Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp
Trang 11 Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Cây đậu tương Glycine Max (L) Merrill Là một trong những cây trồng
quan trọng ở nước ta và nhiều nước trên thế giới Đậu tương là cây công
nghiệp ngắn ngày có giá trị kinh tế và giá trị dinh dưỡng cao, nó là nguyên
liệu cho nhiều ngành công nghiệp chế biến Trong dinh dưỡng hàng ngày, nó
là thực phẩm giàu protein và lipit Từ đậu tương, con người có thể chế biến
thành các sản phẩm thực phẩm khác nhau như làm tương, sản xuất đậu phụ,
chao, tào phớ, sữa đậu lành, xì dầu …
Trong y học, đậu tương còn là vị thuốc để chữa bệnh, đặc biệt là đậu
tương hạt đen có tác dụng tốt cho tim, gan, thận, dạ dày và ruột; làm thức ăn
tốt cho những người mới ốm dậy, thấp khớp Trong hạt đậu tương còn chứa
chất lexitin - có tác dụng làm cho cơ thể trẻ lâu, làm tăng trí nhớ và tái sinh
các mô làm cứng xương và tăng sức đề kháng của cơ thể
Trong nông nghiệp, cây đậu tương có vai trò cải tạo đất, làm tăng thêm độ phì nhiêu cho đất nhờ sự cộng sinh của vi khuẩn nốt sần ở bộ rễ
Trong những điều kiện thuận lợi, chúng có khả năng cố định nitơ khí quyển
thành đạm để cung cấp cho cây Do đó có thể nói “mỗi nốt sần như một nhà
máy phân đạm tý hon” Chính vì vậy, trồng đậu tương không cần nhiều phân
đạm mà còn có tác dụng tích cực trong việc cải tạo và bồi dưỡng đất
ở nước ta, trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước đã có chính
sách đầu tư, phát triển trồng đậu tương Tuy nhiên, diện tích còn tăng chậm,
phần vì còn nhiều yếu tố hạn chế chưa được khắc phục và giải quyết, phần do
điều kiện khí hậu thời tiết đất đai phân bố không đồng đều giữa các vùng
Trang 2trong cả nước Mặt khác do trình độ thâm canh không đồng đều, tập quán canh tác còn lạc hậu…
Để khắc phục những hạn chế trên đồng thời đạt được chỉ tiêu kế hoạch
đề ra ngoài việc vừa mở rộng diện tích, thâm canh tăng vụ, nâng cao sản lượng thì việc nghiên cứu lựa chọn ra giống đậu tương mới có năng suất cao phù hợp với từng loại đất và vùng sinh thái khác nhau là việc làm có ý nghĩa đối với các nhà nghiên cứu Cho nên khi nghiên cứu đưa cây đậu tương vào hệ thống canh tác ở Việt Nam, Lê Song Dự (1990) [9] đã cho rằng: Đậu tương hè có năng suất khá ổn định có thể mở rộng ở đồng bằng Bắc bộ và Trung du trong một hệ thống Lúa xuân - Đậu tương hè - Lúa mùa
Việt Yên trong những năm gần đây sản xuất đậu tương nói chung và
đậu tương hè nói riêng đã từng bước được mở rộng về diện tích, năng suất và sản lượng nhưng nhìn chung còn chậm và ở mức thấp Diện tích trung bình 558,8 ha, năng suất bình quân đạt 10,7 tạ/ha cũng do nhiều nguyên nhân nhưng quan trọng nhất là khâu giống và biện pháp kỹ thuật áp dụng Do đó việc nghiên cứu để lựa chọn ra giống đậu tương thích hợp với vùng đất bạc màu Việt Yên góp phần áp dụng vào công thức luân canh cây trồng nói chung
và cây đậu tương hè nói riêng là rất cần thiết Nhằm từng bước giúp bà con nông dân của địa phương mở rộng diện tích, tăng năng suất tại chỗ và đẩy mạnh phát triển kinh tế đồng thời sử dụng có hiệu quả tiềm năng đất đai và nâng cao độ phì cho đất Mặt khác cây đậu tương là một cây luân canh, xen canh, gối vụ rất quan trọng trong cơ cấu cây trồng góp phần nâng cao năng suất cây trồng vụ sau và nâng cao hệ số sử dụng đất
Chính vì những giá trị to lớn của cây đậu tương mà nó giữ một vị trí chiến lược quan trọng phát triển nền kinh tế nông nghiệp ở nước ta Đồng thời
có ý nghĩa to lớn đối với đời sống con người, như vậy song song với việc mở rộng diện tích và thâm canh tăng vụ nhằm tăng sản lượng đậu tương thì việc
Trang 3tạo ra giống đậu tương mới có năng suất cao phẩm chất tốt thích ứng với các
điều kiện sinh thái, và mùa vụ gieo trồng khác nhau góp phần tăng hiệu quả sản suất đồng thời xác định được lượng phân bón và mật độ thích hợp cho giống ĐT12 trong vụ hè trên đất bạc màu Việt Yên - Bắc Giang Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn sản xuất và cùng với sự hướng dẫn của T.S Vũ Đình Chính
chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật góp phần tăng năng suất đậu tương trong điều kiện vụ hè trên đất bạc màu Việt Yên Bắc Giang”
1.2 Mục đích và yêu cầu
- Đánh giá được khả năng chống chịu của các dòng, giống
- Xác định được các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
- Chọn được giống đậu tương có năng suất cao phù hợp với điều kiện sinh thái
- Tìm hiểu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng và phát triển, năng suất đậu tương ĐT12
Trang 4- Tìm hiểu ảnh hưởng của lượng phân kali thích hợp cho giống đậu tương ĐT12 trên đất bạc màu Việt Yên - Bắc Giang
1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1 ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở đề xuất một số biện pháp kỹ thuật về giống, mật độ, và phân bón hợp lý góp phần tăng năng suất đậu tương trên đất bạc màu Việt Yên - Bắc Giang
- Đề tài góp phần bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu và giảng dạy
Trang 52 Tổng quan tài liệu
Nhiệt độ thấp (2-30C) sự vận chuyển các chất trong cây ngừng lại (Lê Song Dự, 1988 [8]) ở nhiệt độ 100C sinh trưởng dinh dưỡng bị chậm lại, trên
400C ảnh hưởng đến tốc độ hình thành đốt, lóng và phân hoá hoa [52]
Lê Song Dự, Ngô Đức Dương, cho biết đậu tương tuy có nguồn gốc ôn
đới song không phải là cây chịu rét Tuỳ theo giống chín sớm hay chín muộn
đậu tương yêu cầu tổng tích ôn từ 18000C đến 27000C [9]
ở nhiệt độ 10 - 120C, đậu tương muốn mọc được phải cần 15 - 16 ngày, nhiệt độ 150C chỉ cần 9 - 10 ngày, nhiệt độ 200C chỉ cần 6 -7 ngày Thời kỳ cây con, từ khi ra lá đơn đến khi có 3 lá kép đậu tương có thể chịu rét hơn cả ngô, thời kỳ ra hoa kết quả nếu gặp nhiệt độ thấp ảnh hưởng xấu cho việc ra hoa, kết quả Trong giai đoạn chín nếu nhiệt độ thấp sẽ làm cho hạt khó chín, chín không đều, ảnh hưởng đến chất lượng của hạt
*ánh sáng
ánh sáng là yếu tố có ảnh hưởng mạnh đến cây đậu tương, ánh sáng không chỉ là yếu tố quyết định quang hợp mà còn ảnh hưởng đến hoạt động cố
định đạm của vi khuẩn nốt sần, nên sẽ ảnh hưởng đến sản lượng chất khô và
năng suất thu hoạch
Đậu tương là cây ngắn ngày, phản ứng chặt với độ dài ngày, để ra hoa
Trang 6ngày khác nhau, giống chín muộn phản ứng với độ dài chiếu sáng hơn giống chín sớm, thời kỳ cây con mẫn cảm nhất với ánh sáng ngày ngắn, giảm dần giai đoạn nụ và ngừng ở giai đoan ra hoa đến chín không có sự khác nhau giữa các nhóm
Lê Song Dự, Ngô Đức Dương [8] cho biết: đậu tương rất nhạy cảm với cương độ chiếu sáng Cường độ ánh sáng giảm 50% so với bình thường sẽ làm giảm số cành, đốt, quả và năng suất có thể giảm 60%
Mặc dù vụ hè có nhiệt độ cao, ánh sáng mạnh thuận lợi cho cây sinh trưởng phát triển song mưa lớn kéo dài kết hợp với gió bảo ảnh hưởng tới nảy mầm của hạt, sâu bệnh nhiều, thu hoạch khó khăn, ảnh hưởng đến chất lượng hạt giống Tuy nhiên những khó khăn do thời tiết gây ra đều có thể khắc phục
được, đây cũng là cơ sở khoa học của việc chọn tạo giống đậu tương thích hợp với mùa vụ và vùng sinh thái khác nhau
*N ước
Nhu cầu nước của cây thay đổi tuỳ theo điều kiện kỹ thuật trồng trọt và thời gian sinh trưởng, ở thời kỳ mọc đất cần đủ ẩm (70 - 80 %) Đậu tương cần nước nhiều nhất vào 2 thời kỳ ra hoa và quả mẩy, thời kỳ cây con gặp hạn sẽ làm giảm diện tích lá ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây, hạn vào thời kỳ ra, làm quả sẽ gây rụng hoa, rụng quả ảnh hưởng đến năng suất đậu tương
Tóm lại muốn đạt được năng suất cao cần phải đảm bảo thường xuyên cho cây đủ ẩm Nếu gặp hạn đặc biệt là vào các giai đoạn quan trọng phải tìm mọi cách khắc phục để tưới cho cây
*Đất đai và dinh d ưỡng
- Đất đai: Yêu cầu về đất của cây đậu tương nói chung không khắt khe lắm Đậu tương có thể trồng trên nhiều loại đất như đất phù sa, đất thịt, đất bãi, đất cát pha, đất đồi núi, đất nương rẫy… nhưng thích hợp nhất là đất cát
Trang 7pha và đất thịt nhẹ, đất có độ pH = 5,5 - 6,5 thích hợp cho đậu tương sinh trưởng và hình thành nốt sần, vừa dễ làm đỡ tốn công và dễ đạt năng suất cao
- Dinh d ưỡng: ảnh hưởng lớn tới sinh trưởng và phát triển của cây đặc
biệt N P K ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và phẩm chất của đậu tương Tuy nhiên cây đậu tương có nhu cầu dinh dưỡng không cao lắm, một tấn hạt
đậu tương cùng với thân lá chỉ lấy đi 81 kg N, 17 kg P2O5 và 36 kg K2O tuy
đậu tương cần đạm nhiều song có khả năng đồng hoá đạm từ không khí thông qua vi khuẩn nốt sần (40-50 kg N) nên nhu cầu bón thường không cao
- Về đạm: nhu cầu về đạm của cây đậu tương nói chung là ít song đạm
có vai trò thúc đẩy sự sinh trưởng thân lá của cây, theo Vander Maesen và Somaatmadja (1996) [33] Để có năng suất 1 tấn/ha, cây đậu tương cần hấp thu một lượng ni tơ là 80 kg/ha Một nữa lượng nitơ đó do vi khuẩn Rhizobium trong cây tạo ra số còn lại đậu tương hấp thu từ đất hoặc từ phân
đạm do con người cung cấp
- Về lân: đậu tương yêu cầu lân cao hơn đạm Giai đoạn đầu nếu thiếu
lân cây sinh trưởng kém việc vận chuyển các chất trong cây chậm, lân thúc
đẩy quá trình hình thành nốt sần tham gia trực triếp vào các hoạt động sinh lý của cây Lân thường dùng để bón lót và lượng bón cho một ha là 250 - 300 kg supe lân
- Về kali: nếu so với đạm và lân thì nhu cầu về kali của cây đậu tương là
lớn hơn cả Nhu cầu kali của cây đậu tương tăng dần theo thời gian sinh trưởng của cây và đạt đỉnh cao trước khi cây ra hoa, kali thúc đẩy quá trình tích luỹ vật chất trong cây và quá trình vận chuyển các chất về hạt Kali có tác dụng điều tiết các hoạt động sống của cây tham gia vào quá trình tổng hợp, xúc tiến tổng hợp gluxit và hydratcacbon trong lá, giảm sự thoát hơi nước trong cây, tăng độ nhớt của chất nguyên sinh, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, điều kiện ngoại cảnh và chống đổ Kali còn có khả năng thúc đẩy quá trình hút đạm, lân của cây vì vậy bón kali có tác dụng thúc đẩy quá trình sinh
Trang 8trưởng thân lá tăng kích thước hạt Tỷ lệ sử dụng kali đạt đỉnh cao ở giai đoạn thân lá, sau giảm dần đến khi bắt đầu hình thành hạt 2 - 3 tuần lễ trước khi chín Lượng bón thích hợp 80 - 150 kg /ha (kali clorua hoặc kali sulphat)
Vì vậy trong thực tế sản xuất cần bố trí thời vụ sao cho cây đậu tương tận dụng tốt nhất các điều kiện trên
*Cơ sở về việc xác định mật độ
Cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây ở trong một quần thể thì cần có mối liên hệ với nhau để tạo ra năng suất Nó bị chi phối bởi các qui luật cạnh tranh về loài như sự cạnh tranh về nhiệt độ, ánh sáng, ẩm độ, dinh dưỡng của từng cá thể trong quần thể Nếu trồng quá thưa hoặc quá dày đều ảnh hưởng đến năng suất
đậu tương, trồng quá thưa cây tận dụng được nhiều ánh sáng mặt trời giúp quang hợp tốt phân cành nhiều, năng suất cá thể tăng nhưng năng suất quần thể giảm mặt khác trồng thưa cỏ dại phát triển mạnh, sự thoát hơi nước bề mặt luống mạnh ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây Ngược lại trồng quá dày cây
sẽ che khuất lẫn nhau, các lá ở phía dưới không tận dụng được ánh sáng mặt trời làm giảm khả năng quang hợp, hô hấp vô hiệu tăng lên sâu bệnh nhiều, lóng dài, phân cành ít, năng suất giảm
Trong thực tế sản xuất người dân thường trồng với mật độ rất thưa, do tiết kiệm giống đồng thời với sự tác động của điều kiện ngoại cảnh bất lợi như khi gieo hạt đất quá khô, quá ướt nhiệt độ quá thấp hoặc quá cao đều ảnh hưởng đến sự nảy mầm của hạt, cũng có nơi trồng quá dày làm cho dinh dưỡng trong đất và trong cây giảm xuống, tranh chấp ánh sáng, dinh dưỡng diễn ra mạnh, sâu bệnh nhiều làm giảm năng suất, họ không chú ý tới việc cung cấp dinh dưỡng cho cây ảnh hưởng đến sự nảy mầm của hạt
Vì vậy việc xác định mật độ thích hợp cho mỗi giống đặc biệt là những giống có năng suất cao là rất cần thiết tạo điều kiện cho cây sinh trưởng và
Trang 9* Cơ sở của việc xác định l ượng phân bón:
Trong những năm gần đây sản xuất nông nghiệp của Việt Nam nói chung và của miền Bắc nói riêng đã có những tiến bộ vượt bậc Mấy năm qua năng suất, sản lượng lương thực đều tăng một cách ổn định Trong các yếu tố góp phần tạo nên hiệu quả đó có sự đóng góp quan trọng của phân bón Vì vậy phân bón có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất cây trồng nói chung, cây đậu tương nói riêng và góp phần trả lại sự cân bằng dinh dưỡng cho đất Phân bón cung cấp cho cây trồng nhiều yếu tố dinh dưỡng cần thiết
mà đất không có khả năng cung cấp Cùng với năng suất cây trồng phân bón góp phần tăng sinh khối nhờ đó tăng hữu cơ trả lại cho đất
Trong thực tế sự hiểu biết của nông dân về sử dụng phân bón còn hạn chế đặc biệt đối với cây đậu tương vừa thiếu về lượng vừa mất cân đối về tỷ lệ
N, P, K, tỷ lệ giữa phân vô cơ và hữu cơ Hiệu quả sử dụng phân bón của nông dân còn thiếu hiểu biết cả về việc lựa chọn loại phân bón cho cây đậu tương,
sử dụng phân đạm là chủ yếu, rất ít bón kali, nhiều nơi dùng tro bếp để thay thế kali, một số nơi không bón phân hữu cơ cho đậu tương dẫn đến cây sinh trưởng mất cân đối, năng suất thấp
Vì vậy xác định lượng kali thích hợp bón cho đậu tương giúp người dân
có cơ sở khoa học và thực tiễn trong quá trình thâm canh tăng năng suất là rất thiết thực
2.2 Tình hình sản xuất đậu tương trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới
Đậu tương là cây lấy hạt, cây lấy dầu quan trọng bậc nhất của thế giới Vì vậy trên giới hiện nay cây đậu tương được xếp vào hàng thứ tư sau lúa mì, lúa nước và ngô Cây đậu tương có nguồn gốc từ Trung quốc, năm 1804 đậu tương được đưa vào Mỹ và ngày nay cây đậu tương đã trở thành cây trồng
Trang 10quan trọng đứng thứ 2 sau ngô trong thu nhập của người nông dân trên thế giới Những nước trồng nhiều đậu tương nhất là Mỹ, Braxin, Achentina, Trung Quốc, Inđônesia, ấn Độ
Đậu tương là cây trồng ngắn ngày có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh
tế cao thích hợp với nhiều loại đất Đậu tương được trồng hầu hết ở các nước trên thế giới và tập trung nhiều nhất ở các nước khu vực châu Mỹ chiếm 73,03%, tiếp đến các khu vực châu á chiếm 23,15% Hàng năm trên thế giới trồng khoảng 5456 triệu ha đậu tương Sản lượng đậu tương trên giới ngày càng tăng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân loại Năm 1990-
1992 sản lượng đậu tương trên thế giới đạt khoảng 103 - 114 triệu tấn (Phạm Văn Thiều), [31] Dự tính đến năm 2000 sản lượng đậu tương đạt 275 triệu tấn (Nguyễn Khắc Trung, 1989), [32]
Năng suất đậu tương thế giới bình quân trong những năm 1990 - 199l 1.974 kg /ha, tăng so với thời kỳ 1979-1981 là15% Những nước có sản lượng
đậu tương cao là Italia 3.585 kg /ha, Mỹ 2.530 kg /ha, Achentina 1.322 kg /ha, Braxin là 2.034 kg /ha
Cùng với sự tăng nhanh chóng về nhu cầu protêin ở thực vật sản xuất
đậu tương trên thế giới cũng không ngừng tăng nhanh trong những thập kỷ qua [7], điều này được thể hiện rõ trong bảng 1.1
Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ năm 2001 trong bảng 1.1 diện tích trồng đậu tương trên thế giới là 79,06 triệu ha tăng so với năm 1996 là 15,88 triệu ha
Cùng với việc mở rộng diện tích năng suất đậu tương không ngừng được nâng cao Năng suất bình quân toàn thế giới đạt 22,3 tạ/ha Như vậy so với năm 1996 năng suất bình quân tăng 11% so với phạm vi toàn thế giới Sự tăng lên của diện tích và năng suất đã làm cho sản lượng đậu tương trên thế giới tăng lên rõ rệt và đạt 184,33 triệu tấn so với năm 1996 là 55,37 triệu tấn
Trang 11Qua đây cho thấy sản xuất đậu tương trên thế giới ngày một tăng, nó đã
và đang trở thành cây trồng quan trọng, không thể thiếu được đối với tất cả các nước trên thế giới Theo dự tính của FAO, sản xuất đậu tương trong các năm tới tăng lên chủ yếu do mở rộng diện tích và năng suất xu hướng tăng lên
đó đã khẳng định vài trò to lớn mà cây đậu tương đem lại cho người dân
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản l ượng đậu tương trên thế giới
(triệu ha)
Năng suất (tạ /ha)
Sản lượng (triệu tấn)
20,26 20,84 21,99 21,80 22,30 23,21 22,65
124,96 131,65 152,60 157,68 167,35 184,33 179,91
* Nguồn: Số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, năm 2003
Hiện nay trên thế giới có trên 50 nước sản xuất đậu tương, 4 nước sản xuất đậu tương lớn nhất thế giới là Mỹ, Braxin, Achentina và Trung Quốc Trong đó Mỹ là nước sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu đậu tương lớn nhất 4 nước này chiếm khoảng 90 - 95% tổng sản lượng đậu tương của thế giới
Theo số liệu thống kê của Bộ nông nghiệp Hoa kỳ năm 2002, diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương của 1 số nước chủ yếu trên thế giới được thể hiện trong bảng 1.2 như sau
Với diện tích 29 triệu ha được trồng hàng năm Mỹ chiếm gần 2/3 sản lượng đậu tương trên thế giới Đến năm 2002 sản lượng đậu tương của Mỹ đã
đạt 78,67 triệu tấn Tăng hơn 6 triệu tấn so với năm 2000 Hiện nay Mỹ đang
là nước sản xuất và xuất khẩu đậu tương đứng đầu thế giới Người ta thấy rằng nguyên nhân thúc đẩy nền sản xuất đậu tương ở Mỹ lớn mạnh là do việc
Trang 12tăng năng suất đậu tương Nhiều giống đậu tương nhờ lai tạo đột biến và chọn
lọc bồi dưỡng cho thích nghi với vùng sinh thái khác nhau Các giống nhập
nội tốt được sử dụng làm nguyên liệu để lai tạo giống mới Công nghệ gen đã
góp phần tạo ra giống mới mang đặc tính mong muốn đó là hướng mới của
công tác chọn giống hiện đại
Tiếp sau Mỹ là Braxin với tổng diện tích sản lượng đứng thứ 2 thế giới
Theo số liệu thống kê của Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ, sản lượng đậu tương năm
2002 của Braxin đạt 43,5 triệu tấn tăng 4,5 triệu tấn tức tăng 12% so với năm
2001 Về diện tích đạt kỷ lục 15,9 triệu ha, tăng 1,95 triệu ha tức tăng 14% so
với năm 2001 Năm 2002, Braxin đã xuất khẩu được 4,911 tỷ USD đậu tương
và các sản phẩm từ đậu tương, đậu tương đã trở thành hàng nông sản xuất
khẩu quan trọng nhất của nước này
Đứng thứ 3 sau Mỹ là Achentina Theo số liệu thống kê của Bộ Nông
Nghiệp Hoa Kỳ sản lượng đậu tương của Achentina năm 2002 đạt 29,5 triệu
tấn tăng 8,3 tấn tức 39% so với năm 2000, diện tích tăng 12,22 triệu ha tức
tăng 142%
Chính vì vậy mà Achentina đã vượt xa Trung Quốc cả về diện tích và
năng suất, năng tăng từ 2,67 lên11,3 tấn /ha (tăng 8,83 tấn /ha)
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất, sản l ượng của 1 số nước trên thế giới
ĐVT: DT: triệu/ ha; NS: tấn /ha; SL: triệu tấn /ha
2000 2001 2002 Tên nước
Trang 13Trung Quốc là nước sản xuất đậu tương từ lâu đời, nhưng đến nay chỉ
đứng thứ tư sau Achentina về năng suất và sản lượng Số liệu ở bảng 1.2 cho thấy năm 2002 diện tích đậu tương của Trung Quốc là 9,1 triệu ha, năng suất
đạt 1,7 tấn và sản lượng đạt 15,45 triệu tấn Như vậy đến năm 2002 diện tích, sản lượng đậu tương của Trung Quốc đều tăng Tuy nhiên năng suất bình quân lại có xu hướng giảm so với năm 2000 từ 1,75 xuống còn 1,7 tấn/ha Mặc dù vậy hiện nay Trung Quốc vẫn là nước đứng đầu châu á về diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương
2.2.2 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam
ở nước ta cây đậu tương đã có lịch sử trồng lâu đời, vai trò to lớn của cây đậu tương hiện nay ở nước ta cũng như những năm tới chủ yếu là giải quyết vấn đề đạm cho người và gia súc thoả mãn một phần nhu cầu dầu thực vật và xuất khẩu Việc dùng đậu tương để chế biến thức ăn đã trở thành tập quán của người dân Việt Nam như bột đậu, tương bần, đậu phụ, sữa đậu nành, bánh đậu nành Những năm trước đây sản xuất đậu tương tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía bắc chủ yếu là vụ xuân, hiện nay do sự phát triển của khoa học
kỹ thuật đặc biệt (giống, biện pháp canh tác phù hợp ) cây đậu tương được quan tâm và áp dụng rộng rãi ở các tỉnh phía Bắc và một số tỉnh của phía Nam Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho phù hợp với điều kiện canh tác,
đất đai, khí hậu của từng vùng và việc luân canh tăng vụ đã làm cho cây đâụ tương hè đồng thời được mở rộng diện tích và tăng năng suất
Trước cách mạng tháng 8 năm 1945 diện tích đâụ tương còn rất ít
32200 ha (1945) Năng suất thấp 4,1 tạ/ha sau khi thống nhất diện tích của cả nước đạt 39 954 ha năng suất đạt 5,2 tạ/ha [7]
ở miền Bắc tuy là vùng có truyền thống sản xuất đậu tương nhưng việc
mở rộng diện tích vẫn còn nhiều hạn chế như thời vụ, giá cả, thị trường… Theo ý kiến của các nhà hoạch định, nếu có chính sách đầu tư phát triển khoa học, phổ biến kỹ thuật, hỗ trợ vốn, vật tư và tiêu thụ sản phẩm cho nông dân
Trang 14yên tâm sản xuất thì còn có thể mở rộng thêm hàng chục vạn ha theo hướng tăng vụ ở vùng đồng bằng, thay đổi cơ cấu cây trồng, mở rộng diện tích ở vùng đồi [2]
ở miền Nam trước ngày giải phóng đậu tương được trồng ở một số nơi như hậu giang, Đồng Nai, Lâm Đồng, Phú Khánh và đến năm 1973 diện tích diện tích đậu tương đạt cao nhất là 11150 ha Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Đảng và chính phủ đã quan tâm tới phát triển cây đậu tương trong cả nước
Hiện nay cây đậu tương được quan tâm và đưa vào vị trí xứng đáng trong cơ cấu cây trồng trong cả nước theo Nguyễn Sinh Cúc (1995) [6], Năm
1980 diện tích gieo trồng ở nước ta là 40000 ha, năng suất bình quân 700 kg/
ha Năm 1990 diện tích tăng 111000 ha, năng suất bình quân đạt 850-900 kg/
ha Sau 10 năm diện tích tăng gấp 3 lần, năng suất tăng gần 30%
Tính đến nay cả nước đã hình thành 6 vùng sản xuất đậu tương chủ yếu
ở các tỉnh miền bắc nước ta trong một năm đã hình thành 3 vụ đậu tương đó là:
- Vụ xuân gieo từ 10/2 đến 10/3
- Vụ hè gieo từ 20/5 đến 10/6
- Vụ đông gieo từ 5/9 đến 5/10 (Nguyễn Ngọc Thành, 1996) [29]
Còn ở các tỉnh Phía Nam trong một năm chỉ hình thành 2 vụ đậu tương
và tuỳ thuộc vào điều kiện sinh thái của từng vùng để xác định thời vụ gieo cho thích hợp Vùng Tây Nguyên và đồng bằng Nam Bộ vụ 1 gieo tháng 4, tháng 5 thu hoạch vào tháng 8, tháng 9, vụ 2 gieo vào cuối tháng 6, đầu tháng 7 và thu hoạch vào tháng 10, tháng 11
Vùng đồng bằng Sông Cửu long, vụ 1 gieo tháng 12 thu hoạch vào tháng 2, tháng 3 vụ 2 gieo gieo cuối tháng 2 đầu tháng 3, thu hoạch vào tháng
5 (Đoàn Thị Thanh Nhàn và CTV, 1996) [27]
Theo số liệu của tổng cục Thống kê năm 2004 ở Bảng 1.3 cho thấy: diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương năm 2003 tăng lên rất nhanh so với năm 2001 Năm 2003 diện tích trồng đậu tương của nước ta là 166,5 nghìn ha
Trang 15tăng 26,2 nghìn ha so với năm 2001(tức tăng 15,73%) Năng suất đạt 13,5 tạ /ha
tăng 1 tạ /ha so với năm 2001 Về sản lượng năm 2003 đạt 225,3 nghìn tấn, tăng 25
Sản lượng (triệu tấn)
Hiện nay giống đậu tương ở nước ta khá phong phú và được sử dụng
khá rộng rãi gồm các giống địa phương, giống lai tạo, giống đột biến, giống
nhập nội Tuỳ theo điều kiện sinh thái của từng vùng, từng địa phương từng
mùa vụ cụ thể mà sử dụng giống đậu tương cho phù hợp Nhờ việc áp dụng
khoa học kỹ thuật tiên tiến và việc chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
sản xuất, nhanh chóng mở rộng diện tích đậu tương trên toàn Quốc đặc biệt
vùng Trung du miền núi, nhanh chóng thay đổi những bộ giống cũ giống địa
phương năng suất thấp bằng những bộ giống mới năng suất cao, ổn định Nếu
vậy trong những năm tới sản xuất đậu tương của nước ta sẽ tăng nhanh cả về
diện tích, năng suất và sản lượng
2.2.3 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Yên, Bắc Giang
Việt Yên là một vùng Trung du của tỉnh Bắc Giang, điều kiện thâm canh, tập quán canh tác của người nông dân còn lạc hậu chưa đáp ứng kịp thực
tiễn sản xuất, việc sử dụng phân bón và mật độ một cách tuỳ tiện, chủ yếu
trồng các giống cũ địa phương đã làm ảnh hưởng đến năng suất đậu tương,
Trang 16mặt khác họ ít được tiếp cận với những tiến bộ mới của khoa học kỹ thuật đặc
biệt qui trình kỹ thuật áp dụng
Bảng 1.4 Diện tích, năng suất, sản l ượng đậu tương của Việt Yên
(ha)
Năng suất (tạ /ha)
Sản lượng (tấn)
* Nguồn: Niên giám thống kê của tỉnh Bắc Giang, năm 2004
Kết quả bảng 1.4 cho thấy, trong những năm gần đây diện tích trồng
đậu tương trung bình ở Việt yên là 590,93 ha, năng suất bình quân 11,45 tạ/ha
và sản lượng đạt 685,2 triệu tấn So với mặt bằng sản xuất đậu tương trong cả
nước còn thấp dưới mức bình quân, từ năm 1999 so với năm 1998 diện tích
tăng 48 ha, năng suất bình quân tăng 1,4 tạ/ha, sản lượng tăng 122 tấn.Tính từ
năm 1999 - 2003 năng suất bình quân đạt 11,8 tạ/ha, diện tích tăng 164,3 ha
chiếm 29,80%
Mặc dù diện tích, năng suất sản lượng của Việt Yên có tăng lên đáng kể
là điều đáng khích lệ song so với mặt bằng chung cả nước còn thấp chỉ đạt
12,40 tạ/ha Điều đó chứng tỏ rằng người dân ở đây chưa thấy rõ được vai trò
to lớn của cây đậu tương trong cơ cấu cây trồng do vậy họ chưa quan tâm đến
việc đổi mới bộ giống đậu tương và một số biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng
năng suất đậu tương Như trồng quá dày hoặc quá thưa, bón phân không cân
đối (bón nhiều đạm) đã làm ảnh hưởng đến năng suất đậu tương
Trong những năm gần đây thực hiện nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện
Việt Yên lần thứ 19 về đầu tư phát triển kinh tế Đặc biệt là 5 chương trình phát
Trang 17triển kinh tế trong đó trong đó có chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng
vật nuôi theo hướng hàng hoá (đưa cây đậu tương vào sản xuất để phá vỡ độc
canh cây lúa, cũng như việc đưa các giống mới có thời gian sinh trưởng ngắn
năng suất cao vào thay thế dần các giống cũ địa phương như Lơ 75, Cúc Lục
Ngạn) Đồng thời áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất thì sự hiểu
biết về cây đậu tương cũng dần được tăng lên và cây đậu tương đã trở thành
một trong những cây trồng chủ đạo ngày càng được mở rộng diện tích, thâm
canh, tăng vụ góp phần tăng năng suất và sản lượng đậu tương trong toàn
huyện
Theo phương hướng phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Giang giai đoạn
2000-2005 Dự kiến đến năm 2005 năm suất đạt 12,5 tạ/ha, sản lượng đạt
812,5 triệu tấn và diện tích 6500 ha
Để đạt đạt được mục đích nói trên thì việc lựa chọn giống đậu tương
ngắn ngày năng suất cao và việc xác định công thức bón phân và mật độ trồng
thích hợp là rất cần thiết nhằm đưa cây đậu tương đứng vào vị trí quan trọng
trong cơ cấu cây trồng của Huyện Việt Yên đặc biệt đậu tương hè trong cơ cấu
luân canh, tăng vụ:
- Lúa xuân sớm - Đậu tương hè - Lúa mùa muộn - Cây vụ đông
- Lúa xuân - Đậu tương hè - Khoai tây đông
2.3 Tình hình nghiên cứu đậu tương trong và ngoài nước
2.3.1 Tình hình nghiên cứu đậu tương trên thế giới
2.3.1.1 Một số kết quả nghiên cứu về chọn giống đậu tương
Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa các tính trạng của cây đậu tương
nhiều tác giả đã cho rằng: mối tương quan phụ thuộc vào địa điểm nơi trồng,
các dòng cũng như nguồn gốc của chúng và thế hệ nghiên cứu ở điều kiện
khác, Rubaihayo (1973) [47] lại cho rằng hệ số tương quan phụ thuộc vào mật
độ gieo trồng và phân bón
Trang 18Phần lớn các tác giả khi nghiên cứu hệ số tương quan kiểu hình và tương quan di truyền ở cây đậu tương đều cho rằng hệ số tương quan di truyền đều lớn hơn hệ số tương quan kiểu hình đối với hầu hết các cặp tính trạng trong nghiên cứu ( John và cộng sự, 1955b)[42]
Về tương quan giữa di truyền và kiểu hình theo Weber và Moorthy, (1952) [51] Cho biết năng suất hạt có mối tương quan thuận với ngày chín, chiều cao cây và trọng lượng hạt, đồng thời nghiên cứu của Kaw và Menon (1972) [44], cùng khẳng định về mối tương quan thuận chắc giữa năng suất hạt với số quả trên cây, chiều cao cây, thời gian 50% ra hoa và thời gian sinh trưởng
Kwon và cộng sự (1972) [45] khi nghiên cứu tập đoàn giống địa phương cho rằng: Năng suất hạt tương quan nghịch với thời gian sinh trưởng với giai đoạn từ gieo đến ra hoa
ở Serany - Indonesia: Aradi và Parma, A Asadi (1992) [39] khi nghiên cứu về tương quan giữa các đặc tính sinh trưởng của một số giống
đậu tương đã kết luận: Thời gian sinh trưởng, chiều cao cây có tương quan thuận với năng suất (r = 0,602), số lượng nốt sần với chiều cao cây (r = 0,660)
Theo Norman (1967) [46] Để tạo giống đậu tương người ta đã ứng dụng nhiều phương pháp khác nhau như lai hữu tính, gây đột biến, đa bội thể tạo ra các kiểu gen mới có nhiều ưu điểm hơn bố mẹ và thông qua phương pháp chọn lọc khác nhau để tạo ra kiểu gen mới
Hinson và Har twig (1977) [20] đã phát hiện rằng: Phần lớn các giống trong sản xuất đều có lá chét rộng, các giống có lá chét rộng thông thường cho năng suất cao hơn các giống có lá chét hẹp Các tác giả còn cho biết các dạng lá chét và số hạt trên quả do cùng một loại gen qui định Cây có lá chét bình thường, hình trứng thì quả thường có 2 - 3 hạt
Trang 19Hiện nay trên thế giới có 15 nước lưu trữ nguồn gen đậu tương: úc, Trung Quốc, Đài Loan, ấn Độ, Pháp, Indonesia, Nigierie, Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Bắc Triều Tiên, Nam Phi, Thái Lan, Mỹ, Thụy Điển, Liên Xô với tổng số 45.038 mẫu giống [24]
Hướng chủ yếu của công tác nghiên cứu của các nhà di truyền chọn giống Mỹ là sử dụng các tổ hợp lai phức tạp, cũng như nhập nội để thuần hoá trở thành giống thích nghi với vùng sinh thái, đặc biệt nhập nội để bổ sung vào quĩ gen Đồng thời công tác chọn giống ở Mỹ là hướng vào mục tiêu là chọn
ra những giống có khả năng thâm canh cao, để bảo quản và chế biến Johnson
và Bernard (1967) [43]
Braxin là nước sản xuất đậu tương đứng thứ 2 trên thế giới từ 1976 gần
1500 dòng đậu tương đã được Trung tâm nghiên cứu Quốc gia chọn và tạo ra
được các giống như: Doko, Numbairi, ABC- 8, Cristalina là những giống thích hợp cho vùng đất có vĩ độ thấp ở trung tâm Braxin Năng suất cao nhất là giống Cristalina đạt 3,8 tấn /ha [49]
Hướng nghiên cứu của Brraxin trong thời gian tới cho vùng đất này là chọn ra giống đậu tương có thời gian trồng đến ra hoa là 40 - 50 ngày, đến chín là 107 ngày đến 120 ngày có năng suất cao, chất lượng hạt tốt và kháng sâu bệnh như: BR79 - 1098, BR - 10 [48]
Mạng lưới cải tạo giống đậu tương ở châu á được thành lập do các tổ chức quốc tế (INSOY), Viện Nông Nghiệp nhiệt đới quốc tế (IITA), Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu châu á (avrDc), Viện nghiên cứu quốc tế (IRRI) đã tập hợp phân phối các bộ giống đậu tương tiến bộ cho các điểm tham gia thí nghiệm nhằm xác định và phổ biến các giống có khả năng thích ứng rộng rãi với các nước trong khu vực châu á
Từ năm 1970 đến nay, Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu châu
á (avrdc) Đã thành công trong việc tạo giống đậu tương bán hữu hạn, hạt
Trang 20nhỏ như G2120 đã đánh dấu một bước mới trong việc tạo giống có tiềm năng năng suất cao Giống đậu tương có năng suất cao nhất thế giới trong những năm 1970 đó là giống Miyakishrome ở Nhật Bản với năng suất thí nghiệm là 7,8 tấn/ ha Những kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng vùng nhiệt đới hoàn toàn
có thể có những giống đậu tương đạt năng suất cao Tuy nhiên một nhược
điểm xẩy ra là những giống có năng suất cao thường dễ mẫn cảm với điều kiện bất thuận và sâu bệnh Đây là vấn đề hết sức quan trọng đối với các nhà khoa học trong công tác chọn giống mới cho vùng nhiệt đới và á nhiệt đới
ở ấn Độ diện tích trồng đậu tương đạt trên 8% diện tích đậu tương của thế giới, đứng vào hàng thứ 5 về công tác nghiên cứu
Năm 1963 ấn Độ đã bắt đầu khảo nghiệm các giống địa phương và nhập nội tại Trường Đại học tổng hợp Pathaga Năm 1967 thành lập tổ chức AICRPS (the all India Covtinated research Project on Soybean) và NRCS (Nationnal Rescarch Centre for Soybean) đã tập trung nghiên cứu về genotype
và phát hiên 50 tính trạng phù hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới, đồng thời phát triển giống có sức sống chống chịu cao với bệnh khảm virus, tạo ra dược một số giống có triển vọng như Birsasoil, ĐS74-2, ĐS 73 - 16 Singh và Chaudhary (1985) [42] đã xác định được 6 giống có trong 2 giống đậu tương
có triển vọng năng suất cao, nhạy cảm trên trung bình và ổn định như giống: HM93, PK 73 - 92, PK 73 - 94, PK321, Bragg và SH1
2.3.1.2 Một số kết quả nghiên cứu về mật độ trồng đậu tương trên thế giới
Trong chọn tạo giống mới, việc xác lập các biện kỹ thuật phù hợp để
đậu tương sinh trưởng và phát triển tốt phát huy hết tiềm năng năng suất của giống là vấn đề không thể thiếu được, góp phần hoàn thiện qui trình sản xuất giống Trong đó vấn đề xác định mật độ hợp lý cho từng thì vụ đối với từng giống tạo điều kiện cho cây phát triển cân đối tận dụng mọi điều kiện về chế
độ ánh sáng dinh dưỡng… là rất cần thiết
Trang 21Như qui luật chung, đậu tương sẽ cho năng suất tốt nhất khi chúng được phân bổ cách nhau sao cho lá của chúng không che lấp toàn bộ bề mặt của đất trong thời kỳ phát triển hạt Cách đó tận dụng được tối đa nguồn năng lượng mặt trời và đảm bảo sự chuyển hoá tối đa năng lượng mặt trời thành năng lượng tồn lưu Tuy vậy mật độ quần thể và cách bố trí cây cần thiết để đảm bảo sự che phủ toàn bộ mặt đất phụ thuộc vào kích thước cây, hay nói cách khác phụ thuộc vào đặc tính phân loại của thứ và những điều kiện nơi cây mọc Các thứ thấp cây thường cho năng suất cao nhất ở khoảng gieo trồng xít hơn các thứ mọc cao
ở những nơi mà mùa vụ gieo trồng dài người ta thường trồng các thứ mọc cao thì mật độ cây có thể dưới 40 cây/m2 mà vẫn không bị thiệt hại về năng suất Tuy nhiên việc bố trí mật độ cây còn phụ thuộc vào những yếu tố ngoại cảnh như độ ẩm đất
Cũng như vậy ở Colombia, các giống chín sớm được trồng với mật độ 40 -
60 cây/m2 trên các hàng cách nhau 30 - 45 cm trái lại các giống chín muộn hơn
được trồng với mật độ 27 - 30 cây/m2 trên những hàng cách nhau 60 cm
Mật độ gieo trồng khác nhau đã có ảnh hưởng rõ rệt đến chỉ tiêu chiều cao cây, diện tích lá, khả năng chống chịu sâu bệnh và chống đỗ, tích luỹ chất khô, các yếu tố cấu thành năng suất Tuy vậy mật độ gieo trồng ít có ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng của các giống và không ảnh hưởng đến đặc
điểm hình thái của các mẫu giống
Theo Taylor (1980) [50] đã chỉ ra rằng: Muốn khai thác được lợi thế tiềm năng của việc gieo trồng hàng dày phải có đủ độ ẩm trong mùa gieo trồng Người ta đo sự thay đổi của cây đậu tương với khoảng cách hàng khác nhau trong 3 vụ, khác nhau rỏ rệt về độ ẩm Trong mùa ẩm nhất, đậu tương gieo trồng trên các hàng cách nhau 25 cm đã vượt năng suất các cây gieo trồng trên những hàng cách nhau 100 cm tới 17%, vào mùa vụ có cung cấp nước trung bình (33,9cm), thì năng suất có chiều hướng tăng đối với hàng dầy
Trang 22hơn, nhưng chênh lệch không đáng kể, vào mùa vụ khô hạn nhất (18,3 cm) thì khoảng cách hàng không có ảnh hưởng gì đối với năng suất đậu tương
Assuncao (1992) [40] cho rằng: Những hạt có chất lượng thấp làm cho cây mọc không đều và mật độ cao cây dưới tối ưu
2.3.1.3 Một số kết quả nghiên cứu về phân bón cho đậu tương
Bên cạnh công tác giống và mật độ thì phân bón trên cây đậu tương cũng được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, đặc biệt việc sử dụng phân hoá học đã làm tăng năng suất đậu tương rõ rệt Khi bón lân làm tăng năng suất đậu tương, thì đòi hỏi về kali của cây đậu tương cũng tăng lên
ở Braxin người ta thấy xuất hiện những triệu chứng suy giảm kali tiếp sau 1- 2 năm đạt sản lượng cao do điều kiện pH của đất và bón thêm phân lân Trên những đất có mức kali ban đầu thường được đánh giá là dư, nhưng lượng kali vốn có đã hao hụt nhanh do những vụ đậu tương cao sản gây ra [20]
ở Nigieria (1990 - 1991), qua 6 công thức nghiên cứu về hiệu quả tác
động của việc kết hợp giữa phân khoáng N, P, K đã kết luận rằng: hiệu quả kinh tế đạt cao nhất ở công thức: 60 tấn phân chuồng + 200 kg N, P, K trên ha (15:15:15) bón trong thời kỳ phân cành
2.3.2 Tình hình nghiên cứu đậu tương ở Việt Nam
2.3.2.1 Những nghiên cứu về chọn giống
ở Việt Nam đã có lịch sử trồng đậu tương lâu đời Do vậy việc chọn tạo giống đậu tương và đưa vào sản xuất các giống đậu tương mới có năng suất cao, thích hợp với vùng sinh thái và trồng được nhiều vụ trong năm là rất cần thiết
Trong những năm qua công tác chọn tạo giống đậu tương cũng đã và
đang tiến hành ở các cơ sở nghiên cứu và đi theo các hướng khác nhau Bước
đầu đã có nhiều thành công, thành công lớn nhất trong công tác chọn tạo giống đậu tương là phương pháp lai hữu tính Nhờ lai giống mà có thể phối
Trang 23hợp được các đặc tính và tính trạng có lợi của các dòng bố mẹ và con lai Chính vì vậy mà phương pháp lai hữu tính là hướng chọn tạo giống mới tốt nhất trong công tác chọn tạo giống cây trồng nói chung và giống đậu tương nói riêng
Nhóm tác giả VKHKTNNVN đã chọn tạo thành công giống đậu tương
ĐT99-1 là giống được tạo ra từ tổ hợp lai Cinal x MVl, có đặc tính sinh trưởng khoẻ khối lượng ngàn hạt cao, thời gian sinh trưởng ngắn (90 - 100 ngày) cho năng suất cao nhất vụ hè (3,2 tấn /ha) và kháng một số bệnh hại chính ĐT99-1
sẽ đáp ứng được đòi hỏi của sản xuất hiện nay góp phần hỗ trợ cho sự phát triển đậu tương ở vùng trung du và miền núi đồng thời cũng cung ứng được giống cho vụ
đông ở đồng bằng Bắc bộ [38]
Nhờ sự phối hợp của phương pháp lai hữu tính các nhà khoa học đã tạo
ra các tổ hợp lai đậu tương có khả năng thích ứng rộng, chịu rét trồng vụ đông, như: ĐT92, DN42, VX93 giống đậu tương DT84 có khả năng chịu nóng để trồng trong vụ hè (bằng phương pháp lai kết hợp đột biến) Từ những thành công đó, các nhà khoa học đã hình thành ý tưởng có thể tập hợp được những kiểu gen tốt vừa có khả năng chịu rét, vừa có khả năng chịu nóng của các bố
mẹ vào cùng một con lai tạo ra giống đậu tương có năng suất cao có thể trồng
được 3 vụ trong một năm như: ĐT 93 [14]
Theo Vũ Tuyên Hoàng và CTV (1983) [17] khi nghiên cứu chọn giống
đậu tương bằng phương pháp lai hữu tính cho biết các tính trạng khác nhau có
hệ số biến dị và hệ số di truyền khác nhau Các tính trạng như chiều cao cây,
số lá trên thân có hệ số biến dị thấp nhưng lại có hệ số di truyền cao, các tính trạng như số quả chắc trên cây và trọng lượng 1000 hạt có hệ số biến dị cao và
hệ số di truyền thấp Các tác giả cho thấy một số tính trạng có hệ số tương quan thuận khá chặt với năng suất hạt như: Số đốt mang quả (r = 0,53), số quả trên cây (r = 0,38), P1000 hạt (r = 0,38) và tương quan rất chặt với năng suất
và trọng lượng hạt trên cây (r = 0,94) Theo các tác giả, đối với những tính
Trang 24trạng có hệ số di truyền cao và hệ số biến dị thấp có thể tiến hành chọn lọc ở thế hệ đầu
Theo Đào Quang Vinh (1984) [36], khi nghiên cứu biến động của một
số đặc tính số lượng và mối quan hệ của chúng với năng suất hạt đã có nhận xét: chỉ số diện tích lá, hiệu suất quang hợp và lượng chất khô tích lũy biến
động rất mạnh theo điều kiện trồng trọt Lượng chất khô tích lũy tương quan thuận với diện tích lá và hiệu suất quang hợp ở giai đoạn sinh tưởng dinh dưỡng, diện tích lá ảnh hưởng nhiều hơn tới sự tích luỹ chất khô ở giai đoạn sinh trưởng sinh thực Vai trò của diện tích lá và hiệu suất quang hợp đối với
sự tích luỹ chất khô tương đương nhau Giữa năng suất hạt và sự tích luỹ chất khô có sự tương quan thuận khá chặt (r = 0,48 - 0,69) Theo tác giả muốn tăng lượng chất khô tích luỹ nhằm tăng năng suất hạt cần tăng cường sự phát triển
bộ lá ở giai đoạn đầu, duy trì bộ lá và tăng khả năng quang hợp ở giai đoạn sau
Theo Trần Văn Lài và CTV (1997) [23] cho biết một trong những yếu
tố hạn chế năng suất đậu tương ở nhóm ngắn ngày là diện tích lá Kết quả nghiên cứu mối quan hệ về năng suất và diện tích lá cho thấy: giữa 2 chỉ tiêu này tương quan thuận rất chặt (r = 0,89).Yếu tố hạn chế khác đến năng suất hạt là số quả trên cây và trọng lượng hạt trên cây Các tác giả đề xuất chọn giống đậu tương ngắn ngày là diện tích lá lớn và năng suất hạt trên cây cao
Theo Nguyễn Tấn Hinh, Vũ Tuyên Hoàng và CTV cây lương thực và thực phẩm bằng phương pháp lai hữu tính đã tạo ra tổ hợp lai D95, VX93 đã chọn tao thành công giống TL 57 (A57) và giống D96 - 02 (tổ hợp lai ĐT74 x
ĐT 92) có năng suất cao khả năng chống rét tốt thích hợp với điều kiện gieo trồng vụ đông và vụ xuân [16]
Song song với hướng chọn tạo giống bằng phương pháp lai hữu tính, công tác thu thập, nhập nội các giống đậu tương được Viện KHKTNNVN tiến hành thu thập từ năm 1962 Hiện nay trong ngân hàng gen cây trồng tại viện KHKTNNVN đang lưu giữ 500 mẫu giống, chủ yếu chủ yếu là các loài đậu
Trang 25tương trồng được thu thập từ 35 nước trên thế giới, nhiều nhất là Trung Quốc,
Đài Loan, Nhật Bản, Nga và Mỹ [7]
Năm 1996, Viện nghiên cứu Rau quả đã nhập nội 9 giống đậu tương từ
Mỹ như: Infat-70, Infat-V9, Cozasoy-120, Cozasoy-23, Vernal-1, Vernal-2, Varlenal, Doko- 01, Doko- 02 Qua thử nghiệm bước đầu cho thấy các giống
đậu tương ở Mỹ sinh trưởng tốt ở điều kiện Việt Nam Đặc biệt có 2 giống là Doko 01 và Doko 02 có thời gian sinh trưởng ngắn (90 ngày) rất thích hợp cho tăng vụ, có khả năng chống chịu sâu bệnh khá và cho năng suất cao (2,8 tấn /ha và 2,7 tấn/ha) hơn các giống hiện có [18]
Theo Nguyễn Danh Đông (1983) [13] Tại Viện Nghiên Cứu Cây Công Nghiệp, cũng bằng phương pháp thu thập trong và ngoài nước Viện đã thu thập được gần 250 mẫu giống, các giống được trồng nhiều ở Định Tường (vĩ
độ 19o59’ Bắc, kinh độ 105o40’ Đông) và đã phân loại giống đậu tương thành
4 nhóm: nhóm I chín rất sớm thời gian sinh trưởng dưới 80 ngày, nhóm II chín sớm 80 - 90 ngày, nhóm III chín trung bình 90 - 100 ngày, nhóm IV chín trung bình muộn 100 - 110 ngày, nhóm V chín muộn 110 - 120 ngày, nhóm VI chín rất muộn hơn 120 ngày Tác giả còn nhấn mạnh khái niệm giống chín sớm, chín trung bình, chín muộn phải gắn liền với vị trí địa lý và mùa vụ nhất định
Hướng chọn giống ứng dụng đột biến thực nghiệm là một hướng chọn tạo giống cũng mang lại khá nhiều thành công theo hướng tăng năng suất và chất lượng đặc biệt là tăng hàm lượng và chất lượng protein trong hạt đậu tương
Theo Trần Đình Long [24] 2 giống M103, T103 được tạo ra từ đột biến
có hàm lượng protein tăng so với giống khởi đầu từ 3,2 - 4,2 % Trong đó hàm lượng axit amin tăng so với giống khởi đầu từ 1,37 đến 5,61%; ở 103 hàm lượng protein, lyzin và asparagin tăng 4,51%; 3,58%; 5,61% so với giống khởi
đầu
Trang 26Trần Đình Đông và CTV (1994) [15] khi đánh giá khả năng thích ứng của một số dòng đậu tương đột biến qua các thời vụ đã xác định được các dòng S13, S25, S31, S52 ít nhạy cảm với điều kiện môi trườg (di < 1) và có năng suất ổn định qua các thời vụ (s2 di < 0) tác giả còn cho biết những giống đậu tương này có thể gieo trồng được ở 3 vụ trong năm
Theo Vũ Đình Chính (1995) [3] khi nghiên cứu tập đoàn đậu tương đã phân các chỉ tiêu thành 3 nhóm theo mật độ quang hợp của chúng với năng suất hạt Nhóm thứ nhất gồm 18 chỉ tiêu không tương quan chặt với năng suất có hệ số tương quan r < 0,5 (như chỉ tiêu thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, số đốt trên cây, số đốt trên cành ) Nhóm thứ 2 gồm 15 chỉ tiêu có tương quan chặt với năng suất r > 0,6 (số quả trên cây, tỷ lệ quả chắc, số đốt mang quả, số nốt sần, diện tích lá, trọng lượng chất khô tích lũy ) Nhóm thứ 3 là nhóm các chỉ tiêu có tương quan nghịch với năng suất bao gồm 5 chỉ tiêu đó là: tỷ lệ quả 1 hạt, tỷ lệ quả lép, tỷ lệ bệnh virus, tỷ lệ đốm vi khuẩn
và tỷ lệ sâu đục quả Trên cơ sở đó tác giả đã đưa ra mô hình cây đậu tương
có năng suất cao, P1000 hạt lớn, tỷ lệ quả 2 - 3 hạt cao Diện tích lá thời kỳ quả mẩy lớn, trọng lượng chất khô thời kỳ hoa rộ cao và số lượng nốt sần trên cây nhiều
Theo Nguyễn Thị Văn (1996) [34], kết quả nghiên cứu về giống DN
42 cho thấy: Giống DN 42 có khả năng chịu khô hạn và chịu rét khá, chịu úng trung bình, ít bị vius gây xoăn lá, nhiễm nhẹ bệnh gỉ sắt và bệnh đốm vi khuẩn ở mức trung bình, giống DN 42 có phạm vi thích ứng rộng, có thể trồng được 3 vụ nhưng tốt nhất là vụ Xuân Như vậy phạm vi thích ứng của giống đậu tương phụ thuộc rất nhiều vào khả năng chống chịu của chúng
Theo Lê Song Dự (1997) [10], cho biết trong 15 năm qua đã có khoảng 15 giống đậu tương mới được đưa vào sản xuất ở miền Bắc Việt Nam, trong đó 10 giống đã được công nhận giống quốc gia Phần lớn các
Trang 27giống mới đều thuộc nhóm chín sớm và trung bình được chọn tạo ra bằng các đường hướng khác nhau:
- Nhập nội: ĐT74, ĐT76, AK03, AK05, VX93,VX92
- Lai hữu tính: ĐT80, DT84
- Giống đột biến: M103
Trần Đình Long cho rằng chiến lược chọn tạo giống đậu tương trong thời gian tới đi theo các hướng sau:
- Chọn tạo ra các giống đậu tương có khả năng trồng nhiều vụ trong 1 năm
- Các giống đậu tương có khả năng chống chịu khá với sâu bệnh
- Các giống có phẩm chất tốt [25]
Khi nghiên cứu quan hệ giữa chất lượng hạt với các giai đoạn sinh trưởng, yếu tố cấu thành năng suất giữa chất lượng hạt và giai đoạn sinh trưởng, yếu tố cấu thành năng suất và đặc điểm hạt đậu tương
Theo Phạm Thị Đào (1998) [11] cho rằng: chất lượng hạt giống hoặc khả năng bảo quản hạt không bị ảnh hưởng bởi các giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng của cây Chất lượng hạt sau thu hoạch có tương quan thuận với trọng lượng riêng của hạt, độ nhăn vỏ hạt và tương quan chặt với kích thước hạt, vết nhăn trên vỏ hạt và độ cứng của vỏ hạt Tác giả còn cho biết năng suất hạt có tương quan thuận với chiều cao cây, số quả trên cây và số đốt trên thân chính
Theo Trần Đình Long (2002) [26], Định hướng nghiên cứu phát triển giống đậu tương giai đoạn 2001 - 2010 theo hướng sau:
- Chọn các giống có tiềm năng năng suất cao (cho vụ xuân) đạt từ 3 - 4 tấn/ha để đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho con người và thức ăn cho gia súc
- Chọn giống có thời gian sinh trưởng cực ngắn dưới 75 ngày để trồng trong vụ hè giữa 2 vụ lúa
- Chọn giống có hàm lượng dầu cao đạt từ 20 - 25% (những giống hiện nay mới đạt 18 - 22%)
Trang 28- Chọn giống ngắn ngày 80 - 85 ngày cho vụ thu đông ở đồng bằng Bắc bộ
Tóm lại đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về chọn giống đậu tương theo nhiều hướng khác nhau nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả chọn lọc đối với cây đậu tương, làm phong phú thêm bộ giống đậu tương Tuy nhiên trong thực tế hiện tại chưa thể đáp ứng được yêu cầu của sản xuất,
đặc biệt là cơ cấu giống đậu tương trong vụ hè Vấn dề đặt ra trong công tác chọn tạo giống cần phải nhanh chóng bổ sung cho bộ giống vụ hè bằng các loại hình có năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn, chống chịu tốt với
điều kiện bất lợi, sâu bệnh, khả năng thích ứng rộng phù hợp với điều kiện luân canh cây trồng góp phần tích cực vào việc mở rộng diện tích, thâm canh tăng vụ cũng như việc cải tạo đất bạc màu của vùng đất bạc màu Việt Yên - Bắc Giang
2.3.2.2 Những nghiên cứu về việc xác định mật độ trồng đậu tương
Theo Nguyễn Thế Côn (1996) [5], khi tiến hành thăm dò mật độ gieo trồng
đậu tương hè với giống Lơ 75 và M103 và có những nhận xét sau: Nhóm chín sớm (Lơ 75) có mật độ thích hợp cho năng suất khoảng 35 - 40 cây/m2 Tăng mật độ lên 50 cây /m2, làm giảm khả năng phân cành nên làm giảm số quả trên cây Tuy nhiên tăng mật độ tới 60 cây/m2 năng suất vẫn không đổi, ở mật độ cao do ít phân cành số mầm hoa ít làm giảm số quả trên cây nhưng năng suất quần thể đậu tương không bị ảnh hưởng đáng kể Tuy vậy mât độ cao (60 cây/m2) đã làm giảm thời gian sinh trưởng 5 - 7 ngày điều này rất quan trọng trong cơ cấu 4 vụ/năm.Với nhóm chín sớm (M103) có thời gian sinh trưởng dài hơn 83 ngày nên lượng tích luỹ cá thể cao, mật độ thích hợp là 25 - 30 cây/m2, tăng mật độ lên 45 cây/m2 năng suất giảm rõ rệt
Trang 29Mai Quang Vinh tác giả trồng đậu tương DT 84 đã đưa ra qui trình thâm canh giống đậu tương DT 84 trong đó khoảng cách gieo trồng thích hợp là: ở vụ xuân và vu đông khoảng cách gieo trồng thích hợp là 40 cm, mật độ trồng là 35- 40 cây/m2 Vụ hè thu khoảng cách là 40 cm, khoảng cách cây là
Nguyễn Thị Văn khi nghiên cứu giống đậu tương DN 42 tại Vũ Di - Vĩnh Phúc cho rằng: hướng sử dụng DN 42 ở mật độ 35 - 45 cây/m2 ở vụ xuân và đông là thích hợp [34]
Theo Adrew Jame, Trần Đình Long, Nguyễn Thị Văn tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đối với một số mẫu giống đậu tương nhập nội từ Austratia trong điều kiện vụ xuân 2000 tại Trường Đại học Nông nghiệp I đã
có một số kết luận sau [34]
Kết quả nghiên cứu của Ngô Thế Dân, Trần Đình Long , Trần Văn Lài,
Đỗ Thị Dung, Phạm Thị Đào (1999) [7] khi xác định mật độ với khoảng cách gieo trồng hợp lý phải căn cứ vào các yếu tố sau:
- Giống chín sớm thấp cây, cành ngắn tán gọn nên trồng dày
- Giống chín muộn, cao cây, phân cành ít lá to nên trồng thưa hơn
- Đậu tương trồng xen mật độ thưa hơn đậu tương trồng thuần
- ở Miền Bắc vụ đông trồng dày hơn vụ xuân và vụ hè, hè thu
Trang 30Mật độ gieo ở miền bắc, vụ xuân, hè, hè thu trung bình 35 - 40 cây/m2
Khi nghiên cứu về thời vụ và mật độ gieo trồng Nguyễn Danh Đông cho rằng: Vụ đông gieo trên đất mầu, đất 2 lúa thời vụ gieo từ 15 tháng 9 đến 10 tháng 10, mật độ thích hợp là 45 - 50 cây/m2 [14]
Theo Ninh Thị Phíp (2003) [28] khi nghiên cứu mật gieo trồng
đối với giống D140 đã kết luận rằng: Mật độ gieo trồng khác nhau đã
ảnh hưởng rỏ rệt đến các chỉ tiêu như: Chiều cao cây, chỉ số diện tích lá, tích luỹ chất khô, khả năng chống chịu sâu bệnh, khả năng chống đổ,
và các yếu tố cấu thành năng suất
-Vụ xuân giống D140 đạt năng suất cao nhất ở các mật độ 35 - 45 cây/m2
-Vụ hè giống D140 đạt năng suất cao nhất ở mật độ 35 cây/m2
- Vụ đông giống D140 đạt năng suất cao nhất ở mật độ 45 cây/m2
Trang 31Như vậy mật độ gieo trồng không ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng
và tỷ lệ nảy mầm, nhưng có ảnh hưởng rõ rệt đến các chỉ tiêu như chiều cao cây, diện tích lá, khả năng tích luỹ chất khô, khả năng chống chịu sâu bệnh,
và các yếu tố cấu thành năng suất Vì vậy việc tìm ra mật độ thích hợp cho từng giống ở từng thời vụ khác nhau tạo điều kiện cho các cây trong quần thể sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn vô cùng lớn, đặc biệt đối với các giống mới hiện nay đang được đưa vào sản xuất
2.3.2.3 Một số kết quả nghiên cứu về phân bón trên cây đậu tương
Trong các biện pháp kỹ thuật thâm canh có sự đóng góp tích cực của phân bón, đặc biệt của phân lân và kali ở nước ta việc dùng phân lân bón cho đậu tương đã được sử dụng từ lâu, nhiều kết quả nghiên cứu và thực nghiệm hiệu quả bón phân lân cho lạc và đậu tương trên đất bạc màu có hiệu quả kinh tế cao
Theo Nguyễn Văn Bộ [2] ở Việt Nam trên đất phèn nếu không có phân lân thì cây trồng chỉ hút được 40 - 50 kg N/ha, song bón lân đã làm cây trồng hút được 120-130 kg N/ha
Theo Võ Minh Kha (1996) [21] đã khẳng định rằng: trên đất đồi chua hàm lượng sắt, nhôm cao bón phân lân có tác dụng nâng cao năng suất đậu tương rõ rệt
Cũng theo tác giả trên đất đồi chua ở nước ta gồm lixisols, ferrasols và alisols thường có độ độc sắt, nhôm cao hàm lượng lân dễ tiêu trong đất thấp gây ra những trở ngại cho quá trình cố định đạm đã hạn chế đáng kể sự phát triển của
vi khuẩn nốt sần, cũng như sự phát triển của hệ thống rễ cây đậu tương
Theo Vũ Đình Chính (1998) [4] việc bón kết hợp giữa N, P, K trên đất bạc mầu ngèo dinh dưỡng bón lân cho đậu tương với mức 90 kg P2O5/ ha trên nền có 40 kg N/ha đã làm tăng số lượng nốt sần, số quả chắc trên cây và năng suất hạt Cũng theo tác giả công thức bón phân khoáng thích hợp nhất cho giống đậu tương xanh lơ (Hà Bắc) trong điều kiện vụ hè trên đất bạc màu Hiệp Hoà (Bắc Giang) là 20 kg N: 90 kg P O : 90 kg K O
Trang 32Theo Trần Danh Thìn (2001) [30] sau khi nghiên cứu về các biện pháp
kỹ thuật thâm canh với lạc và đậu tương ở một số tỉnh trung du miền núi đã kết luận: việc cải thiện chế độ dinh dưỡng đất bằng việc bón kết hợp N, P, Ca
đã có tác dụng rõ rệt trong việc khắc phục hạn chế các yếu tố dinh dưỡng
đất, nâng cao năng suất đậu tương và lạc, việc bón kết hợp cả 3 yếu tố N, P,
đạm chỉ bội thu 1,4 tạ/ ha trong khi đó cùng bón lượng đạm như vậy lại cho bội thu 2,3 tạ/ha trên nền có bón lân và kali Một quy luật tương tự cũng thấy với kali bón riêng rẽ, kali cho bội thu 1,4 tạ/ha Nếu trên nền đạm cho bội thu 4,3 tạ/ha tương hỗ đạm lân thấp hơn tương hỗ đạm và kali
Nhìn chung qua kết quả nghiên cứu về vấn đề dinh dưỡng của cây đậu tương qua con đường phân bón thì ta thấy, tuy cây đậu tương không cần nhiều đạm song cũng cần một lượng đáng kể giúp cây sinh trưởng, phát triển
và giúp cho việc sử dụng lân và kali có hiệu quả hơn Lân và kali là 2 nguyên
tố rất cần cho cây đậu tương đặc biệt trong điều kiện đất bạc mầu thiếu kali trầm trọng thì vấn đề cung cấp và xác định liều lượng kali là rất cần thiết Vì vậy trong kỹ thuật bón phân cho cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng chúng ta cần phảỉ biết nhu cầu dinh dưỡng của cây và khả năng cung cấp của đất để có biện pháp đầu tư cho phù hợp giúp cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt nhằm đạt năng suất cao nhất
Trang 333 Vật liệu, Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.1 Thực trạng sản xuất đậu tương của huyện Việt Yên
- Biện pháp kỹ thuật: giống, mật độ, phân bón
3.2 Các thí nghiệm đồng ruộng
3.2.1 Thí nghiệm 1 So sánh một số dòng giống đậu tương trong điều kiện vụ
hè 2003 trên đất bạc màu Việt Yên Bắc Giang
* Vật liệu thí nghiệm
- DT84 (Đ/C) vụ hè 2003 do Viện Di truyền chọn tạo
- Lơ 75 (Đ/C) vụ hè 2004, giống địa phương
- ĐT12 do Viện KHKTNN chọn tạo
- D140 do Bộ môn Cây Công nghiệp trường ĐHNNI HN lai tạo
- D912 do Bộ môn Cây Công nghiệp trường ĐHNNI HN lai tạo
- D907 do Bộ môn Cây Công nghiệp trường ĐHNNI HN lai tạo
- M103 do Bộ môn Cây Công nghiệp và Viện KHKTNN Việt Nam tạo ra
Trang 343.2.2 Thí nghiệm 2 ảnh hưởng của liều lượng phân kali đến năng suất đậu tương ĐT12 trong điều kiện vụ hè trên đất bạc màu Việt Yên - Bắc Giang
* Thời vụ, mật độ, khoảng cách
- Thời vụ gieo: 2/6/2003 và 22/5/2004
- Mật độ : 35 cây/ m2
điều kiện vụ hè trên đất bạc màu Việt Yên – Bắc Giang
Trang 35Lần 1 Xới khi cây có 2-3 lá thật kết hợp với bón thúc lần 1
Lần 2 Xới vun cao (chống đổ) kết hợp với bón thúc lần 2 trước khi cây
ra hoa
* Tưới nước (chú ý tưới nước vào thời kỳ ra hoa và quả mẩy)
* Phòng trừ sâu bệnh, thường xuyên điều tra phát hiện và phòng trừ kịp thời các loại sâu bệnh hại xuất hiện như:
- Bệnh gỉ sắt
- Sâu cuốn lá
- Sâu đục quả
Trang 363.4 Thời gian và địa điểm thí nghiệm
3.4.1 Thời gian thí nghiệm vụ hè năm 2003, 2004
Nông Lâm và thôn Vàng xã Bích Sơn
Đất thí nghiệm đất cát pha, pH = 4,5-5,5
3.5 Các chỉ tiêu theo dõi
3.5.1 Các đặc trưng hình thái (thí nghiệm so sánh giống)
- Màu sắc thân mầm
- Hình dạng màu sắc lá
- Màu sắc hoa
- Màu sắc vỏ quả, hạt, rốn hạt
3.5.2 Các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển
- Thời gian từ gieo đến mọc 50% (ngày)
- Tỷ lệ mọc mầm
- Thời gian từ mọc đến ra hoa (ngày)
- Thời gian từ ra hoa đến kết thúc ra hoa (ngày)
- Động thái ra hoa, đếm số hoa trên cây trong ngày (mỗi ô đếm 5 cây liên tục đến hết hoa thì thôi)
- Thời gian từ gieo đến thu hoạch (ngày)
- Chiều cao cây (cm), đo từ đốt lá mầm đến đỉnh sinh trưởng, đo 5 cây ngẫu nhiên cho mỗi lần nhắc lại, bắt đầu khi cây có 2-3 lá thật, sau đó cứ 7 ngày đo 1 lần
- Đường kính thân đo cách cổ rễ 5 cm khi thu hoạch (cm)
- Diện tích lá lấy mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên mỗi ô lấy từ 3 - 5 cây tiến hành vào 3 thời kỳ, thời kỳ bắt đầu ra hoa, ra hoa rộ và thời kỳ quả mẩy (xác định bằng phương pháp cân nhanh)
Trang 37- Nốt sần: theo dõi ở 3 thời kỳ, thời kỳ bắt đầu ra hoa, ra hoa rộ, quả mẩy, (mỗi ô lấy 3 cây kết hợp với đo diện tích lá, đếm tổng số nốt sần, số nốt sần hữu hiệu và vô hiệu)
*Cách làm: Trước khi nhổ cây tưới đẫm sau 15 phút tưới lại và nhổ
cây cho phần đất xung quanh vào chậu nước để lọc nốt sần
- Khối lượng chất khô (g /cây) tiến hành vào 3 thời kỳ thời kỳ bắt đầu
ra hoa, ra hoa rộ, quả mẩy (xác định bằng cách phơi hoặc sấy khô đến trọng lượng không đổi)
3.5.4 Các yếu tố cấu thành năng suất
Lấy ngẫu nhiên 10 cây nhắc lại 3 lần trước khi thu hoạch đếm:
Trang 394 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1 Điều tra thực trạng sản xuất đậu tương của huyện Việt Yên
4.1.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Việt yên
Việt Yên là một huyện Trung du của tỉnh Bắc Giang có tổng diện tích
đất nông nghiệp là 10.148.01 ha chiếm 65,05% tổng diện tích đất tự nhiên, tuy diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ tương đối lớn nhưng thu nhập bình quân lương thực đầu người chưa cao Mặt khác diện tích
đất nông nghiêp phân bố không đều ở các xã trong huyện, cây trồng chủ yếu trong cơ cấu vẫn là cây lúa
Theo BC 03/UB - CB tháng 01 năm 2003 của UBND huyện Việt Yên: Ruộng 3 vụ chiếm tỷ lệ thấp, chiếm 18,98% Điều đó chứng tỏ điều kiện sản xuất còn hạn chế, trình độ thâm canh còn chưa cao
Ruộng 2 vụ chiếm diện tích khá lớn 3.466.9 ha, chiếm 34,16% phân bố hầu hết các xã trong huyện Một số xã phía tây của xã Bích Sơn do hệ thống tưới tiêu không thuận lợi chủ yếu trồng 1 vụ lúa mùa còn lại 1 vụ màu (vụ Xuân hoặc vụ Đông), sản xuất chủ yếu phụ thuộc vào nước trời, chi phí sản xuất lớn do vậy rủi ro cao, nhiều hộ nông dân đã chuyển sang trồng một số cây màu có giá trị kinh tế cao như cây đậu tương
Ruộng 1 vụ: Chiếm tỷ lệ 27,32% diện tích đất nông nghiệp và phân bố hầu hết ở các xã trong huyện
Ruộng chuyên mạ: Diện tích đất chuyên mạ của huyện còn khoảng 305,5 ha Định hướng trong những năm tới có thể chuyển sang trồng khoai lang và các cây công nghiệp ngắn ngày
Trang 404.1.2 Hiện trạng sản xuất đậu tương tương của huyện Việt Yên
Việt Yên là một huyện Trung du Bắc Bộ, đất chật người đông, để tăng thu nhập, người nông dân với truyền thống lao động cần cù kết hợp với trí thông minh sáng tạo, đã dần thay đổi tập quán canh tác lạc hậu và phần nào người dân đã biết áp dụng khoa học tiến tiến vào sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cao, như các công thức luân canh, thâm canh tăng vụ nhằm nâng cao
hệ số sử dụng đất Đặc biệt việc mở rộng diện tích đậu tương hè mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nhiều hộ nông dân Tuy nhiên việc phát triển cây đậu tương của huyện chưa được chú trọng mở rộng diện tích, năng suất chưa cao
Do một số nguyên nhân hạn chế đến năng suất đậu tương như: thiếu vốn sản xuất, giá cả không ổn định, sản xuất đậu tương còn manh mún, hệ thống thuỷ lợi không chủ động, biện pháp canh tác còn lạc hậu đặc biệt giống, phân bón, mật độ Trong đó nguyên nhân chủ yếu hạn chế việc mở rộng diện tích và năng suất đậu tương cần phải kể đến là:
- Về phân bón: Sự hiểu biết của nông dân về phân bón còn hạn chế, việc
sử dụng phân bón cho cây trồng vừa thiếu về lượng vừa mất cân đối về tỷ lệ, nông dân chỉ quen việc sử dụng phân đạm để bón thúc, lượng kali bón còn quá thấp chỉ 1 - 2 kg/sào và chỉ bón 1 lần trước khi cây được 2 - 3 lá thật Đất đai chủ yếu là đất bạc màu nghèo dinh dưỡng, lượng phân bón đầu tư thấp, thiếu phân hữu cơ để cải tạo đất Tình trạng bón phân trên đã làm cho cây thiếu dinh dưỡng về giai đoạn sau, mặt khác do bón nhiều đạm làm cây sinh trưởng quá mạnh (mất cân đối), bộ lá rậm rạp, sâu bệnh nhiều ảnh hưởng đến năng suất
đậu tương
- Về mật độ: mật độ trồng chưa hợp lý, một số nơi trồng quá thưa
(20 - 25 cây/m2), nhiều nơi trồng quá dầy (45 - 50 cây/m2) kết hợp với bón phân không cân đối, sâu bệnh nhiều đã làm làm giảm năng suất
đậu tương