Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạoTrường đại học nông nghiệp I
≡≡≡≡≡≡≡≡≡≡
phạm văn luân
Nghiên cứu khai thác, quản lý
và phát triển tài nguyên du lịch
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án này
là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tác giả luận án
Trang 3Lời cảm ơn Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận án của mình tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, khoa Sau đại học, sự chỉ bảo tận tình của thầy cô giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ của bạn bè đồng nghiệp, sự quan tâm và giúp đỡ của Sở Du lịch các quận huyện trên địa bàn Hải Phòng, UBND thành phố Hải Phòng, Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch Việt Nam, Tổng cục Du lịch Việt Nam,
Tôi xin trân trọng cảm ơn thầy giáo GS.TSKH Lê Đình Thắng,
trong suốt quá trình làm luận án
Tôi xin chân thành cảm sự giúp đỡ và động viên của vợ và các con tôi, cùng bạn bè và đồng nghiệp đã trao đổi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Hà Nội, ngày 1 tháng 10/2005 Tác giả
Phạm Văn Luân Phạm Văn Luân
Trang 4Danh môc viÕt t¾t
(Tæ chøc du lÞch thÕ giíi)
(HiÖp héi du lÞch thÕ giíi)
Trang 5qu¶n lý vµ ph¸t triÓn tµi nguyªn du lÞch
Trang 6Chương 3: Đánh giá thực trạng khai thác, quản lý
và phát triển tài nguyên du lịch trên địa bàn
quản lý và phát triển tài nguyên du lịch
Trang 7Danh mục bảng
3.3 Thực trạng số di tích đl đ−ợc khôi phục và quản lý ở khu vực
3.4 Kết quả tổng hợp điểm đánh giá sự phù hợp của từng tài nguyên
Trang 83.7 Kết quả điểm đánh giá khí hậu các vùng nông thôn Hải Phòng 92
3.9 Kết quả đánh giá sức hút du lịch của các loại tài nguyên
3.10 Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch trên địa bàn nông thôn
3.11 Tổng hợp kết quả kinh doanh và mức chi tiêu, ngày lưu trú bình quân của khách du lịch năm 2003-2004 (tại khu du lịch Đồ Sơn, Cát Bà
3.13 Hiện trạng quản lý một số dạng tài nguyên du lịch trên
3.14 Sự chồng chéo giữa các ngành trong quản lý
3.15 Lượng khách du lịch tại một số điểm có sự quản lý
3.20 Mức độ đầu tư phát triển tài nguyên và kết quả thu hút khách
Trang 10mở đầu
1 đặt vấn đề
Hiện nay, "du lịch đang góp phần xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm cho người lao động đặc biệt là người nông dân vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa" (thông điệp của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) năm 2003) [60] Theo Tổ chức Du lịch Thế giới, trong những năm gần đây, du lịch nông thôn
đang phát triển nhanh chóng ở nhiều quốc gia trên thế giới, thu hút được sự quan tâm của các tầng lớp trong xl hội, đặc biệt đối với những người có nhu cầu tham quan du lịch, nghỉ dưỡng và tìm hiểu tập quán sinh hoạt văn hoá, sản xuất ở nông thôn [60]
Hải Phòng có 94% diện tích tự nhiên là nông nghiệp, 80% dân số sống
ở nông thôn [39] Nông thôn Hải Phòng có tiềm năng tài nguyên du lịch tự nhiên phong phú đa dạng, tài nguyên nhân văn đặc sắc độc đáo Khai thác nguồn tài nguyên du lịch trên địa bàn nông thôn nhằm tạo ra những sản phẩm
du lịch hấp dẫn, giàu bản sắc dân tộc phục vụ cho phát triển du lịch là phù hợp với xu hướng, nhu cầu của du lịch trong giai đoạn hiện tại cũng như tương lai Phát triển du lịch nông thôn góp phần, tạo ra tính hấp dẫn du lịch, kéo dài ngày lưu trú bình quân của khách nâng cao hiệu quả của hoạt động du lịch v.v góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân cư ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Hiện nay tình trạng khai thác, quản lý và phát triển du lịch trên địa bàn nông thôn Hải Phòng đang ở giai đoạn khởi đầu, còn mới cả về lý luận, tổ chức khai thác, quản lý phát triển nên hiệu quả thấp Một số dạng tài nguyên bị khai thác bừa bli làm hủy hoại giá trị của tài nguyên Nguyên nhân của tình trạng trên là do sự hiểu biết về tài nguyên và môi trường du lịch của các cấp, ngành,
địa phương và nhân dân chưa được đầy đủ, khai thác tài nguyên du lịch ở nhiều vùng nông thôn chưa có quy hoạch hoặc quy hoạch chưa phù hợp, quản lý các
Trang 11nguồn tài nguyên du lịch còn chồng chéo, cơ chế chính sách chưa khuyến khích khai thác đầu tư, tôn tạo, bảo tồn và phát triển tài nguyên du lịch Do đó, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về khai thác, quản lý và phát triển tài nguyên du lịch trên địa bàn nông thôn Hải Phòng là hết sức cần thiết Vì lẽ
đó đề tài "Nghiên cứu khai thác, quản lý và phát triển tài nguyên du lịch trên
địa bàn nông thôn Hải Phòng" được chọn để nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
Nghiên cứu hệ thống các yếu tố tác động đến khai thác, quản lý và phát triển tài nguyên du lịch nhằm, phát huy ưu thế và khắc phục hạn chế trong quá trình khai thác, quản lý và phát triển tài nguyên du lịch trên địa bàn nông thôn Hải Phòng, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH)
Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn việc khai thác, quản lý và phát triển tài nguyên du lịch nông thôn
- Nghiên cứu thực trạng tài nguyên và thực trạng về khai thác, quản lý
và phát triển tài nguyên, tìm ra các nhân tố tác động đến quá trình khai thác, quản lý và phát triển tài nguyên du lịch trên địa bàn nông thôn Hải Phòng
- Đề xuất định hướng, các giải pháp nhằm khai thác, quản lý, phát triển tài nguyên du lịch trên địa bàn nông thôn Hải Phòng theo hướng hiệu quả bền vững
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là tài nguyên du lịch (TNDL) trên địa bàn nông thôn
và các hoạt động khai thác, quản lý và phát triển TNDL (vấn đề lý luận và thực tiễn) 3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về không gian
Địa lý hành chính thành phố Hải Phòng gồm: 05 quận nội thành, 08
Trang 12huyện và 01 thị xl [13] Để giới hạn về phạm vi không gian nghiên cứu, trên cơ sở đối tượng nghiên cứu được trình bày ở phần trên, nên phạm vi nghiên cứu tập trung tại 07 huyện trên địa bàn nông thôn Hải Phòng (Thuỷ Nguyên,
An Llo, Vĩnh Bảo, Tiên Llng, An Dương, Kiến Thụy, Cát Hải) và 2 quận, thị (Đồ Sơn, Kiến An) Đồ Sơn là thị xl nhưng do đặc thù về địa lý cũng như ngành nghề sản xuất của người dân chủ yếu là nông nghiệp, làm muối, nuôi trồng thuỷ sản nên chọn làm điểm nghiên cứu Riêng quận Kiến An theo địa
lý hành chính là quận mới được thành lập, nhưng còn một số phường sản xuất nông nghiệp và một số nghề, làng nghề truyền thống, là cầu nối giữa khu vực thành thị và nông thôn, vì vậy Kiến An cũng được chọn làm điểm nghiên cứu Luận án tập trung nghiên cứu về thực trạng TNDL và khai thác, quản lý, phát triển TNDL trên địa bàn nông thôn Hải Phòng trong mối quan hệ phát triển du lịch của Hải Phòng - Hà Nội - Quảng Ninh và các tỉnh đồng bằng sông Hồng
- Giới hạn về thời gian
Luận án tập trung nghiên cứu, phân tích các tư liệu, số liệu có liên quan
đến việc khai thác, quản lý và phát triển TNDL giai đoạn 1999-2004 và xây dựng phương hướng, giải pháp khai thác, quản lý và phát triển đến năm 2010
- Giới hạn về đối tượng
Đối tượng nghiên cứu khai thác, quản lý và phát triển tài nguyên du lịch nông thôn Hải Phòng gồm: cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố tự nhiên như bli tắm biển, mặt nước sông hồ, suối khoáng nóng, hang động tài nguyên nhân văn như di tích lịch sử, văn hoá, các công trình kiến trúc nghệ thuật, các lễ hội, làng nghề, trang trại v.v
4 Một số công trình nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước
Hiện nay, Việt Nam cũng như một số nước trên thế giới đl có nhiều công trình nghiên cứu về khai thác, quản lý và phát triển TNDL Theo tài liệu của Viện Địa lý - Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (trước đây), việc nghiên cứu khai thác tài nguyên trên cơ sở sử dụng phương pháp kỹ thuật đánh giá tài
Trang 13nguyên [27], tức là đánh giá phân loại các tổng thể tự nhiên theo mức độ thuận lợi của chúng cho một mục đích khai thác kinh tế nào đó, loại đánh giá này được sử dụng trong quá trình nghiên cứu, quy hoạch llnh thổ Kết quả
đánh giá sẽ làm cơ sở ban đầu cho việc xây dựng quy hoạch phát triển của một khu vực Theo Leiper [86], nghiên cứu khai thác, phát triển TNDL dựa trên cơ
sở hệ thống du lịch với 3 thành phần cơ bản nơi xuất phát của khách du lịch,
điểm du lịch (hay điểm tài nguyên) và các tuyến du lịch nối giữa nơi đi với nơi
đến Từ đó xác định các yếu tố liên quan trong mối quan hệ giữa 3 thành phần cơ bản của một hệ thống du lịch để tìm ra sức hút du lịch của điểm TNDL
ở nước ta, một số công trình nghiên cứu đl công bố có liên quan đến quá trình khai thác, quản lý và phát triển TNDL Tập thể tác giả: Phạm Trung Lương, Đặng Duy Lợi, Vũ Tuấn Cảnh, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Ngọc Khánh [27] đưa ra các phương pháp đánh giá TNDL theo 3 kiểu đánh giá, đó
là đánh giá tâm lý - thẩm mỹ, đánh giá sinh khí hậu, đánh giá kỹ thuật Kiểu
đánh giá tâm lý - thẩm mỹ nhằm đánh giá mức độ cảm xúc và phản ứng về tâm lý, thẩm mỹ của khách du lịch đối với dạng tài nguyên du lịch Tác giả Nguyễn Thị Hải (2002) đl nghiên cứu đề tài luận án tiến sĩ về "Đánh giá tài nguyên phát triển du lịch cuối tuần vùng phụ cận Hà Nội"[16] Một số cuộc hội thảo khoa học do Tổng cục Du lịch Việt Nam phối hợp với các tổ chức du lịch khu vực và thế giới bàn về vấn đề quản lý TNDL, phát triển du lịch sinh thái Đặc biệt năm 2003 Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch (Tổng cục Du lịch) nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước, "Cơ sở khoa học cho các chính sách, giải pháp quản lý khai thác tài nguyên du lịch ở Việt Nam" [73]
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đl có những khía cạnh liên quan đến quá trình khai thác, quản lý và phát triển tài nguyên du lịch Nhưng
do phụ thuộc vào các mục tiêu nghiên cứu, các công trình chưa phản ánh một cách toàn diện quá trình khai thác, quản lý và phát triển tài nguyên du lịch trên địa bàn nông thôn nói chung và nông thôn Hải Phòng nói riêng Vì vậy luận án sẽ tập trung nghiên cứu với mục tiêu khai thác, quản lý và phát triển tài nguyên một cách hiệu quả và bền vững
Trang 14Chương 1cơ sở lý luận và thực tiễn về khai thác, quản lý
và phát triển tài nguyên Du lịch trên địa bàn nông thôn
1.1 Tổng quan về du lịch
1.1.1 Khái quát quá trình phát triển du lịch
Từ thời cư dân cổ đại, loài người đl di cư đi suốt trái đất Sau đó tới những chuyến thám hiểm của Marco Polo, Ibn Battuta, Christopher Colombus, Ferdinand Magellan, James Cook vòng quanh thế giới đl thực sự đặt nền móng cho sự phát triển ngành công nghệ du lịch [88] Du lịch cũng như một
số ngành kinh tế kỹ thuật khác, khi phát triển cũng thường trải qua nhiều giai
đoạn từ thấp đến cao, chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, đơn giản đến hiện đại [20] Sự phát triển của du lịch thế giới trước năm 1950 khi điều kiện kinh tế,
kỹ thuật công nghệ, khoa học còn trình độ thấp kém du lịch chỉ đơn thuần là những cuộc giao du hành hương của một số người trong xl hội, du lịch chưa phải là nhu cầu của xl hội (dẫn theo [44])
Từ năm 1950 đến nay khi trình độ khoa học kỹ thuật công nghệ đạt tới mức tự động hoá, mở ra những con đường xuyên qua mọi địa hình, nó đl tạo
sự thúc đẩy phát triển mạnh mẽ về mọi mặt của đời sống kinh tế xl hội ở nhiều nước trên thế giới (dẫn theo [44]) Vì vậy nhu cầu du lịch đl ngày càng
được phát triển và du lịch không thể thiếu đối với cuộc sống của nhiều người trong xl hội, bởi vì du lịch ngoài việc thoả mln các nhu cầu về giao lưu tình cảm và lý trí, khám phá thế giới, du lịch còn là một hình thức nghỉ dưỡng, nhằm tái tạo lại sức lao động cho con người Đến nay tình hình phát triển du lịch thế giới đl có nhiều triển vọng, tốc độ tăng trưởng và phát triển đạt ở mức
độ cao và ổn định (bảng 1.1)
Trang 15B¶ng 1.1 Sù ph¸t triÓn cña du lÞch thÕ giíi (1950-2005)
N¨m
L−ît kh¸ch quèc tÕ (triÖu l−ît)
Doanh thu tõ
DL quèc tÕ* (tû USD)
Trang 16Nếu năm 1950 khách du lịch quốc tế chỉ là 25 triệu người và thu từ du lịch quốc tế đạt 2,1 tỷ USD thì đến năm 2005 lượng khách du lịch quốc tế đạt tới 925,09 triệu người và doanh thu là 689 tỷ USD Do vậy, tốc độ tăng trưởng bình quân mỗi năm tăng 20% Năm 2005 so với năm 1950, lượng khách quốc
tế tăng gấp 37 lần và doanh thu du lịch tăng gấp hơn 300 lần Đây là kết quả thể hiện sự phát triển mạnh mẽ của du lịch thế giới không chỉ về lượng mà còn cả về chất đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách
Theo đánh giá của Hiệp hội Du lịch Thế giới (WTTC) trên phạm vi toàn cầu, du lịch là ngành kinh tế "công nghiệp" chiếm tỷ trọng lớn nhất (7,9%) trong các ngành hàng xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ, trên cả xuất khẩu ô tô (7,8%), máy tính và thiết bị văn phòng (5,9%), quần áo vải vóc (4,9%) [72] Sự phát triển của du lịch đl vượt hơn ngành công nghiệp ô tô, sắt thép, điện tử và nông nghiệp Chính vì vậy ngày nay nhiều quốc gia rất quan tâm đến phát triển
du lịch Du lịch phát triển là xu hướng tất yếu, một nhu cầu của cuộc sống hiện tại của trên 800 triệu người năm 2004 và của trên 1 tỷ người trong vài năm tới [72] Tuyên bố Osaka của Hội nghị Bộ trưởng Du lịch các nước trên thế giới
"Du lịch là con đẻ của hoà bình, là phương tiện củng cố hoà bình, phương tiện góp phần cân bằng cán cân thanh toán quốc tế" (dẫn theo [80]) Du lịch phát triển đl tác động mạnh mẽ đến tất cả mọi mặt đời sống xl hội, đồng thời còn thúc đẩy nhanh quá trình quốc tế hoá Chính vì vậy du lịch được nhận thức như một ngành kinh tế tổng hợp Phát triển du lịch tác động đến nhiều ngành kinh tế khác như giao thông vận tải, ngành xây dựng sản xuất vật liệu và xây dựng các công trình phục vụ nhu du lịch, ngành nông nghiệp sản xuất lương thực, thực phẩm phục vụ nhu cầu ăn uống của khách Ngoài ra các ngành dịch vụ bưu chính viễn thông, y tế, tài chính, ngân hàng cũng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp đến các hoạt động dịch vụ du lịch Du lịch với vai trò là ngành kinh tế tổng hợp mở rộng cơ sở kinh tế, tăng thu ngoại tệ và tạo việc làm, thu hút nhiều lao
động và tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh quy mô nhỏ cho lao động phụ nữ, lao
Trang 17động trẻ Sự phát triển du lịch ở các khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa sẽ góp phần xoá đói nghèo thông qua tạo công ăn việc làm và thu nhập [91]
Sự phát triển mạnh của du lịch thế giới trong những thập kỷ qua do tác
động của nhiều yếu tố, trong đó nhu cầu đi du lịch trên thế giới ngày càng cao
và các sản phẩm du lịch đang ngày càng hấp dẫn là một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào sự phát triển của du lịch thế giới Vì thế khai thác, quản lý, phát triển tài nguyên để tạo ra các sản phẩm du lịch hấp dẫn thu hút khách mà vẫn đảm bảo tài nguyên phát triển bền vững đang là vấn đề được đặt
ra và thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay Khai thác
và phát triển TNDL ở khu vực nông thôn tạo ra những sản phẩm giàu bản sắc văn hoá dân tộc hấp dẫn đl và đang được nhiều quốc gia quan tâm như Tây Ban Nha, Nhật Bản, Pháp, Trung Quốc, Thái Lan [33]
Xu hướng phát triển của du lịch hiện nay là hiện đại hướng về tự nhiên
và văn hoá Sự phát triển hiện đại của du lịch được hiểu là phát triển du lịch
đáp ứng được mọi nhu cầu của du khách, chứ không chỉ đơn thuần là công nghệ hiện đại, phương tiện hiện đại, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại Do đó việc khai thác, quản lý và phát triển TNDL nói chung, TNDL trên địa bàn nông thôn nói riêng để tạo ra sản phẩm du lịch hấp dẫn là vấn đề rất quan trọng Để có một sản phẩm du lịch hấp dẫn thì điều quan trọng là cần phải có TNDL hấp dẫn, nhưng có những TNDL chưa chắc đl trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn do việc khai thác chưa xem xét các lợi thế của tài nguyên có thể khai thác loại hình du lịch nào là phù hợp Vì vậy, khai thác, quản lý phát triển tài nguyên là vấn đề quan trọng không thể thiếu được trong việc nghiên cứu xây dựng các sản phẩm du lịch, hoạch định chiến lược phát triển du lịch
và xu hướng phát triển du lịch hiện đại
1.1.2 Quan niệm khoa học về du lịch
1.1.2.1 Khái niệm về du lịch
Trước thế kỷ XIX, du lịch là hiện tượng của xl hội, đi du lịch chủ yếu những người giàu có Gần đây ngành du lịch phát triển mạnh trở thành ngành
Trang 18kinh tế lớn đl thu hút được sự chú ý của các học giả, các nhà nghiên cứu từ nhiều ngành khác nhau cũng như quan chức chính phủ các nước đang quan tâm đến vấn đề du lịch [88] Nhiều định nghĩa về "du lịch” và "du khách”
được đưa ra
Khái niệm về du lịch theo quan điểm rộng rli hiện nay được Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Ottawa - Canada tháng 6 năm 1991: "Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình) trong khoảng thời gian đl được tổ chức du lịch quy
định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi của vùng tới thăm" (dẫn theo [44])
Khái niệm về du lịch được sử dụng rộng rli hiện nay thường dựa vào sự chuyển động của con người trên một khoảng cách nơi xuất phát và nơi đến, thời gian và mục đích chuyến đi Vì vậy, thuật ngữ du lịch là chuyển động của con người đl được Tổ chức Du lịch Thế giới và các nước Mỹ, Anh, Canada,
úc, chấp thuận [78],[83] Nhưng điều này gây ra những khó khăn về thông tin thống kê cho các học giả khi sử dụng để phát triển cơ sở dữ liệu, mô tả hiện tượng du lịch và phân tích nó
ở Việt Nam, khái niệm về du lịch đl được đưa ra tại khoản 1 Điều 4 Luật Du lịch năm 2005 quy định "Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định” [26]
Khái niệm về du lịch bao gồm khái niệm các yếu tố dưới đây:
- Khách du lịch: khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi
đến [26] Khách du lịch là những người đi du lịch với mục đích là luôn muốn khám phá thế giới tự nhiên, xl hội nhằm thoả mln về tâm lý và tinh thần Vì vậy, khách du lịch thường quan tâm sản phẩm du lịch nơi họ đến Nên vấn đề
Trang 19khai thác tài nguyên, tổ chức các dịch vụ tại các điểm du lịch là một trong yếu
tố quan trọng để khách du lịch sẽ quyết định đến việc lựa chọn điểm đến và các hoạt động du lịch trong chuyến đi của họ
- Hoạt động du lịch: trên cơ sở mục đích của khách du lịch có thể thấy Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, của tổ chức các nhân kinh doanh du lịch, của cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
đến du lịch [26], [78] Trong hoạt động du lịch các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho khách du lịch là những nhà kinh doanh họ coi du lịch là một cơ hội lớn để thu lợi bằng việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ mà thị trường du khách yêu cầu Chính phủ của các nước, những nhà chính trị coi hoạt động du lịch là yếu tố thiết yếu đối với nền kinh tế thông qua các khoản thuế từ chi tiêu của du khách và gắn liền với thu nhập của người dân Dân cư tại điểm du lịch
là người dân địa phương tại các điểm du lịch họ thường coi du lịch như một nhân tố văn hoá và việc làm [88]
Với cách hiểu trên đây cho thấy du lịch là tổng thể những hiện tượng và những mối quan hệ phát sinh từ sự tác động qua lại lẫn nhau giữa khách du lịch, những nhà kinh doanh du lịch, chính quyền sở tại và cộng đồng dân cư
địa phương trong quá trình thu hút và lưu giữ khách du lịch
Từ những quan niệm trên có thể hiểu bản chất của du lịch là ngành kinh
tế dịch vụ Bởi vì dịch vụ là một hoạt động kinh tế nối liền giữa các quá trình sản xuất với sản xuất, sản xuất với khoa học kỹ thuật, khoa học kỹ thuật với
đời sống con người Với các mặt quan hệ đó, phạm trù "dịch vụ” trở nên rất rộng, bao gồm dịch vụ sản suất, dịch vụ khoa học kỹ thuật, dịch vụ đời sống con người Hoạt động dịch vụ đời sống con người không nằm ngoài phạm trù dịch vụ nói chung Vì vậy, hoạt động du lịch là dịch vụ phục vụ thoả mln mọi nhu cầu con người trong quá trình đi du lịch Các dịch vụ đó mang lại lợi ích kinh tế cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Dịch vụ du lịch là giữa "sản xuất” và "tiêu thụ” được thực hiện ở cùng một thời điểm "sản xuất” không phải
Trang 20lưu kho nên sản phẩm của du lịch vừa có đặc điểm chung của dịch vụ vừa có
đặc điểm riêng so với dịch vụ sản xuất, dịch vụ khoa học kỹ thuật, dịch vụ đời sống khác
Tóm lại, từ những nội dung trên đây có thể hiểu bản chất của hoạt
động du lịch là "ngành kinh tế dịch vụ", đây là một quan niệm mới nó có ý nghĩa về nhận thức, về quản lý về tổ chức hoạt động Dịch vụ du lịch là một loại hình dịch vụ nhằm thoả mln nhu cầu cho khách du lịch trong suốt thời gian đi du lịch Du lịch một mặt mang ý nghĩa thông thường việc đi lại của con người với mục đích nghỉ ngơi giải trí mặt khác du lịch là hoạt động gắn chặt với kết quả kinh tế, sản xuất, tiêu thụ do chính nó tạo ra
1.1.2.2 Các phương thức tiếp cận nghiên cứu về du lịch
Quan niệm khoa học coi du lịch là ngành kinh tế dịch vụ Vì vậy, khi nghiên cứu về du lịch trước hết phải xem xét các phương thức tiếp cận, các khía cạnh cần quan tâm từ các góc độ khác nhau để làm rõ các yếu tố tiến hành hoạt động dịch vụ du lịch [88]
thức tiến hành bước đầu trong tổ chức hoạt động du lịch, khi tiếp cận từ góc
độ này cần quan tâm nhiều đến các trung gian tham gia cung cấp các dịch vụ
du lịch Đơn vị được chú trọng nhất là các đại lý du lịch Phương thức tiếp cận này đòi hỏi phải nghiên cứu về cách thức tổ chức, phương thức hoạt động, các vấn đề chi phí và địa điểm đại lý du lịch hoạt động đại diện cho khách hàng về việc dịch vụ mua bán vé từ hlng hàng không hoặc công ty cho thuê xe ô tô, khách sạn…
- Từ góc độ sản phẩm dịch vụ du lịch, có thể thấy sau khi đl hình thành các khâu tổ chức cung cấp các hoạt động du lịch thì một số vấn đề được các nhà tổ chức hoạt động du lịch quan tâm là sản phẩm du lịch là gì, gồm các yếu tố nào tạo nên, phương thức sản xuất, quảng cáo và tiêu dùng như thế nào Từ góc độ này khi tiếp cận dựa trên đặc điểm cơ bản của TNDL có thể thấy rằng: sản phẩm du lịch
Trang 21được tạo bởi yếu tố TNDL và tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả m n nhu cầu chuyến đi của du khách Vấn đề chất lượng dịch vụ và TNDL hấp dẫn quyết định
sự hấp dẫn của sản phẩm du lịch Vì vậy, cần quan tâm đến các hoạt động dịch vụ,
đặc biệt là vấn đề khai thác, quản lý và phát triển TNDL để tạo ra sản phẩm du lịch hấp dẫn
- Từ góc độ lịch sử, nếu các nhà tổ chức hoạt động du lịch mà biết sử dụng từ góc độ lịch sử để phân tích các hoạt động du lịch, các thể chế phát triển qua các giai đoạn lịch sử khác nhau sẽ giúp cho các nhà tổ chức du lịch tìm ra nguyên nhân thay đổi, sự tăng trưởng hoặc suy giảm và dịch chuyển trong phát triển du lịch
- Từ góc độ quản lý, có thể thấy đây là một phương thức tiếp cận nghiên cứu phổ biến, sử dụng phương pháp và cách nhìn nhận từ các nguyên tắc khác nhau như khi sản phẩm thay đổi, tổ chức thay đổi, xl hội thay đổi thì có nghĩa
là các mục tiêu và thủ tục quản lý cũng phải thay đổi để có thể theo kịp những thay đổi trong môi trường du lịch Do vậy khi tiếp cận nghiên cứu du lịch từ góc độ quản lý cần xây dựng các định hướng, quy hoạch, nghiên cứu, định giá, quảng cáo, kiểm soát… vững chắc, tập trung vào các hoạt động quản lý cần thiết
- Từ góc độ kinh tế, có thể thấy đây là phương thức tiếp cận rất hữu ích trong việc đưa ra một khuôn khổ để phân tích du lịch và sự đóng góp của ngành đối với nền kinh tế và sự phát triển kinh tế đất nước Do vậy, tiếp cận
du lịch từ góc độ này cần tập trung chủ yếu vào cung - cầu, cán cân thanh toán, trao đổi ngoại tệ, lao động, chi tiêu, phát triển và những nhân tố kinh tế khác Mặt khác cũng cần xem xét những tác động phi kinh tế khác liên quan
đến môi trường, văn hoá, xl hội Hoạt động phát triển du lịch có mặt tích cực nhưng cũng có những tác động tiêu cực đến môi trường và xl hội Thế giới đl
có kinh nghiệm trong việc làm thế nào để tăng lợi ích của hoạt động du lịch
đồng thời hạn chế được các tác động tiêu cực nảy sinh Từ đó vấn đề đặt ra
Trang 22hiện nay là phải cân bằng được lợi ích và chi phí để lợi nhất về kinh tế xl hội
và môi trường Chính vì vậy khi nghiên cứu về du lịch đặc biệt là việc khai thác phát triển TNDL trên địa bàn nông thôn cần phải quan tâm nhiều đến lợi ích và chi phí để đảm bảo phát triển du lịch hiệu quả và bền vững
- Từ góc độ x hội học, có thể thấy tiếp cận du lịch từ góc độ này thường xem xét tác động của du lịch đến các tầng lớp xl hội ở một số lĩnh vực như thói quen, phong tục tập quán của người dân địa phương và du khách Vì vậy, du lịch phát triển càng phải quan tâm đến vấn đề xl hội học nhiều hơn để nhận xét những thay đổi của các tầng lớp xl hội
- Từ góc độ địa lý học, giúp cho các nhà nghiên cứu hoạt động du lịch quan tâm các khía cạnh như tự nhiên, vị trí địa lý, môi trường, khí hậu, phong cảnh và các khía cạnh kinh tế khác Phương thức này áp dụng trong du lịch sẽ làm sáng tỏ việc lựa chọn các địa điểm, khu vực thuận lợi cho phát triển du lịch, sự di chuyển của cư dân do hoạt động du lịch, những thay đổi về cảnh quan về kinh tế, xl hội và văn hoá do tác động của du lịch
- Từ góc độ liên ngành, du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp có tính liên vùng, liên ngành và xl hội hoá cao, vì vậy việc nghiên cứu du lịch không thể tách rời mối quan hệ liên ngành
- Tiếp cận theo phương pháp hệ thống, có thể thấy phương thức tiếp cận này rất quan trọng trong nghiên cứu du lịch, bởi hoạt động du lịch có liên quan đến nhiều yếu tố xl hội, tự nhiên, kinh tế Nghiên cứu hệ thống cho phép phân tích biện chứng các mối quan hệ nhằm đạt tới mục tiêu nghiên cứu
đặt ra Tính hệ thống còn được thể hiện ở các mức độ nghiên cứu khác nhau từ quốc tế, khu vực, quốc gia đến vùng llnh thổ và khu điểm du lịch trong một mối quan hệ thống nhất biện chứng
1.1.3 ý nghĩa kinh tế - xã hội của du lịch
- Về kinh tế
Du lịch có tác động tích cực đến nền kinh tế thông qua việc tiêu dùng
Trang 23của khách du lịch, góp phần làm sống động kinh tế ở nơi du lịch, từ đó kích thích tăng cường huy động vốn nhàn rỗi trong nhân dân vào chu chuyển
Hoạt động du lịch có tác động tích cực đến sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác như sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp thực phẩm, nông nghiệp, công nghiệp gỗ, dệt, thuỷ sản, thủ công mỹ nghệ Ngoài ra du lịch phát triển còn tác động đến sự phát triển của y tế, văn hoá, thương mại, bưu chính viễn thông, ngân hàng, giao thông vận tải… góp phần khôi phục và phát triển các làng nghề thủ công truyền thống, tăng thu nhập quốc dân
Hoạt động du lịch quốc tế là nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho đất nước,
đồng thời du lịch quốc tế phát triển, nhờ đó xuất khẩu tại chỗ được một số mặt hành tiêu dùng, thủ công mỹ nghệ và các sản phẩm lương thực thực phẩm của ngành nông nghiệp, công nghiệp, thuỷ sản… Nhiều nước trên thế giới có nền kinh tế phụ thuộc phần lớn vào du lịch
Tóm lại, về kinh tế du lịch có ý nghĩa rất lớn, phát triển du lịch đl mang lại hiệu quả cho nền kinh tế của quốc gia, đồng thời phát triển du lịch nông thôn tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và sự phát triển của nhiều ngành, nhiều địa phương
- Về x hội
Du lịch phát triển tạo ra nhiều công ăn việc làm cho xl hội, tăng thu nhập cho người lao động và dân địa phương Thông thường TNDL tự nhiên, nhân văn thường tập trung nhiều ở vùng nông thôn, vùng núi xa xôi, vùng ven biển hay những vùng nguyên sơ khác Khi có kế hoạch khai thác tiềm năng tài nguyên để phát triển du lịch, cần thiết phải đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng như giao thông, điện nước, bưu chính viễn thông, nhờ phát triển du lịch
sẽ góp phần làm thay đổi bộ mặt vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn và làm giln dân từ các khu dân cư tập trung từ các đô thị ra các vùng du lịch
Phát triển du lịch quốc tế là phương tiện quảng bá hữu hiệu cho đất nước làm du lịch và mở rộng củng cố mối quan hệ kinh tế đầu tư quốc tế Du
Trang 24lịch nội địa phát triển tạo điều kiện để tái sản xuất sức lao động cho nhân dân, góp phần tăng năng suất lao động Thông qua du lịch, con người mở mang thêm kiến thức, đáp ứng được lòng ham hiểu biết, góp phần hình thành những
ước mơ sáng tạo mới
Phát triển du lịch còn tăng cường mở rộng giao lưu văn hoá thông qua các cuộc giao tiếp giữa khách du lịch và người bản xứ hiểu biết lẫn nhau về lịch sử, văn hoá, phong tục tập quán, đạo đức lối sống, chế độ xl hội
Du lịch là phương tiện giáo dục lòng yêu nước, yêu thiên nhiên từ đó người dân nâng cao truyền thống dân tộc và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc
Du lịch góp phần bảo tồn các di sản văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường
Du lịch nông thôn có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục nâng cao hiểu biết của du khách về môi trường tự nhiên, qua đó tạo ý thức tham gia của khách du lịch vào việc bảo tồn, góp phần bảo vệ và phát triển bản sắc văn hoá
Du lịch nông thôn là loại hình du lịch khai thác những giá trị tự nhiên
và văn hoá làng quê để hấp dẫn thu hút khách, vì vậy nó có ý nghĩa rất lớn Ví
dụ ở Thái Lan hiện nay chiến lược phát triển du lịch chú trọng vào du lịch sinh thái và du lịch văn hoá, tận dụng những đặc điểm độc đáo làm cho du lịch Thái Lan khác với các điểm du lịch ở Đông Nam á [33]
Du lịch nông thôn luôn hướng tới việc huy động tối đa sự tham gia của người dân địa phương vào các hoạt động như làm vai trò hướng dẫn viên cho khách, làm việc tại các nhà nghỉ phục vụ du khách, sản xuất cung ứng về thực phẩm phục vụ các nhu cầu khách, sản xuất các hàng lưu niệm bán cho khách thông qua đó tạo thêm việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương,
Phát triển du lịch nông thôn sẽ góp phần phát huy bảo tồn các giá trị tự nhiên và văn hoá làng quê, bởi quyền lợi của cộng đồng gắn liền với du lịch và
họ là người chủ thực sự bảo vệ các giá trị tự nhiên và văn hoá mà dựa vào đó
du lịch nông thôn phát triển
Trang 251.2 Tài nguyên du lịch và đặc điểm tài nguyên du lịch trên địa
bàn nông thôn
1.2.1 Tài nguyên du lịch trên địa bàn nông thôn
1.2.1.1 Tài nguyên du lịch và các đặc điểm cơ bản
- Khái niệm tài nguyên du lịch
Tài nguyên là một trong những yếu tố quan trọng trong phát triển kinh
tế và đời sống con người Hiểu theo nghĩa rộng tài nguyên là bao gồm tất cả các nguồn lực, năng lượng và thông tin có trên trái đất và trong không gian vũ trụ liên quan mà con người có thể sử dụng phục vụ cho cuộc sống và cho sự phát triển của mình [27]
Những tài nguyên có thể được sử dụng cho phát triển du lịch đều được xem là TNDL Các học giả Trung Quốc cho rằng "tất cả các nhân tố có thể kích thích động cơ du lịch của du khách được ngành du lịch tận dụng và từ đó sinh
ra lợi ích kinh tế và lợi ích xl hội thì đều gọi là tài nguyên du lịch” [9]
Theo khoản 4, Điều 4 Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 quy định TNDL là "cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được
sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các khu
Trang 26thoả mln nhu cầu khác nhau của du khách như nghỉ ngơi, tham quan, khám phá, nghiên cứu khoa học, vui chơi… được khai thác phục vụ cho các hoạt
động du lịch cũng được coi là TNDL tự nhiên TNDL tự nhiên là một phần quan trọng của TNDL
- TNDL nhân văn: gồm truyền thống văn hoá, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác
có thể được sử dụng cho mục đích du lịch Tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo, nghĩa là những của cải vật chất và của cải tinh thần do con người sáng tạo ra
từ xưa đến nay, có thể xây dựng thành các sản phẩm du lịch thì được gọi là TNDL nhân văn TNDL nhân văn gắn liền với các yếu tố nhân văn của con người và xl hội, bao gồm các di tích lịch sử văn hoá, lễ hội, làng nghề, phong tục tập quán, các nét sinh hoạt văn hoá đương đại, các công trình kiến trúc nghệ thuật, các sự kiện
Các yếu tố của TNDL luôn tồn tại và gắn liền với môi trường tự nhiên, môi trường xl hội đặc thù của mỗi vùng llnh thổ, các yếu tố này chỉ trở thành TNDL khi được phát hiện, được khai thác và sử dụng cho mục đích phát triển
du lịch [27] Mức độ khai thác và sử dụng tiềm năng TNDL thường phụ thuộc vào khả năng nghiên cứu phát hiện và đánh giá các tiềm năng tài nguyên vốn còn tiềm ẩn cũng như các yêu cầu đòi hỏi phát triển các sản phẩm du lịch nhằm thoả mln nhu cầu của khách du lịch TNDL được xem như tiền đề để phát triển
du lịch, TNDL càng phong phú thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao Cũng giống các dạng tài nguyên khác, TNDL có phạm trù lịch sử và
xu hướng ngày càng mở rộng Sự mở rộng của TNDL thường tuỳ thuộc rất nhiều vào yêu cầu phát triển du lịch, vào tiến bộ khoa học kỹ thuật, sự đầu tư, các sáng kiến, sở thích của con người cũng như trình độ khai thác, quản lý và phát triển tài nguyên của con người Bên cạnh những tài nguyên đl và đang
Trang 27được khai thác, nhiều TNDL tồn tại dưới dạng tiềm năng do chưa được nghiên cứu điều tra đánh giá đầy đủ, chưa có nhu cầu khai thác do "cầu" còn thấp, hoặc
do tính đặc sắc tài nguyên thấp và điều kiện tiếp cận hoặc phương tiện khai thác còn hạn chế, chưa đủ điều kiện khả năng để đầu tư khai thác
- Những đặc điểm cơ bản của tài nguyên du lịch
TNDL có những đặc điểm cơ bản dưới đây:
+ TNDL vốn có sẵn trong thiên nhiên hoặc trong đời sống xl hội + TNDL phần lớn thường được sử dụng tại chỗ để tạo ra các sản phẩm
du lịch Du khách muốn thưởng thức các sản phẩm du lịch phải đi đến tận nơi
có các tài nguyên du lịch đó Đây là đặc tính phân biệt các TNDL với các dạng tài nguyên khác Những tài nguyên tự nhiên như núi sông, rừng biển, những tài nguyên văn hoá như các công trình kiến trúc, các di tích, danh lam
đều không thể di dời Ngay cả các di sản văn hoá phi vật thể thì cũng chỉ có một số loại hình có thể đưa đi phục vụ ở những nơi khác như ca múa nhạc dân tộc trò chơi dân gian Tuy nhiên, ngay cả những loại hình này cũng chỉ thực
sự phát huy hết giá trị của chúng ngay ở trên quê hương sinh sản ra chúng Gần đây có một số lễ hội được tái hiện trình diễn cho du khách ở nơi khác, tuy nhiên điều này đl ảnh hưởng đến các giá trị vốn có và ít hấp dẫn du khách
+ TNDL có những loại có khả năng khai thác quanh năm, có loại ít nhiều lệ thuộc vào thời vụ Sự lệ thuộc là do đặc điểm tự nhiên, khí hậu hoặc phong tục tập quán, nghi lễ tôn giáo đặc điểm các hoạt động xl hội tạo ra tính chất mùa vụ của hoạt động du lịch Do vậy cần nghiên cứu các khía cạnh ưu thế của tài nguyên để hạn chế tính mùa vụ Ví dụ: Hải Phòng, khu du lịch Đồ Sơn - Cát Bà, nơi hội tụ nhiều TNDL, nhưng ở đây sản phẩm chính hiện nay là tắm biển, do vậy có thể khai thác các ưu thế của các loại tài nguyên để phát triển các loại hình như; du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch cuối tuần, cuối ngày để khắc phục tính mùa vụ
Trang 28+ TNDL không chỉ có giá trị hữu hình mà còn có giá trị vô hình Bởi vì giá trị hữu hình TNDL là phương tiện vật chất trực tiếp tham gia vào việc hình thành lên các sản phẩm du lịch Ví dụ, một món ăn truyền thống là sản phẩm du lịch được hình thành trên cơ sở vật chất hữu hình Giá trị vô hình
được thể hiện ở chỗ du khách ngoài ăn ngon ra còn cảm nhận về tâm lý, thẩm
mỹ khi thưởng thức món ăn, làm cho con người thoả mln về mặt tinh thần Chính vì vậy nhiều tài nguyên càng khai thác thì giá trị càng tăng bởi sự hiểu biết và nhận thức của con người về tài nguyên du lịch đó
+ TNDL phong phú đa dạng, các giá trị văn hoá, ngành nghề thủ công, các phong tục tập quán , chúng có thể là hữu hình nhưng cũng có thể là vô hình "Thậm chí có thể nói bất cứ một tồn tại khách quan nào trên thế giới đều
có thể cấu thành TNDL, bất cứ không gian nào con người có thể vươn tới đều
có thể có tài nguyên du lịch miễn là chúng có thể đáp ứng điều kiện phù hợp cũng như nhu cầu đa dạng của du khách" [27]
Vì vậy TNDL có khả năng tạo nên sản phẩm du lịch phong phú đa dạng, thoả mln được mọi nhu cầu của khách du lịch TNDL đóng vai trò quan trọng đối với phát triển du lịch
+ TNDL là yếu tố cơ bản để hình thành các sản phẩm du lịch; sản phẩm du lịch được tạo nên bởi nhiều yếu tố, song trước hết phải là TNDL TNDL càng đặc sắc, độc đáo thì giá trị của sản phẩm du lịch càng cao, càng hấp dẫn
+ TNDL đóng vai trò quan trọng trong tổ chức llnh thổ du lịch, hệ thống llnh thổ du lịch thể hiện mối quan hệ về không gian của các yếu tố cấu tạo nên nó, TNDL là yếu tố quyết định sự phân bố không gian, quy mô llnh thổ của hệ thống du lịch
+ TNDL có tính hấp dẫn Các học giả Trung Quốc coi đây là đặc trưng cơ bản nhất của TNDL, chính đặc điểm này đl phân biệt tài nguyên nói chung
Trang 29với TNDL Nếu không có tính hấp dẫn thì chúng không thể được coi là TNDL
và chúng không còn tồn tại nếu đánh mất tính hấp dẫn Vì vậy quá trình khai thác cần quan tâm bảo vệ, nâng cấp tài nguyên đảm bảo cho tài nguyên giữ
được tính hấp dẫn vốn có
trong việc tổ chức khai thác hợp lý, hiệu quả làm tăng giá trị của tài nguyên trong phát triển du lịch
1.2.1.2 Đặc điểm tài nguyên du lịch trên địa bàn nông thôn
TNDL và TNDL trên địa bàn nông thôn ở đây không có nghĩa là hai loại tài nguyên khác nhau, bởi TNDL hay TNDL trên địa bàn nông thôn về bản chất đều như nhau Nhưng khi phân thể loại du lịch dựa vào các tiêu thức như vị trí địa lý nơi du lịch, lĩnh vực tài nguyên sử dụng… thì những TNDL nằm trên vị trí địa lý ở khu vực nông thôn và một số loại hình du lịch có sử dụng tài nguyên ở lĩnh vực nông thôn gọi là TNDL trên địa bàn nông thôn
TNDL trên địa bàn nông thôn là những dạng TNDL tự nhiên hay nhân tạo ở trên địa bàn vùng nông thôn được con người khai thác phục vụ mục đích
du lịch Trong đó những giá trị của tài nguyên gắn liền với cuộc sống của người nông dân được xem là những TNDL nông thôn đặc thù Vì vậy, TNDL trên địa bàn nông thôn cũng có những đặc điểm cơ bản của TNDL đl được trình bầy trên Tuy nhiên khi nói đến đặc điểm TNDL trên địa bàn nông thôn ngoài những đặc điểm cơ bản chung vốn có của TNDL thì thường nhấn mạnh
đến đặc điểm tài nguyên gắn liền với cuộc sống người nông dân ở nông thôn như tập quán canh tác, cảnh quan làng quê, sinh hoạt truyền thống của người nông dân, kiến trúc làng mạc, các hoạt động văn hoá gắn với cuộc sống người nông dân Những TNDL khác như bli biển hang động, sông hồ núi đồi ở vùng nông thôn cũng có thể được khai thác phát triển du lịch nông thôn, tuy
Trang 30nhiên cần khai thác ở góc độ gắn với cuộc sống của người nông dân Như vậy
dù có những cách gọi khác nhau, nhưng nói chung bản chất của khái niệm thống nhất như khái niệm về TNDL đl được quy định tại các tài liệu chính thức về du lịch
1.2.2 Phát triển du lịch nông thôn
1.2.2.1 Khái niệm du lịch nông thôn
Để hiểu thế nào là du lịch nông thôn một cách toàn diện trước hết phải hiểu rõ những đặc điểm cơ bản ở nông thôn đó là [15]:
- Về địa lý tự nhiên là địa bàn rộng lớn trải quanh đô thị
- Về kinh tế nông thôn là địa bàn sản xuất chủ yếu các ngành nghề nông, lâm, ngư nghiệp, thủ công nghiệp và các dịch vụ khác
- Tính chất xl hội, cơ cấu dân cư ở nông thôn chủ yếu là nông dân sống theo tổ chức gia đình, họ tộc, xóm làng, thôn xl
- Về trình độ dân trí và khoa học công nghệ, nông thôn nói chung thấp
so với thành thị
Xuất phát từ đặc điểm cơ bản trên đây của nông thôn có thể nhận thấy: Phát triển du lịch nông thôn là khai thác các dạng TNDL trên địa bàn nông thôn để tạo ra các loại hình du lịch, các sản phẩm du lịch hấp dẫn thu hút du khách Ví dụ khai thác các yếu tố tự nhiên như sông, hồ, núi, đồi, hang động, suối khoáng, rừng, biển, cảnh quan thiên nhiên môi trường sinh thái vùng nông thôn hoặc các giá trị văn hoá nông thôn (văn hoá trong lao
động sản xuất, trong cuộc sống đời thường) thu hút khách du lịch đến vùng nông thôn
Khi đề cập đến du lịch nông thôn có nhiều thuật ngữ khác nhau được dùng để nói về du lịch ở vùng nông thôn như: du lịch nông thôn, du lịch trang trại, du lịch xanh, du lịch nông học với nhiều loại sản phẩm (hình 1.1)
Trang 31Hình 1.1 Du lịch nông thôn
Du lịch nông thôn thực chất chỉ là các loại hình du lịch sử dụng tài nguyên tự nhiên, nhân văn, trong đó đặc biệt chú trọng những dạng tài nguyên
điển hình đặc thù của nông thôn Vì vậy, loại hình du lịch nông thôn cũng chỉ
là tên gọi theo vị trí địa lý và tài nguyên đ−ợc sử dụng cho hoạt động phát triển du lịch
ở Việt Nam, loại hình này còn mới cả về lý luận và thực tiễn, mặc dù
đây là loại hình rất có tiềm năng phát triển Hiện nay du lịch nông thôn mới
Vị trí địa lý điểm đến
Vùng nông thôn
Vùng thành thị
Tài nguyên du lịch
Các công trình kiến trúc làng quê
Sinh hoạt truyền thống nông thôn
Hoạt
động sản xuất nông nghiệp
Hệ sinh thái nông nghiệp
Cảnh quan nông thôn
Biển, núi, rừng, hang
động, sông
Trang trại
Trang 32dừng ở việc tổ chức đưa khách tới các vùng nông thôn để thăm các di tích lịch
sử và các công trình kiến trúc nghệ thuật, tham gia các hoạt động lễ hội làng, tìm hiểu tập quán văn hoá nông thôn, các hệ sinh thái nông nghiệp, tham quan cảnh quan làng quê, các làng nghề truyền thống, tham gia vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp như gặt, đập lúa, xay thóc, gil gạo, câu cá, cất vó, thưởng thức các món ăn truyền thống v.v [14] Loại hình du lịch nông thôn chủ yếu là tham quan, nghiên cứu các giá trị tự nhiên, nhân văn mang đậm chất
"quê" Tuy nhiên nhiều loại hình du lịch khác vẫn có thể phát triển khi khai thác các tài nguyên du lịch khác có ở điểm đến này
Du lịch nông thôn xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới và có những cách thức tổ chức và các hình thức khác nhau ở một số nước dưới đây [81], [89], [90], [91], chính phủ hoặc hợp tác xl là chủ đầu tư chủ yếu, có nước chủ
đầu tư chủ yếu lại là các doanh nghiệp tư nhân ở Indonesia, du lịch nông thôn phát triển chủ yếu ở các khu vực đồn điền thuộc Sumatra và Java, khách du lịch
ở khách sạn nhưng đến thăm các trang trại để xem các hoạt động hoặc tham gia các hoạt động như trồng lúa, cạo mủ cao su ở Nhật Bản và úc, loại hình du lịch nông nghiệp nông thôn phát triển phổ biến nhất là ở các trang trại có luôn chỗ ở và phục vụ ăn uống cho khách Hàn Quốc có loại hình du lịch trang trại
do nhóm người gồm khoảng 5 gia đình điều hành, khách du lịch ở ngay tại các làng xóm gần khu du lịch ở Malaysia, chính phủ cung cấp phần lớn tài chính cho hơn 30 trung tâm du lịch nông thôn, các trung tâm này được lập ra phục vụ giáo dục và giải trí Pháp là một ví dụ điển hình phát triển du lịch nông thôn ở châu âu Cắm trại và nhà lưu động làm chỗ nghỉ là cách thức phổ biến nhất ở nông thôn Nhiều trại và nhà lưu động dựng ngay trên các trang trại, nhiều nông dân còn dựng sẵn các khu cắm trại trên trang trại của mình
Như vậy, dựa theo các tiêu thức phân loại cũng như thực tế hoạt động du lịch nông thôn ở Việt Nam và một số nước trên thế giới, có thể hiểu Du lịch nông thôn là du lịch dựa vào các giá trị thiên nhiên và văn hoá vùng nông thôn nhằm
Trang 33thoả m n nhu cầu nghỉ ngơi giải trí nghỉ dưỡng phục hồi sức khoẻ và tìm hiểu tập quán văn hoá làng quê của khách du lịch và mang lại những lợi ích cho cộng
đồng địa phương, đóng góp cho việc bảo tồn các di sản thiên nhiên và văn hoá bản địa
1.2.2.2 Đặc điểm của du lịch nông thôn
Xuất phát từ đặc điểm chung về nông thôn, có thể nhận thấy du lịch nông thôn có những đặc điểm là:
- Phát triển được những loại hình du lịch đa dạng phong phú sản phẩm
du lịch nhờ có địa bàn rộng lớn và nguồn tài nguyên phong phú
- Dễ đầu tư khai thác, TNDL với vốn đầu tư thấp nhưng hiệu quả
- Du lịch, nông thôn mang tính thời vụ, ít có tác động đến thiên nhiên,
có tính giáo dục về môi trường và cộng đồng góp phần phát huy bản sắc văn hoá và ngành nghề truyền thống
- Nguồn lao động dồi dào (thu hút được nhiều lao động tham gia) Hướng dẫn viên du lịch trực tiếp tham gia vào các dịch vụ phục vụ du khách
có thể là nông dân và người địa phương
- Du lịch nông thôn rẻ tiền do các thiết bị vật chất sử dụng đơn giản, nhưng thoả mln nhu cầu du lịch
- Thu hút được nhiều loại khách, thị trường lớn
- Dễ tiêu thụ được sản phẩm của các ngành nông lâm, ngư nghiệp và các sản phẩm thủ công mỹ nghệ
Nắm được những đặc điểm trên đây của du lịch nông thôn có thể xác
Trang 34thành sản phẩm du lịch bởi nhiều nguyên nhân trong quá trình khai thác, quản
lý và phát triển nó trở thành sản phẩm du lịch Vì vậy, vấn đề quan trọng là xác định các yếu tố tác động đến quá trình khai thác, quản lý và phát triển TNDL để tạo thành các sản phẩm du lịch đl được đặt ra
Nguồn: [86] Hình 1.2 Hệ thống du lịch Leiper (1990)
Theo Leiper, hệ thống du lịch (hình 1.2) gồm: vùng phát sinh khách, vùng chuyển tiếp của du khách, điểm đến của khách Xét mối quan hệ giữa
3 thành phần cơ bản của một hệ thống du lịch Leiper là: nơi xuất phát của khách du lịch, điểm đến của du khách (tức điểm có tài nguyên du lịch) và các tuyến du lịch nối giữa nơi đi với nơi đến, chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau bởi các yếu tố khác nhau trong hệ thống du lịch Các mối quan hệ luôn xảy ra giữa vùng phát sinh du lịch và điểm đến của du khách Vùng phát sinh khách là du khách đl có sẵn nhu cầu đi du lịch hay có thể phát sinh nhu cầu du lịch, khách tự lựa chọn điểm thì lúc đó điểm đến không chỉ là điểm được khách lựa chọn mà còn có thể trở thành điểm làm phát sinh nhu cầu đi du lịch của khách Vì vậy, Leiper cho rằng nhân tố làm phát sinh nhu cầu đi du lịch của khách tại điểm du lịch chính là sức hút du
Vùng phát sinh
Vùng chuyển tiếp của du khách Khách về Khách đi
Môi trường: con người, văn hoá, xZ hội, kinh tế, kỹ thuật, tự nhiên, chính trị
Trang 35lịch tại điểm du lịch đó [86] Khai thác tài nguyên phát triển du lịch trước hết phải xác định được sức hút du lịch của tài nguyên Muốn biết điểm du lịch đó có sức hút du lịch hay không thì cần phải xác định được các yếu tố cơ bản tạo lên sức hút du lịch tại điểm du lịch đó Dựa theo hệ thống du lịch của Leiper và đặc điểm cơ bản của TNDL có thể thấy rằng tài nguyên du lịch là tiền đề để hình hình thành lên các tuyến, điểm du lịch, là yếu tố cơ bản tạo ra sản phẩm du lịch Tài nguyên càng hấp dẫn thì tạo ra sản phẩm
du lịch hấp dẫn và thu hút khách du lịch càng nhiều Do đó độ hấp dẫn tài nguyên là một trong những nhân tố tạo sức hút du lịch của tài nguyên đó và theo hệ thống du lịch Leiper thì khoảng cách từ nơi đi nơi đến, môi trường,
điều kiện về cơ sở vật chất kết cấu hạ tầng, sức chứa, thời gian đều là các yếu tố tạo sức hút du lịch Ngoài ra trong quá trình khai thác tài nguyên còn phải đảm bảo cho tài nguyên phát triển hiệu quả và bền vững [19], [79], [80], nên các yếu tố về khả năng phát triển, độ bền vững, hiệu quả khai thác tài nguyên đều liên quan đến nhân tố tạo sức hút du lịch Vì vậy, các yếu tố liên quan đến sức hút du lịch phải được xác định ở từng góc độ ảnh hưởng khác nhau khi tiến hành khai thác tài nguyên phát triển du lịch:
- Độ hấp dẫn của tài nguyên
Độ hấp dẫn tài nguyên là yếu tố quan trọng nhất để đánh giá tài nguyên du lịch và nó quyết định sức hút của khách du lịch Độ hấp dẫn có tính chất tổng hợp rất cao và thường được xác định, thông qua các chỉ tiêu sau: vẻ
đẹp của phong cảnh [19], [78], [79], [80], [90] sự phù hợp của tài nguyên, sự thích nghi của khí hậu, sự đặc sắc độc đáo của tài nguyên du lịch tự nhiên và
du lịch nhân văn Độ hấp dẫn thể hiện ở số lượng và chất lượng của các tài nguyên, khả năng đáp ứng được nhiều loại hình du lịch Nên việc khai thác tài nguyên phát triển du lịch trước tiên cần phải quan tâm đến độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch đó và mức độ hấp dẫn đến đâu, hấp dẫn ở khía cạnh nào từ đó
để khai thác tài nguyên đó phát triển loại hình du lịch nào là hiệu quả
Trang 36- Thời gian khai thác hoạt động du lịch
TNDL có thể có những hạn chế đối với các hoạt động du lịch Một số hoạt động du lịch có tính mùa vụ do phụ thuộc vào tính chất và thời gian khai thác của từng loại tài nguyên, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức kinh doanh du lịch Vì vậy thời gian khai thác TNDL cho các hoạt động du lịch là một yếu tố quan trọng Trong hoạt động du lịch cần xem xét yếu tố thời gian tài nguyên đó có khả năng khai thác trong năm Ví dụ bli tắm biển ở khu vực miền bắc Việt Nam hiện nay chỉ có thể khai thác trong những tháng mùa
hè Do đó những tháng mùa đông cần phải nghiên cứu dạng tài nguyên này khai thác loại hình gì để thu hút được du khách nhằm khai thác tài nguyên phát triển du lịch hiệu quả
- Môi trường
Môi trường là yếu tố có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hoạt động phát triển du lịch [77] Đây cũng là yếu tố để nảy sinh trong quá trình khai thác tài nguyên phát triển du lịch Vì vậy, tài nguyên và môi trường du lịch luôn là các yếu tố song hành thu hút được sự quan tâm trong hoạt động du lịch
- Sức chứa
"Sức chứa" là yếu tố phản ánh khả năng "chịu đựng" của tài nguyên dưới tác động của hoạt động du lịch Vì vậy, yếu tố "sức chứa" được các nhà
tổ chức quản lý rất quan tâm khi khai thác tài nguyên Sức chứa khách du lịch
có ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng các nhu cầu hoạt động của khách (số lượng, thời gian), vì thế sức chứa khách du lịch là yếu tố phải được xác định trong việc khai thác TNDL "Sức chứa không phải theo xu thế càng nhiều càng tốt mà phải là càng phù hợp càng tốt” [27], [82] Có thể xác định sức chứa theo diện tích hoặc theo tuyến du lịch cho từng điểm du lịch, điều này phụ thuộc vào các hoạt động du lịch cụ thể tại điểm du lịch đó
- Độ bền vững
Sự phát triển của hoạt động du lịch cần sự bền vững của tài nguyên Khi
Trang 37khai thác tài nguyên, yếu tố bền vững rất quan trọng bởi độ bền vững thể hiện khả năng tồn tại và duy trì hoạt động khai thác TNDL trước những tác động của thời gian, của hoạt động con người và diễn biến phức tạp của tự nhiên
- Vị trí và khả năng tiếp cận
Vị trí và khả năng tiếp cận của điểm du lịch có ý nghĩa quan trọng trong việc thu hút khách du lịch Nếu TNDL có vị trí thuận lợi (cạnh trục giao thông và quốc lộ lớn), chất lượng đường tốt, giảm bớt thời gian và chi phí đi lại thì đương nhiên sẽ thu hút được khách du lịch nhiều hơn Có thể nói vị trí tài nguyên cũng là một trong những giá trị vô hình để thu hút khách, cho nên khi khai thác tài nguyên phát triển du lịch cần quan tâm đến yếu tố vị trí tiếp cận của tài nguyên
- Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật có ý nghĩa rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới việc khai thác các tài nguyên và phục vụ khách du lịch Trong việc khai thác TNDL không thể không quan tâm đến cơ sở hạ tầng Như vậy khai thác TNDL khu vực nông thôn cần quan tâm đến kết cấu hạ tầng, hệ thống đường, hệ thống điện, chương trình nước sạch, diện tích mặt bằng để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, các khu dịch vụ phục vụ du lịch
- Khả năng phát triển của điểm du lịch
Mỗi điểm du lịch có mức độ khai thác tài nguyên khác nhau và sản phẩm du lịch khác nhau… Điều này ảnh hưởng đến khả năng khai thác và phát triển trong tương lai Nên khả năng phát triển của một loại tài nguyên là phải xác định điểm du lịch chứa loại tài nguyên đó nằm ở giai đoạn nào của quá trình phát triển
Trên cơ sở phân tích vòng đời một điểm du lịch của Butler và Burton (vòng đời của một điểm du lịch gồm 6 giai đoạn) (hình 1.3) để xem xét sự phát triển của các tài nguyên tại điểm du lịch, từ đó đánh giá khả năng phát triển trong tương lai của TNDL
Trang 38Nguồn: Butler R.W, 1980 và Burton R.M, 1998 [76], [78]
Hình 1.3 Vòng đời của một điểm du lịch
- Hiệu quả khai thác
Hiệu quả là mục tiêu của việc khai thác, do vậy hiệu quả khai thác cũng là yếu tố rất quan trọng để xem xét, đánh giá nhằm đưa ra những phương pháp khai thác điều chỉnh thích hợp cho mỗi điểm tài nguyên Các yếu tố cần xem xét là (hiệu quả kinh tế và hiệu quả xl hội) cần quan tâm đến việc xem xét cụ thể từng loại tài nguyên, có nhiều tài nguyên cần phải quan tâm đến hiệu quả xl hội nhiều hơn
Qua phân tích 9 yếu tố cơ bản trên cho thấy mỗi yếu tố đều có mức độ
ảnh hưởng khác nhau liên quan đến quá trình khai thác, quản lý và phát triển TNDL Vì vậy, xác định được các yếu tố sẽ giúp quá trình khai thác, quản lý
và phát triển TNDL nông thôn bền vững hiệu quả
Trang 391.3 Những vấn đề cơ bản về khai thác, quản lý và phát triển tài
nguyên du lịch trên địa bàn nông thôn
1.3.1 Mối quan hệ giữa phát triển du lịch và phát triển nông thôn
Tác động giữa phát triển du lịch và phát triển nông thôn cần xác định dựa trên các quan điểm biện chứng giữa 2 mặt tích cực và tiêu cực
* Mặt tích cực
- Tăng thu nhập cho người dân địa phương Do phát triển du lịch tăng nguồn thu ngoại tệ mạnh, tỷ lệ với số lượng khách quốc tế đến vùng nông thôn mang tiền từ nơi khác đến tiêu dùng các sản phẩm của địa phương, tạo thị trường dịch vụ, người dân địa phương có việc làm, có thu nhập
- Tăng giá trị đất đai do thay đổi mục đích sử dụng đất Phát triển du lịch làm thay đổi bộ mặt nông thôn do phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn như hệ thống giao thông nông thôn, chương trình nước sạch, cải thiện, môi trường không ô nhiễm
- Thay đổi cơ cấu và trình độ lao động Nông thôn thường thuần nông, nhưng phát triển du lịch tạo ra nhiều việc làm dịch vụ mới và trình độ lao
động đòi hỏi cao lên Hoạt động du lịch góp phần phục hồi lại nghề thủ công
mỹ nghệ truyền thống
- Phát triển du lịch nông thôn còn có tác dụng tăng việc làm cho lao
động ở nông thôn, giln dân từ đô thị ra nông thôn
- Phát triển du lịch tạo sự giao lưu văn hoá và khoa học công nghệ giữa
du khách với người dân địa phương về kinh nghiệm sản xuất trang trại chăn nuôi, cũng như phát triển làng nghề, trang trại
- Phát triển du lịch nông thôn góp phần bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống ở nông thôn
* Mặt tiêu cực
- Làm tăng sự phân hoá xl hội trong cộng đồng địa phương về thu nhập
- Gây biến động về giá cả sinh hoạt
Trang 40- Mất đi một số nguồn thu truyền thống làm ảnh hưởng đến sản xuất lương thực của địa phương Gây sức ép nên các sinh hoạt truyền thống và trong nhiều trường hợp có thể làm xói mòn các giá trị văn hoá truyền thống của cộng đồng địa phương
- Có thể làm nảy sinh mâu thuẫn trong khai thác tài nguyên, tăng sức ép lên cơ sở hạ tầng nông thôn
- Phát triển du lịch có những tác động gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới sự phát triển của các hệ sinh thái tự nhiên
- Phát triển du lịch nông thôn có thể ảnh hưởng đến sự thay đổi quan
hệ gia đình, quan hệ xóm làng, lối sống truyền thống và những tổ chức của cộng đồng
Tóm lại, phát triển du lịch với phát triển nông thôn có tác động cả về mặt tích cực và tiêu cực nhưng có thể thấy phát triển du lịch là điều kiện tốt để giảm nghèo ở nông thôn và giảm nghèo ở nông thôn là điều kiện tốt cho phát triển du lịch, bởi giữa giảm nghèo ở nông thôn và phát triển du lịch nông thôn chất lượng có tồn tại một mối quan hệ mang tính cộng sinh
1.3.2 Nội dung và mối quan hệ giữa khai thác, quản lý và phát triển tài
nguyên du lịch trên địa bàn nông thôn
1.3.2.1 Nội dung khai thác, quản lý và phát triển tài nguyên du lịch
- Nội dung khai thác tài nguyên du lịch
Khai thác TNDL thực chất là việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch tổ chức và sử dụng có hiệu quả các giá trị của tài nguyên phục vụ vào mục đích phát triển du lịch bền vững không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ mai sau Quá trình khai thác tài nguyên phát triển du lịch phải
được định hướng và quản lý theo phương châm kết hợp hài hoà nhu cầu của hiện tại và tương lai trên cả hai góc độ sản xuất và tiêu dùng du lịch, nhằm đạt tới mục đích bảo tồn, tái tạo và phát triển được tài nguyên tự nhiên, giữ gìn và phát huy được bản sắc văn hoá dân tộc