1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ứng dụng mô hình vector tự hồi quy để phân tích mối quan hệ giữa lạm phát và bội chi ngân sách tại việt nam

107 244 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trongđiều kiện tiềm lực đất nước có hạn, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, kinhnghiệm vận hành nền kinh tế thị trường chưa nhiều sẽ đặt ra một thách thức lớntrong việc điều hành chính

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

- -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH VECTOR TỰ HỒI QUY

ĐỂ PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT

VÀ BỘI CHI NGÂN SÁCH TẠI VIỆT NAM

ĐẶNG NGUYỄN THÙY TRANG

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

- -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH VECTOR TỰ HỒI QUY

ĐỂ PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT

VÀ BỘI CHI NGÂN SÁCH TẠI VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện:

Đặng Nguyễn Thùy Trang

Trang 3

em, cung cấp và bồi dưỡng cho em nhiều kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập.

Trong bài khóa luận tốt nghiệp này, bản thân em đã cố gắng hết mình xong do thời gian và kiến thức của bản thân em còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót nên em rất mong nhận được đóng góp

ý kiến, chỉ bảo em để em hoàn thiện bản thân cũng như bài khóa luận này hơn.

Em xin chân thành cảm ơn!

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC HÌNH ii

DANH MỤC BẢNG iii

PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

2.1 Mục tiêu chung: 3

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Đối tượng nghiên cứu: 3

4 Phạm vi nghiên cứu: 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: 4

5.2 Phương pháp thu thập số liệu: … 4

5.3 Phương pháp phân tích số liệu 4

6 Bố cục khóa luận 5

PHẦN 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LẠM PHÁT VÀ BỘI CHI NGÂN SÁCH 6

1.1 Tổng quan về lạm phát 6

1.1.1 Khái niệm về lạm phát 6

1.1.2 Cách đo lường lạm phát 7

1.1.2.1 Cách đo lường lạm phát trên thế giới 7

1.1.2.2 Cách đo lường lạm phát của Việt Nam 8

1.1.3 Các loại lạm phát 10

1.1.3.1 Lạm phát vừa phải 10

1.1.3.2 Lạm phát phi mã 11

1.1.3.3 Siêu lạm phát 11 Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 5

1.1.4 Nguyên nhân của lạm phát 11

1.1.5 Tác động của lạm phát 13

1.1.5.1 Tác động tích cực 13

1.1.5.2 Tác động tiêu cực 13

1.2 Bội Chi Ngân sách 15

1.2.1 Khái niệm bội chi Ngân sách Nhà nước 15

1.2.2 Phân loại thâm hụt ngân sách 16

1.2.3 Nguyên nhân bội chi ngân sách Nhà nước 17

1.2.3.1 Tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Nhà nước 17

1.2.3.2 Tác động của chu kỳ kinh doanh 18

1.2.4 Định hướng xử lý bội chi ngân sách Nhà nước 18

1.2.4.1 Phát hành tiền để bù đắp bội chi ngân sách 18

1.2.4.2 Vay để bù đắp thâm hụt ngân sách Nhà nước 20

1.2.4.3 Bù đắp sự thiếu hụt ngân sách bằng biện pháp tăng thuế 21

1.2.4.4 Cắt giảm chi tiêu nhằm làm giảm thâm hụt ngân sách Nhà nước 22

1.3 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 23

1.3.1 Cơ sở lý luận về mô hình nghiên cứu 23

1.3.2 Cơ sở lý luận về phương pháp nghiên cứu 24

1.3.2.1 Chuỗi thời gian 24

1.3.2.2 Tính dừng của chuỗi thời gian 24

1.3.2.3 Kiểm định nhân quả hai biến Granger 28

1.3.2.4 Hàm phản ứng đẩy (Impluse Response Function – IRF) 29

1.3.2.5 Phân rã phương sai (Varriance Decomposition) 30

1.4 Cơ sở thực tiễn về mối quan hệ giữa lạm phát và thâm hụt ngân sách 30

1.4.1 Tổng hợp một số tiền nghiên cứu nước ngoài 30

1.4.2 Tổng hợp một số tiền nghiên cứu trong nước 32

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ BỘI CHI NGÂN SÁCH 34

2.1 Tổng quan về mối quan hệ giữa lạm phát và bội chi ngân sách 34 Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 6

2.1.1 Nhìn từ góc độ lý thuyết 34

2.1.2 Nhìn từ góc độ thực tiễn 34

2.1.2.1 Mối quan hệ giữa lạm phát và bội chi ngân sách nhà nước giai đoạn 1990 – 1995 34

2.1.2.2 Mối quan hệ giữa lạm phát và bội chi ngân sách nhà nước giai đoạn 1996 – 2000 35

2.1.2.3 Mối quan hệ giữa lạm phát và bội chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2001 – 2007 36

2.1.2.4 Mối quan hệ giữa lạm phát và bội chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2008 – 2016 36

2.2 Kết quả nghiên cứu 37

2.2.1 Dữ liệu nghiên cứu 37

2.2.1.1 Thâm hụt ngân sách 37

2.2.1.2 Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước .39

2.2.1.3 Lạm phát 40

2.2.1.4 Cung tiền 41

2.2.2 Phân tích thống kê mô tả 42

2.2.3 Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu: 44

2.2.4 Lựa chọn độ trễ tối ưu 45

2.2.5 Kiểm định nhân quả granger 45

2.2.5.1 Kiểm định nhân quả granger của các biến đến B 46

2.2.5.2 Kiểm định nhân quả granger của các biến đến LGDP 46

2.2.5.3 Kiểm định nhân quả granger của các biến đến INF 47

2.2.5.4 Kiểm định nhân quả granger của các biến đến DLMS 47

2.2.6 Ước lượng mô hình Var 47

2.2.6.1 Ước lượng mô hình thể hiện mối quan hệ giữa các biến đối với biến phụ thuộc ∆B 47

2.2.6.2 Ước lượng mô hình thể hiện mối quan hệ ngắn hạn giữa các biến đối với biến phụ thuộc ∆INF 51 Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 7

2.2.6.3 Ước lượng mô hình thể hiện mối quan hệ giữa các biến đối với biến phụ

thuộc ∆LGDP 49

2.2.6.4 Ước lượng mô hình thể hiện mối quan hệ giữa các biến đối với biến phụ thuộc ∆ DLMS 52

2.2.7 Phân tích hàm phản ứng đẩy IRF 54

2.2.7.1 Hàm phản ứng đẩy đối với biến phụ thuộc ΔB 55

2.2.7.2 Hàm phản ứng đẩy đối với biến phụ thuộc Δ LGDP 56

2.2.7.3 Hàm phản ứng đẩy đối với biến phụ thuộc ΔINF 57

2.2.7.4 Hàm phản ứng đẩy đối với biến phụ thuộc Δ DLMS 58

2.2.8 Phân tích phân rã phương sai 59

2.2.8.1 Phân tích phân rã phương sai của biến phụ thuộc ΔB 59

2.2.8.2 Phân tích phân rã phương sai của biến phụ thuộc ΔLGDP 60

2.2.8.3 Phân tích phân rã phương sai của biến phụ thuộc ΔINF 61

2.2.8.4 Phân tích phân rã phương sai của biến phụ thuộc ΔDLMS 62

2.3 Kiểm định sự phù hợp của mô hình 63

2.3.1 Kiểm định tính dừng của phần dư 63

2.3.2 Kiểm tra tính ổn định của mô hình 64

2.3.3 Kiểm định tự tương quan phần dư mô hình VAR 64

2.4 Kết quả nghiên cứu 65

CHƯƠNG 3 KHUYẾN NGHỊ MỘT SỐ CHÍNH SÁCH XỬ LÝ BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NHẰM KIỀM CHẾ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM 67

3.1 Giải pháp xử lý bội chi ngân sách 67

3.1.1 Các giải pháp mang tính kinh tế kiểm soát bội chi ngân sách nhà nước 67

3.1.2 Các giải pháp tài chính kiểm soát bội chi ngân sách nhà nước 67

3.1.3 Các biện pháp bù đắp bội chi ngân sách nhà nước 69

3.1.3.1 Vay trong nước 69

3.1.3.2 Vay nợ nước ngoài 69

3.2 Giải pháp hạn chế lạm phát 70

3.2.1 Giảm mức cung tiền 70 Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 8

3.2.2 Các biện phát nhằm ổn định mức tăng trưởng kinh tế 70

3.2.3 Thực hiện chính sách tài khóa thu hẹp, thắt chặt đầu tư công, giảm bội chi ngân sách 71

PHẦN III: KẾT LUẬN 72

1 Kết luận chung 72

2 Hạn chế của đề tài 72

3 Hướng phát triển của đề tài 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Chỉ số giá tiêu dùng CPI

Biến khủng hoảng kinh tế ở Mỹ GFC

Cục dự trữ liên bang Mỹ FED

Ngân hàng trung ương NHTW

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Đồ thị diễn biến thâm hụt ngân sách giai đoạn 1990 – 2016 37

Hình 2.3 Đồ thị diễn biến tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước giai đoạn 1990 – 2016 39

Hình 2.3 Đồ thị diễn biến lạm phát giai đoạn 1990 – 2016 40

Hình 2.4 Đồ thị diễn biến cung tiền giai đoạn 1990 – 2016 41

Hình 2.5: Sơ đồ mối quan hệ nhân quả giữa các biến 45

Hình 2.6 Đồ thị Hàm phản ứng đẩy đối với biến phụ thuộc ΔB 55

Hình 2.7 Đồ thị Hàm phản ứng đẩy đối với biến phụ thuộc Δ LGDP 56

Hình 2.8 Đồ thị Hàm phản ứng đẩy đối với biến phụ thuộc ΔINF 57

Hình 2.9 Đồ thị Hàm phản ứng đẩy đối với biến phụ thuộc Δ DLMS 58

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 11

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Mô tả các biến kinh tế vĩ mô 37

Bảng 2.2 Thống kê mô tả các biến dưới dạng logarit tự nhiên 42

Bảng 2.3: Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu 44

Bảng 2.4: Kiểm định tính dừng của chuỗi sai phân bậc 1 44

Bảng 2.5: Độ trễ tối ưu của mô hình 45

Bảng 2.6: Kiểm định nhân quả granger của các biến đến B 46

Bảng 2.7 Kiểm định nhân quả granger của các biến đến LGDP 46

Bảng 2.8: Kiểm định nhân quả granger của các biến đến INF 47

Bảng 2.9: Kiểm định nhân quả granger của các biến đến DLMS 47

Bảng 2.10 Uớc lượng mối quan hệ đối với biến phụ thuộc ∆B 48

Bảng 2.11 Uớc lượng mối quan hệ đối với biến phụ thuộc ∆LGDP 49

Bảng 2.12 Uớc lượng mối quan hệ đối với biến phụ thuộc ∆INF 51

Bảng 2.13 Uớc lượng mối quan hệ đối với biến phụ thuộc ∆DLMS 52

Bảng 2.14 :Phân tích phân rã phương sai của biến phụ thuộc ΔB 59

Bảng 2.15:Phân tích phân rã phương sai của biến phụ thuộc ΔLGDP 60

Bảng 2.16 :Phân tích phân rã phương sai của biến phụ thuộc ΔINF 61

Bảng 2.17:Phân tích phân rã phương sai của biến phụ thuộc ΔDLMS 62

Bảng 2.18: Kiểm định tính dừng của phần dư 63

Bảng 2.19: Kiểm định tự tương quan phần dư 65

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 12

PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lý do chọn đề tài

Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đã vàđang là xu thế nổi bật của nền kinh tế thế giới đương đại Sự gia tăng mạnh mẽ củatoàn cầu hoá kinh tế quốc tế đã đặt mỗi quốc gia trước những thời cơ và thách thức

to lớn, đòi hỏi các quốc gia phải có những chiến lược hội nhập phù hợp vào nềnkinh tế thế giới cũng như trong khu vực Đó là cơ hội cho Việt Nam giao lưu vớicác nước trên thế giới, mở rộng quan hệ kinh tế, chính trị, ngoại giao Tuy nhiên,điều có cũng có nghĩa là tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nước sẽ tăng lên Trongđiều kiện tiềm lực đất nước có hạn, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, kinhnghiệm vận hành nền kinh tế thị trường chưa nhiều sẽ đặt ra một thách thức lớntrong việc điều hành chính sách lạm phát và bội chi ngân sách nhà nước

Lạm phát là một hiện tượng kinh niên của nền kinh tế Lạm phát có thể làđộng lực giúp một nền kinh tế phát triển song nó là nguyên nhân phá vỡ sự pháttriển của nền kinh tế của một quốc gia Từ thời kì bao cấp nền kinh tế của chúng ta

đã bị thiệt hại nặng nề trước tác động của lạm phát, đồng tiền liên tục mất giá Bướcsang nền kinh tế thị trường hiện nay, vấn đề lạm phát đã khó kiểm soát nay còn khókhăn hơn Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê (TCTK), tác động của khủnghoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 làm cho tốc độ tăng CPI nước ta là 19,89%, bướcsang năm 2009 giảm mạnh xuống còn 6,88% Giai đoạn 2011-2015 đánh dấu thời

kỳ giữ lạm phát ổn định ở mức thấp nhất trong hơn 10 năm qua Nếu như lạm phátđạt ở mức cao 23% vào tháng 8/2011 thì nó đã giảm xuống còn 6,81% năm 2012,6,04% năm 2013, 1,84% năm 2014 và 0,6% năm 2015 Mặc dù, lạm phát cao khôngcòn là vấn đề đáng lo ngại trong thời điểm hiện nay tuy nhiên nó luôn diễn biến rấtphức tạp, khó lường ảnh hưởng nhanh chóng tình hình nền kinh tế Do vậy, việcnghiên cứu về lạm phát, tìm hiểu nguyên nhân và các biện pháp chống lạm phát cóvai trò to lớn góp phần vào sự nghiệp phát triển của đất nước

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 13

Bên cạnh đó, bội chi ngân sách nhà nước hay còn gọi là thâm hụt ngân sáchcũng là một trong những vấn đề đáng lo ngại cho sự phát triển kinh tế mỗi quốc gia.Bội chi ngân sách nhà nước có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nền kinh tếmột nước, tùy theo tỉ lệ thâm hụt và thời gian thâm hụt Theo báo cáo của Bộ TàiChính, trong những năm 2011-2015 tỷ lệ thâm hụt ngân sách ở Việt Nam luôn nằm

ở ngưỡng trên dưới 5.5%GDP và có xu hướng không ổn định Đây là một tỷ lệ rấtcao bởi theo kinh nghiệm quốc tế thì trong điều kiện bình thường thâm hụt ngânsách ở mức 3% GDP được coi là đáng báo lo ngại còn ở mức 5.5% GDP thì bị xem

là đáng báo động Nếu tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước với tỷ lệ cao và diễn

ra trong thời gian dài sẽ gây ra lạm phát, ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế

Bội chi ngân sách nhà nước và lạm phát là hai vấn đề không phải xa lạ trongnền kinh tế vĩ mô Chúng có mối quan hệ nhân quả với nhau Chính sự bội chi ngânsách nhà nước là một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát cao cho nền kinh tế.Thực tiễn nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy mối quan hệ hai chiều giữa lạmphát và bội chi ngân sách như nghiên cứu của Mohammad Aslam Chaudhary vàAhmad (1995) trong giai đoạn 1973-1992 tại Pakistan bằng phương pháp BìnhPhương gián tiếp hai giai đoạn đã đưa ra nhận xét: để muốn kiểm soát lạm phát,Chính phủ cần cắt giảm thâm hụt ngân sách Tiếp đó, Muzafar Shah Habilullah vàcộng sự (2011) thực hiện nghiên cứu tại 13 quốc gia đang phát triển Châu Á – TháiBình Dương trong giai đoạn 1950-1999 bằng phương pháp ECM, nghiên cứu này

đã kết luận tồn tại mối quan hệ tác động dài hạn của lạm phát và thâm hụt ngânsách Và đặc biệt là nghiên cứu thực nghiệm trong nước giai đoạn 25 năm từ 1985-

2011 của Sử Đình Thành (2012) đã nghiên cứu thâm hụt ngân sách và lạm phát tạiViệt Nam cũng đã kết luận rằng thâm hụt ngân sách có ý nghĩa thống kê lên lạmphát trong ngắn hạn

Hơn bao giờ hết, việc xác định mối quan hệ giữa bội chi ngân sách nhà nước

và lạm phát là một vấn đề cấp thiết trong tình hình hiện nay Lạm phát và bội chingân sách Nhà nước có mối quan hệ như thế nào? Cái nào là nguyên nhân của cáiTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 14

chờ đến khi có dấu hiệu của lạm phát hay bội chi ngân sách xuất hiện mới ban hànhchính sách để kiềm chế thì tất yếu sẽ không hiệu quả tức thời Chính vì vậy, việc phântích mối quan hệ giữa lạm phát và bội chi ngân sách cùng với kiểm định mức độ ảnhhưởng các nhân tố nhằm đề ra những giải pháp thích hợp cho thực trạng lạm phát củaViệt Nam là điều vô cùng cần thiết ở bất kì thời kì nào Nhận thức được tầm quan

trọng đó, em xin mạnh dạn thực hiện đề tài “ Ứng dụng mô hình vector tự hồi quy

để phân tích mối quan hệ giữa lạm phát và bội chi ngân sách tại Việt Nam.”.

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung:

 Đề tài vận dụng mô hình Var để phân tích, kiểm định, đánh giá ảnh hưởngcủa các nhân tố vĩ mô đến lạm phát từ đó kiểm định xem liệu có mối quan hệ nhân quảgiữa bội chi và lạm phát để đưa ra một số khuyến nghị về chính sách cho Chính phủ

2.2 Mục tiêu cụ thể

 Khái quát và làm rõ cơ sở lý luận về lạm phát và thâm hụt ngân sách

 Nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và bội chi ngân sách thông quaviệc sử dụng những mô hình kinh tế lượng vector tự hồi quy var

 Đề xuất một số giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát và bội chi ngân sách từkết quả nghiên cứu

3 Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài hướng đến các đối tượng nghiên cứu là tác động của các nhân tố kinh

tế vĩ mô có ảnh hưởng đến lạm phát bao gồm: Tổng thu ngân sách nhà nước, Tổngchi ngân sách nhà nước, Chỉ số giá tiêu dùng (CPI), Tổng sản lượng quốc gia, TổngMức cung tiền, Biến khủng hoảng kinh tế ở Mỹ (GFC)

4 Phạm vi nghiên cứu:

Về mặt không gian: môi trường kinh tế vĩ mô ở Việt Nam

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 15

Về mặt thời gian: sử dụng số liệu chuỗi thời gian theo năm giai đoạn từ năm

1990 đến năm 2016

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu giáo trình, bài báo, luận

văn… để làm cơ sở cho khóa luận Từ đó để phân tích lý thuyết, các nhân tố ảnhhưởng đến lạm phát

5.2 Phương pháp thu thập số liệu: số liệu được thu thập từ các trang web

đáng tin cậy như Tổng cục thống kê Việt Nam, Quỹ tiền tệ quốc tế IMF…

5.3 Phương pháp phân tích số liệu

 Phương pháp tổng hợp: sau khi thu thập những thông tin có liên quan đếnlạm phát và thâm hụt ngân sách tiến hành tổng hợp lại những thông tin cần thiết đểtiến hành phân tích Sau khi phân tích xong, tiến hành tổng hợp các kết quả phântích để đưa ra kết luận

 Phương pháp phân tích thống kê: Sử dụng các biểu đồ, hình vẽ để phân tích rõhơn tình hình diễn biến của lạm phát và bội chi ngân sách trong thời gian qua

 Phương pháp so sánh: so sánh sự biến động tăng giảm của các số liệu thuthập được qua các năm

5.4 Phương pháp phân tích định lượng: để làm rõ các nhân tố ảnh hưởng

đến lạm phát, bài nghiên cứu sử dụng phần mềm Eview để chạy mô hình Vector tựhồi quy nhằm phân tích mức độ tác động của các biến số vĩ mô đến lạm phát và mốitương quan giữa lạm phát và bội chi ngân sách VAR được sử dụng để ước lượngmối quan hệ nhân quả đa chiều giữa các chuỗi thời gian, dự báo hệ thống các chuỗithời gian có liên quan đến nhau và phân tích các tác nhân tác động của sự phân bốngẫu nhiên trong hệ thống các biến Do đó, để phân tích mối quan hệ giữa lạm phát

và bội chi ngân sách thì việc sử dụng mô hình này là hoàn toàn phù hợp

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 16

6 Bố cục khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, mục lục, danh mục sơ đồ, đồ thị, bảng biểu,danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của khóa luận bao gồm 3 phần:

Phần I: Đặt vấn đề

Phần II: Nội dung nghiên cứu gồm có 3 chương:

 Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về Lạm phát và Bội chi Ngân sách

 Chương 2: Phân tích mối quan hệ giữa lạm phát và bội chi ngân sách

 Chương 3 Thảo luận kết quả nghiên cứu và khuyến nghị một số chính sáchPhần III: Kết luận

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 17

PHẦN 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LẠM PHÁT

VÀ BỘI CHI NGÂN SÁCH

1.1 Tổng quan về lạm phát

1.1.1 Khái niệm về lạm phát

Lạm phát là vấn đề không mấy xa lạ với một nền kinh tế và hầu hết chúng tađều có thể chứng kiến hay trải qua thời kỳ lạm phát tùy theo mức độ khác nhau.Cho đến thời điểm này, nhiều nhà kinh tế học đã đưa ra các khái niệm về lạm phát.Song chúng ta vẫn chưa được thống nhất hoàn toàn về lạm phát Có người tiếp cậnlạm phát theo những nguyên nhân của nó, có người tiếp cận theo hướng tập trungvào những ảnh hưởng của lạm phát Chính vì điều đó, có thể kể ra một số quan điểm

về lạm phát sau đây:

P.A.Samuelson và W.D.Nordhaus trong cuốn “Kinh tế học” đã được dịch ratiếng việt, xuất bản năm 1989 cho rằng: lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cảchi phí tăng lên Mức giá chung được định nghĩa là mức giá trung bình của “giỏhàng hóa và dịch vụ” tại quốc gia đó Tại mỗi quốc gia đều có mỗi loại hàng hóa vàdịch vụ khác nhau phụ thuộc vào mức sống và thu nhập ở quốc gia đó Khi mức giáchung tăng lên, thì các thành phần trong nền kinh tế sẽ phải trả nhiều tiền hơn chochính loại hàng hóa và dịch vụ trong giỏ đó, điều này chứng tỏ giá trị hay sức muacủa đồng tiền tại quốc gia đó đã bị giảm

Quan điểm của các nhà kinh tế học theo trường phái trọng tiền hiện đại, đứngđầu là Milton Friedman (1912-2006): “Lạm phát là việc giá cả tăng nhanh liên tụctrong một thời gian dài” Đây là quan điểm được đa số các nhà kinh tế học ủng hộnhất Điều này có nghĩa, nếu giá cả chỉ tăng ở một vài nhóm hàng chỉ mang tính độtbiến, thời vụ thì đó không được xem là lạm phát, mà lạm phát phải là sự tăng giávới tốc độ cao và kéo dài Chính sự tăng giá cao và liên tục từ thời gian này đếnthời gian khác mới tạo ra những tác động đặc thù của lạm phát Ý kiến đó củaTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 18

Friedman đều được một số nhà kinh tế thuộc phái tiền tệ và phái Keynes tán thành.

Họ cho rằng khi thị trường tiền tệ phát triển, ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc dâncủa mỗi nước thì lạm phát có thể xảy ra bất kì thời điểm nào nếu không thườngxuyên kiểm soát Nó chính là một hiện tượng tất yếu của tài chính – tiền tệ

Trên đây mới chỉ là một vài luận điểm về lạm phát Điều đó cũng đủ chochúng ta nhận định rằng lạm phát là vấn đề hết sức phức tạp và nghiên cứu rất khókhăn Ở nghiên cứu này sẽ bám sát quan điểm lạm phát trong phương trình củaFisher:

MV = PYTrong đó, M : số lượng tiền tệ trong lưu thông

V : tốc độ lưu thông tiền tệ

P : giá trị trao đổi của tiền tệ

Y: hàng hoá, dịch vụ (kể cả chứng khoán) trên thị trường

Nếu M tăng thêm, trong khi Y vẫn giữ vững thì tất nhiên P sẽ tăng Thêm vào

đó, nếu V tăng thì P càng tăng nhanh và không giới hạn

1.1.2 Cách đo lường lạm phát

1.1.2.1 Cách đo lường lạm phát trên thế giới.

Ở Mỹ, cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) chọn chỉ số trượt giá tổng tiêu dùng cánhân làm cơ sở cho các quyết định của mình Chỉ số này rộng hơn CPI và không bịảnh hưởng bới sự thay đổi thói quen tiêu dùng trong dân chúng nên nó là thước đorất tốt cho tình trạng lạm phát hiện thời

Với các nước khác, ngân hàng trung ương (NHTW) thường sử dụng CPI đãđược hiệu chỉnh yếu tố mùa vụ vì không có được số liệu trượt giá tổng tiêu dùng cánhân tốt như Mỹ

FED và một số NHTW của Úc, New Zealand, Nhật Bản loại bỏ một số hànghóa có độ biến thiên lớn (lương thực, năng lượng…) ra khỏi hàng hóa tính CPI lạmTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 19

phát cơ bản Lập luận này là những thành phần mặc dù có độ dao động lớn nhưng

về lâu dài không làm ảnh hưởng đến xu hướng chung của lạm phát Ngoài ra, sựbiến động của những yếu tố này thường nằm ngoài khả năng kiểm soát và tầm ảnhhưởng của NHTW

1.1.2.2 Cách đo lường lạm phát của Việt Nam

Lạm phát được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá bản lẻ củamột lượng lớn các hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế Giá cả của các loại hàng hóa

và dịch vụ được tập hợp với nhau để đưa ra mức giá cả trung bình gọi là mức giátrung bình của tập hợp các sản phẩm Chỉ số giá cả là tỷ lệ mức giá trung bình ởthời điểm hiện tại đối với mức giá trung bình của nhóm hàng tương ứng ở thời điểmgốc Tỷ lệ lạm phát thể hiện qua chỉ số giá, là tỷ lệ phần trăm mức tăng của mức giátrung bình hiện tại so với mức giá trung bình ở thời điểm gốc Hai thước đo thôngdụng phản ảnh mức tổng quát là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số thu nhập quốcdân điều chỉnh

 Dựa vào chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Chỉ số giá tiêu dùng là tỷ số phản ánh giá của rổ hàng hóa trong nhiều nămkhác nhau so với giá của cùng rổ hàng hóa trong năm gốc Chỉ số giá này phụ thuộcvào năm được chọn làm năm gốc và sự lựa chọn rổ hàng hóa tiêu dùng Trên cơ sởxác định chỉ số giá tiêu dùng bình quân, tỷ lệ lạm phát phản ánh sự thay đổi mức giábình quân của giai đoạn này so với giai đoạn trước theo công thức:

Chỉ số lạm phát năm t = ln( ă

Hạn chế của phương pháp đo lường lạm pháp dựa trên chỉ số giá tiêu dùng:

- Không phản ánh được độ lệch thay thế và sự xuất hiện của những hàng hoámới vì nó sử dụng giỏ hàng hoá cố định

- Tồn tại vấn đề một nhóm hàng hóa có quyền số lớn thì sự biến động củanhóm hàng hóa này sẽ khiến cho CPI biến động mạnh, đưa ra thông tin sai lệch vềTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 20

lạm phát, nhất là nhóm hàng hóa nhạy cảm, quan trọng trong nền kinh tế như lươngthực, thực phẩm, giáo dục và năng lượng.

- Không phản ánh được sự thay đổi của chất lượng hàng hoá

Tuy nhiên, xét về tổng thể thì phương pháp này vẫn là chỉ tiêu được sử dụngphổ biến nhất để đo lường lạm phát ở hầu hết các nước trên thế giới trong đó cóViệt Nam bởi cách thức thu thập số liệu và tính toán đơn giản

Chỉ số giảm phát GDP phản ánh lạm phát chính xác hơn chỉ số CPI vì:

- Chỉ số GDP phản ánh mức giá trung bình của tất cả hàng hóa và dịch vụđược sản xuất ra trong nền kinh tế, còn CPI phản ánh giá của những hàng hóa vàdịch vụ mà người tiêu dùng mua

- Chỉ số GDP được tính bằng cách sử dụng giỏ hàng hóa tại thời kì nghiêncứu, do vậy giỏ hàng hóa này thay đổi mỗi năm, còn CPI được tính bằng cách sửdụng giỏ hàng hóa cố định, nên chỉ thay đổi khi các nhà thống kê điều chỉnh Chính

vì vậy mà giỏ hàng hóa này không phản ánh được sự thay đổi trong cơ cấu của cácmặt hàng trong kinh tế

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 21

Mặc dù chỉ số GDP phản ánh chính xác tỷ lệ lạm phát hơn CPI, nhưng docông tác thập số liệu thống kê để tính chỉ số này là phức tạp hơn, vì phải tính chotoàn bộ tất cả các mặt hàng trong nền kinh tế, nên chỉ có ở Mỹ-công tác thống kêgần như hoàn hảo, mới sử dụng chỉ tiêu này để tính tỷ lệ lạm phát Nhưng trên thực

tế, số liệu thống kê cho thấy sự khác biệt giữa CPI và GDP không lớn

Trong khuôn khổ bài nghiên cứu, chỉ sử dụng chỉ số CPI để đo lường lạmphát với lí do đây là chỉ số được sử dụng rộng rãi

-Căn cứ vào tốc độ lạm phát, được chia thành 3 loại: lạm phát vừa phải, lạmphát phi mã, siêu lạm phát

1.1.3.1 Lạm phát vừa phải

Mức độ tăng của giá cả cao hơn từ trên vài phần trăm đến mức lớn hơn khôngnhiều so với tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm được gọi là lạm phát vừa phải lạmphát kiểm soát được Đối với loại này thì tùy theo chiến lược và chiến thuật pháttriển kinh tế mỗi thời kỳ mà các chính phủ có thể chủ động định hướng mức khốngchế trên cơ sở duy trì một tỷ lệ lạm phát là bao nhiêu để gắn với một số mục tiêukinh tế khác như kích thích tăng trưởng kinh tế, tăng cường xuất khẩu, giảm tỷ lệthất nghiệp trong các năm tài khóa nhất định

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 22

và tích lũy của cải Khi lạm phát phi mã xảy ra, sản xuất đình trệ, tài chính của nềnkinh tế bị phá hoại và nếu không có biện pháp thích hợp để ghìm chân chú ngựa thìnền kinh tế sẽ dễ dàng rơi vào tình trạng siêu lạm phát

1.1.3.3 Siêu lạm phát

Siêu lạm phát là lạm phát xảy ra ở mức độ lớn hơn lạm phát phi mã Siêu lạmphát thường xảy ra do các biến cố lớn dẫn đến đảo lộn trật tự xã hội như: chiếntranh, khủng hoảng chính trị…Khi những biến cố lớn xảy ra, sự thâm hụt ngân sáchkhiến chính phủ phải phát hành tiền giấy để bù đắp dẫn đến siêu lạm phát Siêu lạmphát có sức phá hủy toàn bộ hoạt động nền kinh tế, dẫn đến suy thoái nghiêm trọng

1.1.4 Nguyên nhân của lạm phát

Như trên đã trình bày, lạm phát là một quá trình giá tăng liên tục, tức là mứcgiá chung tăng lên hoặc là quá trình đồng tiền liên tục giảm giá Vậy nguyên nhânnào gây ra lạm phát? Thực tế cho thấy, có rất nhiều nguyên nhân gây ra lạm phát,bao gồm:

- Lạm phát là do sự mất cân đối về cơ cấu kinh tế, mâu thuẫn về phân phốigây ra tăng giá Cơ chế lan truyền đã tạo căng thẳng thêm các mâu thuẫn đó và dẫnđến lạm phát tăng lên Lạm phát là tất yếu của nền kinh tế khi muốn tăng trưởngcao, nhưng lại tồn tại nhiều khiếm khuyết, hạn chế và yếu kém Lạm phát do mấtcân đối cơ cấu kinh tế xuất hiện khi có quan hệ không bình thường trong các cânđối lớn của nền kinh tế như công nghiệp - nông nghiệp, công nghiệp nặng - côngnghiệp nhẹ, sản xuất - dịch vụ, xuất khẩu - nhập khẩu, tích luỹ - tiêu dùng NhữngTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 23

thay đổi cơ bản trong cơ cấu kinh tế - xã hội do tăng trưởng kinh tế thường dẫn đếngiá tăng lên khi cơ cấu thị trường chưa được hoàn chỉnh, các nguồn vật lực có giớihạn, các quan hệ không được đặt trong một sự cân đối hợp lý, năng lực sản xuấtkhông được khai thác hết, trạng thái vừa thừa vừa thiếu xuất hiện.

- Lạm phát là do tăng cung tiền tệ Giá tăng lên ít nhiều là do tăng cung tiền

tệ quá mức cầu của nền kinh tế Với quan điểm này, lạm phát xuất hiện khi có mộtkhối lượng tiền bơm vào lưu thông lớn hơn khối lượng tiền cần thiết cho lưu thôngcủa thị trường Điều này, được biểu hiện ở chỗ đồng tiền nội địa mất giá Nguyênnhân khác dẫn đến lạm phát khi tăng lượng tiền vào nền kinh tế là để bù đắp cácthiếu hụt của ngân sách Đây là nguyên nhân thông thường nhất do sự thiếu hụtngân sách chi tiêu của Nhà nước (y tế, giáo dục, quốc phòng) và do nhu cầu khuếchtrương nền kinh tế Nhà nước của một quốc gia chủ trương phát hành thêm tiền vàolưu thông để bù đắp cho các chi phí nói trên đang thiếu hụt

- Lạm phát do cầu kéo hay là do sự mất cân đối giữa tổng cung và tổng cầuhàng hoá và dịch vụ Khi tổng cầu hàng hoá và dịch vụ có khả năng thanh toán lớnhơn tổng cung hàng hoá và dịch vụ, đã đẩy giá tăng lên để thiết lập một sự cân bằngmới trên thị trường, trong đó tổng cung bằng tổng cầu Bản chất của lạm phát cầukéo là chi tiêu quá nhiều tiền để mua một lượng cung hạn chế về hàng hóa có thểsản xuất được trong điều kiện thị trường lao động đã đạt cân bằng

- Lạm phát do chi phí đẩy xảy ra khi có tác động của các yếu tố bên ngoàitác động vào không gắn với tình hình tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế Nhưchúng ta đều biết, ở hầu hết các nước đang phát triển thường phải nhập một lượnglớn nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất trong nước, nếu giá của những loạinguyên vật liệu này trên thị trường thế giới tăng lên làm cho chi phí sản xuất cácsản phẩm sẽ tăng lên Và để tồn tại, buộc các nhà sản xuất phải đưa giá bán trên thịtrường trong nước tăng lên theo Bên cạnh đó, trong điều kiện cơ chế thị trường,không có quốc gia nào lại có thể duy trì được trong một thời gian dài với công ănviệc làm đầy đủ cho mọi người, giá cả ổn định và có một thị trường hoàn toàn tự do.Trong điều kiện hiện nay, xu hướng tăng giá cả các loại hàng hoá luôn luôn diễn ratrước khi nền kinh tế đạt được một khối lượng công ăn việc làm nhất định Điều đóTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 24

có nghĩa là chi phí sản xuất đã đẩy giá cả tăng lên ngay cả trong các yếu tố sản xuấtchưa được sử dụng đầy đủ, lạm phát xảy ra.

Chính những nguyên nhân trên đã gây ra lạm phát cao và là tiền đề tạo ra mốiquan hệ giữa lạm phát và bội chi ngân sách nhà nước

1.1.5 Tác động của lạm phát

Lạm phát có thể tác động tích cực lẫn tiêu cực đối với tốc độ tăng trưởng kinh tếthông qua nhiều kênh khác nhau, với mức độ ảnh hưởng tổng thể khác nhau đáng kể phụthuộc vào cơ cấu thể chế của nền kinh tế, phụ thuộc vào khả năng thích nghi với mứclạm phát hiện hành và khả năng dự báo lạm phát

1.1.5.1 Tác động tích cực

Lạm phát được xem là giúp tăng trưởng kinh tế thông qua việc khuyến khíchhuy động vốn và tăng tính linh hoạt trong giá cả Tỷ lệ lạm phát thấp có thể giúp bôitrơn thị trường hàng hóa, lao động và tăng tính linh hoạt tương đối đối với giá cả.Nếu giá cả (kể cả tiền lương và giá các nhân tố khác) giảm xuống với tính linh hoạtthấp và nếu các ngành sản xuất khác nhau có mức cầu và năng suất tăng khôngđồng đều thì giá cả tăng nhẹ có thể tạo ra một mức độ linh hoạt giá cả tương đối lớncần thiết cho việc phân bổ hiệu quả các nguồn lực Một tỷ lệ lạm phát thấp và ổnđịnh sẽ tạo ra một trong những động lực mạnh nhất để giúp đạt được mức tăngtrưởng ổn định

1.1.5.2 Tác động tiêu cực

Ngược lại khi lạm phát xảy ra ngoài dự tính, nó tạo ra sự biến động bấtthường về giá trị tiền tệ và làm sai lệch toàn bộ thước đo các mối quan hệ giá trị,ảnh hưởng đến mọi hoạt động kinh tế - xã hội Có thể kể ra một số hậu quả của lạmphát sau đây:

 Lạm phát làm kìm hãm tăng trưởng kinh tế

Lạm phát làm cho lãi suất danh nghĩa tăng lên bởi tỷ lệ lạm phát dự tính tăng lên(lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát), nếu lạm phát dự tính không phùTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 25

hợp với lạm phát thực tế nó sẽ làm ảnh hưởng đến mức lãi suất thực Kết quả là ảnhhưởng đến tiết kiệm, đầu tư và ảnh hưởng đến mức tăng trưởng của nền kinh tế.

Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, do lạm phát, giá cả vật liệu, hàng hóa,nguyên liệu đều gia tăng làm cho khu vực sản xuất kinh doanh thu hẹp dần, trongkhi đó, buôn bán, thương mại, dịch vụ phát triển dẫn đến khủng hoảng kinh tế vàtrật tự kinh tế bị thay đổi

Trong lĩnh vực đầu tư, sự biến động bất thường của lạm phát gây khó khăncho việc xác định mức lợi chính xác của các khoản đầu tư, khiến các nhà đầu tưngần ngại khi tiến hành đầu tư, nhất là đầu tư vào các dự án dài hạn, làm ảnh hưởngđến sự tăng trưởng kinh tế

Trong lĩnh vực lưu thông và phân phối, giá cả hàng hóa tăng gây nên tìnhtrạng đầu cơ tích trữ hàng hóa, dẫn đến làm mất cân đối giả tạo quan hệ cung cầulàm cho lĩnh vực lưu thông bị rối loạn

 Lạm phát làm rối loạn hệ thống tiền tệ

Trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng, lạm phát làm cho sức mua đồng tiền giảm,lưu thông tiền tệ diễn biến khác thường, tốc độ lưu thông của tiền tệ tăng lên mộtcách đột biến càng làm cho sức mua của đồng tiền giảm xuống nhanh chóng hơn.Hoạt động của hệ thống tín dụng ngân hàng rơi vào tình trạng khủng hoảng, donguồn tiền gửi trong xã hội bị sụt giảm nhanh chóng, nhiều ngân hàng bị phá sản domất khả năng thanh toán và thua lỗ trong kinh doanh Tình hình đó làm cho hệthống tiền tệ bị rối loạn và không thể kiểm soát

 Lạm phát làm xấu đi tình trạng cán cân thanh toán quốc tế

Nếu tỷ lệ lạm phát trong nước cao hơn tỷ lệ lạm phát nước ngoài Khi cóquan hệ mậu dịch thì giá cả hàng hóa trong nước trở nên đắc đỏ hơn so với giá cảhàng hóa nước ngoài, do đó làm giảm xuất khẩu, tăng nhập khẩu, làm xấu đi tìnhtrạng của tài khoản vãng lai Tỷ lệ lạm phát cao cùng với bội chi tài khoản vãng laiTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 26

có thể thạo nên tâm lý trông đợi một sự giảm giá của đồng nội tệ so với ngoại tệ tạonên áp lực tăng tỷ giá, tỷ giá tăng càng đẩy mức giá cả chung tăng lên.

 Lạm phát làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp và làm cho đời sống nhân dân gặpkhó khăn

Khi lạm phát tăng lên, tổng thu nhập danh nghĩa tăng lên, giá cả hàng hóa tăng,trong khi thu nhập không tăng, hoặc tăng chậm (đặc biệt những người làm công ănlương) ngày càng khó khăn Bên cạnh đó, mức giá chung tăng lên có thể gây nên sựgiảm sút của tổng cầu và công ăn việc làm gây ra tình trạng thất nghiệp tăng

1.2 Bội chi Ngân sách

1.2.1 Khái niệm bội chi Ngân sách Nhà nước

Một nhà nước dù tồn tại trong bất kì giai đoạn nào của lịch sử đều luôn cốgắng hoàn thành được sứ mạng lịch sử của nó Nhà nước ta cũng như vậy, và đểhoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao thì nhà nước cần có những công cụ riêngcủa mình Một trong những công cụ đắc lực giúp Nhà nước đó chính là ngân sáchNhà nước Trong những năm qua thì vai trò của ngân sách Nhà nước đã được thểhiện rõ trong việc giúp Nhà nước hình thành các quan hệ thị trường góp phần kiểmsoát lạm phát, tỷ lệ lãi suất thích hợp để từ đó làm lành mạnh hoá nền tài chính quốcgia, đảm bảo sự ổn định và phát triển của nền kinh tế Tuy nhiên bên cạnh nhữngmặt tích cực thì việc sử dụng ngân sách Nhà nước chưa đúng cách, đúng lúc, tìnhtrạng bao cấp tràn lan, sự yếu kém trong việc quản lý thu chi ngân sách đã đặt racho chúng ta cái nhìn sâu hơn về tình trạng thâm hụt ngân sách Nhà nước, ảnhhưởng của bội chi ngân sách Nhà nước đến các hoạt động kinh tế - xã hội là hết sứcrộng lớn

Trước khi đi vào khái niệm bội chi ngân sách Nhà nước chúng ta tìm hiểukhái niệm chi ngân sách nhà nước để hiểu được quy trình vận hành của ngân sáchnhà nước như thế nào? Chi ngân sách nhà nước là việc phân phối và sử dụng quỹngân sách nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước theo nhữngnguyên tắc nhất định Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối lại các nguồnTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 27

tài chính đã được tập trung vào ngân sách nhà nước và đưa chúng đến mục đích sửdụng Do đó, Chi ngân sách nhà nước là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trêncác định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng côngviệc thuộc chức năng của nhà nước.

Quá trình của chi ngân sách nhà nước:

1 Quá trình phân phối: là quá trình cấp phát kinh phí từ ngân sách nhà nước

để hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng

2 Quá trình sử dụng: là trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ ngân sách nhànước mà không phải trải qua việc hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng

Theo Cẩm nang Thống kê tài chính của chính phủ, bội chi ngân sách đượcxác định bằng chênh lệch giữa chi ngân sách và thu ngân sách Ở đây sự khác biệtgiữa các quốc gia chính là phạm vi các khoản thu và chi ngân sách được đưa vàotrong cân đối ngân sách Việc xác định phạm vi các khoản thu, chi ngân sách khácnhau sẽ đem đến các kết quả khác nhau về mức bội chi ngân sách

1.2.2 Phân loại thâm hụt ngân sách

Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách thành hai loại: thâm hụt

cơ cấu và thâm hụt chu kỳ

Thâm hụt cơ cấu là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chínhsách tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hayquy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng,

Thâm hụt chu kỳ là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh

tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân Ví dụ khinền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảmxuống trong khi chi ngân sách cho cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên

Giá trị tính ra tiền của thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ được tính toán như sau:Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 28

Ngân sách thực có: liệt kê các khoản thu, chi và thâm hụt tính bằng tiền trongmột giai đoạn nhất định (thường là một quý hoặc một năm).

Ngân sách cơ cấu: tính toán thu, chi và thâm hụt của chính phủ sẽ là baonhiêu nếu nền kinh tế đạt mức sản lượng tiềm năng

Ngân sách chu kỳ: là chênh lệch giữa ngân sách thực có và ngân sách cơ cấu.Việc phân biệt giữa ngân sách cơ cấu và ngân sách chu kỳ phản ánh sự khácnhau giữa chính sách tài chính: chính sách ổn định tùy biến và chính sách ổn định tựđộng Việc phân biệt hai loại thâm hụt trên đây có tác dụng quan trọng trong việcđánh giá ảnh hưởng thực sự của chính sách tài chính khi thực hiện chính sách tàichính mở rộng hay thắt chặt sẽ ảnh hưởng đến thâm hụt ngân sách như thế nào giúpcho chính phủ có những biện pháp điều chỉnh chính sách hợp lý trong từng giaiđoạn của chu kỳ kinh tế

1.2.3 Nguyên nhân bội chi ngân sách Nhà nước

Trong lịch sử phát triển nền tài chính thì bội chi ngân sách đã và đang trởthành một hiện tượng khá phổ biến ở các nước đang phát triển và các nước chậmphát triển, nếu như chúng ta không tìm ra những nguyên nhân chính xác gây ra hiệntượng trên thì khó có thể có được những biện pháp hữu hiệu để kịp thời dự báo vàhạn chế tác động của nó tới nền kinh tế

1.2.3.1 Tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Nhà nước

Ngay từ khi ra đời thì Nhà nước đã mang trong mình những trọng trách nhấtđịnh Mỗi một Nhà nước có thể chế, đường lối, chính sách khác nhau nhằm phục vụcho những đối tượng khác nhau Nhưng mục tiêu quan trọng của Nhà nước là làmcho kinh tế của đất nước ngày càng phát triển, nâng cao vị thế của đất nước mìnhtrên trường quốc tế Để thực hiện được điều đó thì Nhà nước đã đề ra hàng loạtnhững biện pháp, chính sách quan trọng Đất nước tiến hành công cuộc cải cáchkinh tế từ một nước lạc hậu với một xuất phát điểm rất thấp, nền kinh tế còn mangnặng tính bao cấp, trì trệ, người dân chủ yếu sống bằng nghề nông, thu nhập còn rấtthấp Bên cạnh đó cơ sở vật chất, trình độ khoa học kĩ thuật, công nghệ của ta cònTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 29

rất lạc hậu so với thế giới Chính vì lẽ đó mà Nhà nước ta đã đề ra đường lối đổimới toàn diện trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế - xã hội Việc bao cấp trànlan, đầu tư dàn trải không có hiệu quả, thêm vào đó là năng lực quản lí ngân sáchcòn nhiều bất cập, chưa thực sự minh bạch và khoa học là những nguyên nhân chủyếu gây ra tình trạng thu không đủ chi, rất nhiều công trình xây dựng xong khôngthể sử dụng được gây lãng phí rất nhiều tiền của Nhà nước và nhân dân Ngoài ra,khi Nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làmtăng mức bội chi ngân sách Nhà nước Mức bội chi do tác động của chính sách cơcấu thu chi gây ra được gọi là bội chi cơ cấu.

1.2.3.2 Tác động của chu kỳ kinh doanh

Khi đất nước chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ làm cho kinh

tế bị giảm sút, tình hình đầu tư trong nước gặp khó khăn, sản xuất lâm vào khùnghoảng, nhiều doanh nghiệp bị phá sản, tổng sản phẩm xã hội bị giảm sút, nền kinh

tế giảm sút nghiêm trọng Trong tình hình đó, Nhà nước tháo gỡ bế tắc bằng cáchchủ động tăng chi, kích cầu hàng hóa, sử dụng nguồn ngân sách quốc gia để chi chođầu tư phát triển Bên cạnh đó, Nhà nước cũng đảm bảo những nhiệm vụ quan trọngcủa chi thường xuyên như: chi cho sự nghiệp giáo dục, y tế, khoa học công nghệ,môi trường…đây là những khoản chi rất quan trong và cần thiết đối với nền kinh tế,chúng chiếm một tỷ lệ khá lớn trong tổng chi của ngân sách Nhà nước vì vậy thâmhụt ngân sách Nhà nước là điều khó tránh khỏi Mức bội chi do tác động của chu kỳkinh doanh gây ra được gọi là bội chi chu kỳ

1.2.4 Định hướng xử lý bội chi ngân sách Nhà nước

1.2.4.1 Phát hành tiền để bù đắp bội chi ngân sách

Phát hành tiền để bù đắp bội chi ngân sách có nhược điểm lớn là chứa đựngnguy cơ lạm phát, tác động tiêu cực đến mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, xãhội Thực tế đã cho chúng ta những bài quý giá về việc phát hành tiền quá dễ dãi để

bù đắp bội chi ngân sách gây ra lạm phát cao trong thập niên 80 Từ ngày 1/4/1990chúng ta đã thành lập hệ thống kho bạc Nhà nước trực thuộc bộ tài chính (ngườiTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 30

chịu trách nhiệm về bội chi ngân sách Nhà nước) độc lập với ngân hàng Nhà nước(người chịu trách nhiệm về việc phát hành tiền vào trong lưu thông) được xem làmột cuộc cách mạng cơ cấu nhằm tách chức năng quản lí quỹ ngân sách Nhà nước

ra khỏi chức năng phát hành tiền, tránh được tình trạng “mang tiền túi nọ bỏ vào túikia” Cơ chế đó đã góp phần tích cực trong việc kiềm chế bội chi và lạm phát trongnhững năm qua Thực tế thì trong những năm qua Nhà nước ta đã không phát hànhtiền để trang trải thâm hụt ngân sách nữa mà thay vào đó là việc phát hành tín phiếu,trái phiếu kho bạc Nhà nước và vay nợ nước ngoài để bù đắp bội chi, những việclàm này cũng gốp phần tích cực trong việc kiềm chế lạm phát

Tuy nhiên trong điều kiện nền kinh tế ở vào trạng thái suy thoái, mức độ lạmphát không cao, vật giá không leo thang, thì khi đó việc phát hành tiền cần phảiđược chủ động tiến hành nhằm mục tiêu trước mắt là có tiền để trang trải cácchương trình đầu tư phát triển, có tiền để tăng lương theo đúng kế hoạch, bù đắp bộichi ngân sách Sau nữa việc phát hành tiền ở mức độ và thời điểm hợp lí sẽ tạo ramức lạm phát nhẹ, từ đó kích tiêu dùng, giảm gánh nặng về nghĩa vụ trả nợ của Nhànước, thúc đẩy kinh tế phát triển Nhất là nếu chủ động một phần (15-20%) nguồnvốn phát hành cho đầu tư hạ tầng sẽ có tác dụng rất tốt đối với nền kinh tế, đẩynhanh tốc độ phát triển kinh tế đang bị suy giảm

Như vậy thì biện pháp phát hành tiền để bù đắp bội chi ngân sách luôn có haimặt của nó, nếu như ta biết áp dụng khéo léo, linh hoạt sao cho thật sự phù hợptrong từng tình huống cụ thể của nền kinh tế thì sẽ làm giảm bớt những ảnh hưởngcủa bội chi ngân sách, kích thích nền kinh tế phát triển nhanh hơn nữa Nhưngngược lại nếu như chúng ta quá lạm dụng vào biện pháp này để bù đắp thâm hụtngân sách thì sẽ gây ra những hậu quả khôn lường đến sự ổn định và phát triển củanền kinh tế cũng như làm nguy hại đến những giá trị mà chúng ta đã đạt được trongnhững năm qua

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 31

1.2.4.2 Vay để bù đắp thâm hụt ngân sách Nhà nước

Vay để bù đắp thâm hụt ngân sách bao gồm có vay trong nước và vay nướcngoài Để vay được tiền thì Chính phủ phải đa dạng hoá các hình thức vay (tínphiếu, trái phiếu, công trái ), đồng thời phải thực hiện nhiều biện pháp để tăng mức

độ hấp dẫn người cho vay như tăng lãi suất, mở rộng ưu đãi về thuế thu nhập Tuynhiên tổng lượng tiền mà nhân dân có thể có để cho Chính phủ vay bị giới hạn trongtổng lượng tiền tiết kiệm của xã hội Nếu Chính phủ huy động được nhiều thì đươngnhiên phần tiền còn lại giành cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh ở ngoài khuvực quốc doanh sẽ bị giảm đi Nếu các biện pháp thu hút tiền vay của Chính phủ vàcác ngân hàng càng có lãi suất hấp dẫn thì càng tạo ra luồng tiền vốn dịch chuyển từcác khu vực doanh nghiệp và dân cư sang hệ thống tài chính ngân hàng mà khôngchảy vào sản xuất kinh doanh Do đó vay trong nước để bù đắp thâm hụt ngân sáchluôn chứa đựng nguy cơ kìm hãm hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế.Mục tiêu chấn hưng nền kinh tế của Chính phủ thông qua con đường phát hành tráiphiếu, tín phiếu bị chính giải pháp này cản trở Nhưng cũng phải nên thấy một điềurằng vay trong nước lại dễ triển khai tránh bị ảnh hưởng hoặc o ép từ bên ngoài, do

đó khi đi vay và sử dụng vốn vay là một điều khó tránh khỏi cần phải có những biệnpháp khắc phục

Đối với vay nước ngoài thì lại phụ thuộc vào đối tác cho vay thường đượcthực hiện dưới các hình thức kể cả ODA và vay trên thị trường tài chính quốc tế Dùvay dưới hình thức nào đi chăng nữa thì việc đi vay nước ngoài luôn phải chịunhững ràng buộc, áp đặt bằng điều kiện từ nước cho vay Hiện tại nước ta chủ yếuđang vay nước ngoài để bù đắp bội chi bằng các nguồn vay ưu đãi, lãi suất thấp,thời gian dài Gắn vào đó là phải tuân thủ các điều kiện ràng buộc của người chovay Ví dụ: quỹ Miyazawa của Nhật quy định trong tổng số vốn được cho vay tàitrợ thì phải có ít nhất 50% được dùng để mua hàng hoá của Nhật hoặc của các công

ty Nhật Bản đóng tại nước sở tại Ngoài ra còn kèm theo các điều kiện thủ tụckhông thành văn khác như phải qua ngân hàng trung gian xuất nhập khẩu NhậtTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 32

của nền kinh tế nhưng không xâm hại đến nguồn vốn trong nước giành cho đầu tư,lại thường có khối lượng đáng kể, có nhiều cơ hội đổi mới công nghệ kỹ thuật vàquản lý, có thời hạn đủ dài để vốn vay phát huy hiệu quả Do đó cũng cần quan tâmđúng mức đến biện pháp vay nước ngoài để bù đắp bội chi.

Thêm vào đó càng tăng cường đi vay Chính phủ càng chất thêm gánh nặng

nợ và càng làm giảm quyền lực tài chính của mình Thật vậy nghĩa vụ nợ đến hạnbắt buộc phải trả hàng năm đương nhiên được trích từ ngân sách Nhà nước do đó

mà khi đến hạn trả nợ thì vô hình chung các khoản chi trả của Chính phủ tăng lênmột cách trông thấy Như vậy một chính phủ đi vay quá nhiều cả ở trong và ngoàinước sẽ gây ra nhiều biến động bất lợi của nền kinh tế, làm giảm uy tín cũng nhưkhả năng tự chủ về tài chính của Nhà nước đó Do vậy chúng ta cần phải cân đối,tính toán cho thật chính xác thời điểm đi vay, vay ở đâu, và vay của những đốitượng nào là tốt nhất, đem lại hiệu quả cao nhất

1.2.4.3 Bù đắp sự thiếu hụt ngân sách bằng biện pháp tăng thuế

Tăng thuế bằng biện pháp trực tiếp tăng thuế suất là giải pháp khó triển khai

và tốn kém Mặc dù Nhà nước hoàn toàn có quyền tăng thuế hoặc ban hành thêmthuế mới để tạo nguồn bù đắp bội chi ngân sách Tuy nhiên cần tính đến tác độngnhiều chiều của giải pháp này

Theo La-phe nhà kinh tế học người Mỹ, hồi thập niên 70 đã đồ thị hoá 2 tácđộng trái ngược nhau của việc tăng thuế tuỳ theo mức thuế suất áp dụng Khi còn ởtrong vùng có thể chịu đựng được thì tăng sẽ thuế suất sẽ làm tăng nguồn thu chongân sách Nhà nước, đồng thời còn kích thích các đối tượng nộp thuế phát triểnkinh doanh, mở mang các hoạt động kinh tế, tăng khả năng sinh lời có một phầnnộp cho ngân sách Nhà nước còn một phần làm thặng dư cho mình Trong trườnghợp này tăng thuế có tác dụng kích thích sự phát triển kinh tế, nhưng khi vượt quágiới hạn chịu đựng của nền kinh tế thì khi tăng thuế lại làm giảm nguồn thu từ ngânsách, mặt khác nó còn thúc đẩy tình trạng trốn lậu thuế, kìm hãm hoặc không kíchthích được nền kinh tế phát triển

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 33

Trên thực tế, tăng thuế là giải pháp không mấy dễ áp dụng và tốn kém Tăngthuế có khả thi hay không còn phụ thuộc vào sức chịu đựng cuả nền kinh tế, sự hiệuquả của hệ thống thu, phụ thuộc vào hiếu suất của từng sắc thuế Trong thời kì nềnkinh tế suy thoái, hoạt động kinh tế mờ nhạt thì việc tăng thuế không những khôngkhả thi mà còn làm cản trở của hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng số lượng nợđọng thuế của các doanh nghiệp, đẩy các doanh nghiệp lâm vào tình trạng tài chínhkhông lành mạnh và làm giảm nguồn thu ngân sách.

Nếu tăng thuế chỉ nhằm vào các giải pháp tăng thuế suất và ban hành thêmcác sắc thuế mới, nhất là tăng thuế trực thu thì về mặt lý thuyết là có thể tăng thungay nhưng trên thực tế rất khó được áp dụng đúng đắn và khó có thể đạt được ngaykết quả Hơn nữa nếu thuế suất quá cao còn dẫn đến tình trạng trốn lậu thuế, tácđộng xấu đến môi trường kinh tế

Tình hình thực tiễn ở nước ta cho thấy muốn tăng thu từ thuế cho ngân sách Nhànước, cần triển khai mạnh mẽ các giải pháp nhằm làm hợp lí hoá và nâng cao hiệu quảcủa hệ thống thuế, mở rộng diện thu thuế sẽ phù hợp với thực tế và có tính khả thi caohơn các giải pháp nhằm vào tăng thuế hoặc ban hành thêm các sắc thuế mới Nhữnggiải pháp nâng cao hiệu quả của hệ thống thuế bao gồm cải cách hành chính thuế (bộmáy, quy trình, phương thức tổ chức thu thuế và hoàn thiện các sắc thuế)

1.2.4.4 Cắt giảm chi tiêu nhằm làm giảm thâm hụt ngân sách Nhà nước

Cắt giảm chi tiêu với hi vọng làm giảm tổng chi nhằm giảm bội chi ngân sách

là biện pháp “tiêu cực” xét dưới góc độ kinh tế học bởi vì Chính phủ sẽ cắt giảm chitiêu thường xuyên (chi lương, chi mua sắm trang thiết bị) thậm chí sẽ trì hoãn hoặccắt giảm chi đầu tư phát triển, như vậy sẽ thu hẹp khả năng tiêu thụ sản phẩm vàdịch vụ của khu vực sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp sẽ không tiêu thụ thì sảnphẩm sẽ tồn đọng, kinh tế sẽ gặp khó khăn, sản xuất đình đốn Trong thực tế cầnxuất phát từ bối cảnh kinh tế - xã hội từng năm, căn cứ mục tiêu các kế hoạch tàichính ngắn hạn, trung hạn, dài hạn…cũng như căn cứ tình hình tài chính, tiền tệ,tình hình nợ nước ngoài…để xác định các giải pháp khai thác nguồn tài chính bùđắp bội chi thích hợp Ngoài ra Nhà nước cần tích cực triển khai các chương trìnhTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 34

cải thiện cơ sở hạ tầng, hoàn thiện mạng lưới giao thông, kích thích tiêu dùng nhằmtăng cường khả năng phát triển của nền kinh tế Tuy nhiên cần tách bạch phạm trùkích cầu với phạm trù tiết kiệm chống lãng phí Trong điều kiện tiềm lực ngân sáchNhà nước có hạn, thì kích cầu không để xảy ra tình trạng vung tiền bừa bãi, bỏ quacác quy định, quy phạm tài chính về thực hành tiết kiệm chống lãng phí, tiến hànhđầu tư có trọng điểm, cải thiện thực chất chế độ tiền lương theo hướng tăng thunhập cho người hưởng lương nhưng không tăng biên chế để làm tăng tổng quỹlương.

Tóm lại mỗi giải pháp đều có ưu nhược điểm nhất định, cần tuỳ thuộc vàđiều kiện hoàn cảnh cụ thể của nền kinh tế đất nước để lựa chọn những giải phápthích hợp Tuy nhiên nhìn một cách toàn diện thì thực hiện tốt công tác quản lí vàđiều hành ngân sách Nhà nước vẫn là biện pháp tốt nhất cho các quốc gia để hạnchế, khắc phục tình trạng thâm hụt ngân sách Nhà nước

1.3 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

1.3.1 Cơ sở lý luận về mô hình nghiên cứu

Với 1 nền kinh tế đóng, giả định rằng tất cả khoản nợ công đều có dạng tiềnkhông chịu lãi Ngân sách khu vực công được xác định bởi:

Trong đó: +G: Chi tiêu khu vực công

+T: Doanh thu khu vực công

+Y: Thu nhập thực tế

+P: Mức giá

+H: Tiền cơ bản

Đối với nền kinh tế đang ở trạng thái ổn định:

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 35

 (H*) = (H*) ( - - ) = – H*(p +y) (3)Trong đó: + : Kí hiệu sai phân

+ H* : Tiền cơ bản tỷ lệ hóa (H/PY)

+p: lạm phát

+Y: Mức tăng thu nhập thực tế

Giả định độ co giãn nhu cầu theo thu nhập dài hạn đối với tiền = 1 thì hàm giới hạnngân sách tinh giảm là:  (H*) = – H*(p +y) (4)

B: Thâm hụt ngân sách tỉ lệ hóa , c là hằng số độ ì của tỷ suất lạm phát 1và 2

là hệ số góc của thâm hụt tỉ lệ hóa và tỷ suất tăng trưởng.1 =2, chúng ngược dấu.Phần còn lại của bài viết phân tích mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách lạm phát,tiền cơ bản và tăng trưởng thu nhập thức tế

Từ những phân tích trên ta thấy lạm phát có mối quan hệ với thâm hụt ngân sách

1.3.2 Cơ sở lý luận về phương pháp nghiên cứu

1.3.2.1 Chuỗi thời gian

Chuỗi thời gian là một chuỗi các quan sát được thu thập theo từng mốc thờigian với một tần suất thời gian thống nhất như số liệu theo năm, số liệu theo quý, sốliệu theo tháng theo tháng Một chuỗi thời gian gồm dãy các giá trị quan sát Xđược ký hiệu: {X1, X2, X3…X n-1, Xn} trong đó quan sát xảy ra sau luôn được xếpngay sau quan sát trước đó Dữ liệu chuỗi thời gian phổ biến nhất là dữ liệu tàichính được ghi nhận qua thời gian dài, và thường có số lượng quan sát khá lớn Vídụ: GDP hàng năm, mức lạm phát hàng năm, chỉ số giá tiêu dùng hàng năm…

1.3.2.2 Tính dừng của chuỗi thời gian

a Tính dừng

Một quá trình ngẫu nhiên Yt được xem là dừng nếu như trung bình vàTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 36

sai giữa hai thời đoạn chỉ phụ thuộc vào khoảng cách hay độ trễ về thời gian giữahai thời đoạn này (độ dài k) chứ không phụ thuộc vào thời điểm thực tế (thời điểmt) mà đồng phương sai được tính.

Cụ thể, chuỗi thời gian Xtđược coi là dừng nếu:

 Trung bình: E(Xt) =

 Phương sai: Var(Xt) = E (Xt– )2= 2

 Đồng phương sai: Cov ( , + ) = E [(Xt– )(Xt+k– )] = (∀t)

Nếu một trong ba điều kiện trên không được thỏa mãn thì chuỗi thời gian đóđược xem là chuỗi không dừng

b Cách kiểm định tính dừng của chuỗi thời gian

Tính dừng của một chuỗi thời gian có thể xác định dựa trên đồ thị chuỗi thờigian, đồ thị hàm tự tương quan ACF, tự tương quan riêng phần PACF và kiểm địnhnghiệm đơn vị (kiểm định ADF)

 Dựa trên đồ thị chuỗi thời gian

Nếu đồ thị Y=f(t) của chuỗi thời gian cho thấy trung bình và phương sai củaquá trình Yt không đổi theo thời gian, thì chuỗi thời gian đó có thể có tính dừng.Ngược lại, nếu đường biểu diễn đồ thị không dao động quanh một đường trung bìnhhoặc dao động của nó không nằm trong giới hạn phương sai sai số cụ thể thì chuỗithời gian đó thường không có tính dừng Thường thì phương pháp kiểm định tínhdừng dựa trên đồ thị chuỗi thời gian chỉ giúp ta đưa ra phán đoán trực quan ban đầu

về tính dừng của chuỗi

 Dựa trên lược đồ tương quan

 Tự tương quan ACF(Autocorrelation function)

Hàm tự tương quan ACF là đồ thị biểu diễn các hệ số tự tương quan theo các

độ trễ khác nhau Hệ số tự tương quan ACF đo lường sự phụ thuộc tuyến tính giữacác cặp quan sát Xt và Xt+kvới độ trễ k, trung bình tổng thể , ký hiệu là đượcxác định như sau:

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 37

Tuy nhiên trên thực tế ta lại không có tổng thế mà chỉ có mẫu Khi đó, hệ số

tự tương quan mẫu có công thức sau:

∑Bartlett đã chỉ ra rằng nếu một chuỗi là ngẫu nhiên và dừng, thì các hệ số tựtương quan mẫu sẽ có phân phối xấp xỉ chuẩn với kỳ vọng toán bằng 0 và phươngsai 1/n, với n khá lớn ~ N(0, 1/n)

Kiểm định giả thiết: H0:ρk= 0 (chuỗi dừng)

 Tự tương quan mẫu PACF (Partial Autocorrelation function):

Hệ số này phản ánh tương quan của cặp quan sát Xt và Xt+k khi chịu ảnhhưởng của những biến khác Xt+1, Xt+2, …, Xt+k-1 Do đó, để đo độ kết hợp riêng rẽgiữa Yt và Yt-k ta sử dụng hàm tương quan mẫu PACF có độ trễ k, ký hiệu làđược ước lượng theo công thức của Durbin như sau:

Trang 38

Nếu chuỗi dừng thì các có phân phối chuẩn N(0,1/n) Do đó, kiểm địnhgiả thiết đối với tương tự như với

 Kiểm định Dickey-Fuller (kiểm định nghiệm đơn vị-Unit root test):

Phương pháp này được Dickey và Fuller phát hiện vào năm 1979 để kiểm tramột chuỗi thời gian có phải có tính dừng hay không, được sử dụng phổ biến hơnbiểu đồ tự tương quan

Xét mô hình Yt= Yt-1+ ut (với ut là nhiễu trắng)

Kiểm định giả thiết: H0: α = 1 (Ytlà chuỗi không có tính dừng)

H1: α < 1 (Ytlà chuỗi có tính dừng)Giá trị tới hạn τ được xác định dựa trên bảng tính sẵn của Mackinnon (1996).Giá trị tới hạn này cũng được tính sẵn khi kiểm định ADF bằng cách sử dụng phầnmềm Eviews

Để kiểm định giả thuyết H0, ta so sánh giá trị kiểm định τ tính toán với giá trị

τ tới hạn của Mackinnon ở các mức ý nghĩa, nếu trị tuyệt đối của giá trị tính toánlớn hơn trị tuyệt đối giá trị tới hạn ở các mức ý nghĩa, thì giả thuyết H0sẽ bị bác bỏ,tức chuỗi dữ liệu có tính dừng và ngược lại Hoặc cũng có thể dựa vào giá trị P–value của mô hình chạy ra, nếu P – value < 0.05 thì chấp nhận giả thuyết H1, tức làchuỗi dữ liệu có tính dừng

Ở bài nghiên cứu này, sử dụng kiểm định ADF để kiểm nghiệm tính dừngcủa chuỗi thời gian

c Hậu quả của chuỗi không dừng

Trong mô hình hồi quy cổ điển, ta giả định rằng sai số ngẫu nhiên có kỳ vọngbằng không, phương sai không đổi và chúng không tồn tại tự tương quan Với dữliệu là các chuỗi không dừng, các giả thiết này bị vi phạm, các kiểm định t, F mấthiệu lực hay nói cách khác ước lượng hay dự báo cho chuỗi thời gian đó sẽ khôngcòn chính xác

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 39

Điển hình là hiện tượng hồi quy giả mạo: nếu mô hình tồn tại ít nhất một biếnđộc lập có cùng xu thế với biến phụ thuộc, khi ước lượng mô hình ta có thể thuđược kết quả các hệ số có ý nghĩa thống kê và hệ số xác định R2 rất cao Nhưngđiều này có thể chỉ là hiện tượng giả mạo, bởi vì R2 cao có thể là do hai biến này cócùng xu thế chứ không phải do chúng tương quan chặt chẽ với nhau.

d Biến đổi chuỗi không dừng thành chuỗi dừng

Xét với mọi chuỗi thời gian nếu sai phân bậc I của Yt chưa dừng thì ta tiếptục lấy sai phân bậc II, III,… Các nghiên cứu đã chứng minh rằng luôn tồn tại mộtgiá trị d xác định để sai phân bậc d của Ytlà chuỗi dừng Khi đó Ytđược gọi là liênkết bậc d, ký hiệu là I(d)

Sai phân bậc d được lấy như sau:

 Sai phân bậc I của Yt: D(Yt) = Yt–Yt-1

 Sai phân bậc II: D(D(Yt)) = D2(Yt) = (Yt–Yt-1)–(Yt-1 –Yt-2) …

 Sai phân bậc d: D(Dd-1(Yt))

1.3.2.3 Kiểm định nhân quả hai biến Granger

Granger khẳng định mối quan hệ nhân quả của khả năng dự đoán trước rằng Xđược coi là nguyên nhân gây ra Y nếu Y được tiên đoán một cách chính xác hơnbằng cách tính biến số Y với các thông tin cho trước trong mô hình

Để kiểm định liệu có tồn tại mối quan hệ nhân quả Granger giữa 2 chuỗi thờigian Xtvà Yt Ta xây dựng phương trình sau:

Để xem các biến trễ của X có giải thích cho Y (X tác động nhân quả Grangerlên Y) và các biến trễ của Y có giải thích cho X (Y tác động nhân quả Granger lênX) hay không thì ta kiểm định giả thiết sau đây cho mỗi phương trình:

H0: = = ….= = 0Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 40

Để kiểm định giả thiết đồng thời này, ta sử dụng thống kê F và cách giảiquyết như sau: nếu giá trị thống kê F tính toán lớn hơn giá trị F tới hạn ở một mức ýnghĩa xác định hoặc P_value < thì kết luận: bác bỏ giả thiết Ho hay X tác động nhânquả Granger lên Y, và ngược lại.

Có bốn khả năng như sau:

 Nhân quả Granger 1 chiều từ X sang Y nếu các biến trễ của X tác động lên

Y, nhưng biến trễ của Y không tác động lên X

 Nhân quả Granger 1 chiều từ Y sang X nếu các biến trễ của Y có tác độnglên X, nhưng biến trễ của X không tác động lên Y

 Nhân quả Granger 2 chiều giữa X và Y nếu các biến trễ của X có tác độnglên Y và các biến trễ của Y tác động lên X

 Không có quan hệ nhân quả Granger giữa X và Y nếu các biến trễ của Xkhông tác động lên Y và các biến trễ của Y không tác động lên X

1.3.2.4 Hàm phản ứng đẩy (Impluse Response Function – IRF)

Các hệ số đơn lẻ trong các mô hình VAR ước lượng thường khó giải thích,những người áp dụng kỹ thuật ước lượng hàm phản ứng đẩy Hàm phản ứng đẩygiúp phát hiện phản ứng của biến phụ thuộc trong hệ VAR đối với các cú sốc của

các số hạng sai số, như u 1 và u 2 trong hai phương trình dưới Giả sử u 1 trongphương trình Y tăng lên với giá trị bằng một độ lệch chuẩn Một cú sốc hay thay đổinhư thế sẽ làm thay đổi Y trong giai đoạn hiện tại lẫn tương lai Nhưng do Y xuất

hiện trong hồi quy X, thay đổi giá trị u 1 cũng sẽ có tác động tới X Tương tự, thay

đổi giá trị của u 2 trong phương trình X đi một độ lệch chuẩn sẽ có tác động tới X.IRF phát hiện tác động của những cú sốc như vậy trong một vài thời đoạn tương lai.Trường Đại học Kinh tế Huế

Ngày đăng: 21/07/2018, 00:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w