33 CHƯƠNG 2: NHỮNG NÉT VĂN HÓA ĐẶC SẮC TRONG PHONG TỤC CƯỚI XIN CỦA DÂN TỘC MÔNG XANH Ở TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN .... Các nghiên cứu tập trung vào vai trò của phong tục cưới xin trong đờ
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, chúng em xin gửi lời cảm chân thành tới thầy giáo Đinh Thế Thanh Tú – giảng viên bộ môn văn hóa học – Trường Đại học Tây Bắc đã luôn quan tâm, nhiệt tình hướng dẫn, chỉ đạo và đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp đỡ chúng em trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học
Chúng em xin chân thành cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo trong khoa Lý luận Chính trị và nhà trường đã tạo điều kiện giúp đỡ chúng em trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học
Trong suốt quá trình sưu tầm, nghiên cứu, phân tích và tổng hợp tài liệu cùng khả năng nắm bắt tình hình của bản thân còn nhiều hạn chế, nên thiếu sót trong đề tài là điều không thể tránh khỏi Vì vậy, chúng em rất mong nhận được
sự ủng hộ, chỉ bảo và đóng góp ý kiến của Hội Đồng Khoa Học Nhà Trường, các Thầy giáo, Cô giáo và các bạn sinh viên cho đề tài nghiên cứu của chúng em thêm đầy đủ và hoàn thiện hơn
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa của đề tài 6
7 Giả thuyết khoa học 7
8 Kết cấu của đề tài 7
Chương 1: VĂN HÓA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC MÔNG XANH Ở HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIỆN 8
1.1 Tổng quan về dân tộc Mông Xanh ở huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên 8
1.1.1 Điều kiện tự nhiên nơi dân tộc Mông Xanh sinh sống 8
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 9
1.1.3 Người Mông Xanh ở huyện Tủa chùa, tỉnh Điện Biên 11
1.2 Những nét đặc trưng trong văn hóa của đồng bào dân tộc Mông Xanh ở huyện Tủa Chùa tỉnh Điện Biên 15
1.2.1 Văn hóa vật thể 15
1.2.2 Văn hóa tinh thần 27
Tiểu kết chương 1 33
CHƯƠNG 2: NHỮNG NÉT VĂN HÓA ĐẶC SẮC TRONG PHONG TỤC CƯỚI XIN CỦA DÂN TỘC MÔNG XANH Ở TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN 34
2.1 Những nét đặc sắc trong phong tục cưới xin của dân tộc Mông Xanh ở huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên 34
2.1.1 Phong tục cưới xin của đồng bào dân tộc Mông Xanh 34
2.2 Thực trạng, giải pháp bảo tồn và phát huy phong tục cưới xin của dân tộc Mông Xanh ở huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên trong giai đoạn hiện nay 51
Trang 32.2.1 Thực trạng 51 2.2.2 Một số giải pháp để giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa trong phong tục cưới xin của dân tộc Mông Xanh ở Tủa Chùa, Điện Biên 55
KẾT LUẬN 58 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn hoá là một lĩnh vực rộng lớn có liên quan đến mọi mặt của đời sống xã hội, ở mọi thời đại, mọi giai đoạn lịch sử Văn hoá được coi là nhân tố quyết định đến sự phát triển bền vững của một quốc gia dân tộc Văn hoá của một dân tộc trước hết thể hiện ở bản sắc và nét văn hoá riêng của dân tộc ấy Bản sắc dân tộc thể hiện trong giá trị văn hoá của dân tộc, nó biểu hiện cho sự định hướng và lựa chọn trong hành động của con người Vì thế, vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc đã và đang là mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là trong xu thế mở cửa hội nhập giữa các quốc gia như
hiện nay.Trong lễ phát động “Thập kỷ thế giới phát triển văn hoá” vào năm
1988, Tổng giám đốc UNESCO đã nhấn mạnh: hễ nước nào tự đặt cho mình mục tiêu phát triển kinh tế mà tách rời môi trường văn hoá thì nhất định sẽ xảy
ra mất cân đối nghiêm trọng cả về mặt kinh tế lẫn văn hoá, và khả năng sáng tạo của nước ấy sẽ bị suy yếu rất nhiều
Việt Nam là một đất nước có truyền thống văn hóa lâu đời và là một quốc gia đa dân tộc 54 dân tộc là 54 sắc màu văn hoá tạo nên nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Các dân tộc được phân bố ở những vùng miền khác nhau của Tổ quốc và có giá trị truyền thống, sắc thái văn hoá riêng Việc
kế thừa, phát triển sắc thái, giá trị văn hoá các dân tộc có ý nghĩa làm phong phú thêm nền văn hoá Việt Nam
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đề cao vai trò của văn hoá và phát huy vai trò to lớn của văn hoá - xã hội Coi văn hoá là một trong yếu
tố không thể thiếu trong việc hoạch định chính sách kinh tế - xã hội và chính sách đối ngoại của Đảng Chính vì vậy, cùng với việc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tại hội nghị TW 5, khoá VIII Đảng ta đã xác định:
“Vǎn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” [49,36] Trong những năm gần đây, Đảng ta
rất chú trọng đến việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá của các dân tộc thiểu
số Nghị quyết 22 của Bộ chính trị nêu rõ: “Nền văn minh ở miền núi phải được
Trang 5xây dựng trên cơ sở mỗi dân tộc phát huy bản sắc văn hoá của mình, vừa tiếp thu tinh hoa văn hoá của các dân tộc khác và góp phần phát triển văn hoá chung của cả nước, tạo ra sự phong phú đa dạng trong nền văn minh của cộng đồng các dân tộc Việt Nam [52;54] Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011, Đảng tiếp tục khẳng định, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ, làm cho văn hoá gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển Vì vậy việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam nói chung, bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số nói riêng là một
trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng để thực hiện mục tiêu: “xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.[55; 72]
Dân tộc Mông Xanh, cũng như nhiều dân tộc anh em khác, có một nền văn hóa đặc sắc và lâu đời Trong kho tàng văn hóa dân gian phong phú, phong tục cưới xin là một hiện tượng văn hóa đặc sắc của người Mông Xanh đã được bồi đắp, gìn giữ từ lâu đời Tục cưới xin của dân tộc Mông Xanh được truyền dạy từ thế hệ này sang thế hệ khác, đồng thời được sáng tạo không ngừng cùng với tiến trình phát triển của dân tộc
Người dân tô ̣c Mông ở Tủa Chùa thường cư trú ch ủ yếu trên những vùng núi, vùng sâu, vùng xa hẻo lánh, kinh tế của dân tộc Mông là nền kinh tế tiểu nông, tự cung tự cấp, chậm phát triển Với nền kinh tế độc canh một vụ, phụ thuộc vào tự nhiên, năng suất cây trồng vật nuôi thấp, trướ c đây đa ph ần đồng bào Mông ở Tủa Chùa đều lâm vào c ảnh đói nghèo Cùng với sự phát t riển đi lên của đất nước, ngày nay đời sống người dân Mông ở huyện Tủa Chùa đã dần được thay đổi Cuô ̣c sống đỡ vất vả hơn, sức khỏe được chăm sóc đầy đủ hơn Ý tế thôn bản bản đã được phủ khắp các xã trong toàn huyê ̣n
Huyện Tủa Chùa cũng là địa bàn tụ cư của nhiều dân tộc như Kinh, Thái, Mông, Dao, Tày, Khơ Mú… Mỗi dân tộc đều có đặc trưng riêng về ngôn ngữ,
Trang 6đời sống cộng đồng,… tạo nên vẻ đẹp đặc sắc trong bức tranh văn hóa Tủa Chùa Dân tộc Mông Xanh ở Tủa Chùa tập chung ở một số xã như: Sính Phình, Trung Thu, Mường Báng Tuy nhiên dân tộc Mông Xanh tập trung đông nhất ở xã Sính Phìn
Người Mông Xanh ở Tủa Chùa cũng như các địa phương khác đều lưu truyền văn hóa phong tục cưới xin Tuy nhiên vấn đề gìn giữ phong tục cưới xin của dân tộc Mông Xanh hiện nay đang trở nên rất cấp thiết Để gìn giữ được phong tục cưới xin của dân tộc, đòi hỏi cần phải có những biện pháp hết sức hợp
lý vì vai trò của tục cưới xin có ý nghĩa rất lớn Đó chính là cội nguồn của gia đình hạnh phúc
Mặc dù văn hóa và phong tục cưới xin của dân tộc Mông Xanh đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu này nằm trên bình diện dân tộc học, văn hóa học, tập trung vào các đặc trưng phong tục, tập quán tộc người Các nghiên cứu tập trung vào vai trò của phong tục cưới xin trong đời sống văn hóa tinh thần của người Mông còn rất khiêm tốn, được thể hiện lồng ghép trong một số công trình nghiên cứu thiên về dân tộc học và văn hóa học
Với những lý do trên em chọn đề tài: “Phong tục cưới xin của dân tộc Mông Xanh ở huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Xung quanh vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc đã có khá nhiều công trình, đề tài nghiên cứu đề cập đến ở những góc độ, những hướng tiếp cận khác nhau
Nghiên cứu dưới góc độ bản sắc văn hoá dân tộc có những tác phẩm tiêu biểu như:
"Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc", Huy Cận, Nxb Chính trị Quốc gia,
1994 "Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam", PGS Viện sĩ Trần Ngọc Thêm, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2001 "Bản sắc văn hóa Việt Nam", Phan Ngọc, Nxb Văn học, 2002 "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc", Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên) "Bản sắc văn hóa dân tộc", Hồ
Trang 7Bá Thâm, Nxb Văn hóa Thông tin,2003 Các tác phẩm đã trình bày khái quát và
rõ nét bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam nhằm tạo thêm tính cố kết cộng đồng các dân tộc trong, đồng thời cũng nhằm quảng bá và giới thiệu bản sắc văn hóa của các dân tộc Việt Nam tới các nước trên thế giới và các nước trong khu vực Cuốn sách “Tiếp cận văn hóa Mông” của tác giả: Mã A Lềnh – Từ Ngọc
Vụ nhà xuất bản văn hóa dân tộc, đã đề cập những vấn đề về các nhóm nghành của người Mông, các họ và tên gọi của dân tộc, một số từ vựng chỉ mối quan hệ nội tộc, ngoại tộc và dòng họ Tuy nhiên, cách tiếp cận về văn hóa Mông của Mã
A Lềnh, Từ Ngọc Vụ mới chỉ dừng ở nét khái quát chung nhất
Cuốn sách “tổng quan văn hoá truyền thống các dân tộc Việt Nam” của giáo sư tiến sĩ Hoàng Nam, nhà xuất bản văn hóa dân tộc,2014 Đã nghiên cứu
về điều kiện sinh sống, văn hóa truyền thống như: Làng, nhà ở, trang phục, ẩm thực, phương tiện vận chuyển, ngôn ngữ, lễ hội, tập quán tang ma, lịch sử cư trú Nhưng chỉ nghiên cứu ở mức độ khái quát chung nhất
Cuốn sách tục cưới xin của người Tày của tác giả Triều Ân và Hoàng Quyết, nhà xuất bản văn hóa dân tộc Đã nghiên cứu tục cưới xin và lễ cưới, thơ quan làng, pả mẻ của người Tày “Tục cưới xin người Tày” được hình thành từ lâu đời, trải qua nhiều thế hệ cải biến, bổ sung Cái còn lại đến hôm nay phải là thuần phong mỹ tục, nó có tính chất truyền thống Trên cơ sở đó bảo tồn kế thừa
và phát triển những nét đẹp của dân tộc Tày
Những cuốn sách trên đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận liên quan đến bản sắc văn hoá dân tộc ở Việt Nam, nghiên cứu đặc điểm, vai trò, bản sắc văn hoá Việt Nam trong đời sống hiện nay, đặc biệt là đời sống văn hóa khi đất nước đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động hội nhập vào xu thế toàn cầu hóa Các công trình nghiên cứu trên tác gải đã chỉ
ra thực trạng và đề ra một số giải pháp nhằm giữ gìn, kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc ở Sơn La Tuy nhiên, chưa có công trình nào nói đến phong tục cưới xin của dân tộc Mông Xanh ở huyện Tủa Chùa tỉnh Điện Biện Văn hóa là hết sức có giá trị tạo nên một cái nhìn tổng quan về văn hoá các
Trang 8chung về bản sắc văn hóa, văn hóa các dân tộc thiểu số, văn hóa của dân tộc Mông ở nước ta Tuy nhiên, những nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu những giá trị văn hóa, phong tục tập quán nhằm giới thiệu về người Mông, những nét đặc sắc - cái hay, cái đẹp của văn hóa dân tộc Mông Một số đề tài, công trình cũng đề cập tới vấn đề bảo tồn, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc nhưng mới chỉ đề cập một cách chung chung, chưa có công trình khoa học nào đề cập đến vấn đề kế thừa và phát huy vai trò của phong tục cưới xin trong đời sống văn hóa tinh thần của người Mông Xanh ở huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên hiện nay Mặc dù vậy, những kết quả nghiên cứu trên đây là nguồn tư liệu quan trọng, là cơ sở để tác giả tiếp thu, nghiên cứu trong quá trình thực hiện
đề tài này
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu về phong tục cưới xin của dân tộc Mông Xanh ở huyện Tủa Chùa tỉnh Điện Biên Trên cơ sở đó đánh giá thực trạng, đề ra một số giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy những nét đẹp trong phong tục cưới xin của dân tộc Mông
Xanh trong giai đoạn mới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Muốn thực hiện được mục tiêu trên đề tài cần tập trung giải quyết nhiệm vụ chính sau:
Một là, trình bày tổng quan về dân tộc Mông Xanh ở huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên
Hai là, chỉ ra vai trò của phong tục cưới xin trong đời sống văn hóa tinh thần của người Mông Xanh ở huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên
Ba là, hiện nay do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường và sự giao thoa văn hóa giữa các vùng trong nước và Quốc tế nên những nét đẹp trong văn hóa của người Mông Xanh cũng dần bị mai một
Bốn là, đề xuất một số phương hướng, đưa ra một số giải pháp cơ bản, nhằm tăng cường và phát huy vai trò của phong tục cưới xin trong đời sống văn hóa tinh thần của người Mông Xanh ở huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên trong giai đoạn hiện nay
Trang 94 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Phong tục cưới xin trong đời sống văn hóa tinh thần của người Mông Xanh
ở huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu phong tục cưới xin củadân tộc Mông Xanh ở huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên Không gian là trên địa bàn huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên
Thời gian thực hiện từ tháng mười năm 2017 đến tháng nam năm 2018
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Thực hiện đề tài này chủ yếu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác, Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan điêm của Đảng và nhà nước ta
về văn hóa, dân tộc và chính sách dân tộc
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng một số phương pháp cơ bản sau: Phương Pháp chung: Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử
Phương pháp cụ thể: Phương pháp xã hội học, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp
6 Ý nghĩa của đề tài
6.1.Về mặt lý luận
Đề tài góp phần làm rõ nét thêm những nét đặc sắc của dân tộc Mông Xanh ở huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, phân tích và hệ thống văn hóa của dân tộc Mông Xanh Qua đó đưa ra những giải pháp cơ bản và thiết thực nhằm phát huy phong tục cưới xin trong đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Mông Xanh
ở huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên trong giai đoạn hiện nay
6.2 Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và học tập cho sinh viên chuyên ngành giáo dục chính trị trường
Trang 10Đại học Tây Bắc, làm tài liệu tham khảo cho công tác hoạch định chính sách và quản lý văn hóa ở tỉnh Điện Biên và huyện Tủa Chùa
7 Giả thuyết khoa học
Phong tục cưới xin của người Mông Xanh ở huyện Tủa Chùa tỉnh Điện Biên đang chịu sự tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa? Điều này đang mất dần đi những nét tinh hóa văn hóa của dân tộc Thế hệ trẻ ngày nay có quan tâm đến việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc trong bối cảnh hội nhập quốc tế và xu hướng toàn cầu hóa ngày càng phát triển ở nước ta
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa luận gồm 2 chương:
Chương 1: Văn hóa đồng bào dân tộc Mông Xanh ở huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên
Chương 2: Phong tục cưới xin trong đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Mông Xanh ở huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên
Trang 11Chương 1 VĂN HÓA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC MÔNG XANH
Ở HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIỆN
1.1 Tổng quan về dân tộc Mông Xanh ở huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên
1.1.1 Điều kiện tự nhiên nơi dân tộc Mông Xanh sinh sống
Về vị tri địa lý
Tủa Chùa là huyện vùng cao, vùng sâu, vùng xa cách trung tâm Tỉnh lị
Điện Biên 126 km, có tổng diện tích tự nhiên 68.526,45 ha Phía Bắc giáp huyện
Sìn Hồ tỉnh Lai Châu; phía Đông giáp huyện Quỳnh Nhai tỉnh Sơn La; phía
Nam giáp huyện Tuần Giáo; phía Tây giáp huyện Mường Chà và Thị xã Mường
Lay Về địa giới hành chính có 11 xã và 1 thị trấn với 138 thôn bản, tổ dân phố
(Báo cáo công tác Dân tộc, Tôn giáo 6 tháng đầu năm 2016- Huyện ủy Tủa
Chùa, 2016)
Về địa hình
Huyện Tủa Chùa nằm trên độ cao trung bình 800m so với mực nước biển;
địa hình Tủa Chùa chủ yếu là núi đá vôi có độ dốc từ 25- 30 độ Điểm cao nhất
ở Tủa Chùa là đỉnh nam Quan (1,874m) Địa hình Tủa Chùa thấp dần về phía
nam, do bị chia cắt bởi những núi đá vôi và suối ngăn nên có nhiều lòng máng,
thung lũng hiểm trở
Tủa Chùa có khoảng 20 sông, suối lớn nhỏ Trong đó có hai con sông và
một suối chính như: Sông đà, sông Nậm Mức, suối Nà Sa, suối Nậm Seo, suối
Tà Lã Caó… Hầu hết sông suối ở Tủa Chùa đều có độ dốc cao, lưu vực nhỏ, lắm
ghềnh, nhiều thác, lưu lượng thay đổi theo mùa
Địa hình núi thấp với các đỉnh Na Tung cao 1.585 m ở phía đông nam,
Phình Ho cao 1.585 m ở phía tây bắc và cao nguyên Xín Chải dạng cao nguyên
đá vôi Có sông Đà chảy qua ranh giới phía đông và phía bắc của huyện, sông
Nậm Mức chảy qua ranh giới phía tây của huyện để nối vào sông Đà tại phía
Tây Bắc huyện này trong địa giới xã Lao xả Phình
Trang 12+ Diện tích đất nông nghiệp: 17.706,48 ha
+ Diện tích đất lâm nghiệp: 49.087,08 ha
+ Diện tích đất chưa sử dụng: 31,35 ha
(Theo số liệu thống kê của UBND huyện Tủa Chùa năm 2015)
Hệ thống giao thông còn gặp nhiều khó khăn; đặc biệt là xã Lao xả phình và Trung Thu cho đến hiện nay vẫn còn chưa được rải nhựa, còn các xã còn lại thì cũng đã bị hư hỏng nhiều chưa được tu sửa, việc đi lại vào mùa mưa còn gặp nhiều khó khăn
Khí hậu
Huyện Tủa Chùa nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có mưa từ tháng 6,7,8
và có mùa khô vào tháng 12 đến sau tháng 3 Do điều kiện khí hậu thích hợp phát triển kinh tế rừng, chăm nuôi gia sức, phát triển cây trồng, thâm canh tăng
vụ đem lại sản lượng nông nghiệp cao, phát huy thế mạnh của một huyện miền núi là phát triển nông-lâm nghiệp
Tài nguyên thiên nhiên
Địa hình chia cắt phức tạp, chủ yếu là núi cao, độ dốc lớn, đất ruộng và đất bằng ít; hiện tượng xói mòn ở miền núi đá vôi, hiện tượng phong hóa khá phổ biến Bao gồm các tài nguyên như: Tài nguyên đất, tài rừng, tài nguyên khoáng sản
Thời tiết khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa khô từ tháng 9 năm trước đến tháng 3 năm sau, trong mùa khô thường xảy ra rét đậm, rét hại kéo dài; mùa mưa từ tháng 4 đến tháng hết tháng 8 thường có mưa đá, gió lốc lớn
Do nằm trên độ cao nên: nguồn nước mặt hiếm lại bị cạn kiệt về mùa khô; lượng mưa trung bình hằng năm thấp, phân bố không đồng đếu, chủ yếu tập trung vào tháng 7 tháng 8
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
1.1.2.1 Tình hình xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng trên địa bàn
Trong thời gian từ năm 2006 đến năm 2016, được sự đầu tư từ Trung ương, tỉnh thông qua các chương trình, dự án như Chương trình 134, 135, 30a,
370, kiên cố hóa trường lớp học, các dự án 1460, 661, giảm nghèo, nông thông
Trang 13mới, nguồn vốn xây dựng cơ bản tập trung, nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ, vốn Nghị quyết 37,… cơ sở hạ tầng kỹ thuật của huyện Tủa Chùa cơ bản được xây dựng đồng bộ, tạo nên diện mạo mới cho huyện
Cụ thể: Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trong giai đoạn 2006-2016 ước đạt 3.223,7 tỷ đồng; đầu tư được trên 525 công trình, đưa vào sử dụng trên
460 công trình, gồm các công trình giao thông, công trình nước sinh hoạt, thủy lợi, cầu treo, điện sinh hoạt, trụ sở làm việc, nhà văn hóa, nhà lớp học, nhà ở giáo viên, học sinh, bệnh viện,…; đến hết năm 2016 tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng điện lưới quốc gia ước đạt 80,51%; tỷ lệ hộ được dùng công trình nước sinh hoạt hợp vệ sinh ước đạt 86,9%; 16/16 xã, thị trấn có đường ô tô đến trung tâm xã (trong đó 10/16 xã có đường ô tô cứng hóa); 16/16 xã có trạm y tế (trong
đó đạt chuẩn 4 xã); toàn huyện có 804 phòng học (trong đó phòng học kiên cố,
215 phong học bán kiên cố và 119 phòng học tạm) (số liệu thống kê của UBND huyện Tủa Chùa năm 2016)
- Việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và phát triển nhà ở, cải thiện điều kiện sinh hoạt của nhân dân thị trấn đã có sự thay đổi mạnh mẽ về kết cấu hạ tầng, cảnh quan và kiến trúc đô thị Công tác quản lý đô thị đã từng bước được quan tâm và thực hiện nghiêm, trật tự đô thị được quản lý chặt chẽ hơn, công tác vệ sinh môi trường đã được thực hiện thường xuyên và
nế nếp, đã hình thành một số khuvui chơi văn hóa, thể thao tập trung và khu nhà
ở dân cư xây dựng theo mẫu kiến trúc đô thị
1.1.2.2 Tình hình phát triển kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa
Nền kinh tế giai đoạn từ 2015 đến nay có mức tăng trưởng khá, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 10,5% Cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiêp; xây dựng và dịch vụ Thị trường và các dịch vụ từng bước vươn tới cơ sở Các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa xã hội được quan tâm phát triển có hiệu quả, giải quyết tốt các vấn đề bức xúc xã hội
Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững, ổn định Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện và nâng lên một
Trang 14tăng từ 3,5 triệu đồng/người/năm lên 16,5 triệu đồng/người/năm; lương thực bình quân đầu người tăng từ 392kg/người/năm lên 793 kg/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo bình quân đạt giảm 3-4%/năm; đến năm 2016 toàn bộ 16/16 xã, thị trấn của huyện đã phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập Trung học sơ cở, tỷ lệ đạt 100%, toàn huyện có 55 đơn vị trường học và 01 Trung tâm giáo dục thường xuyên hướng nghiệp dạy nghề, với 796 lớp và 18.452 học sinh; tỷ lệ gường bệnh
đạt 15/ 1 vạn dân, tỷ lệ bác sỹ đạt 4,6 bác sỹ/ 1 vạn dân (số liệu thống kê của UBND huyện Tủa Chùa năm 2016)
1.1.3 Người Mông Xanh ở huyện Tủa chùa, tỉnh Điện Biên
1.1.3.1 Người Mông Xanh trên phạm vi cả nước
Trong cộng đồng 54 dân tộc của Việt Nam, người Mông Xanh (còn có tên gọi khác là môngz Njuôz) có dân số là 45.660 người với 7.798 hộ (năm 2015) Người Mông Xanh, cư trú ở nhiều tỉnh phía Bắc, tập trung đông nhất là ở các tỉnh Điện Biên, Lào Cai, Hà Giang Bản sắc văn hóa của dân tộc Mông gắn liền với nền văn hóa ra đời cách đây hơn một vạn năm
Người Mông Xanh ở huyện Văn Bàn ( tỉnh Lào Cai ) có một số giả thuyết:trong quá trình thiên di,một nhóm người bị cô lập giữa rừng hoang núi vắng nên họ giữ nguyên ngôn ngữ cổ xưa nhất,đồng thời sáng tạo them ngôn ngữ sử dụng trong cộng đồng của họ Ngày nay tiếng nói của người Mông Xanh khác với tiếng nói của các ngành mông, nhất là Mông Lềnh, Mông Đơ và coi như là tiếng phổ thông Thứ hai, họ cũng là nạn nhân của cuộc chiến tranh “Thái bình thiên quốc” khoảng năm 1840 rồi lang bạt tới sườn núi hoàng liên, đoạn tuyệt hẳn với thế giới bên ngoài bởi lời đồn ác độc lưu truyền “người mông Giua
ăn thịt người” Thứ ba, trong quá trình thiên di, họ nhập vào với thổ dân Ai-nu ở HoK-Kai-do nhưng bị phân biệt, miệt thị, phải dạt ra đảo để tránh bị thổ dân chém, giết ăn thịt Sống trên đảo cũng không yên thân, họ đành nhoài ra biển cả mênh mông rồi trôi dạt vào bờ, từ đó họ tìm những ngọn núi cao để sinh sống, trong số đó có cả người Ai-nu Dẫu sao thì người Mông Xanh (Mông Giua ) vẫn thuộc tộc Mông bởi tục lệ ma chay, cưới gả, nhà cửa và bài trí, cùng cách sinh hoạt và trang phục
Trang 15Các nhóm tộc người Mông
Nhiều nhà dân tộc học cho rằng tộc người Mông thuộc nhóm ngôn ngữ Mông, dao, pà thẻn nằm trong khối bách việt ở miền Nam Trung Quốc, có nguồn gốc Nam phương, gọi tắt là nhóm người ngôn ngữ Mông-Dao thuộc hệ Nam- Thái
Trong quá trình thiên di phát triển, người Mông chia ra nhiều ngành, nhiều nhóm, tộc phương khác nhau, cư trú không liền lãnh thổ, địa phương mà thường xen kẽ với các tộc người khác
Theo một số tài liệu thì một thời ở Trung Quốc có xu hướng gộp những tập người có hệ ngôn ngữ, sắc phục nét sinh hoạt và địa vực cư trú tương đồng thành dân tộc, trong đó dân tộc Mông sinh sống 4 khu vực chủ yếu, được phân
ra làm 5 ngành, là: Ghao Xong =Miêu Đỏ = Mông Si (Hmôngz Siz).Hmu,Ghane, kanao=Miêu Đen=Mông Đu (Hmoongz Đuz ) Hmogz=Miêu Hoa Lớn = Mông Lềnh ( Hmôngz Lênhl) Mông Trắng=Hmông Đơ (Hmoongz Đoowuz ).Miêu Xanh=Hmông Giua (Hmôngz Njuôz) Miêu Xanh = Hmông Giua (Hmôngz Njuôz) Phụ nữ mặc đồ chàm có xuyết nếp xanh ở tà áo, váy, sinh sống ở vùng Nam Tứ Xuyên, Tây Qúi Châu và Nam Vân Nam [28;48]
Vì thấy người Mông có tính cố kết cộng đồng cao, có tinh thần thượng võ,,
có tinh thần thượng võ, có tinh thần thượng võ, bất khuất, họ lại sống rất hòa thuận và được các tộc người cùng sống xen kẽ hoặc sống liền kề yêu mến, nể trọng nên luôn tìm cách chia rẽ người Mông Các thiên chiều đã xé lẻ người Mông ra nhiều nhóm đồng thời quy định trang phục mỗi nhóm khác nhau về màu sắc, về trang trí hoa văn và có vị tộc trưởng đại diện cho nhóm của minh hòng dễ bề thu phục vì vậy, mỗi khi mở đầu bài hát dân ca, người Mông bao giờ cũng có câu lĩnh xướng đầu tiên : “trời hết rồi !”(Ntux tangl nduô) đây như là một lời than vãn để khác nghi cuộc sống cùng cực, hối thúc muôn thế
hệ Mông nhớ về cội nguồn tiên tổ, nhớ truyền thống cố kết một lòng đồng thời là một lời nhắn nhủ mọi người vượt lên mọi gian nan, khó nhọc để giành lấy cuộc sống
Trang 16Ở Việt Nam, sau hòa bình lập lại, các nhà dân tộc học đã có quá trình nghiên cứu, khảo sát nhận thấy có những nhóm Mông nhiều nét tương đồng về ngôn ngữ, trang phục… có xu hướng lập lại với nhau, do vậy hiện nay có 5 ngành Hmông chính: trong đó người Mông giua (mông Njuôz ) dịch theo nghĩa đen là Mông xanh sinh sống ở Sính Phình, huyện Tủa Chùa (tỉnh Điện Biên), Lùng Phình, huyện Bắc Hà, Nậm xé, Nậm Xây, huyện văn Bàn (tỉnh Lào Cai)…[18;45]
Như vậy ta có thể nhận ra người Mông Xanh có nguồn gốc từ vùng Nam
Tứ Xuyên, Tây Quí Châu và Nam Vân Nam và di cư về sinh sống tại Việt Nam
từ rất xa xưa
Người Mông Xanh sinh sống chủ yếu ở các vùng đồi núi, địa hình khó khăn
Từ những yếu tố trên đã ảnh hưởng rất lớn đến cấu trúc cơ thể do thích nghi với môi trường và quá trình lao động sản xuất Có thể quan sát thấy đại đa
số người miền núi nói chung, người Mông Xanh nói riêng có thế khi đi dáng người thường lưng hơi gù, khi đi thân trên hơi âu về phía trước, bước chân nhấc cao, nhấn bước sải dài chắc chắn Đây là tư thế leo dốc về phía trước để tạo trọng lực hướng vào mặt thoải của dốc, đây cũng là sản phẩm của quá trình mang vác nặng thường diễn ra hàng ngày khi đi rừng, làm ruộng, làm nương Chân nhấc cao vì phải đi qua địa hình không bằng phẳng, nhấc cao nhằm vượt qua các chướng ngại thường có trên đường hoặc những nơi địa hình đột ngột trồi lên hay hạ xuống Việc lên, xuống một cách cơ học tính theo phương trọng lực thẳng đứng (chứ không phải phương hướng hành trình) diễn ra hàng ngày, hàng giờ, khi lên Rõ rằng thường xuyên vận động trong một môi trường địa hình như vậy lâu dần đã tạo nên sự phát triển khung xương và cơ bắp nhằm thích nghi với môi trường sống lâu dần nó làm thay đổi các vật chất di truyền tạo nên sắc thái riêng
Điều đó thể hiện rất rõ trên đặc trưng cơ thể người Mông Quan sát bình thường cũng rất dễ nhận thấy các cơ quan vận động như: bắp chân to, đùi to, bàn chân đầy, rộng, các ngón chân đặc biệt là ngón cái phát triển to, dài do phải leo trèo nhiều, ngón chân luôn phải bấu xuống đất nên phát triển
Trang 171.1.3.2 Người Mông Xanh ở huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên
Dân tộc Mông là bộ phận đông thứ hai ở tỉnh Điện Biên, với 170648 người chiếm 29,6% dân số toàn tỉnh Tổng số dân của huyện Tủa Chùa là 45,660 người với 7,798 hộ,( 2008) trong đó số dân tộc Mông là dân tộc đông thứ nhất với 30,178 người chiếm 67,28% dân số cả huyện với gồm 5 dân tộc Mông khác nhau: Mông Xanh, Mông Đỏ, Mông Đu, Mông Đơ, Mông Hoa Ngoài ra còn có các dân tộc khác như: Thái, Dao, Hoa, Kinh, Khơ Mú, Phù Lá…[ theo số liệu thống kê của tỉnh Điện Biên 2008]
Địa bàn sinh sống của người Mông Xanh ở Tủa Chùa tập chung chủ yếu ở
xã Sính Phình, tính đến năm 2017 dân số ở Sính Phình là 6.298 người trong đó người Mông Xanh là 2.299 người chiếm 36,5% dân số trên địa bàn xã Sính Phình [ theo số liệu thống kê 2017 ] Ngoài ra còn có ở xã Mườn Bán và xã Trung Thu, người Mông Xanh thường sống ở những xã vùng cao tập trung thành từng thôn bản riêng, không làm nhà xen kế với các dân tộc khác Phần lớn trước đây là những người có trình độ dân trí thấp nên ít khi được giao lưu văn hóa với các dân tộc khác trên địa bàn huyện Tủa Chùa
Người Mông Xanh sống chủ yếu ở các vùng đồi núi cao Vì vậy người Mông Xanh cũng có những đặc điểm riêng về phong tục, tập quán Đời sống sinh hoạt cũng có nét khác biệt so với các dân tộc khác
Nhờ sự quan tâm của Đảng và nhà Nước về giáo dục nên trình độ dân trí của người Mông Xanh ở Tủa Chùa được nâng cao, người Mông Xanh có điều kiện để đi học và nhận thức được sự phát triển về mọi mặt của xã hội, tham gia vào các hoạt động kinh tế của xã hội Tuy nhiên, ở những nơi vùng sâu vùng xa vẫn có nhận thức hạn chế, có nhiều hủ tục lạc hậu làm cho đời sống còn gặp nhiều khó khăn nên người Mông Xanh thường bị các thế lực xấu xâm nhập và lợi dụng Trong đó phong tục cưới xin cũng là một trong những nét đẹp của dân tộc vì vậy chúng ta cần phải giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc
Trang 181.2 Những nét đặc trƣng trong văn hóa của đồng bào dân tộc Mông Xanh ở huyện Tủa Chùa tỉnh Điện Biên
1.2.1 Văn hóa vật thể
Văn hóa vật thể bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất vật chất của con người tạo ra: nhà ở, đồ ăn, đồ mặc, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày… Nó có tính đặc thù riêng do mỗi dân tộc sống ở trên một vùng đất riêng, điều kiện tự nhiên khác nhau, ý tưởng sáng tạo của mỗi dân tộc cũng khác nhau Dân tộc Mông Xanh đã tạo ra nhiều vật phẩm mang đậm dấu ấn của dân tộc mình như: Nhà ở, trang phục, văn hóa ẩm thực… Đó là những nét đặc trưng tạo nên giá trị văn hóa của dân tộc Mông Xanh huyện Tủa Chùa tỉnh Điện Biên
1.2.1.1 Nhà ở
Đến thăm những bản làng của đồng bào Mông, chúng ta sẽ thấy những ngôi nhà dựa lưng vào đồi núi, mặt hướng ra cánh đồng xanh bát ngát, xung quanh nhà là cây cối bốn mùa đơm hoa, kết trái Ngôi nhà dựng theo kiểu truyền thống của người Mông, vì được bố trí khéo léo nên không gian rất thoáng đãng và đặc biệt tiện lợi Với đặc trưng kiểu nhà này, người Mông đã tạo nên cho mình một tập quán riêng trong sinh hoạt hàng ngày cũng như trong lao động sản xuất, vừa trồng lúa, làm nương rẫy, vừa chăn nuôi gia súc gia cầm Nhà ở của người Mông Xanh ngoài công năng để ở và cất trữ tài sản, phòng tránh thú
dữ, rắn, rết và phù hợp với điều kiện khí hậu nóng ẩm ở vùng núi, còn là nơi giữ gìn bản sắc văn hóa, giáo dục các thành viên trong gia đình
Trong truyền thống văn hoá của dân tộc Mông Xanh thì không cho phép dựng nhà thành hàng, lối nhưng bao giờ, nhà đất cũng đều ở vị trí dựa lưng vào thế đất cao như sườn đồi, sườn núi để đón nhận tiết trời trong lành và tiện cho việc sinh hoạt, săn bắn, đi rừng Ở giữa màu xanh thiên nhiên núi rừng, những nếp nhà đất vẫn tồn tại như một minh chứng rõ nét nhất về sức sống lâu bền của văn hoá Mông Xanh hàng nghìn năm qua
Nhà của người Mông Xanh thường phân ra ba mặt bằng: Mặt trên cùng là gác
để đựng lương thực, đồ dùng gia đình; sàn nhà là nơi sinh hoạt nghỉ ngơi Mỗi nhà có thể bày biện, trang trí khác nhau nhưng cấu trúc cơ bản về gian, buồng giống nhau
Trang 19Nguyên liệu cơ bản được bà con sử dụng để dựng nhà là gỗ, thường là các loại gỗ trai, chò chỉ, nghiến, sến, táu, dổi, de, đinh, lát Ngoài gỗ để làm các chi tiết chính, nhà của người Mông còn sử dụng các loại tre, bương, hóp để làm đòn tay, đan vách Cột nhà làm bằng gỗ tròn hoặc vuông nhưng phổ biến là tròn; chân cột thường được chôn xuống đất nhưng cũng có nơi dùng các hòn đá tảng
để kê Vì chân cột nhà thường được chôn sâu xuống đất từ 80cm - 1m nên phải làm cột bằng thứ gỗ không bị mối ăn, không mục, không mọt Trước đây nhà cổ
sử dụng đinh gỗ, đinh tre, chêm gỗ để cố định mộng chính và dùng các loại dây leo bện để níu những mộc phụ theo hình chữ X Hiện nay bà con nơi đây đã biết
sử dụng đinh sắt để thay cho dây lạt, dây rừng có tuổi thọ không cao Mái nhà truyền thống thường được lợp bằng cỏ gianh, lá cọ nên nhà người Mông Xanh
ấm áp về mùa đông, mát mẻ về mùa hè
Nhà của người Mông Xanh thường cấu trúc một gian hai chái, hai gian hai chái, ba gian hai chái (tương đương ba gian, năm gian, bảy gian ) Các cửa
số, kể cả cửa (cửa sổ chính) chỉ làm ở phía trước của ngôi nhà Giữa các gian thường không có cửa một cách chắc chắn, chỉ có sự phân biệt có tính chất tượng trưng Riêng buồng con dâu, con gái lớn, mặc dù không có cửa nhưng những quy ước bất thành văn rất chặt chẽ, được tuân thủ nghiêm ngặt rằng, ai khi nào được vào và ai khi nào không được vào
Đặc biệt, ở bất kỳ hướng cửa sổ nào với người Mông Xanh đều được coi là thứ rất linh thiêng và là điều tối kỵ
Người Mông Xanh xưa thể hiện sự giàu có, địa vị xã hội bằng cách làm nhà
to, làm nhiều nhà
Trong sàn nhà của người Mông Xanh, không gian được chia theo cả chiều dọc và chiều ngang Từ cầu thang chính bước vào phần giữa nhà phía dưới bếp, phía ngoài là để tiếp khách, phía trong là nơi sinh hoạt của cả gia đình Trong nhà, theo chiều dọc, phía trên có các cửa sổ gọi là cửa voóng, chỗ ngồi gần cửa voóng thường dành cho người cao tuổi, còn phía dưới dành cho lớp trẻ Theo chiều ngang, phía ngoài dành cho nam giới, phía trong dành cho nữ giới
Trang 20Theo phong tục của người Mông Xanh khi làm cửa chính nhất thiết phải là
số lẻ và được dựng ở các thế đất khác nhau Theo quan niệm của người Mông,
số lẻ của cửa chính thể hiện ước nguyện quy luật vào - ra - vào thì của cải sẽ không đi ra ngoài, gia đình luôn được êm ấm, đoàn tụ, con cháu thành đạt
Điều thú vị nhất trong tổng thể cách xây dựng nhà sàn của người Mông Xanh thì đó là những kết cấu hoàn chỉnh không chỉ tạo dựng nên một ngôi nhà đặc trưng từ cổ kim đến giờ vẫn nguyên vẹn Lý thú hơn cả, là ở mỗi bộ phận cấu thành nên nhà đất nó lại mang một ý nghĩa tâm linh sâu sắc gắn kết chặt chẽ với con người hàng nghìn năm không thay đổi
Về với đất Mông nhiều du khách sẽ ngỡ ngàng khi ngắm những ngôi nhà
cổ và độc đáo Qua bao thế hệ, người dân tộc Mông vẫn giữ nguyên nét bình dị trong kiến trúc xây cất nhà cổ, nhưng chứa đựng những vẻ đẹp độc đáo
1.2.1.2 Trang phục
Bên cạnh cách dựng nhà ở, trang phục của người Mông Xanh cũng có nét
độc đáo riêng biệt Trang phục cũng như tạo hình và phong cách thẩm mỹ trên
trang phục của người Mông có đặc trưng riêng
- Trang phục nam giới
Bộ nam phục Mông Xanh gần giống với nam phục người Kinh, gồm áo ngắn, áo chùng, quần, thắt lưng,… Áo cánh ngắn 4 thân mày từ vải bông hay vải
tơ tằm, vạt dài gần chấm mông, vai có miếng vải đệm Nẹp áo ngực đơm khuy cài cúc, bốn túi, hai túi to phía dưới hai vạt trước và túi nhỏ trên ngực trái, tay nối liền với cầu vai Áo cánh nam may vừa, tạo dáng khỏe khoắn của đàn ông Quần vải chàm may rộng, chùng tới mắt cá chân, cạp to, khi mặc quần dùng dây vải buộc ngoài cho chặt, nay người ta may cạp quần giải rút Ngày xưa, nam giới Mông Xanh còn dùng thứ thắt lưng nơi eo bụng, gọi là khăn quần Loại thắt lưng này dài gần bằng thắp lưng của của phụ nữ, thắt xong để xõa mối xuống chấm đầu gối
Trong ngày lễ hội, người đàn ông Mông Xanh mặc những bộ quần áo mới
Bộ nam phục trang trọng thường bằng vải lụa, màu đen, xanh hoặc màu vàng tơ tằm, đầu chít khăn màu tím than, thắt lưng lụa màu đỏ, vàng đậm ngả tím, bên
Trang 21ngoài khoác thêm chiếc chùng lụa, màu đen, cổ cao, vạt dài phủ gối, cài khuy áo phía nách phải, hai bên tà áo xé cao
Thông thường trong lao động và trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày trang phục của nam giới Mông Xanh khá thống nhất Đa phần họ đều mặc quần kiểu chân què, cạp rộng lá tọa, đũng quần rất thấp, khi mặc, cạp được dắt sang một bên rồi dùng thắt lưng thắt chặt lại Quần của Mông Xanh nam giới có nét riêng không giống bất kỳ dân tộc nào Áo của nam giới Mông Xanh lại có nhiều
vẻ khác nhau Nam giới Mông Xanh mặc áo ngắn, phía trước chỉ đủ che một phần ngực, bên trong mặc một chiếc áo lót trắng dài hơn
Vào dịp hội hè, lễ tết, cưới xin nam giới Mông Xanh còn dùng khăn quấn đầu và cổ, họ đeo vòng cổ va còn có vòng tay, nhẫn
- Trang phục nữ giới
Bộ nữ phục của người Mông Xanh đã dần trở nên quen thuộc, gây ấn tượng với chiếc váy xèo, cạp hoa phô trước ngực, chiếc áo cánh lửng, chiếc áo chùng buộc vạt, thắt lưng xanh hoặc đỏ Bộ nữ phục ấy không có vẻ diêm dúa như nữ phục Thái, không kín đáo như nữ phục Tày, có nhiều màu sắc khác nhau Nữ phục Mông Xanh ẩn tàng những sắc thái riêng, qua đường nét cắt may, qua màu sắc trang trí
Trang phục của phụ nữ Mông Xanh gồm áo xẻ ngực, váy, thắt lưng và xà cạp
Áo có cổ phía trước hình chữ V, hai bên được nẹp thêm vải màu tùy thích, phía sau là một bức thêu hình chữ thập được trang trí hoa văn hài hòa Hai ống tay áo thường thêu hoa văn là những đường vằn ngang với đủ màu sắc từ nách đến cửa tay Đây là nơi hoa văn tập trung nhiều nhất làm nổi bật chiếc áo Đồng thời, họ còn gắn hạt cườm, kim tuyến lên áo càng làm tăng thêm vẻ đẹp của trang phục
Váy của phụ nữ Mông Xanh là váy mở, có nhiều nếp gấp, rộng, khi xèo ra mền mại như cánh hoa Phần cạp váy được khâu xếp lại cho vừa một vòng bụng
và có hai dây để buộc trên nền váy may nhiều sợi chỉ to với nhiều màu Phần thêu hoa văn được thực hiện ở giữa váy, đây là phần cầu kì nhất của bộ váy
Trang 22Nói đến trang phục của phụ nữ Mông Xanh thì không thể thiếu được chiếc thắt lưng, là một miếng vải rộng khoảng 6-7 cm và dài 2m, đoạn giữa được thêu các hoa văn, màu đẹp, quấn ngang bụng làm tôn thêm vẻ đẹp của người phụ nữ
và làm cho các thiếu nữ có vóc dáng đẹp hơn Trong trang phụ nữ Mông Xanh còn có xà cạp quấn chân, đồng bào Mông Xanh quan niệm đeo tấm vải che trước váy và quấn xà cạp thể hiện ý tứ và sự kín đáo của người phụ nữ
Chiếc váy của phụ nữ phủ không chỉ từ thắt lưng trở xuống Váy của phụ
nữ Mông Xanh may cắt từ loại vải bông tự dệt, nhuộm màu chàm đen, phần cạp váy dệt từ sợi tơ tằm Váy đã khâu lại hình váy xèo, tuy nhiên, vì chiều ngang váy còn rộng, nên khi mặc phải quấn quanh thân, phần thừa gập lại thành nếp suốt chiều dài thân váy phía trước Phụ nữ Mông Xanh nhuộm vải thân váy khá công phu, tạo nên nhiều màu vừa bền vừa bóng Gấu váy có nhiều miếng vải lót phía trong, trang trí một cách kín đáo, bộ váy của người Mông chỉ có một đường duy nhất mà người Mông gọi nó là đầu váy
Màu sắc hoa văn trên cạp váy thường là những màu nguyên: xanh, đỏ, vàng, đen, trắng, tuy nhiên, khi chúng được đan rập lại với nhau và phối màu trên nền chàm đen làm cho các tông màu như chìm hẳn xuống
Trang phục nữ có chiếc thắt lưng ( sev) tuy đơn sơ nhưng lại có vị trí nổi bật, nó tôn thêm vẻ đẹp sang trọng của cạp váy, hòa sắc với chiếc áo thùng Sev (séc) may bằng vải hay lụa, dài chừng hơn sải tay, thắt đúng giữa eo trên nền cao váy, thắt lưng ra ngoài áo chùng Thắt lưng Mông Xanh có nhiều màu: trắng, xanh, tím, vàng nhưng đẹp nhất vẫn là thắt lưng lá mạ tạo được phối sắc hài hòa với cạp váy, áo cánh ngắn và áo chùng
Trong khi đó nữ giới hằng ngày thường mặc áo lú (áo ngắn) Đây là loại áo cánh ngắn, xẻ ngực, ống tay dài, áo màu nâu hoặc trắng, bên trong mặc áo yếm trắng Đầu thường đội khăn đỏ, đen… để tạo thêm sức hấp dẫn của bộ trang phục nữ Mông Xanh
Nét đặc sắc trên trang phục của người Mông Xanh chính là những mảng hoa văn nổi lên giữa trang phục và cạp váy, thắt lưng Kỹ thuật dệt cạp váy rất khó, bao gồm nhiều khâu, thao tác phức tạp hơn dệt vải thông thường, do vậy,
Trang 23đòi hỏi sự khéo léo cao Đặc biệt, tài năng của người dệt còn thể hiện ở việc bố cục, sắp xếp hoa văn trên từng bộ phận sao cho hợp lý, đẹp mắt, để các họa tiết
có thể hỗ trợ, làm nổi bật lẫn nhau mà không phá vỡ bố cục chung
- Trang phục trong tang lễ
Trong tang lễ Mông Xanh có người phải đóng vai trò quạt ma người Mông
Xanh phải dùng một trang phục riêng cho người này trong khi ông Mo làm lễ mời cơm, mời bánh cho hồn người quá cố Người được chọn mặc đồ tang quạt
mà thường là em dâu, con dâu, cháu dâu thuộc bên nội hay ngoại Bộ trang phục này thường rất đẹp, lộng lẫy, váy đen có cạp hoa đẹp, yếm đỏ đen, áo cánh mới,
áo chùng trắng bên ngoài khoác thêm áo thụng may bằng vóc màu đỏ, cài khuy cúc ở bên trái Trên tay đeo nhiều vòng, nhẫn đẹp, tay phải cầm quạt múa, tay trái cầm một cành cây vót tròn, trên treo chiếc kéo và mảnh lá hình bàn tay gọi
là “bàn tay ma”
Người quạt ma đội khăn bên trong và mũ ở ngoài Các góc mũ có treo những dây tua, rủ thấp, trên đó treo các mảnh vải màu, những hạt cườm… Bộ trang phục này đẹp tới mức mà phương ngôn Mông Xanh có câu: “diện như nàng dâu đi quạt” Đây cũng là trang phục bình thường, tuyền màu trắng, không trang trí lòe loẹt, may lộn ra ngoài
Trang phục của nam giới gồm: quần, áo cánh ngắn, áo chùng, khăn bịt đầu, bằng vải bông màu trắng, may kiểu lộn trái ra ngoài để mặc Các con trai của người quá cố phải mặc đầy đủ bộ tang phục và đội lên đầu khăn màu trắng Những người khác chỉ phải mặc quần và chít khăn tang Những người họ hàng thân thích tới dự cũng được phát khăn tang để đội
1.2.1.3 Ẩm thực
Văn hoá của một tộc người nói chung và văn hóa Mông Xanh nói riêng không phải là cái gì đó quá bao la, rộng lớn hay khó nắm bắt Đó là những nét riêng, độc đáo biểu hiện sinh động trong nội dung và hình thức của một số giá trị văn hoá tiêu biểu: Văn hoá ẩm thực, văn hoá trang phục, văn hoá nhà ở - kiến trúc, ngôn ngữ, lịch pháp, tín ngưỡng - tôn giáo, phong tục tập quán, đạo
Trang 24Như vậy, tìm hiểu một nét văn hoá cũng chính là đã tìm hiểu được tính cách, lối sống, lối sinh hoạt của dân tộc đó Ở đây, muốn đề cập đến một nét văn hoá vật chất của người Mông Xanh mà khi soi vào đó, tâm hồn dân tộc Mông Xanh nếp sống, cách nghĩ, phong tục tập quán và truyền thống của họ hiện lên một cách tự nhiên, giản dị nhưng lại mang đậm nét bản sắc văn hoá riêng, không thể nhầm lẫn - Nét văn hoá ẩm thực
Nói đến ẩm thực của người Mông Xanh là nói tới nét văn hoá toát lên trong mỗi món ăn, thức uống, trong cách họ ăn như thế nào Với cuộc sống thường ngày, người Mông Xanh sáng tạo ra những món ăn của riêng mình, và khi ta thưởng thức ẩm thực, ta hiểu hơn về cuộc sống lao động, nếp sống bao đời nay của dân tộc này
Người Mông Xanh thường sinh sống trong những thung lũng có triền núi
đá vôi bao quanh, gần những con sông, con suối nhỏ Họ trồng lúa trên những thửa ruộng bậc thang hay trong chân núi trũng nước, trồng ngô, khoai sắn trên các nương rẫy thấp, săn bắt hái lượm trên rừng và đánh bắt cá tôm ở lòng sông, khe suối Cuộc sống chủ yếu dựa vào thiên nhiên; chính từ sự che chở của thiên nhiên đó, người Mông Xanh đã tồn tại cùng những món ăn, thức uống do họ tự sáng tạo ra, để rồi từ đó Văn hoá thực Mông Xanh đã được khẳng định
Người Mông Xanh rất thích ăn thức ăn có vị chua: mặn, ngọt,ớt cay, quả cà muối chua, rau cải muối dưa, quả đu đủ muối dưa tép, rau sắn muối dưa cá, lá lồm nấu thịt trâu, thịt bò, thị lợn, muối thịt trâu, tiết bò ăn vào mùa nào cũng thích hợp Đặc biệt, trong góc bếp của mỗi gia đình Môn g Xanh không thể thiếu những hũ măng chua Nguồn thức ăn quanh năm sẵn có nơi núi rừng Măng chua có thể xào nấu với cá, thịt gà, vịt, nước măng chua kho thịt trâu, kho cá, chấm rau sống hay ngâm ớt tươi,…
Vị đắng cũng là vị mà người Mông Xanh rất yêu thích: Măng đắng, lá, hoa, quả đu đủ không chỉ là món ăn thường ngày mà còn là món để thờ phụng trong nhiều nghi lễ dân gian Ngoài ra còn có rau đốm, lá kịa, vừa là thức ăn vừa là thuốc đau bụng Đặc biệt, ruột và dạ dày con vừa là vị thuốc chữa dạ dày vừa là món ăn quý hiếm
Trang 25Gắn với vị cay, người Mông có món ớt nổi tiếng Ớt được băm lẫn với thị gà xào Băm nhỏ cho tất cả lên màu nâu sẫm, cắt nhỏ vài loại rau thơm trộn vào là được món ớt Vị ớt cay của người Mông Xanh thường dùng để chế biến thành những món ăn riêng chứ không làm gia vị xào nấu như một số dân tộc khác
Trong văn hoá ẩm thực tục uống rượu đã trở thành một nét văn hoá riêng - Văn hoá rượu Mông pê Rượu Mông pê được nấu bằng men lá truyền thống với hạt ngô được nấu chím, mỗi lần uống rượu là ta lại được hoà mình vào những luật vui tân sự về quá khứ của anh em sau mỗi lần gặp gỡ Có thể khẳng định rằng, văn hoá ẩm thực Mông cùng văn hoá rượu Mông pê đã thể hiện được tính cộng đồng và tính huyết thống rất cao của dân tộc
Văn hóa vật chất hiện tại thể hiện chủ yếu ở đời sống sinh hoạt, làm ăn, canh tác, chăn nuôi, làm nhà Về mặt sinh hoạt vật chất người Mông quan niệm đơn giản, không cầu kỳ, không quá tốn kén vật chất
Mỗi dân tộc đều có một truyền thống văn hoá ẩm thực riêng, có bí quyết riêng để chế biến các món ăn, đồ uống có lợi cho sức khỏe con người vào những ngày lễ tết, cưới xin, hội hè… Ẩm thực dân gian dân tộc mông Xanh là một kho tàng tri thức bắt nguồn từ lao động, từ thiên nhiên gắn với cuộc sống cần được nghiên cứu bảo tồn và phát huy giá trị trong cộng đồng và phục vụ phát triển du lịch, nâng cao đời sống nhân dân
Người Mông Xanh có những món ăn đă ̣c trưng riêng còn lưu truyền đến ngày
nay như: Gà nàng rế khúa (thịt ướp muối treo khô), Mó của (cơm bột ngô), giúa ple (bánh dầy), Rau câu khúa (rau chua phơi khô), Chếu pao cừ (rượu ngô)
Người Mông Xanh sử dụng cách chế biến món ăn theo phương thức khá đặc biệt Tất cả nguyên liệu gồm gan, thịt, lòng, gia vị được trộn lẫn với gia vị
và được nấu chín cùng nhau Dưới đây là một số tìm hiểu về các món ăn đặc trưng của người Mông Xanh:
Mó của
Nguyên liê ̣u gồm hạt ngô nếp hoặc tẻ đã phơi khô Quy trình chế biến: Ngô
Trang 26sàng riêng chỉ để dùng làm món này) sau đó cho vào nồi đồ lên khi nào chín lại mang ra sàng lại lần nữa để loại bỏ đi những hạt to còn sót lại cho bột thật mịn sau đó lại cho vào hấp lần nữa cho chín hẳn khi nào món ăn có độ mịn màng và thơm bông lên thì là được
Giúa ple
Nguyên liệu gồm Gạo nếp , trứng, lá chuối hoặc lá dong Quy trình chế biến: Gạo nếp đem ngâm rồi vo sạch cho vào nồi đồ lên sau khi gạo vừa đồ xong còn nóng ấm thì đổ vào một cái máng bằng gỗ (máng được làm từ thân cây gỗ tốt, to bổ đôi và khoét rỗng phần bên trong để làm thành cái máng chuyên để giã bánh của người Mông) Sau đó dùng hai cái chày (chày cũng làm từ một cành cây chắc và nặng) sau đó cứ giã như vậy cho đến khi cơm nếp thật nhừ và dẻo là được Tiếp theo đổ cơm nếp đã giã nhuyễn ra mẹt (lấy lòng đỏ trứng gà xoa lên mẹt cho bột bánh đỡ dính vào mẹt sau đó xoa cả vào tay để nặn bánh cho đỡ dính) rồi gói vào lá chuối đã chuẩn bị sẵn Lấy dao hoặc kéo cắt lá chuối xung quanh viền bánh đi Thế là hoàn tất một mẻ bánh dày vừa dẻo vừa thơm và béo ngậy
sẽ trộn tất cả nguyên liệu theo tỉ lệ để cho ra đời những sản phẩm độc đáo Sau khi đã tẩm ướp xong, mắc những dây thịt trên giàn bếp, hun khói từ củi cây rừng Gác bếp suốt hai tháng liền, khối thịt trâu ám khói đen và khô lại, thấm hết mọi gia vị vào trong Trên bề mặt vẫn còn những hạt tiêu rừng, miếng ớt, miếng gừng… Thịt treo bếp cắt miếng to ăn với những thứ rau ghém, không oi khói như món thịt treo gác bếp ở nhiều vùng khác, ăn thấy mềm và ngọt khi đem hấp cách thủy trên bếp than hồng
Trang 27Thắng cố
Thắng cố là món ăn do người Mông Xanh tạo ra cũng như tên của món ăn này là do người Mông Xanh tự gọi Nói đến thắng cố, ai cũng biết đó là đặc sản của đồng bào dân tộc Mông ở miền núi phía Bắc Nhưng bây giờ, thắng cố đã trở thành món ăn ngon và quen thuộc của nhiều tộc người vùng cao Nếu người miền xuôi tự hào vì có phở, thì người miền núi tự hào vì có thắng cố Trời càng lạnh, thắng cố càng ngon, thêm bát rượu ngô ấm nồng với người miền núi thực không có gì sánh bằng Thắng cố là món ăn thường được làm vào các ngày lễ hội, lễ ăn thề bảo vệ rừng, những ngày có đông người như hội làng, dòng họ hay
ở chợ phiên
Nguyên liệu: bò hoặc ngựa Sau khi giết mổ lấy xương xẩu được chặt nhỏ, gân cốt bạc nhạc, mỡ và các loại thịt vụn được lọc ra cùng với tiết đông cắt thành miếng nhỏ cộng với tim gan phèo phổi là đủ nguyên liệu cơ bản để làm nên món thắng cố Cách chế biến: Phải là người đàn bà dân tộc Mông có nhiều kinh nghiệm và biết nấu mới có thể nấu ngon được món ăn này Thắng cố được chế biến rất đơn giản nhưng để nấu ngon miệng thì vẫn cần bí quyết riêng cũng như kinh nghiệm
Người ta mổ ngựa (hoặc bò, dê, heo), làm thịt sạch sẽ,lấy tất cả nội tạng ăn được của con vật chặt ra từng miếng Sử dụng bếp lửa than rực hồng và một cái chảo lớn (Chảo phải cũ không được dùng chảo mới),cho tất cả các thứ như thịt thủ, thịt mông, tim, gan, lòng… vào chảo cùng lúc, xào lăn (dùng chính mỡ có trong thịt để xào, không thêm mỡ ở ngoài) Khi miếng thịt se se cạnh, người ta
đổ nước vào chảo và cứ thế ninh sôi sùng sục hàng tiếng đồng hồ Để nồi nước dùng được ngon, đầu bếp người Mông phải "chăm sóc" rất chu đáo: múc từng muỗng bọt ra để nước xương thêm ngọt, thêm trong Các bộ phận như: lòng, tim, gan, tiết, thịt, xương, được cho vào sau cùng và đun nhừ, có thể cho thêm các loại rau
Gày sớ bua
Nguyên liê ̣u gồm thịt các loại, muối Quy trình chế biến: Thịt ba chỉ bụng
Trang 28muối vừa đủ sau khi hoàn tất thì dùng lạt xiên qua một đầu miếng thịt đã ướp sau đó treo lên gác bếp và cứ treo như vậy cho đến khi nào miếng mỡ giáp bì có màu trắng là được
Mèn mén với thịt treo hun khói
Mèn mén chế biến từ ngô hạt đem xay nhỏ, phải xay bằng cối đá và xay hai lần mới nhỏ mịn và khi đồ mới ngon Đem bột ngô vẩy nước vào đảo đều với độ
ẩm vừa phải, khi cầm nắm ngô bột không bị dính, cũng không bị bở ra là được Tiếp đó cho vào chõ đồ lần một, đến khi hơi bốc lên thơm thì đổ ra mẹt vẩy thêm một ít nước rồi đảo đều cho tơi ra, sau đó lại cho vào chõ đồ lần hai; khi có mùi thơm lừng bốc lên, khi đó mèn mén đã chín, bưng ra chỗ cao ráo để ăn trong cả ngày Thịt treo ăn cùng mèn mén với đĩa muối ớt là món ăn truyền thống ngàn đời không thể thiếu của người Mông Ngày nay, do nền kinh tế phát triển, nhiều hộ gia đình bán ngô mua gạo về ăn, vừa đỡ tốn công sức, đỡ vất vả cho người phụ nữ trong gia đình Nhưng trong những ngày lễ, tết hoặc cưới hỏi,
ma chay thì vẫn không thể thiếu món ăn này
Chớ ple
Nguyên liê ̣u gồm ngô nếp hoặc tẻ , men lá , nước lã Quy trình chế biến : Ngô cho vào nồi nấu chín mền sau đó bỏ ra cho vào nội hấp cách thủy khoảng 7 tiếng trên bếp củi Khi ngô chín đổ ngô ra cái mẹt hoặc mảnh nilon rồi rải đều ngô ra cho nguội và rắc men Men của người Mông là men lá tự làm (cách làm men lá: gạo tẻ xay ra trộn với nước lã rồi nặn thành những quả to bằng nắm tay, sau đó treo lên gác bếp khoảng một tháng thì men sẽ tạo ra những con nhỏ li ti biết bay có mùi rất thơm Giữ lại khoảng 2 viên men đó làm mồi cho men các
mẻ sau nhanh được Nấu rượu dùng men này thì uống không bị đau đầu chữa các bệnh như cảm lạnh, giảm đau nhức xương khớp) Buộc kín túi ngô đã rắc men lại rồi mang đi ủ khoảng 2 tuần, lâu một chút thì rượu càng ngon Sau khi ủ
đủ thời gian cho vào nồi hấp cách thủy Nồi này được cấu tạo chuyên để nấu rượu, có một ống dẫn ra từ nồi để trong quá trình hấp sẽ dẫn nước ngô bốc lên đọng lại ra ngoài Rượu ngô khi nấu xong có màu trắng trong tinh khiết, thơm và uống không bị đau đầu
Trang 29Rượu mông ple
Rượu Mông ple Tủa Chùa là thức uống nổi tiếng và đặc trưng nhất Mông
Pê dịch ra tiếng phổ thông là người Mông ta Rượu Mông Pê là rượu của người Mông ta Tuy mang cái tên như vậy song rượu Mông Pê chỉ do đồng bào Mông Tủa Chùa, Điện Biên sản xuất và chỉ có ở Tủa Chùa mới nấu được thứ rượu này Rượu được sử dụng trong tập quán và sinh hoạt trong gia đình của người Mông đám ma đám cưới cúng giỗ rượu đóng vai trò là thức uống chính vì thế mà khi
xã hội phát triển nhu cầu nấu rượu lại càng lớn và mãi tồn tại đến ngày nay
Để có được thứ rượu thơm ngon này là cả một quy trình công phu, người nấu phải tuân thủ các yêu cầu nghiêm ngặt về nguồn nước, ngô, men, dụng cụ nấu, cộng với kinh nghiệm gia truyền Rượu Mông Pê được nấu từ những hạt ngô nếp đầu mùa, hạt đều tăm tắp Điều đáng nói là nấu cơm ngô không theo cách thông thường mà sử dụng phương pháp hấp cách thủy, thời gian hấp khoảng chừng 5 đến 6 giờ trên bếp củi Khi hạt ngô nở, người ta tãi ra trên lá, hoặc nong, nia chờ nguội mới rắc men Men được làm từ loại thảo dược của núi rừng, có vị phòng chống lạnh, trừ cảm, có vị làm cho lưu thông khí huyết, giảm đau nhức khớp, có vị làm cho uống bao nhiêu cũng chẳng đau đầu Theo như tập quán trước đây, trong gia đình người Mông Tủa Chùa, bí quyết lấy cây thuốc làm men, nấu rượu chỉ truyền cho con gái Có lẽ xuất phát từ thực tế là người phụ nữ Mông đảm trách chủ yếu công việc bếp núc của gia đình Việc ủ rượu cũng không giống so với việc nấu rượu thủ công ở những nơi khác Dụng cụ ủ không phải là vại, chum mà ủ trong các hố dưới lòng đất Chiếc hố ủ rượu sâu khoảng 0,5-0,8m, được nện chặt, lót lá chuối xung quanh, sau khi đổ nguyên liệu vào lót thêm một lớp lá chuối trên cùng và phủ đất lên Đúng quy trình rượu phải được ủ ít nhất là 100 ngày mới được đem ra nấu Theo các cụ già nếu ủ càng lâu, rượu nấu sẽ càng ngon
Nước để chưng cất rượu Mông Pê cũng là thứ nước không thể lấy từ sông
và suối, và càng không thể là thứ nước máy công nghiệp, mà phải là thứ nước được các cô gái Mông kiên nhẫn hứng từng giọt từ những khe trên núi đá Để đủ
Trang 30dụng cụ chưng cất toàn bằng tre nứa gỗ, không dùng đồ kim loại Có lẽ vì thế
mà rượu Mông Pê khi chưng cất lên không bao giờ mất được hương vị đặc trưng của nó Rượu Mông Pê có màu vàng như mật ong, có hương vị đặc trưng của ngô hòa trộn với mùi hương của men lá rừng, là loại rượu có nồng độ cao, uống bốc, nhanh say, nhưng ta vẫn có cảm giác dịu êm
Từ hàng trăm năm nay, rượu Mông Pê trên cao nguyên đá Tủa Chùa được sản xuất chủ yếu ở khu vực phía Bắc huyện như: Sính Phình, Tả Phìn, Lao Xả Phình, Tả Sìn Thàng, Sín Chải Mục đích nấu chỉ để gia đình uống và đãi khách nên số lượng sản xuất ra rất ít Ngày nay, rượu Mông Pê được nhiều người ưa thích Lên với Tủa Chùa, du khách khao khát được hòa mình trong cái se lạnh của miền cao nguyên đá, trong cảnh sắc tươi đẹp của mùa xuân lắng nghe những điệu khèn da diết, thưởng thức món canh đắng, thịt lợn muối, bát thắng cố nóng hổi và uống những bát rượu Mông Pê sánh nồng Chợ phiên sáu ngày họp một lần là cái cớ để người ta tìm đến xã Tả Sìn Thàng, huyện Tủa Chùa, Điện Biên uống rượu Mông Pê, ăn thịt dê Tủa Chùa, nhâm nhi chén trà cổ thụ nhiều năm tuổi
Ẩm thực dân gian dân tộc Mông huyện Tủa Chùa là những sáng tạo và ứng dụng lưu truyền từ đời nay Điều đó khẳng định truyền thống văn hóa lâu đời đã trở thành những tri thức dân gian quý giá tạo nên sự quan tâm thu hút
khách du lịch tới tham quan và trải nghiệm, thưởng thức
1.2.2 Văn hóa tinh thần
1.2.2.1 Lễ nghi, lễ hội
* Lễ nghi trong lễ tết
Đồng bào dân tộc Mông sống chủ yếu ở các tỉnh Điện Biên, Sơn La,Lào Cai… Tết Nguyên Đán và tết dương được xem là tết lớn nhất của người Mông, nên mọi công việc nhằm chuẩn bị cho tết được họ lên lịch chuẩn bị từ rất lâu Người Mông bắt đầu việc dọn dẹp, lau chùi nhà cửa, bàn thờ từ hôm 23 âm lịch
và đến ngày 27 âm lịch, nhà cửa phải sạch sẽ tinh tươm, chuẩn bị và rửa sạch lá dong để gói bánh
Trang 31Ngày tiếp theo là ngày để đi thăm mộ, thắp hương mời ông bà, tổ tiên về ăn tết cùng con cháu Ngày 29 tết, các nhà bắt đầu mổ lợn để lấy thịt nấu một số món ăn đặt lên nàn thờ tổ tiên, một phần dùng để nấu những món ăn hằng ngày rồi mời anh em, bạn bè đến dự và một phần sẽ dùng để làm nhân bánh chưng, bánh giày
Ngày 30 tết, có lẽ là ngày bận rộn nhất khi mọi người bắt đầu quây quần gói bánh chưng, làm bánh giày, làm cơm cúng ông bà, tổ tiên, thổ địa
Từ ngày mùng 1 đến mùng 6 tết là dịp mọi người vui chơi, đi chúc tết nhà nhau, ăn bữa cơm đầm ấm và tham gia vào các hoạt động vui chơi, giải trí trong bản, thậm chí còn rủ bản khác sang giao lưu
* Lễ nghi trong ma chay
Khi có người chết, người ta mời người đến hát bài mở đường (khuố kê ), mặc quần áo, rồi đưa lên “cáng” treo trước bàn thờ hoặc để trên ghế dài đặt ngang cửa ra vào Ở một số họ tuy xác người chết được để vào quan tài ngay nhưng có thể mở quan tài dễ dàng để xem mặt người chết Lúc hát mở đường khi đọc đến sự tích gà dẫn đường người chết về với tổ tiên, người ta mang một
gà đã chết để nguyên lông moi long ra ngoài, hya đôi cánh gà hoặc con gà con còn sống đặt trong âu bột ngô đồ cùng với ô giấy và cùng để ở phía đầu người chết Ở dười “cáng” phía đầu người chết còn để rượu bột ngô đồ làm đồ cúng hằng ngày
Trong đám ma người Mông Xanh thường dùng khèn, trống, họ thổi các bài;
ăn buổi chiều, ăn buổi sang, ăn trưa, nhập gia súc… bày tỏ nỗi luyến tiếc của người sống đối với người chết Những lễ viếng có người thổi khèn riêng được coi là long trọng Người đến viếng thường mang đến giấy bản, ngô, rượu; người thân mang cả chăn lanh, lợn khi mổ súc vật bốn chân người ta đem sợi lanh buộc
từ tay con vật đến tay người chết trong đám ma người Mông không thể thiếu được lợn, trâu hay bò làm vật cúng
Ở một số họ có tục đưa xác ra ngoài trời để trên một sàn nhỏ hoăc không có mái chê một thời gian Tại đó, còn phải giết bò cúng và ăn uống xong mới chon
Trang 32huyệt rồi mới đưa xác xuống sau Trước khi đậy nắp quan tài,quần áo người chết được cắt nhiều chỗ và cạnh xác được đặt những sợi lanh thái nhỏ trộm cơm, ở một vài nơi còn có con gà “đưa đường” để phía đầu quan tài
Xưa kia đám ma kéo dài 5,7 ngày; nay chỉ để 2,3 ngày Chôn cất xong làng xóm thường đến chơi gia chủ vài ba buổi tối và chủ nhà cắm cành ở đường, nếu người chết là nam: 9 cành, nữ: 7 cành để hồn người chết không biêt đường quay
về làm hịa gia đình.trong ba ngày đầu anh em ở trong gia đình cứ mới buổi sáng phải mang một thìa cơm đi ra ngoài đường để gọi người đã mất về ăn cơm đến ngày thứ ba thì phải đi đến tận mộ để gọi khi về đến nhà khi nào bày được mâm cơm chuẩn bị ăn sáng thì sẽ dùng một thìa cơm đặt ngửa để gọi người đã khuất
ăn cùng, phải thực hiện trong ba ngày lien tiếp Sáng thứ ba người ta mang cơm nước ra mả, lấy lá che mả, sau đó mang cơm nước ra tiếp hai bữa nữa Hôm cuối cùng người ta nhặt một hòm đá ở mả về để gần bếp coi như chỗ cơm người chết đặt tại đó
[6; 519]
Đối với người quá cố ở người Mông Xanh còn có một số nghi lễ sau:
Uô sú là lễ cúng sau khi mai táng 12 ngày Đám này cúng trong một ngày nhưng cũng mổ lợn, gà, để tách người đã khuất và những người trong gia đình Những người đến dự chỉ là anh, em gần, những người phục vụ đám hôm trước
Uô pli là lễ cúng đưa người chêt về với tổ tiên sau chon cất một hay vài năm Nếu trước đây trong đám chôn cất đã mổ trâu hay mổ bò thì đám này chỉ cần mổ bò
Nhìu đấng (ma trâu): trong một đời người mỗi người đàn ông chỉ cúng báo hiếu bố mẹ một lần Người Mông thường nói” bố mẹ lấy vợ vho tôi, tôi cho cha
mẹ trâu bò” Vì vậy, người ta thường lo làm xong lễ này Có trường hợp an hem
có thể chung nhau làm một lễ, nhưng nhiều khi mỗi người phải có một lễ riêng Vật cúng, họ có thể dung thử trâu, bò, nhưng nhiều họ phải mổ trâu bò
Riêng người Mông Xanh, trâu bò dùng trong lễ cúng phải khỏe mạnh, không đui què, lở loét… so với đám chôn cất thì làm ma trâu có phức tạp hơn: tùy từng họ cúng ở nhà hay ngài trời, cúng theo số lượng bát và sư sắp xếp bát
Trang 33nhất định, người cúng phải hiểu lai lịch dòng họ Đám ma trâu làm trong một đêm hai ngày, và cũng khá tốn kém
Nghi thức ma chay là một trong những nghi thức tôn giáo “ đậm đặc” của người Mông Xanh, đã thể hiện được những tập tục cổ truyền, những quan niệm
về vũ trụ, thế giới nhân sinh quan dân tộc Các phong tục này đã bắt rễ lâu đời,
ăn sâu vào tâm khảm của người dân, là chất liệu góp phần xây dựng nên cái bản sắc - bản ngã của dân tộc Mông Xanh
* Lễ hội
Thường vào mùa xuân, người Mông Xanh bắt đầu tổ chức lễ hội, không chỉ để vui chơi mà còn là dịp để bà con thỉnh cầu ước nguyện với trời đất, thần thánh, tổ tiên cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng tươi tốt Người Mông
Xanh có các lễ hội như: Lễ hội ném pao, chơi tùlu, lễ hội gàu tàu Qua các lễ
hội người ta gửi gắm hy vọng vào một mùa bội thu, một năm mới ấm no, hạnh phúc, bình yên
Nét đặc trưng ở các lễ hội dân gian của người dân tộc Mông thường thể hiện sự kết nối của cộng đồng, tinh thần đoàn kết, gắn bó của một dân tộc Mông Xanh
Trong lễ hội, phần lễ thường được tổ chức rất trang trọng và linh thiêng Theo quan niệm của người Mường, họ thường thờ cúng những vị thần, thánh, có thể là thần Đất, thần Nước, tổ tiên
Là sinh hoạt tín ngưỡng tâm linh sâu sắc, các nghi lễ thể hiện sự sống hòa mình cùng thiên nhiên, tôn trọng thiên nhiên của một cộng đồng Mông Song, những lễ hội của họ như lễ gàu tàu… không kém phần đặc sắc và bao hàm nhiều
ý nghĩa nhân văn
Lễ hội của dân tộc Mông gắn liền với những đặc điểm cụ thể về địa lý, tự nhiên và đời sống xã hội của các cộng đồng dân cư tồn tại ở đây từ lâu đời
Do đó lễ hội Mông là yếu tố quan trọng góp phần bảo lưu, gìn giữ các loại hình nghệ thuật truyền thống của người Mông Xanh, trong đó tục cưới xin là phong tục góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Mông Xanh
Trang 341.2.2.2 Tín ngưỡng tôn giáo
Trong tôn giáo tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên người Mông Xanh luôn quan niệm “ vạn vật hữu linh” ( có nghĩa là mọi vật đều có linh hồn) Họ quan niệm con người chia thành hai phần: Một là thể xác, hai là tinh thần Hai phần này có quan hệ mật thiết với nhau
Thể xác có thể chết đi nhưng linh hồn thì sẽ mãi tồn tại ở thế giới riêng có của nó Vì vậy, người Mông Xanh cho rằng tổ tiên (những người đã khuất) luôn giám sát và chăm sóc, bảo vệ cho con cháu không bị ma ác làm hại, luôn phù hộ cho con cháu làm ăn gặp nhiều may mắn
Người Mông Xanh ghi nhớ công lao của tổ tiên bằng việc trong mỗi gia đình việc dán giấy bản hay lập bàn thờ là nơi thờ cúng tổ tiên được người Mông Xanh rất coi trọng Nơi thờ hay bàn thờ là nơi ngự của tổ tiên trong những ngày
lễ, tết, đám cưới, lễ đặt tên, lễ vào nhà mới có ảnh hưởng trực tiếp đến sự thịnh suy của gia đình
Kiến trúc nhà ở của người Mông Xanh thường là nhà đất, nhà trệt Nhà thường có ba cửa, một cửa chính và hai cửa phụ hai bên trái nhà Trong ngôi nhà, nơi thờ cúng tổ tiên, ma nhà, ma cửa được coi là những nơi linh thiêng và quan trọng nhất, không phải ai trong gia đình cũng được đến thắp hương, cúng bái ở đó, chỉ có nam giới chủ nhà mới được quyền thờ cúng dọn dẹp ở đó
- Về âm nhạc
Kho tàng dân ca, dân nhạc Mông khá phong phú, đa dạng có các thể loại: sáo mèo, đàn bầu, truyện cổ tích,…
Trang 35Về dân ca, họ có các làn điệu ru (ru ngày, ru đêm), hát ví, hát đối trong sinh hoạt đời thường; có diễn xướng mo trong nghi lễ tang ma và hát sắc bùa trong phong tục cầu may ngày Tết
Về âm nhạc, họ có ban nhạc “cò ke ống sáo” gồm các nhạc khí: nhị, sáo, thổi lá, khèn, có sáo ôi với những làn điệu tâm tình thủ thỉ và đặc biệt là dàn sáo với hệ thống bài bản đặc sắc [17; 36]
1.2.2.4 Ngôn ngữ, chữ viết
Chữ viết: Dân tộc Mông Xanh trước đây sử dụng chữ Hán trong việc ghi
chép các văn bản cưới xin, khai sinh, khai tử… Từ năm 1961 Đảng và Nhà nước xây dựng bộ chữ latinh cho đồng bào dân tộc Mông Chữ Mông latinh hiện nay được sử dụng trong trường phổ thông cơ sở để làm phương tiện dạy học, sử dụng để ghi chép văn học dân gian: những bài văn vần, những câu ca dao, tục ngữ dân tộc Mông…
Tiếng nói: Tiếng nói dân tộc Mông Xanh trước đây được xếp vào ngôn
ngữ Môn – Khmer Sau ngày nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa ra đời, tiếng Mông Xanh được xếp vào hệ ngôn ngữ Hán – Tạng Hiện nay các nhà ngôn ngữ Việt Nam xếp tiếng nói của dân tộc Mông Xanh vào một hệ riêng Tiếng nói của người Mông ở nước ta không chỉ là tiếng nói của một dân tộc mà nó được các dân tộc khác trên vùng cao sử dụng làm phương tiện giao tiếp giữa các dân tộc trên vùng cao
Như vậy, chính nhờ những nét đẹp này của văn hóa người Mông Xanh mà người Mông Xanh đã tồn tại và phát triển cho đến ngày nay
Trang 36Tiểu kết chương 1
Các giá trị văn hóa của người Mông Xanh ở huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên đã phản ánh trung thực cuộc sống lao động sản xuất, đấu tranh chống áp bức bóc lột của nhân dân Mặc dù trình độ phát triển chưa cao, song dân tộc Mông Xanh ở huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên đã sáng tạo ra các giá trị văn hóa rất phong phú, độc đáo, chứa đựng nhiều sắc thái tâm lý, tình cảm dân tộc, góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam phong phú đa dạng
Tuy vậy, trong quá trình phát triển của mình, nền văn hóa dân tộc Mông Xanh ở huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên cũng không tránh khỏi những đặc điểm mang tính khép kín, ít trao đổi, lạc hậu, phát triển chậm chạp của nền kinh tế Việt Nam trước năm 1945 Đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của dân tộc Mông Xanh cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của tính tự cung, tự cấp bởi tính tự nhiên và lịch sử của nó
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để bà con các dân tộc nói chung và dân tộc Mông Xanh ở huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên nói riêng ngày càng có nhận thức đầy đủ và sâu sắc về việc coi trọng và giữ gìn nền văn hóa của chính mình, phát huy được vai trò của phong tục cưới xin trong đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc và những yếu tố tích cực của các giá trị văn hóa dân tộc mình Vì vậy những nét đặc sắc đó được đề cập và làm rõ ở chương 2