ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGHIÊN CỨU NHỮNG THUỘC TÍNH CỦA NGÂN HÀNG QUYẾT ĐỊNH ĐẾN CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM TÍN DỤNG HỖ
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGHIÊN CỨU NHỮNG THUỘC TÍNH CỦA NGÂN HÀNG QUYẾT ĐỊNH ĐẾN CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM TÍN DỤNG
HỖ TRỢ SẢN XUẤT KINH DOANH CHO KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGHIÊN CỨU NHỮNG THUỘC TÍNH CỦA NGÂN HÀNG QUYẾT ĐỊNH ĐẾN CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM TÍN DỤNG
HỖ TRỢ SẢN XUẤT KINH DOANH CHO KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
– CHI NHÁNH HỘI AN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực tập cuối khóa là quá trình rất quan trọng và cần thiết cho mỗi sinh viênkinh tế Nó góp phần giúp sinh viên có điều kiện tiếp xúc với môi trường làm việc thực
tế, làm quen với nghiệp vụ nghề nghiệp, học hỏi và tiếp thu những kỹ năng cần thiết
để có thể tự tin và thích nghi tốt hơn với công việc trong tương lai Được sự phân côngsắp xếp của nhà trường và sự đồng ý của ban lãnh đạo khoa Tài chính Ngân hàng, tôiđược thực tập cuối khóa tại Ngân hàng TMCP Công Thương – Chi nhánh Hội Antrong thời gian từ ngày 02/01/2018 đến ngày 10/04/2018 Tuy thời gian không quá dàinhưng trong quá trình thực tập tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ và động viên
Lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu nhà trườngcùng toàn thể quý thầy cô giáo Trường Đại học Kinh tế Huế, những người đã dạy dỗ,
và truyền đạt những kiến thức bổ ích, quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập tạitrường Tôi xin cảm ơn quý thầy cô giáo khoa Tài chính – Ngân hàng, đặc biệt là thầyNguyễn Tiến Nhật là người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trìnhthực tập nghề nghiệp
Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn đến các anh chị, cô chú cán bộ công nhân viêntrong Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương – Chi nhánh Hội An đã tạo nhiềuđiều kiện giúp đỡ, hướng dẫn cho tôi trong suốt thời gian thực tập, cũng như đóng góp
ý kiến bổ ích cho tôi Nhờ đó, tôi đã học hỏi được rất nhiều kiến thức thực tế bổ ích đểhoàn thành đợt thực tập nghề nghiệp của mình cũng như tích lũy kỹ năng và vốn kiếnthức cho bản thân trong tương lai
Trong quá trình thực tập và làm báo cáo tôi đã nỗ lực và cố gắng hết sức đểhoàn thành mục tiêu và yêu cầu đề ra, xong do vốn kiến thức và kinh nghiệm thực tếcòn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự chỉbảo, đóng góp ý kiến của quý thầy cô giáo, để bài báo cáo của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Bùi Thị Thu Hiền
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
DANH MỤC HÌNH ẢNH vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
4.1 Thu thập dữ liệu thứ cấp 3
4.2 Thu thập dữ liệu sơ cấp 3
4.3 Phương pháp chọn mẫu 4
4.4 Phương pháp phân tích và xử lí dữ liệu 4
5 Kết cấu đề tài 4
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 5
1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại 5
1.1.2 Các nghiệp vụ của NHTM 6
1.2 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN 8
1.2.1 Hoạt động tín dụng của ngân hàng 8
1.2.2 Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân 11
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 51.3 TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM TÍN DỤNG VÀ NHỮNG
NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG 14
1.3.1 Quan điểm về chất lượng tín dụng 14
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngân hàng thương mại 15
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng 17
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
1.4.1 Khái quát về khai phá dữ liệu 25
1.4.2 Tổng quan về cây quyết định 27
1.4.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất 28
1.4.4 Thiết kế bảng hỏi 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG VÀ NHỮNG THUỘC TÍNH QUYẾT ĐỊNH ĐẾN CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM TÍN DỤNG HỖ TRỢ SẢN XUẤT KINH DOANH CHO KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN 31
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH HỘI AN 31
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Hội An 31
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của các phòng ban của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Hội An 32
2.1.3 Tổng quan đánh giá các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Hội An trong 3 năm 2015 – 2017 36
2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG SẢN XUẤT KINH DOANH CHO KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH HỘI AN 43
2.2.1 Tổng quan đánh giá hoạt động cho vay khách hàng cá nhân 43
2.2.2 Hoạt động tín dụng hỗ trợ sản xuất kinh doanh cho khách hàng cá nhân 47
2.3 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH CÁC THUỘC TÍNH QUYẾT ĐỊNH ĐẾN CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM TÍN DỤNG HỖ TRỢ SẢN XUẤT KINH DOANH CHO KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN 50
2.3.1 Dữ liệu điều tra 50
2.3.2 Kết quả xử lí số liệu bằng phần mềm Weka 57
2.3.3 Phân tích kết quả 62
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 6CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM TÍN DỤNG HỖ TRỢ SẢN XUẤT KINH DOANH CHO KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH
HỘI AN 65
3.1 Nhóm giải pháp về nhân sự 65
3.2 Nhóm giải pháp về chính sách tín dụng 66
3.3 Nhóm giải pháp về tổ chức và quy trình quản lý tín dụng 67
3.4 Nhóm giải pháp khác 68
3.4.1 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ 68
3.4.2 Đẩy mạnh hoạt động Marketing ngân hàng 69
3.5 Đề xuất kiến nghị với Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam 70
PHẦN III: KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC
BẢNG CÂU HỎI ĐIỀU TRA
KẾT QUẢ CHẠY MÔ HÌNH Ở VÙNG CLASSIFIER OUTPUT
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2-1 Tình hình huy động vốn tại Vietinbank Hội An giai đoạn 2015 – 2017 38
Bảng 2-2 Tình hình cho vay tại Vietinbank Hội An giai đoạn 2015 – 2017 40
Bảng 2-3 Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2015-2017 42
Bảng 2-4 Cơ cấu tín dụng phân khúc KHCN theo ngành kinh tế 44
Bảng 2-5 Cơ cấu cho vay SXKD theo mục đích sử dụng giai đoạn 2015 – 2017 49
Bảng 2-6 Cơ cấu cho vay SXKD theo phương thức cho vay 50
Bảng 2-7 Thống kê mô tả mẫu điều tra về nghề nghiệp 53
Bảng 2-8 Các nhân tố và thang đo trong nghiên cứu 54
Bảng 2-9 Dữ liệu mã hóa 55
Bảng 2-10 Kết quả Run information 58
Bảng 2-11 Kết quả phân lớp dữ liệu 58
Bảng 2-12 Tóm tắt kết quả kiểm tra mô hình 59
Bảng 2-13 Ma trận nhầm lẫn 60
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2-1 Số lượng KHCN vay vốn tại Vietinbank Hội An qua các năm 43
Biểu đồ 2-2 Cơ cấu cho vay SXKD theo thời hạn cho vay giai đoạn 2015 – 2017 47
Biểu đồ 2-4 Thống kê mô tả mẫu điều tra về giới tính 51
Biểu đồ 2-5 Thống kê mô tả mẫu điều tra về độ tuổi 52
Biểu đồ 2-6 Thống kê mô tả mẫu điều tra về trình độ học vấn 52
Biểu đồ 2-7 Thống kê mô tả mẫu điều tra về mức thu nhập 53
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 9DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1-1 Quá trình khai phá dữ liệu 26
Hình 1-2 Minh họa cây quyết định 27
Hình 2-1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Vietinbank Hội An 34
Hình 2-2 Giao diện làm việc của Weka 56
Hình 2-3 Phân lớp dữ liệu bằng Weka 57
Hình 2-4 Kết quả dưới dạng mô hình cây 61
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 11PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Với vai trò là chủ lực của nền kinh tế đất nước thì hệ thống ngân hàng thươngmại ngày càng có tầm quan trọng và có vị trí chủ chốt trong quá trình đổi mới cơ chếkinh tế, đóng góp to lớn vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cùngvới việc đất nước đang trên đà hội nhập với nền kinh tế thế giới, sự cạnh tranh giữacác ngân hàng thương mại trong nước và thế giới đang diễn ra gay gắt hơn Chính vìvậy các ngân hàng thương mại cần phải hoạch định chiến lược, hướng phát triển cụ thể
để gia tăng lợi nhuận, tạo dựng tên tuổi và uy tín cho chính mình
Ngoài việc cho vay doanh nghiệp thì những năm gần đây tín dụng cá nhân ngàycàng phát triển rộng rãi Hiện nay, hoạt động tín dụng cá nhân đã và đang được nhiềungân hàng chú trọng phát triển với các sản phẩm tiêu dùng và sản xuất kinh doanhngày càng đa dạng và phong phú Đây là hoạt động kinh doanh vừa gia tăng thu nhập,vừa giảm thiểu rủi ro, đáp ứng phần nhiều nhu cầu tín dụng cá nhân đang tăng lênnhanh chóng Nắm bắt được nhu cầu của thị trường, Ngân hàng Thương mại trong vàngoài nước đã và đang đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ tín dụng cá nhân và mở rộnghơn nữa hoạt động này trên mạng lưới của mình, Ngân hàng TMCP Công ThươngViệt Nam cũng không ngoại lệ Chính vì thế, việc nâng cao năng lực cạnh tranh tronghoạt động tín dụng cá nhân là vấn đề cốt yếu trong hoạt động quản trị và hoạt độngkinh doanh của ngân hàng
Với lợi thế là một thành phố du lịch – điểm đến yêu thích của nhiều du kháchtrên thế giới, năm 2017 vừa qua lượt khách tham quan đến Hội An đạt con số kỷ lục3,22 triệu lượt tăng gần 1 triệu lượt khách so với năm 2016 Do đó, thành phố Hội Anđang ngày càng được đầu tư nhiều hơn về các dịch vụ du lịch Tiền đề đó đã thúc đầy
số lượng lớn người dân trên địa bàn phát triển kinh doanh tự phát phục vụ du khách
Vì vậy, nhu cầu vay vốn sản xuất kinh doanh ngày một tăng cao Chính vì thế, hoạtđộng cho vay sản xuất kinh doanh đối với khách hàng cá nhân đang được các ngânhàng thương mại trên địa bàn thành phố chú trọng phát triển
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 12Trên cơ sở nhận thức tầm quan trọng cũng như sự cần thiết của việc nâng caonăng lực cạnh tranh trong hoạt động cho vay sản xuất kinh doanh đối với khách hàng
cá nhân tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Hội An, tôi đã
quyết định chọn đề tài: “Nghiên cứu những thuộc tính của ngân hàng quyết định
đến chất lượng sản phẩm tín dụng hỗ trợ sản xuất kinh doanh cho khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Vam – Chi nhánh Hội An” làm đề
tài khóa luận của mình Việc đánh giá, phân tích tiềm năng của sản phẩm tín dụng này
là cần thiết để ngân hàng đề ra được những chiến lược phát triển bền vững theo đề áncủa chính phủ và nâng cao vị thế thương mại của mình trên thị trường Việt Nam nóichung và địa bàn thành phố Hội An nói riêng
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Đề tài phân tích thực trạng hoạt động tín dụng, và những thuộc tính quyết địnhđến chất lượng sản phẩm tín dụng hỗ trợ sản xuất kinh doanh cho khách hàng cá nhân;dựa trên kết quả nghiên cứu để đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sảnphẩm tín dụng hỗ trợ sản xuất kinh doanh tại Ngân hàng TMCP Công Thương ViệtNam – Chi nhánh Hội An trong thời gian tới
- Dựa trên kết quả nghiên cứu đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sảnphẩm tín dụng hỗ trợ sản xuất kinh doanh đối với khách hàng cá nhân tạiNgân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Hội An
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 133 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Những thuộc tính quyết định đến chất lượng sản phẩm tín dụng hỗ trợ sản xuấtkinh doanh cho khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam –Chi nhánh Hội An
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Phạm vi thời gian
Đề tài thu thập số liệu về tình hình hoạt động tín dụng đối với khách hàng cánhân trong giai đoạn 2015 – 2017 Số liệu sơ cấp thu thập trong khoảng thời gian từtháng 02/2018 đến tháng 03/2018
3.2.2 Phạm vi không gian
Trụ sở Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Hội An
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Thu thập dữ liệu thứ cấp
Đề tài kế thừa kết quả của những đề tài nghiên cứu có nội dung liên quan, cùngvới nền tảng cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng sản phẩm tín dụng hỗ trợ sản xuấtkinh doanh cho khách hàng cá nhân để xác định các thuộc tính nghiên cứu và mô hìnhnghiên cứu phù hợp với đề tài
Thu thập số liệu thông qua báo cáo hoạt động của chi nhánh trong giai đoạn
2015 – 2017 và trao đổi trực tiếp với các nhân viên tín dụng để thu thập nhiều thôngtin về tình hình tín dụng trong thời gian qua, đặc biệt là về hoạt động cho vay sản xuấtkinh doanh đối với khách hàng cá nhân
4.2 Thu thập dữ liệu sơ cấp
Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát khách hàng tại Ngân hàngTMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Hội An trong tháng 03 năm 2018
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 144.3 Phương pháp chọn mẫu
Nghiên cứu tiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên, thuận tiện thông qua việc phátbảng hỏi khảo sát với các khách hàng giao dịch tại Ngân hàng TMCP Công ThươngViệt Nam – Chi nhánh Hội An
4.4 Phương pháp phân tích và xử lí dữ liệu
Dựa trên số liệu về hoạt động tín dụng tại chi nhánh, tiến hành thống kê và tổnghợp thành bảng biểu, từ đó phân tích, so sánh để làm rõ thực trạng phát triển hoạt độngcho vay sản xuất kinh doanh đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP CôngThương Việt Nam – Chi nhánh Hội An qua từng giai đoạn
Số liệu sơ cấp thu thập được tổng hợp bằng phần mềm Excel và tiến hành phânlớp dữ liệu tạo cây quyết định bằng phần mềm Weka
5 Kết cấu đề tài
Nội dung chính của đề tài gồm 3 chương là:
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng tình hình hoạt động và những thuộc tính quyết định đếnchất lượng sản phẩm tín dụng hỗ trợ sản xuất kinh doanh cho khách hàng cá nhân
Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm tín dụng hỗ trợ sảnxuất kinh doanh cho khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Công Thương ViệtNam – Chi nhánh Hội An
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 15PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại (NHTM) là định chế tài chính trung gian đóng vai tròquan trọng trong nền kinh tế thị trường Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thịtrường theo xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay, các NHTM không ngừng phát triểnhình thành mạng lưới rộng khắp toàn cầu, hoạt động ngân hàng có tính hệ thống cao,được xem như là một kênh chu chuyển vốn quan trọng và cung ứng dịch vụ tài chínhngày càng đa dạng và phong phú tác động đáng kể đến sự phát triển của nền kinh tế thịtrường
Theo Ngân hàng thế giới thì ngân hàng là tổ chức tài chính nhận tiền gửi chủ
yếu dưới dạng không kỳ hạn hoặc tiền gửi được rút ra với một thông báo ngắn hạn.
Dưới tiêu đề “các ngân hàng” gồm có: Ngân hàng thương mại (chỉ tham gia vào các hoạt động nhận tiền gửi, cho vay ngắn hạn, trung, dài hạn); Ngân hàng đầu tư (hoạt động buôn bán chứng khoán và bảo lãnh phát hành); Ngân hàng nhà ở (cung cấp tài
chính cho lĩnh vực phát triển nhà ở và nhiều loại ngân hàng khác nữa) Tại một số
nước còn có Ngân hàng tổng hợp, kết hợp hoạt động ngân hàng thương mại với hoạt
động ngân hàng đầu tư và đôi khi thực hiện cả dịch vụ bảo hiểm
Tại Việt Nam: Theo điều 4, luật các tổ chức tín dụng, ngày 16 tháng 06 năm
2010, Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả hoạt động
ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật các TCTD nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Như vậy, NHTM là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật, kinh
doanh trong lĩnh vực tiền tệ, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi dưới nhiều hình thức khác nhau và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán cho các chủ thể trong nền kinh tế, nhằm mục tiêu lợi nhuận 1
1
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 161.1.2 Các nghiệp vụ của NHTM
Hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt động kinh doanh tiền tệ và các hoạtđộng khác có liên quan, song NHTM chủ yếu hoạt động với các nghiệp vụ: nghiệp vụhuy động vốn, nghiệp vụ sử dụng vốn và nghiệp vụ trung gian khác Chúng có quan hệchặt chẽ với nhau, thúc đẩy và hỗ trợ cùng phát triển, xuyên suốt trong quá trình hoạtđộng kinh doanh của NHTM
1.1.2.1 Nghiệp vụ huy động vốn
Là nghiệp vụ cơ bản tạo tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng cũngnhư đối với xã hội Trong nghiệp vụ này NHTM được sử dụng những biện pháp vàcông cụ cần thiết mà luật pháp cho phép để huy động nguồn tiền tạm thời nhàn rỗitrong xã hội làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế Nghiệp vụ huyđộng vốn luôn được coi là nghiệp vụ khởi đầu tạo điều kiện cho sự hoạt động củaNHTM Ngoài vốn ban đầu - vốn pháp định theo luật thì ngân hàng phải chú trọng tớiviệc tăng trưởng vốn trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của mình Thôngthường kết cấu nguồn vốn của một NHTM gồm có: vốn chủ sở hữu, vốn huy động,vốn vay, vốn khác Mỗi loại vốn đều có một tính chất, vai trò riêng trong tổng nguồnvốn hoạt động của NHTM và trong suốt quá trình hoạt động của NHTM các nghiệp vụhuy động theo từng loại vốn kể trên sẽ được tiến hành xen kẽ lẫn nhau tuỳ thuộc vàoyêu cầu của hoạt động kinh doanh và thực trạng vốn hiện có của ngân hàng
1.1.2.2 Nghiệp vụ sử dụng vốn
Đây là nghiệp vụ phản ánh quá trình sử dụng vốn của NHTM vào các mục đíchkhác nhau nhằm đảm bảo an toàn kinh doanh cũng như tìm kiếm lợi nhuận Vốn củangân hàng thương mại được phân phối qua các nghiệp vụ sau:
Mua sắm tài sản cố định
NHTM sử dụng một phần vốn tự có để xây dựng trụ sở, văn phòng, hệ thốngkho quỹ mua sắm các phương tiện, máy móc, trang thiết bị phục vụ cho hoạt độngkinh doanh của ngân hàng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 17Thiết lập dự trữ
NHTM thiết lập dự trữ theo yêu cầu của ngân hàng trung ương nhằm duy trìkhả năng thanh khoản thường xuyên của NHTM Ngoài việc thiết lập dự trữ bắt buộctheo quy định của ngân hàng trung ương, các NHTM phải tính toán duy trì dự trữ vượtmức dưới các hình thức khác nhau chẳng hạn: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại các NHTMkhác hoặc chứng khoán có tính thanh khoản cao Việc tính toán xác định mức dự trữhợp lý sẽ giúp ngân hàng đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh toán cho khách hàng
Cấp tín dụng
Cấp tín dụng là nghiệp vụ phân phối nguồn vốn còn lại của ngân hàng sau khi thiếtlập dự trữ cho các chủ thể thiếu vốn trong nền kinh tế, nhằm điều tiết nguồn vốn cho nềnkinh tế, đồng thời mang lại nguồn thu nhập cho ngân hàng Tuy nhiên, đây cũng là nghiệp
vụ tiềm ẩn rủi ro, NHTM cần chú trọng công tác quản trị rủi ro đối với nghiệp vụ này.Nghiệp vụ cấp tín dụng tại các NHTM gồm: cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá, bảo lãnh,bao thanh toán, thấu chi tài khoản tiền gửi thanh toán, cho thuê tài chính
Hoạt động đầu tư
Để đa dạng hóa nguồn thu nhập cho NHTM đồng thời góp phần phân tán rủi rotrong hoạt động kinh doanh, NHTM còn sử dụng nguồn vốn để đầu tư vào các lĩnhvực khác Hoạt động đầu tư của NHTM thực hiện dưới hai hình thức:
- Hùn vốn, góp vốn liên doanh với các tổ chức tài chính khác, mua cổ phần củacác NHTM cổ phần hoặc các tổ chức kinh tế khác
- Đầu tư vào các loại giấy tờ có giá, các loại chứng khoán có tính thanh khoảncao trên thị trường tài chính
1.1.2.3 Nghiệp vụ trung gian
Ngoài nghiệp vụ huy động vốn và nghiệp vụ sử dụng vốn, để giúp các ngânhàng phát triển toàn diện và đem lại cho ngân hàng những khoản thu nhập khác quantrọng, NHTM còn tiến hành các nghiệp vụ trung gian gồm rất nhiều loại dịch vụ ngânhàng khác nhau để đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng qua đó làm tăng sự thoả mãncủa khách hàng đối với 2 loại nghiệp vụ cơ bản kể trên Các dịch vụ trung gian thườnggặp là: dịch vụ chuyển khoản, dịch vụ cung cấp các công cụ thanh toán, dịch vụ thu hộ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 18- chi hộ, dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ kiều hối - thu đổi ngoại tệ, dịch vụ thuê mua vàbảo lãnh, dịch vụ tư vấn tài chính…Vai trò của các nghiệp vụ trung gian này là bổsung thêm vào các nghiệp vụ cơ bản, nó tạo giá trị gia tăng và có thể tạo ra sự khácbiệt của ngân hàng trong cạnh tranh.
1.2 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN
1.2.1 Hoạt động tín dụng của ngân hàng
1.2.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ
thể, trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia được sử dụngtrong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được phải cam kết hoàn trả theo thờihạn đã thoả thuận.2
Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng với mộtbên là các chủ thể khác trong nền kinh tế, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa làngười đi vay vừa là người cho vay, hay nói cách khác, ngân hàng là một trung gian tàichính luân chuyển vốn từ nơi tạm thừa vốn sang nơi thiếu Giá (lãi suất) của khoản vay
do ngân hàng ấn định cho khách hàng vay là mức lợi tức mà khách hàng phải trả trongsuốt khoản thời gian tồn tại của khoản vay
Đứng trên góc độ NHTM, tín dụng là hình thức sử dụng vốn của ngân hàng
thông qua việc chuyển giao vốn tín dụng cho khách hàng dưới hình thức bằng tiền hoặc tài sản mà khách hàng cam kết hoản trả nợ và lãi đúng hạn.3
Chủ thể tham gia trong quan hệ TDNH là ngân hàng, nhà nước, doanh nghiệp
và hộ dân cư Đối tượng được sử dụng trong quan hệ tín dụng là tiền, do đó, nó khôngchịu sự giới hạn theo hàng hoá, vận động đa phương đa chiều Đây chính là ưu điểmnổi bật và là đặc điểm khác biệt giữa TDNH với các loại hình tín dụng khác
1.2.1.2 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng
Đặc điểm nổi bật của tín dụng là tính hoàn trả Để có thể cung ứng vốn tín dụngkịp thời, ngân hàng phải huy động vốn từ các khách hàng trong nền kinh tế; vì vậy
2Nguyễn Văn Tiến, Giáo trình tín dụng ngân hàng.
3
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 19việc thu hồi vốn tín dụng từ việc hoàn trả nợ vay là yêu cầu tất yếu của hoạt động tíndụng NHTM.
Khi chuyển giao vốn tín dụng, ngân hàng chỉ chuyển giao quyền sử dụng vốncho khách hàng chứ không chuyển giao quyền sở hữu vốn Khách hàng sử dụng vốntín dụng phải hoàn trả nợ gốc kèm theo lãi Tiền lãi phải trả chính là chi phí cho việc
sử dụng vốn tín dụng
Tín dụng là nghiệp vụ quan trọng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản có,mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho ngân hàng Tuy nhiên đồng hành với thu nhậpthì rủi ro càng cao, nên hoạt động cấp tín dụng của NHTM hầu hết các nước trên thếgiới đều phải có khung pháp lý và được ngân hàng trung ương kiểm soát chặt chẽ
Tín dụng của NHTM đáp ứng nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp và đáp ứngnhu cầu tiêu dùng của người dân, hoạt động của ngân hàng thâm nhập vào mọi lĩnhvực ngành nghề, nên đòi hỏi các sản phẩm tín dụng ngày càng phong phú và đa dạngđáp ứng ngày càng cao nhu cầu của khách hàng
Khi thực hiện nghiệp vụ tín dụng, các ngân hàng phải tuân thủ quy trình tíndụng, đồng thời mọi tác nghiệp của các hoạt động tín dụng cần phải được kiểm tra,giám sát chặt chẽ, nhằm đảm bảo khách hàng trả nợ và lãi đúng hạn, hạn chế đến mứcthấp nhất tình trạng nợ xấu
1.2.1.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng
Đối với nền kinh tế
TDNH là một công cụ đòn bẩy góp phần tăng trưởng kinh tế và điều tiết nềnkinh tế Nó là động lực góp phần hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướngcông nghiệp hóa, hiện đại hóa TDNH tạo điều kiện ứng dụng tiến bộ khoa học kỹthuật và đáp ứng vốn để góp phần đầu tư phát triển kinh tế, đồng thời thúc đẩy quátrình luân chuyển hàng hóa và lưu thông tiền tệ
Đối với khách hàng
TDNH góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.Bên cạnh đó, nó cũng thúc đẩy chế độ hạch toán kinh doanh, tăng cường quản lý tàichính, tăng tích lũy đối với doanh nghiệp Đồng thời, TDNH còn góp phần tài trợ choquá trình tái sản xuất, mở rộng và nâng cao tài sản cố định
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 20Đối với ngân hàng
TDNH là hoạt động cơ bản mang lại lợi nhuận cho bản thân các ngân hàng.TDNH tạo ra mối quan hệ gắn bó giữa ngân hàng và các chủ thể kinh tế, đồng thời tạonên uy tín, danh tiếng cho các ngân hàng thương mại Nợ cho vay làm tăng khả năngcạnh tranh và mở rộng quy mô hoạt động của ngân hàng thương mại
1.2.1.4 Phân loại tín dụng ngân hàng
Có rất nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng dựa vào các căn cứ khác nhautuỳ theo mục đích nghiên cứu Tuy nhiên người ta thường phân loại theo một số tiêuthức sau:
Phân loại theo mục đích
Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh: trong trường hợp này ngân hàng cung
cấp vốn vay cho khách hàng bao gồm cả cá nhân và doanh nghiệp để bổ sung vốn chohoạt động sản xuất kinh doanh, chẳng hạn như cho một khách hàng cá nhân vay vốn
để bổ sung vốn kinh doanh cửa hàng tạp hóa, cửa hàng thời trang, cho một công ty vayvốn, bổ sung vốn kinh doanh hoạt động xuất nhập khẩu…
Cho vay tiêu dùng: các cá nhân có nhu cầu mua sắm các vật dụng gia đình như
xe máy, vật dụng trang trí nội thất cho căn nhà mới, thông qua ngân hàng các cá nhân
sẽ được bổ sung vốn nhất định trong một thời hạn cụ thể kèm theo những điều kiệnvay vốn nhất định
Phân loại theo thời hạn cho vay
Thời hạn cho vay chia ra làm 3 loại như sau:
Cho vay ngắn hạn: Loại cho vay này có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng
để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắnhạn cá nhân
Cho vay trung hạn: theo quy định hiện nay của ngân hàng nhà nước Việt Nam,
cho vay trung hạn có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng Tín dụng trung hạn chủyếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 21công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có qui mô nhỏ và cóthời gian thu hồi vốn nhanh.
Cho vay dài hạn: khoảng vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên và
thời hạn tối đa có thể lên 20 – 30 năm, một số trường hợp cá biệt có thể lên đến 40năm Tín dụng dài hạn là loại tín dụng được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạnnhư xây dựng nhà ở, các thiết bị phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xínghiệp mới
Phân loại theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng.
Cho vay đảm bảo không bằng tài sản: là loại cho vay không có tài sản thế chấp,
cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bảnthân khách hàng Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khảnăng tài chính vững mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựavào uy tín của bản thân khách hàng mà không cần nguồn thu nợ thứ hai bổ sung
Cho vay đảm bảo bằng tài sản: là loại cho vay dựa trên cơ sở các đảm bảo như
thế chấp hoặc cầm cố, hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba
Phân loại theo xuất xứ tín dụng
Cho vay trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời
người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng
Cho vay gián tiếp: là loại cho vay được thực hiện thông qua mua lại các khế
ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời gian thanh toán
Các ngân hàng thương mại cho vay gián tiếp theo các hình thức sau: Chiết khấuthương mại (Discount), Nghiệp vụ bảo lãnh (Nghiệp vụ factoring)
1.2.2 Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân
1.2.2.1 Khái niệm
Cho vay khách hàng cá nhân là quan hệ cho vay mà Ngân hàng thương mạichuyển giao về vốn trong một thời gian nhất định từ Ngân hàng thương mại tới các cánhân, hộ gia đình, tổ hợp tác nhằm phục vụ mục đích tiêu dùng, đầu tư hay sản xuấtkinh doanh
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 221.2.2.2 Các hình thức cho vay khách hàng cá nhân
Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, các khoản vay khách hàng cá nhân baogồm hai hình thức: vay tiêu dùng và vay sản xuất kinh doanh
Vay tiêu dùng là các khoản vay đáp ứng nhu cầu chi tiêu của các cá nhân, hộ gia
đình như: xây dựng sửa chữa nhà, mua sắm vật dụng gia đình, mua xe cơ giới, du học,chữa bệnh, cưới hỏi…
Vay sản xuất kinh doanh là các khoản vay phục vụ mục đích bổ sung vốn sản
xuất kinh doanh, đầu tư của cá nhân, hộ gia đình gồm bổ sung vốn lưu động, mua sắmmáy móc thiết bị, đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư kinhdoanh chứng khoán, vàng…
Đối với cả hai hình thức cho vay trên, thời gian cho vay có thể là ngắn hạn (thờihạn cho vay dưới 12 tháng), trung hạn (thời hạn cho vay từ 12 tháng đến 60 tháng) vàdài hạn (thời hạn cho vay từ 60 tháng trở lên)
1.2.2.3 Phương thức cho vay khách hàng cá nhân
Có 3 phương thức cho vay khách hàng cá nhân phổ biến là:
Cho vay từng lần: Là phương thức cho vay mà mỗi lần vay vốn khách hàng và
ngân hàng làm các thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng
Cho vay trả góp: Khi vay vốn ngân hàng và khách hàng thoả thuận xác định số
lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trongthời gian cho vay
Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà ngân hàng thoả thuận bằng
văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền tự có trên tài khoản khách hàngphù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam về hoạtđộng thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
Riêng đối với các nhu cầu vay vốn bổ sung, vốn lưu động thường xuyên tronghoạt động sản xuất kinh doanh thì phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng(HMTD) được sử dụng khá phổ biến Theo phương thức này, Ngân hàng cùng khách
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 23hàng xác định và thoả thuận một mức dư nợ vay tối đa duy trì trong một khoảng thờigian nhất định.
1.2.2.4 Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân
Về đối tượng
Với đặc điểm đối tượng vay vốn là các cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác có nhucầu sử dụng vốn phục vụ mục đích tiêu dùng, đầu tư hay phục vụ hoạt động sản xuấtkinh doanh của cá nhân, hộ gia đình đó Khác với các doanh nghiệp và các tổ chứckinh tế, khách hàng cá nhân thường có số lượng rất lớn, nhu cầu vay vốn rất đa dạngsong không thường xuyên và chịu sự ảnh hưởng nhiều của môi trường kinh tế, văn hóa– xã hội Chính vì vậy, ở mỗi khu vực khác nhau, nhu cầu vay vốn của khách hàng cánhân cũng rất khác nhau
Thời gian vay vốn
Thời gian vay vốn của khách hàng cá nhân đa dạng, bao gồm các khoản vayngắn hạn, trung và dài hạn Đối với những khoản vay bổ sung vốn lưu động phục vụsản xuất kinh doanh thì thời hạn chủ yếu là vay ngắn hạn Còn đối với những khoảnvay phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình thì thời hạn vay thường làtrung và dài hạn
Quy mô vốn và số lượng các khoản vay
Thông thường thì các khoản cho vay khách hàng cá nhân có quy mô vốnthường nhỏ hơn cho vay đối tượng khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức kinh tế Tuynhiên, đối với các NHTM hoạt động theo định hướng là Ngân hàng bán lẻ thường có
số lượng các khoản vay khách hàng cá nhân chiếm tỉ trọng lớn
Chi phí cho vay
Chi phí mà NHTM bỏ ra đối với các khoản cho vay khách hàng cá nhân thườnglớn cả về chi phí nhân lực và công cụ Bởi đối tượng cho vay khách hàng là cá nhân códiễn biến phức tạp, số lượng các khoản vay là lớn, song quy mô mỗi khoản vay lạitương đối nhỏ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 24Lãi suất cho vay
Lãi suất cho vay của các khoản cho vay khách hàng cá nhân thường cao hơn sovới các khoản cho vay khách hàng là doanh nghiệp Nguyên nhân bởi vì chi phí chovay khách hàng cá nhân tính trên mỗi đơn vị đồng vốn cho vay là lớn, mức độ rủi rocủa khoản vay cao và kém nhạy bén với lãi suất
Rủi ro tín dụng
Các khoản cho vay khách hàng cá nhân bao giờ cũng tiềm ẩn rủi ro tín dụngcao Bởi đối tượng cho vay là các cá nhân, hộ gia đình có tình hình tài chính dễ thayđổi tùy theo tình trạng công việc và sức khỏe của họ Trong hoạt động sản xuất kinhdoanh, các cá nhân và hộ gia đình thường có trình độ quản lý yếu, thiếu kinh nghiệm,trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu do đó khả năng cạnh tranh trên thị trường kém Dovậy Ngân hàng sẽ phải đối mặt với rủi ro khi người vay bị thất nghiệp, gặp tai nạn, phásản Mặt khác việc thẩm định và quyết định cho vay khách hàng cá nhân thường khôngđầy đủ về thông tin cũng là một trong những lý do dẫn tới tình trạng rủi ro tín dụng đốivới các khoản cho vay khách hàng cá nhân
1.3 TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM TÍN DỤNG VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
1.3.1 Quan điểm về chất lượng tín dụng
Vận động trong cơ chế thị trường để có thể tồn tại, phát triển và dành ưu thếtrong cạnh tranh, thích ứng với thị trường và sự yêu cầu ngày càng cao của người tiêudùng, các DNNN luôn phải tiến hành đa dạng hoá các sản phẩm, dich vụ của mìnhnhằm thu hút được khách hàng Chính sách sản phẩm mà trong đó tập trung nhiều vàoviệc bảo đảm và nâng cao chất lượng sản phẩm là một biện pháp thiết thực, hữu hiệunhất cho hầu hết các doanh nghiệp hiện nay
Có thể nói, chất lượng của một sản phẩm hay một dịch vụ đều được biểu hiện ởmức độ thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng và lợi ích về mặt tài chính cho ngườicung cấp Theo cách đó, trong kinh doanh TDNH, chất lượng tín dụng được thể hiện ở
sự thoả mãn nhu cầu vay vốn của khách hàng, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xãhội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 25Với cách định nghĩa như vậy, ta thấy chất lượng tín dụng ở đây được đánh giátrên 3 góc độ: ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế.
Đối với ngân hàng thương mại: chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức
độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp khả năng thực lực của bản thân ngân hàng và đảmbảo được tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi
Đối với khách hàng: do nhu cầu vay vốn tín dụng của khách hàng là để đầu tưcho các hoạt động sản xuất kinh doanh nên chất lượng tín dụng được đánh giá theotính chất phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng với mức lãi suất và kỳ hạnhợp lý Thêm vào đó là thủ tục vay đơn giản, thuận lợi, thu hút được nhiều khách hàngnhưng vẫn bảo đảm nguyên tắc tín dụng
Đối với nền kinh tế: đối với sự phát triển kinh tế - xã hội chất lượng tín dụngđược đánh giá qua mức phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hoá, góp phần giải quyếtcông ăn việc làm, khai thác các khả năng trong nền kinh tế, thúc đẩy qua trình tích tụ
và tập trung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăngtrưởng kinh tế, hoà nhập với cộng đồng quốc tế
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngân hàng thương mại
1.3.2.1 Chỉ tiêu huy động vốn
Nguồn vốn huy động được chứng tỏ tiềm lực tài chính của Ngân hàng Mộtngân hàng được xem là có tiềm lực tài chính mạnh và tạo được niềm tin cho kháchhàng khi nó đáp ứng được nhu cầu vay của khách hàng và có đủ lượng tiền mà kháchhàng cần rút Để làm được điều này, ngân hàng phải có khả năng huy động đượcnguồn vốn thời hạn dài với chi phí thấp nhất có thể Khả năng huy động vốn của ngânhàng được thể hiện qua 2 chỉ tiêu
Tổng số vốn huy động được và tốc độ tăng của nguồn vốn này qua mỗi năm
Chỉ tiêu này thể hiện khả năng huy động vốn và tốc độ tăng trưởng của ngânhàng Hiện nay, ngân hàng nhà nước không quy định tỉ lệ lãi suất bắt buộc mà thaybằng lãi suất cơ bản và tỉ lệ dao động Chính vì vậy mà các ngân hàng thương mại cóthể điều chỉnh dễ dàng đầu vào và đầu ra của tín dụng bằng các chính sách lãi suất
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 26nhằm cân đối bảng cân đối tài sản của mình Nếu xét thấy số lượng khách hàng rút tiền
ra tăng hay nhu cầu vay vốn tăng trong hiện tại hay vay vốn trong tương lai, các ngânhàng sẽ thực hiện huy động vốn và đó là biểu hiện của mở rộng tín dụng và ngược lại
Cơ cấu của nguồn vốn huy động được
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng vay của ngân hàng với các đối tượng khác nhau
và đồng thời cũng thể hiện khả năng ổn định và cho vay của ngân hàng Nếu trong cơcấu nguồn vốn huy động được, vốn trung gian và dài hạn chiếm một tỉ trọng đáng kểthì ngân hàng có khả năng ổn định cao và có thể mở rộng đối tượng cho vay ra trung
và dài hạn
Một thực tế hiện nay ở hầu hết các ngân hàng là phẩn lớn tỉ lệ vốn huy độngđược chủ yếu là vốn ngắn hạn từ 6 đến 12 tháng Trong số này, các ngân hàng chỉđược trích một tỉ lệ nhỏ cho vay trung và dài hạn, còn chủ yếu là các khoản tín dụngngắn hạn Nếu ngân hàng cứ mở rộng cho vay trung và dài hạn, trong khi các khoảnvốn huy động ngắn hạn đến kỳ hạn thanh toán mà ngân hàng không đủ vốn để giảingân thì sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến uy tín của ngân hàng Qua đó ta có thể thấy ảnhhưởng của cơ cấu nguồn vốn đối với chất lượng tín dụng
1.3.2.2 Chỉ tiêu về sử dụng vốn
Số vốn sử dụng
× 100%
Số vốn huy độngChỉ tiêu này cho biết tỉ lệ số vốn được sử dụng trong tổng nguồn vốn đã huyđộng được Đối với các nguồn vốn huy động, ngân hàng phải trả lãi suất dù sau đó cócho vay lại hay sử dụng với mục đích khác hay không Tỉ lệ này càng lớn thì chứng tỏ
số vốn huy động được càng được sử dụng một cách có hiệu quả Điều ngược lại chứng
tỏ nguồn vốn đã huy động mà không được sử dụng chiếm tỉ lệ lớn, như vậy ngân hàng
sẽ bị thua lỗ
1.3.2.3 Chỉ tiêu dư nợ
Đây là chỉ tiêu đáng được quan tâm khi xem xét đến chất lượng tín dụng mộtngân hàng thương mại Qua chỉ tiêu này có thể nghiên cứu được biến động quy mô,khối lượng tín dụng, mức độ phát triển của nghiệp vụ, chứng tỏ mối quan hệ giữa ngân
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 27hàng và các khách hàng là đáng tin cậy và có hiệu quả, nhìn chung là khoản tín dụng
có chất lượng cao
1.3.2.4 Chỉ tiêu lợi nhuận
Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ nên mục tiêu lợi nhuận luôn đượcđặt lên hàng đầu Ngân hàng thu được lợi nhuận từ khoản chênh lệch giữa lãi suất đivay và lãi suất cho vay Chỉ tiêu này đặc biệt quan trọng với những ngân hàng chưaphát triển dịch vụ ngân hàng, nguồn thu từ hoạt động tín dụng là chủ yếu Tuy nhiên,đối với một số dự án theo kế hoạch của nhà nước thì chỉ tiêu này đôi khi không đầy đủ
để phản ánh chất lượng tín dụng
1.3.2.5 Chỉ tiêu quay vòng của vốn
Chỉ tiêu này được tính bằng tỉ số giữa số thu nợ và tổng dư nợ Chỉ tiêu này chobiết số tín dụng đã hoàn thành và được thu lại để tiếp tục cho vay Qua đó có thể thấyđược ngân hàng đã cho vay đúng đối tượng nên thu hồi được cả vốn lẫn lãi, không córủi ro, và quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng là tốt đẹp Số lợi nhuận thu được trênmỗi đồng vốn vay tăng tỉ lệ với số vòng quay của vốn
Trên đây là một số chỉ tiêu dùng để đánh giá chất lượng tín dụng ngân hàngthương mại Tuy nhiên, chất lượng tín dụng luôn phải xem xét, đánh giá, phân tích cả
về mặt định tính cũng như định lượng
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
Các chỉ tiêu được tổng hợp ở trên được dùng để đánh giá chất lượng tín dụng vềmặt định lượng Tuy nhiên, để có được những phương pháp hữu hiệu nhằm nâng caochất lượng tín dụng, ta cũng cần đánh giá các mặt định tính thông qua việc xem xét,phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến nó, qua đó khắc phục những mặt còn hạn chế.Bất kì một đối tượng nào tồn tại trong nền kinh tế đều bị tác động bởi các nhân tốthuộc môi trường kinh doanh Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng chủ yếuthuộc về 4 nhóm: môi trường kinh tế, môi trường pháp lý, ngân hàng, khách hàng.Dưới đây, ta sẽ xem xét ảnh hưởng của các nhân tố này với chất lượng tín dụng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 281.3.3.1 Ảnh hưởng của môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàngnói chung và chất lượng tín dụng nói riêng Một môi trường kinh tế hoàn chỉnh vàtrong sạch sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển đúng quỹ đạo Còn nếumôi trường ấy có nhiều bất cập và có nhiều biến động thì ngân hàng sẽ không cónguồn vốn huy động bởi khách hàng lo sợ rủi ro xảy ra Môi trường kinh tế như vậytạo điều kiện cho nhiều tật xấu của nền kinh tế được nảy nở và phát triển Các khoảntín dụng sẽ được đầu tư không đúng chỗ và đem lại rủi ro cho khách hàng, như vậychất lượng tín dụng bị ảnh hưởng
Ta xét ảnh hưởng của môi trường kinh tế đến hoạt động tín dụng trên hai khía cạnh:Thứ nhất, là chu kì kinh tế Một cách khái quát, nếu nền kinh tế trong giai đoạn ổnđịnh và phát triển thì nhu cầu đầu tư mở rộng sản xuất, nhu cầu tiêu dùng của người dân
và lượng tiền dự trữ, tiết kiệm đều tăng, do đó cả người cho vay và người đi vay đều sẵnsàng, hoạt động tín dụng được nâng cao Ngược lại, trong giai đoạn kinh tế suy thoái, cácdoanh nghiệp sẽ cảm thấy mạo hiểm khi mở rộng sản xuất bởi nhu cầu tiêu dùng củangười dân giảm, sức mua kém và hàng hóa sẽ bị tồn kho, lợi nhuận giảm hoặc thậm chídoanh nghiệp có thế bị phá sản bởi không duy trì được sản xuất và không trả được nợngân hàng Chính vì vậy, lúc nền kinh tế suy thoái, nguồn vốn huy động được của ngânhàng sử dụng không có hiệu quả, tức là chất lượng tín dụng cũng bị giảm
Thứ hai, là các biến động về lãi suất, tỉ giá trên thị trường nói chung và thịtrường tiền tệ nói riêng ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất ngân hàng Nếu ngân hàng phụthuộc vào lượng vốn huy động dưới dạng chứng chỉ tiền gửi mệnh giá lớn hoặc tiềnvay Chính phủ, giá vốn huy động của nó sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các điều kiệncủa thị trường tiền tệ Hơn nữa, thị trường tiền tệ sẽ xác định sự hấp dẫn của các dự ánđầu tư
1.3.3.2 Ảnh hưởng của môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý được hiểu là hệ thống luật và văn bản pháp luật có liênquan đến hoạt động của ngân hàng thương mại nói chung và hoạt động tín dụng nóiriêng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 29Hiện nay, hệ thống văn bản pháp luật chưa đồng bộ đã gây khó khăn cho ngânhàng và các khách hàng khi kí kết và tham gia các hoạt động tín dụng Đồng thời cũnggây ra nhiều vướng mắc trong quản lý và sử dụng các khoản tín dụng, xử lý tài sản thếchấp, phát mại… Ví dụ như quy định về thời hạn cho vay trong “Quy chế cho vay củacác tổ chức tín dụng với khách hàng” quy định cho vay ngắn hạn có thời hạn tối đa 12tháng nhưng trong luật ngân hàng thì quy định thời hạn cho vay trung hạn bắt đầu từ
12 tháng trở lên Điều này tạo nên sự thiếu nhất quán trong sự phân loại các chỉ tiêu dư
nợ cho vay theo thời hạn ở các tổ chức tín dụng và cũng gây khó khăn cho quản lý tíndụng của nhà nước, tạo kẽ hở cho những việc làm sai phạm
Sự thay đổi trong các chủ trương, chính sách của nhà nước cũng gây ảnh hưởngđến các khoản tín dụng, nhất là về cơ cấu kinh tế, các chính sách xuất nhập khẩu…Bởi nếu có sự thay đổi đột ngột ấy thì sẽ gây xáo trộn trong hoạt động sản xuất kinhdoanh, tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, hoặc chiến lược kinh doanh sẽ không cònphù hợp Nếu không kịp thời chuyển đổi, doanh nghiệp sẽ không sản xuất kinh doanhđược và không thể thanh toán được nợ, dẫn đến nợ quá hạn, nợ khó đòi của ngân hàngtăng lên
Đồng thời, sự quản lý của nhà nước đối với các doanh nghiệp còn nhiều sơ hở.Nhiều doanh nghiệp được sản xuất kinh doanh với nhiều chức năng, nhiều nhiệm vụ
và có thể vượt quá trình độ, năng lực quản lý làm cho quá trình thẩm định của ngânhàng khó khăn, nên mức rủi ro lớn, làm giảm sút chất lượng tín dụng
1.3.3.3 Ảnh hưởng từ phía ngân hàng
Chính sách tín dụng của ngân hàng
Chính sách tín dụng được hiểu là đường lối, chủ trương đảm bảo cho hoạt độngtín dụng đi đúng quỹ đạo, liên quan đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng Chínhsách tín dụng bao gồm: hạn mức tín dụng, kỳ hạn của các khoản vay, lãi suất cho vay
và mức lệ phí, các loại cho vay được thực hiện Các điều khoản của chính sách tíndụng được xây dựng dựa trên nhiều yếu tố khác nhau như các điều kiện kinh tế, chínhsách tiền tệ và tài chính của ngân hàng Nhà nước, khả năng về vốn của ngân hàng vànhu cầu tín dụng của khách hàng Khi các yếu tố này thay đổi, chính sách tín dụngcũng thay đổi theo Đối với mỗi khách hàng, ngân hàng có thể đưa ra các chính sách
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 30khác nhau cho phù hợp Ví dụ như với các khách hàng có uy tín với ngân hàng thìngân hàng có thể cho vay không có tài sản đảm bảo, có hạn mức cao hơn, lãi suất ưuđãi hơn; còn đối với các khách hàng khác, việc có tài sản đảm bảo là cần thiết.
Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút nhiều khách hàng, đảm bảo khảnăng sinh lời từ hoạt động tín dụng trên cơ sở hạn chế rủi ro, tuân thủ phương pháp,đường lối chính sách của Nhà nước và đảm bảo công bằng xã hội Điều đó cũng cónghĩa chất lượng tín dụng tuỳ thuộc vào việc xây dựng chính sách tín dụng của ngânhàng thương mại có đúng đắn hay không Bất cứ Ngân hàng nào muốn có chất lượngtín dụng tốt cũng đều phải có chính sách tín dụng khoa học, phù hợp với thực tế củangân hàng cũng như của thị trường
Công tác tổ chức của ngân hàng
Tổ chức của ngân hàng cần cụ thể hoá và sắp xếp có khoa học, có tính linh hoạttrên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc đã quy định Công tác tổ chức của ngân hàng quyđịnh quyền hạn và trách nhiệm từng khâu cũng như mối quan hệ giữa các bộ phậntrong công tác tín dụng
Ngân hàng được tổ chức một cách có khoa học sẽ đảm bảo được sự phối hợpchặt chẽ, nhịp nhàng giữa các phòng ban, giữa các ngân hàng với nhau trong toàn hệthống cũng như với các cơ quan liên quan khác Qua đó sẽ tạo điều kiện đáp ứng kịpthời các yêu cầu của khách hàng, quản lý có hiệu quả các khoản vốn tín dụng, phát hiện
và giải quyết kịp thời các khoản tín dụng có vấn đề, từ đó nâng cao chất lượng tín dụng
Chất lượng nhân sự
Chất lượng đội ngũ cán bộ ngân hàng là nhân tố quyết định đến sự thành bạitrong hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và trong hoạt động tín dụng nóiriêng Sở dĩ như vậy là vì cán bộ tín dụng là người tham gia trực tiếp vào mọi khâu củaquy trình tín dụng, từ bước đầu tiên đến bước cuối cùng Nghiệp vụ ngân hàng càngphát triển đòi hỏi chất lượng nhân sự ngày càng cao để có thể sử dụng những phươngtiện hiện đại, phù hợp với sự phát triển nghiệp vụ ngân hàng trong cơ chế thị trường.Việc lựa chọn nhân sự phải đảm bảo cả về đạo đức và nghiệp vụ chuyên môn Hai mặtnày phải gắn bó khăng khít với nhau, nhất là trong điều kiện hiện nay, các ngân hàng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 31đang bất cập về trình độ nên lực lượng cán bộ thì nhiều vẫn thiếu cán bộ chuyên môngiỏi, hơn nữa do hệ thống pháp luật còn chưa chặt chẽ, nên để đảm bảo chất lượng tíndụng, các ngân hàng phải chú trọng đến những cán bộ có phẩm chất đạo đức tốt.
Quy trình tín dụng
Quy trình tín dụng là tập hợp những nội dung, nghiệp vụ cơ bản, các bước tiếnhành trong quá trình cho vay, thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng Nó bao gồmcác bước bắt đầu từ khâu chuẩn bị cho vay, phát tiền vay, kiểm tra trong quá trình chovay cho đến khi thu hồi được nợ
Quy trình tín dụng của ngân hàng thương mại không mang tính cứng nhắc Đốivới mỗi khách hàng khác nhau, ngân hàng có thể chủ động, linh hoạt, thực hiện cácbước trong quy trình tín dụng cho phù hợp
và quản lý tài khoản cho vay Thông tin tín dụng có thể lấy được từ các nguồn sẵn có
từ ngân hàng, từ các nguồn của khách hàng, từ các cơ quan chuyên thông tin tín dụngtrong và ngoài nước, từ các bộ, các ngành chủ quản Số lượng và chất lượng thông tinthu nhận được có liên quan đến việc cho vay, theo dõi và quản lý tài khoản cho vay
Kiểm soát nội bộ
Đây là biện pháp giúp cho ban lãnh đạo ngân hàng có được các thông tin vềtình trạng kinh doanh nhằm duy trì có hiệu quả các hoạt động kinh doanh đang xúctiến, phù hợp với các chính sách, đáp ứng các mục tiêu đã định
Trong lĩnh vực tín dụng, hoạt động kiểm soát bao gồm: Kiểm soát chính sáchtín dụng và các thủ tục có liên quan đến các khoản vay và Kiểm tra định kỳ do kiểmsoát viên nội bộ thực hiện, báo cáo các trường hợp ngoại lệ, những vi phạm chínhsách, thủ tục, kiểm soát kế toán cả các nghiệp vụ cho vay Để kiểm soát nội bộ có hiệu
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 32quả, ngân hàng cần phải có cơ cấu tổ chức hợp lý, cán bộ kiểm tra phải giỏi nghiệp vụ,trung thực và có chính sách thưởng phạt nghiêm minh.
Trang thiết bị phục vụ hoạt động tín dụng
Để có thể quản lý và theo dõi có hiệu quả hoạt động tín dụng, ngân hàng còncần chú ý tới các phương tiện cần thiết phục vụ cho quá trình quản lý hoạt động tíndụng Trang bị đầy đủ trang thiết bị tiên tiến phù hợp với khả năng tài chính và phạm
vi, quy mô hoạt động của ngân hàng sẽ giúp cho ngân hàng phục vụ kịp thời yêu cầucủa khách hàng cũng như hỗ trợ cho các cấp quản lý của NHTM kịp thời nắm bắt tìnhhình hoạt động tín dụng để điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với tình hình thực tế nhằmthoả mãn ngày càng cao yêu cầu của khách hàng
Quản lý rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là khả năng có thể xảy ra khi một khách hàng không đáp ứngđựoc nghĩa vụ trả nợ theo những điều khoản đã thoả thuận và rủi ro là chủ yếu tronghoạt động kinh doanh của ngân hàng Rủi ro tín dụng có mối quan hệ chặt chẽ với chấtlượng tín dụng và tỷ lệ nghịch với chất lượng tín dụng bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tớiquá trình chu chuyển của vốn tín dụng, những vấn đề an toàn trong kinh doanh và từ
đó ảnh hưởng tới khả năng đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách hàng
Quản lý rủi ro tín dụng được thực hiện dựa trên cơ sở chính sách, thể lệnhcho vay và chế độ thông tin quản lý theo các tiêu chuẩn quản lý tín dụng Căn cứvào quá trình chu nhuyển vốn tín dụng, quản lý rủi ro tín dụng gồm 4 giai đoạn:quá trình thẩm định, giám sát khách hàng cho vay, thu hồi nợ, định lượng rủi rotrong quá trình cho vay
1.3.3.4 Ảnh hưởng từ phía khách hàng
Nhu cầu tín dụng của khách hàng
Nhu cầu tín dụng của khách hàng chủ yếu phụ thuộc vào tình hình chung củanền kinh tế và chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhìn chung, đối với cácdoanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp nhà nước cũng như doanh nghiệp tư nhân, đềuluôn có nhu cầu vay vốn để đổi mới công nghệ, cải tiến mặt hàng, mở rộng sản xuấtnhằm tăng cường tính cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 33Năng lực của khách hàng
Năng lực của khách hàng được hiểu là khả năng của người đi vay trong việcđáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn đối với từng loại hình tín dụng Điều kiện tín dụngđưa ra nhằm tiêu chuẩn hóa các đối tượng vay vốn, đồng thời để thuận tiện cho quátrình quản lý tín dụng và nhằm đảm bảo khả năng thu hồi vốn của ngân hàng Khảnăng này đáp ứng các điều kiện tín dụng thể hiện ở các mặt sau:
Thứ nhất, là năng lực sản xuất của khách hàng Trước hết, khách hàng vay vốnphải có tư cách pháp nhân và sau đó phải có khả năng thực hiện dự án nhằm đảm bảongân hàng có thể thu hồi cả vốn lẫn lãi Năng lực sản xuất thể hiện ở giá trị, máy mócthiết bị sẵn có, cụ thể là ở quá trình sản xuất sản phẩm, công nghệ sản xuất… vốn có.Nghiên cứu năng lực sản xuất, ngân hàng có thể xác định được nội dung hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như quy mô và tính chất của hoạt động sảnxuất kinh doanh đó Ngoài ra, năng lực sản xuất còn thể hiện ở trình độ người quản lý
và bộ máy thừa hành Tất cả những điều đó tạo nên khả năng tìm kiếm lợi nhuận Để
có được một khoản tín dụng chất lượng tốt đòi hỏi khách hàng phải sản xuất ổn định,kinh doanh có lãi, có trình độ sản xuất và quản lý đảm bảo cho dự án tín dụng
Thứ hai, là năng lực thị trường của sản phẩm Năng lực thị trường của sản phẩmthể hiên ở các mặt như khối lượng sản phẩm tiêu thụ, chất lượng sản phẩm, số lượngkhách hàng quen biết, sản lượng tiềm năng, vị thế của sản phẩm trên thị trường Đồngthời cũng thể hiện ở quá trình phát triển và mở rộng sản xuất của doanh nghiệp, hệthống mạng lưới tiêu thụ và các bạn hàng có uy tín Năng lực thị trường được lượnghóa qua sự gia tăng của doanh số tiêu thụ sản phẩm, từ đó cho biết được tính khả thihay không của dự án đầu tư tín dụng
Thứ ba, là năng lực tài chính của khách hàng Tình hình tài chính của kháchhàng là một bộ phận quan trọng cần phân tích khi ra quyết định tín dụng Ngân hàngcần xem xét đến các khía cạnh căn bản: chất lượng tài sản có, bản chất các khoản nợ,vốn tự có và khả năng tự chủ về tài chính Dấu hiệu tốt nhất cho việc đảm bảo về chấtlượng một khoản tín dụng là một doanh nghiệp có quá trình đào tạo lợi nhuận ổn định
Tỉ lệ số vốn dành cho sản xuất kinh doanh để tạo thu nhập trong tổng số tài sản cócàng cao càng tốt, sự đánh giá của ngân hàng phải là thực tế, ngoài ra phải đánh giá
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 34đến tổng số nợ và mối quan hệ của nó với tài sản có Việc phụ thuộc nặng nề vào tíndụng hay tài trợ chứng tỏ khả năng tài chính của doanh nghiệp là không cao và sẽkhông phải là khách hàng lý tưởng đối với những khoản tín dụng chất lượng cao.
Thứ tư, là năng lực quản lý của doanh nghiệp Yêu cầu đặt ra là phải có một hệthống hạch toán kế toán và quản lý tài chính một cách thống nhất và phù hợp với quyđịnh Ngoài ra, phải xem xét và nắm vững cơ cấu quản lý của doanh nghiệp cũng nhưkhả năng thích ứng của nó với những biến đổi từ thị trường bởi điều đó sẽ đảm bảocho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, hoàn trả được cả vốn lẫn lãi cho ngân hàng,đem lại kết quả chất lượng cao cho khoản tín dụng
Tình hình cầm cố, thế chấp tài sản
Ở đây, ta xét đến tình hình cầm cố, thế chấp tài sản của doanh nghiệp cũng nhưcủa người bảo lãnh Đây là vấn đề quyết định để đảm bảo khoản cho vay ngân hàng.Doanh nghiệp phải có chứng nhận về quyền sở hữu với tài sản gắn liền với năng lựcpháp luật của doanh nghiệp và khả năng sử dụng tài sản đó để thực hiện các biện pháptín dụng Quyền sở hữu và giá trị của tài sản phải được đảm bảo cho đến kỳ đáo hạncủa khoản tín dụng, đồng thời phải có tính lỏng cao Đối với người bảo lãnh, ngoài yêucầu về tư cách pháp nhân cũng phải có tài sản thế chấp và quyền sở hữu với tài sảnnhư người đối với người đi vay Đặc biệt đối với những khoản thế chấp, cầm cốthường được điều chỉnh thấp xuống, vì giá trị bán được và số tiền ròng thu được từ tàisản thế chấp thường ít hơn khi một khoản vay nợ trở thành một vụ thu hồi nợ Điềunày cũng nhằm đảm bảo an toàn cho số vốn tín dụng mà ngân hàng bỏ ra
Tư cách đạo đức của khách hàng
Phẩm chất đầu tiên đòi hỏi ở người đi vay tiền, ở đây là các khách hàng, là phảihoàn toàn trung thực Khi ngân hàng nghi ngờ về tư cách đạo đức hoặc ý định củangười đi vay thì ngân hàng không nên tiến hành cho vay nhằm đảm bảo an toàn tíndụng Chính vì vậy, đối với mỗi khách hàng, ngân hàng thường có biện pháp kiểm tra
tư cách khách hàng Những lừa dối đạo đức thường xảy ra bởi những hành vi sau củangười đi vay: tạo ra những chứng cứ giả để có thể vay được tiền, cố tình chiếm đoạtphần vốn từ những người cho vay, hay những người vay vốn sử dụng vốn vay không
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 35đúng mục đích… Trong thực tế, nhất là khi có nhiều hình thức tín dụng như hiện nay,thì chất lượng tín dụng phụ thuộc rất lớn vào đạo đức khách hàng.
Với điều kiện nền kinh tế thị trường mới phát triển, chưa hoàn chỉnh về mọimặt cũng như tình trạng thành lập ồ ạt các công ty tư nhân hiện nay, vấn đề quản lý tíndụng đặt ra cho ngân hàng là rất khó khăn Trong khi chờ đợi có một cơ chế pháp lýhoàn thiện, nghiêm ngặt hơn, chất lượng tín dụng chỉ được đảm bảo khi ngân hàng lựachọn đúng những khách hàng có năng lực và tư cách đạo đức tốt, tức là khách hàngphải có đủ những thông tin chính xác để tránh được sự lựa chọn đối nghịch và nhữngrủi ro về đạo đức
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.4.1 Khái quát về khai phá dữ liệu
Trong cuộc sống ngày càng hiện đại, lượng thông tin mà con người thu thậpđược ngày càng trở nên khổng lồ Theo quá trình phát triển của xã hội, kiến thức ngàycàng được mở rộng, các dữ liệu trong thời đại công nghệ liên tục được số hóa và kếtnối với nhau Không thể phủ nhận sự cần thiết và quan trọng của dữ liệu trong việcphát triển cuộc sống của con người Tuy nhiên, sự bùng nổ dữ liệu khiến con ngườigặp khó khăn trong quá trình tìm hiểu, phân loại, lựa chọn, khai thác và sử dụngchúng Để hỗ trợ những quá trình này, kỹ thuật Khai phá dữ liệu (Data Mining) ra đời
Khai phá dữ liệu (KPDL) là một khái niệm ra đời vào cuối những năm 80 củathế kỉ XX Nó bao hàm một loạt các kỹ thuật nhằm phát hiện ra các thông tin có giá trị
tiềm ẩn trong một tập dữ liệu lớn (các kho dữ liệu) Về bản chất, KPDL liên quan đến
việc phân tích các dữ liệu và sử dụng các kỹ thuật để tìm ra các mẫu hình có tính chính quy trong tập dữ liệu.4
Một cách tổng quát thì KPDL là một tiến trình sử dụng các công cụ phân tích
dữ liệu khác nhau để khám phá ra các mẫu dưới nhiều góc độ khác nhau nhằm phát hiện ra các mối quan hệ giữa các dữ kiện, đối tượng bên trong cơ sở dữ liệu (CSDL), kết quả của việc khai phá là xác định các mẫu, các mô hình đang tồn tại bên trong,
4
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 36nhưng chúng lẫn khuất trong các CSDL Để từ đó rút trích ra các mẫu, các mô hình hay các thông tin và tri thức tồn tại bên trong các CSDL 5
Quá trình xử lý KPDL bắt đầu bằng cách xác định chính xác vấn đề cần giảiquyết Sau đó xác định các dữ liệu có liên quan dùng để xây dựng giải pháp Bước tiếptheo là thu thập các dữ liệu có liên quan và xử lí chúng thành dạng mà các giải thuậtKPDL có thể hiểu được Tiếp theo là lựa chọn thuật toán KPDL thích hợp và thực hiệnKPDL để tìm được các mẫu
Hình 1-1 Quá trình khai phá dữ liệu
Hiện nay, kỹ thuật KPDL phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức như: Luật kếthợp, Dự báo, Sự phân loại, Các mẫu tuần tự, Các cây quyết định, Các tổ hợp…
Với tầm quan trọng của dữ liệu và thông tin trong xã hội hiện đại, kỹ thuậtKPDL ngày càng được ứng dụng rộng rãi ở nhiều lĩnh vực như: Sinh học, Thương mạiđiện tử, Thiên văn học, Quảng cáo, Marketing, Quản lý quan hệ khách hàng, Viễnthông, Thể thao, Đầu tư… Một số nghiên cứu dựa trên kỹ thuật KPDL đã được tiếnhành có thể kể đến là: Phân tích tình hình tài chính của một công ty dựa trên báo cáotài chính, Dựa vào dữ liệu thị trường chứng khoán để dự đoán giá cổ phiếu, Phân tíchcác cuộc điện thoại để dự đoán hành vi của khách hàng, Phân tích mặt hàng để dựđoán nhu cầu người dùng đưa ra hướng phát triển đúng cho sản xuất
5 Usama Fayyad, Gregory Piatetsky-Shapiro, and Padhraic Smyth; From data mining to knowledge
nhưng chúng lẫn khuất trong các CSDL Để từ đó rút trích ra các mẫu, các mô hình hay các thông tin và tri thức tồn tại bên trong các CSDL 5
Quá trình xử lý KPDL bắt đầu bằng cách xác định chính xác vấn đề cần giảiquyết Sau đó xác định các dữ liệu có liên quan dùng để xây dựng giải pháp Bước tiếptheo là thu thập các dữ liệu có liên quan và xử lí chúng thành dạng mà các giải thuậtKPDL có thể hiểu được Tiếp theo là lựa chọn thuật toán KPDL thích hợp và thực hiệnKPDL để tìm được các mẫu
Hình 1-1 Quá trình khai phá dữ liệu
Hiện nay, kỹ thuật KPDL phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức như: Luật kếthợp, Dự báo, Sự phân loại, Các mẫu tuần tự, Các cây quyết định, Các tổ hợp…
Với tầm quan trọng của dữ liệu và thông tin trong xã hội hiện đại, kỹ thuậtKPDL ngày càng được ứng dụng rộng rãi ở nhiều lĩnh vực như: Sinh học, Thương mạiđiện tử, Thiên văn học, Quảng cáo, Marketing, Quản lý quan hệ khách hàng, Viễnthông, Thể thao, Đầu tư… Một số nghiên cứu dựa trên kỹ thuật KPDL đã được tiếnhành có thể kể đến là: Phân tích tình hình tài chính của một công ty dựa trên báo cáotài chính, Dựa vào dữ liệu thị trường chứng khoán để dự đoán giá cổ phiếu, Phân tíchcác cuộc điện thoại để dự đoán hành vi của khách hàng, Phân tích mặt hàng để dựđoán nhu cầu người dùng đưa ra hướng phát triển đúng cho sản xuất
5 Usama Fayyad, Gregory Piatetsky-Shapiro, and Padhraic Smyth; From data mining to knowledge
nhưng chúng lẫn khuất trong các CSDL Để từ đó rút trích ra các mẫu, các mô hình hay các thông tin và tri thức tồn tại bên trong các CSDL 5
Quá trình xử lý KPDL bắt đầu bằng cách xác định chính xác vấn đề cần giảiquyết Sau đó xác định các dữ liệu có liên quan dùng để xây dựng giải pháp Bước tiếptheo là thu thập các dữ liệu có liên quan và xử lí chúng thành dạng mà các giải thuậtKPDL có thể hiểu được Tiếp theo là lựa chọn thuật toán KPDL thích hợp và thực hiệnKPDL để tìm được các mẫu
Hình 1-1 Quá trình khai phá dữ liệu
Hiện nay, kỹ thuật KPDL phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức như: Luật kếthợp, Dự báo, Sự phân loại, Các mẫu tuần tự, Các cây quyết định, Các tổ hợp…
Với tầm quan trọng của dữ liệu và thông tin trong xã hội hiện đại, kỹ thuậtKPDL ngày càng được ứng dụng rộng rãi ở nhiều lĩnh vực như: Sinh học, Thương mạiđiện tử, Thiên văn học, Quảng cáo, Marketing, Quản lý quan hệ khách hàng, Viễnthông, Thể thao, Đầu tư… Một số nghiên cứu dựa trên kỹ thuật KPDL đã được tiếnhành có thể kể đến là: Phân tích tình hình tài chính của một công ty dựa trên báo cáotài chính, Dựa vào dữ liệu thị trường chứng khoán để dự đoán giá cổ phiếu, Phân tíchcác cuộc điện thoại để dự đoán hành vi của khách hàng, Phân tích mặt hàng để dựđoán nhu cầu người dùng đưa ra hướng phát triển đúng cho sản xuất
5 Usama Fayyad, Gregory Piatetsky-Shapiro, and Padhraic Smyth; From data mining to knowledgeTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 371.4.2 Tổng quan về cây quyết định
1.4.2.1 Khái niệm
Cây quyết định (Decision Tree) là một trong những kĩ thuật thường dùng trongkhai phá dữ liệu Cây quyết định là cấu trúc biểu diễn dưới dạng cây với hình thức trựcquan và dễ hiểu Cấu trúc của cây quyết định bao gồm các nút và các nhánh Trong đó,mỗi nút trong (internal node) biểu diễn một thuộc tính, nhánh (branch) biểu diễn giá trị
có thể có của thuộc tính, mỗi nút lá (leaf node) biểu diễn các lớp quyết định và đỉnhtrên cùng của cây gọi là gốc (root) Cây quyết định được dùng để phân lớp bằng cáchxuất phát từ gốc của cây và di chuyển theo các nhánh cho đến khi gặp được nút lá.Trên cơ sở phân lớp này ta có thể chuyển đổi về các luật quyết định, thường là các luật
If – Then
Một cây quyết định có thể được tạo thành bằng cách chia tập hợp nguồn thànhcác tập con dựa theo một kiểm tra giá trị thuộc tính Quá trình này được lặp lại mộtcách đệ quy cho mỗi tập con dẫn xuất Quá trình đệ quy hoàn thành khi không thể tiếptục thực hiện việc chia tách được nữa, hay khi một phân loại đơn có thể áp dụng chotừng phần tử của tập con dẫn xuất
Dữ liệu tạo thành cây quyết định được cho dưới dạng các bản ghi có dạng:
(x, y) = (x1, x2, x3 , xk, y)
Biến phụ thuộc (dependant variable) y là biến mà chúng ta cần tìm hiểu, phânloại hay tổng quát hóa x1, x2, x3 là các biến sẽ giúp ta thực hiện công việc đó
Hình 1-2 Minh họa cây quyết định
1.4.2 Tổng quan về cây quyết định
1.4.2.1 Khái niệm
Cây quyết định (Decision Tree) là một trong những kĩ thuật thường dùng trongkhai phá dữ liệu Cây quyết định là cấu trúc biểu diễn dưới dạng cây với hình thức trựcquan và dễ hiểu Cấu trúc của cây quyết định bao gồm các nút và các nhánh Trong đó,mỗi nút trong (internal node) biểu diễn một thuộc tính, nhánh (branch) biểu diễn giá trị
có thể có của thuộc tính, mỗi nút lá (leaf node) biểu diễn các lớp quyết định và đỉnhtrên cùng của cây gọi là gốc (root) Cây quyết định được dùng để phân lớp bằng cáchxuất phát từ gốc của cây và di chuyển theo các nhánh cho đến khi gặp được nút lá.Trên cơ sở phân lớp này ta có thể chuyển đổi về các luật quyết định, thường là các luật
If – Then
Một cây quyết định có thể được tạo thành bằng cách chia tập hợp nguồn thànhcác tập con dựa theo một kiểm tra giá trị thuộc tính Quá trình này được lặp lại mộtcách đệ quy cho mỗi tập con dẫn xuất Quá trình đệ quy hoàn thành khi không thể tiếptục thực hiện việc chia tách được nữa, hay khi một phân loại đơn có thể áp dụng chotừng phần tử của tập con dẫn xuất
Dữ liệu tạo thành cây quyết định được cho dưới dạng các bản ghi có dạng:
(x, y) = (x1, x2, x3 , xk, y)
Biến phụ thuộc (dependant variable) y là biến mà chúng ta cần tìm hiểu, phânloại hay tổng quát hóa x1, x2, x3 là các biến sẽ giúp ta thực hiện công việc đó
Hình 1-2 Minh họa cây quyết định
1.4.2 Tổng quan về cây quyết định
1.4.2.1 Khái niệm
Cây quyết định (Decision Tree) là một trong những kĩ thuật thường dùng trongkhai phá dữ liệu Cây quyết định là cấu trúc biểu diễn dưới dạng cây với hình thức trựcquan và dễ hiểu Cấu trúc của cây quyết định bao gồm các nút và các nhánh Trong đó,mỗi nút trong (internal node) biểu diễn một thuộc tính, nhánh (branch) biểu diễn giá trị
có thể có của thuộc tính, mỗi nút lá (leaf node) biểu diễn các lớp quyết định và đỉnhtrên cùng của cây gọi là gốc (root) Cây quyết định được dùng để phân lớp bằng cáchxuất phát từ gốc của cây và di chuyển theo các nhánh cho đến khi gặp được nút lá.Trên cơ sở phân lớp này ta có thể chuyển đổi về các luật quyết định, thường là các luật
If – Then
Một cây quyết định có thể được tạo thành bằng cách chia tập hợp nguồn thànhcác tập con dựa theo một kiểm tra giá trị thuộc tính Quá trình này được lặp lại mộtcách đệ quy cho mỗi tập con dẫn xuất Quá trình đệ quy hoàn thành khi không thể tiếptục thực hiện việc chia tách được nữa, hay khi một phân loại đơn có thể áp dụng chotừng phần tử của tập con dẫn xuất
Dữ liệu tạo thành cây quyết định được cho dưới dạng các bản ghi có dạng:
(x, y) = (x1, x2, x3 , xk, y)
Biến phụ thuộc (dependant variable) y là biến mà chúng ta cần tìm hiểu, phânloại hay tổng quát hóa x1, x2, x3 là các biến sẽ giúp ta thực hiện công việc đó
Hình 1-2 Minh họa cây quyết định
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 38Cây quyết định trong khai phá dữ liệu được ứng dụng chủ yếu để phân lớp dữliệu và từ đó tìm ra các luật Từ các luật này, người nghiên cứu có thể sử dụng để hỗtrợ cho việc ra quyết định, phân bổ tài nguyên, dự đoán…
1.4.2.2 Ưu điểm của phương pháp cây quyết định
So với các phương pháp khai phá dữ liệu khác, cây quyết định có một số ưuđiểm như sau:
- Cây quyết định là một mô hình trực quan và dễ hiểu Việc biểu đạt tri thứcdưới dạng cây có thể được diễn đạt dễ dàng Người ta có thể hiểu cây quyếtđịnh sau khi được giải thích ngắn
- Cây quyết định có thể xử lí các dữ liệu có giá trị bằng số và cả những giá trịbằng tên thể loại, trong khi các kỹ thuật khác thường chuyên để phân tích các
bộ dữ liệu chỉ gồm một loại biến
- Việc xây dựng cây quyết định không đòi hỏi bất cứ kiến thức chuyên ngànhhay tham số ban đầu nào cả
- Cây quyết định có thể quản lí dữ liệu có số chiều lớn Cây quyết định có thể xử
lý tốt một lượng dữ liệu lớn trong thời gian ngắn
1.4.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Với sự phát triển không ngừng của ngành du lịch tại Hội An, cơ hội kinh doanhnhỏ lẻ mở ra ngày càng nhiều cho người dân tại đây Theo đó lượng khách hàng cánhân sử dụng sản phẩm tín dụng hỗ trợ sản xuất kinh doanh ngày càng nhiều, mở ramảng sản phẩm tiềm năng cho các ngân hàng Tuy nhiên, sức hấp dẫn càng cao thìcạnh tranh càng lớn Với số lượng các ngân hàng hiện tại ở Hội An, thì mỗi một sảnphẩm của ngân hàng đều sẽ vấp phải sự cạnh tranh gay gắt Trong môi trường kháchhàng có hạn, mà nhà cung cấp thì nhiều, các khách hàng có quyền chọn lựa sản phẩmcủa ngân hàng nào làm thỏa mãn mình tốt nhất Điều này đặt ra yêu cầu các ngân hàngphải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm làm hài lòng và giữ chânkhách hàng Tuy nhiên, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, mànguồn lực của ngân hàng là có hạn, vậy ngân hàng phải tập trung vào những yếu tốnào để có thể nâng cao chất lượng sản phẩm tín dụng và tránh lãng phí nguồn lực?
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 39Để giải quyết câu hỏi này, nghiên cứu đã đề ra phương án sử dụng mô hình câyquyết định, tiến hành phân lớp dữ liệu là các đánh giá của khách hàng cá nhân khi sửdụng sản phẩm tín dụng hỗ trợ sản xuất kinh doanh của Ngân hàng TMCP CôngThương Việt Nam – Chi nhánh Hội An Từ kết quả thu được tìm ra các quy luật để xácđịnh các yếu tố nào ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng sảnphẩm.
Theo tìm hiểu của tác giả về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩmtín dụng đã được đề cập ở mục 1.3.3 thì có 4 nhóm yếu tố tác động đến chất lượng sảnphẩm tín dụng Trong đó 2 nhóm nhân tố về môi trường kinh tế và môi trường pháp lýthuộc về các yếu tố vĩ mô mà ngân hàng chỉ có thể thích nghi chứ không thể thay đổi.Còn lại các nhóm yếu tố về ngân hàng và khách hàng Nghiên cứu nhằm khảo sát thái
độ của khách hàng cá nhân đối với sản phẩm, vì vậy tác giả đề xuất khảo sát kháchhàng với các yếu tố về ngân hàng để phản ánh đánh giá của họ về sản phẩm mà ngânhàng cung cấp
Theo đó, nhóm yếu tố về ngân hàng bao gồm 8 yếu tố là: chính sách tín dụngcủa ngân hàng, công tác tổ chức của ngân hàng, chất lượng nhân sự, quy trình tíndụng, kiểm soát nội bộ, trang thiết bị phục vụ hoạt động tín dụng, quản lý rủi ro tíndụng và hệ thống thông tin tín dụng Qua quá trình tìm hiểu từ hoạt động thực tế tạingân hàng, tác giả nhận thấy các yếu tố về kiểm soát nội bộ, hệ thống thông tin tíndụng và quản lý rủi ro tín dụng chỉ được đánh giá trong nội bộ ngân hàng chứ khôngcông khai cho khách hàng biết Vì vậy, đề tài xây dựng mô hình với 5 yếu tố về ngânhàng mà khách hàng có thể đánh giá Các mức đánh giá đưa vào khảo sát do tác giả đề
ra dưới tiền đề tham khảo một số nghiên cứu nhằm xây dựng cây quyết định, cũng nhưtham khảo từ nhân viên ngân hàng và phỏng vấn sơ bộ với khách hàng Cụ thể:
- Tiêu chí Chính sách tín dụng được đánh giá bằng các điểm “Gây ấn tượng”;
“Giống các ngân hàng khác” và “Không thu hút”
- Tiêu chí Công tác tổ chức của ngân hàng được đánh giá bằng các điểm “Phối
Trang 40- Tiêu chí Chất lượng nhân sự được đánh giá: “Đưa ra hỗ trợ tốt”, “Có cố
Phần mở đầu cung cấp một số thông tin về nghiên cứu và người thực hiệnnghiên cứu Phần sàng lọc đặt câu hỏi về vấn đề tư cách giao dịch (là doanh nghiệphay cá nhân) và liệu rằng khách hàng có sử dụng sản phẩm tín dụng hỗ trợ sản xuấtkinh doanh của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Hội An haykhông Phần này nhằm sàng lọc những đối tượng nào thỏa mãn các tiêu chí đề ra đểtiếp tục tiến hành trả lời các câu hỏi tiếp theo Phần nội dung bao gồm các câu hỏi về 5nhân tố đã được đề ra phản ánh cảm nhận của khách hàng về chất lượng sản phẩm tíndụng hỗ trợ sản xuất kinh doanh của Vietinbank Hội An với các mức đánh giá cho sẵn.Phần thông tin cá nhân nhằm thu thập một số thông tin nhằm thực hiện mô tả mẫu điềutra
Các bảng hỏi hợp lệ, đầy đủ thông tin được thu thập Kết quả điều tra được tậphợp bằng Excel, sau khi mã hóa sẽ trở thành tập dữ liệu để xây dựng cây quyết định.Tác giả tiến hành phân lớp dữ liệu xây dựng cây quyết định với sự hỗ trợ của phầnmềm Weka.Trường Đại học Kinh tế Huế