng, cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới 13 nhà máy chế biến rau quả với tổng công suất 105.000 tấn sản phẩm/năm Trong đó, các sản phẩm dứa chế biến chiếm tỷ lệ rất lớn [1], [25] Để đảm bảo cung cấp nguyên liệu cho
Trang 9các nhà máy hoạt động được đều đặn, mỗi nhà máy cần ít nhất một vùng nguyên liệu từ 1.000 đến 2.000 ha Trong khi đó, để trồng 1 ha dứa thì phải cần 50.000 - 60.000 chồi giống, từ đó yêu cầu số lượng chồi giống là rất lớn
Với diện tích dứa Cayen hiện có trên cả nước, chúng ta đã có thể nhân giống bằng phương pháp tách chồi để cung cấp giống cho sản xuất Tuy nhiên,
ở một số vùng trồng cần mở nhanh diện tích trồng thì vẫn có thể gặp nhiều khó khăn trong việc cung cấp chồi giống khi chỉ nhân giống bằng phương pháp tách chồi từ ruộng trồng sản xuất Mặt khác, để nâng cao năng suất và chất lượng dứa Cayen phục vụ cho chế biến, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, một số giống dứa mới đã và sẽ được đưa ra sản xuất bổ sung vào cơ cấu các giống trồng hiện có Khi các giống mới đã khẳng định
được ngoài sản xuất thì việc nhân nhanh các giống này để mở rộng diện tích trồng là hết sức cần thiết
Để nâng cao hệ số nhân giống dứa Cayen, đáp ứng nhu cầu cung cấp chồi giống chất lượng tốt cho việc mở rộng diện tích trồng, nhân nhanh các giống dứa mới được chọn tạo, cùng với các biện pháp kỹ thuật nhân giống, một số biện pháp sử dụng hoá chất điều tiết sinh trưởng cũng đã được áp dụng nhằm nâng cao hệ số nhân giống lên hơn nữa, rút ngắn thời gian trong giai
đoạn vườn ươm Tuy nhiên, các nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống dứa nói chung và nhân giống dứa cayen nói riêng còn chưa nhiều, kết quả nghiên cứu
còn hạn chế Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: "Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật làm tăng hệ số nhân giống vô tính cây dứa Cayen" nhằm góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật nhân giống dứa Cayen
đạt hệ số nhân giống cao, cây giống tiêu chuẩn, giá thành giảm, góp phần thúc
đẩy sự phát triển của cây dứa nói chung và cây dứa Cayen nói riêng
Trang 102.2 Yêu cầu
- Xác định được biện pháp kỹ thuật khử đỉnh sinh trưởng thích hợp để nâng cao hệ số nhân trong nhân giống dứa Cayen
- Xác định được hoá chất và nồng độ sử dụng thích hợp để nâng cao hệ
số nhân trong nhân giống dứa Cayen
- Bổ sung hoàn thiện quy trình nhân giống dứa Cayen bằng phương pháp giâm hom
3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp thêm những luận cứ cho việc khẳng định các biện pháp kỹ thuật tác động làm tái sinh cơ thể mới từ các bộ phận sinh dưỡng khác nhau của cây dứa ở các giai đoạn sinh trưởng phát triển (giai đoạn vườn giâm, giai đoạn vườn ươm và ngoài ruộng sản xuất)
- Kết quả thực hiện đề tài sẽ góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật nhân giống vô tính dứa Cayen, đáp ứng nhu cầu của sản xuất và có tính khả thi cao, góp phần khắc phục tình trạng thiếu hụt chồi giống trong quá trình chuyển đổi cơ cấu giống và mở rộng diện tích trồng dứa Cayen ở các vùng trồng dứa cung cấp nguyên liệu cho chế biến
Trang 11Chương 1 Tổng quan tài liệu
1.1 Giới thiệu chung về cây dứa
1.1.1 Nguồn gốc, phân loại các nhóm giống dứa chính
đổi giữa các bộ lạc đó, cây dứa tiến dần lên Trung Mỹ và vùng Caribê Sau khi tìm ra Châu Mỹ, cây dứa đã được đem trồng ở hầu hết các nước nhiệt đới và ở một số nước á nhiệt đới có mùa đông ấm áp như ở đảo Hawoai, Đài Loan, đảo Acores thuộc Bồ Đào Nha Đảo Acores là nơi dứa được trồng ở độ vĩ tuyến cao nhất (380 vĩ độ Bắc) Đến nay, cây dứa được lan truyền và phát triển rộng khắp các Châu lục, chỉ trừ Châu Âu là không sản xuất dứa bởi vì điều kiện khí hậu không phù hợp
Theo J Lan (1928) và Nguyễn Công Huân (1939), cây dứa có mặt ở Việt Nam cách đây hơn 100 năm [16] Riêng dứa “Tây” được người Pháp đưa
đến trồng đầu tiên ở Trại Canh Nông - Thanh Ba vào năm 1913, sau đó được trồng rộng ra ở các Trại Phú Hộ, Tuyên Quang, Âu Lâu và Đào Giã [16] Giống dứa Cayen không gai được trồng đầu tiên ở Sơn Tây vào năm 1939, từ
đó phát triển ra các vùng khác Hiện nay, cây dứa đang được trồng ở hầu hết các tỉnh từ phía Bắc cho tới các tỉnh phía Nam của nước ta
Trang 121.1.1.2 Phân loại các nhóm giống dứa chính
Theo Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1978) [6], Vũ Công Hậu (1996)
[16], và Hoàng Thị Sản (2003) [32], cây dứa có tên khoa học là Ananas comosus L., là thành viên quan trọng trong họ Bromeliaceae (lớp đơn tử diệp), thuộc chi Ananas Chi Ananas cùng với chi lân cận Pseudananas khác biệt với
các giống khác trong họ ở chỗ “quả’’ là một quả kép (gồm nhiều quả nhỏ hợp lại với các lá bắc ở dưới và trục hoa) Trong khi đó ở các chi khác thì quả đứng
dời tự do [53] Chi Pseudananas quả kép, khi chín mang một chùm nhỏ lá bắc
giống như vẩy, ở cuống quả không có chồi cuống, trên thân có các chồi ngầm, cánh hoa có nhiều u nổi như những nếp thịt [32]
Nói chung, được quan tâm nhất là loài Ananas comosus, nó gồm các
giống dứa trồng hiện nay, khi chín quả mang một chùm lá bắc dễ thấy thường
có củ ở gốc, không có nhánh bò, cánh hoa hình phễu Hiện nay, trên thế giới
có rất nhiều “dạng” dứa trồng, tuy nhiên tất cả đều xuất phát từ một loài thực vật ban đầu Sở dĩ không có một tài liệu nào cho phép xác định chúng ở trạng thái hoang dã, nên không xếp chúng ở các đơn vị dưới loài
Trong những thập kỷ trước, nhiều tác giả danh tiếng trên thế giới đã dày công sưu tầm, phân loại các nhóm giống để thống nhất tên gọi Năm 1835 [47], Muro đã sưu tầm và liệt kê được 52 “dạng” dứa trồng ở nước Anh Ông
đã phân loại giống dứa theo hình dạng quả, đặc điểm gai và màu sắc hoa, lá Năm 1904 [47], Hume và Miller đã phân những giống dứa hiện có ở Florida (Mỹ) thành 3 nhóm chính: Nhóm dứa Cayen (Cayene), nhóm Nữ Hoàng (Queen) và nhóm Tây Ban Nha (Spanish), về sau Pytisan (1965) có bổ sung thêm nhóm thứ tư là Abacaxi (hay còn gọi là Cabenzona) mà trước đây đã xếp cùng nhóm với Spanish Và theo H.Y Nakasone và R.E Paull (1997) [49], các giống dứa hiện đang được trồng ở tất cả các nước trên thế giới được chia thành 5 nhóm, bao gồm 4 nhóm giống trên và nhóm giống Maipure
* Nhóm dứa Cayen
Trang 13- Các giống thuộc nhóm này có nhược điểm là hệ số nhân giống tự nhiên thấp (1 - 2 chồi nách/cây), quả nhiều nước, vỏ mỏng nên dễ bị dập nát khi vận chuyển đi xa
Các giống dứa Cayen đang được trồng chủ yếu ở các vùng trồng dứa của nước ta là: Chân Mộng, Đức Trọng, Trung Quốc, Thái Lan Ngoài ra còn
có một số giống khác như: Cayen Phủ Quỳ, Cayen Quảng Ninh, Mêhicô, Sala Việt nhưng tỷ lệ diện tích không đáng kể [9]
* Nhóm dứa Queen
- Các giống thuộc nhóm này có đặc điểm là bản lá hẹp, cứng, có nhiều gai ở mép, mặt trong của lá có đường vân trắng chạy song song theo chiều dài lá Hoa tự có màu xanh hồng, quả có nhiều mắt, mắt nhỏ và lồi, hố mắt sâu,
vỏ cứng rễ vận chuyển hơn so với dứa Cayen [9]
- Các giống thuộc nhóm này có ưu điểm là không kén đất, hệ số nhân giống tự nhiên cao, thích nghi rộng, khả năng chống chịu tốt, thịt quả giòn, màu sắc đẹp và vị thơm, thích hợp cho ăn tươi [16], [9] Tuy nhiên lại có nhược điểm là quả bé, khối lượng trung bình quả từ 500 - 900 gam Dạng quả hơi bầu dục, hố mắt sâu nên không thích hợp cho chế biến đồ hộp
- Các giống dứa Queen đang được trồng chủ yếu là dứa Hoa Phú Thọ, dứa Na Hoa, Kiên Giang, dứa Bến Lức và một vài giống trồng ít phổ biến khác
* Nhóm dứa Spanish (Tây Ban Nha)
Trang 14- Đặc điểm chung của các giống trong nhóm là lá mềm, mép lá cong hơi ngả về phía lưng, mật độ gai không phân bố đều trên mép lá Hoa tự có màu đỏ nhạt Quả ngắn, kích thước to hơn nhóm Queen nhưng bé hơn các giống dứa Cayen Khi chín vỏ quả có màu nâu đỏ, mắt quả rất sâu, thịt quả vàng, hơi pha trắng, vị hơi chua, nhiều xơ, không thích hợp cho ăn tươi [6]
- Một số giống Spanish chủ yếu: Nếp, Kỳ Anh, Than Uyên, Tam Dương, Red Spanish, …
* Nhóm dứa Abacaxi
Nhóm dứa này được trồng chủ yếu ở vùng Mỹ Latinh và vùng Caribe Theo Py và CS (1987) nhóm dứa này còn được gọi là Pernambuco Các giống thuộc nhóm này không thích hợp cho chế biến và chỉ được sử dụng để ăn tươi cho thị trường địa phương [50]
* Nhóm Maipure
Nhóm dứa này được trồng chủ yếu ở các nước vùng Trung và Nam Mỹ,
và chỉ được sử dụng ăn tươi cho thị trường địa phương [50]
1.1.2 Giá trị dinh dưỡng và kinh tế của cây dứa
1.1.2.1 Giá trị dinh dưỡng của cây dứa
Về mặt dinh dưỡng, dứa là một trong các loại quả nhiệt đới hàng đầu, rất được ưa chuộng ở phương Tây, được coi là quả của “vua” và là “vua của các loài quả” vì hương vị thơm ngon và giàu các chất dinh dưỡng [16] Trong thành phần ăn được của dứa Cayen hàm lượng đường tổng số chiếm 11-15%, hàm lượng axit là 0,6%, vitamin A - 130 đơn vị quốc tế, vitamin B1 - 0,08 mg, vitamin B2- 0,02 mg, vitamin C - 4,2 mg; hàm lượng chất khoáng: Ca - 16 mg,
P - 11 mg, Fe - 0,3 mg và Cu - 0,07 mg Hàm lượng prôtêin 0,4 g, lipit 0,2 g hydratcacbon 13,7 g và nhiều chất khác (Trần Thế Tục, Vũ Mạnh Hải, 2000) [42] Đặc biệt, trong quả dứa còn có một chất men, hợp chất Bromelin giúp cho việc tiêu hoá tiêu các chất protein nên người ta hay dùng dứa để trộn vào với các món khai vị [16]
Trang 151.1.2.2 Giá trị kinh tế của cây dứa
Quả dứa ngoài việc dùng để ăn tươi còn được chế biến đồ hộp, nước ép, nước cô đặc Lá dứa có thể dùng lấy sợi, dệt tơ nhân tạo, làm giấy, làm chỉ khâu Thân dứa chứa 12,5% tinh bột là nguyên liệu để lên men rượu, làm môi trường để nuôi cấy nấm và vi khuẩn Các chế phẩm của quả, của cây dứa dùng
để chế biến thức ăn gia súc, làm phân xanh
Trên thị trường quốc tế, dứa là một mặt hàng rất rễ được tiêu thụ Nhiều nước có yêu cầu nhập dứa như Anh, Pháp, Mỹ, Bỉ, Hà Lan, Nhật, Đức, Bungari, Liên Xô cũ Giá trị xuất khẩu dứa lớn hơn nhiều mặt hàng khác Hiệu quả kinh tế và lãi suất từ sản xuất và chế biến dứa đem lại khá cao ở Hawoai, nếu xuất khẩu dứa tươi, mức lãi xuất có thể đạt 2.000 USD/ha ở nước ta, giá trị ngoại tệ thu được từ 1 ha trồng dứa cao gấp 2 lần so với trồng cây ăn quả, gấp 3 lần so với trồng lúa xuất khẩu (Hoàng Ngọc Thuận, 1992) [39]
Ngoài những lợi ích trên, trồng dứa còn góp phần tăng thêm thu nhập cho người dân ở các tỉnh trung du và miền núi có thể tận dụng những đất đồi chưa khai phá để trồng thêm dứa, một mặt cải thiện đời sống nhân dân, mặt khác còn có thể cải tạo đất chống xói mòn
1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ dứa ở trên thế giới và trong nước
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ dứa trên thế giới
Trải qua hơn 500 năm kể từ khi con người đưa cây dứa vào trồng trọt
đến nay, cây dứa đã phát triển khá rộng rãi, nhất là từ khi có kỹ thuật sản xuất dứa hộp Vào cuối thế kỷ 19, hầu hết các nước nhiệt đới đều trồng dứa, vì vậy
mà sản lượng dứa tăng nhanh qua mỗi năm
Năm 1994 sản lượng dứa trên toàn thế giới là 11,947 triệu tấn, trong đó Châu Phi là 1,962 triệu tấn, Bắc và Trung Mỹ là 1,283 triệu tấn, Nam Mỹ 1,664 triệu tấn và Châu á là 6,863 triệu tấn
Trang 16Theo thống kê của FAO, đến năm 2005, tổng sản lượng dứa trên thế giới là 15,89 triệu tấn Các nước sản xuất dứa lớn nhất trên thế giới là: Thái Lan (2,05 triệu tấn), Philippine 1,80 triệu tấn, Trung Quốc (1,46 triệu tấn), Brazil (1,42 triệu tấn) và ấn Độ là 1,3 triệu tấn [51]
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, dứa được sản xuất ở 70 nước trên thế giới, nhưng tập trung chủ yếu ở Châu á (chiếm 51% tổng sản lượng toàn thế giới), Châu Mỹ chiếm 36% Năm 1999 so với trung bình thời
kỳ 1989 - 1991 tăng 16,9% (trung bình 1,3%/năm)
Dứa được chế biến và xuất khẩu ở các dạng sản phẩm: dứa tươi, nước dứa, dứa đóng hộp Các khu vực xuất khẩu dứa tươi chủ yếu là Bắc Mỹ, Châu Phi, Châu á Trong đó, Bắc Mỹ chiếm 41%, Châu Phi 22,6%, Châu á xấp xỉ 16% Sản phẩm nước dứa cô đặc thì Châu á là khu vực xuất khẩu khoảng 88% Dứa đóng hộp của Châu á chiếm 74% tổng sản lượng xuất khẩu sản phẩm này của thế giới
Trong những năm qua, lượng xuất khẩu dứa tươi và nước dứa có xu hướng tăng Năm 1998, lượng xuất khẩu dứa tươi tăng 16% so với năm 1994, xuất khẩu nước dứa cô đặc tăng 28% Ngược lại, dứa đóng hộp xuất khẩu có
Các nước xuất khẩu dứa đóng hộp chủ yếu bao gồm Philippin, Thái Lan, Trung Quốc, Indônêxia, Hà Lan, Singapore, Nam Phi … Năm 1998, 10 nước này xuất khẩu 617.000 tấn và chiếm 81% thị phần thế giới
Trang 17Châu Âu và Bắc Mỹ là thị trường nhập khẩu dứa tươi chủ yếu Trong
đó, Châu Âu nhập khẩu 47,4%, Bắc Mỹ nhập khẩu 32% số lượng dứa xuất khẩu của thế giới Số lượng nhập khẩu dứa tươi giao dịch trên thị trường thế giới khoảng 810 - 900 ngàn tấn/năm [13]
1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ dứa ở trong nước
Theo tài liệu của J Lan (1928) và Nguyễn Công Huân (1939) thì giống
“dứa ta” đã có ở Việt Nam cách đây hơn 100 năm Đến nay ở nước ta, cây dứa
đang được trồng ở hầu hết các tỉnh từ phía Bắc cho tới phía Nam và cây dứa
đang là một trong những loại cây được sản xuất và phục vụ xuất khẩu chủ lực
Theo số liệu của tổng cục thống kê, tính đến năm 2004, tổng diện tích dứa của cả nước đạt 44.271 ha, trong đó có 34.402 ha cho thu hoạch với tổng sản lượng đạt 414.863 tấn Năng suất dứa bình quân trên cả nước đạt 12,06 tấn/ha ở các tỉnh phía Bắc, tổng diện tích dứa là 17.595 ha, chiếm 39,7% diện tích dứa của cả nước, trong đó diện tích cho thu hoạch là 12.460 ha với tổng sản lượng đạt 135.702 tấn Năng suất dứa bình quân ở các tỉnh phía Bắc đạt 10,89 tấn/ha
Dứa được trồng ở hầu hết các tỉnh của cả nước, song dứa được trồng tập trung chủ yếu ở các tỉnh trọng điểm là Yên Bái, Bắc Giang, Hoà Bình, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Nam, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang và Kiên Giang Các tỉnh này chiếm 84% tổng diện tích
và 91% tổng sản lượng dứa cả nước
Về năng suất, ở các tỉnh phía Bắc, năng suất dứa tính bình quân cho cả dứa Cayen và dứa Queen là 10,98 tấn/ha Với dứa Cayen, năng suất bình quân của cả nước đạt 30 - 35 tấn/ha, riêng các vùng trồng dứa tập trung cung cấp nguyên liệu cho chế biến đạt 40 - 45 tấn/ha và các điển hình năng suất đã đạt tới 70 tấn/ha.Tại Nông trường Thọ Vực, Tỉnh Đồng Nai, năng suất dứa Cayen trong mô hình trồng có áp dụng chế độ tưới nhỏ giọt đã đạt 93,0 tấn/ha [35]
Về tình hình xuất khẩu, Việt Nam có nhiều cơ hội phát triển thị trường xuất khẩu các sản phẩm dứa sang thị trường Mỹ vì đã ký hiệp định thương mại
Trang 18Năm 1996, Trung Quốc chỉ nhập khẩu 2,6 ngàn tấn dứa tươi, song đến năm1998 tăng lên 22,5 ngàn tấn Trong những năm 1996 - 1998 xuất khẩu các sản phẩm dứa của Việt Nam có nhiều chuyển biến tích cực Năm 1998, xuất khẩu dứa đóng hộp tăng 6,4 lần, dứa tươi tăng 8,9 lần so với năm 1994
Năm 2001 và 2002 xuất khẩu các sản phẩm sang thị trường Mỹ tăng mạnh với giá các sản phẩm xuất khẩu như sau: nước dứa cô đặc là 1000 USD/tấn đối với dứa Cayen, 900 USD/tấn với dứa Queen
Thị trường xuất - nhập khẩu đã được thiết lập với 10 nước chủ yếu và đã chiếm tỷ trọng rất cao Chính vì vậy, các sản phẩm dứa của Việt Nam muốn xâm nhập vào thị trường mới và phát triển thị trường cần nâng cao chất lượng
và hạ giá thành sản phẩm
1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước trên cây dứa 1.3.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.3.1.1 Nghiên cứu chọn tạo giống dứa
a Thu thập và lưu giữ nguồn gen
Trong chọn tạo giống cây ăn quả nói chung và nhân giống dứa nói riêng, công tác thu thập và lưu giữ nguồn quỹ gen luôn là khâu quan trọng trước tiên Từ nguồn quỹ gen thu thập được, các nhà chọn giống mới tiến hành lai tạo, nhằm tổ hợp được các tính trạng tốt từ các giống khác nhau vào trong một giống mới, hoặc tiến hành lai tạo để bổ sung một tính trạng quý nào đó vào một giống đã có Công tác thu thập, lưu giữ và đánh giá nguồn quỹ gen các giống dứa được tiến hành ở các nước có nghề trồng dứa phát triển như Pháp, Mỹ, Trung Quốc, ấn Độ, Philippin, Thái Lan … [55] Theo P.K Ray
Trang 19(2002), tập đoàn quỹ gen các giống dứa của ấn Độ hiện có 434 dòng dứa khác nhau, bao gồm cả các dạng dứa dại [55] Theo D.P Bartholomew và CS (2005), nguồn quỹ gen các giống dứa tại Mỹ hiện có hơn 1000 mẫu giống của cả 5 nhóm giống [46]
b Nhập nội giống dứa
Đây là phương pháp được sử dụng tương đối phổ biến tại rất nhiều nước trên thế giới vì có ưu điểm có thể rút ngắn thời gian chọn giống, tiết kiệm chi phí và sớm cho kết quả ứng dụng ngay vào sản xuất
Các giống dứa hiện nay đang được trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới hầu hết được chọn tạo mới từ một số nước như Mỹ, Pháp, Braxin Một số giống được chọn tạo mới từ Australia, Trung Quốc, ấn Độ, Đài Loan [46] Một số giống dứa mới được chọn tạo tại Mỹ và Đài Loan như MD2, Đài Nông
số 4, Đài Nông số 14 hiện đã được trồng ở nhiều nước khác nhau trên thế giới [55]
c Tuyển chọn giống dứa
Tương tự như phương pháp nhập nội giống, phương pháp tuyển chọn giống cũng được áp dụng để chọn tạo giống mới ở nhiều nước trên thế giới Tại Đài Loan (1950), bằng phương pháp chọn dòng từ quần thể ruộng dứa Cayen, đã chọn ra 3 dòng Đài Phong 1, 2, 3 có năng suất và chất lượng cao phục vụ sản xuất Tại Malaysia (1962), bằng phương pháp chọn những cá thể
ưu tú ở 5 vùng sản xuất dứa, đã chọn được giống Masmerah có trọng lượng quả từ 1,5 - 3 kg, hình thức quả phù hợp cho chế biến Tại Trung Quốc (1983), bằng phương pháp chọn cá thể và chọn dòng quần thể dứa Cayen, năng suất và chất lượng quả của một số giống mới tuyển chọn đã được cải thiện đáng kể
d Chọn tạo giống bằng lai hữu tính
Theo Pickersgill (1976), trong chọn tạo giống dứa bằng phương pháp lai hữu tính, từ cây F1 phải mất 4 năm cây mới cho quả, và trong nhiều trường hợp cần lai lại thì phải mất tới 25 năm mới cho 1 giống mới [55] Mặc dù mất
Trang 20nhiều thời gian, nhưng chọn tạo giống dứa mới bằng phương pháp lai hữu tính hiện đang là phương pháp chủ yếu trong chọn tạo giống mới ở các nước có nghề trồng dứa và có ngành chọn tạo giống phát triển như Mỹ, Pháp, Braxin,
ấn Độ, Đài Loan … Theo Yapi và Coppens D eeckenbrugge (1997), kết quả
đánh giá 19 dòng lai của cặp lai Cayen x Perolera đã chọn được 3 dòng có triển vọng là C-13, C-15 và C-5 với các đặc điểm ưu việt khác nhau [55] Theo Chan (1997), trong nghiên cứu chọn tạo giống dứa ở Malaixia, khi lai giữa hai dòng dứa Singapo Spanish với Sarawak, kết quả đã chọn được hai dòng cho chế biến là S20 - 3; D4-47 và 1 dòng thích hợp cho ăn tươi là A25-34 Theo D.P Bartholomew và cộng sự (2005), giống dứa rất phù hợp cho ăn tươi được chọn
từ tổ hợp lai PRI 58-1184 và PRI 59-443 [46] và nhiều giống dứa khác đều
được chọn tạo bằng phương pháp lai hữu tính
e Chọn tạo giống bằng phương pháp gây đột biến
Chọn tạo giống bằng phương pháp gây đột biến là phương pháp dùng nguồn chiếu xạ tia Gamma (Co60) xử lý hạt hoặc chồi dứa ở những liều lượng thích hợp có thể tạo ra các thể đột biến trên cây dứa và từ đó chọn ra được những giống dứa mới Ngoài tác nhân gây đột biến vật lý, người ta còn sử dụng Consixin xử lý đa bội thể để tạo ra sản phẩm cây tứ bội, tam bội có năng suất cao Phương pháp này được tiến hành tương đối hiệu quả tại Viện khoa
học Nông nghiệp Quảng Tây - Trung Quốc [50]
1.3.1.2 Nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống
Tại các nước có ngành trồng dứa phát triển, chồi giống hầu hết được sản xuất bằng phương pháp tách chồi, phương pháp nhân giống bằng hạt chỉ được
áp dụng trong công tác lai tạo giống Do đặc thù của dứa Cayen có hệ số nhân giống tự nhiên thấp, vì vậy một số biện pháp kỹ thuật nhân giống rất được quan tâm nghiên cứu và đề xuất ứng dụng như: Giâm hom, cắt khoanh, xử lý
đỉnh sinh trưởng, bẻ hoa tự, nuôi cấy mô tế bào… [5]
Một hướng đi khác trong nhân giống vô tính dứa Cayen là xử lý hoá chất để nâng cao hệ số nhân giống dứa Cayen cũng đã được tiến hành và thu
được kết quả ở một số nước trên thế giới
Trang 21Theo Watson (1974), Keetch, Dalldof (1977) và Glennie (1981), sử dụng Chlorflurenol 400 ppm với lượng phun 3.300 lít/ha, phun ngay sau khi dứa ra hoa đã kích thích cây hình thành rất nhiều chồi cuống Số lượng chồi
được hình thành và vị trí sinh chồi trên cây phụ thuộc vào thời gian và nồng độ hoá chất xử lý
Theo Yigel Natav (1996), có thể sử dụng Paclobutazol để nhân giống dứa Cayen trên điều kiện đồng ruộng Các bước tiến hành như sau: Phun Paclobutazol sau khi sử lý Ethrel 1 ngày trên các đối tượng cây trưởng thành
10 - 11 tháng tuổi, sau 5 - 6 tháng có thể thu được 10 - 25 chồi trên mỗi cây Những chồi này có kích thước tương đối lớn (50% đạt tiêu chuẩn trồng sản xuất), số chồi còn lại có thể đưa ra vườn ươm chăm sóc tiếp Kết quả đạt được của phương pháp này phụ thuộc rất lớn vào tiêu chuẩn và trạng thái cây xử lý,
đồng thời năng suất dứa giảm 30 - 40% [dt.41],
Theo Leon Steyl (1997), có thể sử dụng 2 chế phẩm kích thích sinh trưởng Maintain và Multidrop với các hàm lượng phù hợp để xử lý tạo chồi cho cây dứa Cayen sau thu hoạch Những chế phẩm này được sử dụng tại một
số vùng sản xuất ở các nước như úc, Hoa Kỳ, Nam Phi, số lượng chồi giống thu được là 10 - 50 chồi/cây [dt.41]
Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả Philip E Shaw, Harvey T Chan,
Jr Steven Nagy (1998) [54] cũng cho thấy, sử dụng Chlorflurenol phun cho dứa sau khi ra hoa với nồng độ 400 - 500 ppm đã làm tăng khả năng hình thành chồi bên, nâng cao hệ số nhân trong nhân giống dứa Cũng theo các tác giả này, khi xử lý bằng Chlorflurenol quả sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng không thể sử dụng được sau khi xử lý hoá chất
Theo Bhushan M.N (1999), có thể sử dụng chế phẩm Maintain CF -
125 phối hợp với Ethphon để xử lý cho cây dứa Cayen trưởng thành Sau 6 - 8 tháng có thể thu được 15 - 20 chồi/cây, tuy nhiên năng suất dứa quả giảm 25 - 40% [dt.29]
Trang 22b Nhân giống bằng phương pháp giâm hom thân và hom nách lá
Nhân giống dứa bằng phương pháp giâm hom đã được bắt đầu tiến hành
từ rất lâu ở trên thế giới Theo Walters (1932), tại vùng West Indies, tiến hành cắt thân dứa thành từng đoạn 0,5 cm đem giâm trong nền cát có thể thu được tới 80 chồi đủ tiêu chuẩn xuất vườn [48]
Tại Pháp, từ những năm 1960 người ta đã tiến hành nhân giống dứa Cayen bằng phương pháp cắt khoanh thân cây dứa sau khi cho thu hoạch quả, giâm trong nhà kính và đã sản xuất được rất nhiều cây giống tốt cung cấp cho sản xuất Sau đó phương pháp này đã được áp dụng cho nhiều nước trên thế giới, trong đó có Vương quốc Anh và Trung Quốc
Theo Poignant (1969), cắt thân thành từng đoạn 3 cm, sau đó chia nhỏ thành 4 - 8 miếng rồi đem giâm với mật độ 500.000 miếng/ha cho tỷ lệ bật chồi cao Sau 4 tháng chồi đạt 20 gam và sau 8 tháng chồi đủ tiêu chuẩn trồng mới
Theo D.P Bartholomew và cộng sự (2005), bất kỳ một đoạn thân nào của cây dứa có chứa 1 - 2 mầm ngủ trở lên là có thể hình thành nên cây dứa trong những điều kiện thích hợp Theo tác giả, thân cây dứa sau khi được tách
bỏ hết lá, cắt thành từng đoạn 3 - 5 cm rồi giâm trực tiếp trên vườn ươm đã
được bón phân chuồng hoặc bón bổ sung phân chuồng khi chồi mới hình thành cho kết quả tốt [46]
Cùng với phương pháp giâm hom thân, kỹ thuật nhân giống bằng phương pháp giâm hom chồi ngọn cũng đã được tiến hành ở một số nước trên thế giới Theo Evans (1952), Guyot (1963), Singh and Yadav (1980) khi chia
Trang 23đủ cây giống cung cấp cho 15.000 ha vùng nguyên liệu
Theo Lee và Tee (1978), sử dụng chồi ngọn với xấp xỉ 100 lá, 40 - 70 chồi có thể được tách ra, trong số đó xấp xỉ 70% sẽ phát triển Cây con hình thành từ phương pháp này tiếp tục làm như vậy để nâng cao hệ số nhân Sử dụng kỹ thuật này Lee và Tee (1978) đã nhận được 800 cây con trong vòng 7 tháng từ 1 cây trưởng thành có 4 chồi
Theo tác giả Bartholomew và cộng sự (2003) [46], dứa có thể được nhân giống bằng hom chồi ngọn Chồi ngọn được cắt thành 4 - 5 hom có kèm theo lá, tiến hành giâm trong điều kiện nhà kính có hệ thống tưới phun sương cho tỷ lệ hình thành chồi rất cao Giá thể giâm thích hợp là cát thô, được xử lý thuốc trừ nấm bệnh trước khi tiến hành giâm Bổ sung dinh dưỡng thông qua phân bón lá khi chồi mới được hình thành Chồi mới đó được ra ngôi và tiến hành chăm sóc trên vườn ươm cho tới khi đủ tiêu chuẩn trồng ra ruộng sản xuất [46]
c Nhân giống dứa bằng kỹ thuật khử đỉnh sinh trưởng
Theo Heenkenda (1993), có thể khử đỉnh sinh trưởng của cây để hình thành chồi mới bằng một dụng cụ được thiết kế đặc biệt Theo tác giả, khối lượng cây khi tiến hành khử đỉnh sinh trưởng tối thiểu phải đạt 100 gam và
được tiến hành trong điều kiện nhà kính Khi tiến hành trên đồng ruộng, kích thước và khối lượng cây yêu cầu lớn hơn nhiều so với tiến hành trong nhà kính Chồi mới được hình thành từ khử đỉnh sinh trưởng cần được ra ngôi chăm sóc trên vườn ươm cho tới khi đạt khối lượng 200 gam hoặc lớn hơn mới tiến hành trồng ra ruộng sản xuất Cây mẹ sử dụng để khử đỉnh sinh trưởng
Trang 24chỉ duy trì trong thời gian 8 - 12 tháng, sau đó cần được trồng thay thế lại [46]
d Nhân giống dứa bằng phương pháp nuôi cấy mô
Những năm gần đây một số nước tiên tiến có trình độ công nghệ phát triển, kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào được áp dụng thành công trong công tác nhân giống dứa năng suất cao, phẩm chất tốt Thành công của kỹ thuật nuôi cấy mô thực vật đã mở ra một hướng đi mới cho cây dứa trong việc nhân giống
Năm 1975, Lakmisita (G), Singh (G) và Tyer (C P A) đã tái sinh thành công cây dứa từ mô phân sinh đỉnh của cây dứa Tiếp sau đó, năm 1976, Pannetier C và Lanaud C đã nhân thành công từ mầm nách của chồi ngọn cây dứa trong môi trường của Murashing và Skoong có chứa 2.10-7 M NAA ,
các tác gải đã đưa ra kết luận: "Trong điều kiện tốt nhất, từ một mầm dứa ban
đầu, chúng ta có thể thu được một triệu mầm dứa đồng nhất về di truyền và trẻ
về sinh lý sau hai năm" [54] Sau đó môi trường nuôi cấy tiếp tục được cải
tiến, bổ sung thêm các chất điều tiết sinh trưởng và các khoáng chất để nâng cao hệ số nhân và chất lượng chồi giống thu được bởi các tác giả Mathews và Ranjan (1979), Zepeda và Sagawa (1981), Fitchet (1985), Dawald và cộng sự (1988) và một số tác giả khác [54]
Đến năm 1991, các tác giả như: F Cote, R Pomergue, M Folliot, J Bowquipin và F Marrie đã cùng công bố quy trình nhân nhanh invitro cho cây dứa, bao gồm các công đoạn sau:
Nuôi cấy ban đầu (2,5 tháng) Nhân nhanh (1,5 tháng) Tạo cây hoàn chỉnh (1,5 tháng) Vườn ươm (6 - 7 tháng) Ruộng sản xuất (12 tháng) [dt.20]
1.3.1.3 Nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật canh tác
Về các biện pháp kỹ thuật canh tác, có rất nhiều các công trình nghiên cứu đã được công bố của nhiều tác giả ở các nước có nghề trồng dứa phát triển
Trang 25trên thế giới Các kết quả nghiên cứu đã được công bố bao gồm tất cả các lĩnh vực về mật độ trồng, kỹ thuật tưới nước, bón phân, xử lý ra hoa, phòng trừ sâu bệnh gây hại…
Một số công trình nghiên cứu được công bố gần đây về kỹ thuật canh tác dứa Cayen:
Về mật độ trồng, Theo H.Y Nakasone và R.E Paull (1997), từ ngưỡng mật độ trồng 75.000 chồi/ha, cứ tăng 2.500 chồi/ha thì khối lượng quả giảm đi
45 gam [52] Theo D.P Bartholome và Cộng sự (2003), đối với dứa Cayen, cứ tăng mật độ trồng lên 2.500 chồi/ha thì khối lượng quả giảm 2,4% [46]
Về liều lượng và kỹ thuật bón phân cho dứa, có nhiều kết quả nghiên cứu được công bố khác nhau ở các nước trồng dứa khác nhau Theo T.K Bose
và Cộng sự (2001), ở ấn Độ, lượng phân bón cho dứa Cayen đang được áp dụng là 600 kg N + 400 kg P2O5 + 600 kg K2O trên 1 ha; trong khi đó, ở Australia lượng phân bón đang được áp dụng là 10g N + 2g P2O5 + 10g
K2O/cây [47] Theo H.Y Nakasone và R.E Paull (1997), lượng phân bón cho dứa Cayen tuỳ thuộc vào điều kiện đất trồng, lượng phân bón có thể dao động
225 - 350 kg N/ha, 225 - 450 kg K2O/ha và 150 - 225 kg P2O5/ha [52]
Về kỹ thuật xử lý ra hoa, theo H.Y Nakasone và R.E Paull (1997), cây dứa Cayen xử lý ra hoa cho kết quả ra hoa tốt nhất khi cây có khối lượng thân lá đạt 2 - 4 kg/cây [52] Cũng theo các tác giả, để xử lý ra hoa đạt kết quả tốt cần dừng bón phân trước khi xử lý ra hoa 4 - 6 tuần
Theo Palmer và Cộng sự (1999), xử lý ra hoa bằng dung dịch đất đèn 0,5% và ban đêm cho tỷ lệ ra hoa đạt được cao hơn so với xử lý ra hoa vào ban ngày [46]
Ngoài các kết quả kể trên, rất nhiều các công trình nghiên cứu khác gần
đây về sâu bệnh gây hại dứa, về bảo quản và chế biến dứa thu được kết quả ở các nước có nghề trồng dứa phát triển trên thế giới cũng đã được công bố
1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.3.2.1 Nghiên cứu về chọn tạo giống dứa
Trang 26Cho đến nay, ở nước ta, những nghiên cứu về chọn tạo giống dứa chủ yếu mới được dừng lại ở công tác nhập nội, khảo nghiệm đánh giá tính thích ứng của giống, nhằm chọn được các giống dứa trồng thích hợp trong điều kiện sinh thái của Việt Nam Công tác chọn tạo giống bằng các phương pháp lai hữu tính, bằng xử lý đột biến… mới chỉ thu được những kết quả bước đầu
Theo Nguyễn Công Huân (1939) và Nguyễn Văn Cống (1962), các giống dứa thuộc nhóm dứa Queen đã được nhập nội vào nước ta từ năm 1913, các giống dứa thuộc nhóm dứa Cayen được người Pháp đưa vào Việt Nam năm 1939 và được trồng đầu tiên ở các tỉnh phía Bắc
Việc nghiên cứu tuyển chọn giống dứa ở nước ta phải kể tới đầu tiên là những nghiên cứu tại Viện Cây công nghiệp và Cây ăn quả từ những năm 70 Các tác giả đã thu thập, đưa vào trồng, theo dõi, đánh giá một tập đoàn trên 30 giống của các nhóm dứa khác nhau [11], [15] Từ nguồn quỹ gen nhập nội, chúng ta đã chọn được các giống dứa phù hợp với điều kiện sinh thái của Việt Nam và hiện được trồng phổ biến ở các vùng trồng dứa tập trung trên cả nước Các giống dứa đã được tuyển chọn thành công là dứa Hoa Phú Thọ, dứa Na Hoa (nhóm dứa Queen), và một số giống thuộc nhóm dứa Spanish
Trong khuôn khổ đề tài độc lập cấp nhà nước (KN - DL - 92 - 06 giai
đoạn 1992 - 1996), Vũ Mạnh Hải và cộng sự (Viện Nghiên cứu Rau quả) đã tiến hành nhập nội, so sánh và tuyển chọn được 2 giống Cayen Chân Mộng và Cayen Trung Quốc có năng suất, chất lượng phù hợp cho chế biến đồ hộp,
được HĐKH Bộ NN & PTNT công nhận là giống quốc gia [11]
Theo Hoàng Chúng Lằm và cộng sự (2005), từ kết quả khảo nghiệm
đánh giá các giống dứa nhập nội, ngoài các giống dứa Cayen Chân Mộng, Cayen Trung Quốc, một số giống dứa mới được nhập nội rất có triển vọng trồng thích hợp ở các tỉnh phía Bắc là Đài Nông 4 và MD2 [20]
ở các tỉnh phía Nam, dứa Cayen nhập từ Hawoai (năm 1937) được trồng đầu tiên ở Chí Hoà, Long Khánh, Lộc Phước và đồn điền Xantamaria Sau hoà bình lập lại (1954), cây dứa được phát triển ở nhiều địa phương, đặc
Trang 27có nhiều ưu điểm hơn cả là C10, C20 và C22 Đây là những dòng có triển vọng thích hợp cho phát triển ở các tỉnh phía Nam [24]
Về công tác chọn tạo giống bằng phương pháp lai hữu tính cũng đang
được Viện Nghiên cứu Rau quả (khu vực phía Bắc) và Viện Nghiên cứu Cây
ăn quả miền Nam (khu vực phía Nam) thực hiện và hiện nay đã có những kết quả ban đầu
1.3.2.2 Nghiên cứu về nhân giống
a Các phương pháp nhân giống dứa
Dứa là cây thân thảo lâu năm, có thể sinh sản vô tính và hữu tính, nhưng việc nhân giống bằng phương pháp hữu tính là rất khó khăn, bởi dứa là cây tự bất thụ, do vậy phương này chỉ áp dụng trong công tác chọn tạo giống mới Trong thực tế sản xuất thì nhân giống dứa bằng phương pháp vô tính là phổ biến từ trước tới nay, với các loại thực liệu là chồi hoa, chồi nách, chồi cuống… [42], [16]
* Phương pháp nhân giống hữu tính
Phương pháp này không được sử dụng để nhân giống dứa trong sản xuất, chỉ áp dụng trong công tác lai tạo giống Phương pháp nhân giống hữu tính có ý nghĩa trong việc gây ra biến dị tổ hợp để chọn dòng dứa có đặc tính mong muốn Phương pháp lai hữu tính đối với dứa tương đối phức tạp bởi dứa
có hoa lưỡng tính, song không thụ phấn thụ tinh, chỉ bằng cách lai phấn mới
có thể thụ phấn và hình thành hạt Hạt dứa cứng và rất nhỏ, có mầu tím đen, dài khoảng 3mm, trọng lượng nghìn hạt dao động từ 9,4 - 14g Hạt dứa nẩy
Trang 28* Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật làm tăng hệ số nhân giống dứa Cayen
Trong nhân giống dứa Cayen, nếu chỉ áp dụng biện pháp nhân giống bằng tách chồi tự nhiên thì hệ số nhân giống rất thấp, khó đáp ứng được việc
mở nhanh diện tích trồng trong thời gian ngắn Khi cần số lượng lớn chồi giống cho sản xuất trong khi nguồn thực liệu ban đầu còn hạn chế, có thể sử dụng một số biện pháp kỹ thuật đơn giản sau:
- Biện pháp thúc chồi nách: để cho cây dứa phát sinh chồi nách nhanh hơn bình thường, sau khi thu hoạch quả xong, tiến hành phát bớt lá, bón phân
và phun các chất điều tiết sinh trưởng để kích thích sự hình thành chồi nách
Trang 29- Biện pháp trồng dứa với mật độ dầy: sau khi cây dứa ra hoa khoảng một tuần, ngắt bỏ hoa để kích thích sự hình thành chồi thân, sau đó là tiến hành nuôi chồi ở mật độ 80 - 100 nghìn cây/ha, nếu chăm sóc tốt có thể thu
được 3 - 4 chồi/thân
Để đạt được mục tiêu đưa diện tích trồng dứa Cayen lên 20.000 ha vào năm 2010 theo đề án phát triển rau, quả và hoa cây cảnh thời kỳ 1999 - 2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn [16], mỗi năm chúng ta cần trồng mới diện tích dứa Cayen khá lớn Trong những năm vừa qua, cùng với việc nhập nội chồi giống từ Trung Quốc, Thái Lan, công tác nghiên cứu về nhân giống dứa Cayen đã được nhiều cơ quan tập trung nghiên cứu
Do đặc điểm của giống dứa Cayen có hệ số nhân giống tự nhiên thấp, chỉ áp dụng các biện pháp thúc chồi sẽ không đáp ứng được nhu cầu chồi giống cho sản xuất, bởi vậy cần phải có những biện pháp khác để tăng nhanh
hệ số nhân giống của nhóm giống dứa Cayen [16]
Những nghiên cứu về nhân giống dứa Cayen ở Việt Nam đã được bắt
đầu từ khá lâu, tuy nhiên việc nghiên cứu có hệ thống đầu tiên phải kể tới kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Rau quả trong khuôn khổ đề tài độc lập cấp Nhà nước, mã số: KN - ĐL - 92 (Vũ Mạnh Hải và CS 1996) [11] Cùng với các kết quả nghiên cứu, tuyển chọn giống và các biện pháp kỹ thuật thâm canh, đề tài còn đạt được một số kết quả về nhân giống dứa Cayen bằng các phương pháp giâm thân và cắt khoanh thân Các kết quả này được người sản xuất rất quan tâm
Trước nhu cầu về cây giống phục vụ sản xuất, nhiều Viện, Trường, các Trung tâm đã tập trung nghiên cứu, sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để tiến hành nhân giống dứa Cayen với mục đích tạo ra số lượng lớn chồi giống
đạt tiêu chuẩn trồng ra sản xuất trong thời gian ngắn nhất
Trang 30- Nhân giống bằng phương pháp giâm hom thân: Nhân giống dứa
Cayen bằng phương pháp giâm hom thân được tiến hành như sau:
Chọn thực liệu nhân giống là những thân dứa già, đã cho quả, sau khi bóc sạch hết bẹ lá, xử lý thuốc diệt khuẩn (benlate C), giâm trong nền cát sạch, che kín và giữ ẩm thường xuyên Khi chồi bật cao 7 - 10 cm, tách ra trồng ở vườn ươm và tiếp tục tiến hành chăm sóc cho đến khi đạt tiêu chuẩn trồng ra ruộng sản xuất Để thúc đẩy cây con tại vườn ươm, tưới bổ sung dung dịch ure (1%) có tác dụng làm tăng chiều cao và số lá trên chồi cao, sau 6 - 7 tháng trong vườn ươm, trọng lượng chồi có thể đạt 180 - 200 gam (Lê Đình Danh và cộng sự (1994) [7]
Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả Võ Thị Tuyết, Bùi Thị Cam, Lê
Đình Danh, Nguyễn Văn Nghiêm và Phạm Thị Tham (1995) [44], nhân giống dứa Cayen bằng biện pháp giâm hom từ thân già đã cho hệ số nhân đạt được
từ 1,77 đến 3,38 chồi/khoanh thân
Vũ Mạnh Hải, Nguyễn Quốc Hùng và cộng sự (2005) đã báo cáo, sử dụng thân dứa già đã cho thu hoạch quả hoặc thân cây dứa trưởng thành để nhân giống bằng phương pháp giâm hom cho hệ số nhân đạt 22,5 chồi/thân Nghiên cứu về thời vụ giâm, kết quả thu được của các tác giả cho thấy, trong 9 thời vụ giâm từ tháng 3 đến tháng 11, các thời vụ giâm cho kết quả số chồi thu
được/1 thân dứa đạt cao và tương tự nhau là từ tháng 4 đến tháng 8 (với 14 -
Trang 31Với phương pháp này, thực liệu sử dụng nhân giống là những chồi ngọn, chồi cuống, chồi nách được tách thành những hom nhỏ, được xử lý hoá chất diệt khuẩn (benlat C) và giâm trên nền cát sạch trong nhà có mái che, sau
1 tháng chồi bắt đầu bật Khi chồi đạt tiêu chuẩn, tách chồi và ra ngôi trên vườn ươm, sau 6 - 7 tháng thì cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn
Theo Nguyễn Văn Nghiêm, Lê Đình Danh (1997), trong nhân giống bằng phương pháp giâm hom nách lá, tuy số nách lá/hom nhiều, nhưng hệ số nhân giống chỉ đạt 6,5 - 8,5 chồi/ngọn, do tỷ lệ hom thối và cây chết cao [26] Cũng theo kết quả nghiên cứu của các tác giả, đối với chồi ngọn, sau 80 - 84 ngày kể từ khi giâm hom, đã thu được 19,2 chồi từ 1 chồi ngọn ban đầu trong
điều kiện thời tiết vùng Phú Hộ - Phú Thọ [44]
Theo Vũ Mạnh Hải, Nguyễn Quốc Hùng và cộng sự (2005), sử dụng chồi ngọn, tiến hành chẻ dọc rồi cắt lát cho hệ số nhân giống cao hơn so với phương pháp cắt lát trực tiếp không chẻ dọc, với 15,7 chồi/1 chồi ngọn [12]
Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Ngọc Liễu và cộng sự (2004), trong
điều kiện thời tiết khí hậu ở các tỉnh phía Nam nhân giống dứa bằng hom chồi ngọn theo phương pháp chẻ tư rồi tách hom, sau 2 tháng nhân giống cho
hệ số nhân giống đạt 25 - 27 con chồi/chồi ngọn [22]
- Nhân giống bằng phương pháp bẻ hoa tự: là phương pháp sau khi cây
hình thành hoa, tiến hành bẻ hoa hoặc cắt bớt một phần hoa tự, sau đó thu chồi tạo thành từ cuống quả Kết quả thí nghiệm cho thấy hệ số nhân có thể lên tới 4,7 chồi/cây Nhược điểm của phương pháp này là không thu hoạch được quả
từ những cây xử lý [7] Theo Nguyễn Trọng Đằng (2003), sau khi kết thúc nở hoa của dứa, dùng dao cắt đi 2/3 của quả dứa và chỉ để lại 1/3 của quả, sau 3 tháng cho hệ số nhân 2,4 chồi/cây [10]
- Nhân giống bằng phương pháp khử đỉnh sinh trưởng:
Trang 32Trong nhân giống bằng phương pháp khử đỉnh sinh trưởng, sử dụng các tác nhân hoá học hoặc cơ học phá huỷ mô phân sinh đỉnh bắt buộc cây ra nhiều chồi mới Theo Đặng Phương Trâm (1998), Vũ Công Hậu (1999), sử dụng dùi nhọn hoặc H2SO4 0,1N để khử đỉnh sinh trưởng, kích thích tạo chồi mới Với các phương pháp trên, các tác giả thu được 10 chồi/cây [43], [16] Nhược điểm của phương pháp này là không thu hoạch được quả từ những cây
xử lý
Theo Vũ Mạnh Hải, Nguyễn Quốc Hùng và cộng sự (2005), khử đỉnh sinh trưởng ở giai đoạn vườn giâm (khi chồi giống có chiều cao đạt 50 - 60 cm) cho tổng số chồi thu được sau 4 lần tách là 11,2 chồi và sau 10 - 12 tháng
kể từ khi ra ngôi thu được xấp xỉ 120 chồi đủ tiêu chuẩn trồng mới từ một chồi
được ra ngôi ban đầu [12]
Hoàng Chúng Lằm và cộng sự (2005) tiến hành khử đỉnh sinh trưởng của chồi dứa trên hom giâm tại vườn giâm cho kết quả tốt khi chồi có chiều cao 2 - 3 cm (trong điều kiện thời tiết vùng Phú Hộ - Phú Thọ) Cùng với phương pháp khử đỉnh sinh trưởng ngay trên vườn giâm, tác giả cũng đã cho thấy phương pháp khử đỉnh sinh trưởng trên vườn ươm và xử lý hoá chất đã làm tăng khả năng hình chồi trên cây dứa sau khi thu hoạch Cũng nghiên cứu này cho thấy, khử đỉnh sinh trưởng khi cây có chiều cao đạt 25 - 30 cm trên vườn ươm đã cho hệ số nhân giống đạt 16,7 lần sau chu kỳ sản xuất 16 tháng [20]
- Nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô (invitro):
Nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào là phương pháp hiện
đại, nhân giống trong điều kiện vô trùng của phòng thí nghiệm, hệ số nhân giống cao, có thể đạt 106 cây/năm [31]
Với mục tiêu nâng cao hệ số nhân giống dứa Cayen, cùng với nghiên cứu các biện pháp nhân giống bằng kỹ thuật giâm hom, kỹ thuật khử đỉnh sinh trưởng, nhiều tác giả đã tập trung nghiên cứu nhân giống dứa Cayen bằng biện
Trang 33pháp nuôi cấy mô (invitro) và đã thu được một số kết quả nhất định ứng dụng thành công kỹ thuật nhân giống dứa bằng nuôi cấy mô đã mở ra một triển vọng trong việc giải quyết yêu cầu về giống cho sản xuất Năm 1969, tác giả Nguyễn Quang Thạch và cộng sự đã xây dựng thành công quy trình nhân giống invitro cho cây dứa Cayen Phú Hộ Quy trình gồm các bước sau:
Tạo vật liệu khởi đầu Nuôi và nhân nhanh (2,5 tháng) Tạo cây hoàn chỉnh (1,5 tháng) Vườn ươm (6 - 8 tháng) Ruộng sản xuất (12 tháng)
Năm 1978, Vũ Mỹ Liên cùng với cộng sự đã thành công trong việc nhân giống dứa bằng cách tạo thể chồi trực tiếp từ mô cây ban đầu và đã ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy mô để nhân nhanh đối với giống Queen Long An Sau
đó, Nguyễn Hữu Hổ và Nguyễn Văn Uyển đã đưa ra qui trình nhân nhanh invitro và đề nghị áp dụng cho cây dứa Cayen dưới dạng nhân thể chồi
Tuy nhiên, quy trình nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô chưa
được phổ biến ở quy mô lớn bởi vẫn còn một số khâu của quy trình chưa được nghiên cứu hoàn thiện, đặc biệt là ở giai đoạn vườn ươm Để hoàn thiện được quy trình kỹ thuật nhân giống bằng nuôi cấy mô, một số nghiên cứu nhằm giải quyết công đoạn ở vườn ươm đã được nghiên cứu như áp dụng thuỷ canh, khí canh, thuỷ canh cải tiến… Tuy nhiên, kết quả chưa thuyết phục được người sản xuất bởi phương pháp này đòi hỏi đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị rất tốn kém, thời gian sản xuất dài (1 năm), giá thành cây giống cao, khoảng 1.000 đồng/cây (Lâm Ngọc Phương, Đặng Phương Trâm 1993 - 1997) [31]
Theo Nguyễn Đức Thành và CS (1994) [27], khi nghiên cứu nhân giống dứa Cayen đã thí nghiệm 17 loại môi trường nuôi cấy và tìm ra 2 loại môi trường có khả năng tạo callus và cụm chồi tốt, hệ số cấy chuyển lên tới 4 sau 1 lần cấy chuyển là 1,5 tháng
Theo Nguyễn Thị Nhẫn và Nguyễn Quang Thạch (1994) khi nghiên cứu nhân giống dứa Cayen bằng phương pháp invitro cho biết chồi ngọn 2 tháng
Trang 34tuổi là nguyên liệu thích hợp cho nuôi cấy mô cây dứa Môi trường nhân nhanh nhất là MS + 1 - 2 ppm BA, 2,5% Saccaroza và môi trường thích hợp cho sự ra rễ là MS + 0,5 ppm NAA [29]
Qua thời gian nghiên cứu để tìm ra các giải pháp có tính thuyết phục hơn, đến năm 2002, công nghệ sản xuất cây giống dứa Cayen bắt nguồn từ nuôi cấy mô thực vật đã được các tác giả Nguyễn Quang Thạch, Nguyễn Thị Nhẫn, Nguyễn Khắc Thái Sơn, Đinh Trường Sơn áp dụng các tiến bộ kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp, đưa giá thành của một chồi giống dứa nhân giống bằng nuôi cấy mô xuống chỉ còn 600 đồng/chồi, với thời gian vườn ươm
từ 5 - 6 tháng và thời gian từ trồng đến thu hoạch là 24 tháng [36]
Có thể nhận thấy việc nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống dứa Cayen đã
được quan tâm trong những năm qua và đã đạt được kết quả bước đầu Tuy nhiên, từ nhu cầu của sản xuất cho thấy cần tiếp tục nghiên cứu, cải tiến các phương pháp hiện tại và đẩy mạnh nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhân giống mới với mục tiêu nâng cao hệ số nhân giống, giảm giá thành, nâng cao chất lượng chồi giống, thúc đẩy ngành trồng dứa phát triển
* Nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật canh tác:
Trong những năm gần đây một số cơ quan chuyên ngành đã tập trung nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác nhằm nâng cao năng suất, phẩm chất dứa Cayen và đặc biệt là vấn đề rải vụ thu hoạch quả, kết quả bước
đầu đã thu được như sau:
- Nghiên cứu về mật độ trồng
Theo Nguyễn Văn Nghiêm và cộng sự (2005), mật độ trồng thích hợp ở Phú Thọ và những nơi có điều kiện tương tự là 67.700 cây/ha Với mật độ này, cây dứa sinh trưởng, phát triển, cho năng suất và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất với 65 tấn/ha [27], [28]
Trang 35- Nghiên cứu về phân bón
Theo Vũ Mạnh Hải, Nguyễn Quốc Hùng và cộng sự (2005), với liều lượng phân bón 8g N + 4g P2O5 + 16g K2O5 và 8g N + 4g P2O5 + 16g K2O5 có năng suất thu được đạt cao và tương tự nhau (78,8 - 79,0 tấn/ha) Phun bổ sung axits Boric với nồng độ 0,2 % vào hai thời điểm trước khi ra hoa và sau khi nở hoa đã làm tăng kích thước và khối lượng quả dứa Cayen, năng suất thu
được tăng so với công thức không phun là 10,6 % [12]
Theo Nguyễn Văn Nghiêm và cộng sự (2000), liều lượng phân bón N :
P : K (gam/cây) ở mức 8 : 4 : 12 với 3 lần phun bổ sung phân bón lá và ở mức
10 : 5 : 15 với 2 - 3 lần phun bổ sung phân bón lá đều đạt năng suất lớn hơn
61 tấn/ha và lãi so với đối chứng từ 4 - 5 triệu đồng/ha [28]
- Nghiên cứu về xử lý ra hoa
Vũ Mạnh Hải, Nguyễn Quốc Hùng và CS (2006) cho biết, trong điều kiện thời tiết của các tỉnh phía Bắc, xử lý cho dứa Cayen ra hoa bằng dung dịch đất đèn vào ban đêm có nhắc lại lần thứ hai sau lần xử lý thứ nhất 2 - 3 ngày, tỷ lệ ra hoa đạt từ 68,8 - 98,7 % Nồng độ dung dịch đất đèn xử lý cho kết quả ra hoa đạt tỷ lệ cao ở tất cả các thời vụ trong năm là từ 1,0 - 2,0 % [14]
- Nghiên cứu về mô hình tưới nhỏ giọt có màng phủ:
Tại Nông trường Thọ Vực, Tỉnh Đồng Nai, năng suất dứa Cayen trong mô hình đã đạt 93,0 tấn/ha với 100% quả có khối lượng lớn hơn 1 kg, trong đó khối lượng quả đạt từ 1 - 1,5 kg chiếm 23%, còn lại khối lượng quả lớn hơn 1,5 kg chiếm 77% [35]
- Nghiên cứu về sâu bệnh hại:
Theo Nguyễn Văn Đức (1994), khi nghiên cứu điều tra sâu bệnh hại dứa tại các tỉnh phía Bắc đã cho biết: thành phần sâu bệnh hại bao gồm 10 đối
Trang 37Chương 2 Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.1 Vật liệu nghiên cứu
2.1.1 Thực liệu nhân giống dứa Cayen
- Hom thân già: sử dụng thân cây dứa đã cho thu hoạch quả, còn tươi, không bị dập nát, thối, héo hoặc nhiễm bệnh
- Chồi và cây con tiến hành xử lý:
+ Trong vườn giâm: chọn những hom có số chồi và chiều cao chồi khác nhau, khoẻ, không sâu bệnh
+ Trên vườn ươm: chọn những cây ở các độ tuổi khác nhau, khỏe, không sâu bệnh
+ Trên đồng ruộng: bố trí thí nghiệm trên những lô cây trước, bắt đầu
và sau khi kết thúc nở hoa, cây tương đối đồng đều, khỏe, không sâu bệnh
2.1.2 Hóa chất
Các hoá chất sử dụng trong thí nghiệm: multi effect triazol (MET) 980,
GA3 920 và thuốc trừ bệnh benlat C 50 BTN 0,3%
2.2 địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu
- Viện Nghiên cứu Rau quả, Thị trấn Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội
- Công ty Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao, Thị xã Tam Điệp, Tỉnh Ninh Bình
- Công ty Cây ăn quả Nghệ An, Xã Nghĩa Bình, Huyện Nghĩa Đàn, Tỉnh Nghệ An
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
- Đề tài được tiến hành trong 2 năm 2005 và 2006
2.3 Nội dung nghiên cứu
Trang 382.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ giâm và phương pháp tách hom đến khả năng nhân giống dứa Cayen
2.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật khử đỉnh sinh trưởng ở giai
đoạn vườn giâm đến khả năng ra chồi của dứa Cayen
2.3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật khử đỉnh sinh trưởng ở giai
đoạn vườn ươm đến khả năng ra chồi của dứa Cayen
2.3.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của GA3 và multi effect triazol (MET) đến
khả năng ra chồi của dứa Cayen trong vườn giâm và ngoài vườn ươm
2.3.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của GA3 và multi effect triazol (MET) đến
khả năng ra chồi của dứa Cayen trên ruộng sản xuất
- Các thí nghiệm trên vườn ươm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy
đủ, mỗi công thức 100 cây, nhắc lại 3 lần
- Các thí nghiệm trên ruộng sản xuất được bố trí theo khối ngẫu nhiên
đầy đủ, mỗi công thức 200 cây, nhắc lại 3 lần
2.4.2 Các thí nghiệm và chỉ tiêu theo dõi
2.4.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ giâm và phương pháp tách hom
đến khả năng nhân giống dứa Cayen
a Thí nghiệm 1.1 ả nh hưởng của thời vụ giâm đến khả năng ra chồi dứa Cayen giâm từ hom thân
- Thí nghiệm bao gồm 9 công thức thời vụ giâm khác nhau, được tiến hành liên tục từ tháng 3 đến tháng 11 năm 2005, với thực liệu nhân giống là hom thân già cắt khoanh dày 2 - 4 cm
- Các công thức thí nghiệm:
+ Công thức 1: tháng 3 + Công thức 4: tháng 6 + Công thức 7: tháng 9
Trang 39+ Công thức 2: tháng 4
+ Công thức 3: tháng 5
+ Công thức 5: tháng 7 + Công thức 6: tháng 8
+ Công thức 8: tháng 10 + Công thức 9: tháng 11
b Thí nghiệm 1.2 ảnh hưởng của thời vụ giâm đến khả năng nảy chồi của
hom giâm nách lá
- Thí nghiệm bao gồm 9 công thức thời vụ giâm khác nhau, được tiến hành liên tục từ tháng 4 đến tháng 12 năm 2005, với thực liệu nhân giống là hom chồi ngọn chẻ dọc làm tư rồi tiến hành cắt lát
+ Công thức 7: tháng 10 + Công thức 8: tháng 11 + Công thức 9: tháng 12
c Thí nghiệm 1.3 ả nh hưởng của phương pháp tách hom giâm đến động thái
ra chồi và hệ số nhân giống dứa Cayen
Thí nghiệm bao gồm 5 công thức với các phương pháp tách hom khác nhau, được tiến hành trong tháng 6 năm 2005
+ Công thức 1: hom thân già chẻ đôi
+ Công thức 2: hom thân già chẻ đôi rồi cắt thành từng đoạn 7 - 10 cm + Công thức 3: hom thân già cắt khoanh dày từ 2 - 4 cm
+ Công thức 4: hom chồi ngọn chẻ dọc làm tư rồi cắt lát
+ Công thức 5: hom chồi ngọn cắt lát
* Các chỉ tiêu theo dõi chung của tất cả các thí nghiệm trong nội dung nghiên cứu thứ nhất (2.4.2.1):
- Tỷ lệ hom sống
- Thời gian từ giâm đến bật chồi
- Thời gian từ giâm đến tách chồi (đạt tiêu chuẩn ra ngôi)
- Thời gian từ giâm đến kết thúc tách chồi
- Số hom/thân, số hom/chồi ngọn
- Số chồi thu được trên hom
Trang 40- Tổng số chồi thu được trên thân
2.4.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật khử đỉnh sinh trưởng ở giai
đoạn vườn giâm đến khả năng ra chồi của dứa Cayen
a Thí nghiệm 2.1 ảnh hưởng của thời vụ tiến hành đến khả năng ra chồi dứa Cayen sau khi khử đỉnh ở giai đoạn vườn giâm
- Thí nghiệm gồm 7 công thức tương ứng với 7 thời vụ khác nhau và
được tiến hành liên tục từ tháng 4 đến tháng 10 năm 2005 Trên tất cả các công thức thí nghiệm đều tiến hành khử 2 chồi/1hom giâm, chiều cao chồi 2 -
b Thí nghiệm 2.2 ảnh hưởng của chiều cao chồi được khử đỉnh đỉnh sinh trưởng đến sự hình thành chồi mới ở giai đoạn vườn giâm
- Thí nghiệm gồm 4 công thức với chiều cao chồi khác nhau được tiến hành ở thời vụ tháng 7 năm 2005 Các công thức thí nghiệm tiến hành khử 2 chồi/hom
- Các công thức thí nghiệm:
+ Công thức 1: 1 ≤ chiều cao chồi < 2 cm + Công thức 2: 2 ≤ chiều cao chồi < 4 cm + Công thức 3: 4 ≤ chiều cao chồi < 6 cm + Công thức 4: 6 ≤ chiều cao chồi < 8 cm
c Thí nghiệm 2.3 ảnh hưởng của số lượng chồi/hom giâm được khử đỉnh sinh trưởng đến sự hình thành chồi mới ở giai đoạn vườn giâm
- Thí nghiệm gồm 3 công thức, tiến hành ở thời vụ tháng 6 năm 2005, trên hom có chồi đạt chiều cao 2 - 4 cm
- Các công thức thí nghiệm: