Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp I
Trang 2lời cam đoan
Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Dương Vũ Thắng
Trang 3Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Vũ Đình Chính, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài, cũng như trong quá trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo Khoa Sau Đại học; Khoa Nông học, đặc biệt là các thầy cô trong Bộ môn Cây công nghiệp (Trường Đại học Nông nghiệp I); các bạn bè, đồng nghiệp, gia đình và người thân đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp
Tác giả
Dương Vũ Thắng
Trang 4Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt vi
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 111.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 131.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn 13
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 142.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương ở trên thế giới 202.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương ở Việt Nam 27
3.1.Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 353.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 36
4.1 Thực trạng sản xuất đậu tương tại huyện Tứ Kỳ- Hải Dương 434.1.1 Giống đậu tương 444.1.2 Thời vụ gieo trồng 444.1.3 Biện pháp kỹ thuật đang được áp dụng 454.1.4 Tình hình sản xuất đậu tương của tỉnh Hải Dương 464.1.5 Những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất đậu tương ở Hải Dương 49
Trang 54.1.6 Nhiệt độ, lượng mưa, ẩm độ và số giờ nắng ở Hải Dương vụ đông
2005 514.2 So sánh khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số dòng, giống đậu tương trong điều kiện vụ đông và vụ xuân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương 544.2.1 Đặc điểm hình thái của các giống 544.2.2 Đặc điểm sinh trưởng của các dòng giống 564.2.3 Đặc điểm nông học của các giống đậu tương 594.2.4 Chỉ số diện tích lá 624.2.5 Khả năng hình thành nốt sần của các giống đậu tương 644.2.6 Khả năng chống đổ của các giống đậu tương 664.2.7 Tỷ lệ sâu bệnh hại của các giống đậu tương 674.2.8 Hàm lượng protein và lipit của các dòng giống đậu tương 694.2.9 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống đậu tương 704.2.10 Kết quả phân tích năng suất của các giống 754.3 ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương Đ9804 trong điều kiện vụ đông 794.3.1 ảnh hưởng của thời vụ đến sinh trưởng giống đậu tương Đ9804 trong
4.3.2 ảnh hưởng của thời vụ đến đặc điểm nông học của giống đậu tương
Đ9804 trong vụ đông 814.3.3 ảnh hưởng của thời vụ đến chỉ số diện tích lá qua các thời kỳ sinh trưởng giống đậu tương Đ9804 trong vụ đông 824.3.4 ảnh hưởng của thời vụ đến số lượng nốt sần qua các thời kỳ của giống đậu tương Đ9804 trong vụ đông 844.3.5 ảnh hưởng của thời vụ đến khả năng chống chịu của giống đậu tương
Đ9804 trong vụ đông 86
Trang 64.3.6 ảnh hưởng của thời vụ đến các yếu tố cấu thành năng suất giống đậu tương Đ9804 trong vụ đông 874.3.8 ảnh hưởng của thời vụ đến năng suất giống đậu tương Đ9804 trong
Trang 7Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
CT : C«ng thøc UBND : Uû ban nh©n d©n NXB Nhµ xuÊt b¶n
Trang 8Danh mục các bảng
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương trên thế giới 20Bảng 2.2 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương một số nước 22Bảng 2.3 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương của châu á
và một số nước 24Bảng 2.4 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương ở Việt Nam 27Bảng 4.1 Diện tích, năng suất, sản lượng trồng đậu tương tại các huyện
thuộc tỉnh Hải Dương 47Bảng 4.2 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương của tỉnh Hải Dương
giai đoạn 2000 - 2005 48Bảng 4.3 Nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, số giờ nắng trung bình tháng
tại Hải Dương vụ đông 2005 51Bảng 4.4 Nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, số giờ nắng trung bình tháng
tại Hải Dương vụ xuân 2006 53Bảng 4.5 Một số đặc điểm hình thái của các giống đậu tương 55Bảng 4.6 Đặc điểm sinh trưởng của các giống đậu tương trong vụ đông và
xuân năm 2005 - 2006 57Bảng 4.7 Một số đặc điểm nông học của các giống đậu tương 60Bảng 4.8 Chỉ số diện tích lá qua các thời kỳ sinh trưởng của các giống
Bảng 4.9 Tổng số và khối lượng nốt sần thời kỳ quả mẩy của các giống
đậu tương 65Bảng 4.10 Khả năng chống đổ của các giống đậu tương 66Bảng 4.11 Tỷ lệ sâu bệnh hại của các giống đậu tương 68Bảng 4.12 Hàm lượng protein và lipit của các dòng giống đậu tương 69Bảng 4.13 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống đậu tương 71
Trang 9Bảng 4.14 Tỷ lệ quả 1 hạt, 2 hạt, 3 hạt của các giống đậu tương trong
vụ đông và xuân năm 2005 - 2006 73Bảng 4.15 Năng suất của các giống đậu tương vụ đông và vụ xuân
Bảng 4.16 ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến sinh trưởng giống đậu
tương Đ9804 trong vụ đông năm 2005 79Bảng 4.17 ảnh hưởng của thời vụ đến đặc điểm nông học của giống đậu
tương Đ9804 trong vụ đông 81Bảng 4.18 ảnh hưởng của thời vụ đến chỉ số diện tích lá của giống Đ9804 83Bảng 4.19 ảnh hưởng của các thời vụ gieo trồng đến số lượng nốt sần của
giống đậu tương Đ9804 trong vụ đông 85Bảng 4.20 ảnh hưởng của thời vụ đến khả năng chống chịu của giống đậu
tương Đ9804 trong vụ đông 86Bảng 4.21 ảnh hưởng của thời vụ đến các yếu tố cấu thành năng suất giống
đậu tương Đ9804 trong vụ đông 88Bảng 4.22 ảnh hưởng của thời vụ đến năng suất giống đậu tương Đ9804
Bảng 4.23 Chi phí sản xuất và kết quả sản xuất giữa các thời vụ 92
Trang 10Danh mục các biểu đồ
Biểu đồ 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương trên thế giới 21Biểu đồ 2.2 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương của Việt Nam 28Biểu đồ 4.1 Hàm lượng protein và lipit của các dòng giống đậu tương 70Biểu đồ 4.2 Năng suất thực thu của các giống đậu tương vụ đông và
xuân năm 2005 - 2006 77Biểu đồ 4.3 ảnh hưởng của thời vụ đến chỉ số diện tích lá của giống
Đ9804 (m2 lá/m2 đất) 83Biểu đồ 4.4 Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu giống đậu tương
Đ9804 trong vụ đông 90Biểu đồ 4.5 Hiệu quả kinh tế giữa các thời vụ gieo trồng của giống đậu
Trang 111 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây đậu tương (Glycine max (L.) Merrill) là một trong những cây trồng
cổ xưa nhất Trước đây cây đậu tương được mệnh danh là "Vàng mọc trên đất"
đến nay đậu tương vẫn là cây "chiến lược của thời đại" là cây trồng được mọi người quan tâm nhất trong số 2000 loại đậu đỗ khác nhau
Đậu tương được trồng nhiều ở Mỹ, Braxin, Achentina, Trung Quốc, Inđonexia, Nhật Bản, Liên Xô và một số nước khác (Lê Hoàng Độ, 1977)[12] Hạt đậu tương là nguồn cung cấp protein và dầu thực vật cho con người, ngoài
ra còn là nguồn thức ăn quan trọng trong chăn nuôi Ngày nay với sự gia tăng nhanh chóng của dân số, nhu cầu dinh dưỡng của con người, đặc biệt nhu cầu
về protein đang trở thành một vấn đề cấp bách trong phát triển kinh tế, xã hội của nhiều quốc gia đang và kém phát triển của thế giới Theo Wijeratne và Welson (1987), khoảng 90% Calo và trên 80% protein có trong bữa ăn hàng ngày của người dân các nước Châu á được cung cấp từ nguồn thực vật Vì vậy với hàm lượng protein trong hạt từ 38% - 42%, dầu từ 18% - 24%, Hydratcacbon 30%- 40%, chất khoáng 4% - 5%, đậu tương chiếm vị trí hàng đầu trong việc cung cấp protein, dầu thực vật và chất khoáng cho con người thông qua các sản phẩm chế biến khác nhau (Ngô Thế Dân và cộng sự, 1999) [8]
ở Việt Nam cây đậu tương được trồng từ hàng ngàn năm, nhưng trước kia chưa được coi trọng Trong những năm gần đây đã có những tiến bộ đáng
kể, từ vài chục ngàn ha trong những năm 1980 đến nay diện tích đậu tương của cả nước đã đạt 185 ngàn ha, với sản lượng 245 ngàn tấn, năng suất bình quân đạt 13,2 tạ/ha (niên giám thống kê Việt Nam năm 2005)[32] Sản phẩm ngoài sử dụng làm thực phẩm cho người, thức ăn cho gia súc, nguyên liệu cho
Trang 12công nghiệp, còn góp phần cải tạo đất trong hệ thống luân canh cây trồng
Hiện nay nhu cầu đậu tương tiêu dùng trong nước rất cao, chỉ riêng dùng làm thức ăn cho gia súc đã cần trên 600.000 tấn, dự kiến kế hoạch năm
2010 diện tích đậu tương sẽ tăng lên 400.000 ha Tuy nhiên giá thành sản xuất 1kg đậu tương tại Việt Nam rất cao (gấp 1,3 - 1,5 lần so với giá của thế giới) Nguyên nhân do năng suất đậu tương của ta quá thấp chỉ đạt trên dưới 1 tấn/ha Vì vậy cần phải có bộ giống đậu tương có năng suất cao và quy trình thâm canh hợp lý, đặc biệt là bố trí thời vụ phù hợp để khai thác tiềm năng khí hậu, đất đai là yêu cầu bức thiết (Ngô Thế Dân và cộng sự, 1999) [8]
Trước những nguồn lợi to lớn do cây đậu tương mang lại, từ nhiều năm qua nhà nước đã chú trọng phát triển, mở rộng diện tích trồng đậu tương, đầu tư nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật nhằm tăng năng suất và sản lượng đậu tương Tuy nhiên kết quả còn hạn chế, chất lượng hạt chưa cao, do phần lớn giống chưa đủ tiêu chuẩn xuất khẩu Đứng về góc độ khoa học kỹ thuật, một trong những con đường để đưa cây đậu tương trở thành cây trồng chính có năng suất cao, ổn định là phải xác định hệ thống
và cơ cấu mùa vụ thích hợp bằng luân canh, xen canh, gối vụ cho từng vùng sinh thái khác nhau
Hải Dương là tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có lợi thế: Dân số nhiều, đa số cư dân sống bằng nghề nông nghiệp, diện tích đất trồng trọt lớn, nhất là đất trồng lúa (vụ Xuân là 62.500 ha, vụ Mùa 65.500 ha - kế hoạch sản xuất nông nghiệp năm 2006 -
Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Hải Dương)[16] Nhưng diện tích trồng đậu tương còn khá khiêm tốn so với tiềm năng của tỉnh nói chung và huyện Tứ
Kỳ nói riêng, nhất là đậu tương đông trên đất 2 lúa Xuất phát từ yêu cầu
đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: "Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu góp phần nâng cao năng suất đậu tương vùng Tứ Kỳ - Hải Dương"
Trang 131.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
- Xác định được các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống
- Xác định ảnh hưởng của thời vụ gieo tới khả năng sinh trưởng, phát triển của giống Đ9804 trong vụ Đông
- Xác định ảnh hưởng của thời vụ tới các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống đậu tương Đ9804
1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trang 142 Tổng quan tài liệu
và cơ sở khoa học của đề tài
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Yêu cầu sinh thái của cây đậu tương
Đậu tương được trồng từ vĩ độ 550 Bắc đến 550 Nam, từ những vùng thấp hơn mặt nước biển cho đến những vùng cao trên 2000 m so với mặt nước biển (Whigham D.K, 1983)[59]
Những yếu tố về môi trường có thể bao gồm: ảnh hưởng của đất, không khí, sinh vật Những điều kiện trong đất ảnh hưởng đến sinh trưởng cây
là nước, không khí, cấu trúc đất, nhiệt độ đất, pH, chất độc, muối và thiếu chất khoáng Những yếu tố không khí gồm ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm không khí, gió, nồng độ CO2 và khí gây ô nhiễm Những yếu tố sống gồm cạnh tranh với
cỏ và những cây trồng cùng giống, loài khác, sâu bệnh và tuyến trùng Tất cả những yếu tố ngoại cảnh này làm giảm năng suất thông qua việc gây ra những rối loạn sinh lý trong cây Trong hạn chế đề tài này chỉ đề cập ảnh hưởng do nhiệt độ, nước, ánh sáng
* Yêu cầu nhiệt độ
Trong quá trình sinh trưởng của đậu tương, nếu nhiệt độ biến động trên hoặc dưới mức thích hợp quá nhiều, có thể gây thiệt hại đối với cây trồng Khả năng bị thiệt hại do nhiệt độ tuỳ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng của cây
Nhiệt độ thấp ảnh hưởng đến nảy mầm và sinh trưởng của cây con, sương mù xuất hiện ảnh hưởng phát triển quả, trong đó nhiệt độ cao vào tháng
6, tháng 7 cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình sinh lý cây Nhiệt độ cao thường kèm với khô hạn và bốc hơi nhiều
Trang 15Delouche J.C, (1953)[42], khi nghiên cứu sự nẩy mầm của hạt đậu tương thấy rằng biên độ nhiệt độ để có thể nẩy mầm là 50C - 400C, nhiệt độ tối
ưu cho hạt nẩy mầm là 300C
Theo Loweell D.H, (1975)[49] giống đậu tương ngắn ngày có tổng tích
ôn 1.700 - 2.2000C, trong khi đối với những giống dài ngày là 3.200 - 3.8800C tương đương 140 - 160 ngày, đậu tương có khả năng chịu đựng được nhiệt độ
từ 35 - 37 0C, mặc dầu vậy thì nhiệt độ tối thích để cây đậu tương phát triển tốt trong mọi pha sinh trưởng là 20 - 250C
Theo Bùi Huy Đáp, (1961)[10], ở pha đầu (thời kỳ cây con) nhiệt độ có
ảnh hưởng đáng kể đến nhóm đậu tương chín sớm, ít mẫn cảm với quang chu
kỳ nhưng ít ảnh hưởng đến nhóm chín muộn Chiều cao của cây đậu tương tăng trưởng thuận lợi ở nhiệt độ 17 - 230C, nhưng sự phát triển của rễ thuận lợi
ở nhiệt độ 27,2 - 32,20C
Nhìn chung người ta chú ý đến ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự ra hoa, làm quả, phát triển hạt hơn so với ảnh hưởng của quang chu kỳ Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy tầm quang trọng của sự tương tác giữa hai yếu tố tới quá trình ra hoa và làm quả Thí nghiệm trên giống Ransom, trồng ở nhiệt
độ ngày/đêm là 16/220C và 22/180C cho hoa và quả nhiều hơn ở nhiệt độ 30/260C và 18/140C ở nhiệt độ 18/140C và 30/260C quả hình thành ít mặc dầu hoa ra rất nhiều, chứng tỏ nhiệt độ cao và thấp đã đẫn đến hoa rụng nhiều, ở nhiệt độ trung bình, cây có nhiều đốt, hoa và số quả trên đốt Tương tự, giống cảm quang ra hoa chậm cũng sinh nhiều đốt, cành, tăng số quả và năng suất (dẫn theo Ngô Thế Dân và cộng sự, 1999)[8]
* Yêu cầu độ ẩm
Nước có vai trò quan trọng đối với cây đậu tương, nếu thừa nước sẽ gây tổn thương bộ rễ do thiếu không khí, thiếu nước cây bị héo hoặc năng suất giảm Nước ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây, bao gồm cả về mặt sinh lý, sinh hoá, hình thái và giải phẫu của cây dẫn đến làm giảm năng suất
Trang 16Tổng lượng mưa cần cho một vụ đậu tương khoảng 370 - 450 mm trong
điều kiện không tưới, còn nếu được tưới đầy đủ thì lượng nước tiêu thụ của
đậu tương lên đến 670 - 720 mm (Judy W.H và Jackobs J.A, 1979) [48]
Văn Tất Tuyên và cộng sự (1995)[30], theo dõi tương quan giữa năng suất đậu tương vụ Đông ở đồng bằng Bắc bộ với lượng mưa/vụ đã nhận xét: Lượng mưa là yếu tố khí hậu có tương quan rất chặt chẽ đến năng suất đậu tương vụ Đông (r = 0,72) Khi nghiên cứu độ thiếu hụt của ẩm độ không khí
đối với cây đậu tương thấy rằng: ở thời kỳ quả mẩy làm ảnh hưởng hơn ở thời
kỳ nở hoa (Doss, Pearson and Roges H.T, 1974)[44]
* Yêu cầu về ánh sáng:
Toàn bộ năng lượng đi vào cây trồng phụ thuộc một phần vào cường độ quang hợp tối đa trên đơn vị diện tích lá và một phần vào sự hấp thụ bức xạ hoạt tính quang hợp (PAR - Photosynthe - tically active radiation) của toàn bộ diện tích lá Cường độ quang hợp tối đa phụ thuộc vào tuổi và hàm lượng Nitơ ở lá, trạng thái nước, nhiệt độ và nồng độ CO2. Sự hấp thụ bức xạ hoạt tính quang hợp (PAR) bị ảnh hưởng bởi mật độ bức xạ trên tán cây và sự phân bổ của nó trong tán cây ở điều kiện ngoài đồng ruộng, hầu hết bức xạ được tiếp nhận bởi những lá nằm ở bề mặt ngoài của tán cây (Ngô Thế Dân và cộng sự, 1999) [8]
Đậu tương là cây ngày ngắn điển hình, có phản ứng chặt chẽ với độ dài ngày, cây sẽ ra hoa khi độ dài ngày ngắn hơn trị số giới hạn của giống Các giống khác nhau phản ứng với độ dài ngày khác nhau, giống chín muộn phản ứng chặt chẽ với độ dài chiếu sáng hơn giống chín sớm
Khi nghiên cứu phản ứng quang chu kỳ của cây đậu tương biểu hiện trong thời gian sinh trưởng sinh dưỡng, nếu đậu tương gặp điều kiện ngày ngắn thì sẽ rút ngắn thời gian từ mọc đến ra hoa và thời gian phân hoá mầm hoa, dẫn tới làm giảm tích luỹ chất khô và giảm số lượng hoa Sau khi ra hoa, nếu đậu tương gặp điều kiện ngày ngắn thời gian sinh trưởng không bị ảnh hưởng nhưng khối lượng chất khô toàn cây giảm (Nguyễn Văn Luật, 1979)[24]
Trang 17Theo Đoàn Thị Thanh Nhàn và cộng sự (1996) [25], các giống đậu tương ở Việt Nam được chia làm 3 nhóm chính: Nhóm chín sớm, nhóm chín trung bình và nhóm chín muộn, nhóm chín sớm ít phản ứng với độ dài ngày nên ra hoa và chín gần như nhau ở cả 3 thời vụ xuân, hè và vụ đông Sự chênh lệch về thời gian ra hoa và chín của các giống chín muộn rất rõ rệt giữa các vùng trồng, do đó nó phản ứng khá chặt với độ dài chiếu sáng
Sự cố định Nitơ và lượng chất khô cũng như nhiều đặc tính khác lại phụ thuộc vào quang hợp (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cộng sự, 1996)[25]
2.1.2 Cơ sở khoa học của việc bố trí thời vụ
Thời vụ trồng là yếu tố rất quan trọng đối với cây đậu tương nói riêng
và cây trồng nói chung Bố trí thời vụ hợp lý là nhằm tạo cho cây đậu tương
phát triển trong điều kiện thuận lợi nhất để đạt năng suất cao
Đậu tương là cây mẫn cảm với ánh sáng ngày ngắn, ưa nhiệt độ ấm áp,
đặc biệt thời kỳ ra hoa, làm quả cần ẩm độ, nhiệt độ, ánh sáng đầy đủ Do vậy chúng ta không nên gieo quá muộn sau 15 tháng 10 tránh khi ra hoa làm quả gặp nhiệt độ thấp, gió mùa Đông Bắc sẽ ảnh hưởng đến năng suất Vụ hè hạn chế là ra hoa, làm quả vào tháng 5, tháng 6 gặp nắng nóng, nhiệt độ cao sẽ
ảnh hưởng quá trình làm quả cũng làm giảm năng suất Do vậy miền Bắc sẽ hình thành 3 vụ chính:
Trang 182.1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài
Đậu tương ngoài việc tăng hàm lượng dinh dưỡng cho con người, còn
đóng vai trò quan trọng là làm thức ăn chăn nuôi, góp phần thúc đẩy nghề chăn nuôi phát triển, đặc biệt cây đậu tương có vai trò bồi dục đất rất hiệu quả, nhất là đất chuyên lúa Bên cạnh đó đậu tương là cây dễ canh tác có thể mở rộng diện tích nhanh Với ý nghĩa đó thì một huyện thuần nông như Tứ Kỳ phát triển trồng đậu tương đông là bước đi đúng hướng và thiết thực Hiện tại Việt Nam ta đang thiếu đậu tương trầm trọng, để đảm bảo tính chủ động và tự lực thì việc mở rộng diện tích đậu tương đông là cần thiết Cùng với việc mở rộng đậu tương đông thì hiện nay chủ trương sản xuất một phần đậu tương xuân cũng là nhu cầu bức xúc để giảm bớt độc canh cây lúa, tăng tính đa dạng
về cây trồng và phong phú về chủng loại sản phẩm Với mục đích bố trí luân canh, xen canh, tăng vụ để đem lại giá trị kinh tế/1 ha là 50 triệu đồng thay vì giá trị kinh tế của lúa hiện nay chỉ 35 - 40 triệu /ha Muốn vậy thì công tác bố trí thời vụ và xác định bộ giống phù hợp là nhiệm vụ hàng đầu nhằm mục đích
đem lại năng suất cao, đảm bảo hiệu quả kinh tế cho bà con nông dân
Hiện nay tình hình thực tế sản xuất đậu tương như sau: Diện tích đậu tương trên toàn tỉnh còn rất thấp, năm 2004 là 1.891 ha, trong đó diện tích đậu tương đông 410 ha (chiếm 21,7%), đậu tương xuân và hè 1451ha (chiếm 78,3%), năng suất trung bình cả năm là 17,4 tạ /ha trong khi năng suất của vụ
đông chỉ đạt 13,68 tạ/ha Diện tích trồng cây vụ đông của tỉnh năm 2004 là 30.301 ha Trong đó cây ngô là 4.754 ha chiếm 15,7%, cây khoai lang 3.264
ha chiếm 10,8%, cây rau các loại 21.826 ha chiếm 72%, cây đậu tương 410 ha chiếm 1,4% Như vậy diện tích trồng đậu tương đông của Hải Dương còn rất thấp so với các cây trồng khác cũng như so với các tỉnh trong vùng Nguyên nhân là trong những năm qua nông dân Hải Dương thường xuyên hợp đồng sản xuất cung cấp nguyên liệu cho gần 80 cơ sở chế biến nông sản trong tỉnh
Trang 19gồm các mặt hàng chủ yếu: ớt, dưa chuột, hành tỏi, rau các loại và sản xuất ngô giống cho các công ty, viện nghiên cứu Ngoài ra còn có 4 chợ đầu mối thuộc các huyện Gia Lộc, Kinh Môn, Nam Sách và Kim Thành chuyên thu mua rau các loại cung ứng cho thị trường các tỉnh phía Nam Vì vậy sản xuất
đậu tương chưa mang tính hàng hoá mà chủ yếu tự cấp tự túc Tuy nhiên trong những năm gần đây việc sản xuất một số cây rau màu vụ đông gặp nhiều khó khăn do năng suất bấp bênh, đầu ra nông sản không ổn định, giá trị thấp, khó bảo quản nông sản lâu dài Vì vậy cây đậu tương với những ưu thế vốn có,
đang được người sản xuất và các nhà hoạch định chính sách của tỉnh quan tâm khuyến khích đầu tư kinh phí và khoa học kỹ thuật Vì vậy trong những năm qua việc sản xuất cây đậu tương của tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực Năm 2000 diện tích trồng cây vụ đông toàn tỉnh là 28.636 ha, trong đó diện tích cây đậu tương là 199 ha đến năm 2004 tăng lên 410 ha và năm 2005 đạt
810 ha tăng 611 ha (gấp 4 lần năm 2000)
Hải Dương là một tỉnh đất chật người đông, quỹ đất để phát triển các loại cây trồng khác đã hết, nhưng tiềm năng mở rộng diện tích cây vụ đông trên đất 2 lúa còn khá dồi dào Hiện nay, diện tích cấy lúa vụ mùa là 67.254 nhưng diện tích các cây trồng vụ đông (sau lúa) mới đạt 50% như vậy còn trên 30.000 ha đất vụ đông chưa được sử dụng Trong các loại cây trồng có thể phát triển ở vụ đông, cây ngô và cây khoai lang có thể mở rộng diện tích hơn nữa Nhưng cây ngô yêu cầu thời vụ khắt khe, mức đầu tư cao, nên không hấp dẫn người sản xuất, khó mở rộng dịên tích, cây khoai lang cũng trong tình trạng chung như vậy Đối với cây rau, đến nay quỹ đất để phát triển không còn, vì với cây rau yêu cầu đất rất chặt chẽ như hàm lượng dinh dưỡng, độ tơi xốp, nước tưới chủ động Như vậy xét về tổng thể từ hiệu quả kinh tế đến quỹ
đất và nguồn lợi đem lại trong sản xuất vụ đông thì cây đậu tương có lợi thế hơn cả, đặc biệt với đất 2 vụ lúa, vừa tăng thu nhập cho người nông dân ổn
định và bồi dục đất trồng Yêu cầu thực tế đặt ra là cần lựa chọn bộ giống phù
Trang 20hợp, sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất cao trong vụ đông và các vụ khác trong năm tại Hải Dương, vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
"Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu góp phần nâng cao năng suất đậu tương vùng Tứ Kỳ - Hải Dương"
2.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương ở trên thế giới
Đậu tương là cây trồng giữ vai trò quan trọng, là một trong 8 cây chiếm 97% sản lượng cây lấy dầu trên thế giới, Là cây có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao, phạm vi thích ứng rộng có thể trồng được nhiều vùng trên thế giới Trong những năm 70, diện tích trồng đậu tương trên thế giới tăng ít nhất
2 lần so với những cây lấy dầu khác Trong các cây lấy dầu của thế giới sản lượng đậu tương tăng từ 32% năm 1965 tới 50% vào những năm 1980 Ngược lại sản lượng của lạc lại giảm từ 18% xuống còn 11% trong cùng thời kỳ (Ngô Thế Dân và cộng sự, 1999) [8]
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương trên thế giới
Trang 21Diện tích (triệu ha) Sản lượng (triệu tấn) Năng suất (tạ/ha)
Biểu đồ 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương trên thế giới
Qua số liệu ở bảng 2.1 và biểu đồ 2.1 diện tích trồng đậu tương trên thế giới những năm qua liên tục tăng, năm 2005 diện tích đạt 91,30 triệu ha so với năm 1985 là 54,07 triệu ha (tăng gần 1,7 lần) Đạt tốc độ tăng trưởng 3,5%/năm về diện tích và 1,7%/năm về năng suất
Đây là sự đóng góp to lớn của các nhà chọn tạo giống đậu tương thế giới góp phần vào sự phát triển của ngành nông nghiệp toàn cầu Thể hiện tầm quan trọng của cây đậu tương đối với mỗi quốc gia
Hiện nay cây đậu tương đã được trồng ở các quốc gia khắp các châu lục, tuy nhiên diện tích chủ yếu vẫn tập trung ở một số nước châu Mỹ và châu á
Trang 22B¶ng 2.2 DiÖn tÝch, n¨ng suÊt vµ s¶n l−îng ®Ëu t−¬ng mét sè n−íc
Trang 23Các nước có trình độ thâm canh cao và diện tích trồng đậu tương lớn của thế giới là Mỹ, Braxin, Achentina và Trung Quốc
Theo bảng 2.2 thì Mỹ vẫn là quốc gia đứng đầu về diện tích, năng suất
và sản lượng đậu tương thế giới Năm 2005, diện tích trồng đậu tương của Mỹ
đạt 28,84 triệu ha (chiếm 31,6%), sản lượng đạt 82,82 triệu tấn (chiếm gần 40%), năng suất đạt 28,7 tạ/ha (cao gần 1,3 lần) so với diện tích và năng suất chung của thế giới (năng suất đậu tương bình quân của thế giới là 23,00 tạ/ha), riêng năm 2004 sản lượng đậu tương của toàn nước Mỹ đạt 85,49 triệu tấn, chỉ kém 3 triệu tấn so với sản lượng toàn thế giới năm 1985 là 88,25 triệu tấn
Hiện nay Mỹ vẫn là nước xuất khẩu đậu tương lớn nhất thế giới, chiếm 60% thị trường xuất khẩu thế giới
Sau Mỹ, Braxin, Achentina, Trung Quốc đều là các cường quốc sản xuất đậu tương Năm 2005, diện tích của 4 nước (Mỹ, Braxin, Achentina, Trung Quốc) đạt 77,83 triệu ha, chiếm 85,2% và sản lượng đạt 188,22 triệu tấn, chiếm 89,6% cả thế giới năm 2005
Tại châu á, Trung Quốc là nước có diện tích sản xuất lớn nhất năng suất cũng cao nhất Mặc dù diện tích trong những năm qua có tăng nhưng năng suất giảm nên sản lượng không tăng Trung Quốc năm 2002 có diện tích
là 8,72 triệu ha, năng suất đạt 19,37 tạ/ha và sản lượng đạt 16,90 triệu tấn Năm 2005 diện tích tăng lên 9,50 triệu ha, năng suất đạt 17,8 tạ/ha và sản lượng dừng ở 16,90 triệu tấn
Như vậy, diện tích của châu á chỉ mới tương đương Braxin nhưng sản lượng chỉ xấp xỉ 50% của Braxin Lý do sản lượng đạt thấp là vì năng suất của các nước châu á đạt thấp Như ấn Độ năng suất chỉ đạt 10,54 tạ/ha, so với năng suất của Achentina là thấp hơn 2,7 lần, Braxin là 2,65 lần và Mỹ là 2,1 lần
Trang 24Bảng 2.3 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương
của châu á và một số nước
2002 2003 Năm
(Nguồn: Faostat, January 2004)
Như vậy nhìn chung diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương của
châu á còn thấp, chỉ mới đáp ứng được 50% nhu cầu tiêu dùng của châu lục,
do vậy hàng năm các nước châu á như: Trung Quốc, Nhật Bản, Indonexia,
Malaixia phải nhập khẩu một lượng lớn đậu tương từ Mỹ, Braxin,
Achentina
Nguồn gen đậu tương hiện nay được lưu giữ ở nhiều nước trên thế giới
nhưng chủ yếu là các nước: Mỹ, Trung Quốc, Australia, Pháp, Nigienia, ấn
Độ, Indonexia, Nhật Bản, Triều Tiên, Nam Phi, Thụy Điển, Thái Lan và Liên
Xô (cũ)… với tổng số 45.038 dòng giống (Trần Đình Long, 1991) [18] Sở dĩ
Mỹ luôn là nước đứng đầu thế giới về diện tích và sản lượng đậu tương, nhờ
các phương pháp chọn lọc, nhập nội, gây đột biến, lai tạo và chuyển gien họ
luôn tạo ra được những giống đậu tương mới Đến năm 1893 ở Mỹ có trên
10.000 dòng giống đậu tương thu thập được từ các nơi trên thế giới Hiện nay
đã đưa vào sản xuất trên 100 dòng, giống đậu tương và lai tạo được một số
giống có khả năng chống chịu tốt với bệnh Rhizoctonia và thích ứng rộng như:
Amsoy71, Lec 36, Clark 63, Herkey 63 Mục tiêu của công tác chọn giống ở
Trang 25Mỹ là tạo ra những giống có khả năng thâm canh, phản ứng với quang chu kỳ, chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh bất thuận, có hàm lượng protein cao,
dễ bảo quản và chế biến (Johnson H.W and Bernard R.L, 1967) [47]
ở Mỹ, từ những năm 1970, vấn đề đầu tư cho phát triển giống mới đã rất được chú trọng, nhờ cơ giới hoá, vi tính hoá đã giúp nhà chọn giống cùng một lúc có thể đánh giá hàng loạt các giống ngoài ra việc sử dụng nhà kính, vườn ươm mùa đông cũng rút ngắn thời gian của chu kỳ chọn giống (dẫn theo Ngô thế Dân và cộng sự (1999)[8]
Tại trung tâm phát triển rau màu châu á (AVRDC) đã thiết lập hệ thống đánh giá (Soybean - Evaluation trial - Aset) giai đoạn 1 phân phát được trên 20.000 giống đến 546 nhà khoa học của 164 quốc gia nhiệt đới và á nhiệt
đới Kết quả đánh giá giống đậu tương của Aset đã đưa vào mạng lưới sản xuất được 21 giống ở trên 10 quốc gia (Nguyễn Thị út, 1994) [33] Ví dụ AK03 bắt nguồn từ giống đậu tương nhập nội G2261 được đưa vào sản xuất năm 1998
Thời vụ gieo trồng cũng được xác định có sự tương tác chặt với các giống đậu tương nghiên cứu Kết quả nghiên cứu của Baihaiki và cộng sự (1976) [40] cho biết: Sự tương tác của 4 giống và 44 dòng, được chia thành 3 nhóm ở 3 địa điểm trong 2 năm cho thấy, khoảng 50% sự tương tác giữa giống với môi trường cho năng suất hạt được xác định đối với nhóm có năng suất thấp, 25% đối với nhóm có năng suất cao và năng suất trung bình; khi nghiên cứu các dòng, giống ở các thời vụ và nền phân bón khác nhau đã cho thấy sự tương tác rất có ý nghĩa đối với tất cả 12 tính trạng nghiên cứu, trong
đó có năng suất hạt
Về tương quan giữa di truyền và kiểu hình theo Weber C.R and Moorthy B.R, (1952) [58] cho biết năng suất hạt có sự tương quan thuận với ngày chín,
Trang 26chiều cao cây và trọng lượng hạt
Asadi and Darma, A.Arsyad, 1992 [38], nghiên cứu về tương quan giữa các đặc tính sinh trưởng, chiều cao cây có tương quan thuận với năng suất (r = 0,665 và 0,662), thời gian ra hoa và thời gian sinh trưởng có hệ số tương quan
r = 0,500, giữa thời gian ra hoa với chiều cao cây có r = 0,602, số lượng nốt sần với chiều cao cây r = 0,660
ấn Độ đã bắt đầu khảo nghiệm các giống địa phương và nhập nội tại trường đại học tổng hợp Pathaga năm 1963, đến năm 1967 thành lập chương trình đậu tương toàn ấn Độ với nhiệm vụ lai tạo và thử nghiệm giống mới, họ
đã tạo ra được một số giống có triển vọng như Birsasoil, DS 74-24-2, D
373-16 Tổ chức AICRPS (The All India Coordrated Research Proseet on Soybean)
và NRCS (Nationad Research Center for Soybean)đã tập trung nghiên cứu về gen Otype, đã phát hiện ra 50 tính trạng phù hợp với khí hậu nhiệt đới, đồng thời phát triển những giống chống chịu cao với bệnh kháng Virut (Brown D
M, 1960) [41]
Về sâu hại đậu tương các kết quả nghiên cứu cho thấy: Giòi đục thân
Melana gromyza soja gây hại mạnh nhất ở 4 tuần đầu tiên sau khi gieo, cùng
phá hoại với giòi này còn có giòi Ophiomyia phaseoli và Ophiomyia
centrosematis chúng có thể đục vào lá non khi cây mới mọc (Ngô Thế Dân và
cộng sự, 1999) [8]
Hiện nay có rất nhiều cơ quan, tổ chức quốc tế cùng tham gia nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực trong nông nghiệp Cụ thể Viện lúa quốc tế IRRI trước năm 1975 chủ yếu là nghiên cứu về cây lúa Nhưng sau năm 1975 đã tiến hành nghiên cứu cây đậu đỗ, đặc biệt là cây đậu tương cho các vùng sản xuất lúa nhằm cải tạo đất, tăng dinh dưỡng và nâng cao đời sống cho người dân Song song đó là các tổ chức quốc tế, các nhà hoạch định nông nghiệp của nhiều quốc gia đã ưu tiên đầu tư cho việc nghiên cứu giống đậu tương với quy
Trang 27mô lớn Nhiều tập đoàn giống đậu tương đã được khảo nghiệm ở các vùng sinh thái khác nhau Thử nghiệm tính thích nghi ở từng điều kiện môi trường tạo điều kiện so sánh các giống địa phương và giống nhập nội Đánh giá thích ứng trong từng điều kiện môi trường cụ thể Kết quả đã xác định được nhiều dòng, giống tốt có tính ổn định cao cho mỗi vùng sinh thái
2.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương ở Việt Nam
ở Việt Nam, đậu tương là cây trồng cổ truyền đã thích ứng cao với các vùng sinh thái trong nước Trước cách mạng tháng 8/1945 diện tích trồng đậu tương ít, khoảng 32.200 ha (năm 1944), năng suất thấp 4,1 tạ/ha Sau khi đất nước thống nhất diện tích đậu tương cả nước là 39.954 ha, năng suất đạt 5,2 tạ/ha (Ngô Thế Dân và cộng sự, 1999) [8]
Bảng 2.4 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương ở Việt Nam
(Nguồn: Faostat, January 2006)
Hiện tại cả nước đã hình thành 6 vùng sản xuất đậu tương, vùng Đông Nam Bộ có diện tích lớn nhất cả nước (chiếm 26,2%), miền núi Bắc bộ 24,7%,
Trang 28Đồng bằng sông Hồng 17,5%, Đồng bằng sông Cửu Long 12,4% Tổng diện tích 4 vùng này chiếm 66,6% Còn lại là đồng bằng ven biển, miền Trung và Tây Nguyên, đậu tương được trồng trong vụ xuân (chiếm 14,2% diện tích), vụ
hè thu 31,3%, vụ mùa 2,68%, vụ thu đông 22,1%, vụ đông xuân 29,7% (Ngô Thế Dân và cộng sự, 1999) [8]
Qua bảng 2.4 và biểu đồ 2.2 cho thấy: Diện tích, năng suất và sản lượng
đậu tương của Việt Nam liên tục tăng trong các năm qua Nếu so sánh với 25 năm trước từ 1980 - 2005 thì diện tích tăng 4,4 lần, năng suất tăng 2 lần và sản lượng tăng 7,6 lần Nếu tính trong vòng 10 năm lại đây thì diện tích tăng 1,6 lần, năng suất tăng 1,3 lần và sản lượng tăng gần 2 lần Đạt được thành tựu này có sự đóng góp tích cực của nhiều nhà nghiên cứu và các cơ quan chức năng từ trung ương đến địa phương
050
Diện tích (1.000 ha) Sản lượng (1.000 tấn) Năng suất (tạ/ha)
Biểu đồ 2.2 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương của Việt Nam
ở Việt Nam, trong những năm qua, công tác chọn tạo giống đậu tương
Trang 29đã được tiến hành ở các cơ sở nghiên cứu theo hướng khác nhau Mặc dù mỗi hướng đều có những thành công riêng, nhưng thành công lớn nhất phải kể đến
là phương pháp lai hữu tính, đây là hướng nghiên cứu cơ bản để tạo ra các đột biến, biến dị tổ hợp phục vụ cho chọn lọc Nhờ đó có thể phối hợp được các
đặc tính và tính trạng có lợi của các dạng bố mẹ và con lai
Nước ta trước đây, trên đất trồng 2 vụ lúa thường không trồng hoặc có trồng rất ít cây vụ đông, một số năm gần đây nhờ ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật: Trồng đậu tương Đông trên nền đất ướt, trồng theo phương pháp làm đất tối thiểu… đã làm cho ruộng 2 vụ lúa thành trồng được 3 vụ trong năm (Trần
Đình Long, 1998)[19]
Hiện nay ở miền Bắc đã hình thành cơ cấu 3 vụ/năm (Nguyễn Ngọc Thành, 1996) [26], bao gồm:
+ Vụ đậu tương xuân gieo 10/2 - 10/3
+ Vụ đậu tương hè gieo 20/5 - 15/6
+ Vụ đậu tương đông gieo 05/9 - 05/10
Khi nghiên cứu về thời vụ trồng đậu tương Đông các số tác giả Ngô Quang Thắng và Cao Phượng Chất, (1979)[28] nhận xét: Đối với cây đậu tương cần phải được gieo sớm từ 20/9 đến 15/10 để cây đậu tương phát triển thân cành lá và ra hoa rộ trong điều kiện thời tiết ấm áp mới có thể cho năng suất cao và
ổn định Còn Lê Song Dự và Ngô Đức Dương (1988)[9] nghiên cứu về thời vụ
đậu tương Đông ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ cho rằng: Khi ra hoa do nhiệt
độ thấp và lượng mưa giảm nên thời gian ra hoa rất ngắn 10 - 15 ngày
Trong những năm qua các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu lai tạo thành công một số giống đậu tương thích nghi cho vụ Đông ở Đồng bằng sông Hồng và các vụ khác như xuân, hè
Theo tác giả Trần Đình Long, (1991)[18], muốn tăng hiệu quả chọn lọc
Trang 30giống phải căn cứ vào các tính trạng ít bị ảnh hưởng bởi điều kiện ngoại cảnh, vì vậy đồng thời với việc xác định hệ số biến dị còn phải xác định nguồn gốc gây ra biến dị ấy (do điều kiện ngoại cảnh hay do đặc tính của giống), tác giả cho biết muốn có dòng, giống đậu tương năng suất cao phải căn cứ vào các chỉ tiêu: Số quả/đốt, số hạt/quả, khối lượng 1000 hạt để phân lập và chọn lọc Bằng phương pháp lai hữu tính, các nhà khoa học có thể tạo ra các tổ hợp lai
có khả năng thích ứng rộng, chịu rét (trồng trong vụ đông) như giống VX 93,
ĐT92, DN42 giống DT84 có khả năng chịu nóng, chịu hạn (trồng trong vụ hè) Từ những thành công đó, các nhà khoa học đã hình thành ý tưởng có thể tập hợp những kiểu gen tốt vừa có khả năng chịu rét, vừa có khả năng chịu nóng của các bố mẹ vào cùng một con lai tạo ra giống đậu tương có năng suất cao trồng được 3 vụ trong năm như ĐT 93
Theo số liệu thống kê của Trần Đình Long, (2003)[23]: Giai đoạn 1991
- 1995 các cơ quan nghiên cứu đã cải tiến được nhiều giống đậu tương thích hợp cho nhiều vùng sinh thái, 6 giống đã được công nhận quốc gia: M103,
ĐT80, VX92, AK05, DT84, HL2, năng suất trung bình đạt 2,4 - 2,5 tấn/ha Cùng với nhiều giống được khu vực hoá như: G87 - 1, 87- 5, G87 - 8, VX 9 -
1, L1, L2, DT90, DT2, VN1, AK04, ĐT93 và V47 Giai đoạn các năm 1997 -
2002 có thêm 19 giống đậu tương được công nhận trong số 324 giống cây trồng mới Tuy nhiên năng suất so với thế giới và các nước trong khu vực thì
đậu tương ở Việt Nam mới chỉ bằng 65% (17 tạ/ha)
Hiện nay công tác chọn tạo giống và phát triển sản xuất đậu tương ở Việt Nam đang tập trung vào các hướng chính sau đây:
+ Tiếp tục nhập nội các nguồn gen quý hiếm ở trên thế giới
+ Sử dụng các phương pháp chọn tạo giống truyền thống (chọn lọc, lai tạo, xử lý đột biến)
+ Đối với dầu còn cần tập trung chọn tạo giống có hàm lượng dầu cao
Trang 3122 - 27% khối lượng hạt (Trần Đình Long, 2000)[20]
Kết quả đánh giá một số đặc tính sinh trưởng và năng suất của tập
đoàn giống đậu tương vụ hè, các tác giả Vũ Đình Chính, Trần Đình Long,
Đoàn Thị Thanh Nhàn (1992 - 1993)[4] đã phân lập được tập đoàn giống đậu tương nghiên cứu vụ hè thành 4 nhóm: Chín rất sớm (71 - 80 ngày), chín sớm (81 - 90 ngày), chín trung bình sớm (91 - 100 ngày), chín trung bình (101 - 110 ngày) Các dòng, giống có năng suất cao điển hình cho nhóm chín rất sớm là 356, 329, các dòng, giống hạt to có thể làm vật liệu lai tạo là M103, DT16, 913
Theo Nguyễn Danh Đông (1993)[11] tại Viện nghiên cứu cây Công nghiệp cũng bằng phương pháp thu thập ở trong và ngoài nước, Viện đã thu thập được gần 250 dòng giống Các giống đã được trồng nhiều năm ở Định Tường (vĩ độ 19059' Bắc, kinh độ 105040' Đông) và đã phân các giống đậu tương thành 6 nhóm tuỳ theo độ chín Nhóm I chín rất sớm, thời gian sinh trưởng dưới 80 ngày, nhóm II chín sớm, thời gian sinh trưởng 80 - 90 ngày, nhóm III chín trung bình, thời gian sinh trưởng 90 - 100 ngày, nhóm IV chín trung bình muộn, thời gian sinh trưởng 100 - 110 ngày, nhóm V chín muộn, thời gian sinh trưởng 110 - 120 ngày, nhóm VI chín rất muộn, thời gian sinh trưởng hơn 120 ngày Tác giả nhấn mạnh khái niệm giống chín sớm, chín trung bình, chín muộn phải gắn liền với vị trí địa lý và mùa vụ nhất định
Mai Quang Vinh và cộng sự(1997) [34] đã áp dụng phương pháp gây đột biến thực nghiệm mang lại khá nhiều thành công theo hướng tăng năng suất, tăng hàm lượng và chất lượng protein trong hạt đậu tương đồng thời tạo ra các giống ngắn ngày năng suất cao, thích ứng rộng, chống chịu sâu bệnh khá Các tác giả
đã đột biến dòng AK04/021 của giống AK04, tạo ra giống đậu tương DT95 là giống thấp cây, khả năng chống đổ cao, được công nhận giống khu vực hoá năm
1997, bằng xử lý chiếu xạ Co60 - 15Krad trên dòng F4 (được chọn tạo từ tổ hợp
Trang 32lai giữa 2 số 98 (IS - 011 x cúc Hà Bắc) tác giả đã tạo ra giống DT99 được cho phép khu vực hoá năm 2000 Các giống này có đặc điểm chung là sinh trưởng hữu hạn, phản ứng yếu với độ dài ngày, thời gian sinh trưởng ngắn 70 - 80 ngày
Kết quả so sánh một số giống, dòng đậu tương ngắn ngày thuộc nhóm chín sớm được phân lập ra từ tập đoàn 1990 - 1993 cho thấy chiều cao của các dòng thấp từ 30 - 40 cm có khả năng chống đổ tốt, thích hợp vụ hè, màu sắc hạt vàng đẹp Về thời gian sinh trưởng các dòng, giống này đều thuộc nhóm chín sớm (71 - 80 ngày) thích hợp gieo trồng vào vụ đậu tương sớm Các dòng
329, 356, 911 - 1, KZ 833 đều có số quả trên cây nhiều (48 quả/cây) so với các đối chứng (38 quả /cây), tỷ lệ quả chắc cao, tỷ lệ quả 2 hạt 45 - 60% Về kính thước hạt đều thuộc loại nhỏ, P1000 hạt từ 70 - 80g Năng suất cá thể, năng suất lý thuyết đều cao hơn giống các đối chứng nhưng trong đó cao nhất làcác dòng 356 và 329 (16,5 và 14,4 tạ/ha) (Vũ Đình Chính, Trần Đình Long,
Đoàn Thanh Nhàn, 1994)[4]
Trong những năm qua được sự quan tâm của nhà nước cũng như của các
địa phương việc nghiên cứu, khảo nghiệm và áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới được triển khai với quy mô lớn Trong đó việc chọn tạo và khảo nghiệm các giống mới, giống nhập nội, rất được các nhà khoa học quan tâm Bên cạnh chọn tạo theo phương pháp cổ truyền còn áp dụng các phương pháp mới như gây đột biến, áp dụng công nghệ sinh học, đồng thời cũng chú trọng nhiều đến hàm lượng dinh dưỡng của từng giống Có sự kết hợp chặt chẽ với các tổ chức trong và ngoài nước để đi sâu nghiên cứu nhiều lĩnh vực đối với cây đậu tương
Trong dự án ACIAR CS1/95/130 "Cải tiến giống và thích nghi đậu tương ở Việt Nam và Australia" thử nghiệm 56 giống đậu tương nhập từ Australia bộ EV - 01 và 20 giống khác bộ PA - 01 trong 2 năm: Vụ hè 1999,
vụ xuân 2000 và vụ thu đông 2000 cho thấy: Có nhiều giống thích hợp cho vụ
Trang 33xuân ở nhiều vùng sinh thái khác nhau đạt năng suất trên 2,7 tấn/ha như
96028 - 6 - 1 - 1, Ocepara 9, ATF - 8, SJ - 4, 95389 có một số giống thích hợp cho vụ hè: C075 - 1558, MSBR 17 một số giống thích hợp cho vụ đông CPAC 368 - 76, CPAC 31 - 76 Một số giống thích hợp cho cả vụ hè và vụ xuân MSBR - 20, CM 60, Paranaiba, VX 5 - 281 - 5 (Trần Đình Long, R J Lawn, A James, 2001)[21]
Theo kết quả nghiên cứu tính thích ứng của đậu tương trước điều kiện quang chu kỳ ở Việt Nam năm 2000, kết luận các giống Việt Nam có tốc độ sinh trưởng, khả năng chín tập trung hơn các giống nhập nội Thời gian sinh trưởng của các giống biến động qua các thời vụ còn chiều cao cây, số đốt, năng suất chất khô, năng suất hạt của các giống ở vụ khác nhau có biến động khác nhau Khi nghiên cứu ảnh hưởng của giống và thời vụ gieo trồng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất đậu tương thì thấy rằng cả 3 giống ngắn ngày, trung và dài ngày trong 2 thời vụ thì thời vụ 1 đều cho các đặc tính cao hơn thời vụ 2 như: Tổng lượng chất khô, LAI, khối lượng lá, năng suất hạt ngoại trừ thời gian sinh trưởng là kéo dài ra cả 2 thời vụ
Năng suất tương quan chặt chẽ với thời gian sinh trưởng, LAI, tổng lượng chất khô tích luỹ, trọng lượng khô của lá trong cùng thời vụ (Trần Đình Long, Andrew, A.James, 2003)[22]
Khi nghiên cứu sự đa dạng của gen Chaperonin CCTδ ở cây đậu tương nhóm nghiên cứu Trần Thị Phương Liên, Lê Thị Thu Hiền, Nguyễn Đăng Tôn, Cao Xuân Hiến, Nông Văn Hải, Lê Thị Muội và Trần Đình Long kết luận: Đã phân lập được gen Chaperonin tế bào chất CCTδ từ giống đậu tương chịu hạn Cúc vàng gen này bao gồm 1602 Nucleotit, mã hoá cho 533 axit amin, so với gen này ở giống đậu tương chịu lạnh Bominori và giống đậu tương đột biến chịu nóng M103, chúng có độ đồng nhất trên 97% đã phát hiện thấy 15 vị trí axit amin thay đổi, trong đó có 3 vị trí Ser 99 ặThr, Ser 280 ặGly, Ser 307
Trang 34ặAla theo quy luật biến đổi của các enzim chịu nhiệt So sánh 13 trình tự CCTδ ở các mô tế bào và các giống đậu tương khác nhau cho thấy độ đồng
đều rất lớn trên 92% Độ đồng đều của gen này ở các loài khác nhau, từ nấm men đến thực vật khoảng 58% đến 98,5% Nghiên cứu so sánh các vùng chức năng của gen CCTδ cho thấy vùng có hoạt tính Atpara là bảo thủ nhất, vùng gắn với ATP có độ đồng đều ít bảo thủ hơn, còn vùng gắn với cơ chất ở vị trí
từ 50 đến 55 axit amin phần đứt của phức CCT là ở vị trí đa dạng nhất (tạp chí Sinh học 9/2003)[17]
Những kết quả nghiên cứu trong thời gian qua đã đánh dấu hướng sử dụng khai thác nguồn gen có sẵn trong nước kết hợp nhập nội Nhiều giống
đậu tương mới có năng suất cao, thích nghi tốt cho cả vụ đông cũng như vụ xuân đã được đưa vào sản xuất Tuy nhiên bộ giống vẫn chưa nhiều, còn có phần hạn chế, bởi vậy việc xác định bộ giống phù hợp cho sản xuất vụ đông,
là yêu cầu cần thiết
Trang 353 Vật Liệu, nội dung
và phương pháp nghiên cứu
3.1.Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
+ Vật liệu: gồm 8 giống đậu tương
Danh sách các giống tham gia thí nghiệm
1 DT84 Đột biến Viện Di truyền Nông nghiệp
2 D140 Lai hữu tính Bộ môn cây Công nghiệp - ĐHNN I
3 Đ9804 Lai hữu tính Viện cây lương thực
4 D912 Lai hữu tính Bộ môn cây Công nghiệp - ĐHNN I
5 DT95 Đột biến Viện Di truyền Nông nghiệp
6 DT99 Đột biến Viện Di truyền Nông nghiệp
7 DT96 Lai hữu tính Viện Di truyền Nông nghiệp
8 D907 Lai hữu tính Bộ môn cây Công nghiệp - ĐHNN I
+ Địa điểm: thí nghiệm được thực hiện tại huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương + Điều kiện đất đai: Thí nghiệm được bố trí trên nền đất thịt nhẹ vàn cao + Thời gian:
Thí nghiệm 1: Vụ đông gieo ngày 25/9/2005
Vụ xuân gieo ngày 20/02/2006
* Sơ đồ thí nghiệm 1: Thí nghiệm bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, 3 lần nhắc lại Diện tích mỗi ô 10 m2, tổng diện tích thí nghiệm là
240 m2
Trang 36Dải bảo vệ DT84 D912 DT99 DT95 DT96 Đ9804 D907 D140D140 D907 Đ9804 D912 DT84 DT99 DT95 DT96
* Sơ đồ thí nghiệm 2: Thí nghiệm bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh
3 lần nhắc lại Diện tích mỗi ô 10 m2, tổng diện tích thí nghiệm là 150 m2
Dải bảo vệ CT1 CT4 CT2 CT5 CT3 CT3 CT5 CT4 CT2 CT1 CT5 CT2 CT3 CT1 CT4
Dải bảo vệ
3.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Điều tra hiện trạng sản xuất đậu tương vụ đông và vụ xuân ở huyện
Tứ Kỳ và tỉnh Hải Dương
- Giống và thời vụ gieo trồng trong sản xuất
Trang 37- Biện pháp kỹ thuật đang được áp dụng trong sản xuất
- Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương
- Phân tích ưu thế và những khó khăn trong sản xuất
Phương pháp điều tra: Phỏng vấn nông dân, cán bộ quản lý địa phương, các cơ quan liên quan, số liệu thống kê, số liệu do Sở Nông nghiệp cung cấp
và hệ thống phân phối giống trong toàn tỉnh
3.2.2 So sánh khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số dòng, giống đậu tương trong điều kiện vụ đông và xuân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương
3.2.2.1 Đặc điểm hình thái của các dòng giống
- Loại hình sinh trưởng
- Màu sắc lá
- Màu sắc hoa
- Màu sắc hạt, rốn hạt
3.2.2.2 Đặc điểm sinh trưởng của các dòng, giống đậu tương
- Thời gian từ gieo đến mọc (ngày)
- Thời gian từ gieo đến ra hoa (ngày)
- Thời gian ra hoa (ngày)
- Thời gian gieo đến chín (ngày)
3.2.2.3 Đặc điểm nông học của các giống đậu tương
- Chiều cao thân chính (cm)
- Chiều cao đóng quả (cm)
- Số đốt hữu hiệu (đốt)
- Số cành hữu hiệu (cành)
3.2.2.4 Chỉ số diện tích lá qua các thời kỳ (m 2 lá/m 2 đất)
- Thời kỳ bắt đầu ra hoa
Trang 383.2.2.6 Các yếu tố cấu thành năng suất
* Trước khi thu hoạch
Mỗi ô lấy 10 cây đo, đếm, cân các chỉ tiêu sau:
10
- Năng suất lý thuyết (tạ/ha) = năng suất cá thể x 10.000m2
- Năng suất thực thu (tạ/ha)
Năng suất ôNăng suất thực thu (tạ/ha) =
Trang 39* Sâu đục thân: Đếm số cây bị hại/số cây thí nghiệm, tính tỷ lệ %
* Sâu cuốn lá: Đếm số lá bị cuốn/tổng số lá của cây, tính tỷ lệ %
3.2.3 Tìm hiểu ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương Đ9804 trong điều kiện vụ đông
Trang 403.2.3.1 ảnh hưởng của thời vụ đến sinh trưởng phát triển giống Đ9804 trong vụ đông
- Thời gian từ gieo đến mọc (ngày)
- Tỷ lệ mọc mầm (%)
- Thời gian từ mọc đến bắt đầu ra hoa (ngày)
- Thời gian từ bắt đầu ra hoa đến kết thúc ra hoa (ngày)
- Tổng thời gian sinh trưởng (ngày)
3.2.3.2 ảnh hưởng của thời vụ đến đặc điểm nông học
- Thời kỳ quả mẩy
3.2.3.4 ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến số lượng và khối lượng nốt sần qua các thời kỳ sinh trưởng giống Đ9804 trong vụ đông
- Thời kỳ bắt đầu ra hoa
- Thời kỳ hoa rộ
- Thời kỳ quả mẩy