Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp I
đào thị bích loan
Nghiên cứu khả năng sinh sản của gà lai tp1 và khả năng cho thịt của tổ hợp lai giữa gà trống sasso x44 với gà máI tp1
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự giúp
đỡ của tập thể trong và ngoài cơ quan, số liệu thông tin ch−a từng đ−ợc sử dụng công bố trong bất cứ công trình nào khác
Các kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và tôi xin chịu trách nhiệm về những số liệu trong bản luận văn này Các thông tin trích dẫn đ;
đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Đào Thị Bích Loan
Trang 3Lời cảm ơn
Có được công trình nghiên cứu này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc tới Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương - Viện Chăn nuôi, Khoa sau Đại học và Khoa Chăn nuôi thủy sản - Trường Đại học Nông nghiệp I đ; giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn tiến sỹ Phùng Đức Tiến - Giám đốc Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương đ; đầu tư nhiều công sức và thời gian chỉ bảo tận tình tôi thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn Các Thầy cô giáo
Bộ môn Chăn nuôi chuyên khoa - Khoa Chăn nuôi thuỷ sản - Trường Đại học Nông nghiệp I đ; động viên tinh thần trong thời gian làm đề tài và hoàn thành luận văn
Sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ công nhân viên Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương, Phòng phân tích - Viện Chăn nuôi trong quá trình nghiên cứu và thí nghiệm
Nhân dịp này, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới các nhà khoa học, các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp đ; giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi nâng cao kiến thức, hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đ; tạo mọi điều kiện động viên tôi hoàn thành luận văn
Tác giả luận văn
Đào Thị Bích Loan
Trang 43 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 40
4.1 Kết quả nghiên cứu trên đàn gà thí nghiệm sinh sản 53
Trang 54.1.7 Năng suất trứng 674.1.8 Hiệu quả sử dụng thức ăn giai đoạn đẻ trứng 69
4.2 Kết quả nghiên cứu trên đàn gà nuôi thịt thương phẩm 76
Trang 6Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
Trang 7Bảng 4.7 Năng suất trứng của đàn gà thí nghiệm 68 Bảng 4.8 Hiệu quả sử dụng thức ăn trong giai đoạn đẻ trứng 70 Bảng 4.9 Một số chỉ tiêu chất l−ợng trứng ở 38 tuần tuổi 72
Bảng 4.22 Xác định năng suất thịt của một gà mái mẹ 93
Bảng 4.24 Kết quả theo dõi gà lai nuôi thịt trong nông hộ 95
Trang 8Danh mục đồ thị
Đồ thị 4.2 Khối l−ợng cơ thể từ ss đến 10 tuần tuổi 80
Trang 91 Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Ngành chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi gà nói riêng đang chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình cung cấp thực phẩm cho con người Trong thời đại văn minh ngày nay, con người được hội nhập và tiếp cận với những thành tựu khoa học tiên tiến, không ngừng áp dụng những thành tựu mới vào ngành chăn nuôi để tạo ra lượng thực phẩm lớn Nhưng chăn nuôi gia cầm nói chung, chăn nuôi gà ở Việt Nam nói riêng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng thịt, trứng của nhân dân Sản lượng thịt và trứng tính theo bình quân đầu người còn thấp, thấp hơn rất nhiều so với các nước phát triển, theo số liệu của Tổng cục thống kê, năm 2006 là 3,97 kg thịt gia cầm và 37,6 quả trứng Vì vậy sản xuất ở nước ta yêu cầu con giống có tốc độ tăng trưởng nhanh, năng suất chất lượng cao, thời gian nuôi ngắn, khối lượng cơ thể phải
đạt cao Tiêu tốn thức ăn/tăng khối lượng cơ thể thấp, màu sắc lông đa dạng Trong khi đó các giống gà nhập về như gà Tam Hoàng 882 nhập năm 1993 và
gà Tam Hoàng Jiangcun nhập năm 1995, năng suất trứng đạt 145 - 155 quả/mái/năm, khối lượng cơ thể gà thương phẩm 77 ngày đạt 1,4 - 1,7 kg/con,
do tốc độ tăng trưởng chậm, năng suất không cao, sau một thời gian nuôi thích nghi không được thị trường chấp nhận Để thay thế cho gà Tam Hoàng, năm
1998, Nước ta đ; nhập giống gà Lương Phượng và nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường vì đây là giống gà có năng suất trứng đạt 165 - 170 quả/mái/năm, khối lượng cơ thể gà thương phẩm đến 70 ngày tuổi đạt 1,8 - 1,9 kg/con, màu sắc lông đa dạng màu vàng tuyền, vàng đốm hoặc đen đốm hoa, phù hợp với sở thích của người Việt Nam, sức đề kháng bệnh tật tốt, chất lượng thịt thơm ngon và mềm, tuy nhiên còn hạn chế về khả năng sinh sản [16]
Gà mái SA31L thuộc bộ giống gà Sasso của Cộng hoà Pháp, gà có năng
Trang 10suất trứng cao 187,52 quả/mái/68 tuần tuổi, gà X44SA31L nuôi thương phẩm lúc
63 ngày đạt 2550g/con [15] Nhược điểm gà có sức đề kháng bệnh còn kém, màu lông nâu sẫm đồng nhất nên chưa được người tiêu dùng ưa chuộng
Gà trống Sasso dòng X44 có đặc điểm lông màu nâu sẫm, mào đơn, da
và chân màu vàng, thân hình chắc khoẻ, cân đối, tốc độ sinh trưởng nhanh, khả năng cho thịt cao, khối lượng cơ thể lúc 38 - 40 tuần tuổi đạt 4,2 - 4,5 kg
Để kết hợp những đặc điểm tốt của từng giống, tạo ra tổ hợp lai có năng suất, chất lượng thịt cao, màu sắc hình dáng phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, đem lại hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi, chúng tôi triển khai đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh sản của gà lai TP1 và khả năng cho thịt của tổ hợp lai giữa gà trống Sasso X44 với gà mái TP1”
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Xác định khả năng sinh sản của gà mái TP1
- Xác định khả năng sinh trưởng của gà XTP1 nuôi thịt trong Trung tâm
và ngoài sản xuất
1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trên cơ sở của lý luận ưu thế lai luận văn đ; triển khai một số tổ hợp lai giữa các giống gà lông màu nhập nội tạo con lai có năng suất chất lượng cao, lớn nhanh, đẻ nhiều của gà SA31L và đặc điểm thịt ngon, màu sắc lông đa dạng, sức chống chịu của gà Lương Phượng đáp ứng nhu cầu của thị trường và người tiêu dùng
Các tổ hợp lai làm tăng sản phẩm thịt gà lông màu và nâng cao chất lượng thịt, làm phong phú các giống gà lông màu phù hợp với nhiều địa phương có điều kiện sinh thái khác nhau, tạo điều kiện cho nhiều hộ nông dân chăn nuôi xoá đói giảm nghèo và tiến tới làm giàu
Luận văn là tài liệu tham khảo về công tác lai tạo giống gia cầm dùng cho nghiên cứu, giảng dạy và sản xuất chăn nuôi
Trang 112 Tổng quan tài liệu
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Cơ sở lý luận về đặc điểm ngoại hình của gia cầm
Các đặc điểm về ngoại hình của gia cầm là những đặc trưng cho giống, thể hiện khuynh hướng sản xuất và giá trị kinh tế của vật nuôi
Hình dáng, kích thước cơ thể: Tuỳ mục đích sử dụng, các dòng gà được chia thành 3 loại hình: hướng trứng, hướng thịt và hướng kiêm dụng Gà hướng trứng có thân hình thon nhỏ, cổ dài, nhẹ cân, dáng nhanh nhẹn Gà hướng thịt có thân hình to thô, cổ dài trung bình, ngực nở, dáng đi nặng nề, khối lượng lớn Gà kiêm dụng có hình dáng trung gian, cơ thể có hướng kiêm dụng trứng thịt hoặc thịt trứng Schuberth L, Ruhland R, 1978 [40] cho rằng
có mối tương quan dương giữa khối lượng cơ thể với tất cả các chiều đo
Đầu: cấu tạo xương đầu được coi như có độ tin cậy cao nhất trong việc
đánh giá đầu gia cầm Da mặt và các phần phụ của đầu cho phép rút ra kết luận về sự phát triển của mô đỡ và mô liên kết Theo hình dáng của mào, mào dưới và mào tai có thể biết được trạng thái sức khoẻ và điều kiện sống của chúng Gà trống có ngoại hình đầu giống gà mái sẽ có tính sinh dục kém, gà mái có ngoại hình của gà trống sẽ không cho năng suất cao, trứng thường không phôi (Nguyễn Chí Bảo, 1978) [5]
Mào và mào dưới thuộc về các đặc điểm sinh dục phụ, khi buồng trứng hoạt động bình thường thì mào lớn chữa nhiều máu Khi thay lông, bệnh thuộc tuyến sinh dục chúng tạm thời ngừng trệ sự cung cấp máu Như vậy kích thước da đầu bị giảm và màu sắc bị kém đi
Mào: gà đa dạng về hình dạng, kích thước và màu sắc đặc trưng cho từng
Trang 12giống gà Theo Phan Cự Nhân (1971) [36], khi có mặt gen Ab gà sẽ có mào dạng hoa hồng, gen aB sẽ có dạng mào nụ và gen ab có dạng mào cờ
Mỏ: chắc chắn và ngắn Gà có mỏ dài và mảnh không có khả năng sản xuất cao Những giống gà da vàng thì mỏ cũng vàng, ở gà mái màu sắc này có thể bị nhạt đi vào cuối thời kỳ đẻ trứng
Bộ lông: lông là một dẫn xuất của da, thể hiện đặc điểm di truyền của giống và có ý nghĩa quan trọng trong việc phân loại Khi mới nở, gia cầm con
được lông tơ che phủ, trong quá trình phát triển lông tơ sẽ dần được thay thế bằng lông cố định
Tốc độ mọc lông là sự biểu hiện khả năng mọc lông sớm hay muộn, có thể có quan hệ mật thiết với cường độ sinh trưởng của gia cầm Theo Brandsch, Biilchel (1978) [5], những gia cầm có tốc độ sinh trưởng nhanh thì
có tốc độ mọc lông nhanh Hayer và cộng sự (1970) [77], cho biết gà mái mọc lông đều hơn gà trống trong cùng một dòng và ảnh hưởng của hormon có tác dụng ngược với gen liên kết qui định tốc độ mọc lông Màu lông do một số gen qui định, phụ thuộc và sắc tố chứa trong bào tương của tế bào Lông gia cầm có màu sắc khác nhau là do mức độ oxy hoá các chất tiền sắc tố melanin (melanogene) trong các tế bào lông Nếu các chất sắc tố là nhóm lipocrom (carotinoit) thì lông có màu vàng, xanh tươi họăc màu đỏ, nếu không có chất sắc tố thì lông có màu trắng
Chân: Những gà giống tốt phải có chân chắc chắn nhưng không được thô Gà có chân hình chữ bát, các ngón cong, xương khuyết tật không nên sử dụng làm giống Đặc điểm chân cao có liên quan tới khả năng cho thịt thấp và phát dục chậm (Nguyễn Chí Bảo, 1978) [5]
Trang 132.1.2 Tính trạng sản xuất của gia cầm
2.1.2.1 Bản chất di truyền của các tính trạng sản xuất
Khi nghiên cứu các tính trạng về tính năng sản xuất của gia cầm, được nuôi trong điều kiện cụ thể, thực chất là nghiên cứu các đặc điểm di truyền số lượng và ảnh hưởng của những tác động môi trường lên các tính trạng đó Hầu hết các tính trạng về năng suất của gia súc, gia cầm như sinh trưởng, sinh sản, mọc lông, tăng trưởng thịt, đẻ trứng đều là các tính trạng số lượng Cơ sở di truyền của các tính trạng số lượng cũng là do các gen nằm trên nhiễm sắc thể qui định Theo Nguyễn Ân và cộng sự, 1983 [3] các tính trạng sản xuất là các tính trạng số lượng, thường là các tính trạng đo lường như khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo, sản lượng trứng, khối lượng trứng,
Các tính trạng số lượng thường bị chi phối bởi nhiều gen Các gen này hoạt động theo ba phương thức:
- Cộng gộp (A) hiệu ứng tích luỹ của từng gen
- Trội (D) hiệu ứng tương tác giữa các gen cùng một lô cút
- át gen (I) hiệu ứng do tương tác, của các gen không cùng một lô cút Hiệu ứng cộng gộp A là các giá trị giống thông thường (general breeding value) có thể tính toán được, có ý nghĩa trong chọn lọc nhân thuần Hiệu ứng trội D và át gen I là những hiệu ứng không cộng tính và là giá trị giống đặc biệt (special breeding value) có ý nghĩa đặc biệt trong các tổ hợp lai ở các tính trạng số lượng giá trị kiểu hình cũng do giá trị kiểu gen (kiểu di truyền)
và sai lệch môi trường qui định, nhưng giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng
do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minor gen) cấu tạo thành Đó là các gen mà hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp lại sẽ ảnh hưởng rất rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu, tính trạng sinh sản là một ví dụ (Nguyễn Văn Thiện, 1996 [45])
Trang 14Khác với các tính trạng chất lượng, tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố tác động của ngoại cảnh Tuy các điều kiện bên ngoài không thể làm thay đổi cấu trúc di truyền, nhưng nó tác động làm phát huy hoặc kìm h;m việc biểu hiện các hoạt động của các gen Các tính trạng số lượng được qui định bởi kiểu gen và chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện ngoại cảnh, mối tương quan đó được biểu thị như sau:
Ngoài ra các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường Có hai loại môi trường chính:
- Sai lệch môi trường chung (Eg) là sai lệch do các yếu tố môi trường tác
động lên toàn bộ các cá thể trong nhóm vật nuôi Loại yếu tố này có tính chất thường xuyên như: thức ăn, khí hậu,
- Sai lệch môi trường riêng (Es) là sai lệch do các yếu tố môi trường tác
động riêng rẽ lên từng cá thể trong nhóm vật nuôi, hoặc ở một giai đoạn nhất
định trong cuộc đời con vật Loại này có tính chất không thường xuyên Nếu
bỏ qua mối tương tác giữa di truyền và ngoại cảnh thì quan hệ của kiểu hình (P), kiểu gen (G) và môi trường (E) của một cá thể biểu thị cụ thể:
P = A + D + I + Eg + Es
Trang 15Qua phân tích cho thấy các giống gia cầm, cũng như các giống sinh vật khác, con cái đều nhận được ở bố mẹ một số gen quy định tính trạng số lượng nào đó Tính trạng đó được xem như nhận từ bố mẹ một khả năng di truyền, nhưng khả năng đó phát huy được hay không còn phụ thuộc vào môi trường sống như: chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý,
Người ta có thể xác định các tính trạng số lượng qua mức độ tập trung (Χg), mức độ biến dị (Cv%), hệ số di truyền của các tính trạng (h2), hệ số lặp lại của các tính trạng (R), hệ số tương quan (r) giữa các tính trạng,
2.1.2.2 Tỷ lệ nuôi sống của gà
Tỷ lệ sống của gà con khi nở là chỉ tiêu chủ yếu đánh giá sức sống của gia cầm, ở giai đoạn hậu phôi, sự giảm sức sống được thể hiện ở tỷ lệ chết cao qua các giai đoạn sinh trưởng (Brandsch H, Biilchel H, 1978 [5]) Tỷ lệ sống
được xác định bằng tỷ lệ phần trăm số cá thể còn sống ở cuối giai đoạn, so với các cá thể ở đầu giai đoạn Khavecman, 1972 [18] cho rằng cận huyết làm giảm tỷ lệ sống, ưu thế lai làm tăng tỷ lệ sống Có thể nâng cao tỷ lệ sống bằng các biện pháp nuôi dưỡng tốt, vệ sinh tiêm phòng kịp thời Các giống vật nuôi nhiệt đới có khả năng chống bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng cao hơn các giống vật nuôi ở xứ lạnh
Tỷ lệ nuôi sống của gà con phụ thuộc vào sức sống của đàn bố mẹ Gia cầm mái đẻ tốt thì tỷ lệ nuôi sống của gia cầm con cao hơn so với gia cầm đẻ kém Đối với cơ thể sinh vật những biểu hiện sinh lý trong phản ứng stress là tác động tương quan giữa gen và môi sinh, trong đó tất nhiên chịu ảnh hưởng vai trò của các qui luật di truyền đa gen, trội, lặn, giới tính,
Vì stress miễn kháng là phản ứng của cơ thể sinh vật đối với bất cứ tác dụng nào của môi sinh để tự vệ và bảo tồn, cho nên mọi biện pháp để hạn chế
ảnh hưởng của stress và ngăn chặn hậu quả đều nhằm mục tiêu bảo vệ sự sống của con vật và chất lượng sản phẩm của nó
Trang 16Khả năng thích nghi, khi điều kiện sống bị thay đổi, như về thức ăn, thời tiết, khí hậu, qui trình chăn nuôi, môi trường vi sinh vật xung quanh, của gia súc, gia cầm nói chung, gà lông màu nói riêng có khả năng thích ứng rộng r;i hơn đối với môi trường sống (Phan Cự Nhân, Trần Đình Miên,
1998 [37])
Khi nghiên cứu về sức sống của gia cầm trong cơ sở di truyền năng suất
và chọn giống động vật, Marco A.S và cộng sự, 1982 cho biết sức sống được thể hiện ở thể chất và được xác định trước hết bởi khả năng có tính di truyền của động vật, có thể chống lại những ảnh hưởng không thuận lợi của môi trường, cũng như ảnh hưởng khác của dịch bệnh Hill F., Dikerson G.E và Kempster H.L., 1954 [78] đ; tính được hệ số di truyền sức sống là 6% Sức sống được tính theo các giai đoạn nuôi dưỡng khác nhau Theo tài liệu của Gavora J.F, 1990 [75] hệ số di truyền của sức kháng bệnh là 25% Tỷ lệ nuôi sống phụ thuộc rất lớn vào yếu tố chăm sóc, nuôi dưỡng, khí hậu thời tiết, mùa vụ,
Sản lượng trứng là lượng trứng mà gia cầm mái đẻ ra trong một vòng
đời, phụ thuộc vào tuổi thành thục, cường độ đẻ trứng, tần số thể hiện bản năng đòi ấp, thời gian nghỉ đẻ và thời gian đẻ kéo dài Theo Bandsch và Biilchel (1978) [5], sản lượng trứng được tính trong 365 ngày kể từ khi đẻ quả trứng đầu tiên Marco A.S và cộng sự, 1982 cho biết, đối với gà Plymouth Rock tại Cu Ba sản lượng tính trứng được tính từ tuần 23 đến tuần 74 Các h;ng gia cầm công nghiệp tính sản lượng trứng đến 70 - 80 tuần tuổi
Trang 17Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng trong thời gian ngắn, có liên quan chặt chẽ với sức đẻ trứng trong cả năm của gia cầm Sự xuất hiện bản năng đòi ấp phụ thuộc vào yếu tố di truyền, thể hiện ở các giống khác nhau với mức độ khác nhau Sự khác nhau đó thể hiện ở thời điểm ấp và thời gian ấp kéo dài Phần lớn các dòng gà ham ấp đều có sức đẻ trứng kém
Thời gian nghỉ đẻ của gia cầm: giữa các chu kỳ đẻ trứng ảnh hưởng trực tiếp tới sản lượng trứng, yếu tố này bị ảnh hưởng bởi tính mùa vụ, sự thay đổi thức ăn, di truyền,… thời gian đẻ kéo dài được tính theo thời gian đẻ trứng năm đầu, bắt đầu từ khi đẻ quả trứng đầu tiên tới khi thay lông hoàn toàn Giữa thời gian đẻ trứng kéo dài với sự thành thục có tương quan nghịch rõ rệt, với sức đẻ trứng có tương quan dương rất cao (Nguyễn Chí Bảo, 1978 [5] Tương quan giữa sản lượng trứng giữa 3 tháng đẻ đầu với sản lượng trứng cả năm rất chặt, r = 0,7 - 0,9 (Hutt, 1946)
* Năng suất trứng
+ Cơ sở giải phẫu của năng suất trứng
Trứng của gia cầm nói chung và của gà nói riêng là một tế bào sinh sản khổng lồ Cấu tạo của trứng bao gồm: lòng đỏ, lòng trắng, màng vỏ và vỏ Buồng trứng có chức năng tạo thành lòng đỏ, còn các bộ phận khác như: lòng trắng, màng vỏ và vỏ do ống dẫn trứng tạo nên Nhiều tài liệu nghiên cứu đều xác định ở gà mái, trong quá trình phát triển phôi hai bên phải, trái đều có buồng trứng, nhưng sau khi nở buồng trứng bên phải mất đi, còn lại buồng trứng bên trái (Vương Đống, 1968 [9])
Số lượng tế bào trứng theo các tác giả có khác nhau Pearl và Schoppe (1921) đếm được 1.906 trứng bằng mắt thường và 12.000 trứng bằng kính hiển
vi Theo Jull (1939 - 1948), gà mái ở thời kỳ đẻ trứng có thể đếm được 3.600 trứng, trong khi đó Hutt (1949), đếm và cho biết số lượng tế bào trứng của gà mái có thể lên tới hàng triệu và Freye H.A (1978) cho rằng tế bào trứng lúc
Trang 18bắt đầu đẻ là 900 - 3500 ở gà mái, 1.500 ở vịt mái, nhưng chỉ có 1 số lượng rất hạn chế được chín và rụng
Trong thời gian phát triển lúc đầu các tế bào trứng được bao bọc bởi một tầng tế bào, không có liên kết gì với biểu bì phát sinh Tầng tế bào này trở thành nhiều tầng, sự tạo thêm sẽ tiến tới bề mặt buồng trứng, cấu tạo này gọi
là follicun, bên trong follicun có một khoang hở chứa đầy một chất dịch Bề ngoài follicun trông giống như một cái túi Trong thời kỳ đẻ trứng nhiều follicun trở nên chín làm thay đổi hình dạng buồng trứng trông giống như
“chùm nho” Sau thời kỳ đẻ trứng lại trở thành hình dạng ban đầu, các follicun chín vỡ ra, tế bào trứng chín ra ngoài cùng với dịch follicun và rơi vào phễu ống dẫn trứng
Các tài liệu nghiên cứu đều cho rằng, hầu hết vật chất lòng đỏ trứng gà
được tạo thành trước khi đẻ trứng 9 - 10 ngày, tốc độ sinh trưởng của lòng đỏ
từ 1 đến 3 ngày đầu rất chậm, khi đường kính của lòng đỏ đạt tới 6 mm, bắt
đầu vào thời kỳ sinh trưởng cực nhanh, đường kính có thể tăng 4 mm trong 24 giờ, cho tới khi đạt đường kính tối đa 40 mm Tốc độ sinh trưởng của lòng đỏ không tương quan với cường độ đẻ trứng Quá trình hình thành trứng và rụng trứng là một quá trình sinh lý phức tạp, do sự điều khiển của hoocmon Thời gian từ lúc đẻ quả trứng và thời gian rụng trứng sau kéo dài 15 - 75 phút Theo Melekhin G.P và Niagridin, 1989 (dẫn theo Ngô Giản Luyện, 1994 [26]) thì sự rụng trứng ở gà xảy ra một lần trong ngày, thường là 30 phút sau khi đẻ trứng Trường hợp nếu trứng đẻ sau 16 giờ thì sự rụng trứng sẽ chuyển
đến đầu ngày hôm sau Trứng bị giữ lại trong ống dẫn trứng làm ngừng sự rụng trứng tiếp theo Nếu lấy trứng ra khỏi tử cung thì không làm tăng nhanh
sự rụng trứng được
Tế bào trứng rơi vào phễu và được đẩy xuống ống dẫn trứng, đây là một ống dài có nhiều khúc cuộn, bên trong có tầng cơ, trên thành ống có lớp màng
Trang 19nhầy lót bên trong, trên bề mặt lớp màng nhầy có tiêm mao rung động ống dẫn trứng có những phần khác nhau: phễu, phần tạo lòng trắng, phần eo, tử cung và âm đạo Chúng có chức năng tiết ra lòng trắng đặc, lo;ng, màng vỏ,
vỏ và lớp keo mỡ bao bọc ngoài vỏ trứng Thời gian trứng lưu lại trong ống dẫn trứng từ 20 - 24 giờ Khi trứng rụng và qua các phần của ống dẫn trứng tới
tử cung, đầu nhọn của trứng bao giờ cũng đi trước, nhưng khi nằm trong tử cung quả trứng được xoay 1 góc 1800, cho nên trong điều kiện bình thường gà
đẻ đầu tù của quả trứng ra trước
+ Cơ sở di truyền của năng suất trứng
Sinh sản là chỉ tiêu cần được quan tâm lâu dài trong công tác giống gia cầm, nhằm tăng số lượng và chất lượng con giống, các tính trạng sinh sản của chúng như: tuổi đẻ trứng đầu, năng suất trứng, khối lượng trứng, tỷ lệ ấp nở,
ở các loài gia cầm khác nhau thì những đặc điểm sinh sản cũng khác nhau rất
rõ rệt
Đối với gia cầm sự di truyền về sinh sản rất phức tạp Theo các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả, việc sản xuất trứng của gia cầm có thể do 5 yếu tố ảnh hưởng mang tính di truyền
- Tuổi thành thục về sinh dục, người ta cho rằng ít nhất cũng có hai cặp gen chính tham gia vào yếu tố này: một là gen E (gen liên kết với giới tính) và e; còn cặp thứ hai là E’ và e’ Gen trội E chịu trách nhiệm tính thành thục về sinh dục
- Cường độ đẻ: yếu tố này do hai cặp gen R và r, R’ và r’ phối hợp cộng lại để điều hành
- Bản năng đòi ấp do 2 gen A và C điều khiển, phối hợp với nhau
- Thời gian nghỉ đẻ (đặc biệt là nghỉ đẻ vào mùa đông) do các gen M và
m điều khiển Gia cầm có gen mm thì về mùa đông vẫn tiếp tục đẻ đều
Trang 20- Thời gian kéo dài của chu kỳ đẻ, do cặp gen P và p điều hành
Yếu tố thứ 5 và yếu tố thứ nhất là hai yếu tố kết hợp với nhau, cũng có nghĩa là các cặp gen Pp và Ee có phối hợp với nhau Tất nhiên ngoài các gen chính tham gia vào việc điều khiển các yếu tố trên, có thể còn có nhiều gen khác phụ lực vào
+ Tuổi đẻ quả trứng đầu
Là một chỉ tiêu đánh giá sự thành thục sinh dục, cũng được coi là 1 yếu
tố cấu thành năng suất trứng (Khavecman, 1972 [18]) Tuổi đẻ quả trứng đầu
được xác định bằng số ngày tuổi kể từ khi nở đến khi đẻ quả trứng đầu
Gudeil, Lerner và một số tác giả khác cho rằng: có các gen trên nhiễm sắc thể giới tính cùng tham gia hình thành tính trạng này (dẫn theo Khavecman, 1972 [18]) Theo Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992 [32] có ít nhất hai cặp gen cùng qui định, cặp thứ nhất gen E và e liên kết với giới tính, cặp thứ hai gen E’ và e’ Có mối tương quan nghịch giữa tuổi đẻ và năng suất trứng, tương quan thuận giữa tuổi đẻ và khối lượng trứng Tuổi đẻ quả trứng đầu phụ thuộc vào bản chất di truyền, chế độ nuôi dưỡng, các yếu tố môi trường đặc biệt là thời gian chiếu sáng, thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc
đẩy gia cầm đẻ sớm (Khavecman, 1972 [18])
Dickerson (1952), Ayob và Merat (1975) (dẫn theo Trần Long, 1994 [23]) đ; tính toán hệ số tương quan di truyền giữa khối lượng cơ thể gà chưa trưởng thành với sản lượng trứng thường có giá trị âm (-0,21 đến -0,16) Còn Nicola và cộng sự tính được hệ số tương quan di truyền giữa tuổi thành thục với sản lượng trứng là 0,11
+ Năng suất trứng và tỷ lệ đẻ
Năng suất trứng là số lượng trứng một gia cầm mái sinh ra trên một đơn
vị thời gian Đối với gia cầm đẻ trứng thì đây là chỉ tiêu năng suất quan trọng
Trang 21nhất, nó phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục Năng suất trứng là một tính trạng số lượng nên nó phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào loài, giống, hướng sản xuất, mùa vụ, điều kiện dinh dưỡng, chăm sóc và đặc điểm của cá thể
Hutt F.B, 1978 [14] đề nghị tính sản lượng trứng từ khi gia cầm đẻ quả trứng đầu tiên, còn Brandsh H và Biilchel H, 1978 [5] cho biết sản lượng trứng được tính đến 500 ngày tuổi Theo các tác giả trên sản lượng trứng cũng
được tính theo năm sinh học 365 ngày, kể từ ngày đẻ quả trứng đầu tiên Trong thời gian gần đây, sản lượng trứng được tính theo tuần tuổi Nhiều h;ng gia cầm nổi tiếng như Shaver (Canađa), Lohmann (Đức), sản lượng trứng
được tính đến 70 - 80 tuần tuổi
Năng suất trứng là tính trạng có mối tương quan nghịch chặt chẽ với tốc
độ sinh trưởng sớm, do vậy trong chăn nuôi gà sinh sản, cần chú ý cho gà ăn hạn chế trong giai đoạn gà con, gà dò, gà hậu bị để đảm bảo năng suất trứng trong giai đoạn sinh sản Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào số lượng và chất lượng thức ăn, phụ thuộc vào mức năng lượng, hàm lượng protein và các thành phần khác trong khẩu phần thức ăn (Bùi Thị Oanh, 1996 [38]) Năng suất trứng có hệ số di truyền không cao, dao động lớn Theo Nguyễn Văn Thiện, 1995 [44] hệ số di truyền năng suất trứng của gà là 12 - 30%
Về tỷ lệ đẻ gà có tỷ lệ đẻ thấp trong mấy tuần đầu của chu kỳ đẻ, sau đó tăng dần và đạt tỷ lệ cao ở những tuần tiếp theo rồi giảm dần và đạt tỷ lệ đẻ thấp ở cuối thời kỳ sinh sản Sản lượng trứng/năm của một quần thể gà mái cao sản, được thể hiện theo qui luật cường độ đẻ trứng cao nhất vào tháng thứ hai, thứ ba sau đó giảm dần đến hết năm đẻ Để tiến hành chọn giống về sức
đẻ trứng Hutt F B., 1978 [14] đ; áp dụng ổ đẻ có cửa sập tự động để kiểm tra
số lượng trứng của từng gà mái Các tác giả cho rằng sản lượng trứng 3 tháng
đẻ đầu và sản lượng trứng cả năm có tương quan di truyền chặt chẽ (0,7 - 0,9)
Trang 22và bé, trứng của con lai thường có khối lượng trung gian, nghiêng về một phía (Khavecman, 1972 [18])
Tính trạng này có hệ số di truyền cao, do đó có thể đạt được nhanh chóng thông qua con đường chọn lọc (Kushner K.F., 1974 [19]) Ngoài các yếu tố về
di truyền, khối lượng trứng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngoại cảnh như chăm sóc, nuôi dưỡng, mùa vụ, tuổi gia cầm Trứng của gia cầm mới bắt đầu đẻ nhỏ hơn trứng gia cầm trưởng thành 20 - 30% Khối lượng trứng mang tính đặc trưng của từng loài và mang tính di truyền cao Hệ số di truyền của tính trạng này 48 - 80% (Brandsch H, Biilchel H, 1978 [5]) Theo Nguyễn Văn Thiện,
1995 [44] hệ số di truyền về khối lượng trứng của gà là 60 - 74% ý kiến của nhiều tác giả cho rằng trong cùng một giống, dòng, cùng một đàn, nhóm trứng
có khối lượng lớn nhất hoặc bé nhất đều cho tỷ lệ nở thấp Trứng gia cầm non cho tỷ lệ nở thấp, khối lượng trứng cao thì sẽ kéo dài thời gian ấp nở
Nhiều tác giả cho rằng, giữa khối lượng trứng và sản lượng trứng có tương quan nghịch, theo Janva (1967) hệ số tương quan giữa sản lượng trứng/năm và khối lượng trứng là -0,11, Bùi Quang Tiến, Nguyễn Hoài Tao và cộng sự, 1985 [53] nghiên cứu trên gà Rhoderi là -0,33
+ Chất lượng trứng
Trứng gà gồm 3 phần cơ bản vỏ, lòng đỏ và lòng trắng Theo Vương
Đống, 1968 [9] tỷ lệ các phần so với khối lượng trứng thì vỏ chiếm 10 - 11,6%; lòng trắng 57 - 60%; lòng đỏ 30 - 32% Thành phần hoá học của trứng
Trang 23không vỏ: nước chiếm 73,5 - 74,4%; protein 12,5 - 13%; mỡ 11 - 12%; khoáng 0,8 - 1,0%
Màu sắc trứng
Màu sắc trứng không có ý nghĩa lớn trong đánh giá chất lượng trứng, nhưng có giá trị trong kỹ thuật và thương mại Màu sắc trứng là tính trạng đa gen, ở gà khi lai dòng trứng vỏ trắng với dòng trứng vỏ màu, gà lai sẽ có trứng
vỏ màu trung gian Theo Anderson có thể tạo gia cầm đẻ trứng vỏ màu bằng cách chọn lọc những gia cầm có trứng vỏ màu sẫm hơn (dẫn theo Khavecman,
1972 [18]) Theo Brandsh H và Biilchel H, 1978 [5] hệ số di truyền tính trạng này là 55 - 75%
Bề mặt vỏ trứng
Thông thường trứng gia cầm đẻ ra có bề mặt trơn, đều, song bên cạnh đó cũng có một số cá thể thường đẻ ra những trứng có bề mặt xấu, xù xì, có vệt canxi hay đường gờ lượn sóng, loại trứng này có ảnh hưởng xấu đến
tỷ lệ ấp nở cũng như thị hiếu của người tiêu dùng (Schuberth L, Ruhland R,
1978 [40])
Chỉ số hình thái
Trứng gia cầm bình thường có hình ô van và chỉ số này không biến đổi theo mùa Người ta đ; tính được chỉ số hình dạng của trứng thông qua phương pháp toán học, chỉ số hình dạng có thể tính bằng hai cách:
Tỷ số giữa chiều dài và chiều rộng trứng hoặc tỷ lệ phần trăm giữa chiều rộng so với chiều dài của trứng
Trong chăn nuôi gia cầm sinh sản, thì chỉ số hình dạng là một chỉ tiêu để xem xét chất lượng của trứng ấp Trong thực tế sản xuất cho thấy, những quả trứng dài hoặc quá tròn đều có tỷ lệ ấp nở thấp Trứng của mỗi giống gia cầm
đều có chỉ số hình thái riêng, chỉ số này ở gà 1,34 - 1,36 Nếu lệch quá tiêu chuẩn này sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ nở và khó khăn trong lúc bao gói vận chuyển (Nguyễn Hoài Tao và cộng sự, 1984 [41])
Trang 24Độ dày và độ bền của vỏ trứng
Độ dày, độ bền hay độ chịu lực của vỏ trứng biểu hiện nguồn dự trữ khoáng Là một trong những chỉ tiêu quan trọng của trứng ấp, ảnh hưởng nhiều trong quá trình bao gói vận chuyển
Độ dày vỏ trứng được xác định bằng thước đo độ dày khi đ; bóc vỏ dai, ở
gà độ dày vỏ bằng 0,32mm Theo Auaas R và Wilke R, 1978 [1]) thì độ dày
vỏ trứng chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền dao động trong khoảng giới hạn lớn Clary M và Lerner, đ; tính được hệ số di truyền từ 15 - 30% Farsworth, Nordskog tính được độ dày vỏ trứng có hệ số di truyền là 27% Theo Nguyễn Văn Thiện, 1995 [44] hệ số di truyền độ dày vỏ trứng là 30%
Ngoài ra độ dày vỏ trứng còn chịu tác động của môi trường như: thức ăn, tuổi gà, nhiệt độ xung quanh, stress và nhiều yếu tố khác
Độ chịu lực của vỏ trứng được xác định bằng lực kế ép của Nhật Bản Chỉ số lòng đỏ, lòng trắng và đơn vị Haugh
Khi đánh giá chất lượng trứng, cần đặc biệt chú ý đến chỉ số lòng đỏ, lòng trắng và đơn vị Haugh Các chỉ số này càng cao thì tỷ lệ nở càng lớn và chất lượng trứng càng tốt (Tạ An Bình, 1973 [4])
Chỉ số lòng đỏ: chất lượng lòng đỏ được xác định bởi chỉ số lòng đỏ Chỉ
số lòng đỏ là tỷ số giữa chiều cao lòng đỏ so với đường kính của nó Chỉ số lòng đỏ của trứng gà tươi nằm giữa 0,40 - 0,42 Trứng có chỉ số lòng đỏ càng lớn thì chất lượng trứng càng tốt
Chỉ số lòng trắng: là chỉ tiêu đánh giá chất lượng lòng trắng, chỉ số này
được tính bằng tỷ lệ giữa chiều cao lòng trắng đặc so với trung bình cộng
đường kính lớn và đường kính nhỏ của nó Chỉ số này càng lớn, chất lượng lòng trắng càng cao Khi nghiên cứu trên gà chỉ số này về mùa đông cao hơn mùa xuân và mùa hè, giống gà nhẹ cân chỉ số này không dưới 0,09 và giống
Trang 25kiêm dụng 0,08; chỉ số này cao cho tỷ lệ ấp nở cao Như vậy chỉ số lòng trắng
bị ảnh hưởng bởi giống, tuổi và chế độ nuôi dưỡng
Đơn vị Haugh: đơn vị Haugh được Haugh R (1930) xây dựng, sử dụng để
đánh giá chất lượng trứng, nó phụ thuộc vào khối lượng và chiều cao lòng trắng đặc Đơn vị Haugh càng cao thì chất lượng trứng càng tốt Theo Uyterwal C.S., 2000 [83] đơn vị Haugh bị ảnh hưởng bởi các yếu tố: thời gian bảo quản trứng, tuổi gia cầm mái (gà càng già đơn vị Haugh càng thấp), bệnh tật, nhiệt độ, giống gia cầm, Theo Peniond Jkevich và cộng sự (dẫn theo Bạch Thị Thanh Dân, 1999) [6], chất lượng trứng rất tốt có chỉ số Haugh 80 -
100, tốt: 79 - 65, trung bình: 64 - 55 và xấu < 55
+ Khả năng thụ tinh và ấp nở
Kết quả thụ tinh là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá về khả năng sinh sản của con trống và con mái Tỷ lệ thụ tinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi, tỷ lệ trống mái, mùa vụ, dinh dưỡng, chọn đôi giao phối,
Tỷ lệ nở là một chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của phôi, sức sống của gia cầm non Đối với những trứng có chỉ số hình dạng chuẩn, khối lượng trung bình của giống sẽ cho tỷ lệ ấp nở cao nhất
Chế độ ấp nở có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến như chất lượng trứng, thời gian và chế độ bảo quản trứng, chế độ máy ấp, chế độ máy nở (nhiệt độ, ẩm độ, thông thoáng, đảo trứng, ) Hệ số di truyền về tỷ lệ trứng thụ tinh 11 - 13%, hệ
số di truyền của tỷ lệ ấp nở 10 - 14% (Nguyễn Văn Thiện, 1995 [44])
2.1.3 Khả năng sinh trưởng, cho thịt và tiêu tốn thức ăn ở gia cầm
2.1.3.1 Khả năng sinh trưởng
Theo Slec F (1898) thì sự sinh trưởng bao giờ cũng phải có quá trình tế bào phân chia tức là tăng số lượng tế bào, tăng thể tích và các chất giữa tế bào, trong đó hai quá trình đầu là quan trọng nhất Gatner (1992) cho rằng trong
Trang 26quá trình sinh trưởng trước hết là kết quả của phân chia tế bào, tăng thể tích tế bào để tạo nên sự sống Sinh trưởng là sự tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá
và dị hoá, là sự tăng chiều dài, chiều cao và bề ngang, khối lượng các bộ phận
và toàn bộ cơ thể trên cơ sở tính di truyền của đời trước Sinh trưởng chính là
sự tích luỹ dần các chất chủ yếu là protein Tốc độ tích luỹ của các chất và sự tổng hợp protein cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể (dẫn theo Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992 [32]) Trong tài liệu của Chambers J.R., 1990 [71], Mozan, 1977 định nghĩa sinh trưởng là tổng sự tăng trưởng của các bộ phận như thịt, xương, da
Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như quá trình tổng hợp protein, nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng Sự tăng trưởng thực chất là các tế bào của mô cơ có tăng thêm khối lượng, số lượng và các chiều, vì vậy từ khi trứng thụ tinh cho đến khi cơ thể trưởng thành và được chia làm hai giai đoạn chính: giai đoạn trong thai
và giai đoạn ngoài thai Đối với gia cầm là thời kỳ hậu phôi và thời kỳ trưởng thành
Như vậy, cơ sở chủ yếu của sinh trưởng gồm hai quá trình, tế bào sản sinh và tế bào phát triển, trong đó sự phát triển là chính Tất cả các đặc tính của gia cầm như ngoại hình thể chất, sức sản xuất đều không phải có sẵn trong
tế bào sinh dục, trong phôi chưa phải có đầy đủ ngay khi hình thành mà nó chỉ
được hoàn chỉnh trong suốt quá trình sinh trưởng của cơ thể con vật Đặc tính của các bộ phận hình thành trong quá trình sinh trưởng tuy là sự tiếp tục thừa hưởng các đặc tính di truyền từ bố, mẹ, nhưng hoạt động mạnh hay yếu, hoàn chỉnh hay không hoàn chỉnh còn phải phụ thuộc vào sự tương tác giữa các gen
và môi trường
Khi nghiên cứu về sinh trưởng, không thể không nói đến phát dục Phát dục là quá trình thay đổi về chất, tức là tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất
Trang 27chức năng của các bộ phận cơ thể Phát dục diễn ra từ khi trứng thụ thai, qua các giai đoạn khác nhau đến khi trưởng thành Sinh trưởng là một quá trình sinh học phức tạp, từ khi thụ tinh đến khi trưởng thành Để xác định chính xác toàn bộ quá trình sinh trưởng không phải là dễ dàng
2.1.3.2 Cách đánh giá khả năng sinh trưởng
Các nhà chọn giống gia cầm có khuynh hướng sử dụng cách đo đơn giản
và thực tế: khối lượng cơ thể ở từng thời kỳ dù chỉ là một chỉ số sử dụng quen thuộc nhất về sinh trưởng (tính theo tuổi) song chỉ tiêu này không nói lên được mức độ khác nhau về tốc độ sinh trưởng trong một thời gian Đồ thị khối lượng cơ thể còn gọi là đồ thị sinh trưởng tích luỹ Sinh trưởng tích luỹ là khả năng tích luỹ các chất hữu cơ do quá trình đồng hoá và dị hoá Khối lượng cơ thể thường được theo dõi theo từng tuần tuổi và đơn vị tính là kg/con hoặc gam/con
Đối với gà broiler, đây là tính trạng năng suất quan trọng được tính bằng
kg hoặc g/con và cũng là căn cứ để so sánh được khối lượng cơ thể của các tổ hợp lai, từ đó lựa chọn tổ hợp lai tốt nhất
Để đánh giá khả năng sinh trưởng chúng ta còn sử dụng tốc độ sinh trưởng tuyệt đối và tốc độ sinh trưởng tương đối
Sinh trưởng tuyệt đối: là sự tăng lên về khối lượng cơ thể trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát (T.C.V.N 2.39, 1997 [46]) Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng parabol, sinh trưởng tuyệt đối thường tính bằng gam/con/ngày hay gam/con/tuần
Sinh trưởng tương đối: là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng cơ thể, lúc kết thúc khảo sát so với lúc bắt đầu khảo sát (T.C.V.N 2.40, 1997 [47])
Đơn vị tính là % Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng hyperbol Sinh trưởng tương đối giảm dần qua các tuần tuổi
Trang 28Đường cong sinh trưởng: Đường cong sinh trưởng biểu thị tốc độ sinh trưởng của vật nuôi Theo tài liệu của Chambers J R, 1990 [71] đường cong sinh trưởng của gà có 4 điểm chính gồm 4 pha sau:
Pha sinh trưởng tích luỹ tăng tốc độ nhanh sau khi nở
Điểm uốn của đường cong tại thời điểm có tốc độ sinh trưởng cao nhất Pha sinh trưởng có tốc độ giảm dần sau điểm uốn
Pha sinh trưởng tiệm cận với giá trị khi gà trưởng thành
Thông thường người ta sử dụng khối lượng cơ thể ở các tuần tuổi, thể hiện bằng đồ thị sinh trưởng tích luỹ và nó được biết một cách đơn giản đường cong sinh trưởng
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gà Các yếu
tố đó là:
+ Dòng, giống có ảnh hưởng lớn tới quá trình sinh trưởng của gia súc, gia cầm Letner T.M và Asmundsen V.S, 1938 [81] đ; so sánh tốc độ sinh trưởng của các giống gà Leghorn trắng và Plymouth Rock tới 24 tuần tuổi, cho rằng
gà Plymouth Rock sinh trưởng nhanh hơn gà Leghorn 2-6 tuần tuổi và sau đó không có sự khác nhau
Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự, 1994 [13] cho biết sự khác nhau về khối lượng giữa các giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà hướng trứng khoảng 500 - 700g (13-30%) Schneztler (1963) chọn lọc tính trạng sinh trưởng của gà Plymouth Rock và chứng minh sự khác nhau sinh trưởng do di truyền
Trần Long, 1994 [23] nghiên cứu tốc độ sinh trưởng trên 3 dòng thuần (dòng V1, V3, V5) của giống gà Hybro HV85 cho thấy tốc độ sinh trưởng 3 dòng hoàn toàn khác nhau ở 42 ngày tuổi
Theo Godfrey E.F và Joap R.G, 1952 [76] sự di truyền các tính trạng về
Trang 29khối lượng cơ thể do 15 cặp gen tham gia trong đó ít nhất có một gen về sinh trưởng liên kết giới tính (nằm trên nhiễm sắc thể X) vì vậy có sự sai khác về khối lượng cơ thể giữa con trống và con mái trong cùng một giống, gà trống nặng hơn gà mái 24-32%
Nguyễn Ân và cộng sự, 1983 [3] thông báo hệ số di truyền 3 tháng tuổi
là 26 - 50% Theo Kushner K.F, 1978 [20] hệ số di truyền khối lượng sống của gà 1 tháng tuổi là 33%; 2 tháng tuổi là 46%; 3 tháng tuổi là 43% Cook R.E và cộng sự, 1956 [73] xác định hệ số di truyền 6 tuần tuổi về khối lượng là 50%
+ Giới tính có ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng
Các loại gia cầm khác nhau về gới tính thì có tốc độ sinh trưởng khác nhau, con trống lớn nhanh hơn con mái (chim cút con trống nhỏ hơn con mái) Theo Jull M.A (dẫn theo Phùng Đức Tiến, 1996 [59]) gà trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gà mái 24 - 32% Tác giả cũng cho biết, sự sai khác này do gen liên kết giới tính, những gen này ở gà trống (2 nhiễm sắc thể giới tính) hoạt động mạnh hơn gà mái (1 nhiễm sắc thể) North M.O., Bell P.D., 1990 [82] cho biết khối lượng gà con 1 ngày tuổi tương quan dương với khối lượng trứng giống đưa vào ấp, song không ảnh hưởng đến khối lượng cơ thể gà lúc thành thục và cường độ sinh trưởng ở 4 tuần tuổi Song lúc mới sinh gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng sự khác nhau càng lớn, ở 2 tuần tuổi hơn 5%; 3 tuần tuổi hơn 11%; 8 tuần tuổi hơn 27%
+ Tốc độ mọc lông ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng
Những kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học xác định trong cùng một giống, cùng giới tính ở gà có tốc độ mọc lông nhanh cũng có tốc độ sinh trưởng, phát triển tốt hơn Kushner K.F, 1974 [19] cho rằng tốc độ mọc lông
có quan hệ chặt chẽ tới tốc độ sinh trưởng, thường gà lớn nhanh thì mọc lông nhanh và đều hơn ở gà chậm lớn Hayer J.F và cộng sự, 1970 [77] đ; xác định
Trang 30trong cùng một giống thì gà mái mọc lông đều hơn gà trống và tác giả cho rằng ảnh hưởng của hoocmon có tác dụng ngược chiều với gen liên kết với giới tính qui định tốc độ mọc lông
+ Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng
Sinh trưởng là tổng số của sự phát triển các phần của cơ thể như thịt, xương, da Tỷ lệ sinh trưởng các phần này phụ thuộc vào độ tuổi, tốc độ sinh trưởng và phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng (Chambers J.R, 1990 [71]) Mức
độ dinh dưỡng không chỉ ảnh hưởng tới sự phát triển các bộ phận khác nhau của cơ thể mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển của từng mô này đối với mô khác Như vậy tốc độ sinh trưởng liên quan chặt chẽ tới điều kiện nuôi dưỡng
đàn bố mẹ, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng đàn gà broiler, điều kiện tiểu khí hậu chuồng nuôi, điều kiện phòng bệnh ở nước ta điều kiện khí hậu ở hai vụ đông xuân và hè thu khác nhau cũng gây ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng Nhiệt độ cao làm cho khả năng thu nhận thức ăn giảm dẫn đến tăng trọng kém
2.1.3.3 Hiệu quả sử dụng thức ăn
Hiệu quả sử dụng thức ăn là mức độ tiêu tốn thức ăn cho một đơn vị sản phẩm Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng cơ thể là tỷ lệ chuyển hoá thức ăn để đạt được tốc độ tăng khối lượng cơ thể, vì tăng khối lượng cơ thể là một chức năng chính của quá trình chuyển hoá thức ăn Nói cách khác tiêu tốn thức ăn là một hiệu suất giữa thức ăn trên 1 kg tăng khối lượng cơ thể
Trong chăn nuôi gia cầm, tiêu tốn thức ăn cho một kg tăng khối lượng cơ thể là một chỉ tiêu quan trọng quyết định hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi vì chi phí thức ăn thường chiếm tới 70% giá thành sản phẩm, tiêu tốn thức ăn trên kg tăng khối lượng cơ thể càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại
Theo Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1993) [28] cho biết nuôi đến 9 tuần
Trang 31tuổi, gà broiler tiêu tốn 2,39 - 2,41 kg thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể Đoàn Xuân Trúc, Lê Hồng Mận (1993) [60] nghiên cứu các công thức lai gà Hybro AV35, AV53, AV135 cho biết tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể ở 56 ngày tuổi các công thức lai tương ứng là 2,34 kg; 2,23 kg; 2,26 kg và 2,32 kg Chambers J.R và cộng sự, 1984 [72] đ; xác định được hệ số tương quan giữa khối lượng cơ thể và tăng khối lượng cơ thể với tiêu tốn thức ăn thường rất cao (0,5 - 0,9) Tương quan giữa sinh trưởng và chuyển hoá thức ăn là âm
và thấp từ (-0,2 đến -0,8) Hiệu quả sử dụng thức ăn liên quan chặt chẽ đến tốc
độ sinh trưởng Tiêu tốn thức ăn ít thì không những gà lớn nhanh mà mức độ tích luỹ mỡ bụng cũng thấp, tăng chất lượng cho thịt
Đối với gia cầm sinh sản thường tính tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng hoặc 1 kg trứng Trước đây khi tính toán người ta chỉ tính lượng thức ăn cung cấp trong giai đoạn sinh sản Hiện nay nhiều cơ sở chăn nuôi trên thế giới đ;
áp dụng phương pháp tính mức tiêu tốn thức ăn bằng lượng chi phí cho gia cầm từ lúc 1 ngày tuổi cho đến kết thúc 1 năm đẻ
Đối với gia cầm nuôi thịt tiêu tốn thức ăn phụ thuộc vào tốc độ sinh trưởng, độ tuổi Giai đoạn đầu tiên tiêu tốn thức ăn thấp, giai đoạn sau cao hơn Phương pháp áp dụng là tính mức tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng cơ thể
Tiêu tốn thức ăn/đơn vị sản phẩm còn phụ thuộc vào tính biệt, khí hậu, thời tiết, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, cũng như tình hình sức khoẻ của đàn gia cầm
Tiêu tốn thức ăn là một chỉ tiêu có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả kinh
tế trong chăn nuôi gà Do vậy có rất nhiều công trình nghiên cứu nhằm tạo ra
tổ hợp lai tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể thấp
Trang 322.1.3.4 Khả năng cho thịt
Khả năng cho thịt được phản ánh qua các chỉ tiêu năng suất và chất lượng thịt Khả năng cho thịt phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, sự phát triển của hệ cơ, kích thước và khối lượng khung xương (Brandsch H và Biilchel H., 1978 [5]) Hệ số di truyền rộng ngực là 25% (20 - 30%) của góc ngực là 40% (30 - 45%), hệ số di truyền của góc ngực gà lúc 8 tuần tuổi là 24-30% (Nguyễn Văn Thiện, 1995 [44])
+ Năng suất thịt
Năng suất thịt hay là tỷ lệ thịt xẻ chính là tỷ lệ phần trăm của khối lượng thân thịt so với khối lượng sống của gia cầm Năng suất của các thành phần thân thịt là tỷ lệ phần trăm của các phần so với thân thịt và năng suất cơ là tỷ
lệ phần trăm của cơ so với thân thịt (Chambers J.R., 1990 [71]) ở gà thịt thường tính tỷ lệ thịt đùi, thịt ngực và mỡ bụng Mối tương quan giữa khối lượng sống và khối lượng thịt xẻ là khá cao (0,9), còn giữa khối lượng sống và
mỡ bụng thấp hơn (0,2 đến 0,5) (Nguyễn Thị Thuý Mỵ, 1997 [34])
Năng suất thịt phụ thuộc vào dòng, giống, tính biệt, chế độ dinh dưỡng, chăm sóc nuôi dưỡng và qui trình vệ sinh thú y
Các giống, các dòng khác nhau thì năng suất thịt cũng khác nhau Giữa các dòng luôn có sự khác nhau di truyền về năng suất thịt xẻ hay năng suất các phần như thịt đùi, thịt ngực và từng phần thịt, da, xương (Chambers J.R.,
Trang 33Theo tài liệu của Chambers J.R., 1990 [71], khi xác định thành phần thịt
xẻ của gà Cornish và Plymouth Rock cùng con lai của chúng cho thấy: thịt của các dòng gà khác nhau có sự khác nhau về tỷ lệ nước, protein, mỡ và cũng cho thấy tốc độ sinh trưởng có tương quan âm với tỷ lệ mỡ (-0,39) và tương quan dương với phần trăm protein (0,53), với độ ẩm (0,32) và khoáng tổng số (0,14) Tác giả cũng cho biết rằng hệ số di truyền về thành phần hoá học thịt
gà là: ẩm độ 38%; protein 47%; mỡ 47%; khoáng 25%
Ngoài việc thông qua thành phần hoá học của thịt, còn có thể đánh giá chất lượng thịt theo các chỉ tiêu cảm quan (màu sắc, trạng thái, mùi vị) Khả năng giữ nước của thịt, vệ sinh an toàn thực phẩm (các chất tồn dư độc hại: hoocmon, kháng sinh, kim loại nặng)
2.1.4 Cơ sở khoa học của công tác lai tạo
2.1.4.1 Cơ sở khoa học của việc lai kinh tế
Lai kinh tế là lai giữa hai cơ thể thuộc hai dòng khác nhau cùng giống, khác giống hoặc thuộc hai giống khác loài, Con lai này không để làm giống,
mà chỉ để lấy sản phẩm như thịt, sữa, trứng, (thường chủ yếu lấy thịt vì tăng sinh trưởng nhanh) Lai kinh tế còn được gọi là lai công nghiệp vì chỉ dùng F1 làm sản phẩm, nên sản phẩm có thể sản xuất nhanh hàng loạt, có chất lượng, lại quay vòng ngắn (Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện, 1995 [33]) Người
ta tiến hành lai kinh tế là để sử dụng ưu thế lai làm tăng nhanh mức độ trung bình tính trạng giữa hai giống gốc, hai dòng thuần, nhất là đối với các tính trạng khối lượng, tăng trọng, tăng các chiều đo Con lai có thể mang những
đặc tính trội của giống gốc bố, mẹ hoặc cũng có thể phối hợp được những đặc tính của hai giống đó
Năng suất vật nuôi phụ thuộc vào hai yếu tố, đó là bản chất di truyền và ngoại cảnh Do vậy trong chăn nuôi có hai hướng chủ yếu để nâng cao năng suất vật nuôi là cải tiến bản chất di truyền của vật nuôi và cải tiến phương pháp chăn nuôi
Trang 34Bên cạnh việc chọn lọc, nhân giống thuần chủng, lai tạo cũng là phương pháp cải tiến di truyền có hiệu quả cao và nhanh Trong công tác giống kể từ những giống vật nuôi đầu tiên được tạo ra từ cuối thế kỷ XVIII, các giống mới thường cũng được hình thành qua con đường lai tạo sau đó mới được chọn lọc củng cố, ổn định tính trạng trở thành các dòng thuần Những giống gốc ban
đầu ít nhiều có pha máu của nhiều giống khác nhau Cho đến nay việc tạo ra sản phẩm phần lớn cũng đều được thông qua lai tạo và việc lai tạo cũng đ; có
ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sản phẩm Các giống, dòng càng thuần bao nhiêu thì con lai càng có ưu thế lai cao bấy nhiêu (Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện, 1995 [33])
Trong quá trình nghiên cứu di truyền, nguyên tắc hoàn toàn mới được Mendel đưa vào để nghiên cứu, đó là phương pháp lai, liên quan đến việc nghiên cứu này ông đ; phát hiện và hình thành nên những qui luật cơ bản của
di truyền
Theo Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992 [32] căn cứ vào mục
đích của lai tạo, người ta thường áp dụng những phương pháp lai khác nhau như lai kinh tế, lai luân chuyển, lai cải tiến (lai pha máu), lai cải tạo, lai phối hợp (lai tạo thành) Lai kinh tế là phương pháp phổ biến nhất
Muốn lai kinh tế có hiệu quả phải chọn lọc tốt các dòng thuần, trong đó các cá thể dị hợp tử sẽ giảm đi và các cá thể đồng hợp tử sẽ tăng lên (Nguyễn
Ân, Hoàng Gián, Lê Viết Ly và cộng sự, 1983 [3] Giống gia súc, gia cầm là một quần thể gia súc, gia cầm Trong giống bao gồm các dòng, mỗi dòng có
đặc điểm chung của giống, nhưng lại có đặc điểm di truyền riêng biệt Sự khác biệt mỗi dòng về kiểu gen chính là yếu tố quyết định sẽ làm xuất hiện ưu thế lai Người ta cho lai các dòng gà khác biệt về kiểu gen nhưng lại có khả năng kết hợp được trong cùng một cơ thể sinh vật Vì vậy phải chọn lọc các dòng gà trong các giống hoặc các dòng gà trong cùng một giống có khả năng kết hợp
Trang 35Gia cầm lai không những chỉ thể hiện được chất lượng tổ hợp của những dòng thuần mà còn đạt được hiệu quả của ưu thế lai 5 - 20% Có thể nói đây là
sự ưu đ;i của thiên nhiên mà con người có thể sử dụng tốt, nếu nắm được qui luật của phương pháp này và biết cách tổ chức sản xuất, sử dụng các gia cầm lai giữa các dòng là một trong những vấn đề quan trọng nhất (Hoàng Kim Loan, 1973 [22])
Giangmisengu, 1983 [10] cho rằng, người ta có thể dùng phép lai giữa các loài, hay tạo ra những dòng đồng huyết và cho chúng lai với nhau
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi gia cầm trên thế giới đang
có những thay đổi cơ bản, những thay đổi này liên quan tới việc áp dụng phương pháp sản xuất sản phẩm Bằng cách phối hợp tốt những dòng đ; được quy định và thông qua phương pháp lai, sẽ đạt được hiệu quả ưu thế lai ở thế
hệ sau Trong chăn nuôi gia cầm khi lai kinh tế có thể lai đơn hoặc lai kép
- Lai đơn: là phương pháp lai kinh tế để sử dụng ưu thế lai Lai đơn thường được dùng khi lai giữa giống địa phương và giống nhập nội cao sản Phương pháp này phổ biến và được sử dụng nhiều trong sản xuất gà kiêm dụng trứng thịt hoặc thịt trứng Nhằm tận dụng khả năng dễ nuôi, sức chống chịu cao của gà địa phương và khả năng lớn nhanh, sức đẻ cao, ấp nở tốt, khối lượng trứng cao của gà nhập nội, gà Rhode Island Red, gà Leghorn được lai với gà Ri (Tạ An Bình, 1973 [4] Bùi Quang Tiến, Nguyễn Hoài Tao và cộng
sự, 1985 [53]) kết quả gà lai cho khối lượng cơ thể, sản lượng trứng, khối lượng trứng cao hơn gà Ri Thành công này đ; chứng minh hiệu quả của phương pháp lai đơn
- Lai kép: là phương pháp lai phổ biến để tạo gà thương phẩm và được sử dụng nhiều trong chăn nuôi gà công nghiệp, phương pháp này ngày càng được
áp dụng nhiều trong việc tạo ra gà thương phẩm phù hợp với phương thức nuôi tập trung hoặc bán chăn thả Mỗi xí nghiệp sản xuất giống đều có nhiều dòng
Trang 36khác nhau và khi lai giữa các dòng riêng biệt sẽ tạo ra những con lai thương phẩm năng suất cao, thí dụ gà hướng trứng có gà lai 4 dòng như Goldline 54, ISA Brown, Hy-line; gà hướng thịt có BE 88, AA, Cobb 500, Ross 308, Người ta có thể phân biệt trống mái từ 1 ngày tuổi thông qua màu lông và tốc
độ mọc lông cánh như ở gà Kabir, Goldline,
Hiện nay nghiên cứu và sử dụng ưu thế lai trong sản xuất, thực sự là đòn bẩy để nâng cao năng suất Sự biểu hiện ưu thế lai rất đa dạng, phụ thuộc vào bản chất di truyền từng cặp lai và điều kiện môi trường Muốn sử dụng tốt ưu thế lai cần phải có những thử nghiệm nghiêm túc trong điều kiện cụ thể, đối với từng cặp lai cụ thể
2.1.4.2 Cơ sở khoa học của ưu thế lai
- Lược sử và khái niệm về ưu thế lai
Hiện tượng ưu thế lai đ; được biết và vận dụng từ lâu Điển hình là việc tạo con La, kết quả lai khác loài giữa ngựa cái (Equus caballus) và lừa đực (Equus asinus) Con La nổi tiếng về sức khoẻ, sức dẻo dai và khả năng chịu nóng (Hutt F.B, 1978 [14]), (Trần Đình Miên, 1994 [31]) Tuy nhiên việc nghiên cứu các hiện tượng trên một cách có hệ thống mới bắt đầu từ hơn 200 năm nay Darwin (1876), với công trình “Tác dụng của giao phấn và tự thụ phấn trong giới thực vật” đ; chứng minh lợi ích của tạp giao và tác hại của giao phối cận huyết (Nguyễn Ân, Hoàng Gián, Lê Viết Ly và cộng sự, 1983 [3]) Năm 1914 Shull đưa ra thuật ngữ “ưu thế lai” (Heterosis) (dẫn theo Vũ Kính Trực, 1992 [62]) Dubinin (1948) xác định ưu thế lai trên ruồi dấm, Cale G.H, Goven J.W (1956) nghiên cứu ưu thế lai trên ong mật (Hutt F.B 1978 [14]), Abulcataeva (1962), Pinco B (1968), nghiên cứu ưu thế lai trên bò; Briles, Bishell, Nordskog (1967) xác định ưu thế lai trên gà, tất cả đều đi đến kết luận con lai có ưu thế hơn bố mẹ về nhiều đặc tính sản xuất quan trọng (Nguyễn Ân, Hoàng Gián, Lê Viết Ly và cộng sự, 1983 [3])
Trang 37Trong công tác giống, bên cạnh việc chọn lọc và nhân giống thuần chủng qua nhiều đời để cải tiến bản chất di truyền của vật nuôi, thì thông qua con đường lai tạo sẽ đem lại hiệu quả trong thời gian ngắn hơn Ngày nay việc tạo ra các loại sản phẩm phần lớn đều được thông qua lai tạo và việc lai tạo đ; ảnh hưởng tốt
đến sản lượng và chất lượng của sản phẩm (Trần Đình Miên, 1994 [31])
Trong lịch sử nghiên cứu về lai tạo, Darwin là người đầu tiên đ; nêu lên lợi ích của việc lai giống đ; đi đến kết luận “lai có lợi - tự giao là có hại đối với động vật” Lai giống còn nhằm sử dụng hiện tượng sinh học quan trọng đó
là ưu thế lai Lê Đình Lương, Phan Cự Nhân, 1994 [24] cho rằng có hai cách lớn nhất để nâng cao (cải tiến) bản chất di truyền mặc dù chúng đều là thành phần và đều có thể tiến hành đồng thời cùng một lúc, đó là chọn lọc nhân thuần và lai tạo giữa các giống, dòng
Sự lai tạo được sử dụng rất nhiều trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, nhằm khai thác thế mạnh của con lai, nên nó được áp dụng nhiều trong chăn nuôi gà công nghiệp, gà bán công nghiệp ở các nước đang phát triển Chính là lai giữa các giống khác nhau đ; giúp cho việc quyết định chiến lược thích hợp về công tác giống (Flock D.K, 1996 [74])
Bouwman G.W, 2000 [69] cho rằng ích lợi to lớn của lai giống là xuất hiện sức mạnh ở con lai còn gọi là ưu thế lai Con lai thường có sức chống chịu bệnh tật khoẻ hơn, sức sản xuất tốt hơn Mặc dù vậy, ưu thế lai không thể
đoán trước Sự khác biệt giữa hai giống càng lớn thì ưu thế lai càng lớn Ưu thế lai chỉ có thể xảy ra ở một công thức lai nào đó, vì thế phải tiến hành nhiều công thức lai khác nhau, ưu thế lai không di truyền, nếu tiếp tục cho giao phối
đời con với nhau thì kết quả sẽ làm giảm ưu thế lai và giảm sự đồng đều Trong công tác lai tạo, người ta lại còn quan tâm rất nhiều đến khả năng phối hợp, đó là cách chọn những con giống gốc lai phù hợp với nhau nhằm tạo nên những tổ hợp gen mới, bao gồm các tính trạng vốn có ở giống gốc nhưng ở
Trang 38mức độ cao hơn theo mục đích (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992 [32]) Con lai F1 vượt hơn bố mẹ về sức sống, sự sinh trưởng, phát triển, khả năng sản xuất, sức chống chịu cũng như khả năng sử dụng các chất dinh dưỡng (Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện, 1995 [33])
- Sự biểu hiện của ưu thế lai trong chăn nuôi
Sự biểu hiện ưu thế lai trên cơ thể lai trong chăn nuôi rất đa dạng, khác nhau ở các tính trạng Sự ưu việt của con lai không chỉ biểu hiện bằng sự lớn hơn về giá trị của tính trạng so với trung bình bố mẹ, mà còn biểu hiện bằng mức độ tối ưu của tính trạng, sự biểu hiện ưu thế lai có thể phân làm các loại sau (Nguyễn Ân và cộng sự, 1983 [3]), (Kushner K.F, 1974 [19]), (Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện, 1995 [33]):
+ Con lai F1 của những công thức lai xa khác giống vượt bố mẹ về thể chất, tuổi thọ, sức làm việc, nhưng mất một phần hay mất hoàn toàn khả năng sinh sản Điển hình là trường hợp con La như đ; nêu trên hay con Mullard (lai giữa vịt và ngan)
+ Con lai F1 vượt hơn trung bình của bố mẹ về khối lượng cơ thể và sức sống, có khả năng sinh sản bình thường hoặc tốt hơn bố mẹ Điển hình là trường hợp lai giữa một số giống bò thịt hoặc một số giống lợn mà ở nước ta nhiều nhà khoa học đ; thực hiện
+ Con lai F1 có khối lượng cơ thể chỉ ở mức trung gian, song khả năng sinh sản, mức sống cao hơn hẳn bố mẹ Điển hình là trường hợp lai giữa gà Leghorn trắng và gà New Hampshire, gà Plymouth Rock và gà Australorp + Con lai F1 biểu hiện ưu thế lai đặc biệt là trường hợp nếu xét về một tính trạng riêng lẻ thì có kiểu di truyền trung gian nhưng sản phẩm cuối cùng một mặt nào đó lại vượt hơn trung bình bố mẹ Trường hợp này có thể xẩy ra ở
bò, lợn, gà
Trang 39Tóm lại: trên cơ thể lai, ưu thế lai không biểu hiện đồng loạt ở tất cả các tính trạng, trên tất cả các giai đoạn Sự biểu hiện này còn phụ thuộc vào từng cặp lai cụ thể, các yếu tố ngoại cảnh, giai đoạn phát triển và từng cá thể
- Bản chất di truyền của ưu thế lai
Bản chất di truyền của ưu thế lai là trạng thái dị hợp tử ở con lai, từ đó người ta nêu 3 giả thiết để giải thích về ưu thế lai (Nguyễn Ân, Hoàng Gián,
Lê Viết Ly và cộng sự, 1983 [3]), (Lê Thị ánh Hồng và cộng sự, 1995 [12]), (Nguyễn Văn Thiện, 1995 [44])
+ Thuyết tập trung các gen trội có lợi
Trong quá trình tiến hoá, dưới áp lực của chọn lọc tự nhiên, các gen trội bất lợi bị đào thải, gen trội có lợi được nhân lên Trong khi đó các gen lặn bất lợi vẫn tồn tại ở trạng thái dị hợp, bên cạnh các gen trội có lợi Khi giao phối cận huyết, các quần thể sẽ phân hoá thành các dòng khác nhau ở trạng thái
đồng hợp theo các gen trội có lợi khác nhau Khi lai các dòng này với nhau dẫn đến con lai F1 tập hợp được các gen trội có lợi ở các bố và các mẹ làm xuất hiện ưu thế lai Ví dụ có 5 locus gen cùng tham gia hình thành một tính trạng kinh tế Người ta cho rằng mỗi gen trội hoặc mỗi đôi gen dị hợp tử Aa
có giá trị tính trạng là 2 đơn vị (AA = Aa = 2) Mỗi đôi gen lặn chỉ làm tăng giá trị tính trạng lên 1 đơn vị (aa =1), ta có AA = Aa > aa Khi lai hai dòng cận huyết, con lai F1 có các tính trạng kinh tế cao hơn cả bố và mẹ, xuất hiện
Trang 40Như vậy, ưu thế lai là hiệu quả của việc tập trung các gen trội có lợi không cùng alen ở F1 Fornes D, 1917 giải thích rằng các gen trội có lợi này không phải phân ly độc lập mà liên kết với nhau, vì vậy không thể tổ hợp tự
do, kết quả của sự phối hợp lai ở F1 như sơ đồ sau:
Cặp nhiễm sắc thể tương đồng ở mẹ (P1) A b C d E
A b C d E Cặp nhiễm sắc thể tương đồng ở bố (P2) a B c D e
+ Thuyết dị hợp và siêu trội
Thuyết dị hợp: chính sự dị hợp của nhiều gen làm xuất hiện ưu thế lai Các gen khác nhau ở cùng một locus tổng hợp các protein chức năng khác nhau trong quá trình phát triển, nhờ vậy chúng bổ sung cho nhau làm xuất hiện ưu thế lai
Thuyết siêu trội: dựa vào thuyết dị hợp phát triển thêm, các gen ở trạng thái dị hợp có sự tương tác với nhau mạnh hơn so với các gen đồng hợp Kết quả làm xuất hiện ưu thế lai ở F1: Aa > AA > aa
Có thể minh hoạ thuyết dị hợp và siêu trội, giải thích ưu thế lai như sau: giả sử có 5 cặp gen tham gia xác định một tính trạng kinh tế Các kiểu gen
đồng hợp lặn đóng góp 1 đơn vị tính trạng, các kiểu gen đồng hợp trội cho 1,5
đơn vị tính trạng, các kiểu gen dị hợp sẽ cho 2 đơn vị tính trạng