1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nội dung một số qui định cơ bản của pháp luật về thi hành án dân sự

54 197 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 232 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

lời nói đầu thi hành án dân sự là một giai đoạn độc lập của quá trình tố tụng dân sự, giai đoạn kết thúc quá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự, trong đó các bản án, quyết định của toà án được đưa ra thi hành để góp phần duy trì ổn định trật tự xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, mọi hành vi vi phạm pháp luật và tranh chấp xảy ra khi có yêu cầu đều được toà án xem xét giải quyết theo thẩm quyền, đồng thời nhà nước xây dựng một cơ chế đảm bảo cho việc thi hành các phán quyết mà toà án đã tuyên. nếu bản án, quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật mà không đựơc đưa ra thi hành thì quyền lợi của đương sự chưa được đảm bảo, nguyên tắc pháp chế bị vi phạm. mặt khác tranh chấp, mâu thuẫn dân sự không được giải quyết kịp thời và triệt để, niềm tin của quần chúng nhân dân vào đảng và nhà nước bị suy giảm. vì vậy công tác thi hành án nói chung và thi hành án dân sự nói riêng mang nội dung và ý nghĩa vô cùng quan trọng. nhận thức được điều này, tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ ix. đảng ta đã đề ra chủ trương ...đẩy mạnh cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan tư pháp, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cơ quan và cán bộ tư pháp.... trong đó, có công tác thi hành án dân sự. những năm qua công tác thi hành án dân sự đã từng bước được đẩy mạnh và đã thu được những kết quả to lớn. pháp luật về thi hành án dân sự đã và đang được củng cố và hoàn thiện ngày càng phù hợp với những yêu cầu mới đặt ra của sự phát triển kinh tế, xã hội. trên cơ sở những quy định của pháp luật, hệ thống cơ quan thi hành án đã được hình thành trong cả nước, hoạt động thi hành án đã đạt hiệu quả nhất định, kỷ cương trật tự xã hội được ổn định, đồng thời pháp chế xã hội chủ nghĩa được đảm bảo. tuy nhiên, tình hình kinh tế xã hội ngày càng phát triển, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường các giao lưu dân sự ngày một mở rộng thì số vụ việc tranh chấp dân sự ngày càng gia tăng dẫn đến số lượng bản án, quyết định phải thi hành ngày càng nhiều. nếu như trước đây nhiệm vụ của cơ quan thi hành án chỉ là thi hành các bản án, quyết định dân sự thì từ khi có luật phá sản doanh nghiệp, pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, pháp lệnh giải quyết các tranh chấp lao động, pháp lệnh công nhận thi hành bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài tại việt nam, pháp lệnh công nhận và thi hành tại việt nam quyết định của trọng tài nước ngoài, pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, pháp lệnh trọng tài thương mại có hiệu lực thi hành thì thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự ngày càng được mở rộng. trước tình hình đó, cần phải hoàn thiện hơn nữa pháp luật thi hành án dân sự góp phần đẩy nhanh hoạt động thi hành án đạt hiệu quả hơn về số lượng cũng như chất lượng, từng bước giảm dần số lượng bản án, quyết định tồn đọng chưa được thi hành, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và tăng cường tính pháp chế xã hội chủ nghĩa. vì vậy việc nghiên cứu pháp luật về thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay là một vấn đề cần thiết không chỉ đối với các nhà lập pháp, tư pháp, các luật gia mà còn cần thiết đối với những sinh viên khi nghiên cứu về pháp luật việt nam. đây là một vấn đề lớn đòi hỏi phải có trình độ nghiên cứu cũng như thời gian nghiên cứu nhất định. do vậy, trong bài khoá luận tốt nghiệp này tôi chỉ xin trình bày một số khía cạnh quan trọng của pháp luật thi hành án dân sự đó là một số vấn đề về thi hành án dân sự .

Trang 1

lời nói đầu

thi hành án dân sự là một giai đoạn độc lập của quá trình tố tụng dân

sự, giai đoạn kết thúc quá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự, trong đó cácbản án, quyết định của toà án được đưa ra thi hành

để góp phần duy trì ổn định trật tự xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của nhân dân, mọi hành vi vi phạm pháp luật và tranh chấp xảy ra khi

có yêu cầu đều được toà án xem xét giải quyết theo thẩm quyền, đồng thờinhà nước xây dựng một cơ chế đảm bảo cho việc thi hành các phán quyết màtoà án đã tuyên nếu bản án, quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật màkhông đựơc đưa ra thi hành thì quyền lợi của đương sự chưa được đảm bảo,nguyên tắc pháp chế bị vi phạm mặt khác tranh chấp, mâu thuẫn dân sựkhông được giải quyết kịp thời và triệt để, niềm tin của quần chúng nhân dânvào đảng và nhà nước bị suy giảm vì vậy công tác thi hành án nói chung vàthi hành án dân sự nói riêng mang nội dung và ý nghĩa vô cùng quan trọng.nhận thức được điều này, tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ ix đảng ta đã

đề ra chủ trương " đẩy mạnh cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng và hoạtđộng của các cơ quan tư pháp, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cơ quan

và cán bộ tư pháp " trong đó, có công tác thi hành án dân sự

những năm qua công tác thi hành án dân sự đã từng bước được đẩymạnh và đã thu được những kết quả to lớn pháp luật về thi hành án dân sự

đã và đang được củng cố và hoàn thiện ngày càng phù hợp với những yêucầu mới đặt ra của sự phát triển kinh tế, xã hội trên cơ sở những quy địnhcủa pháp luật, hệ thống cơ quan thi hành án đã được hình thành trong cảnước, hoạt động thi hành án đã đạt hiệu quả nhất định, kỷ cương trật tự xãhội được ổn định, đồng thời pháp chế xã hội chủ nghĩa được đảm bảo tuynhiên, tình hình kinh tế xã hội ngày càng phát triển, đặc biệt trong nền kinh

tế thị trường các giao lưu dân sự ngày một mở rộng thì số vụ việc tranh chấpdân sự ngày càng gia tăng dẫn đến số lượng bản án, quyết định phải thi hành

Trang 2

ngày càng nhiều nếu như trước đây nhiệm vụ của cơ quan thi hành án chỉ làthi hành các bản án, quyết định dân sự thì từ khi có luật phá sản doanhnghiệp, pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, pháp lệnh giải quyếtcác tranh chấp lao động, pháp lệnh công nhận thi hành bản án, quyết địnhdân sự của toà án nước ngoài tại việt nam, pháp lệnh công nhận và thi hànhtại việt nam quyết định của trọng tài nước ngoài, pháp lệnh thủ tục giải quyếtcác vụ án hành chính, pháp lệnh trọng tài thương mại có hiệu lực thi hành thìthẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự ngày càng được mở rộng trướctình hình đó, cần phải hoàn thiện hơn nữa pháp luật thi hành án dân sự gópphần đẩy nhanh hoạt động thi hành án đạt hiệu quả hơn về số lượng cũngnhư chất lượng, từng bước giảm dần số lượng bản án, quyết định tồn đọngchưa được thi hành, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và tăng cườngtính pháp chế xã hội chủ nghĩa vì vậy việc nghiên cứu pháp luật về thi hành

án dân sự trong giai đoạn hiện nay là một vấn đề cần thiết không chỉ đối vớicác nhà lập pháp, tư pháp, các luật gia mà còn cần thiết đối với những sinhviên khi nghiên cứu về pháp luật việt nam đây là một vấn đề lớn đòi hỏiphải có trình độ nghiên cứu cũng như thời gian nghiên cứu nhất định do vậy,trong bài khoá luận tốt nghiệp này tôi chỉ xin trình bày một số khía cạnh

quan trọng của pháp luật thi hành án dân sự đó là "một số vấn đề về thi hành án dân sự ".

đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài là một số qui định cơ bản củapháp luật về thi hành án dân sự mà chủ yếu một số quy định cơ bản pháp luật

về thi hành án dân sự hiện hành và thực tiễn áp dụng chúng của các cơ quanthi hành án trong những năm gần đây

mục đích nghiên cứu đề tài nhằm làm sáng tỏ các quy định của phápluật về thi hành án dân sự hiện hành từ đó thấy được những bất cập trongthực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật vềthủ tục thi hành án dân sự đặc biệt, qua việc nghiên cứu này nâng cao được

Trang 3

nhận thức của bản thân về công tác thi hành án dân sự, hoàn thiện thêm kiếnthức pháp luật, nâng cao năng lực công tác.

kết quả nghiên cứu được trình bày trong bản khoá luận gồm ba phần:lời nói đầu, phần nội dung và kết luận phần nội dung bản khoá luận gồm cácnội dung cơ bản sau:

- chương 1: những vấn đề lý luận cơ bản về thi hành án dân sự

- chương 2: nội dung một số qui định cơ bản của pháp luật về thi hành

Trang 4

chương i những vấn đề lý luận cơ bản về thi hành án dân sự

i/ khái niệm và ý nghĩa của thi hành án dân sự

1 khái niệm thi hành án dân sự

thi hành án dân sự là một giai đoạn nhằm thực hiện những bản án,quyết định có hiệu lực pháp luật của toà án nhân dân trong cuộc sống, biếncác quyết định của toà án trong những bản án, quyết định đó thành hiệu lựcthực tế tuy nhiên, thi hành án dân sự là một thủ tục tố tụng dân sự hay thủtục hành chính đã có một thời kỳ có nhiều ý kiến khác nhau

quan điểm thứ nhất cho rằng thi hành án dân sự không phải là một thủtục tố tụng dân sự, mà là một hoạt động mang tính chất chấp hành và điềuhành như vậy thi hành án dân sự là một thủ tục hành chính

ngược lại với quan điểm thứ nhất, quan điểm thứ hai cho rằng thi hành

án dân sự là một thủ tục tố tụng dân sự đây là giai đoạn tiếp theo của giaiđoạn xét xử không thể thiếu trong quá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự

quan điểm thứ ba lại cho rằng thi hành án dân sự là một thủ tục tố tụngđặc biệt bởi nó vừa mang tính chất của thủ tục tố tụng dân sự lại vừa là thủtục hành chính

cả ba quan điểm trên đều có điểm hợp lý, nhưng quan điểm thứ hai làphù hợp hơn cả bởi những lý do sau:

thứ nhất, khi tranh chấp dân sự phát sinh, để bảo vệ quyền lợi hợp

pháp của mình, các đương sự phải nhờ vào sự can thiệp của nhà nước mà cụthể là toà án sau khi thụ lý vụ việc, toà án tiến hành điều tra, hoà giải, xét xử

để đưa ra phán quyết của mình việc giải quyết vụ việc mới thực sự là giaiđoạn đầu của quá trình tố tụng ở giai đoạn này, toà án mới giải quyết được

Trang 5

về nội dung của vụ án, phân định quyền và nghĩa vụ của các bên nếu phánquyết đó không được đưa ra thi hành thì lợi ích của đương sự thực chất chưađược bảo vệ hiệu lực bản án, quyết định của toà án không được bảo đảm.việc bảo vệ quyền, lợi ích của đương sự là cả một quá trình và phải trải quanhiều giai đoạn khác nhau chỉ khi nào tiến hành xong các giai đoạn này thìquá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự mới được coi là hoàn thành.

thứ hai, về nguyên tắc, khi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật

phải được đưa ra thi hành theo yêu cầu của người được thi hành án hay cơquan thi hành án chủ động thi hành tuy nhiên bản án, quyết định của toà ánđang được đưa ra thi hành hoặc đã thi hành xong vẫn có thể bị xem xét lạitheo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm nếu có kháng nghị của người có thẩmquyền do đó, giai đoạn thi hành án và quá trình xét xử có mối quan hệ mậtthiết hữu cơ với nhau, nó là hai mặt thống nhất của quá trình bảo vệ quyềnlợi của đương sự trong đó việc ra bản án, quyết định là tiền đề, là điều kiện

để tiến hành giai đoạn thi hành án nói như thế, không có nghĩa chỉ khi nàogiai đoạn xét xử được thực hiện xong thì mới đến giai đoạn thi hành án màthi hành án còn được tiến hành song song cùng với giai đoạn xét xử chẳnghạn trong quá trình giải quyết việc xin ly hôn, xét điều kiện khó khăn củangười vợ, toà án có thể ra quyết định khẩn cấp tạm thời buộc người chồngthực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu của người vợ để đảmbảo việc nuôi con của người vợ, cơ quan thi hành án tiến hành thực thi ngayquyết định đó mặc dù toà án vẫn chưa giải quyết xong việc xin ly hôn đó

thứ ba, tranh chấp dân sự của các bên đều xuất phát từ quan hệ pháp

luật nội dung do đó, án dân sự chủ yếu là giải quyết các vấn đề về tài sảngiữa các đương sự mặt khác, nếu bản án, quyết định toà án tuyên chưa cóhiệu lực pháp luật mà đương sự tự nguyện thi hành thì thuần tuý đây là quan

hệ dân dự thông thường chứ không có sự can thiệp của cơ quan nhà nước do

đó, không thể coi đây là thủ tục hành chính được hơn nữa, nếu cho rằngtrong tố tụng dân sự chỉ có toà án mới là chủ thể tiến hành tố tụng còn cơ

Trang 6

quan thi hành án không phải là chủ thể được phép tiến hành các hoạt động tốtụng nên việc thi hành án của cơ quan thi hành án không phải là hoạt động tốtụng là không thoả đáng bởi lẽ, việc giải quyết vụ án dân sự là một quá trìnhkhó khăn và phức tạp, liên quan đến nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực khác nhau.mỗi lĩnh vực đó đều được do một cơ quan chuyên môn đảm nhiệm vì vậy,

để giải quyết tốt một vụ việc dân sự thì phải có sự phối hợp chặt chẽ, nhịpnhàng giữa các cơ quan tổ chức với nhau kết quả hoạt động của cơ quan nàytạo cơ sở, tiền đề cho hoạt động của cơ quan khác và góp phần vào nhiệm vụchung là giải quyết vụ việc được nhanh chóng, chính xác, kịp thời, đúngpháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức vì vậy,hoạt động của thi hành án phải được coi là một thủ tục tố tụng dân sự và làmột bộ phận không thể thiếu của ngành luật tố tụng đến nay điều này đãđược khẳng định trong bộ luật tố tụng dân sự theo điều 1 của bộ luật tố tụngdân sự thì thi hành án dân sự là hoạt động tố tụng dân sự

vì vậy, thi hành án dân sự là hoạt động tố tụng dân sự nhằm thi hànhbản án, quyết định của toà án giai đoạn thi hành án dân sự là giai đoạn kếtthúc quá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự trong đó bản án, quyết địnhcủa toà án được đưa ra thi hành trên thực tế

2 ý nghĩa của thi hành án dân sự.

thứ nhất, thi hành án dân sự góp phần vào công tác giữ gìn an ninh trật

tự và an toàn xã hội

hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự là hoạt động của cơ quannhà nước vì vậy, hoạt động thi hành án dân sự mang tính quyền lực, cưỡngchế, thể hiện trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của công dân trong giai đoạn xây dựng đất nước hiện nay, khi nềnkinh tế thị trường ngày một phát triển, quan hệ xã hội được mở rộng, cácgiao lưu dân sự ngày càng trở nên phong phú, đa dạng và phức tạp thì thihành án dân sự là một trong những công cụ hữu hiệu nhất của nhà nướctrong việc duy trì trật tự xã hội bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân và là

Trang 7

cơ sở để đảm bảo sự công bằng, công lý trong xã hội, góp phần thực hiệnmục tiêu dân giầu nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

thứ hai, thi hành án dân sự góp phần củng cố kết quả của công tác xét

xử trước đó

thi hành án là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử nhằm thi hànhbản án, quyết định của toà án chỉ có công tác thi hành án dân sự mới làmcho bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật được đưa ra thihành trên thực tế và góp phần củng cố kết qủa công tác xét xử trước đó phánquyết mà toà án đưa ra chính là sự thể hiện ý chí của nhà nước trong việcgiải quyết các vụ án dân sự vì vậy, khi bản án, quyết định được đưa ra thihành là đảm bảo hiệu lực pháp luật, hiệu lực quản lý của nhà nước, góp phầngiữ vững trật tự, kỷ cương xã hội, nâng cao uy tín của nhà nước trước nhândân

thứ ba, thi hành án dân dân sự góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả

bộ toà án đã tham gia quá trình xét xử có thể rút ra kinh nghiệm để khắcphục những khiếm khuyết, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác củamình đồng thời cũng là cơ sở để toà án nhân dân tối cao tổng kết đúc rútkinh nghiệm đưa ra đường lối xét xử chung, thống nhất trong toàn ngành

Trang 8

thứ tư, thông qua công tác thi hành án dân sự nhằm nâng cao ý thức

pháp luật của nhân dân

thi hành án không chỉ là hoạt động nghiệp vụ của riêng cơ quan thihành án dân sự mà đó là sự kết hợp với vai trò và trách nhiệm của các cấp uỷđảng, chính quyền địa phương là sự phối hợp chặt chẽ với cơ quan, tổ chứchữu quan và mỗi thành viên trong cộng đồng xã hội thông qua thi hành ándân sự ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân ngày càng được nâng cao,vai trò trách nhiệm của các cơ quan tổ chức được đảm bảo, niềm tin củanhân dân vào hệ thống pháp luật, vào bộ máy của nhà nước ngày càng đượccủng cố

ii/ quá trình hình thành và phát triển của những quy định về thi hành án dân sự.

1 giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1990

có thể nói rằng giai đoạn này là một giai đoạn mà công tác thi hành ándân sự gặp rất nhiều khó khăn thi hành án còn là một bộ phận nằm trong cơcấu của toà án lúc này cùng một lúc toà án phải thực hiện hai chức năng đó

là chức năng xét xử và chức năng thi hành án đây là thời kỳ đất nước chưahoàn toàn thống nhất, bên cạnh đó là một nền kinh tế bao cấp đầy những khókhăn và yếu kém chính vì vậy những văn bản pháp luật nói chung và cácvăn bản thi hành án nói riêng còn rất ít, rất lẻ

công việc thi hành án giai đoạn này chủ yếu được tiến hành dưới sựhướng dẫn của các thông tư do toà án nhân dân tối cao ban hành những quyđịnh về vấn đề này còn bị hạn chế rất nhiều nên việc thực hiện trên thực tếkém hiệu quả hầu như các bản án, quyết định do toà án tuyên khi đưa vàothi hành số lượng đạt được rất ít

đặc trưng của thi hành án dân sự trong giai đoạn này là toà án luôn chủđộng trong thi hành án, quyền định đoạt của đương sự về thi hành án chưađược pháp luật qui định đầy đủ theo điều lệ về thi hành án dân sự do thông

tư số 827 ngày 23 / 10/1979 của toà án nhân dân tối cao ban hành thì các toà

Trang 9

án nhân dân địa phương phải chủ động đưa ra thi hành án mà không cần phải

có yêu cầu của người được thi hành án

2 giai đoạn từ năm 1990 đến năm 1993

pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989 ra đời đánh dấu một bước pháttriển mới của pháp luật về thi hành án của toà án pháp lệnh thi hành án dân

sự ra đời qui định về thi hành án so với trước có sự khác biệt rõ rệt vẫn cùngmột lúc toà án với hai chức năng xét xử và thi hành án nhưng ở giai đoạn nàytoà án không giữ vai trò chủ động trong thi hành án như trước nữa mà cácbên đương sự cụ thể là người được thi hành án phải nộp đơn yêu cầu hoặc đềnghị toà án tham gia vào quá trình thi hành án

điều 14 pháp lệnh thi hành án dân sự ngày 28/8/1989 đã qui định là:trừ một số trường hợp toà án phải chủ động thi hành án còn nói chung, ngườiđược thi hành án phải có yêu cầu thì toà án mới tiến hành thủ tục thi hành án

vì sau khi toà án xét xử xong thì thi hành án là một giai đoạn tố tụng khác.trong giai đoạn tố tụng này, người được thi hành án vẫn có quyền định đoạtquyền lợi của mình, tức là họ có quyền đòi hỏi bên kia phải thi hành nhưng

họ cũng có quyền hoà giải với bên kia hoặc không yêu cầu thi hành án vìvậy, toà án chỉ tiến hành thủ tục thi hành án khi người được thi hành án cóyêu cầu mặc dù, giai đoạn này có pháp lệnh thi hành án dân sự nhưng toà ánvẫn đảm trách chức năng thi hành án với hai chức năng cơ bản của mình làxét xử và thi hành án cũng đủ để chúng ta thấy được khối lượng công việccủa toà án dân sự là rất lớn, liệu toà án có giải quyết hết các công việc củamình được hay không? có lẽ không thể hoàn thành hết được nên vẫn cònhiện tượng tồn đọng án cũ bởi lẽ khối lượng công việc cần phải giải quyếtquá nhiều, trong đó khối lượng công việc có khả năng giải quyết được lại rất

ít, vì thế tình trạng số án tồn đọng từ tháng này sang tháng khác, từ năm nàyqua năm khác cứ kéo dài sau khi toà án tuyên bản án hoặc quyết định củamình thì toà án đã thực hiện xong chức năng xét xử nhưng để bản án đó cóhiệu lực khả thi thì toà án còn phải thực hiện chức năng thi hành án hai

Trang 10

nhiệm vụ này giải quyết xong thì có nghĩa là toà án đã thực hiện việc bảo vệquyền lợi, nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật bảo vệ để ra một quyếtđịnh một thi hành án toà phải cấp một bản sao bản án hoặc quyết định củamình cho người thi hành án và người được thi hành án để hai bên tự nguyệnthoả thuận thi hành án cho nhau trong vòng 30 ngày hết 30 ngày hai bên vẫnkhông thoả thuận được việc thi hành án thì sẽ xảy ra hai trường hợp:

một là: toà án sẽ theo đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành

án mà can thiệp vào quá trình thi hành án đó

hai là: toà án trực tiếp tổ chức thi hành án theo qui định của pháp luật.

song chủ yếu ở giai đoạn này toà án vẫn giữ vai trò chủ động trongquá trình thi hành án và trong một số trường hợp cần thiết toà án phải raquyết định thi hành án ngay đó là:

- vấn đề cấp dưỡng;

- trả tiền bồi thường án phí;

- bồi thường thiệt hại và một số trường hợp khác

như vậy, cùng một lúc toà án vẫn kiêm nhiệm hai chức năng và pháplệnh thi hành án dân sự năm 1989 không thể hiện được điểm mạnh của mình

ở đây đặt ra một vấn đề là pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989 quiđịnh chỉ có người được thi hành án mới có quyền làm đơn nộp cho toà ányêu cầu thi hành án mà hiến pháp năm 1992 qui định: “ mọi công dân điềubình đẳng trước pháp luật” đã không được thể chế hoá trong các điều luậtmột cách rõ ràng, cụ thể, xác đáng pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989qui định người phải thi hành án chỉ có quyền hoãn thi hành án trong trườnghợp đặc biệt cần thiết hoặc được phía người được thi hành án và toà án chấpnhận giả thiết cho rằng nếu người phải thi hành án cũng muốn nộp đơn yêucầu thi hành án thì sao? pháp luật của chúng ta sẽ giải quyết như thế nào? bởi

vì trường hợp này vẫn thường xảy ra sau khi có quyết định giải quyết các vụviệc của toà án

Trang 11

sau một thời gian thực hiện pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989trên thực tế đã bộc lộ nhiều nhược điểm cần khắc phục chính những nhượcđiểm này đã làm hạn chế nhiều đến kết quả của công tác thi hành án.

theo báo cáo tổng kết của nghành toà án năm 1990, năm 1991, côngtác thi hành án năm 1990 và đầu năm 1991 của nhiều toà án địa phương thì

số lượng bản án thi hành xong chỉ đạt trên dưới 30% tổng sổ bản án phải thihành điều đáng nói ở đây là trong số bản án, quyết định của toà án chưađược thi hành thì một số bản án, quyết định đó không có điều kiện thi hành.như vậy, việc thi hành các bản án, quyết định của toà án không biết đến baogiờ mới kết thúc toà án và người được thi hành án phải chờ đến bao giờ thìngười phải thi hành án mới có điều kiện thi hành bản án, ở đây phải chăng là

đã có sự ùn tắc hợp pháp ở giai đoạn này

3 giai đoạn từ năm 1993 đến nay

sau 3 năm thực hiện pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989 thì bảnthân nó không phù hợp với thực tế thi hành án nữa chính vì thế để thay thếpháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989, pháp lệnh thi hành án dân sự năm

1993 ra đời sự ra đời của pháp lệnh này đã đáp ứng được nhu cầu thực tiễncũng như lý luận của việc thi hành án ngày hôm nay

pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 ra đời đánh dấu một bướcngoặt trong công tác phát triển của quá trình thi hành án từ đây,toà án khôngcùng một lúc thực hiện hai chức năng xét xử và thi hành án nữa pháp lệnhthi hành án dân sự năm 1993 đã qui định công tác thi hành án thuộc về cơquan thi hành án lần đầu tiên công tác thi hành án dân sự được một cơ quanchuyên môn đảm nhiệm toà án chỉ còn lại chức năng xét xử

trước đây, do toà án thực hiện cùng một lúc hai chức năng xét xử vàthi hành án mà số việc toà án phải giải quyết rất nhiều khối lượng công việcxét xử của toà án đã chất chồng, lại thêm chức năng thi hành án thì toà ánkhó có thể giải quyết được hết công việc của mình số án tồn đọng không thihành được ngày một nhiều tính đến thời điểm pháp lệnh thi hành án dân sự

Trang 12

năm 1993 ra đời, khi toà án chuyển chức năng thi hành án sang cho cơ quanthi hành án thì: tổng số án còn tồn đọng là 217877 vụ trong đó số án có điềukiện thi hành là 174306 vụ, số án không có điều kiện thi hành là 43571 vụ.trong số 174 306 vụ có điều kiện thi hành thì số án có khả năng thi hành là

149 206 vụ và đã có 71466 vụ đã thi hành xong, 77740 vụ thi hành dở dang,

25100 vụ chưa thi hành được

chính vì những con số còn tồn đọng nhiều như vậy nên phải chuyểnchức năng thi hành án sang cho cơ quan chuyên môn - cơ quan thi hành án

cơ quan thi hành án ra đời là một tất yếu trong sự phát triển và hoànthiện của hệ thống tư pháp việt nam cơ quan thi hành án ra đời đã góp phầngiải quyết số án tồn đọng từ ngày này sang ngày khác, từ năm này sang nămkhác dần dần số lượng bản án, quyết định của toà án sẽ được thi hành mộtcách kịp thời nhanh gọn

khác với một số nước trên thế giới ở nước ta do cơ quan thi hành ánnằm trong hệ thống cơ quan nhà nước đảm nhiệm ở một số nước như pháp,thuỵ điển việc xã hội hoá công tác thi hành án dân sự rất cao thi hành áncũng có thể được thực hiện bởi những người không thuộc biên chế của nhànước các cán bộ thi hành án rất ít phải dùng biện pháp cưỡng chế thi hànhán

ở nước ta số lượng bản án được các bên tự nguyện thi hành là rất ítnên hầu như phải có sự can thiệp của cơ quan thi hành án thông qua sự hoạtđộng cưỡng chế của các chấp hành viên trong khi thực hiện các biện phápcưỡng chế chấp hành viên là người nhân danh quyền lực nhà nước để thựchiện nhiệm vụ được nhà nước giao cho, như vậy mới đảm bảo được hiệu quảcủa công việc và điều này hoàn toàn phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị,văn hoá xã hội của nước ta, cũng như bản chất riêng của hoạt động thi hànhán

giai đoạn thi hành án dân sự là một giai đoạn khó khăn, phức tạp, chonên để làm tốt giai đoạn này đòi hỏi các cán bộ thi hành án phải nắm chắc

Trang 13

các qui định cơ bản của pháp luật thi hành án dân sự kể từ khi pháp lệnh thihành án dân sự năm 1993 được ban hành đã có trên 10 năm áp dụng vào thựctiễn đây là một văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong lĩnh vực thi hành

án dân sự trên cơ sở pháp lệnh này, hệ thống cơ quan thi hành án dân sự đãđược hình thành trong cả nước, đưa công tác thi hành án dần dần di vào nềnếp, hiệu quả thi hành án ngày càng được nâng cao góp phần đảm bảo tínhnghiêm minh của pháp luật và trật tự kỷ cương xã hội tuy nhiên, qua mộtthời gian áp dụng pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 cũng không cònphù hợp, đã bộc lộ những điểm bất cập đòi hỏi phải được kịp thời bổ sung,sửa đổi về cơ bản pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 là sự sao y nguyênbản các quy định của pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989 vì vậy, pháplệnh thi hành án dân sự năm 1993 không còn phù hợp với tình hình phát triểnkinh tế - xã hội, không theo kịp quá trình đổi mới của đất nước ta trong thời

kỳ chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,đặc biệt là đường lối của đảng về cải cách hành chính, cải cách tư pháp.nhiều vấn đề vướng mắc về cơ chế quản lý, mô hình tổ chức, thủ tục thi hành

án chưa được giải quyết vì cơ sở pháp lý bị thiếu nên tình trạng án tồn đọngngày càng nhiều để khắc phục những tồn tại trên sau một thời gian tích cựctiếp thu ý kiến đóng góp, cụ thể hoá một số chủ trương, chính sách về thihành án sau nhiều lần chỉnh lý lấy ý kiến địa phương pháp lệnh thi hành ándân sự năm 2004 đã được uỷ ban thường vụ quốc hội thông qua ngày 14-1-

2004 và có hiệu lực từ ngày 01- 07-2004

pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 được ban hành cũng là mộtbước phát triển mới của pháp luật về thi hành án trước hết có thể thấy rằngpháp lệnh này đã được sửa đổi bổ sung trên cơ sở pháp lệnh thi hành án dân

sự năm 1993 một cách cơ bản cả về nội dung và bố cục về bố cục pháp lệnhthi hành án dân sự năm 2004 gồm 8 chương 70 điều về nội dung, pháp lệnhthi hành án dân sự năm 2004 có nhiều qui định mới so với pháp lệnh thi hành

án dân sự năm 1993 như qui định về lệ phí thi hành án, miễn giảm thi hành

Trang 14

án, kết thúc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án của người phải thi hànhán

tóm lại, sau một thời gian dài pháp luật về thi hành án dân sự ngàycàng hoàn thiện việc hoàn thiện pháp lệnh thi hành án dân sự đã góp phầnrất lớn vào việc đẩy mạnh công tác thi hành án dân sự làm cho công tác nàyngày càng đạt được hiệu quả

Trang 15

chương ii nội dung một số qui định cơ bản của pháp luật về thi hành án dân sự

i một số qui định chung.

khi bản án, quyết định của toà án đã được đưa ra thi hành, thì việc thihành những bản án, quyết định nhằm đảm bảo quyền lợi của các đương sự đãđược toà án giải quyết theo qui định của pháp luật đồng thời hiệu lực củabản án, quyết định của toà án chính là thể hiện quyền lực của nhà nước, chonên thi hành nghiêm chỉnh những bản án, quyết định đó cũng nhằm tăngcường trật tự, kỷ cương xã hội, giáo dục mọi công dân ý thức tôn trọng phápluật

theo pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 phạm vi những bản án,quyết định thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự rất rộng bao gồm:

- bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinhtế;

- bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài, quyết định củatrọng tài nước ngoài được toà án việt nam công nhận và cho thi hành tại việtnam;

- quyết định về dân sự, phạt tiền, tịch thu tài sản, xử lý vật chứng, tàisản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí trong bản án, quyết địnhcủa toà án hình sự;

- quyết định về phần tài sản trong bản án, quyết định của toà án vềhành chính;

- quyết định tuyên bố phá sản;

- quyết định của trọng tài thương mại việt nam;

- bản án, quyết định khác do pháp luật qui định;

trong phần này chúng tôi xin tập trung trình bày làm rõ những qui định

cơ bản nhất của pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004

Trang 16

1 những bản án, quyết định được đưa ra thi hành

về nguyên tắc, những bản án, quyết định của toà án được đưa ra thihành phải là những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật điều 2 pháplệnh thi hành án dân sự năm 2004 qui định như sau:

-những bản án, quyết định của toà án nhân dân đã có hiệu lực phápluật bao gồm:

- bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của toà án cấp sơthẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm

- bản án, quyết định của toà án cấp phúc thẩm;

- quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của toà án;

- bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài, quyết định củatrọng tài nước ngoài đã được toà án việt nam công nhận và cho thi hành tạiviệt nam

- quyết định của trọng tài thương mại việt nam có hiệu lực thi hành

- những bản án, quyết định kể trên là những bản án, quyết định đã cóhiệu lực pháp luật nên được đưa ra thi hành nhưng ngoài ra điều 2 pháp lệnhthi hành án dân sự năm 2004 còn qui định bản án, quyết định của toà ánđược đưa ra thi hành án còn bao gồm những bản án, quyết định chưa có hiệulực pháp luật nhưng được thi hành ngay việc thi hành ngay những bản án,quyết định chưa có hiệu lực pháp luật có ý nghĩa trong việc bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của đương sự, đảm bảo giải quyết tốt vụ án các bản án,quyết định chưa có hiệu lực pháp luật được thi hành ngay bao gồm:

+ bản án, quyết định của toà án cấp sơ thẩm về cấp dưỡng, trả lương,trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, bảo hiểm xã hộihoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, nhận người lao động trở lạilàm việc;

+ quyết định khẩn cấp tạm thời để đảm bảo lợi ích cấp thiết cho đương

sự hoặc đảm bảo cho việc thi hành án

Trang 17

những bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật nhưng vẫn đượcpháp luật qui định đưa ra thi hành ngay là vì việc thi hành bản án, quyết địnhnhằm giúp người được thi hành án khắc phục ngay những khó khăn nếu đợinhững bản án, quyết định này có hiệu lực pháp luật rồi mới thi hành sẽkhông đảm bảo kịp thời các quyền và lợi ích chính đáng của đương sự đượcnhà nước thừa nhận và bảo hộ.

trường hợp những bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật đượcthi hành ngay khi đã đưa ra thi hành mà bị kháng cáo, kháng nghị thì cơ quanthi hành án vẫn tiếp tục cho thi hành và chỉ xoá sổ thụ lý khi có bản án, quyếtđịnh của toà án có thẩm quyền

các quyết định biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng có thể bị khiếu nại.việc khiếu nại không làm đình chỉ thi hành chúng cơ quan thi hành án chỉđình chỉ việc thi hành quyết định biện pháp khẩn cấp tạm thời bị khiếu nạikhi người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại huỷ bỏ chúng hoặc đã có bản

án, quyết định của toà án về vụ án huỷ bỏ chúng

như vậy, theo điều 2 pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 thì chúng

ta thấy rằng những bản án, quyết định “có hiệu lực thi hành” không đồngnghĩa với những bản án, quyết định “có hiệu lực pháp luật” mà những bản

án, quyết định “có hiệu lực thi hành” bao gồm một phạm vi rộng lớn hơn dovậy, những bản án, quyết định mặc dù chưa có hiệu lực pháp luật nhưngđược thi hành ngay phải được đưa ra thi hành theo đúng qui định của phápluật như bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để góp phần bảo vệ kịpthời quyền và lợi ích chính đáng của các bên đương sự, các vụ việc dân sựđược giải quyết nhanh chóng và có hiệu quả

khi bản án, quyết định của toà án được thi hành thì toà án đã tuyên bản

án, quyết định đó phải cấp cho người được thi hành án và người phải thihành án bản sao bản án hoặc quyết định có ghi: “để thi hành” khi các bảnsao bản án, quyết định toà án giải thích cho người được thi hành án biếtquyền làm đơn và thi hành án

Trang 18

2 thẩm quyền ra quyết định thi hành án

việc xác định thẩm quyền thi hành án dựa trên cơ sở nơi nào cơ quanthi hành án có điều kiện tổ chức thi hành án tốt thì thủ trưởng cơ quan thihành án nơi đó có quyền ra quyết định thi hành án

thông thường cơ quan thi hành án có điều kiện tổ chức thi hành án tốt

là cơ quan thi hành án nơi toà án đã xét xử sơ thẩm vụ án trong trường hợpkhác lại là nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc, có tài sản liên quanđến việc thi hành án hoặc có trụ sở vì ở những nơi này chấp hành viên cóđiều kiện tiếp xúc với đương sự, xác minh tài sản của họ thuận lợi cho việcthi hành án cả ba pháp lệnh thi hành án dân sự mà nhà nước đã ban hành đềuxác định thẩm quyền ra quyết định thi hành án dựa trên cơ sở đó căn cứ vàođiều 21 và điều 24 của pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 thì thủ trưởng

cơ quan thi hành án nơi toà án đã xét xử sơ thẩm có thẩm quyền ra quyếtđịnh thi hành án có quyền uỷ thác cho cơ quan thi hành án nơi người phải thihành án cư trú, làm việc hoặc có tài sản, trụ sở liên quan đến việc thi hành án

ra quyết định thi hành án

các cơ quan thi hành án dân sự bao gồm: cơ quan thi hành án dân sựcấp tỉnh, cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện và cơ quan thi hành án trongquân đội thẩm quyền ra quyết định thi hành án của các cơ quan này qui địnhtại điều 21 pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 như sau:

thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp tỉnh ra quyết định thi hành các bản

án quyết định sau:

+ bản án, quyết định sơ thẩm của toà án nhân dân tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương;

Trang 19

+ bản án, quyết định thuộc thẩm quyền ra quyết định thi hành án củathủ trưởng cơ quan thi hành án cấp huyện nhưng do tính chất phức tạp liênquan đến nhiều huyện mà thấy cần thiết lấy lên để thi hành;

+ bản án, quyết định của toà án nhân dân tối cao gửi cho cơ quan thihành án cấp tỉnh;

+ bản án, quyết định do cơ quan thi hành án nơi khác uỷ thác;

+ bản án dân sự của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nướcngoài được toà án việt nam công nhận và cho thi hành tại việt nam;

+ quyết định của trọng tài thương mại việt nam

thủ trưởng cơ quan thi hành án quân khu ra quyết định thi hành cácbản án, quyết định sau:

+ quyết định về tài sản trong bản án hình sự của toà án quân sự quânkhu, toà án quân sự khu vực trên địa bàn của toà án quân sự quân khu;

+ quyết định về tài sản trong bản án hình sự của toà án quân sự trungương chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp quân khu;

+ bản án, quyết định của toà án nhân dân tối cao gửi cho cơ quan thihành án cấp quân khu;

+ bản án quyết định do cơ quan thi hành án nơi khác uỷ thác

thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp huyện ra quyết định bản án, quyếtđịnh sơ thẩm của toà án cấp huyện; bản án, quyết định phúc thẩm của toà áncấp tỉnh; bản án, quyết định toà án nhân dân tối cao gửi cho cơ quan thi hành

án cấp huyện; bản án, quyết định do cơ quan thi hành án nơi khác uỷ thác

3 uỷ thác thi hành án

việc uỷ thác thi hành án là việc cơ quan thi hành án có thẩm quyềngiao lại việc thi hành án cho cơ quan thi hành án khác để đảm bảo việc thihành án, pháp luật qui định trong trường hợp bản án, quyết định có liên quanđến nhiều người phải thi hành án mà những người này cư trú ở nhiều nơikhác nhau, hoặc tài sản thu nhập của họ ở những nơi khác nhau, người phảithi hành án chuyển đi nơi khác thì cần phải uỷ thác thi hành án với những

Trang 20

trường hợp này, việc uỷ thác thi hành án nhằm đảm bảo việc thi hành án cóhiệu quả, bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhà nước, của xã hội và của mọicông dân trước đây việc uỷ thác thi hành án được qui định tại điều 4 pháplệnh thi hành án dân sự năm 1993 và điều 2, điều 3, điều 4, điều 5 nghị định69/cp ngày 18/10/1993 của chính phủ hiện nay, uỷ thác thi hành án dân sựđược qui định tại điều 24 pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004

thẩm quyền ra quyết định uỷ thác thuộc thủ trưởng cơ quan thi hành

án cấp tỉnh, thủ trưởng cơ quan thi hành án quân sự và thủ trưởng cơ quan thihành án cấp huyện khi uỷ thác phải ra quyết định uỷ thác thời hạn ra quyếtđịnh uỷ thác không quá 5 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định có căn cứ

uỷ thác quyết định uỷ thác ghi rõ nội dung uỷ thác, khoản đã thi hành xong,khoản đang thi hành dang dở, khoản tiếp tục thi hành và các thông tin cầnthiết cho việc thực hiện uỷ thác nếu đã ra quyết định thi hành án khi uỷ thácphải thu hồi lại quyết định thi hành án đã ra quyết định uỷ thác gửi kèm theobản sao bản án, quyết định, bản sao biên bản kê biên, tạm giữ tài sản nếu có

cơ quan thi hành án đã uỷ thác có trách nhiệm thông báo bằng văn bản chotoà án chuyển giao bản án, quyết định, viện kiểm sát cùng cấp và người đượcthi hành án biết việc uỷ thác

khi bản án, quyết định được đưa ra thi hành theo đơn yêu cầu củangười được thi hành án thì phải có quyết định thi hành án của người có thẩmquyền mà ở đây là thủ trưởng cơ quan thi hành án trước khi đưa bản án,quyết định ra thi hành thủ trưởng cơ quan thi hành án phải xác định có đủ cơ

sở pháp lý để đưa ra thi hành chưa ( như: bản án, quyết định có hiệu lực thihành không; người làm đơn thi hành án có phải người được thi hành ánkhông ) nếu có đủ cơ sở pháp lý để đưa bản án, quyết định ra thi hành thìthủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án thẩm quyền raquyết định thi hành án trong trường hợp phải uỷ thác thì các quyết định cũngtương tự như đối với trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu việc vào sổbản sao, quyết định việc vào sổ thụ lý, việc thi hành án cũng được thực hiện

Trang 21

như đối với trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu đối với trường hợp chủđộng thi hành án cơ quan thi hành án nhận được uỷ thác mà không có điềukiện thực hiện uỷ thác thì sẽ uỷ thác tiếp cho cơ quan thi hành án nơi có điềukiện thi hành đối với những bản án, quyết định của toà án được đưa ra thihành theo yêu cầu của đương sự thì cơ quan thi hành án nhận uỷ thác trả lạiđơn yêu cầu thi hành án cho đương sự và hướng dẫn cho họ đến cơ quan thihành án có thẩm quyền yêu cầu thi hành án trong trường hợp cơ quan nàykhông có điều kiện thi hành.

ii thủ tục thi hành án dân sự

1 cấp, chuyển giao bản sao bản án, quyết định

a, thủ tục cấp bản sao bản án, quyết định.

nhiệm vụ của thi hành án dân sự là phải thi hành nghiêm chỉnh kịpthời, đúng đắn bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án vì vậytheo qui định tại điều 18 pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 thì khi bản

án, quyết định có hiệu lực thi hành thì toà án có nghĩa vụ cấp cho ngườiđược thi hành án và người phải thi hành án bản sao bản án, quyết định có ghi

“để thi hành” việc cấp bản sao bản án, quyết định trong thời điểm này nhằmlàm cơ sở để người phải thi hành án thực hiện quyền, nghĩa vụ của mìnhđược qui định trong bản án, quyết định của toà án đồng thời làm căn cứ đểngười được thi hành án thực hiện yêu cầu thi hành án của mình để đảm bảoquyền lợi cho người được thi hành án, khi cấp bản sao bản án, quyết định toà

án đồng thời phải giải thích luôn cho họ biết quyền làm đơn yêu cầu thi hành

án, thời hiệu thi hành án và các vấn đề khác có liên quan đến việc thi hành ánnhư: quyền yêu cầu hoãn thi hành án, quyền yêu cầu không thi hành án mộtphần hay toàn bộ bản án, quyết định của toà án

pháp luật tố tụng không qui định cụ thể thời hạn cấp bản sao bản án,quyết định của toà án cho đương sự nhưng về nguyên tắc, kể từ khi bản án,quyết định được thi hành thì toà án phải cấp cho đương sự việc cấp bản saobản án, quyết định của toà án được tiến hành trong một thời hạn nhất định

Trang 22

đối với bản án, quyết định sơ thẩm toà án cấp ngay sau khi hết thời hạnkháng cáo, kháng nghị mà đương sự không kháng cáo, viện kiểm sát khôngkháng nghị đối với bản án, quyết định của toà án cấp phúc thẩm; quyết địnhgiám đốc thẩm, tái thẩm thì ngay sau khi toà án xét xử xong phải cấp ngaycho đương sự bản sao bản án, quyết định đó.

b, thủ tục chuyển giao bản sao bản án, quyết định của toà án cho cơ quan thi hành án

ngoài thủ tục cấp bản sao bản án, quyết định của toà án cho đương sựtoà án còn có nghĩa vụ chuyển giao bản sao bản án, quyết định cho cơ quanthi hành án bởi lý do sau:

thứ nhất, bên cạnh quyền yêu cầu thi hành án của đương sự, pháp luật

còn qui định cho cơ quan thi hành án quyền chủ động đưa ra thi hành ánnhững bản án, quyết định của toà án để bảo vệ kịp thời lợi ích của nhà nước,quyền và lợi ích hợp pháp của công dân vì vậy, trong những trường hợp nàytoà án không phải cấp bản sao bản án, quyết định cho đương sự mà chuyểngiao cho cơ quan thi hành án làm căn cứ chủ động ra quyết định thi hành

thứ hai, theo pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993, thì công tác thi

hành án dân sự được tách ra khỏi toà án và do cơ quan thi hành án đảmnhiệm do đó, trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, toà án chỉ ra các bản

án, quyết định còn việc đưa ra thi hành những phán quyết đó trên thực tếthuộc trách nhiệm của cơ quan thi hành án để đảm bảo cho bản án, quyếtđịnh của mình đã tuyên được đưa ra thi hành, thì sau khi bản án, quyết định

có hiệu lực pháp luật toà án phải chuyển giao bản sao bản án, quyết định đócho cơ quan thi hành án

* thủ tục chuyển giao bản sao bản án, quyết định của toà án:

theo qui định tại điều 19 pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004, đốivới những bản án, quyết định được thi hành theo yêu cầu của toà án chỉ cấpbản sao bản án, quyết định cho người được thi hành mà không phải chuyểngiao cho cơ quan thi hành án tuy nhiên, vì trong các bản án, quyết định đều

Trang 23

có phần án phí, đây là phần bản án, quyết định mà đương sự phải thực hiệnnghĩa vụ đối với nhà nước do đó, toà án vẫn phải chuyển giao cả bản saobản án, quyết định cho cơ quan thi hành án trước đây tại thông tư liên ngành

số 981/tandtc - vksndtc có hướng dẫn khi cấp cho đương sự, toà án đều phảichuyển giao tất cả các loại bản án, quyết định cho cơ quan thi hành án

thời gian cấp bản sao bản án, quyết định hiện nay được thực hiện theođiều 19 pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 như sau:

+ đối với bản án, quyết định của toà án qui định tại các điểm a, b, c và

d khoản 1 điều 2 của pháp lệnh này thì toà án đã tuyên bản án, quyết định đóphải gửi bản án, quyết định cho cơ quan thi hành án và viện kiểm sát cùngcấp với toà án đã xét xử sơ thẩm trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bản án,quyết định có hiệu lực pháp luật

+ đối với bản án, quyết định được qui định theo qui định tại điểm akhoản 2 điều 2 của pháp lệnh này thì toà án đã tuyên bản án, quyết định đóphải gửi bản án, quyết định đó cho cơ quan thi hành án và viện kiểm sát cùngcấp với toà án đã xét xử sơ thẩm trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày

ra bản án, quyết định đó

đối với quyết định về biện pháp khẩn cấp tạm thời thì toà án đã raquyết định phải chuyển giao ngay quyết định đó cho cơ quan thi hành áncùng cấp

+ khi chuyển giao bản án, quyết định toà án phải gửi kèm theo biênbản kê biên, tạm giữ tang vật, tài sản, các tài liệu khác có liên quan( nếu có )

+ trong trường hợp nhận được yêu cầu của thủ trưởng cơ quan thihành án về việc giải thích bản án, quyết định thì trong thời hạn 15 ngày, kể từngày nhận được yêu cầu, toà án đã ra bản án, quyết định đó phải có tráchnhiệm trả lời bằng văn bản

để đảm bảo cho quá trình thi hành án được tiến hành thuận lợi vànhanh chóng kịp thời giúp cho cơ quan thi hành án cũng như chấp hành viênlắm bắt được nội dung vụ án một cách chính xác toàn diện để từ đó lập ra kế

Trang 24

hoạch thi hành án thì khi chuyển giao bản sao bản án, quyết định, toà án phảichuyển giao kèm theo các biên bản kê biên, biên bản tạm giữ tài sản, tang vật(nếu có) cho cơ quan thi hành án nếu toà án chưa chuyển giao đầy đủ trongthời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu toà án phải thực hiện yêu cầuđó.

sau khi nhận được bản sao bản án, quyết định toà án chuyển giao, cơquan thi hành án phải vào sổ nhận bản sao bản án, quyết định và phải ghi rõnội dung bản án, quyết định; nội dung biên bản kê biên, tạm giữ tài sản tangvật (nếu có) việc vào sổ nhận bản sao bản án, quyết định của toà án nhằmmục đích giúp cho cơ quan thi hành án biết được nội dung bản án, quyết định

mà toà án phải chuyển giao để tiến hành việc phân loại đối với những phầnquyết định thuộc quyền chủ động thì cơ quan thi hành án ra quyết định thihành đối với những phần thi hành theo đơn yêu cầu thì vào sổ theo dõi khi

có đơn yêu cầu của đương sự, cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án

2 quyền yêu cầu thi hành án và thời hiệu thi hành án:

a, quyền yêu cầu thi hành án.

khi bản án, quyết định của toà àn đã có hiệu lực pháp luật phải đượccác đương sự tự nguyện thi hành nếu các bên đương sự không tự nguyện thihành thì người được thi hành án, người phải thi hành án căn cứ vào bản ánquyết định dân sự có quyền gửi đơn đến cơ quan thi hành án có thẩm quyền

ra quyết định thi hành án đây là điểm khác biệt giữa pháp lệnh thi hành ándân sự năm 1993 và pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 đã được bổ sungquy định, người phải thi hành án cũng có qưyền làm đơn thi hành án đơnyêu cầu thi hành phải được gửi kèm theo bản sao bản án,quyết định của toà

án người được thi hành án cũng có thể trực tiếp đến cơ quan thi hành án yêucầu thi hành án.trong trường hợp đó cơ quan thi hành án lập biên bản ghi rõnội dung yêu cầu của đương sự như vậy nhà nước chỉ tham gia vào quá trìnhthi hành án khi người phải thi hành án không tự nguyện thi hành và người

Trang 25

được thi hành án có yêu cầu đơn yêu cầu thi hành án phải được gửi trongthời hiệu thi hành án.

b, thời hiệu thi hành án:

thời hiệu thi hành án là thời hạn người được thi hành án, người phảithi hành án có quyền yêu cầu thi hành bản án, quyết định

nếu trong thời hiệu thi hành án, người được thi hành án, người phải thihành án không yêu cầu thi hành án thì sau đó họ không có quyền yêu cầu thihành bản án, quyết định nữa việc qui định thời hiệu thi hành án buộc ngườiđược thi hành án phải yêu cầu thi hành án trong thời hạn do luật qui định.nếu hết thời hạn đó thì người được thi hành án không có đơn yêu cầu thì bản

án, quyết định hết hiệu lực thi hành điều 25 pháp lệnh thi hành án dân sựnăm 2004 qui định thời hiệu thi hành án dân sự như sau:

- thời hiệu chung về thi hành án dân sự:

+trong thời hạn 3 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực phápluật, người được thi hành án, người phải thi hành án là cá nhân hay tổ chức

có quyền gửi đơn đến cơ quan thi hành án để yêu cầu thi hành án.hết thờihạn đó, nếu người thi hành án, người phải thi hành án không có đơn yêu cầuthì bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật pháp luật sẽ hết hiệu lực thihành

+thời hiệu này được tính theo ngày nhận đơn, nếu đơn được trực tiếpđưa đến cơ quan thi hành án hoặc tính theo ngày gửi ghi trên dấu bưu điệnnếu đơn gửi qua bưu điện

- thời hiệu thi hành án trong trường hợp đơn yêu cầu thi hành án được trả lại hoặc việc thi hành án bị tạm ngừng.

+trong trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản

án, quyết định của toà án thì thời hạn 3 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đếnhạn

+theo qui định tại điều 29 pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 khibản án, quyết định được đưa ra thi hành mà xác định người phải thi hành án

Trang 26

không có tài sản để thi hành, thì cơ quan thi hành án trả lại đơn yêu cầu thihành án cho người được thi hành án trong trường hợp này, thời hiệu 3 nămđược tính từ ngày người phải thi hành án có điều kiện thi hành.

- thời hiệu thi hành án theo định kỳ:

+ bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 3 năm, được ápdụng cho từng kỳ, tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn

ví dụ: bản án có hiệu lực từ ngày 01/01/2000 ghi nhận sự thoả thuậnông a phải trả nợ cho ông b là 10.000.000 đồng nhưng phải trả làm 3 kỳ, mỗi

kỳ 3 tháng ngày 20/01/2000 ông a đã trả cho ông b là 3.000.000 đồng vàngày 20/4/2001 lại trả 3.000.000 đồng nữa thời hạn trả 4.000.000 đồng lầnthứ 3 là ngày 20/7/2002 nhưng ông a không trả được nữa do đó, thời hiệutính từ ngày 20/7/2002 tức là tính hết ngày 20/7/2005 mà ông b không yêucầu thi hành án để đòi nốt 4.000.000 đồng thì không có quyền yêu cầu thihành án nữa

-thời hiệu thi hành án trong trường hợp người được thi hành án vì trở ngại khách quan hoặc do điều kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án trong thời hạn luật định không tính vào thời hiệu thi hành án

khoản 2 điều 25 pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 qui định nhưsau:

+ nếu người yêu cầu thi hành án chứng minh được do trở ngại kháchquan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúngthời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả khángkhông tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án

việc cho thi hành bản án, quyết định sau khi đã hết thời hiệu thi hànhgọi là khôi phục thời hiệu tại khoản 3 điều 25 pháp lệnh thi hành án dân sựnăm 2004 qui định về khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án do thủ trưởng

cơ quan thi hành án nơi có thẩm quyền ra quyết định thi hành án xem xét raquyết định khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án, trong trường hợp không

Trang 27

có căn cứ khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án thì thủ trưởng cơ quan thihành án ra quyết định không chấp nhận yêu cầu thi hành án quá hạn củangười đó

tóm lại: khi bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật sẽđược các bên tự nguyện thi hành, nhà nước chỉ tham gia vào quá trình thihành án khi có yêu cầu của người được thi hành án, người phải thi hành án.đơn yêu cầu thi hành án phải được làm trong thời hiệu thi hành án theo quiđịnh của pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 và được gửi kèm theo bảnsao bản án

thông thường sau khi có quyết định thi hành án thì các bản án, quyếtđịnh của toà án có hiệu lực thi hành được đưa ra thi hành tuy nhiên cónhững trường hợp nhất định mà việc thi hành án có thể phải tạm ngừng,ngừng hẳn việc thi hành án hoặc trả lại đơn yêu cầu thi hành án mà pháp lệnhthi hành án dân sự ngày 01/7/2004 gọi đó là hoãn thi hành án, tạm đình chỉ,đình chỉ thi hành án

3.chủ động ra quyết định thi hành án, ra quyết định thi hành án theo yêu cầu.

- tịch thu tài sản, truy thu thuế,truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính;

- xử lý tài sản, vật chứng đã thu giữ;

- thu hồi đất theo qui định của toà án;

- quyết định về biện pháp khẩn cấp tạm thời của toà án

Ngày đăng: 21/07/2018, 14:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ ix 2. hiến pháp 1945 Khác
11. giáo trình luật tố tụng dân sự trường đại học khoa học xã hội và nhân văn Khác
12.giáo trình luật tố tụng dân sự trường đại học luật hà nội Khác
13.nghị định 69/cp ngày 18-10-1993 của chính phủ về quy định thủ tục thi hành án dân sự Khác
14.thông tư liên nghành số 981-ttln ngày 21-9-1993 của bộ tư pháp, toà án nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân dân tối cao Khác
15.tạp chí dân chủ và pháp luật 16.tạp chí kiểm sát Khác
19.tìm hiểu một số văn bản pháp luật về tố tụng dân sự tác giả lê thu hà (đại học luật hà nội) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w