1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đến hoạt động của thị trường hối đoái Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế.

105 241 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 779 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của để tài Tỷ giá là một biến số vĩ mô quan trọng của mọi nền kinh tế vì nó có mối quan hệ mật thiết với các yếu tố khác như lạm phát, lãi suất và có tác động to lớn đến cán cân thanh toán, nợ nước ngoài và giá cả của một nước. Vì vậy, ngân hàng trung ương của mọi quốc gia đều coi trọng biến số này, dùng nó để định hướng thị trường. Và Việt Nam cũng không phải một ngoại lệ. Cùng với quá trình hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, tỷ giá hối đoái đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sử dụng như một trong những công cụ chủ yếu trong quá trình thực thi chính sách tiền tệ, nhằm thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội đã đặt ra cho từng thời kỳ. Chính sách tỷ giá của Việt Nam đã thay đổi khá rõ nét qua thời gian. Thành quả đạt được từ những thay đổi, điều chỉnh đó là sự ổn định tương đối của tỷ giá VND/USD, góp phần quan trọng để thực hiện chủ trương khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát lạm phát, gia tăng dự trữ ngoại tệ, cải thiện cán cân thanh toán cũng như ổn định các các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác. Có thể thấy, chính sách tỷ giá có tác động đến nhiều khía cạnh của một nền kinh tế, trong đó không thể không kể đến tác động to lớn của nó đến thị trường ngoại hối. Về thị trường ngoại hối, thị trường ngoại hối Việt Nam chính thức hình thành từ đầu những năm 90 và từ đó có không ít những thay đổi tích cực cả về lượng và chất với số lượng đối tượng tham gia đông đảo hơn và doanh số hoạt động tăng từng năm. Tuy nhiên, thị trường ngoại hối Việt Nam cho đến nay vẫn bị đánh giá là kém phát triển so với thị trường ngoại hối tại nhiều nền kinh tế trên thế giới và khu vực. Sự kém phát triển của thị trường có thể coi là do các yếu kém từ cơ chế, trong đó có những yếu kém từ chính sách điều hành tỷ giá của NHNN. Đặc biệt, trong giai đoạn chuyển đổi như hiện nay với nhiều thuộc tính và đặc trưng mới của nền kinh tế đã xuất hiện nhưng chưa được định hình rõ ràng thì cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái trong quản lý vĩ mô ở nước ta vẫn chưa thể coi là được giải quyết thoả đáng, và từ đó đã tạo ra những tác động trái chiều lên thị trường tiền tệ nói chung và thị trường ngoại hối nói riêng, gây ra không ít khó khăn cho những chủ thể tham gia. Chính vì vậy, việc nghiên cứu thị trường ngoại hối, chính sách tỷ giá hối đoái và những tác động của chính sách đến thị trường là rất cần thiết, đặc biệt trong điều kiện hội nhập kinh tế như hiện nay nhằm tạo lập được một thị trường ngoại hối có tính thanh khoản cao, đáp ứng được những tiêu chuẩn của thị trường tài chính thế giới. Đây cũng là lý do em quyết định chọn đề tài khoá luận là: Đánh giá tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đến hoạt động của thị trường hối đoái Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế. 2. Mục tiêu nghiên cứu Trên cơ sở những lý luận về tỷ giá hối đoái, chính sách tỷ giá hối đoái, Khoá luận tập trung phân tích những diễn biến cơ bản trong việc điều hành tỷ giá ở Việt Nam qua các giai đoạn và nêu lên những tác động của chính sách đến hoạt động của thị trường ngoại hối qua từng giai đoạn nghiên cứu. Từ đó, Khoá luận cũng nêu ra những tác động tích cực đồng thời những mặt hạn chế cần khắc phục của chính sách nhằm đưa ra được những giải pháp hoàn thiện hơn cơ chế quản lý tỷ giá ở Việt Nam, đảm bảo xây dựng một thị trường ngoại hối phát triển bền vững. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Khoá luận lấy chính sách tỷ giá của Việt Nam qua từng thời kỳ và thị trường ngoại hối Việt Nam làm đối tượng nghiên cứu chính để từ đó đưa ra được những tác động của chính sách đến hoạt động thực tiễn của thị trường. Phạm vi nghiên cứu của Khoá luận là những nội dung cơ bản trong chính sách tỷ giá của Việt Nam qua từng thời kỳ như việc lựa chọn cơ chế tỷ giá hối đoái, xác định và điều chỉnh tỷ giá hối đoái. 4. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu của Khoá luận là: - Thống kê - Phân tích tổng hợp - Kết hợp giữa lý luận và thực tiễn 5. Bố cục của Khoá luận Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Khoá luận có kết cấu làm ba chương: Chương 1: Tổng quan về chính sách tỷ giá hối đoái và tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đến hoạt động của thị trường ngoại hối Chương 2: Phân tích tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đến hoạt động của thị trường ngoại hối Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị về chính sách tỷ giá hối đoái nhằm nâng cao hiệu quả tác động của chính sách tỷ giá đến hoạt động của thị trường ngoại hối Việt Nam trong thời gian tới.  Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu nhưng do kiến thức về thị trường ngoại hối còn hạn chế nên Khoá luận chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định. Em rất mong nhận được những đóng góp quý báu từ phía các thầy cô nhằm hoàn thiện hơn Khoá luận của mình. Nhân dịp này, em muốn gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Thạc sỹ Kim Hương Trang, người đã giúp đỡ em tận tình trong suốt quá trình thực hiện đề cương đến khi hoàn tất Khoá luận.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của để tài

Tỷ giá là một biến số vĩ mô quan trọng của mọi nền kinh tế vì nó có mốiquan hệ mật thiết với các yếu tố khác như lạm phát, lãi suất và có tác động tolớn đến cán cân thanh toán, nợ nước ngoài và giá cả của một nước Vì vậy,ngân hàng trung ương của mọi quốc gia đều coi trọng biến số này, dùng nó đểđịnh hướng thị trường Và Việt Nam cũng không phải một ngoại lệ Cùng vớiquá trình hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, tỷ giá hối đoái đã được Ngânhàng Nhà nước Việt Nam sử dụng như một trong những công cụ chủ yếutrong quá trình thực thi chính sách tiền tệ, nhằm thực hiện những mục tiêukinh tế xã hội đã đặt ra cho từng thời kỳ

Chính sách tỷ giá của Việt Nam đã thay đổi khá rõ nét qua thời gian.Thành quả đạt được từ những thay đổi, điều chỉnh đó là sự ổn định tươngđối của tỷ giá VND/USD, góp phần quan trọng để thực hiện chủ trươngkhuyến khích xuất khẩu, kiểm soát lạm phát, gia tăng dự trữ ngoại tệ, cảithiện cán cân thanh toán cũng như ổn định các các chỉ tiêu kinh tế vĩ môkhác Có thể thấy, chính sách tỷ giá có tác động đến nhiều khía cạnh củamột nền kinh tế, trong đó không thể không kể đến tác động to lớn của nóđến thị trường ngoại hối

Về thị trường ngoại hối, thị trường ngoại hối Việt Nam chính thức hìnhthành từ đầu những năm 90 và từ đó có không ít những thay đổi tích cực cả vềlượng và chất với số lượng đối tượng tham gia đông đảo hơn và doanh số hoạtđộng tăng từng năm Tuy nhiên, thị trường ngoại hối Việt Nam cho đến nayvẫn bị đánh giá là kém phát triển so với thị trường ngoại hối tại nhiều nềnkinh tế trên thế giới và khu vực Sự kém phát triển của thị trường có thể coi là

Trang 2

do các yếu kém từ cơ chế, trong đó có những yếu kém từ chính sách điềuhành tỷ giá của NHNN.

Đặc biệt, trong giai đoạn chuyển đổi như hiện nay với nhiều thuộc tính

và đặc trưng mới của nền kinh tế đã xuất hiện nhưng chưa được định hình rõràng thì cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái trong quản lý vĩ mô ở nước ta vẫnchưa thể coi là được giải quyết thoả đáng, và từ đó đã tạo ra những tác độngtrái chiều lên thị trường tiền tệ nói chung và thị trường ngoại hối nói riêng,gây ra không ít khó khăn cho những chủ thể tham gia Chính vì vậy, việcnghiên cứu thị trường ngoại hối, chính sách tỷ giá hối đoái và những tác độngcủa chính sách đến thị trường là rất cần thiết, đặc biệt trong điều kiện hộinhập kinh tế như hiện nay nhằm tạo lập được một thị trường ngoại hối có tínhthanh khoản cao, đáp ứng được những tiêu chuẩn của thị trường tài chính thế

giới Đây cũng là lý do em quyết định chọn đề tài khoá luận là: Đánh giá tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đến hoạt động của thị trường hối đoái Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế.

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở những lý luận về tỷ giá hối đoái, chính sách tỷ giá hối đoái,Khoá luận tập trung phân tích những diễn biến cơ bản trong việc điều hành tỷgiá ở Việt Nam qua các giai đoạn và nêu lên những tác động của chính sáchđến hoạt động của thị trường ngoại hối qua từng giai đoạn nghiên cứu Từ đó,Khoá luận cũng nêu ra những tác động tích cực đồng thời những mặt hạn chếcần khắc phục của chính sách nhằm đưa ra được những giải pháp hoàn thiệnhơn cơ chế quản lý tỷ giá ở Việt Nam, đảm bảo xây dựng một thị trườngngoại hối phát triển bền vững

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Khoá luận lấy chính sách tỷ giá của Việt Nam qua từng thời kỳ và thịtrường ngoại hối Việt Nam làm đối tượng nghiên cứu chính để từ đó đưa rađược những tác động của chính sách đến hoạt động thực tiễn của thị trường

Trang 3

Phạm vi nghiên cứu của Khoá luận là những nội dung cơ bản trong chính sách

tỷ giá của Việt Nam qua từng thời kỳ như việc lựa chọn cơ chế tỷ giá hốiđoái, xác định và điều chỉnh tỷ giá hối đoái

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của Khoá luận là:

- Thống kê

- Phân tích tổng hợp

- Kết hợp giữa lý luận và thực tiễn

5 Bố cục của Khoá luận

Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Khoá luận có kết cấu làm ba chương:

Chương 1: Tổng quan về chính sách tỷ giá hối đoái và tác động của

chính sách tỷ giá hối đoái đến hoạt động của thị trường ngoại hối

Chương 2: Phân tích tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đến hoạt

động của thị trường ngoại hối Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị về chính sách tỷ giá hối đoái

nhằm nâng cao hiệu quả tác động của chính sách tỷ giá đến hoạt động của thịtrường ngoại hối Việt Nam trong thời gian tới



Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu nhưng do kiến thức vềthị trường ngoại hối còn hạn chế nên Khoá luận chắc chắn sẽ không tránhkhỏi những khiếm khuyết nhất định Em rất mong nhận được những đóng gópquý báu từ phía các thầy cô nhằm hoàn thiện hơn Khoá luận của mình

Nhân dịp này, em muốn gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Thạc sỹ KimHương Trang, người đã giúp đỡ em tận tình trong suốt quá trình thực hiện đềcương đến khi hoàn tất Khoá luận

Trang 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI

I. Lý luận chung về tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái

1 Tỷ giá hối đoái

1.1 Khái niệm về tỷ giá hối đoái

Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, việc buôn bán trao đổi hànghoá giữa các nước ngày trở nên phát triển Thương mại diễn ra giữa các nướckéo theo nhu cầu trao đổi đồng tiền giữa các quốc gia và từ đó, tỷ giá hối đoái

ra đời Về hình thức, tỷ giá hối đoái là giá đơn vị tiền tệ của một nước được

biểu hiện bằng các đơn vị tiền tệ nước ngoài; là hệ số quy đổi của một đồngtiền này sang đồng tiền khác, được xác định bởi mối quan hệ cung cầu trên thị

trường tiền tệ Về nội dung, tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế bắt nguồn

từ nhu cầu trao đổi hàng hoá, dịch vụ, phát sinh trực tiếp từ tiền tệ, quan hệtiền tệ giữa các quốc gia

Như vậy, có thể thấy Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác 1

Tỷ giá hối đoái là một biến số vĩ mô quan trọng vì nó ảnh hưởng rất lớnđến giá cả hàng hoá trong và ngoài nước Bên cạnh đó, tỷ giá hối đoái cònphản ánh tương quan sức mạnh kinh tế giữa các quốc gia trên thế giới

1.2 Phân loại tỷ giá hối đoái

Có nhiều căn cứ để phân loại tỷ giá hối đoái Sau đây là phân loại tỷ giádựa theo các tiêu chí khác nhau

1.2.1 Căn cứ cơ chế điều hành chính sách tỷ giá

1 PGS.TS Nguyễn Thị Quy và cỏc cộng sự, (2008), Biến động tỷ giỏ ngoại tệ và hoạt động xuất khẩu, Nhà

xỳõt bản khoa học xó hội, trang 15

Trang 5

- Tỷ giá chính thức: Là tỷ giá do NHTW công bố, nó phản ánh chínhthức về giá trị đối ngoại của đồng nội tệ Ở Việt Nam, tỷ giá chính thức khôngnhững để tính thuế xuất nhập khẩu và các hoạt động liên quan đển tỷ giáchính thức mà còn là cơ sở để các NHTM xác định tỷ giá kinh doanh trongbiên độ dao động.

- Tỷ giá tự do: Là tỷ giá được hình thành bên ngoài hệ thống ngân hàng,thường do quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường tạo nên Tỷ giá tự do cònđược gọi là tỷ giá chợ đen

1.2.2 Căn cứ nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối

- Tỷ giá mua vào (Bid rate): Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵnsàng mua vào đồng tiền yết giá

- Tỷ giá bán ra (Asked/Offer rate): Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giásẵn sàng bán ra đồng tiền yết giá

- Tỷ giá giao ngay (Spot rate): Là tỷ giá được thoả thuận hôm nay, nhưngviệc thanh toán xảy ra trong ngày hôm đó Tuy nhiên, trên thực tế việc thanhtoán thường được thực hiện trong vòng hai ngày làm việc tiếp theo

- Tỷ giá kỳ hạn (Forward rate): Là tỷ giá được thoả thuận ngày hôm nay,nhưng việc thanh toán xảy ra sau đó từ ba ngày làm việc trở lên

- Tỷ giá mở cửa (Opening rate): Là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng giaodịch đầu tiên trong ngày

- Tỷ giá đóng cửa (Closing rate): Là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng cuốicùng được giao dịch trong ngày

Bên cạnh đó, còn có Tỷ giá chéo (Cross rate), Tỷ giá chuyển khoản(Transfer rate), Tỷ giá tiền mặt (Bank note rate), Tỷ giá điện hối (Telegraphictransfer) và Tỷ giá thư hối (Mail transfer)

Trang 6

1.2.3 Căn cứ mức độ ảnh hưởng lên cán cân thương mại 1

- Tỷ giá danh nghĩa song phương (Bilateral nominal rate): Là tỷ lệ traođổi số tuyệt đối giữa hai đồng tiền Tỷ giá danh nghĩa song phương chính làgiá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác mà chưa đềcập đến tương quan sức mua hàng hoá giữa chúng

- Tỷ giá thực song phương (Bilateral real exchange rate): Là tỷ giá đượcxác định trên cơ sở tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ởtrong nước và ở nước ngoài; do đó, nó phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ vàngoại tệ

- Tỷ giá danh nghĩa hiệu dụng/ trung bình (Nominal effective exchangerate- NEER): Phản ánh sự thay đổi giá trị của một đồng tiền đối với tất cảđồng tiền còn lại (hay một rổ các đồng tiền)

- Tỷ giá thực hiệu dụng/ trung bình (Real effective exchange REER): Tỷ giá thực hiệu dụng cho biết tương quan sức mua giữa đồng nội tệvới tất cả các đồng tiền còn lại REER được xác định trên cơ sở tỷ giá danhnghĩa đa biên đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở trong nước và ở tất cảcác nước còn lại; do đó, nó phản ánh tương quan sức mua giữa đồng nội tệvới tất cả các đồng tiền còn lại

rate-1.3 Phương pháp yết tỷ giá

Có hai phương pháp yết giá ngoại tệ: Yết giá trực tiếp (Direct Quotation)

và Yết giá gián tiếp (Indirect Quotation)

- Yết giá trực tiếp: Là cách yết giá trong đó ngoại tệ là đồng tiền yết giá,

có số đơn vị cố định bằng 1 đơn vị và nội tệ là đồng tiền định giá, có số đơn

vị thay đổi phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên Forex Hiện nay, trên thếgiới đa phần các nước đều sử dụng cách yết giá này, trong đó có Việt Nam

1PGS TS Nguyễn Thị Quy và cỏc cộng sự, 2008), Biến động tỷ giỏ ngoại tệ và hoạt động xuất khẩu, Nhà

xỳõt bản khoa học xó hội, trang 18

Trang 7

Với cách yết giá này, khi tỷ giá tăng thì đồng ngoại tệ có xu hướng lên giá

và đồng nội tệ có xu hướng giảm giá

- Yết giá gián tiếp: Là phương pháp trong đó nội tệ đóng vai trò là đồngtiền yết giá, có số đơn vị cố định bằng 1 đơn vị và ngoại tệ đóng vai trò làđồng tiền định giá, có số đơn vị thay đổi phụ thuộc cung cầu trên thị trường.Hiện nay, các nước Anh, New Zealand, Úc và cộng đồng châu Âu dùngphương pháp yết giá này Ngược lại với cách yết giá trên, tại phương phápnày, khi tỷ giá tăng thì đồng nội tệ lên giá và đồng ngoại tệ mất giá

Trong Khoá luận này, tác giả sử dụng phương pháp yết giá trực tiếp, tức

là tỷ giá tăng được hiểu là nội tệ mất giá và ngoại tệ tăng giá

1.4 Vai trò của tỷ giá đối với nền kinh tế mở

1.4.1 Tỷ giá hối đoái và mức giá cả hàng hoá

Tỷ giá giữa đồng nội tệ và ngoại tệ đóng vai trò quan trọng đối với mộtquốc gia vì trước hết nó tác động trực tiếp đến giá cả hàng hoá xuất nhập khẩucủa quốc gia đó Với các yếu tố khác không đổi, khi tỷ giá tăng làm cho giáhàng hoá nhập khẩu tính bằng nội tệ tăng Giá hàng hoá nhập khẩu tăng làmcho mặt bằng giá cả trong nước tăng Nếu tỷ giá tiếp tục tăng liên tục qua cáccác năm (VND liên tục mất giá) sẽ dẫn đến lạm phát ra tăng Ngược lại, khi tỷgiá giảm dẫn đến giá hàng hoá nhập khẩu tính bằng nội tệ giảm, có thể gâynên giảm phát

Như vậy, tỷ giá có thể được coi là công cụ hữu hiệu để NHTW thực hiệnmục tiêu bình ổn giá cả Với các yếu tố khác không đổi, muốn kiềm chế lạmphát gia tăng, NHTW có thể sử dụng chính sách nâng giá nội tệ (tức tác độnglàm cho tỷ giá giảm); ngược lại, trong trường hợp giảm phát, NHTW có thể

sử dụng chính sách phá giá nội tệ (tức làm cho tỷ giá tăng)

1.4.2 Tỷ giá hối đoái với tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm

Với các yếu tố khác không đổi, việc tỷ giá tăng, tức đồng nội tệ mất giádẫn đến:

Trang 8

tương đối và hàng nhập khẩu đắt hơn trên thị trường nội địa, từ đó trực tiếplàm làm tăng thu nhập quốc dân và tạo công ăn việc làm.

- Phá giá1 đồng nội tệ làm cho những ngành sản xuất không sử dụng đầuvào là hàng nhập khẩu sẽ tăng được lợi thế cạnh tranh về giá so với hàng hoánhập khẩu, từ đó mở rộng được sản xuất, tăng thu nhập và tạo thêm công ănviệc làm mới

Ngược lại, với các yếu tố khác không đổi, khi nâng giá đồng nội tệ, sẽlàm giảm tăng trưởng kinh tế và thất nghiệp gia tăng

1.4.3 Tỷ giá hối đoái và cán cân vãng lai 2

Chính sách tỷ giá có tác động trực tiếp đến hoạt động xuất và nhập khẩu,

là hai thành tố quan trọng hình thành nên cán cân vãng lai

- Việc định giá thấp đồng nội tệ sẽ thúc đẩy xuất khẩu và hạn chế nhậpkhẩu, gióp cải thiện cán cân vãng lai từ thâm hụt trở về cân bằng hay thặng dư

- Việc định giá cao đồng nội tệ sẽ ảnh hưởng xấu đến xuất khẩu và làmtăng nhập khẩu, khiến cho cán cân vãng lai trở nên thâm hụt

- Khi tỷ giá cân bằng, tức cung ngoại tệ bằng cầu ngoại tệ thì xuất khẩu

và nhập khẩu cân bằng, giúp cán cân vãng lai tự động cân bằng

1.4.4 Tỷ giá hối đoái và hiện tượng Đô la hoá

Tỷ giá tăng, nội tệ mất giá so với ngoại tệ, khiến cho người dân mất lòngtin vào đồng nội tệ Khi đó, họ có xu hướng đổi đồng nội tệ đang mất giá sangmột đồng tiền nước khác có tính ổn định hơn làm phương tiện thanh toán vàcất trữ giá trị Đây chính là hiện tượng đô la hoá trong nền kinh tế Quá trình

Đô la hoá xảy ra là do nội tệ có tỷ lệ lạm phát cao và không ổn định trong thờigian dài, là nguyên nhân chính làm tỷ giá tăng Tỷ giá tăng làm tăng rủi ro đốivới tài sản tài chính ghi bằng nội tệ, kết quả là dân chúng sẽ chuyển các tài

1 Phá giá tiền tệ: là việc giảm giá trị đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ

2 Cán cân vãng lai (hay còn gọi là tài khoản vãng lai) trong cỏn cõn thanh toỏn của một quốc gia ghi chộp những giao dịch về hàng húa và dịch vụ giữa người cư trú trong nước với người cư trú ngoài nước

Trang 9

sản tài chính bằng nội tệ sang một đồng tiền nước ngoài ổn định hơn hoặcchuyển thành tài sản thực (vàng hoặc bất động sản).

2 Chính sách tỷ giá hối đoái

2.1 Khái niệm chính sách tỷ giá hối đoái

Mỗi quốc gia khi tham gia vào quan hệ kinh tế quốc tế đều phải thiết lậpmối quan hệ giữa đồng tiền nước mình với đồng tiền nước khác Để mối quan

hệ này được ổn định nhất thiết đòi hỏi có một chính sách tỷ giá hối đoái phùhợp Có thể nói, chính sách tỷ giá hối đoái là bộ phận quan trọng trong chínhsách quản lý ngoại hối nói riêng và chính sách tiền tệ nói chung

Chính sách tỷ giá hối đoái được định nghĩa là một hệ thống các công cụ dùng để tác động vào cung - cầu ngoại tệ trên thị trường để từ đó giúp điều chỉnh tỷ giá hối đoái nhằm đạt tới những mục tiêu cần thiết 1

Về cơ bản, chính sách tỷ giá hối đoái tập trung vào hai vấn đề cơ bản là:vấn đề lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái (cơ chế vận động của tỷ giá hối đoái)

và vấn đề điều chỉnh tỷ giá hối đoái

2.2 Nội dung chính sách tỷ giá hối đoái

Xuất phát từ vai trò và mục tiêu đặt ra, chính sách tỷ giá hối đoái sẽ baogồm các nội dụng chính sau:

(i) Việc ấn định mức giá cho đồng nội tệ Việc ấn định này trước hết

trên cơ sở quan hệ cung cầu trên thị trường, tiếp theo là phải theodõi mức giá biến động của đồng nội tệ ở thời điểm hiện tại và đưa ranhững điều chỉnh phù hợp

(ii) Chế độ tỷ giá hối đoái phải tuân thủ những quy định của chế độ tỷ

giá đã lựa chọn và những điều chỉnh của người làm chính sách trongtừng thời kỳ tương ứng với trình độ phát triển kinh tế của quốc giađó

Trang 10

(iii) Việc xác định hệ thống các công cụ điều chỉnh tỷ giá phải nhằm

thực hiện các mục tiêu của chính sách tỷ giá nói riêng, các chínhsách tiền tệ, chính sách tài chính và chính sách kinh tế nói chung

2.3 Các chế độ tỷ giá hối đoái

Chế độ tỷ giỏ là tập hợp cỏc quy tắc xác định và cơ chế điều tiết tỷ giỏcủa một quốc gia Cỏc chế độ tỷ giỏ của một quốc gia có thể thay đổi từ thờigian này qua thời gian khác và chế độ tỷ giá giữa các quốc gia cũng thườngkhác nhau Về cơ bản, có thể phân ra các loại chế độ tỷ giá như sau:

2.3.1 Chế độ tỷ giá cố định

Tỷ giá hối đoái cố định, đôi khi còn được gọi là tỷ giá hối đoái neo, làmột là một kiểu chế độ tỷ giá hối đoái trong đó giá trị của một đồng tiển đượcgắn với giá trị của một đồng khác hay với một rổ các đồng tiền khác, hay vớimột thước đo giá trị khác, như vàng chẳng hạn Khi giá trị tham khảo tănghoặc giảm, thì giá trị của đồng tiền neo vào cũng tăng hoặc giảm Đồng tiền

sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định gọi là đồng tiền cố định

Trong chế độ tỷ giá cố định này, NHTW sẽ sử dụng lượng dự trữ ngoạihối để mua hoặc bán ngoại tệ trên thị trường nhằm đảm bảo một mức tỷ giá

cố định trong một biên độ hẹp đã được ấn định trước Nói cách khác, khi tỷgiá có xu hướng giảm, tức cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ thì NHTW sẽmua vào ngoại tệ và ngược lại, khi tỷ giá có xu hướng tăng thì NHTW sẽ thuhồi đồng nội tệ bằng việc bán ra đồng ngoại tệ

2.3.2 Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn

Chế độ tỷ giá thả nổi hay còn gọi là chế độ tỷ giá linh hoạt là một chế độtrong đó giá trị của một đồng tiền được phép dao động trên thị trường ngoạihối Đồng tiền sử dụng chế độ tỷ giá thả nổi được gọi là một đồng tiền thảnổi

Trang 11

Ngược với chế độ tỷ giá cố định, trong chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn,vai trò của NHTW cũng như dự trữ ngoại hối với mục đích để can thiệp vàothị trường và tỷ giá không có ý nghĩa lớn

Nói chung, các nhà kinh tế đều cho rằng, trong phần lớn trường hợp, chế

độ tỷ giá thả nổi tốt hơn chế độ tỷ giá cố định bởi tỷ giá thả nổi nhạy với thịtrường ngoại hối, tăng giảm theo quy luật cung cầu của thị trường Điều nàycho phép làm dịu tác động của các cú sốc và chu kỳ kinh doanh nước ngoài.Thêm vào đó, nó không bóp méo các hoạt động kinh tế

2.3.3 Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết

Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết là một chế độ tỷ giá hối đoái nằm giữahai chế độ thả nổi và cố định Mặc dù về lý thuyết chế độ tỷ giá thả nổi tốthơn, nhưng trong thực tế không có một đồng tiền nào được thả nổi hoàn toàn,

vì nó quá bất ổn định Tuy chế độ tỷ giá hối đoái cố định tạo ra sự ổn định,song việc thực hiện các biện pháp chính sách nhằm giữ cho tỷ giá hối đoái cốđịnh tương đối khó khăn và tốn kém, và trên hết là chế độ này làm cho chínhsách tiền tệ trở nên vô hiệu lực Chính vì thế, chỉ một số ít đồng tiền trên thếgiới sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định Hầu hết các đồng tiền trên thếgiới sử dụng chế độ tỷ giá thả nổi, nhưng chính phủ sẽ can thiệp để tỷ giákhông hoàn toàn phản ứng theo thị trường

II Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đến hoạt động của thị trường ngoại hối

1 Thị trường ngoại hối

1.1 Khái niệm về thị trường ngoại hối

Thị trường ngoại hối (Foreign Exchange Market), hay Forex được hiểu

đơn giản là thị trường diễn ra sự trao đổi, mua bán của một đồng tiền này với một loại tiền tệ của một quốc gia khác thông qua hệ thống giá chuyển đổi thả nổi tự do 1 Thị trường ngoại hối chuyên môn hoá về trao đổi các loại

Trang 12

tiền tệ, là nơi gặp gỡ cọ xát giữa cung và cầu về ngoại tệ nhằm thoả mãn nhucầu của các chủ thể kinh tế, đồng thời cũng xác định được các điều kiện giaodịch.

Thị trường ngoại hối cũng bao gồm các yếu tố cơ bản: cung cầu và giá

cả Giá cả trên thị trường ngoại hối chính là tỷ giá Tỷ giá hối đoái của cácngoại tệ do cung cầu trên thị trường ngoại hối quyết định

Thị trường ngoại hối hình thành và phát triển gắn liền với nhu cầu pháttriển trong mối quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia trên các lĩnh vực hànghoá, dịch vụ, đầu tư, tín dụng, thanh toán Hoạt động trên thị trường ngoại hốidiễn ra hết sức sôi động, là thị trường tài chính lớn nhất thế giới với tổng khốilượng giao dịch trung bình hàng ngày lên đến 1,9 ngàn tỷ USD, lớn gấp 30lần so với thị trường chứng khoán có lãi suất không cố định của Mỹ USD làđồng tiền giữ vị trí chủ đạo, chiếm tỷ trọng lớn trong các giao dịch ngoại hối1

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường ngoại hối

Việc kinh doanh ngoại hối và thị trường ngoại hối bắt nguồn từ khoảng

4000 năm trước đây khi việc xuất hiện sử dụng những đồng xu có dán temcủa ngân hàng, của nhà buôn trong các hoạt động thanh toán quốc tế Sự lưuthông gia tăng của tiền tệ thời kỳ này dẫn đến sự ra đời của những nhà đổitiền chuyên nghiệp đầu tiên, họ có thể đổi được một lượng nhất định các đồng

xu này lấy một lượng tương ứng các đồng xu khác Việc phát triển của hệthống ngân hàng thương mại trong giao dịch thương mại quốc tế cũng đã thúcđẩy thị trường ngoại hối phát triển Dần dần, thị trường ngoại hối đã chuyển

từ hệ thống tiền mặt hữu hình sang thị trường dưới dạng hỗn hợp giữa tiềnmặt và tín dụng

Trong quá trình phát triển, thị trường ngoại hối đã trải qua không ítnhững sự kiện lớn lao Sự kiện đầu tiên phải đề cập đến là sự tan vỡ của thị

Trang 13

trường ngoại hối sau hai cuộc đại chiến thế giới Trong những năm đầu sauĐại chiến thế giới thứ nhất, thị trường ngoại hối trở nên vô cùng biến động vàtrở thành đối tượng đầu cơ quy mô lớn Tiếp đến, năm 1931, với sự đình chỉchế độ bản vị vàng và sự sụp đổ của các ngân hàng cũng như các vấn đề khókhăn trong thanh toán đối với một số đồng tiền đã trở thành những trở ngạiđáng kể cho sự phát triển thị trường ngoại hối.

Tiếp đến, vào năm 1944, thời kỳ hậu Đại chiến thế giới lần thứ hai, cuộchọp của Liên Hợp Quốc tại thành phố Bretton Woods, New Hampshire đãđưa ra một thoả thuận Bretton Woods, theo đó mang lại sự ổn định như mongmuốn và một trật tự mới trên thị trường ngoại hối Tỷ giá của các đồng tiềnchính đều được neo cố định với USD và giá trị của USD được neo cố định vớivàng với tỷ lệ 35USD=1 ounce USD được các NHTW trên thế giới chọn làmđồng tiền dự trữ quốc tế, bởi vì nước Mỹ cam kết với NHTW rằng sẽ chuyểnđổi USD thành vàng không hạn chế theo tỷ giá cố định 35USD=1 ouce

Tuy nhiên, hệ thống tỷ giá cố định bị sụp đổ năm 1971, do sự mất cânđối nghiêm trọng trong cán cân thanh toán giữa các quốc gia và người nướcngoài nắm giữ USD càng ngày nhiều Sau nỗ lực nhằm hồi phục hệ thống nàyvào năm 1973 không thành đã mở đầu cho thời kỳ chế độ thả nổi và được duytrì đến ngày nay Những đồng tiền chính giao dịch trên thị trường ngoại hốiđược thả nổi dưới sự trông nom sát sao của NHTW phát hành Các NHTWtham gia can thiệp trên thị trường mở thường xuyên nhằm duy trì các hoạtđộng trên thị trường ngoại hối có trật tự hơn; hoặc, NHTW can thiệp nhằmmục đích điều chỉnh hướng biến động của tỷ giá theo chính sách của mình.Các đồng tiền của các nước nhỏ hơn thường được neo cố định với một trong

số đồng tiền chính, và chủ yếu là USD; hoặc với đồng tiền của các nước bạnhàng thương mại lớn nhất

Trang 14

Kể từ khi hệ thống Bretton Woods sụp đổ, tại thị trường ngoại hối đãdiễn ra những sự biến động không ngừng và thị trường trở nên không thể dựđoán được Lý do chính giải thích cho điều này là sự tham gia đáng kể củacác thành viên tham gia thị trường nhằm mục đích tìm kiếm cơ hội sinh lờikhi tỷ giá biến động Không thể phủ nhận rằng các nhà kinh doanh chuyênnghiệp, các công ty, nhà quản lý quỹ, các ngân hàng và cá nhân hoạt độngtrên thị trường ngoại hối kiếm tiền dựa trên sự biến động của tỷ giá Đối với

họ, việc thị trường biến động theo hướng nào hoàn toàn là không quan trọng,bởi lẽ họ cần thị trường biến động để có được cơ hội kiếm tiền Ngoài ra, cácnguồn lực về kỹ thuật và công nghệ sẵn có của các nhà kinh doanh, các nhàquản trị tài chính và các công ty tự bảo hiểm đã được cải thiện cơ bản

1.3 Chủ thể tham gia thị trường ngoại hối

Có thể thấy, bất kỳ cá nhân, tổ chức nào có cung cầu ngoại hối tiến hành giaodịch mua bán các đồng tiền khác nhau đều trở thành thành viên của thị trườngngoại hối Như vậy, các thành viên tham gia thị trường này là rất đông đảo và

đa dạng Việc phân biệt các thành viên có thể dựa vào hai căn cứ sau:

1.3.1 Căn cứ theo chức năng trên thị trường

- Nhà tạo giá sơ cấp (Primary price maker): Những nhà tạo giá trên thịtrường sơ cấp còn gọi là những nhà kinh doanh chuyên nghiệp, họ là nhữngngười tạo lập ra thị trường Tạo giá trên cơ sở yết giá hai chiều: giá mua vàgiá bán, sẵn sàng mua vào và bán ra một số lượng ngoại tệ hợp lý theo giá cả

đã yết Những nhà tạo giá trên thị trường sơ cấp chủ yếu là các Ngân hàngthương mại Các ngân hàng này cung cấp một số lượng lớn các dịch vụ tàichính cần thiết cho các khách hàng của mình Ngoài ra, một số nhà kinhdoanh đầu tư lớn cũng cung cấp những sản phẩm dịch vụ riêng biệt cho kháchhàng Họ cũng là những người tạo giá trên thị trường sơ cấp, đóng vai trò

Trang 15

quyết định giá cả của thị trường kinh doanh trên rủi ro và làm cân bằng trạngthái ngoại tệ.

- Nhà tạo giá thứ cấp (Secondary price maker): Là những thành viêntham gia trên thị trường ngoại hối nhưng không dựa trên cơ sở yết giá haichiều Nhà tạo giá thứ cấp này bao gồm các doanh nghiệp, các công ty hoặccác ngân hàng và các tổ chức tài chính Công ty kinh doanh mua bán lẻ ngoạihối cho khách hàng bằng cách dựa vào tỷ giá sao cho chênh lệch lớn nhất.Các công ty này giao dịch với các nhà tạo thị trường sơ cấp để thực hiện cânbằng trạng thái ngoại hối

- Nhà chấp nhận giá (Price taker): Bao gồm các công ty, ngân hàng nhỏ,các cá nhân và chính phủ Họ chấp nhận giá của các thành viên tạo giá trên thịtrường sơ cấp và thứ cấp để tiến hành giao dịch thực hiện các mục đích củamình Như vậy, nhà chấp nhận giá không thực hiện yết giá hai chiều và khôngtạo giá trên thị trường thứ cấp Họ thuần tuý là người chấp nhận giá đã đượcđưa ra để thực hiện giao dịch Một số ngân hàng cũng có thể là nhà chấp nhậngiá khi họ có nhu cầu mua hoặc bán ngoại tệ mà họ ít giao dịch

- Nhà cung cấp dịch vụ tư vấn (Advisory services): Có nhiều tổ chứctham gia dịch vụ tư vấn cho các khách hàng về việc mua, bán đồng tiền nào, ởthời điểm nào là có lợi nhất hoặc thực hiện tư vấn chiến lược khách hàng Cácnhà tư vấn có nhiều kinh nghiệm và năng lực về chuyên môn, khoa học kỹthuật, công nghệ thông tin Họ cung cấp dịch vụ tư vấn cho khách hàng dướinhiều hình thức: cung cấp các thông tin cập nhật trên mạng, gửi các bản tinđịnh kỳ, gặp gỡ trực tiếp khách hàng Các nhà tư vấn này được thu một khoản

lệ phí nhất định Các ngân hàng lớn, các nhà kinh doanh chuyên nghiệp cũngtham gia tư vấn ngoại hối cho khách hàng nhưng hầu hết các dịch vụ này làmiễn phí

Trang 16

- Nhà môi giới (Broker): Những nhà tạo thị trường có thể giao dịch trựctiếp với nhau thông qua các phương tiện thông tin hoặc có thể thông qua nhàmôi giới để thực hiện mua bán ngoại hối Như vậy, nhà môi giới không phải

là nhà tạo thị trường, họ không mua bán ngoại tệ cho chính mình mà đóng vaitrò trung gian giữa người mua và người bán, góp phần tích cực vào hoạt độngtrên thị trường bằng cách làm cho cung và cầu sớm tiếp cận nhau Nhà môigiới chỉ là người cung cấp dịch vụ trên thị trường liên ngân hàng, không chịutrách nhiệm về tiến trình giao dịch giữa các ngân hàng

- Nhà đầu cơ (Speculator): Những nghiệp vụ giao dịch trên thị trườngngoại hối rất phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro Nhà đầu cơ là người chấpnhận những rủi ro và hy vọng thu được lợi nhuận Đặc điểm quan trọng củanhà đầu cơ là khả năng dự đoán giá trong tương lai nhằm thu được lợi nhuận

từ việc kinh doanh ngoại tệ Có nhiều thành phần tham gia đầu cơ trên thịtrường ngoại hối: những nhà tạo thị trường, các công ty XNK, các cá nhântham gia mua cổ phiếu, trái phiếu bằng ngoại tệ nhưng không tiến hành bảohiểm rủi ro ngoại hối, chính phủ các nước đi vay hoặc cho vay bằng ngoại tệnhưng chậm trễ bảo hiểm hoặc không bảo hiểm cho đến khi hợp đồng tíndụng đến hạn thanh toán Như vậy, các nhà đầu cơ tham gia vào thị trườngngoại hối có thể thu được lợi nhuận hoặc phải chịu rủi ro, thua lỗ về ngoại hốikhi tỷ giá hối đoái biến động theo chiều bất lợi

- Ngân hàng trung ương (Central bank): Ngân hàng trung ương (NHTW)của các nước có chức năng độc quyền phát hành tiền và bảo vệ sức mua đốinội1, đối ngoại2 của đồng nội tệ NHTW có mặt trên thị trường ngoại hối đểcan thiệp trực tiếp lên giá trị của đồng bản tệ Nếu NHTW muốn đồng nội tệgiảm giá thì họ sẽ bán bản tệ ra để mua ngoại tệ vào Tại thị trường giao ngay,NHTW cung ứng tiền vào lưu thông, số lượng tiền này tăng gây áp lực tăng

1 Sức mua đối nội của một đồng tiền được thể hiện chủ yếu thông qua chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Khi chỉ số giá tiêu dùng tăng thì sức mua đối nội của đồng tiền đó giảm đi.

Trang 17

lạm phát Để thu lượng tiền cung ứng bổ sung này, NHTW có thể bán ra cácchứng khoán chính phủ trên thị trường mở để thu hút nội tệ về hoặc NHTW

có các giao dịch hoán đổi tiền tệ NHTW có thể can thiệp trực tiếp vào thịtrường ngoại hối bằng nhiều phương thức khác nhau Sự có mặt của NHTWtrên thị trường ngoại hối là cần thiết bởi nó duy trì trật tự, kìm hãm sự biếnđộng không có lợi trên thị trường

1.3.2 Căn cứ theo hình thái tổ chức

- Ngân hàng thương mại (Commercial bank): Các ngân hàng thương mại(NHTM) là chủ thể chính tham gia thị trường ngoại hối Ngân hàng hoạt độngvới hai danh nghĩa: trung gian cho các khách hàng tham gia thị trường, đồngthời hoạt động trên chính danh nghĩa của mình Ngân hàng chủ động, có mặttrên thị trường để đáp ứng nhu cầu ngoại tệ của khách hàng, quản lý nguồnvốn ngoại tệ của ngân hàng sao cho phù hợp, an toàn và tạo ra lợi nhuận

- Khách hàng mua bán lẻ (Retail client): Bao gồm các công ty nội địa và

đa quốc gia, những nhà đầu tư quốc tế và tất cả những ai có nhu cầu mua bánngoại hối nhằm: chuyển đổi tiền tệ và phòng ngừa rủi ro tỷ giá Nhu cầu muabán ngoại tệ của nhóm người này chủ yếu để phục vụ cho hoạt động của mìnhchứ không nhằm mục đích kinh doanh ngoại hối; do đó, họ không giao dịchtrực tiếp với nhau mà thường mua bán thông qua các NHTM

- Nhà môi giới (Broker): Ngày nay, ngoài hình thức mua bán ngoại hốigiữa các ngân hàng thì hình thức giao dịch thông qua môi giới cũng đang pháttriển Nhà môi giới làm trung gian giữa các NHTM, góp phần đẩy mạnh hơnnữa hoạt động của thị trường ngoại hối

- Ngân hàng trung ương (Central bank)

1.4 Các nghiệp vụ chính trên thị trường ngoại hối

1.4.1 Hoạt động giao dịch ngoại hối giao ngay

Trang 18

Nghiệp vụ giao dịch ngoại hối giao ngay được định nghĩa là nghiệp vụ mua hay bán ngoại tệ mà việc chuyển giao được thực hiện ngay lập tức hay

là chậm nhất là sau hai ngày kể từ khi thoả thuận hợp đồng mua bán 1

Đây là hoạt động cơ bản của thị trường ngoại hối, nhằm đáp ứng nhu cầungoại tệ cho hoạt động thương mại quốc tế cũng như nhu cầu kinh doanh củacác tổ chức tín dụng hay ngân hàng Nghiệp vụ giao ngay được coi là nghiệp

vụ cơ sở vì tỷ giá áp dụng cho các giao dịch giao ngay được hình thành trựctiếp từ quan hệ cung cầu trên thị trường

Thị trường ngoại hối giao ngay là thị trường phi tập trung, các thành viênbao gồm các NHTM, công ty tài chính lớn, nhà môi giới ngoại hối và cảNHTW, trong đó, NHTM đóng vai trò chủ chốt

Tính hiệu quả của thị trường giao ngay bao gồm:

- Thứ nhất, chênh lệch tỷ giá mua và bán là rất hẹp

- Thứ hai, do tốc độ truyền tin nhanh chóng, nên những thay đổi của thị

trường đã ảnh hưởng tức thời lên tỷ giá, nói cách khác, tỷ giá hối đoái trên thịtrường luôn biến động để phản ánh những thay đổi của thị trường

- Thứ ba, đây là thị trường có tính thanh khoản rất cao vì: (1) luôn sẵn có

số tiền cần thiết; (2) tại địa điểm cần có; (3) tại thời điểm có nhu cầu; (4) bằngđồng tiền cần có; (5) với giá cả hợp lý

1.4.2 Các giao dịch phái sinh

Trên thị trường ngoại hối, ngoài giao dịch giao ngay, giao dịch cơ sở còntồn tại các loại giao dịch phái sinh như: giao dịch ngoại hối kỳ hạn (forward),hoán đổi (swap), tương lai (future), quyền chọn (option) Các giao dịch trênđược gọi là giao dịch phái sinh vì khác với nghiệp vụ giao ngay, tỷ giá của 4nghiệp vụ này áp dụng cho những hợp đồng không được hình thành trực tiếp

1 http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%8B_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_ngo%E1%BA%A1i_h

Trang 19

từ quan hệ cung cầu trên thị trường, mà được bắt nguồn từ tỷ giá giao ngay vàchênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền Các giao dịch phái sinh này được hìnhthành nhằm đáp ứng nhu cầu của những nhà kinh doanh xuất nhập khẩu mongmuốn tỷ giá được ổn định hoặc được cố định từ trước.

1.4.2.1 Giao dịch ngoại hối kỳ hạn (Forward)

Đây là một nghiệp vụ phát triển rất nhanh và đóng một vai trò quan trọngtrên thị trường ngoại hối Nghiệp vụ giao dịch ngoại hối kỳ hạn được định

nghĩa là nghiệp vụ mua bán ngoại tệ mà việc giao nhận sẽ được thực hiện sau một thời gian nhất định theo tỷ giá thoả thuận lúc ký kết hợp đồng 1

Tỷ giá áp dụng trong mua bán kỳ hạn gọi là tỷ giá kỳ hạn, là tỷ giá đượcthoả thuận tại thời điểm ký kết hợp đồng kỳ hạn, làm cơ sở cho việc trao đổitiền tệ tại một ngày xác định xa hơn ngày giá trị giao ngay

Các hợp đồng kỳ hạn được ký kết và giao dịch giữa các ngân hàng vàkhách hàng, hay giữa hai ngân hàng với nhau Giao dịch kỳ hạn không diễn ratrên sở giao dịch, mà giống như giao dịch giao ngay, đây là thị trường phi tậptrung của các ngân hàng và của các nhà môi giới Có thể nói, hợp đồng kỳ hạn

là biện pháp hữu hiệu nhằm bảo hiểm rủi ro tỷ giá trong hoạt động xuất nhậpkhẩu, đầu tư hay những khoản vay bằng ngoại tệ

1.4.2.2 Giao dịch ngoại hối hoán đối (Swap)

Giao dịch hoán đổi gồm hai thành phần: một giao dịch giao ngay và mộtgiao dịch kỳ hạn theo hướng ngược lại được thoả thuận đồng thời tại cùngmột thời điểm, với số lượng như nhau Như vậy, giao dịch hoán đổi ngoại hối

là việc đồng thời mua vào và bán ra một đồng tiền nhất định lấy một đồng

1 http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%8B_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_ngo%E1%BA%A1i_h

Trang 20

tiền khác, trong đó ngày giá trị mua vào và ngày giá trị bán ra là khác nhau 1

Căn cứ đặc điểm ngày giá trị, có thể chia giao dịch hoán đổi thành hailoại như sau:

Spot- Forward Swap: bao gồm một giao dịch giao ngay và một giao dịch kỳ

hạn

Forward- Forward Swap; bao gồm hai giao dịch đều là kỳ hạn được ký

kết ngày hôm nay, nhưng có ngày giá trị khác nhau Loại giao dịch này ítđược sử dụng trong thực tế

Giao dịch hoán đổi ngoại hối có những đặc điểm sau: (1) giao dịch bao gồmđồng thời cả mua và bán; (2) số lượng một trong hai đồng tiền mua bán là cốđịnh; (3) tỷ giá giao ngay áp dụng trong vế mua và vế bán là như nhau; (4) ngàygiá trị của vế mua và vế bán là khác nhau; và (5) lãi suất phát sinh trong thời hạnhợp đồng được thanh toán một lần tại thời điểm hợp đồng đáo hạn

1.4.2.3 Giao dịch tiền tệ tương lai (Future)

Hợp đồng tương lai là một thoả thuận về việc mua bán một tài sản tương lai tại một mức giá nhất định, tức là giá cả được thoả thuận ngày hôm nay nhưng việc giao nhận tài sản và thanh toán xảy ra tại một thời điểm nhất định trong tương lai 2 Những hợp đồng như vậy được giao dịchtrên nhiều sở giao dịch khác nhau trên phạm vi thế giới

Hợp đồng tương lai là sự thoả hiệp giữa người bán và người mua, đồng ýmua bán một mặt hàng nhất định theo tiêu chuẩn đã xác định trước của thịtrường, với một số lượng nhất định theo giá do hai bên thoả thuận khi ký hợpđồng Giá do hai bên thoả thuận ngay tại sàn giao dịch theo nguyên tắc muabán công khai và sẽ không thay đổi trong thời gian hợp đồng Việc thực hiệnhợp đồng là bắt buộc đối với cả người mua và người bán Đặc tính riêng biệt

1 http://en.wikipedia.org/wiki/Forex_swap

2 PGS.TS.Nguyễn Văn Tiến (2008), Giáo trình Nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, Nhà xuất bản Thống kê,

Trang 21

của thị trường tiền tệ tương lai là việc chuẩn hoá các giá trị hợp đồng và thờiđiểm tất toán Giá trị tiêu chuẩn được phép giao dịch do từng thị trường ấnđịnh.

Thoạt nhìn, có thể thấy thị trường tương lai có các đặc điểm tương đồngnhau Tuy nhiên, chúng có những điểm khác nhau cơ bản sau1

Bảng 1.1 : So sánh thị trường kỳ hạn và thị trường tương lai

Tiêu chí Thị trường kỳ hạn Thị trường tương lai

Địa điểm giao dịch Phi tập trung Tập trung trên sàn của

SGD Giá trị một hợp đồng

Không được tiêu chuẩn hoá

và được thoả thuận giữa người bán và người mua

Được tiêu chuẩn hoá, cố định và không thương lượng được.

Các đồng tiền giao dịch Tất cả các đồng tiền nếu có

thể mua bán được

Hầu hết chỉ là các đồng

tiền chính Điều khoản biến động

giá hàng ngày

Giá cả biến động theo cung cầu thị trường, trừ khi có can thiệp của NHTW

Mức biến động có thể được giới hạn bởi SGD

Tiêu chí Thị trường kỳ hạn Thị trường tương lai

Rủi ro tín dụng Phụ thuộc vào bên đối tác Gắn với SGD

Thành viên đủ tư cách Không hạn chế Phải là thành viên của

SGD Ngày đến hạn Vào bất cứ ngày làm việc

nào theo thoả thuận Được tiêu chuẩn hoá

1.4.2.4 Giao dịch ngoại hối quyền chọn (Options)

Trên thị trường ngoại hối, cùng với giao dịch giao ngay, giao dịch kỳhạn, giao dịch hoán đổi ngoại tệ, hợp đồng tương lai thì giao dịch quyền chọngiúp các doanh nghiệp có thêm cơ hội lựa chọn loại hình giao dịch hối đoáiphù hợp với mục tiêu kinh doanh của mình

Trang 22

Theo PGS TS Nguyễn Văn Tiến: Hợp đồng quyền chọn tiền tệ là một công cụ tài chính, cho phép người mua hợp đồng có quyền (không phải nghĩa vụ) mua hoặc bán một đồng tiền này với một đồng tiền khác tại tỷ giá

cố định đã thoả thuận trước tại một thời gian nhất định trong tương lai.

Hợp đồng quyền chọn được chia thành hai loại

- Hợp đồng quyền chọn bán ngoại tệ cho phép người mua hợp đồng cóquyền bán một đồng tiền nhất định

- Hợp đồng quyền chọn mua ngoại tệ cho phép người mua hợp đồng cóquyền mua một đồng tiền nhất định

1.4.3 Kinh doanh chênh lệch tỷ giá (Arbitrage)

Kinh doanh chênh lệch tỷ giá là giao dịch tiền tệ trong đó người kinh doanh cùng một thời điểm mua một đồng tiền ở nơi rẻ và bán lại ở nơi có giá cao hơn để ăn chênh lệch giá 1 Vì hành vi mua vào và bán ra diễn ra tại

cùng một thời điểm, nên về mặt lý thuyết thì kinh doanh chênh lệch tỷ giákhông hề phải chịu rủi ro tỷ giá và không phải bỏ vốn

1.5 Chức năng của thị trường ngoại hối

Chức năng cơ bản của thị trường ngoại hối được bắt nguồn từ nhu cầuphát triển thương mại giữa các nước Thị trường ngoại hối có thể coi là chiếccầu nối giữa các nhà xuất khẩu và nhập khẩu các nước Ví dụ: một công tymuốn nhập khẩu hàng hoá hoặc dịch vụ từ nước ngoài sẽ có nhu cầu ngoạihối nếu hoá đơn hàng hoá và dịch vụ được ghi bằng ngoại tệ; hoặc là nhà xuấtkhẩu sau khi nhận được ngoại tệ có nhu cầu chuyển đổi sang đồng bản tệ Cácgiao dịch ngoại hối nhằm giúp khách hàng là nhà xuất khẩu hay nhập khẩu làmột trong những dịch vụ mà các NHTM luôn sẵn sàng cung cấp cho kháchhàng, và đồng thời cũng là dịch vụ mà các khách hàng luôn mong đợi từ phíangân hàng

Ngoài dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho các giao dịch thương mại

1 http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%8B_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_ngo%E1%BA%A1i_h

Trang 23

quốc tế, thị trường ngoại hối còn có một số chức năng sau:

- Luôn chuyển vốn đầu tư, tín dụng quốc tế, các giao dịch tài chính quốc

tế Ví dụ: thị trường ngoại hối bổ trợ rõ rệt cho việc đầu tư trực tiếp nướcngoài bằng cách cung cấp đầy đủ lượng ngoại tệ cần thiết cho các dự án

- Sức mua đối ngoại của tiền tệ thông qua hoạt động của thị trường ngoạihối sẽ được xác định một cách khách quan thông qua các hoạt động trên thịtrường ngoại hối

- Các công cụ phái sinh trên thị trường ngoại hối như kỳ hạn, hoán đổi,quyền chọn, và tương lai là những công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá hữu hiệucho các nhà kinh doanh thương mại quốc tế

- Thị trường ngoại hối là nơi để NHTW tiến hành can thiệp để tỷ giá biếnđộng theo hướng có lợi cho nền kinh tế

Như vậy, ta có thể tóm lược các chức năng của thị trường ngoại hối1

thông qua bảng sau:

1 PGS.TS Nguyễn Văn Tiến (2008), Giáo trình Nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, Nhà xuất bản Thống kê,

Trang 24

Hình 1.2: Chức năng của thị trường ngoại hối

2 Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đến hoạt động của thị trường ngoại hối

Chính sách tỷ giá hối đoái là một bộ phận của chính sách tiền tệ nói riêng

và chính sách kinh tế vĩ mô nói chung Nó có nhiệm vụ đảm bảo ổn định tiền

tệ, là phương tiện để NHTW can thiệp nhằm điều chỉnh thị trường theo nhữngmục tiêu đã định trước Như đã đề cập ở trên, nội dung của chính sách tỷ giáhối đoái bao gồm ấn định mức giá cho đồng nội tệ Việc ổn định tỷ giá đồngnghĩa với sự ổn định tiền tệ, tạo sự ổn định về tâm lý và lợi ích cho các nhàđầu tư khi họ bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh Hơn nữa, nó cũng góp phầnnâng cao uy tín đồng tiền của một quốc gia và khuyến khích các nhà đầu tưtrong và ngoài nước đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh Rõ ràng, các nhàđầu tư sẽ yên tâm đầu tư khi họ thấy rằng đồng tiền nước đó có uy tín lớn trênthị trường quốc tế và sự biến động tỷ giá là nhỏ hoặc tỷ giá ổn định Mặtkhác, chính sách tỷ giá hối đoái gắn kết với chính sách quản lý ngoại hối sẽgiúp cho NHTW có khả năng quản lý lượng dự trữ ngoại hối tốt hơn, nhằm

CÁC CHỨC NĂNG CỦA FOREX

1 Phục vụ TM quốc tế (đây là chức năng cơ bản nhất)

2 Phục vụ luân chuyển vốn quốc tế

3 Nơi hình thành tỷ giá

4 Nơi NHTW can thiệp tỷ giá

5 Nơi kinh doanh và phòng ngừa rủi

ro tỷ giá

Trang 25

đảm bảo sử dụng các nguồn ngoại tệ có hiệu quả hơn, góp phần ổn định tỷ giá

và thực hiện tốt cân đối cán cân thanh toán quốc tế trong các thời kỳ khácnhau

Như vậy, có thể thấy chính sách tỷ giá hối đoái có tác động mạnh mẽ vàomọi khía cạnh của một nền kinh tế Sự tác động này trước hết có ảnh hưởngtrực tiếp đến thị trường ngoại hối, nơi mà mỗi một sự thay đổi trong chínhsách tỷ giá có ảnh hưởng đến doanh thu cũng như hoạt động của các chủ thểtham gia thị trường

2.1 Chính sách tỷ giá hối đoái tác động đến giao dịch giao ngay

Chính sách tỷ giá có tác động rất lớn đến hoạt động giao dịch giao ngaybởi một sự thay đổi trong chính sách tỷ giá sẽ có tác động tức thì tới hoạtđộng của thị trường Việc tỷ giá được giữ ổn định là điều kiện vô cùng quantrọng trong những giao dịch giao ngay bởi nó bảo đảm được lợi nhuận theođúng dự tính của các thành viên tham gia Ví dụ: một nhà nhập khẩu mua một

lô hàng với tỷ giá 1USD= 18000VND Khi tỷ giá tăng lên 1USD=19000VNDđồng nghĩa với việc nhà nhập khẩu phải bỏ ra một số tiền VND lớn hơn để cóđược lô hàng, dẫn đến vấn đề lãi giả lỗ thật Tương tự, trong nghiệp vụ kinhdoanh ngoại tệ của ngân hàng, vấn đề tỷ giá cũng luôn được đặt lên hàng đầu

Sự biến động của tỷ giá có thể dẫn đến sụt giảm doanh thu tại các ngân hàng

Trong chế độ tỷ giá cố định, tỷ giá không được hình thành trên quan hệ

cung cầu ngoại tệ trên thị trường mà do nhà nước với lượng dự trữ ngoại hốicủa mình sẽ kiểm soát bằng việc mua hoặc bán ngoại tệ trên thị trường Điềunày làm giảm bớt chi phí giao dịch và rủi ro tỷ giá, phần nào có lợi cho thànhviên tham gia trên thị trường, ví dụ như những nhà xuất nhập khẩu hay nhàđầu tư bởi họ có thể lập kế hoạch kinh doanh cụ thể dựa trên tỷ giá cố địnhvốn có Bên cạnh đó, việc NHTW kiểm soát thị trường đảm bảo nguồn cungngoại hối, trong trường hợp thị trường khan hiếm ngoại tệ, NHTW sẽ bán

Trang 26

ngoại tệ để bình ổn tỷ giá Tuy nhiên, tỷ giá cố định cũng có thể là nguyênnhân gây ra những đổ vỡ của thị trường Trong trường hợp lãi suất trong nướctăng, một dòng vốn lớn sẽ chảy vào đầu tư trong nước, có thế sẽ đổ vào nhữngkhu vực đầu tư kém hiêu quả Dòng vốn vào cũng khiến tỷ giá tăng Vớinhững yếu tố trên, các thành viên tham gia thị trường có thể cho rằng tỷ giá sẽkhông thể ổn định Từ đó, một lượng lớn ngoại tệ sẽ được rút khỏi ngân hàng

và đầu tư ra nước khác Rõ ràng, đây là cú sốc đối với thị trường ngoại tệ Đểbình ổn sự thiếu hụt ngoại tệ, NHTW sẽ phải bán ngoại tệ ra thị trường, dẫnđến thâm hụt trong dự trữ ngoại hối quốc gia Một điều cần lưu ý nữa là tỷgiá cố định sẽ khiến các thành viên tham gia thị trường ngầm hiểu là tỷ giáluôn được cố định nhờ sự can thiệp của bàn tay hữu hình Từ đó, họ không

lo về vấn đề rủi ro tỷ giá và chắc chắn không sử dụng những biện phápphòng ngừa rủi ro tỷ giá Trong trường hợp tỷ giá cố định gặp một cú sốclớn và NHTW không thể duy trì được tỷ giá cố định, các thành viên sẽ phảigánh chịu mọi rủi ro do không có biện pháp phòng ngừa trước đó Về dự trữngoại hối quốc gia, khi có sự biến động về tỷ giá, NHTW phải can thiệpbằng việc cung cấp lượng ngoại tệ ra thị trường, làm giảm lượng dự trữngoại hối, gây ảnh hưởng đến khả năng thích ứng các cú sốc bên trong cũngnhư bên ngoài của nền kinh tế

Ngược lại với chế độ tỷ giá cố định là chế độ tỷ giá thả nổi, trong đó tỷ

giá được xác định hoàn toàn dựa trên cung cầu của thị trường Một mặt, chế

độ tỷ giá này cho phép một quốc gia theo đuổi một chính sách tiền tệ độc lập,

và chống đỡ được với các cú sốc trong và ngoài nước Hơn nữa, khi thịtrường hoạt động hiệu quả thì chính sách tỷ giá này sẽ hạn chế được nạn đầu

cơ sinh lợi của một số cá nhân Tuy nhiên, việc thả nổi tỷ giá cũng đem lạimột số bất cập Tỷ giá thả nổi có thể đưa đến sự bất ổn tỷ giá trong điều kiệnhội nhập kinh tế tài chính toàn cầu Sự bất ổn này đặc biệt lớn tại những nềnkinh tế đang phát triển, nơi mà thị trường ngoại hối nói riêng và hệ thống tài

Trang 27

chính nói chung chưa thực sự phát triển Bên cạnh đó, sự thay đổi tỷ giá cóthể dẫn đến tình trạng khan hiếm ngoại tệ trên thị trường ngoại hối Một ví dụđiển hình là khi các nhà xuất khẩu cho rằng tỷ giá có thể tăng trong tương lai,

họ sẽ có xu hướng găm giữ ngoại tệ, không bán ngoại tệ cho các ngân hàng.Như vậy, những người có nhu cầu ngoại tệ như nhà nhập khẩu khó có thể tiếpcận được nguồn ngoại tệ mong muốn Về phía ngân hàng, điều này rõ rànglàm giảm doanh số kinh doanh ngoại tệ, ảnh hưởng không nhỏ đến lợi nhuậncủa họ

2.2 Chính sách tỷ giá hối đoái tác động đến giao dịch phái sinh

Như đã trình bày ở trên, các giao dịch phái sinh được sử dụng nhằm haimục đích: phòng ngửa rủi ro tỷ giá (đây là mục đích cơ bản) và kinh doanhthông qua các nghiệp vụ kỳ hạn, hoán đổi, tương lai và quyền chọn Có thểthấy, khi tỷ giá càng biến động và người tham gia thị trường, đặc biệt là cácdoanh nghiệp xuất nhập khẩu có ý thức hơn về tầm quan trọng của các giaodịch phái sinh thì việc sử dụng các công cụ này ngày càng phổ biến

Tuỳ vào từng cơ chế tỷ giá mà có sự phát triển của các công cụ phái sinh

hay không Trong cơ chế tỷ giá cố định, các nghiệp vụ phái sinh thường rất có

ít cơ hội để phát triển vì với cơ chế này, tỷ giá được coi là cố định, rất ít có sựbiến động, do đó sẽ ít có rủi ro về mặt tỷ giá Khi đó, những người tham giathị trường như nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu có thể dễ dàng tính toán đượcnhững khoản lỗ lãi từ hoạt động kinh doanh của mình mà không phải chịu bất

cứ áp lực nào từ những rủi ro có thể tiềm tàng của thị trường ngoại tệ, và rõràng họ cũng không cần phải bảo vệ mình bằng những biện pháp phòng ngừarủi ro về tỷ giá Từ đó, thị trường sẽ không có nhu cầu để phát triển công cụphái sinh

Ngược lại, trong cơ chế tỷ giá thả nổi, khi tỷ giá được điều chỉnh theo

mức cung cầu trên thị trường thì sẽ luôn có những biến động không ngờ tới

Trang 28

của tỷ giá, và đây cũng là điều kiện cơ bản để thị trường phái sinh ngoại tệphát triển Nói cách khác, tỷ giá biến động theo một biên độ lớn và ngẫunhiên, phản ánh quan hệ cung cầu về ngoại tệ trên thị trường là điều kiện tiênquyết cho việc sử dụng các công cụ phòng chống rủi ro Trên thị trường ngoạihối, bên cạnh việc phản ánh quan hệ cung cầu về ngoại tệ thì thị trường còn

ẩn chứa các yếu tố đầu cơ và chênh lệch giá về ngoại tệ Đây cũng là nhữngyếu tố quan trọng trong việc làm cho tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại hốibiến động một cách khó dự đoán Chính vì sự không dự đoán trước đượcnhững thay đổi của tỷ giá trên thị trường mà các doanh nghiệp cũng như cácNHTM luôn có mong muốn bảo hiểm rủi ro để chống lại những tổn thất cóthể xảy ra đối với các dòng tiền ngoại tệ của mình

2.3 Chính sách tỷ giá hối đoái tác động đến hoạt động kinh doanh chênh lệch tỷ giá

Arbitrage được chia làm hai loai: Arbitrage hai điểm (được thực hiệnkhi có sự chênh lệch rõ ràng về tỷ giá của hai đồng tiền giữa hai thị trườngkhác nhau), Arbitrage ba điểm/ tam giác (trường hợp này nhìn bề ngoài chưathấy sự khác nhau trong tỷ giá giữa các thị trường nhưng thực ra có thể nhậnthấy sự chênh lệch tỷ giá thông qua tỷ giá chéo) Tuy nhiên, với bất kỳ mộthình thức kinh doanh chênh lệch tỷ giá nào thì một đặc điểm cơ bản củanghiệp vụ này là việc mua bán xảy ra đồng thời và không chịu rủi ro tỷ giá,lãi kinh doanh là chắc chắn và biết trước, do đó với hình thức kinh doanh này,

sự thay đổi trong chính sách tiền tệ sẽ không có ảnh hưởng gì lớn

Trang 29

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VIỆT NAM

I Phân tích tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đến thị trường ngoại hối Việt Nam qua các thời kỳ

Thị trường ngoại hối Việt Nam, trên thực tế, mới chính thức hình thành

và phát triển trong một vài thập niên gần đây Tuy nhiên, trong quá trình hìnhthành và phát triển này, thị trường đã gặp phải rất nhiều biến động do sự thayđổi chính sách kinh tế nói chung và chính sách tỷ giá hối đoái nói riêng Cóthể nói rằng, chính sách tỷ giá có tác động trực tiếp đến hoạt động của thịtrường cũng như các thành viên tham gia Trong phần này, các tác động cơbản sẽ được đề cập dựa trên những mốc thay đổi căn bản của chính sách tỷgiá tại Việt Nam

1 Giai đoạn trước 1989

1.1 Chính sách tỷ giá hối đoái giai đoạn trước 1989

Đặc điểm nổi bật nhất trong chính sách tỷ giá ở giai đoạn này là một chế

độ đa tỷ giá, cố định, cồng kềnh và kém linh hoạt Trong thời kỳ này, các giaodịch ngoại hối chủ yếu phục vụ cho các giao dịch thanh toán thương mại vàdịch vụ giữa Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa, do đó đồng tiền đượcmua bán nhiều nhất trên thị trường là đồng rúp chuyển nhượng, các ngoại tệ

tự do được giao dịch là không đáng kể

Do nền kinh tế Việt Nam trong một thời gian dài là nền kinh tế kế hoạchtập trung nên tỷ giá trong thời kỳ này cũng mang nặng tính kế hoạch, tậptrung, được điều hành từ trên xuống Các loại tỷ giá được sử dụng trong thời

kỳ này bao gồm: tỷ giá mậu dịch, tỷ giá phi mậu dịch, tỷ giá kết toán nội bộ

và tỷ giá phi mậu dịch và tỷ giá kiều hối Mỗi loại tỷ giá được áp dụng trongnhững hoạt động riêng của nền kinh tế, cụ thể như sau:

Trang 30

- Tỷ giá mậu dịch: Là tỷ giá sử dụng trong quan hệ kinh tế thương mậugiữa Việt Nam và các nước, chủ yếu là Trung Quốc, Liên Xô và các nước xãhội chủ nghĩa ở Đông Âu Tỷ giá này là tỷ giá chính thức do Nhà nước áp đặtnên trong một thời gian dài, đặc biệt sau 1985, đã có một khoảng cách rất xagiữa tỷ giá chính thức với sức mua thực tế của USD và thị trường tự do Việc

ấn định tỷ giá thấp dẫn đến tình trạng các tổ chức, cá nhân có ngoại tệ khôngmuốn bán cho ngân hàng, gây thiệt hại cho Nhà nước, phát sinh tiêu cực đốivới đời sống kinh tế xã hội, làm gia tăng các hành động phi pháp, và khiếncho tỷ giá trở nên phức tạp

- Tỷ giá kết toán nội bộ: Tỷ giá này được sử dụng trong quan hệ thanhtoán giữa các đơn vị, tổ chức có thu chi ngoại tệ với Ngân hàng ngoại thương,chủ yếu làm chức năng cân bằng giá Về thực chất, tỷ giá này dùng để bù lỗcho xí nghiệp, đơn vị kinh doanh tham gia quan hệ kinh tế đối ngoại, khithanh toán kết hối cho ngân hàng và thu nộp lãi vào ngân sách nhà nước Vớiviệc áp dụng tỷ giá kết toán nội bộ, mức tỷ giá chính thức thường cố địnhtrong thời gian tương đối dài và thấp hơn rất nhiều so với mức tỷ giá thựchiện trên thị trường

- Tỷ giá phi mậu dịch: Là tỷ giá áp dụng trong lĩnh vực quan hệ đốingoại khác như ngoại giao, du lịch, thể thao, giáo dục, y tế, vận tải Tỷ giánày được xác định trên cơ sở bằng tỷ giá chính thức cộng với hệ số “đắt đỏ”trong mỗi nước, được tính bằng phương pháp so sánh sức mua của một cụmmặt hàng tiêu dùng hoặc dịch vụ tại thủ đô mỗi nước so với giá quốc tế

- Tỷ giá kết hối: Là tỷ giá mang tính chất đối nội, sử dụng trong quan

hệ thanh toán giữa những đơn vị, tổ chức có thu chi ngoại tệ, chủ yếu làmchức năng cân bằng giá Thực chất, tỷ giá này được dùng đề bù lỗ cho xínghiệp, đơn vị kinh doanh tham giá quan hệ kinh tế đối ngoại, khi thanh toánkết hối cho ngân hàng và thu nộp lại vào ngân sách nhà nước

Trang 31

Bảng 2.1: So sánh tỷ giá mậu dịch và tỷ giá phi mậu dịch

(1Ruble=30-100VND)

1USD=150VND(1 Ruble=150VND)

Trong thời kỳ này với chế độ đa tỷ giá, tỷ giá được xác lập theo mục tiêuphục vụ kế hoạch, do nhà nước quyết định, không xuất phát từ nhu cầu thựctại của nền kinh tế và quan hệ cung cầu ngoại tệ trong và ngoài nước Tỷ giágiữ vai trò thụ động, chủ yếu làm chức năng thanh toán, công cụ để xác lập kếhoạch, chưa phải công cụ điều tiết vĩ mô Việc định giá không theo quy luậtcung cầu ngoại tệ đã đem lại hậu quả hết sức nghiêm trọng Đồng tiền ViệtNam luôn bị định giá quá cao so với đồng tiền tự do chuyển đổi, tỷ giá chínhthức ngày càng chênh lệch xa tỷ giá thực tế Với chính sách tỷ giá hối đoáinêu trên cùng với hàng loạt các chính sách quản lý ngoại hối thắt chặt đã kìmhãm sự phát triển của thị trường ngoại hối nước ta Rõ ràng, trong giai đoạnnày, chúng ta thiếu rất nhiều những chính sách đúng đắn nhằm định hướngcho thị trường Quy mô thị trường trong thời gian này nhỏ lẻ, manh mún, hoạtđộng của các ngân hàng yếu kém Thị trường ngoại hối chính thức chưa hìnhthành với các giao dịch giao ngay và giao dịch phái sinh Các chủ thể thamgia trên thị trường chỉ bao gồm một số ngân hàng được phép hoạt động kinh

Trang 32

doanh ngoại hối, các công ty quốc doanh, trong đó các động thái trên thịtrường đều bị chi phối bởi quyết định của chính phủ dựa trên kế hoạch đượcđịnh sẵn cho xuất khẩu hoặc nhập khẩu Đồng tiền được sử dụng rộng rãitrong các giao dịch hầu hết là đồng Ruple chuyển nhượng (vốn được sử dụnggiữa các nước xã hội chủ nghĩa), các đồng tiền khác hầu như không được sửdụng

Vào ngày 26/3/1988, với sự ra đời của Nghị định 53/HĐBT, hệ thốngngân hàng được chia làm hai cấp và các ngân hàng chuyên doanh đảm nhậnchức năng kinh doanh theo đặc thù gắn liền với từng lĩnh vực kinh tế, thìNgân hàng ngoại thương là ngân hàng duy nhất được phép hoạt động và kinhdoanh ngoại hối, thanh toán quốc tế và mở tài khoản ở nước ngoài, các ngânhàng khác chỉ được phép hoạt động trong nước Động thái này càng khiến chohoạt động của thị trường ngoại hối trở nên trì trệ hơn Với Nghị định này,Chính phủ vô hình chung đã hạn chế hơn nữa cơ hội tham gia vào thị trườngngoại hối của nhiều ngân hàng

2 Giai đoạn từ 1989 đến 1999

Có thể nói rằng năm 1989 là cột mốc quan trọng trong sự phát triển cơchế tỷ giá ở Việt Nam khi vào ngày 13/3/1989, chế độ đa tỷ giá bị bãi bỏ, thayvào đó là một tỷ giá thống nhất Từ 1989 đến nay, chính sách tỷ giá đã trảiqua rất nhiều sự thay đổi và với mỗi sự thay đổi đó, nó lại có những tác độngkhông nhỏ đến hoạt động của thị trường ngoại hối Việt Nam

2.1 Giai đoạn 1989 đến 1992

2.1.1 Chính sách tỷ giá hối đoái giai đoạn 1989 đến 1992

Việc tỷ giá thống nhất ra đời đồng nghĩa với việc chấm dứt tỷ giá mậu

dịch và phi mậu dịch Trong thời gian này, với phương án “phá giá, thả nổi

có quản lý, gắn với đồng USD”, tỷ giá được thả nổi và kéo theo tỷ giá

Trang 33

VND/USD biến động mạnh theo xu hướng tăng giá liên tục kèm theo các cơnsốt, các đợt đột biến với biên độ rất lớn

Từ cuối năm 1990 trở đi, tỷ giá VND/USD đã có sự biến động mạnh mẽ

mà đỉnh cao nhất là cuối năm 1991, có lúc tỷ giá chính thức lên đến 14400.Diễn biến tỷ giá trong thời kỳ này không những đã nói lên khoảng cách giữa

tỷ giá của Nhà nước với tỷ giá hình thành trên thị trường tự do mà còn phầnnào phản ánh xu hướng tăng nhanh của giá trị USD cả khu vực Nhà nước lẫnkhu vực tư nhân Diễn biến tỷ giá từ 1989 đến 1992 như sau:

Bảng 2.2: Tỷ giá VND/USD bình quân hàng năm (1989-1992)

Nguồn: Vụ quản lý ngoại hối - NHNN

Trước tình trạng giá USD leo thang, VND bị rớt giá mạnh, giá cả hàngnhập khẩu tăng nhanh, khiến thúc đẩy lạm phát thì từ năm 1992, Chính phủ

đã thay đổi chính sách quản lý ngoại tệ và đổi mới cơ chế điểu hành tỷ giá hốiđoái giữa VND và USD như sau:

- Thay thế biện pháp hành chính, bắt buộc các đơn vị kinh tế quốc doanh

có ngoại tệ phải bán cho ngân hàng theo tỷ giá ấn định bằng biện pháp kinh tếnhư mở trung tâm giao dịch ngoại tệ (theo Quyết định số 107-NH/QĐ ngày

16 tháng 8 năm 1991) để cho các doanh nghiệp và ngân hàng trao đổi, muabán ngoại tệ với nhau theo giá thoả thuận

- Bãi bỏ hình thức quy định tỷ giá nhóm hàng trong thanh toán ngoạithương giữa ngân sách và các tổ chức tham gia hoạt động xuất nhập khẩu.Thay vào đó, trên cơ sở tỷ giá hình thành tại các phiên giao dịch ngoại tệ,NHNN công bố tỷ giá chính thức

Trang 34

- Chính phủ đã sử dụng những biện pháp để thắt chặt tiền tệ như khốngchế mức cung tiền, hạn chế tối đa việc cấp phát cho chi tiêu NSNN NHNN

đã thành lập các trung tâm giao dịch ngoại tệ và việc điều hành tỷ giá củaNHNN được thông qua các trung tâm giao dịch ngoại tệ NHNN không canthiệp trực tiếp vào tỷ giá như trước đây nữa mà chỉ điều hành thông qua công

cụ gián tiếp là quỹ điều hành ngoại tệ Khi cần thiết, quỹ này được dùng đểmua ngoại tệ hay bán ngoại tệ tại các phiên đấu giá Trên cơ sở tỷ giá chínhthức do NHNN công bố, NHTM quy định tỷ giá ngoại tệ bán ra trong phạm vibiên độ ±1%; chênh lệch giữa tỷ giá bán và tỷ giá mua ngoại tệ của cácNHTM tối đa là 0,5%

Có thể nói, NHNN đã tiến hành điều chỉnh thành công trước “cơn sốt”ngoại tệ 1991 Nội dung điều chỉnh bao gồm: (1) NHNN và NHTM đồng loạtbán USD ra thị trường chính thức; (2) NHNN thông báo và bán vàng khônghạn chế để thu tiền nội tệ

2.1.2 Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đến thị trường ngoại hối

Thay đổi hoàn toàn trong cơ chế tỷ giá đã đem lại những thay đổi rõ rệttại thị trường ngoại hối VND trước kia luôn bị định giá quá cao so với cácđồng tiền tự do chuyển đổi khác thì giờ đã được điều chỉnh phần nào dựa theoyếu tố cung cầu trên thị trường Đồng nội tệ trở thành đồng tiền có khả năngchuyển đổi với tỷ giá VND/USD=4500, giảm giá 20% so với giai đoạn trước.Chính phủ đã phá giá VND nhằm thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu,nâng cao dự trữ ngoại tệ và ổn định tiền tệ Tuy nhiên, trên thực tế, việc thảnổi VND lại làm tỷ giá VND/USD tăng nhanh, tức VND mất giá, đặc biệttrong giai đoạn cuối 1991 Tình trạng leo thang của giá USD đã kích thíchtâm lý dự trữ USD nhằm mục đích đầu cơ ăn chênh lệch giá Ngoại tệ vốnkhan hiếm lại càng khan hiếm hơn, không được dùng cho hoạt động xuấtnhập khẩu mà còn bị buôn bán vòng vèo giữa các tổ chức trong nước, khiếncho thị trường ngoại hối càng rối ren hơn Mọi cố gắng quản lý ngoại tệ của

Trang 35

Chính phủ đã mất hiệu lực ngay khi vừa công bố, ngân hàng không kiểm soátđược lưu thông ngoại tệ trên thị trường Việc thả nổi tỷ giá thiếu tác động điềutiết đủ mạnh của Nhà nước nên đã xảy ra tình trạng mua vét USD để trả nợđến hạn do áp dụng hình thức nhập trả chậm trước đó đã dẫn đến các cơn sốtUSD theo chu kỳ vào cuối quý, cuối năm trong các năm 1990-1991, tác độngxấu đến tình hình kinh tế, tạo ra tâm lý đầu cơ ngoại tệ, thúc đẩy nhanh hiệntượng đô la hoá trong hệ thống lưu thông thanh toán

Tiếp đến, việc Thống đốc NHNN ra Quyết định số 107-NH/QĐ ngày 16tháng 8 năm 1991 về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Trungtâm giao dịch ngoại tệ đã là tiền đề để hai trung tâm giao dịch ngoại tệ tạiTP.HCM và Hà Nội ra đời lần lượt vào tháng 8 và tháng 11/1991 Có thể nói,hai trung tâm giao dịch này là tiền thân của một thị trường ngoại hối pháttriển như ngày nay Cũng nhờ hoạt động của hai trung tâm này, NHNN đã kịpthời nắm bắt được cung cầu ngoại tệ trên thị trường để có được những điềuchỉnh phù hợp hơn với nhu cầu thị trường Việc hình thành hai trung tâm giaodịch ngoại hối này cùng với sự thay đổi trong cách điều hành quản lý ngoạihối đã phần nào giúp NHNN giảm được cơn sốt ngoại tệ năm 1991 Kể từ khithành lập vào tháng 8 và tháng 11 năm 1991 cho đến khi chấm dứt hoạt độngvào 1/12/1994, tổng số phiên giao dịch qua hai trung tâm là 692, với tổngdoanh số mua bán qua hai trung tâm là 660,5 triệu USD1

Hoạt động của thị trường ngoại hối giai đoạn này có thể được phản ánhthông qua những giao dịch tại hai trung tâm này Trước hết, đồng tiền sử dụngtrong giao dịch chủ yếu là VND và USD và chỉ tồn tại giao dịch giao ngayvới số lượng ngoại tệ tối thiểu cho mỗi giao dịch là 10000USD Thứ hai, sựbiến động cung cầu ngoại tệ chủ yếu tại Hà Nội và TP.HCM, đây rõ ràng lànhược điểm lớn của hai trung tâm này, bởi lẽ với giới hạn về địa lý và phương

Trang 36

tiện truyền thông, hai trung tâm này không thể phục vụ cung cầu ngoại tệ cho

cả nước được

Về vấn đề thị trường ngoại tệ ngầm, vào ngày 15/3/1989, Thông tư số

33/NH-TT chỉ rõ: Việc lưu thông ngoại tệ trong nước chỉ được thực hiện thông qua ngân hàng và các tổ chức kinh doanh, dịch vụ được phép thu ngoại

tệ Nghiêm cấm việc mua, bán, trao đổi ngoại tệ trên thị trường ngầm Tuy

nhiên, thực tế cho thấy thị trường tự do giai đoạn này vẫn rất phát triển do thịtrường chính thức chưa đủ sức đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho người dân

Một điều cần lưu ý tại giai đoạn này là tỷ giá chính thức vẫn còn có mộtkhoảng cách khá xa so với tỷ giá trên thị trường tự do Điều này có thể do saukhi có chủ trương thu hút vốn nước ngoài, luồng vốn ngoại tệ bằng USD lầnlượt đổ vào Việt Nam Tuy nhiên, tỷ giá chính thức vẫn do NHNN áp đặt nên

đã tạo ra một khoảng cách giữa sức mua thực tế của VND và thị trường ngầm

2.2 Giai đoạn 1993 đến 1999

2.2.1 Chính sách tỷ giá hối đoái giai đoạn 1993 đến 1999

Giai đoạn này đã chứng kiến nhiều nét đổi mới đáng lạc quan trongchính sách tỷ giá của NHNN Việc điều hành tỷ giá của NHNN không những

đã sát hơn với tình hình thực tế mà còn góp phần ổn định thị trường tiền tệ,tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế NHNN thực hiện đồng thời nghiệp vụ thịtrường mở và công cụ lãi suất trong điều hành tỷ giá

Khác với giai đoạn trước đó, chính sách tỷ giá thời kỳ này về tổng quan

có xu hướng thiên về cố định hơn là thả nổi, mặc dù có sự điều tiết củaNHNN nhằm vừa khuyến khích xuất khẩu, vừa kiểm soát hợp lý nhập khẩu.Nói cách khác, chính sách tỷ giá hối đoái này đã đóng góp đáng kể vào thựchiện các mục tiêu đã nêu, nhưng mới chủ yếu thiên về hướng nội, nổi bật làkhuyến khích tích luỹ giá trị dưới dạng nội tệ hơn là ngoại tệ, thu hút vốn đầu

tư nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho nhập khẩu máy móc, thiết bị vàcông nghệ nước ngoài đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh trong nước

Trang 37

Mốc đánh dấu quan trọng cho sự ra đời của thị trường ngoại tệ liên ngânhàng (TTNTLNH) tại Việt Nam là tại quyết định số 203/QĐ-NH3 về thànhlập TTNTLNH ngày 20/09/1994 Cùng ngày, thống đốc NHNN đã ra quyếtđịnh số 206/QĐ-NH7 về “Quy chế xác định, điều chỉnh và công bố tỷ giá hốiđoái của VND với ngoại tệ” Theo đó các NHTM được điều chỉnh tỷ giá linhhoạt hơn và NHNN chỉ thực hiện chức năng là người giao dịch cuối cùng Sựcan thiệp của NHNN cũng chỉ ở mức độ cần thiết, nhằm theo đuổi mục tiêuchính sách tiền tệ cho từng thời kỳ Tỷ giá hối đoái cũng được xác định mộtcách khách quan hơn, phù hợp hơn với quan hệ cung cầu ngoại hối trên thịtrường Tỷ giá trên thị trường tự do tuy cao hơn tỷ giá chính thức nhưng vẫnbiến động tương đối gần sát với tỷ giá chính thức.

Bảng 2.3 Tỷ giá VND/USD bình quân từ 1993-1996

Nguồn: Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Trang 38

Hình 2.1: Tỷ giá VNĐ/USD bình quân 1993-1996

Tỷ giá trên thị trường tự do

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước

Đến nửa cuối năm 1997, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ các nướckhu vực Đông Nam Á khiến cho hầu hết các nước trong khu vực phải phá giáđồng tiền (đồng Rupiah của Indonesia mất giá hơn 95%- Bộ Kế hoạch Đầutư) Điều này dẫn đến sự lên giá tương đối cao của VND so với các đồng tiềnkhác trong khu vực Đồng thời cũng do nhu cầu mua ngoại tệ của các ngânhàng trở nên cấp bách để thanh toán L/C trả chậm, trả nợ nước ngoài và thịtrường căng thẳng về ngoại tệ trong khi cán cân vãng lai đã bội chi đến mứcbáo động, nhất là đồng tiền của một số nước đã và đang phá giá mạnh Để đốiphó với tình hình này, NHNN đã ban hành Quyết định số 45/QĐ-NH7 ngày27/02/1997, mở rộng biên độ giao dịch lên ±5% từ ±1% trước đây Việc mởrộng biên độ này đã giúp VND giảm giá 5%, tuy nhiên sức ép giảm giá VNDtrong thời điểm này vẫn ở mức cao Cũng trong thời gian này, các chỉ số kinh

tế quan trọng như tỷ giá hối đoái chính thức, tỷ giá thị trường, chỉ số giá và sựbiến động giá vàng cũng được công khai một cách nhanh chóng và chính xác

Trang 39

Bảng 2.4: Tỷ giá một số ngoại tệ trong thời gian khủng hoảng tài chính 1997-1998

STT ĐỒNG TIỀN 04/04/1997 02/06/1998 GIẢM GIÁ (%)

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Trong giai đoạn tiếp theo (từ 7/1997 đến đầu năm 1999), trước ảnhhưởng ngày một gia tăng của cuộc khủng hoảng, VND vẫn bị đánh giá tươngđối cao khoảng 10-40% so với các đồng tiền khác Lúc này bản thân việc điềuchỉnh biên động chưa đủ tạo chuyển biến lớn về điều hành tỷ giá hối đoái đểthích ứng với tình hình mới Thực chất điều chỉnh tỷ giá bằng cơ chế công bố

tỷ giá chỉ đạo của NHNN gắn với biên độ quy định là nhằm tránh công khaiphá giá tiền tệ về danh nghĩa Việc áp dụng biên độ giao dịch cho phép cácNHTM áp dụng khá linh hoạt tỷ giá hối đoái thực tế tuỳ thuộc tình hình tiền

tệ và mục tiêu chính sách kinh tế chung còn tỷ giá hối đoái danh nghĩa vẫnthường xuyên được cố định

Yêu cầu tiếp tục điều chỉnh tỷ giá hối đoái theo sát tín hiệu thị trường lạitiếp tục được đặt ra vào tháng 8/1998 So với USD tại thời điểm này, VNDlên giá tuyệt đối khoảng 16% Do tác động giảm giá hàng loạt của các đồng

Trang 40

tiền, vào ngày 7 tháng 8 năm 1998, NHNN tiếp tục phá giá 9,2% thông quaviệc thu hẹp biên độ giao dịch ngoại tệ từ ±10% xuống còn ±7%, đồng thờinâng tỷ giá chính thức từ 11815 lên 12998 (Quyết định 267/1998/QĐ-NHNN7)

Bảng 2.5: Thay đổi biên độ và tỷ giá VND/USD công bố

giai đoạn 1997-1998

Thời điểm Biên độ dao động thức công bố Tỷ giá chính Quy mô điều chỉnh

Nguồn: http://intl.econ.cuhk.edu.hk

Tiếp đến, ngày 12/09/1998, Chính phủ ban hành quyết định số 173/1998/QĐ-TTg về nghĩa vụ bán và quyền mua ngoại tệ của người cư trú là tổ chức.Đây có thể coi là giải pháp tình tế để giảm bớt căng thẳng giữa cung và cầungoại tệ

2.2.2 Tác động của chính sách tỷ giá đến thị trường ngoại hối

Trong giai đoạn này, thị trường ngoại hối Việt Nam chứng kiến hai mốc

sự kiện quan trọng là: (1) sự ra đời của TTNTLNH theo quyết định số203/QĐ-NH ngày 20/10/1994; (2) khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á vàocuối năm 1997

Trước nhất, việc thành lập TTNTLNH đã đánh dấu bước ngoặt lịch sửtrong quá trình phát triển và hình thành của thị trường ngoại hối Việt Nam

Ngày đăng: 20/07/2018, 22:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Công Gia Khánh (2009), Hoàn thiện cơ chế quản lý tỷ giá hối đoái trong tiến trình hội nhập ở Việt Nam - Luận án Tiến sỹ kinh tế, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế quản lý tỷ giá hốiđoái trong tiến trình hội nhập ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Công Gia Khánh
Năm: 2009
2. Trần Thị Hạnh Nguyên, (2008), Tác động của chính sách quản lý ngoại hối và điều hành tỷ giá hối đoái đến thị trường ngoại hối Việt Nam- thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của chính sách quản lý ngoạihối và điều hành tỷ giá hối đoái đến thị trường ngoại hối Việt Nam-thực trạng và giải pháp
Tác giả: Trần Thị Hạnh Nguyên
Năm: 2008
7. PGS.TS Nguyễn Thị Quy (2008), Biến động tỷ giá ngoại tệ và hoạt động xuất khẩu, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến động tỷ giá ngoại tệ và hoạtđộng xuất khẩu
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Thị Quy
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2008
8. PGS. TS. Nguyễn Văn Tiến (2008), Giáo trình Nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nghiệp vụ kinh doanhngoại hối
Tác giả: PGS. TS. Nguyễn Văn Tiến
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2008
9. GS. TS. Lê Văn Tư, Lê Tùng Văn và Lê Nam Hải (2001), Các định chế tài chính, tổ chức thương mại quốc tế và thị trường ngoại hối, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các định chếtài chính, tổ chức thương mại quốc tế và thị trường ngoại hối
Tác giả: GS. TS. Lê Văn Tư, Lê Tùng Văn và Lê Nam Hải
Nhà XB: Nhà xuấtbản Thống kê
Năm: 2001
10. Nguyễn Thị Ngọc Trang, Chính sách quản lý ngoại hối ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học Ngoại Thương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách quản lý ngoại hối ở ViệtNam trong bối cảnh hội nhập
13. Mai Thu Hiền (2007), Solutions for exchange rate policy of transition economy of Vietnam, Ph.D Dissertation, Halle (Saale) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Solutions for exchange rate policy oftransition economy of Vietnam
Tác giả: Mai Thu Hiền
Năm: 2007
14. Nguyen Tran Phuc (2009), Implications of exchange rate policy for foreign exchange market development: Vietnam, 1986-2008, Thesis, Griffith University Sách, tạp chí
Tiêu đề: Implications of exchange rate policyfor foreign exchange market development: Vietnam, 1986-2008
Tác giả: Nguyen Tran Phuc
Năm: 2009
17. The Chinese university of Hong Kong,2000, Historial Exchange Rate Regime of Asian Countries, xem ngày 15/2/2010,<http://intl.econ.cuhk.edu.hk/exchange_rate_regime/index.php?cid=12&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Historial ExchangeRate Regime of Asian Countries
18. Mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá, xem ngày 10/3/2010<http://www.vangsaigon.com/forum/showthread.php?t=723&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá
4. Quyết định số 1452/2004/QĐ-NHNN về giao dịch hối đoái của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối Khác
5. Quyết định số 203/1994/QĐ-NH về quy chế tổ chức và hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Khác
6. Quyết định số 65/1999/QĐ-NHNN7 về việc Quy định nguyên tắc xác định tỷ giá mua bán ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ Khác
15. GoldmanSachs Global Economics, Communities and Strategy Research, 2010, Vietnam’s central bank devalued the official VND exchange rate for the 2nd time in the past 3 months Khác
16. IMF Country Report No. 07/386, 2007, Vietnam: Statistical AppendixIII. TÀI LIỆU THAM KHẢO TỪ WEBSITE Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w