Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp I
Người hướng dẫn khoa học: TS chu đức thắng
Hà Nội - 2006
Trang 2lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và ch−a từng đ−ợc ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đ−ợc chỉ
rõ nguồn gốc
Tác giả
Chu Nguyên Thạch
Lời cảm ơn
Trang 3Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lời biết ơn chân thành nhất đến TS Chu Đức Thắng, người hướng dẫn khoa học, về sự giúp đỡ một cách nhiệt tình và có trách nhiệm đối với tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Lời cảm ơn chân thành của tôi cũng xin gửi tới các thầy cô giáo trong
Bộ môn Nội Chẩn - Dược- Độc Chất thú y, Bộ môn Vi sinh vật -Truyền nhiễm, bệnh lý, Bộ môn Ký sinh trùng - Kiểm nghiệm thú sản - Vệ sinh thú y khoa chăn nuôi thú y; Khoa Sau đại học, Trường Đại học Nông nghiệp I
Cho phép tôi được bày tỏ lời cảm ơn tới ban lãnh đạo và các cán bộ Trạm kiểm dịch động vật Đồng Đăng - Lạng Sơn đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi để hoàn thành luận văn
Lời cảm ơn chân thành của tôi cũng xin được gửi tới gia đình, bạn bè
và các hộ gia đình có các ao, hồ, lồng nuôi cá ở Huyện Gia Lâm- Hà Nội, Mỹ Văn- Hưng Yên, Thuận Thành-Bắc Ninh đã giúp đõ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tác giả
Chu Nguyên Thạch
Trang 4Mục lục
2.1 Tình hình nuôi trồng thuỷ sản và những nghiên cứu về dịch bệnh trên
2.2 Tình hình Nuôi trồng thuỷ sản và những nghiên cứu về dịch bệnh
trong nước 15 2.3 Những hiểu biết cơ bản về môi trường ao, hồ, đầm nuôi cá 18
2.4 Đặc điểm sinh học trong nước 31
2.6 Một vài đặc điểm của một số loài cá nước ngọt 38
2.7 Đặc điểm của vi khuẩn hiếu khí ở cá nước ngọt 42
3 Nội dung, nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu 52
4.1 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu lý, hoá và vi sinh vật của nguồn
Trang 54.1.1 Kết quả phân tích các chỉ tiêu lý, hoá và vi sinh vật của nước tại
4.1.4 Sự biến động của một số chỉ tiêu lý hoá học theo độ sâu của thuỷ vực 73
4.1.5 Sự biến động một số chỉ tiêu lý hoá theo thời gian trong ngày 76
4.2 Kết quả kiểm tra số lượng vi khuẩn trong nước ao, hồ, đầm nuôi cá 79
4.3 Xác định số loại, số lượng vi khuẩn thường gặp trong tổ chức của cá 80
4.4 Giám định những vi khuẩn phân lập được bằng phản ứng sinh hoá 84
4.5 Số lượng và tỉ lệ xuất hiện những vi khuẩn hiếu khí thường gặp trong
4.5.1 Số lượng và tỉ lệ xuất hiện những vi khuẩn hiếu khí thường gặp
4.5.2 Số lượng và tỉ lệ xuất hiện những vi khuẩn hiếu khí thường gặp
4.6 Kết quả phân lập vi khuẩn từ các tổ chức của cá trắm cỏ bị bệnh đốm
đỏ 94 4.7 Kết quả định lượng vi khuẩn tổng số trong các tổ chức cá trắm cỏ bị
Trang 6Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
Trang 7Bảng 4.5 Biến động của một số chỉ tiêu vật lý và hoá học của nước theo
Bảng 4.6 Số lượng vi khuẩn trong nước ao - hồ - đầm nuôi cá 80
Bảng 4.7 Số loại và số lượng vi khuẩn ở các tổ chức của cá trắm cỏ 81
Bảng 4.8 Số loại và số lượng vi khuẩn ở các tổ của cá trôi 83
Bảng 4.9 Kết quả giám định một số vi khuẩn hiếu khí phân lập được từ
Trang 8Danh mục các hình, biểu đồ
Hình 3.3 Sơ đồ các bước tiến hành định lượng vi khuẩn 60 Biểu đồ 4.1 Biến động của một số chỉ tiêu lý, hóa theo độ sâu của ao
Biểu đồ 4.2 Biến động của một số chỉ tiêu vật lý và hoá học của nước
Biểu đồ 4.3 Tỷ lệ xuất hiện các vi khuẩn hiếu khí trong các tổ chức của
Trang 9có khả năng NTTS Cùng với khai thác thuỷ sản, nghề NTTS đã có từ lâu đời
và ngày càng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế của nước ta, đặc biệt nghề nuôi cá nước ngọt đã có hướng phát triển của tốt Trong những năm gần đây với chính sách đổi mới cơ chế quản lí kinh tế của Đảng và nhà nước, ngành nuôi trồng thuỷ sản đã phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng Diện tích nuôi cá nước ngọt tăng nhanh do chủ trương của nhà nước chuyển đổi diện tích cấy lúa cho năng suất thấp sang nuôi cá cho năng suất cao và ổn
định Điều này đã tạo ra việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống của người làm nghề cá cũng như nghề nông, góp phần đáng kể vào thu nhập quốc nội của nước ta Năm 2003, sản lượng nuôi trồng thuỷ sản đạt 1.110.138 tấn, trong đó NTTS nước ngọt 589.051tấn, tăng 16,3% so với năm 2002 [16]
Cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế, việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng cũng phát triển mạnh do có điều kiện địa lý phù hợp, dân cư đông đúc
NTTS là một trong nhiều nghề sử dụng tài nguyên thiên nhiên là đất và nước, luôn gắn bó với môi trường sinh thái Nước có vai trò quan trọng và quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngành NTTS Vì vậy, nếu không có diện tích mặt nước thì không thể phát triển ngành NTTS Bởi lẽ, nước là môi trường sống bắt buộc của động vật thuỷ sinh, nó vừa cung cấp chất dinh dưỡng
Trang 10vừa là nơi chốn tránh động vật gây hại trên cạn Những yếu tố tự nhiên của nước như nhiệt độ, độ pH, hàm lượng các chất hoà tan trong nước… độ nhiễm bẩn trong nước có ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của các giống cá nước ngọt Muốn phát triển nghề NTTS trước tiên phải đảm bảo nguồn nước sạch phù hợp với nhu cầu và phát triển của từng loài cá nuôi Nhưng thực trạng nguồn nước ở các ao, hồ, đầm hiện nay đang đứng trước nguy cơ bị ô nhiễm bởi các nguồn chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt và quy trình chăn nuôi không đúng kỹ thuật Chính vì vậy, trong những năm gần
đây tình hình dịch bệnh trên đàn cá nuôi xảy ra khá nhiều và gây thiệt hại lớn cho các hộ nuôi cá Đa số các bệnh thường gặp ở cá nuôi nước ngọt là do vi sinh vật gây ra, có thể là tác nhân trực tiếp hay gián tiếp Mặc dù vậy, nghiên cứu hệ vi sinh vật tồn tại và gây bệnh trên các giống cá nước ngọt còn ít và chưa
có hệ thống Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Nghiên cứu một số bệnh thường gặp do vi khuẩn hiếu khí gây ra ở cá
nước ngọt một số tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng” Trên cơ sở đó khuyến
cáo cho các hộ nuôi cá biết cách chẩn đoán và phòng trị bệnh, làm giảm thiệt hại của bệnh, góp phần nâng cao sản lượng và hiệu quả của ngành NTTS
1.2 Mục đích của đề tài
- Xác định các chỉ tiêu thuỷ lý, thuỷ hoá ở các ao, hồ, đầm nuôi cá nước ngọt ở một số địa điểm vùng đồng bằng sông Hồng
- Xác định một số vi khuẩn hiếu khí thường gặp trên cơ thể một số giống cá nước ngọt nuôi truyền thống, ở trạng thái khoẻ mạnh và bị bệnh
- Xác định độ mẫn cảm của các vi khuẩn phân lập được trên cá bệnh
- Thử nghiệm điều trị bằng các loại kháng sinh có độ mẫn cảm cao với vi khuẩn phân lập trên cá bệnh
Trang 112 Tổng quan tài liệu
2.1 Tình hình nuôi trồng thuỷ sản và những nghiên cứu về dịch bệnh trên thế giới
2.1.1 Tình hình nuôi trồng thuỷ sản
Trong thời gian từ vài thập kỷ trở lại đây, ngành NTTS đã phát triển mạnh, liên tục tăng mức đóng góp vào sản lượng thủy sản trên thế giới, từ chỗ chỉ chiếm 7,3% sản lượng trong năm 1970, hiện nay đã lên tới 33,92% (Trần- Nhung, 2003) [16]
Năm 2000, tổng sản lượng NTTS trên thế giới đạt 45,71 triệu tấn (tăng 6,3% so với năm 1999) trị giá 56,470 tỷ USD (tăng 4,8% so với năm 1999) trong đó hơn một nửa là sản lượng cá nuôi (23,07 triệu tấn, đạt 50,4%) [16]
Theo thống kê của FAO, năm 2001, sản lượng thủy sản trên thế giới đạt 42,1 triệu tấn, trong đó NTTS đạt 48,42 triệu tấn, khai thác đạt 93,65 triệu tấn [16]
Mặc dù tỷ lệ tăng trưởng chung của NTTS là khá vững chắc, từ năm
1990 đến năm 2000 đạt 10,5%/năm, nhưng sự tăng này không đồng đều giữa các nhóm loài và qua từng thời kỳ Tỷ lệ tăng của cá nuôi trong thập kỷ 90 chững lại và giảm hơn so với thập kỷ 80 Cụ thể là giai đoạn 1980 - 1990 sản lượng cá nuôi đạt mức tăng 12,1%, nhưng giai đoạn 1990 - 2000 mức tăng của cá nuôi chỉ đạt 10,13% (Trần Nhung, 2003) [16]
2.1.2 Những nghiên cứu về dịch bệnh do vi khuẩn trên cá
Theo tài liệu của G.Post, vi khuẩn gây bệnh cho cá được phát hiện đầu tiên vào năm 1894 Nhưng những nghiên cứu về vi khuẩn chỉ phát triển mạnh vào những năm 1947 trở lại đây
Ngay từ năm 1904, Plehn đã cho rằng tác nhân gây bệnh đốm đỏ là do
Trang 12vi khuẩn Tiếp sau đó, người có nhiều đóng góp và phát triển quan điểm này là Shaperclaus (1954 - 1979), theo ông vi khuẩn gây bệnh đốm đỏ có thể là
Pseudomonas và Aeromonas [33]
Hội chứng dịch bệnh lở loét là một trong những bệnh truyền nhiễm gây thiệt hại nghiêm trọng đến năng suất và sản lượng nuôi trồng thuỷ sản ở nhiều nước trên thế giới Theo Rodge và Burke (1981), vào thời điểm tháng 3-1972 ở miền trung Queensland (úc) một số loài cá tự nhiên sống ở sông đã xuất hiện các vết loét nông rộng trên thân Ông cũng cho rằng một số loài cá nước ngọt sống tách biệt cũng bị nhiễm bệnh [33]
Dịch bệnh năm 1982-1983 tại Thái Lan làm thiệt hại hơn 200 triệu bạt tương đương 8,7 triệu USD theo Tonguthai (1985) Nếu tính thiệt hại do dịch bệnh gây ra trong thời gian 1982-1993 ở Thái Lan thì tổn thất lên tới trên 100 triệu USD [56]
Kataba.Z 1985, ở Trung Quốc, đã có những thông báo đầu tiên về tác
nhân gây bệnh đốm đỏ, các nhà nghiên cứu cho rằng vi khuẩn A.hydrophila là
tác nhân gây bệnh ở hầu hết các loài cá như trắm cỏ, trắm đen, cá chép, cá mè Tại tỉnh Triết Giang, dịch bệnh đã gây chết 50 - 90% sản lượng cá Tuy nhiên khi điều tra nhận thấy cá chép và cá mè bị ảnh hưởng ở mức độ nhẹ hơn [50]
Những nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc cũng cho thấy
một số loài Pseudomonas sp và Aeromonas sp là tác nhân gây bệnh đốm đỏ ở
cá trắm cỏ, trắm đen Kết quả nghiên cứu của Sở Thủy sinh vật Hồ Bắc, Trung Quốc khi phân lập từ cá trắm cỏ và cá trắm đen bị bệnh cho biết tác nhân gây
bệnh là vi khuẩn A functata [18]
Theo tài liệu của G.Nicolas Frerichs (1984), cho rằng hai loài vi khuẩn
di động A punctata và A.hydrophila là động vật nhưng khác tên và được gọi chung là Aeromonas hydrophila [44]
Trang 13Theo Bachadul Shrestal, tác nhân gây bệnh lở loét ở cá tại Nepal là
A.hydrophila, ngoài ra còn có thể có vai trò của ký sinh trùng, nấm trong việc
hình thành dịch bệnh [54]
Theo Popoff M (1984), nhóm vi khuẩn Aeromonas di động sống trong môi trường nước ấm gồm ba loài cơ bản: A.hydrophyla, A.Caviae, A.Sobria [55]
Năm 1993, Roberts và Ctv đã đưa ra những nhận xét về vi khuẩn
A.hydrophyla Theo tác giả, vi khuẩn A.hydrophila phát triển trong phạm vi
nhiệt rộng, thường rộng hơn phạm vi chịu nhiệt của cá Chúng có những đặc
điểm: bắt mầu Gram âm, hiếu khí tuỳ tiện, không sinh nha bào và di động với một roi ở đầu [57]
Nhóm Aeromonas di động liên quan đến một số hội chứng dịch bệnh ở môi trường nước ấm Thông thường liên quan đến bệnh xuất huyết nhiễm khuẩn, bệnh chướng bụng, miệng đỏ lở loét, mục nát vây [49]
Theo J.Janda (1991), khi phân loại vi khuẩn ở mức độ phân tử (DNA) thì có ít nhất 13 loài mới đã được công nhận Trong đó có một số loài mới đã
được mô tả như: A vironii, A schuberetii, A eucrenophila, A jandaii, A
amedia và A trota Tuy nhiên, vai trò của chúng đối với bệnh nhiễm khuẩn
máu thì vẫn chưa được biết rõ [47]
Vi khuẩn A.hydrophila có liên quan chặt chẽ đến hội chứng lở loét và
nó là nguyên nhân gây chết cho cá tự nhiên và cá nuôi với số lượng lớn tại nhiều vùng ở Đông Nam á [51]
Indrani Karunasagar, đã phân lập được nhiều loài vi khuẩn trong các vết
loét của cá bị bệnh ở ấn Độ bao gồm một số loài thuộc họ Enterbacteriaceae,
Pseudomonaceae, Athrobacter sp [48]
Stuart Millar (1986), đã phân lập được A.hydrophila, A sobria trong
các vết loét của cá bị mắc hội chứng lở loét ở Bangladesh [53]
Trang 14Bondad-Reantaso và Ctv (1990), đã phân lập được A.hydrophila và
Flexibacter columnaris từ những vết loét của cá quả và cá trê bị mắc hội
chứng lở loét ở Philippin [40]
R.B Callinan cũng đã phân lập được một số loài trong họ Aeromonas
và Pseudomonas tại những vết loét trên cá bị mắc hội chứng lở loét ở
Australia Ông cho rằng hội chứng lở loét và bệnh đốm đỏ có những điểm giống nhau [41]
Rodger (1998), Stirling Scottland đã phân lập được A.hydrophila trong một số tổ chức của cá trắm cỏ bình thường, điều này cho thấy A.hydrophila có
thể không là tác nhân chính gây ra bệnh đốm đỏ
Những nghiên cứu của G.D.Lio-po, L.T Albright, E.V
Alapie-tendercia về Hội chứng lở loét ở Bangladesh, các tác giả cũng tìm thấy
Pseudomonas sp và A.hydrophila trong một số tổ chức của cá khoẻ sống trong
vùng bị ảnh hưởng của Hội chứng lở loét [52]
Năm 1989 Ronald J Robert đã phân lập được A.hydrophila từ cá bệnh
thuộc khu vực châu á và ông cho rằng đây là tác nhân gây bệnh quan trọng nhất Tuy nhiên ông chỉ phân lập được chúng ở giai đoạn cuối của bệnh Ông cho rằng đây là tác nhân gây bệnh thứ cấp cho cá [58]
Những nghiên cứu của Valerie Inglis, Ronald J Robert, Niall R
Bromage thông báo rằng chủng Aeromonas di động có liên quan đến bệnh xuất huyết đốm đỏ ở cá nước ngọt là A.hydrophila, A.caviae, A sobria chúng
có đặc điểm bắt màu Gram âm, hiếu khí tuỳ tiện, không sinh nha bào, di động
và có tiên mao [46]
Theo R.L Thune, L.A Stanley, R.K Cooper (1993) thì khuẩn
Aeromonas di động có khả năng xâm nhập và kháng lại hệ miễn dịch của ký
chủ ở cường độ cao Chúng có thể xâm nhập vào một số tế bào như: tế bào
Trang 15máu, tế bào biểu mô và da cá, đó là khởi đầu cho sự phát triển của bệnh Do
đó cần phải nghiên cứu và có những hiểu biết về những yếu tố liên quan đến
chất độc tố trong vi khuẩn Aeromonas di động [59]
2.2 Tình hình Nuôi trồng thuỷ sản và những nghiên cứu về dịch bệnh trong nước
ao hồ chứa mặt nước lớn; 580.000ha ruộng úng trũng, ruộng lúa cấy 1 hoặc 2
vụ bấp bênh, kém hiệu quả nhưng có khả năng NTTS xen canh gối vụ hoặc luân canh có hiệu quả cao và 600.000ha vùng triều Tính đến năm 1999 chúng
ta mới khai thác và sử dụng NTTS được 630.000ha mặt nước chiếm 37,05% tổng diện tích tiềm năng Theo kết quả điều tra nông nghiệp, nông thôn và thuỷ sản, năm 2001 số hộ NTTS là 512,3 ngàn hộ chiếm 3,7% tổng số hộ điều tra, tập trung nhiều nhất ở vùng đồng bằng sông Hồng 33,3% Trong tổng số
hộ NTTS số hộ nuôi cá chiếm phần lớn với 86,2%, chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc 74,5% Quy mô NTTS của các hộ phần lớn còn nhỏ 89,2% số hộ nuôi ở quy mô dưới 5000m2 Trong đó số hộ có diện tích nuôi dưới 1000m2 chiếm 77%
Số hộ nuôi lớn hơn 5000m2 chiếm 10,8%, trong đó có 62569 hộ NTTS quy mô
từ 2ha trở lên, đã phản ánh phần nào quá trình tích tụ chuyên môn hóa sản xuất trong thuỷ sản Trong các hộ NTTS với quy mô lớn có 17.016 hộ đạt tiêu chí trang trại Tuy nhiên, ngành NTTS Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều vấn đề, nếu những người NTTS không có những giải pháp nhanh chóng, hiệu
Trang 16quả và đồng nhất thì không thể phát triển NTTS bền vững được Ngoài các giải pháp về kỹ thuật để nâng cao năng suất và chất lượng thuỷ sản nuôi, đa dạng hoá đối tượng nuôi, loại hình nuôi, phát triển công nghệ sinh học trong NTTS, sản xuất thức ăn phù hợp, các biện pháp phòng trừ dịch bệnh, phương pháp bảo quản và thu hoạch Bên cạnh đó, vấn đề ô nhiễm môi trường hiện nay ngày càng gia tăng do ảnh hưởng của các hoạt động nuôi, tình trạng nhiễm hoá chất và kháng sinh trong thuỷ sản nuôi làm ảnh hưởng tới sức khoẻ của người tiêu dùng Tình trạng lan truyền mầm bệnh do hoạt động di giống, nhập giống
và cấp thoát nước bừa bãi Vì vậy, vấn đề đặt ra trong NTTS là phải tạo được môi trường sạch để nuôi thuỷ sản nói chung và nuôi cá nước ngọt nói riêng
Từ năm 1981 đến 1982, dịch bệnh xảy ra trên các loài cá nuôi tự nhiên
ở vùng Nghệ An - Hà Tĩnh, sau đó dịch bệnh lan dần ra phía Bắc và phía Nam
Đợt dịch bệnh này phát triển mạnh nhất, gây thiệt hại lớn cho sản lượng cá tự nhiên và cá nuôi trong cả nước Cũng trong thời gian này (1982 - 1983), bệnh
đốm đỏ đã xuất hiện nhiều trong các ao cá trắm cỏ bố mẹ ở Hoàng Liên Sơn Hàng tấn cá bố mẹ bị bệnh gây ảnh hưởng đến năng suất cá giống, ước tính sức sinh sản của đàn cá bố mẹ giảm đi 30 - 40% [12]
Những công bố đầu tiên ở Việt Nam về nghiên cứu tác nhân gây bệnh
đốm đỏ là của Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Thị Xuyến và Đào Trọng Hùng Tại các công trình nghiên cứu này, các tác giả đã phân lập được vi khuẩn gây bệnh đốm đỏ cho cá trắm cỏ là trực khuẩn hai đầu hơi tròn, kích thước 1,42-
Trang 172,18 x 0,38-0,76àm, bắt màu Gram âm, không hình thành nha bào, có khả năng di động, khuẩn lạc của chúng có kích thước 1-2mm tròn hơi lồi, rìa nhẵn
và bóng [30]
Đầu năm 1983, bệnh lở loét xuất hiện ở đồng bằng Nam Bộ với mức độ nhẹ Đến cuối năm 1983 đầu 1984 dịch bệnh bùng nổ khắp các vùng sông Tiền, sông Hậu, và trên các hệ thống kênh rạch Các đối tượng cá trắm, cá mè, cá quả, cá trê, cá tra bị thiệt hại nhiều không chỉ ở các vực nước tự nhiên mà còn thiệt hại nhiều trong các bè nuôi cá, bệnh làm cá chết nhiều, giảm tới 30 - 40% sản lượng cá thịt trong các bè nuôi [22]
ở miền Bắc từ tháng 11/1987 đến 4/1988, trên sông Đà 100% số lồng cá trắm cỏ bị bệnh đốm đỏ, gây tổn thất cho hơn 80% số lồng nuôi Tháng 6 - 7/1992 dịch bệnh phát triển mạnh ở Hoà Bình tỷ lệ nhiễm 42/43 lồng [21]
Năm 1993 - 1995, bệnh xuất hiện trong một số ao nuôi ở các trại sản xuất cá giống: Gia Lâm, Đông Anh, Thanh Trì, làm cá chết nhiều, ảnh hưởng
Năm 1973 – 1974, công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Thành đã
xác định tác nhân gây bệnh đốm đỏ ở cá trắm cỏ là Aeromonas punctata [30]
Trong báo cáo nghiên cứu đề tài KN.04 - 12 năm 1992 của Bùi Quang
Tề và Ctv, đã phân lập được hai nhóm vi khuẩn Nhóm 1 có đặc điểm tương tự
A.punctata và nhóm 2 có đặc điểm tương tự A.hydrophila [23]
Kết quả thu mẫu năm 1994, trên cá trắm cỏ nuôi lồng ở sông Hồng và
Trang 18sông Đuống đã nhận thấy ngoài vi khuẩn thường gặp là A.hydrophila còn gặp một số chủng khác như Pseudomonas sp và phân lập được một số nấm thuỷ
my Saprolegnia sp ký sinh trên các vết loét của cá [21]
Qua nhiều nghiên cứu Bùi Quang Tề cho rằng Aeromonas hydrophila là nguyên nhân thông thường gây nên bệnh nhiễm khuẩn máu của cá sống trong môi trường nước ấm, nơi có hàm lượng chất hữu cơ cao Đây là loài vi khuẩn thường gây bệnh cho cá nuôi và cá sống trong khu vực nước tự nhiên ở nước ta [27]
Từ năm 1996 – 1998, phòng bệnh cá Viện nghiên cứu NTTS 1 đã tiến hành phân tích 198 mẫu cá bệnh trong đó xuất hiện 71,7% mẫu bệnh có vi
khuẩn A.hydrophila, các loài vi khuẩn khác ít gặp Theo kết quả định lượng vi khuẩn ở môi trường nước thì nhóm vi khuẩn (A.hydrophila, A.Caviae,
P.fluorescens) luôn luôn tồn tại trong nước, khi có điều kiện thuận lợi chúng
2.3.1 Khái niệm về ao nuôi cá
Ao nuôi cá là môi trường hạn chế về mặt diện tích và thể tích, những yếu tố vô cơ và hữu cơ, các yếu tố về vi sinh vật sống trong ao có quan hệ chặt chẽ với nhau (Nguyễn Hữu Thọ, Đỗ Đoàn Hiệp, 2004) [31] Ao nuôi cá có diện tích mặt nước nhỏ hình thành do đào hoặc đắp với nhiều mục đích khác nhau như: đào ao để lấy đất đắp nền nhà, đôn cao vườn, lấy đất làm gạch ngói,
có nơi dùng để giữ nước phục vụ cho chăn nuôi trồng trọt
Những yếu tố môi trường ao nuôi cá ảnh hưởng trực tiếp đến cá nuôi như:
Trang 19- Các yếu tố vật lý, nhiệt độ, ánh sáng, độ trong
- Các yếu tố về hoá học: DO, COD, pH, hàm lượng các chất khí hoà tan
- Các yếu tố về sinh học: vi sinh vật, sinh vật phù du, sinh vật đáy…
- Các yếu tố về kỹ thuật: diện tích, độ sâu, độ dày lớp bùn, mật độ thả Trong những năm gần đây, trên cơ sở nghiên cứu những yếu tố môi trường ao nuôi có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của cá nuôi, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong mỗi đơn vị diện tích ao nuôi, thông thường xây dựng đầm, ao phải thuận tiện nguồn nước cấp, có hệ thống kênh mương cấp nước vào xây nổi và kênh mương thoát nước thải chìm sâu hơn đáy ao là
Đào ao hình vuông hay chữ nhật là phù hợp cho vận hành các thiết bị và công tác quản lý môi trường(máy sục khí, máy quạt đập nước, kéo lưới ) Độ sâu của ao phải đảm bảo từ mặt nước xuống đáy từ 1,0 đến1,5m là thích hợp
Từ mặt nước lên đến chân bờ cách khoảng 0,3-0,5m Đỉnh mặt bờ ao cao hơn mặt đất liền 0,2-0,5m, đắp dạng thoai thoải, chân bờ rộng 2-2,5m, mặt bờ rộng 1,0-1,5m, bờ được đập nén kỹ để tránh rò rỉ nước Chú ý thành ao phía dưới bờ
có độ thoải lớn hơn phần bờ trên mặt đất, đáy ao được dọn hết các rác bẩn và bùn thối (nhặt bỏ cành cây, đá sỏi to ) xan phẳng hơi dốc nghiêng về phía cống tiêu để có thể tháo được cạn kiệt nước trong ao
Xây cống tiêu thoát trong ao ở phía mương tiêu, cống thoát có thể tháo
Trang 20nước theo các tầng thoát (tầng mặt, tầng giữa, tầng đáy) Trường hợp kênh, mương tiêu không thể sâu hơn đáy ao thì sử dụng phương pháp xi phông (bình thông nhau) vẫn rút được nước từ đáy ao ra
2.3.2 Đặc điểm lý học của nước ao, hồ, đầm
2.3.2.1 Màu sắc
Nhiều người làm nghề nuôi trồng thuỷ sản giầu kinh nghiệm thường xem mầu nước có thể biết tình trạng tốt hay xấu của ao, từ đó quyết định giải pháp thích hợp để đạt hiệu quả cao nhất Vậy cơ sở của việc xem mầu nước ra sao chúng ta cùng xem xét cụ thể:
Trước hết chúng ta phải loại trừ hai hiện tượng gây nên ảo giác mầu cho người quan sát: sự tương phản của cảnh vật, không gian ở xung quanh vùng nước (chẳng hạn cây cối, bầu trời, đồi núi ) và sự khúc xạ ánh sáng thường làm ta lầm tưởng nước có mầu Để loại trừ ta phải múc nước vào lọ thuỷ tinh trong suốt để quan sát
Màu sắc nước ao, hồ, đầm có thể sơ bộ đánh giá tình trạng tốt, xấu của
ao, hồ, đầm nuôi cá, bao gồm màu giả và thật Màu thật do các yếu tố tạo màu trong nước gây nên bao gồm:
- Các chất hoà tan: các chất mầu vô cơ và hữu cơ (một số chất như chất muối sắt có màu vàng nâu, muối đồng có màu xanh lam)
- Các chất vẩn cặn như cát, phù sa, keo đất làm nước đục màu đất
- Các vi sinh vật phù du chủ yếu là các tảo phù du, tảo lục và tảo khuê làm nước có màu xanh lục Tảo lam tạo màu xanh lam Tảo trần gây nên màu vàng nâu Tảo giáp gây nên màu nâu hoặc màu nâu đen
- Các chất bùn bã hữu cơ thường gây nên màu nước đen và có mùi thối Tuỳ theo mức độ ảnh hưởng của các yếu tố trên mà tạo nên mầu nước Nước có nhiều phù sa, vẩn cặn hữu cơ, tảo phù du đều là loại giầu dinh
Trang 21dưỡng Tuy nhiên nếu thấy xuất hiện các màng hoặc váng mỏng trên mặt ao (dù là màng vô cơ như của canxicacbonat hay của các chất hữu cơ hoặc các tảo phù du nở hoa) cũng đều không có lợi cho tôm cá phát triển, cần được loại
bỏ ngay bằng cách thay nước sạch hoặc vớt, hút các màng đó khỏi mặt ao
- Nước có màu xanh nõn chuối (tức là mầu của tảo lục hoặc tảo khuê chiếm ưu thế) là tốt nhất cho sự phát triển của cá nước ngọt
2.3.2.2 Nhiệt độ
Nhiệt độ của nước ảnh hưởng đến nhiều quá trình sinh học trong nước, như quá trình phân huỷ của các hợp chất hữu cơ, chu kỳ sinh trưởng và phát triển của tảo, động vật phù du Đặc biệt nhiệt độ ảnh hưởng tỷ lệ thuận với khả năng chuyển hoá tạo dinh dưỡng từ nguồn phân bón hữu cơ trong ao Theo Van Hoff, nhiệt độ tăng 10ºC thì tốc độ phản ứng tăng 2-3 lần Ngoài ra nhiệt
độ còn ảnh hưởng đến sự tồn tại của các chất khí và mức độ bão hoà của chúng trong nước
Nguồn cung cấp nhiệt độ cho thuỷ vực chủ yếu từ năng lượng bức xạ của mặt trời Chính vì vậy, sự biến động nhiệt độ của môi trường nước có quy luật theo ngày đêm và theo mùa rõ rệt Thường nhiệt độ của thuỷ vực về ban ngày cao hơn về ban đêm và về mùa hè cao nhất trong năm, về mùa đông thấp nhất trong năm
Nhờ đặc tính lưu giữ nhiệt tốt, nên sự biến động nhiệt độ môi trường nước ít hơn so với không khí trong cùng điều kiện
Hiện tượng đối lưu nhiệt chủ yếu xẩy ra mạnh vào mùa đông, do lớp nước bề mặt tiếp xúc với không khí lạnh nên nhiệt độ giảm đồng thời tỷ trọng tăng, lớp nước này chìm xuống đáy Trong khi lớp nước dưới đáy có nhiệt độ cao hơn, tỷ trọng nhỏ hơn và nổi lên trên, cứ như vậy đã tạo nên hiện tượng
đối lưu tầng mặt và tầng đáy Do đó, làm bớt chênh lệch nhiệt độ cũng như lượng oxy hoà tan giữa lớp nước bề mặt và lớp nước ở đáy của thuỷ vực Về
Trang 22mùa hè đặc biệt ở các thuỷ vực tù đọng hầu như không có sự đối lưu nhiệt nên
sự chênh lệch nhiệt độ cũng như hàm lượng oxy hoà tan giữa tầng mặt và tầng
đáy khá lớn Vì vậy, về mùa hè, kèm theo hiện tượng phân tầng về nhiệt độ là hiện tượng phân tầng về hàm lượng oxy hoà tan, nhiều khi tầng đáy bị thiếu oxy nghiêm trọng do không có đối lưu nhiệt
Nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của hầu hết các thuỷ sinh vật từ 20
- 300C (Nguyễn Đức Hội, 2001) [7] Nhiệt độ dưới 150C làm giảm quá trình tiêu hoá và hấp thu dinh dưỡng, làm cho tôm cá chậm phát triển Ngược lại nhiệt độ cao cũng làm cho thuỷ sinh vật mất cân bằng sinh lý cơ thể, hầu hết tôm cá bị chết ở ngưỡng nhiệt độ ≥ 390C Sự thay đổi nhiệt độ đột ngột trong thời gian ngắn cũng gây sốc cho vật nuôi, đôi khi dẫn dến chết do sốc nhiệt Nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình thành thục của cá, quá trình phát triển phôi
Cá là động vật biến nhiệt, nhiệt độ cơ thể chúng chủ yếu phụ thuộc vào nhiệt độ nước, dù chúng có vận động thường xuyên thì kết quả vận động sinh
ra nhiệt không đáng kể Mỗi loại cá, mỗi giai đoạn phát triển của cá yêu cầu
có giới hạn nhiệt độ thích ứng khác nhau Trong khoảng nhiệt độ thích hợp, trạng thái sinh lý của cơ thể cá bình thường sinh trưởng phát triển tốt Khi nhiệt độ của môi trường nước ngoài phạm vi thích ứng thì trao đổi chất của cơ thể cá bị rối loạn, chức năng hoạt động của các cơ quan bị phá huỷ và có thể làm cho cá chết Nhiệt độ dưới 60C hoặc trên 420C làm cá rô phi chết (Dương Tuấn, 1978) [34]
Khi nhiệt độ tăng quá cao thì khả năng chịu đựng của cá với CO2, NH3,
H2S giảm, lượng oxy tiêu hao tăng [11]
Khả năng chịu đựng với CO2, NH3, H2S, tiêu hao oxy ở giai đoạn cá hương của một số loài cá
Trang 23Vì vậy cần phải theo dõi chế độ biến thiên nhiệt độ của thuỷ vực đều đặn,
thường xuyên để kịp thời có biện pháp khắc phục
2.3.2.3 Độ trong - đục
Độ trong đục của nước do các sinh vật nhỏ sinh ra và bao gồm toàn bộ các
chất sống và chết lơ lửng trong nước, từ đó tạo nên phần lắng đọng Vi sinh vật
cỡ nhỏ bao gồm: chất vẩn vô cơ được đưa vào thuỷ vực từ đất, mùn được cấu thành từ các mảnh vụn rất nhỏ của chất vô cơ và phần lớn có chứa các nguyên
tố của chất sống Sinh vật phù du tức là động thực vật lơ lửng trong nước
Nước trong thuỷ vực đục sẽ làm giảm khả năng quan sát của cá khi đi kiếm mồi, dễ bị kẻ thù tiêu diệt Tuy nhiên, điều tệ hại hơn lại ở phương diện
khác hoàn toàn, đó là sự chiếu sáng vào vùng nước bị hạn chế do độ đục lớn
và hậu quả là sự quang hợp của tảo phù du bị giảm nghiêm trọng Sự chiếu sáng vào vùng nước đục bị hạn chế làm cho sự quang hợp của tảo phù du giảm
nghiêm trọng, mà tảo phù du là sinh vật sản xuất số một của thuỷ vực, nhờ có
chúng thực hiện quá trình quang hợp mới tạo ra vật chất hữu cơ (dinh dưỡng)
cho thuỷ vực
Nước trong quá cũng không tốt cho sự phát triển của cá Trường hợp này
dù ánh sáng có xuyên khá sâu vào vùng nước nhưng không có mặt của tảo phù
du để sử dụng Mặt khác, để tạo điều kiện cho các loài rong tảo đáy phát triển
gây hại cho cá
Trang 24Vậy nên, chúng ta cần phải hiểu ý nghĩa của việc xác định độ trong, thực chất là giúp ta đánh giá cân đối giữa hai yêu cầu: cần có mặt tảo phù du và cũng cần có điều kiện để bức xạ ánh sáng đi sâu vào vùng nước
2.3.3 Đặc điểm hoá học của nước
2.3.3.1 Độ pH
Để đặc trưng cho các mức độ diễn biến khác nhau của tính axit và tính kiềm của môi trường nước người ta dùng đại lượng “độ pH” Độ pH của các dung dịch nước biến thiên trong phạm vi từ 1 đến 14 độ kèm theo các thuộc tính sau:
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Axit mạnh Axit yếu Trung
tính
Kiềm yếu
Kiềm mạnh pH
Hầu hết cơ thể thuỷ sinh vật phát triển tốt ở môi trường pH = 6,5 - 8,5 (độ pH) Như vậy là hơi lệch sang tính kiềm yếu Tuy nhiên sự thích ứng với
độ pH của môi trường cũng có sai khác giữa các loài thuỷ sinh vật Phạm vi
pH từ 6 - 9 có thể chấp nhận trong lĩnh vực NTTS (Nguyễn Đức Hội, 2001) [7] Độ pH liên quan đến dạng tồn tại của nhiều chất, do đó liên quan tác dụng sinh lý đối với vật nuôi Ví dụ: hệ đệm cacbonic-cacbonat, H2S độc ở pH<7,
NH3 độc ở pH>7 (Nguyễn Đức Hội, 2003) [8]
Nguồn gốc gây tính axit của môi trường nước: trong thiên nhiên, nguồn gốc chủ yếu là do thành phần đất, đất sét có chứa nhiều oxyt nhôm, đất đồi đỏ nâu do chứa nhiều oxyt sắt làm cho nước có vị chua, nước trong hoặc có váng
rỉ sắt, độ pH có thể <6 Vì vậy, đối với ao mới đào hoặc đào sâu xuống nền đất sét cần phải khử chua bằng cách bón vôi Ngoài ra, trong quá trình tích đọng mùn bã hữu cơ hoặc do bón quá nhiều phân hữu cơ như phần chuồng, phân xanh, các hợp chất hữu cơ phân huỷ tạo nên nhiều axit mùn và axit cacbonic cũng khiến cho môi trường nước bị chua, độ pH < 7
Biện pháp khử chua thông thường là dùng vôi (vôi bột của các loại
Trang 25CaO, CaCO3, Ca(OH)2, dolomite )
Nguồn gốc gây tính kiềm của môi trường nước: trong thiên nhiên rất hiếm khi gặp nguồn nước có tính kiềm cao, một số mạch nước ngầm hoặc suối chảy ra từ khu hệ núi đá vôi mới có thể mang tính kiềm Thường gặp môi trường nước có tính kiềm là do tác động của con người, trong quá trình sử dụng vôi để bón cho ruộng đồng hoặc bón lót tẩy ao
Để khắc phục khi gặp môi trường kiềm quá cao (pH>9) cần tháo bớt nước, thay nước sạch trung tính vào hoặc nếu môi trường còn nghèo dinh dưỡng có thể kết hợp bón phân hữu cơ và lá dầm, nếu cần thiết phải dùng phèn chua tán nhỏ rồi đổ xuống ao, nhiều nơi còn dùng đường cát, axit axetic để giảm độ pH
Ngoài các nguồn gốc trên, độ pH của môi trường nước cần được chú ý khi bị ảnh hưởng của nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt
2.3.3.2 Oxy hoà tan
Trong nước, oxy là dưỡng khí cần thiết, nó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hô hấp của thuỷ sinh vật Hàm lượng oxy hoà tan trong nước phụ thuộc vào nhiệt độ, sự khuếch tán của oxy từ không khí vào, sự hô hấp và quang hợp của thuỷ sinh vật và các quá trình phân huỷ hợp chất hữu cơ có trong ao
Hàm lượng oxy hoà tan trong nước có nguồn gốc từ không khí và do sự quang hợp của tảo ngay trong nguồn nước Sự khuếch tán oxy từ không khí vào nước phụ thuộc vào diện tích mặt thoáng, phụ thuộc vào nhiệt độ Mặt thoáng càng lớn càng tạo điều kiện cho oxy từ không khí hoà tan vào nước Mặt nước bị che cớm hoặc bị bèo phủ sẽ làm cho vùng nước bị thiếu oxy
Theo Nguyễn Đức Hội, 2001 [7], nhiệt độ tăng thì sự hoà tan của oxy vào nước giảm và ngược lại
ở nhiệt độ 100C độ bão hoà oxy trong nước là 11,35mg/lít
ở nhiệt độ 200C độ bão hoà oxy trong nước là 9,19mg/lít
Trang 26ở nhiệt độ 300C độ bão hoà oxy trong nước là 7,67mg/lít
ở nhiệt độ 350C độ bão hoà oxy trong nước là 7,10mg/lít
Sự quang hợp của tảo trong môi trường nước đóng vai trò rất lớn, vừa chuyển hoá khí độc CO2 thành O2, vừa chuyển hoá năng lượng mặt trời thành các dạng năng lượng dự trữ của vật chất hữu cơ, tạo sinh khối cho vùng nước Chính nhờ sự quang hợp của tảo đã làm oxy hoà tan trong nước nhiều khi vượt quá sự bão hoà của nó theo nhiệt độ Sự quang hợp của tảo gây ra quy luật biến động ngày đêm của oxy trong vùng nước: hàm lượng oxy thấp nhất vào lúc sáng sớm(4-5giờ) và đạt cao nhất vào khoảng 2 giờ chiều
Chăm bón cho ao để duy trì được mật độ tảo phù du từ 2 đến 5 triệu cá thể/lít, không những làm giầu dinh dưỡng cho ao mà còn tạo ra cơ chế sản xuất oxy ngay trong vùng nước, giúp tôm, cá phát triển tốt, khoẻ mạnh Trong thuỷ vực NTTS, hàm lượng oxy cần đạt từ 3,0 - 8,0 mg/lít Ngưỡng chịu đựng hàm lượng oxy thấp của các loài khác nhau cũng rất khác nhau Các loài cá thân mầu trắng như trắm, mè, chép, trôi … thường kém chịu ngưỡng oxy thấp Những loài cá có cơ quan hô hấp phụ như cá rô, cá trê có thể chịu đựng lượng oxy rất thấp, nhiều khi gần bằng 0,1mg/lít [32]
Khi hàm lượng O2 hoà tan trong nước (DO) bằng 1mg/lít, thì cá trắm
cỏ, trắm đen, mè trắng, mè hoa bắt đầu nổi đầu, nếu DO từ 0,4-0,6mg/lít thì cá chết ngạt (Hà Ký, Bùi Quang Tề, Nguyễn Văn Thành,1992) [13]
Có lúc O2 đầy đủ nhưng hàm lượng CO2 quá cao, lên đến 8mg/lít, ở nhiệt
độ 20-310C, CO2 trong máu cá không thoát ra ngoài được làm ức chế thần kinh trung ương, có thể dẫn đến hôn mê và chết (Bùi Quang Tề,1997) [24]
Hàm lượng oxy quá bão hoà dễ tạo thành bọt khí thoát ra khí quyển,
đối với ấu trùng tôm và cá nhỏ dễ bị bệnh bọt khí (tắc mạch máu, nổ mắt )
2.3.3.3 Khí CO 2 hoà tan
Sự hô hấp của động thực vật luôn kèm theo sự thải khí cacbonic ra môi
Trang 27trường Ngoài ra, sự phân huỷ của mùn bã hữu cơ cũng luôn giải phóng ra
CO2 Khi CO2 gặp nước nó hoà tan vô hạn tạo thành axit cacbonic Do đó ở trong nước, ta không gặp CO2 tự do mà là ở dạng H2CO3, HCO3- và CO32-
Hàm lượng CO2 ở nước được hiểu là hàm lượng H2CO3, HCO3- và CO32- Người ta thấy chúng biến động trong một khoảng rất lớn từ 0 đến vài trăm mg
CO2/lít Giới hạn cho phép cá phát triển từ 0.00 đến 40mg/lít, tuy nhiên hàm lượng CO2 lớn hơn 40mg/lít chưa gây nguy hiểm cho cá, mà chỉ nói tới mức
độ ô nhiễm của môi trường đang lớn (Bùi Quang Tề, 1997) [24]
Trong thiên nhiên, CO2 biến động từ 0,0 đến 30,0mg/lít, hàm lương CO2bằng 0,0 chỉ gặp ở môi trường kiềm mạnh (pH ≥ 8,4) Ngược lại, hàm lượng trên 30mg/lít thường chỉ có ở môi trường axit (pH<4) (Nguyễn Đức Hội, 2001) [7]
Sự có mặt của CO2 trong nước ở các dạng khác nhau (H2CO3, HCO3- và
CO32-) cũng có mặt ích lợi, nó cung cấp CO2 cho quá trình quang hợp của tảo,
điều chỉnh pH của môi trường và làm kết tủa kim loại nặng, do đó vai trò của
hệ đệm cacbonic - cacbonat có ý nghĩa rất lớn trong quá trình làm sạch của các thuỷ vực tự nhiên
2.3.3.4 Khí độc H 2 S
H2S là chất khí, mùi trứng thối, rất độc, hoà tan rất nhiều trong nước, khi tan thể hiện tính axit yếu H2S tác động lên cơ thể động vật trước hết chiếm đoạt oxy trong máu làm con vật chết ngạt, đồng thời tác động lên hệ thần kinh làm con vật bị tê liệt (Hà Ký, Bùi Quang Tề, Nguyễn Văn Thành, 1992) [13]
Nguồn gốc H2S đưa vào nước chủ yếu từ sự thối rữa của cơ thể động vật Các bùn đáy ao quá bẩn nên khi phân huỷ yếm khí tạo H2S Ngoài ra, trong quá trình ấp trứng cá ở các bể vòng hoặc bình vây, do trứng thối hoặc vỏ trứng phân huỷ cũng tạo ra H2S
Hàm lượng gây độc cho thuỷ sinh vật thường thấy bằng 1mg/lít, tuy vậy
Trang 28đôi khi vượt quá 3mg/lít mà cá chưa chết Nhưng chắc chắn với hàm lượng như vậy tôm, cá sẽ không khoẻ mạnh được, sinh trưởng phát triển kém và dễ
bị mắc bệnh
Tiêu chuẩn cho phép đối với nuôi thuỷ sản phải không có mặt H2S (H2S=0,000mg/l)
Nếu hàm lượng H2S trong nước quá phạm vi cho phép sẽ làm cho cá chết
ở nhiệt độ 300C, hàm lượng H2S là 1,93mg/l làm cho cá mè chết, nếu hàm lượng lớn hơn 3mg/l làm cho nhiều loài cá chết (Bùi Quang Tề, 1997) [24]
H2S ngoài tác động trực tiếp với cá, trong quá trình oxy hoá nó lấy một lượng lớn oxy hoà tan trong nước làm cho môi trường nước thiếu oxy nhanh chóng, thường 1mg H2S oxy hoá cần 1,86mg oxy (Nguyễn Đức Hội, 2001) [7]
2.3.3.5 Độ cứng
Sự có mặt của ion Ca2+ và Mg2+ trong nước gây ra độ cứng trong nước Nước cứng được nhận biêt dễ dàng như: pha trà mất ngon, giặt quần áo tốn xà phòng mà vẫn ít bọt, đóng cặn trong các dụng cụ đun nấu
Tuy vậy, nước cứng vẫn có mặt lợi chính là ở chỗ cung cấp canxi cho
động vật thuỷ sinh cấu tạo xương và vỏ cứng, cung cấp magiê tạo diệp lục của lá xanh để quang hợp Trong thuỷ vực độ cứng xác định và biểu diễn theo miligram CaCO3 hoặc theo độc Đức (0Đ), 10Đ = 18mg CaCO3
Sự biến động của độ cứng trong thiên nhiên có thể từ 0-200Đ Nguồn nước ở các vùng đồi núi đất đỏ hầu như không có canxi và magiê nên độ cứng xấp xỉ bằng không, các vùng đồng bằng, hoặc nước ao, hồ nuôi cá được bón vôi
độ cứng rất lớn, có thể lớn hơn 400Đ (Nguyễn Đức Hội, 2001) [5] Nhu cầu bón vôi cho ao không những để khử chua mà còn tăng độ cứng cho nước đạt mức từ
50Đ - 100Đ là thích hợp (Nguyễn Hữu Thọ, Đỗ Đoàn Hiệp, 2004) [31]
Trang 292.3.3.6 Các muối hoà tan trong nước
Trong môi trường nước, các muối dinh dưỡng có chứa đạm hoà tan dưới dạng khác nhau như NH4+, NO3-, NO2- Trong đó dạng NO2- rất kém bền vững
và nhanh chóng chuyển hoá thành 2 dạng kia Hai dạng còn lại đều dễ dàng
được thực vật hấp thụ
Nguồn gốc các muối đạm hoà tan trong nước từ nitơ trong không khí khuếch tán vào nước nhờ một loại vi khuẩn cố định đạm thường cộng sinh ở một số thực vật phù du hoặc bèo hoa dâu Nguồn thứ hai từ quá trình phân huỷ các chất hữu cơ, mùn bã, xác sinh vật đã giải phóng đạm dưới dạng muối vô cơ hoà tan Nguồn thứ ba do con người bón phân đạm vào nước
Dạng đạm NH4+ thường được coi là dạng đầu của quá trình phân huỷ từ mùn bã hữu cơ sang vô cơ, còn dạng NO3 là dạng cuối:
Chất hữu cơ có đạm —> NH4+ —> NO2- —> NO3-
Vì vậy ta thường xác định dạng NH4+ để đánh giá mức độ giàu nghèo dinh dưỡng của môi trường nước, thêm vào đó, phương pháp xác định NH4+cũng đơn giản, dễ áp dụng Tuy nhiên, để đánh giá đầy đủ hơn người ta phải xác định tất cả các dạng muối đạm
Trong nguồn nước tự nhiên, hàm lượng NH4+ rất thấp, thường nhỏ hơn 0.5mg/lít ở các thủy vực nuôi cá được chăm bón thì hàm lượng NH4+ biến
động trong khoảng từ 0,0 - 6,0mg/lít Nguồn nước có hàm lượng NH4+ đạt 3,0mg/lít được coi là giàu dinh dưỡng, nếu lớn hơn 4,0mg/lít là bị ô nhiễm (Nguyễn Đức Hội, 2001) [7]
Dạng NO2- là sản phẩm trung gian của quá trình phân huỷ hợp chất hữu cơ chứa đạm Khi nước ao được bón phân hữu cơ, do quá trình phân huỷ các hợp chất hữu cơ mạnh nên hàm lượng NO2- thường cao, có thể gây độc và làm chết động vật thuỷ sản Khi ao được quản lý chăm sóc tốt hoặc có sục khí thì hàm lượng NO2- luôn thấp
Trang 30Dạng NO3- là sản phẩm cuối cùng của quá trình phân huỷ các hợp chất hữu cơ chứa đạm NO3- được xem là yếu tố dinh dưỡng không gây độc cho thuỷ sinh vật Trong điều kiện yếm khí, quá trình khử nitrat xảy ra chuyển
NO3- thành NO2- gây độc cho cá (Trần Văn Vỹ, Huỳnh Thị Dung, 2003) [37]
2.3.3.7 Muối phosphas (Lân)
Phosphas là muối dinh dưỡng quan trọng đối với thuỷ sinh vật Lượng phosphas trong nước liên quan trực tiếp đến sự phát triển của thực vật phù du, qua đó ảnh hưởng đến năng suất cá nuôi Hợp chất lân hoà tan trong nước chủ yếu dưới dạng các muối phosphas: PO43-, HPO42-, H2PO4-, nguồn gốc của chúng thường từ đất thấm ra, từ quá trình phân huỷ mùn bã hữu cơ và do con người bón thêm vào nước Sự biến động của PO43- trong tự nhiên từ 0,0 - 1,0mg/lít Các vùng nước nuôi cá được chăm bón có thể có hàm lượng cao hơn nhiều Hàm lượng PO43- cho cá nuôi thường xuyên được duy trì ở mức 0,5mg/lít (Trần Văn Vỹ, Huỳnh Thị Dung, 2003) [37]
2.3.3.8 Các hợp chất hữu cơ trong nước
Trong thuỷ vực tự nhiên và trong các ao nuôi cá, bên cạnh quá trình hô hấp của thuỷ sinh vật làm giảm lượng oxy, người ta còn phải chú ý đến quá trình biến đổi của các chất hữu cơ (biến đổi hoá học và sinh học) cũng gây tiêu hao oxy rất lớn Nếu không theo dõi kiểm soát chúng, sẽ rất dễ gặp tình trạng thiếu hụt oxy nghiêm trọng, nhiều khi làm tôm, cá chết hàng loạt
Hợp chất hữu cơ trong nước có hai nguồn gốc: chất hữu cơ tự nhiên trong
ao do con người bổ sung vào (thức ăn, phân chuống, nước thải sinh hoạt …) Hợp chất hữu cơ khi vào nước tiến hành phân giải tạo thành các chất đơn giản cung cấp chất dinh dưỡng cho ao Để xác định hàm lượng chất hữu cơ trong ao dùng các chỉ tiêu BOD và COD BOD phản ánh hàm lượng chất hữu cơ dễ phân giải trong nước, giá trị BOD3 hay BOD5 là hàm lượng oxy cần thiết để cung cấp cho
vi sinh vật phân huỷ các hợp chất hữu cơ sau 3 ngày ở nhiệt độ 200C thí nghiệm COD phản ánh hiên tượng tiêu hao oxy do quá trình biến đổi các hữu cơ (biến
Trang 31đổi hoá học) Giá trị COD phản ánh mức gia tăng lượng chất hữu cơ trong thuỷ vực: thức ăn thừa, sản phẩm bài tiết của cá và sự chết của thuỷ sinh vật
2.3.3.9 Hàm lượng sắt trong nước (Fe 2+ và Fe 3+ )
Như đã biết, nhiều vùng ở trung du, đất đỏ (đất Feralite, Laterite hoặc
đất đá ong) chứa nhiều sắt FeO, Fe2O3, vùng đất bãi cửa sông, ven biển chứa FeSO4 (đất phèn) và ngay trong nhiều loại đất thịt, oxit sắt cũng là một thành phần tham gia tạo nên mầu nâu của chúng
Các muối sắt có thể tan được trong nước dưới dạng các ion Fe2+ và Fe3+
Độ hoà tan của các muôi sắt tăng khi môi trường có tính axit, còn ở môi trường kiềm chúng nhanh chóng kết tủa thành hydroxyt Nếu trong môi trường nước có mặt sắt (tổng số ion Fe2+ và Fe3+) từ 0 - 0,1mg/lít có thể coi như nước sạch không có tác hại gì đến cá lớn, nhưng đối với cá bột là không có lợi (Dương Tuấn, 1978) [34] Nếu hàm lượng sắt tổng số lớn hơn 1,0mg/lít được coi là nước bẩn và đối với cá nhỏ rất dễ bị chết do kết tủa hydroxyt sắt dưới dạng keo bám vào mang cá làm cho cá không hô hấp được (Nguyễn Đức Hội, 2001) [7] Ngoài ra, sắt dạng ion hoá trị 2 hoà tan vào nước nhanh chóng bị oxy hoá thành sắt hoá trị 3, do đó làm hao hụt lớn lượng oxy trong nước
Các biện pháp làm giảm hàm lượng sắt trong nước thường được áp dụng
là làm thoáng khí, tạo điều kiện để oxy tác dụng với sắt thành các chất kết tủa lắng xuống đáy Tuy nhiên, sau đó phải loại bỏ bùn đáy có sắt ra khỏi thuỷ vực mới an toàn cho vật nuôi
2.4 Đặc điểm sinh học trong nước
Sống chung trong môi trường ao nuôi cá, hiện diện nhiều sinh vật khác thuộc các đại diện vi sinh vật, sinh vật nổi, sinh vật đáy… Những sinh vật này
là một phần quan trọng của ao nuôi cá Chúng có thể quan hệ có lợi hay có hại
đối với cá nuôi [1]
Những sinh vật sống tự nhiên trong môi trường ao có thể làm thức ăn cho
Trang 32cá Một nhóm sinh vật khác không phải là nguồn thức ăn nhưng lại cạnh tranh với cá và thức ăn, dưỡng khí và môi trường sống Một số vi sinh vật ký sinh gây dịch bệnh cho cá hoặc sống tự do trong nước là địch hại của cá nuôi, quá trình chết của các loại sinh vật tạo ra lượng mùn bã hữu cơ trong ao Mùn bã hữu cơ cũng vừa là thức ăn cho cá vừa là những yếu tố gây ô nhiễm môi trường ao [3]
Hiện nay, nhà nước ta và ngành thuỷ sản đã ban hành các tiêu chuẩn chất lượng nước phục vụ cho NTTS, nhằm mục đích tạo ra được môi trường nước có chất lượng tốt, ổn định cho các loài nuôi tăng trưởng nhanh mà chất lượng sản phẩm tốt Nếu điều kiện môi trường nước đảm bảo, các động vật thường gặp rất ít trở ngại về sức khoẻ, dịch bệnh và chúng lớn rất nhanh
Một số tiêu chuẩn chất lượng nước NTTS (Nguyễn Đức Hội, 2001) [7]
Trang 33nước hay nói một cách khác nước là môi trường sống của cá Cá muốn sống
được cần phải có môi trường tốt, đồng thời chúng phải có khả năng thích ứng với môi trường Nếu môi trường sống của cá xảy ra những thay đổi không thuận lợi cho chúng, những con nào thích ứng được sẽ duy trì được cuộc sống, những con nào không thích ứng được sẽ mắc bệnh và chết
Môi trường sống là một trong ba nhân tố gây bệnh của động vật thuỷ sản Ba nhân tố gây bệnh đó là: môi trường sống, tác nhân gây bênh, ký chủ
ảnh hưởng của mỗi yếu tố là khác nhau, nhưng mầm bệnh chỉ phát triển thành bệnh khi có một mối quan hệ đầy đủ giữa chúng
Theo Rodger và Burke (1981), bệnh thường xuất hiện vào đầu mùa mưa
và vào thời kỳ mùa mưa kéo dài làm thay đổi chất lượng nước Do đó, tác giả
đưa ra kết luận “ bệnh có tính đặc trưng theo mùa” [33]
Theo Zonglin cho rằng nhiệt độ khoảng 250 C là nhiệt độ thích hợp nhất cho sự sinh trưởng và phát triển của vi khuẩn Hàm lượng độc tố của vi khuẩn trong thời điểm này cũng là cao nhất ở Trung Quốc tư tháng 5-7 khi nhiệt dộ nước khoảng 24-270C, cá trắm cỏ bị nhiễm bệnh và lan rộng với tỷ lệ nhiễm cao [61]
Tại hội thảo về bệnh và quản lý sức khoẻ động vật thuỷ sản tổ chức tại Nam Triều Tiên năm 1990, tuy chưa tìm ra được yếu tố môi trường nào có liên quan trực tiếp đến dịch bệnh nhưng các chuyên gia đều cho rằng tình trạng ô nhiễm nước dẫn đến thực vật phù du nở hoa, hàm lượng oxy hoà tan giảm là những nguyên nhân quan trọng gây giảm sức đề kháng của cá Chính vì vậy, việc quản lý chất lượng nước tốt có thể giảm hoặc hạn chế được sự phát triển của dịch bệnh [60]
2.4.2 Hệ vi sinh vật nước
Nước được coi là môi trường thích hợp của nhiều vi sinh vật: Có chứa
đầy đủ các hợp chất hữu cơ, không khí và nhiệt độ trong giới hạn của sự sinh
Trang 34trưởng và phát triển của vi sinh vật Phần lớn vi sinh vật xâm nhập vào nước là
từ đất trong thời gian mưa hoặc từ bụi trong không khí rơi xuống Ngoài ra nước còn nhiễm bẩn do các chất thải công nghiệp, chế biến nông sản, chất thải sinh hoạt cùng phân gia súc…
Giữa thế kỷ 17, ngay sau khi phát hiện ra kính hiển
vi, Anton Vanlewen Hook đã tìm thấy vi khuẩn khi quan sát nước ao tù, dung dịch ngâm các chất hữu cơ nhưng ông cũng chỉ dừng lại ở sự mô tả hình thái
và chứng minh sự tồn tại của chúng Mãi đến thế kỷ 19, ngành vi sinh vật học nước mới thực sự phát triển và thu được những thành tựu đáng kể Được sự cổ
vũ bởi các công trình vi sinh vật học đầy thành quả của Louis Pasteur và Robert Koch người ta bắt đầu tìm kiếm vi khuẩn trong các nguồn nước khác nhau và nhanh chóng phát hiện ra rằng ở đó cũng như các môi trường sống khác, chúng
có mặt ở khắp nơi [1]
Hệ vi sinh vật nước rất đa dạng Số lượng và số loại vi sinh vật trong nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhất là số lượng chất hữu cơ trong nước, các chất độc, tia tử ngoại, pH môi trường, các yếu tố có tính chất quyết
định đến sự tăng khối lượng vi sinh vật như các chất dinh dưỡng Nước càng bẩn, càng có nhiều chất hữu cơ sự phát triển vi sinh vật trong môi trường nước càng nhanh
Trong nước có nhiều loại vi sinh vật: vi khuẩn, nấm men, xoắn thể nhưng chủ yếu là vi khuẩn Đa số vi khuẩn nước là các sinh vật dị dưỡng số lớn trong đó là vi khuẩn hoại sinh sống nhờ xác của động thực vật chết Những vi khuẩn sống ký sinh chiếm số ít Trong nước, có một số vi khuẩn sống thường xuyên (vi khuẩn nước thực sự), phần lớn là do cảm nhiễm từ các nguồn khác (các loại vi khuẩn ngẫu nhiên) Sau khi xâm nhập, một số khá lớn không có khả năng phát triển ở đó nếu chúng không co khả năng hình thành nha bào (bào tử) [2]
Theo Lương Đức Phẩm (2000) [17], hầu hết vi khuẩn
Trang 35trong nước là không có nha bào (gần 87%), còn ở trong bùn là các vi khuẩn có nha bào (gần 75%)
Đa số vi khuẩn trong nước có khả năng di động một cách chủ động nhờ tiên mao (flagellar) hay lông (tricha) LeWin (1969), xếp những vi khuẩn này vào nhóm vi khuẩn lưu động Ngoài ra ở nhiều vi khuẩn còn có một bộ phận phụ khác hình sợi rất ngắn và rất mỏng gọi là tiên mao (pili, firabriae), chúng không phải là cơ quan di động của vi khuẩn nó có tác dụng làm tăng thêm bề mặt hấp thu chất dinh dưỡng của tế bào và giúp cho vi khuẩn bám chắc hơn trên bề mặt cơ chất LeWin ( 1969), xếp vi khuẩn này là nhóm vi khuẩn hình sao
ở nước bề mặt, số lượng và số loại vi sinh vật rất đa dạng có thể thấy các loài: Cầu khuẩn, trực khuẩn không nha bào, xoắn khuẩn, xạ khuẩn, trực khuẩn có nha bào và các vi khuẩn quang hợp Còn ở độ sâu do chứa ít các hợp chất hữu cơ, nhiệt độ lạnh do đó số lượng và số loại vi sinh vật không đa dạng chỉ tồn tại một số nhóm với số lượng nhỏ hơn ở nước bề mặt [5]
Do ao, hồ chứa nhiều chất hữu cơ, muối khoáng nên hệ vi sinh vật nước chủ yếu là nhóm vi khuẩn hoại sinh và các nhóm vi sinh vật yếm khí và hiếu khí tuỳ tiện khác Vi khuẩn gây bệnh nhiễm từ các
đường chất thải (phân, nước tiểu, nước sinh hoạt, xác chết …) như tụ cầu khuẩn, trực khuẩn thương hàn, phẩy khuẩn tả, trực khuẩn đóng dấu lợn… [2]
Sự phân bố vi sinh vật trong nước ao hồ thường theo quy tắc nhất định Nước gần bờ chứa nhiều vi sinh vật hơn nước xa bờ, trên bề mặt nước cũng như gần bề mặt nước có chứa nhiều loại vi sinh vật và
số lượng của chúng cao ở trong bùn đặc biệt nhiều vi khuẩn yếm khí chúng
đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hoá vật chất trong nước
Nguồn nước ao hồ ở nơi dân cư đông đúc gần thành thị, đường giao thông có nhiều vi khuẩn hơn đặc biệt có một lượng đáng kể các vi sinh vật gây bệnh Lượng nước trong ao hồ nhiều chỗ thống thoáng có
Trang 36nhiều ánh sáng thì số lượng vi sinh vật cũng giảm hơn so với ao hồ rộng ít nước và bị che khuất ánh nắng [5]
Theo Kiều Hữu ánh, 1985 [1], 95,5% các vi khuẩn phân lập được từ một số loại hồ ở nước Anh là vi khuẩn gram âm (-):
Lavobacterium, Brevibacterim, Micrococcus, Streptomyces, Bacillus, Pseudomonas, Aeromonas …
Trong hồ bị nhiễm bẩn thường gặp nhất là các vi
khuẩn gây bệnh đường ruột: Salmonella typhy, Salmonella paratyphy gây
bệnh thương hàn và phó thương hàn
Trong tầng đáy của các hồ giầu dinh dưỡng thường gặp là các vi khuẩn lưu huỳnh không mầu (Thiosppira, thiothirix ) và nhóm
vi khuẩn oxy hoá Metan Pseudomonas methannica
Sông ngòi là môi trường thuận lợi cho vi sinh vật phát triển do nước sông luôn luôn thay đổi theo dòng chảy ở vùng gần thành phố, nước sông có số lượng vi khuẩn lớn, còn phía xa thành phố thì số lượng của chúng giảm nhanh do nồng độ các chất dinh dưỡng giảm đi, thêm vào đó
vi sinh vật còn bị tiêu diệt bởi ánh sáng mặt trời, vi khuẩn đối kháng, nguyên sinh động vật và cả do tác động cơ giới Theo Nguyễn Như Thanh và Ctv,
1990 trong 1 lít nước sông ở đoạn thành phố, khu dân cư là 400.000 vi khuẩn,
ở phía đoạn trên thành phố là 197.000 vi khuẩn [29]
2.5 Hệ vi sinh vật của cá
Hệ vi sinh vật của cá rất đa dạng, chủ yếu gồm các
vi sinh vật tự nhiên của cá mà thành phần và số lượng của chúng phụ thuộc vào điều kiện sống, chúng có cấu tạo đơn giản chỉ một tế bào, kích thước thay
đổi tuỳ từng loài Vi khuẩn có bốn hình dạng chính là: cầu khuẩn, trực khuẩn, xoắn khuẩn và phẩy khuẩn [38]
Trang 37Trên bề mặt cá thường có lớp nhày giàu protein là môi trường thuận lợi cho vi sinh vật phát triển Số lượng vi sinh vật này trên bề mặt cá mới bắt có khoảng 10 - 10x106 tế bào trên 1cm2 những sinh vật này là trực khuẩn sinh bào tử, cầu khuẩn nhỏ, sarcira và một số nấm men, nấm mốc
có trong nước các vi khuẩn ở đây thường thấy là: Pseudomonas, Fluorescens
liquefeciens, Proteus vulgaris, Micrococcus roseus và E coli
ở mang cá đặc biệt nhiều vi khuẩn Sau khi cá chết các vi sinh vật này
phát triển rất mạnh, trong đó dễ tìm thấy: Pseudomonas, Fluorescens
liquefeciens Trong ruột cá có hệ vi sinh vật tương đối đa dạng là nguồn gây
thối giữa sau khi cá chết Vi sinh vật xâm nhập vào đây từ nước, từ bùn cùng với các loại thức ăn ở đây tìm thấy tất cả các loại vi sinh vật cư trú trong nước
và trong bùn, kể cả các loại sinh bào tử Trong ruột cá có Clostridium
putriphycus và nhóm E.coli Cũng thấy có loại gây ngộ độc cho thực phẩm, Salmonella và Clostridium botulium Số lượng vi khuẩn thường dao động rất
lớn từ vài chục nghìn đến vài chục triệu tế bào trên 1 gam chất chứa trong ruột Trong thịt cá tươi sống thường không có vi khuẩn, trong trường hợp cá
ốm yếu hay sau khi cá chết vi khuẩn xâm nhập vào các mô thịt cá từ ruột từ mang cũng như từ ngoài vào
Những kết quả nghiên cứu đã được xác định thành phần hệ vi sinh vật của cá nuôi không khác biệt với hệ vi sinh vật của môi trường nước xung quanh cá sống Các vi sinh vật trong nước khi gặp điều kiện thuận lợi chúng phát triển rất nhanh và mạnh Chúng đính vào vẩy, da hoặc vào mồm vào mang và có thể đi vào ruột cá Bình thường cá có sức đề kháng với các vi khuẩn gây bệnh, khi sức đề kháng cá giảm, cá bị sây sát, cá dễ bị một số bệnh thối mang cá, bệnh đốm đỏ ở cá trắm cỏ, cá mè, cá chép, bệnh nhiễm khuẩn máu do Edwardsiella… [11]
Một số vi khuẩn gây bệnh cho cá thuộc nhóm gây thối rữa thường cư
Trang 38trú trong đất và nước Các vi sinh vật gây bệnh cho cá ngoài khả năng gây bệnh chúng còn sản sinh ra độc tố Khi ăn cá có độc tố hay nhiễm các vi khuẩn sinh độc tố người có thể bị ngộ độc Các vi khuẩn gây ngộ độc thường
gặp là: Salmonella, E.coli, Proteus, Staphylococcus, Aurues và
Staphylococcus albus, Clostridium botulium…
Theo Kim Văn Vạn và cộng tác viên, 2001 [35], trong các cơ quan của cá khoẻ cũng tìm thấy vi khuẩn
Lê Thanh Hùng và cộng tác viên (1998) [9], khi khảo sát hiện tượng cá chết hàng loạt trong giống cá tra cho thấy những vi khuẩn gây bệnh chủ yếu
là: Aeromonas hydrophyla, A Sorbia, Pseudomonas eruginosa …
Nguyễn Ngọc Nhiên và cộng tác viên năm 2000 [15], cũng đã phân lập
được vi khuẩn Aeromonas hydrophyla từ cá bệnh
Bùi Quang Tề và cộng tác viên [23], cũng có những nghiên cứu về tác nhân gây bệnh cho cá, tôm, ba ba, ếch… Và đã phân lập được một số loài vi
khuẩn: Aeromonas sp, Pseudomonas sp …
Theo Kim Văn Vạn, Phạm Thị Yên, Phạm Văn Khang, Nguyễn Xuân Sinh năm 2001 [35], trên các tổ chức của cá trắm cỏ bình thường cũng tìm
thấy vi khuẩn Aeromonas sp, Streptococcus sp
2.6 Một vài đặc điểm của một số loài cá nước ngọt
Cá nước ngọt là tập hợp các loài cá sống ở vùng sông, suối, ao, hồ, đầm
và ruộng lúa Đa số chúng thuộc họ cá chép, cá rô, cá nheo, cá quả, cá trê Chúng sống trong các tầng nước khác nhau và hình dáng của chúng cũng khác nhau [4]
2.6.1 Cá trắm cỏ (Cteno pharyngodon idellus)
Là loài cá nước ngọt, thuộc phân họ cá chép (Cyprinidae) Mình thuôn
dài, tiết diện thân tròn; đầu ngắn, miệng rộng, hàm dưới hơi hụt vào, mép
Trang 39không sâu, miệng có hai hàm răng, hầu phát triển hình lưỡi cưa; vây không có gai cứng; toàn thân phủ vẩy tròn khá to, màu xanh phớt vàng, lưng xám xanh
Cá trắm cỏ sống ở tầng giữa và tầng đáy Bơi lội nhanh nhẹn và hay kết
đàn Ăn thực vật lớn (rau, cỏ, lá) Phân bố tự nhiên ở thuỷ vực Trung á, đồng bằng Trung Quốc, đảo Hải Nam Việt Nam gặp cá trắm cỏ ở sông Kỳ Cùng (Lạng Sơn) năm 1940 Đến năm 1958 nước ta nhập cá trắm cỏ và từ đó được nuôi phổ biến ở nước ta ở Việt Nam trong điều kiện nuôi, trắm cỏ phát dục khi 2 - 3 tuổi, cá đực phát dục sớm hơn cá cái Mùa sinh sản tự nhiên ở sông Hồng tháng 6 - 7 Nhiệt độ thích hợp cho cá đẻ 22 - 290C, lưu tốc 1 - 1,7m/s Trứng nổi, trôi theo dòng nước rồi nở thành cá bột Cá nuôi trong ao thường phát dục sớm, đẻ sớm hơn ngoài tự nhiên Mùa sinh sản nhân tạo từ tháng 3
đến tháng 8 Sau khi cho cá đẻ xong lần 1 nếu tiếp tục nuôi vỗ sau 25 - 30 ngày có thể đẻ đợt 2 Mỗi con cá cái đẻ 47.600 - 103.000 trứng/kg Mức tiêu thụ thức ăn của cá trắm cỏ rất lớn khoảng 22,1 - 27,8% trọng lượng cá/ngày, trung bình cứ 40kg thực vật bậc cao sẽ cho tăng trọng 1kg cá Cá nuôi ở ao, hồ một năm đạt 1kg, hai năm nặng 2 - 4kg Nơi có nhiều thực vật thuỷ sinh, sau 3 năm có thể đạt 9 - 12 kg/con [10]
2.6.2 Cá trôi (Cirrhina molitorella; còn gọi là trôi ta)
Là loài cá nước ngọt cỡ vừa, thuộc họ cá chép Thân dẹt vừa, khá cao; ngực, bụng tròn; đầu ngắn và rộng, phía dưới miệng nằm ngang, hơi uốn cong
Có hai đôi râu: một ở mõm, một ở hàm rất nhỏ có khi thiếu; mắt ở hai bên
đầu, khoảng cách giữa hai mắt rộng, hơi lồi; vây bụng khá cao, không có gai cứng; vây ngực nhỏ hơn vây bụng, vây đuôi chẻ sâu Vẩy to, có 7 - 8 vẩy ở trên vây ngực có màu xanh đen, thân màu xám, nhạt dần phía bụng
Cá cái thành thục sinh dục ở tuổi thứ 3, cá đực thành thục sớm hơn, ở tuổi thứ 2
Mùa sinh sản từ tháng 5 đến tháng 9, cá thường đẻ vào ban đêm và
Trang 40sáng sớm
Cá sống ở tầng nước giữa và dưới, thích nước chảy, ưa hoạt động, nhiệt
độ 100C cá ít hoạt động, chịu lạnh kém
Thịt cá trôi ngon, thơm nhưng có nhiều xương răm, cá dễ nuôi, có thể
ăn các loại thức ăn tổng hợp, ít mắc bệnh, thường nuôi ghép trong ao đầm cùng cá mè trắng, mè hoa, chép, trắm cỏ [32]
2.6.3 Cá trôi ấn Độ (Labeo rohita)
Cá trôi ấn Độ hay cá Rô hu là loài cá nước ngọt, thuộc nhóm cá chép
ấn Độ, họ cá chép Đầu vừa phải, thân dài, đường bên chạy dài từ đầu đến giữa vây đuôi Hàm trên có đôi râu ngắn, nhỏ; lưng hơi xanh, lườn và bụng trắng bạc, vây xám đen, mắt sáng tỏ Trong mùa sinh sản vảy cá có màu hồng tía, vây màu đỏ; phân bố tự nhiên ở vùng nước ngọt bắc ấn Độ, Pakistan, Myanma Được nhập vào nước ta từ tháng 8 năm 1982 và đã trở thành một trong những loài cá nuôi phổ biến ở nước ta
Rôhu là loài cá sống ở gần đáy, chịu được nhiệt độ 42 - 430C, nhưng chịu lạnh kém, dưới 12 - 130C cá chết cóng Trong môi trường nước có nhiệt
độ 24 - 310C, pH = 7 - 8, hàm lượng oxy 3 mg/l là điều kiện thuận lợi nhất để cá phát triển Có thể chịu được nồng độ muối 140/00
Cá không sinh sản tự nhiên trong ao, hồ, đầm nhỏ Thành thục sinh dục
ở cuối năm thứ hai Một cá cái nặng 4,5kg đẻ 1,9 triệu trứng Trứng nổi, sau khi nở, cá con ăn động vật nguyên sinh, luân trùng, tảo đơn bào Là loài cá ăn tạp nên cạnh tranh thức ăn rất lớn với các loài cá khác Cá nuôi có giá trị kinh
tế cao, lớn nhanh, thịt thơm ngon [10]
2.6.4 Cá chép (Cyprinus Carpio; còn gọi là cá gáy)
Là loài cá nước ngọt, thuộc họ cá chép (Cyprinidae) thân dẹt bên, đầu
thuôn cân đối, có hai râu, miệng khá rộng hướng ra phía trước; vây lưng có gai