1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm ra hoa đậu quả và một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất quả bưởi thanh trà tại huế

121 647 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đặc điểm ra hoa đậu quả và một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất quả bưởi thanh trà tại huế
Tác giả Hoàng Thị Minh Huệ
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Kim Thanh
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp I
Chuyên ngành Kỹ thuật trồng trọt
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 20,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp I

-o0o -

Hoàng thị minh huệ

Nghiên cứu đặc điểm ra hoa đậu quả và một

số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất

quả bưởi Thanh Trà tại Huế

Trang 2

Lời cam đoan

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đ4 đ−ợc cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Hoàng Thị Minh Huệ

Trang 3

Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban l4nh

đạo Viện Nghiên cứu rau quả đ4 tạo điều kiện cho tôi thực hiện tốt luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô hướng dẫn khoa học TS Nguyễn Thị Kim Thanh, Bộ môn Sinh lý thực vật, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội là người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể bộ môn Công nghệ Sinh học, bộ môn Nghiên cứu Cây ăn quả - Viện nghiên cứu Rau quả, các thầy cô trong khoa sau đại học, Bộ môn Sinh lý thực vật - Khoa Nông học - Trường Đại học Nông nghiệp I đ4 đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho luận văn

Xin cảm ơn các bạn đồng nghiệp, những người thân đ4 cổ vũ

và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Lời tác giả

Hoàng Thị Minh Huệ

Trang 4

Môc lôc Trang

2.1.2 Mét sè gièng b−ëi chñ yÕu trªn thÕ giíi 6 2.1.3 Mét sè gièng b−ëi chñ yÕu trång ë ViÖt Nam 7 2.1.4 T×nh h×nh s¶n xuÊt vµ tiªu thô b−ëi trªn thÕ giíi 11 2.1.5 T×nh h×nh s¶n xuÊt vµ tiªu thô b−ëi trong n−íc 12

Trang 5

2.2.5 Đất 18 2.3 Đặc tính sinh trưởng, phát triển của bưởi 18

2.4 Những nghiên cứu về dinh dưỡng khoáng trên cây có múi 23 2.5 Những nghiên cứu về sử dụng gibberellins trên cây có múi 28

Phần 3 Vật liệu, nội dung và phương pháp

3.2.1 Điều tra tình hình thời tiết, khí hậu đất đai và hiện trạng trồng

bưởi Thanh Trà ở Thừa Thiên Huế

32

3.2.2 Nghiên cứu đặc điểm ra hoa, đậu quả của bưởi Thanh Trà

trồng trong điều kiện tự nhiên

32

3.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại phân bón đến sinh trưởng

cây và năng suất quả

33

3.2.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của GA3 phun ở các thời điểm khác nhau

đến tỷ lệ ra hoa, đậu quả và năng suất quả bưởi Thanh Trà

33

3.2.5 Nghiên cứu thời điểm bao quả nhằm nâng cao năng suất và giá

trị thương phẩm của quả bưởi Thanh Trà 34

Trang 6

3.3 Phương pháp nghiên cứu 34

4.1 Điều kiện khí hậu, đất đai và hiện trạng trồng bưởi Thanh

Trà tại Thừa Thiên - Huế

38

4.1.3 Hiện trạng trồng bưởi Thanh Trà tại Thừa Thiên Huế 41 4.2 Nghiên cứu sự ra hoa đậu quả của bưởi Thanh Trà trồng

tại Huế

44

4.2.1 Khả năng sinh trưởng và năng suất của giống bưởi Thanh Trà

qua các độ tuổi cây khác nhau

năng suất bưởi Thanh Trà

Trang 7

4.3.1.3 ảnh hưởng của các công thức bón phân đến năng suất quả 55

4.3.1.4 ảnh hưởng của các công thức phân bón đến một số chỉ tiêu về

đặc điểm của quả và chất lượng quả

56

4.3.2 ảnh hưởng của chất điều tiết sinh trưởng GA3 đến sinh

trưởng phát triển năng suất và chất lượng quả bưởi Thanh

Trà

59

4.3.2.1 ảnh hưởng của nồng độ GA3 và thời điểm phun khác nhau đến

khả năng giữ hoa, đậu quả của bưởi Thanh Trà

59

4.3.2.2 ảnh hưởng của nồng độ GA3 và thời điểm phun khác nhau đến

sự tăng trưởng quả bưởi Thanh Trà

61

4.3.2.3 ảnh hưởng của nồng độ GA3 và thời điểm phun khác nhau đến

năng suất quả

63

4.3.2.4 ảnh hưởng của nồng độ GA3 và thời điểm phun khác nhau đến

một số chỉ tiêu về quả và chất lượng quả

65

4.3.3 ảnh hưởng của túi bao quả đến việc cải thiện mẫu mã quả,

và hạn chế ảnh hưởng của sâu bệnh hại

Trang 8

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

T§: Thêi ®iÓm CT: C«ng thøc

§K: §−êng kÝnh TT: Thø tù NS: N¨ng suÊt TB: Trung b×nh SR: Sau rông TP: Thµnh phè

Trang 9

Danh mục các bảng số liệu và đồ thị

Trang Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng một số quả có múi 12 Bảng 2.2 Diện tích, năng suất và sản lượng một số cây ăn quả chủ lực 13

Trà qua các nhóm tuổi

45

Bảng 4.7 Năng suất bưởi Thanh Trà qua theo nhóm tuổi ở các vùng

sinh thái khác nhau (năm 2006)

Trang 10

Hình 4.3 Diễn biến năng suất quả qua các độ tuổi 50 Bảng 4.11 Một số chỉ tiêu đánh giá phẩm chất quả 51 Bảng 4.12 ảnh hưởng của các công thức bón phân đến khả năng giữ

hoa, đậu quả

thời điểm phun khác nhau

Hình 4.7 Năng suất quả/cây của bưởi Thanh Trà ở các nồng độ GA3

và các thời điểm phun khác nhau

Trang 11

Phần 1 Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Bưởi (Citrus grandis) là một trong những loài cây ăn quả có múi được trồng khá phổ biến ở nước ta cũng như các nước vùng Châu á như Trung Quốc, ấn Độ, Thái Lan, Malaysia, Philippin vv Cây bưởi không những có giá trị kinh tế cao mà còn có giá trị dinh dưỡng lớn đối với con người Trong 100g phần ăn được có: 89 g nước, 0,5 g protein, 0,4 g chất béo, 9,3 g tinh bột,

49 IU vitamin A, 0,07 mg vitamin B1, 0,02 mg vitamin B2, 0,4 mg niacin và 44

mg vitamin C Bên cạnh đó còn có naringin trong các hợp chất glucosid Ngoài ăn tươi, quả bưởi còn có thể chế biến thành nhiều mặt hàng có giá trị như nước bưởi, mứt, chè vv

ở nước ta bưởi được trồng hầu khắp các tỉnh trong cả nước, đặc biệt đ4 hình thành những vùng bưởi cổ truyền mang tính đặc sản địa phương như bưởi Đoan Hùng - Phú Thọ, bưởi Diễn - Từ Liêm - Hà Nội, bưởi Phúc Trạch - Hương Khê - Hà Tĩnh, bưởi Thanh Trà - Huế, bưởi Năm Roi - Vĩnh Long và gần đây là bưởi da xanh - Mỏ Cày - Bến Tre vv… ở các địa phương trên bưởi

được coi là cây trồng nông nghiệp chính, với giá trị thu nhập hàng năm cao hơn gấp nhiều lần so với lúa và một số cây trồng khác, đồng thời cũng được coi là lợi thế so sánh với các địa phương khác trong phát triển kinh tế nông nghiệp

Đối với bưởi Thanh Trà, đây là giống đ4 tồn tại và phát triển ở Thừa Thiên Huế từ lâu đời, trở thành biểu trưng của văn hoá ẩm thực Cố Đô Huế Vùng bưởi Thanh Trà có diện tích khoảng 165,2 ha, được trồng chủ yếu trên

đất phù sa được bồi dọc theo sông Hương, sông Bồ, sông Ô Lâu, thuộc các x4: Thuỷ Biều, Hương Long, Kim Long (thành phố Huế); Hương Hồ, Hương Thọ,

Trang 12

Hương An, Hương Vân, thị trấn Hương Trà (huyện Hương Trà); Dương Hoà, Thuỷ Bằng, Thuỷ Vân (huyện Hương Thuỷ); Phong Thu, Phong An, Phong Sơn, Phong Hoà và thị trấn Phong Điền (huyện Phong Điền)

Cây bưởi Thanh Trà có đặc điểm sinh trưởng khoẻ, ra hoa đậu quả khá

ổn định Năm 2005 bưởi Thanh Trà đ4 được Cục sở hữu trí tuệ cấp đăng ký thương hiệu sản phẩm

Tuy nhiên, do trồng trọt từ lâu đời và người dân thiếu kiến thức về kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc, cùng với sự phát sinh phát triển của sâu, bệnh và sự thay đổi của điều kiện môi trường sống; những nghiên cứu cũng như việc áp dụng các kỹ thuật tiến bộ về trồng trọt, chăm sóc, bảo vệ thực vật trên cây bưởi Thanh Trà còn rất ít Do vậy cây bị thoái hoá, năng suất, chất lượng không đồng đều, có chiều hướng giảm, đặc biệt hiện tượng năm sai quả, năm

ít quả (thậm chí có x4 ở vùng bưởi bị mất mùa) thường xuyên xảy ra từ năm

2000 trở lại đây ở vùng bưởi Thanh Trà cũng như một số vùng bưởi khác ở miền Bắc hiện là một vấn đề hết sức nghiêm trọng, đe dọa hủy hoại nguồn gen quý hiếm và ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập của bà con nông dân trồng bưởi

Để góp phần bảo tồn, lưu giữ nguồn gen quý hiếm và khai thác sử dụng nguồn gen đặc sản bưởi Thanh Trà một cách hiệu quả phục vụ mục tiêu sản xuất hàng hóa, giữ gìn thương hiệu ổn định, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm ra hoa đậu quả và một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất quả bưởi Thanh Trà trồng tại Huế”

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích

Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm ra hoa, đậu quả và sự phát triển của quả bưởi Thanh Trà trong điều kiện tự nhiên Phân tích mối quan hệ giữa điều kiện thời tiết, khí hậu với sự ra hoa, đậu quả và phát triển của quả làm cơ sở cho

Trang 13

việc tác động một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng tỷ lệ đậu quả và năng suất quả bưởi Thanh Trà tại Thừa Thiên Huế

1.2.2 Yêu cầu

- Xác định được đặc điểm ra hoa, đậu quả của bưởi Thanh Trà trồng trong

điều kiện tự nhiên

- Xác định được ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật tới tỷ lệ đậu quả, năng suất, chất lượng quả, bao gồm:

+ ảnh hưởng của các loại phân bón và phương thức bón

+ ảnh hưởng của nồng độ và thời gian phun GA3

+ ảnh hưởng của túi bao và thời gian bao quả

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.3.1 ý nghĩa khoa học:

Xác định được quy luật ra hoa, đậu quả của một giống bưởi cụ thể trong một điều kiện sinh thái trồng trọt cụ thể, hay nói cách khác là đ4 xác định

được đặc tính sinh lý ra hoa đậu quả của giống bưởi Thanh Trà và những tác

động của điều kiện thời tiết, khí hậu tới sự ra hoa đậu quả của chúng ở tỉnh Thừa Thiên Huế làm cơ sở cho việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật nâng cao

tỷ lệ đậu quả, năng suất cũng như chất lượng quả

Từ kết quả của những biện pháp kỹ thuật tác động sẽ góp phần bổ sung quy trình kỹ thuật chăm sóc bưởi Thanh Trà đạt hiệu quả về năng suất, chất lượng cao hơn

Trang 14

Hiệu quả của các biện pháp kỹ thuật cũng góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho người sản xuất bưởi Thanh Trà tại tỉnh Thừa Thiên Huế

1.4 Giới hạn của đề tài

Đối tượng của đề tài là giống bưởi Thanh Trà có độ tuổi từ 6 - 10 tuổi

Đề tài được thực hiện tại vùng bưởi Thanh Trà tỉnh Thừa Thiên Huế Các thí nghiệm của đề tài được tiến hành tại x4 Hương Vân - Huyện Hương Trà là một trong những x4 trọng điểm phát triển bưởi Thanh Trà

Thời gian tiến hành thí nghiệm từ tháng 10 năm 2006 đến tháng 9 năm 2007

Trang 15

Phần 2 Tổng quan tài liệu

2.1 Giới thiệu chung về cây bưởi

Bưởi đôi khi còn được gọi là Shaddock [1], là lọai quả có múi to điển hình của vùng nhiệt đới Một số nước như Thái Lan, Trung Quốc, Indonexia phân chia bưởi làm 2 nhóm: nhóm quả ruột trắng và nhóm quả ruột hồng (sắc tố) Cũng cần phân biệt giữa bưởi - Pummelo và Pummeloes, Pummeloes là những giống có quả cực lớn (bòng hoặc kỳ đà), hàm lượng axit thấp tương tự như nhóm cam không axít (hàm lượng axít khoảng 0.2%) Bưởi là những giống có kích thước quả nhỏ hơn so với Pummeloes và hàm lượng axit cao hơn nên còn gọi là bưởi chua, phần lớn các giống bưởi là bất tự tương hợp (self-incompatible) và lai với nhau một cách dễ dàng nên trong tự nhiên có rất nhiều giống đ4 được phát sinh do lai [33]

Trang 16

2.1.2 Một số giống bưởi chủ yếu trên thế giới

Trên thế giới bưởi (grandis) được trồng chủ yếu ở các nước châu á và

Đông nam á như Trung Quốc, ấn Độ, Thái Lan, Lào, Việt Nam, Philippine, Malaysia vv Mặc dù bưởi là loài có sự đa dạng di truyền rất lớn, song trong sản xuất không phải tất cả các giống đều được trồng với mục đích sử dụng ăn tươi hoặc trao đổi buôn bán, mà ở mỗi nước chỉ một số giống được phát triển mang tính đặc sản địa phương

ở Trung Quốc, bưởi được trồng nhiều ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Tứ Xuyên, Hồ Nam, Chiết Giang, Phúc Kiến và Đài Loan Các giống bưởi nổi tiếng của Trung Quốc được biết đến là: bưởi Văn Đán, Sa Điền, bưởi ngọt Quân Khê Giống được phát triển nhiều là Sa Điền, với diện tích 19.033

ha chiếm 38,7% tổng diện tích bưởi toàn quốc (diện tích bưởi ở Trung Quốc là 49.186 ha năm 1989) Đây là giống đ4 được Bộ nông nghiệp Trung Quốc công nhận là hàng nông nghiệp chất lượng cao và cấp huy chương vàng ở Đài Loan có giống nổi tiếng là bưởi Văn Đán, do có đặc tính tự thụ, phôi không phát triển nên không có hạt, chất lượng rất tốt được nhiều người ưa chuộng (Hoàng A Điền, 1999) [2]

ở Thái Lan tập đoàn giống bưởi cũng rất phong phú Theo Prasert Anupunt - Viện làm vườn Thái Lan, các giống phổ biến trong sản xuất trồng ở các tỉnh miền Trung như Nakhon Pathom, Samut Sakhon, Samut songkhram, Ratchaburi và Nothaburi là: Khao Tongdee, Khao Phuang, Khao Phan, Khao Hawm, Khao nhan phung, Khao kheaw, Khao Jeeb, Khao Yai, Tubtim và Sai Nham Phung Một số giống khác như: Khao Tangkwa, Som Krun, Khao Udom Sook và Manorom được trồng ở Chai Nat và Nakhon Sawan; giống Khao Uthai là giống đặc sản của tỉnh Uthai Thani; giống Takhoi và Som Pol

được trồng phổ biến ở Phichit; giống Pattavia chỉ trồng ở vùng phía nam như

ở tỉnh Surat Thani, Songkhla, Narathiwat và Pattani [20]

Trang 17

Philippines là một nước sản xuất nhiều bưởi Tuy nhiên các giống bưởi

ở Philippine đều là các giống nhập nội từ các nước như Trung Quốc, Thái Lan vv ví dụ như giống Khao phuang từ Thái Lan, giống Amoy và Sunkiluk gốc Trung Quốc, chỉ có giống Fortich là giống địa phương [17]

ở Malaysia có 24 giống được trồng phổ biến trong sản suất, bao gồm cả giống trong nước và nhập nội Một số giống nổi tiếng như: Large red fleshed pomelo, Pomelo China [38] ấn Độ bưởi được trồng chủ yếu ở các vườn gia

đình thuộc bang Assam và một số bang khác Một số giống được biết đến là: Dowali, Nowgong, Burni, Gagar, Zemabawk, Jorhat, Khanpara, Kamrup, Khasi, Bor Tanga, Hukma Tanga, Holong Tanga, Jamia Tanga và Aijal [23] 2.1.3 Một số giống bưởi chủ yếu trồng ở Việt Nam

ở Việt Nam, bưởi (Pummelo) có thể tìm thấy ở tất cả các tỉnh trong cả nước Do bưởi dễ lai với nhau và với các giống cây có múi khác, đồng thời từ lâu đời nhân dân có thói quen trồng bằng hạt nên bưởi là một trong những loài

có sự đa dạng di truyền rất lớn Nhiều giống có những phẩm vị cũng như chất lượng rất ngon được người dân chọn lựa mang về trồng đ4 trở thành các giống

đặc sản của mỗi vùng miền Một số giống trồng phổ biến ở các địa phương với mục đích sản xuất hàng hóa là:

Bưởi Phúc Trạch

Nguồn gốc ở x4 Phúc Trạch, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh Hiện nay

được trồng ở hầu hết 28 x4 trong huyện và các vùng phụ cận

Bưởi Phúc Trạch được coi là một trong những giống bưởi ngon nhất ở nước ta hiện nay Quả hình cầu hơi dẹt, vỏ quả màu vàng xanh, khối lượng trung bình

từ 1- 1,2 kg, tỷ lệ phần ăn được 60- 65%, số lượng hạt từ 50- 80 hạt, màu sắc thịt quả và tép múi phớt hồng, vách múi dòn đễ tách rời, thịt quả mịn, đồng nhất, vị ngọt hơi chua, độ brix từ 12- 14 Thời gian thu hoạch vào tháng 9

Trang 18

lệ phần ăn được 60 - 65% Quả thu hoạch vào tháng 10, tháng 11 Quả có thể

để lâu sau khi thu hái

Bưởi Tộc Sửu quả to hơn, khối lượng quả trung bình 1 - 1,2 kg Thịt quả

ít nh4o hơn bưởi Bằng Luân, song vị cũng ngọt nhạt và có màu trắng xanh Thời gian thu hoạch sớm hơn bưởi Bằng Luân chừng 15 - 20 ngày

Bưởi Diễn

Trồng nhiều ở x4 Phú Diễn, Phú Minh huyện Từ Liêm Hà Nội Bưởi Diễn có thể là một biến dị của bưởi Đoan Hùng Quả tròn, vỏ quả nhẵn, khi chín màu vàng cam, khối lượng trung bình quả từ 0,8 - 1 kg, tỷ lệ phần ăn

được từ 60 - 65%, số hạt trung bình khoảng 50 hạt, múi và vách múi dễ tách rời nhau Thịt quả màu vàng xanh, ăn dòn, ngọt, độ brix từ 12 - 14 Thời gian thu hoạch muộn hơn bưởi Đoan Hùng, thường trước tết nguyên đán khoảng 15

- 20 ngày

Bưởi Đỏ (Bưởi Đào)

Giống này có nhiều dạng khác nhau Quả có 2 dạng hình cầu hơi dẹt và thuôn dài, khối lượng trung bình từ 1 - 1,2 kg, khi chín cả vỏ quả, cùi và thịt quả đều có màu đỏ gấc, vỏ quả nhẵn có nhiều túi tinh dầu mùi thơm Buởi Đỏ thường thu hoạch muộn vào tháng 1,2 dương lịch ( tháng 12 âm lịch ) để trưng bày ngày tết do vậy thịt quả thường bị khô, vị ngọt hơi chua Giống điển hình

là : Bưởi đỏ Mê Linh trồng nhiều ở huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc, bưởi gấc ở

Trang 19

vùng Đại Hoàng - Nam Định, Hoài Đức - Hà Tây và một số tỉnh trung du miền núi phía bắc, bưởi Xiêm Vang ở tỉnh Vĩnh Cử - Đồng Nai

Bưởi Thanh Trà

Vùng bưởi Thanh Trà có diện tích khoảng 165,2 ha, được trồng chủ yếu trên đất phù sa được bồi dọc theo sông Hương, sông Bồ, sông Ô Lâu, thuộc các x4: Thuỷ Biều, Hương Long, Kim Long (thành phố Huế); Hương Hồ, Hương Thọ, Hương An, Hương Vân, thị trấn Hương Trà (huyện Hương Trà); Dương Hoà, Thuỷ Bằng, Thuỷ Vân (huyện Hương Thuỷ); Phong Thu, Phong

An, Phong Sơn, Phong Hoà và thị trấn Phong Điền (huyện Phong Điền)

Bưởi Thanh Trà là giống bưởi ngon có tiếng của Cố Đô Huế Quả nhỏ, hình quả lê, khối lượng quả trung bình từ 0,6 - 0,8 kg, vỏ mỏng dễ bóc, khi chín màu vàng xanh, tép nhỏ mọng nước nhưng ăn dòn ngọt Thịt quả mịn,

đồng nhất, màu vàng xanh, tỷ lệ phần ăn được từ 62 - 65%, độ brix 10 - 12% Thời gian thu hoạch vào tháng 9 dương lịch

Bưởi Biên Hoà

Vùng trồng nổi tiếng là ở cù lao Phố và cù lao Tân Triều trên sông

Đồng Nai Quả to, hình quả lê, vỏ dày, cùi xốp trắng, múi dễ tách, ăn dòn, ngọt dôn dốt chua Khối lượng quả trung bình từ 1,2 - 1,5 kg, tỷ lệ phần ăn

được trên 60% Thời vụ thu hoạch bắt đầu từ tháng 9 dương lịch

Bưởi Năm Roi

Là giống bưởi ngon nổi tiếng của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nhất

là bưởi Năm Roi trồng trên đất phù sa ven sông Hậu ở huyện Bình Minh tỉnh Vĩnh Long Diện tích bưởi Năm Roi khoảng 10.000 ha với sản lượng 60.000 tấn/năm [11] Quả hình quả lê, khối lượng quả trung bình từ 1 - 1,4 kg, khi chín vỏ có màu vàng xanh, thịt quả màu xanh vàng, mịn, đồng nhất Múi và vách múi rất đễ tách, ăn dòn, ngọt hơi dôn dốt chua, đặc biệt là không có hạt

Trang 20

mẩy, chỉ có hạt lép nhỏ li ti Tỷ lệ phần ăn được trên 55%, độ brix từ 9 - 12% Thời vụ thu hoạch bắt đầu từ tháng 9 dương lịch

Bưởi Da Xanh

Bưởi Da Xanh có nguồn gốc từ ấp Thanh Sơn, x4 Thanh Tân, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre nhưng lại được trồng nhiều nhất tại x4 Mỹ Thạnh An, thị x4 Bến Tre Bưởi Da Xanh ăn ngọt, ráo nước, không hạt hoặc rất ít hạt, vỏ mỏng, thịt quả màu đỏ sẫm, độ Brix từ 10 - 13% Khối lượng quả trung bình từ 1,2- 1,5 kg, tỷ lệ phần ăn được trên 54% Giống bưởi Da Xanh là giống mới được tuyển chọn và biết đến cách đây khoảng chục năm, song do chất lượng ngon, giá cao gấp 3 - 3,5 lần các giống bưởi khác, cho trái quanh năm nên diện tích trồng giống bưởi này tăng rất nhanh, riêng huyện Mỏ Cày hiện tại có 400 ha, nhưng 5 năm tới diện tích sẽ tăng 1200 ha và toàn tỉnh Bến Tre sẽ có 4000 ha bưởi Da Xanh vào năm 2010 (hiện tại đ4 có 1.544 ha) [10]

Bưởi đường Lá Cam

Trồng nhiều ở tỉnh Đồng Nai huyện Vĩnh Cửu Hiện nay ở các tỉnh

Đồng bằng sông Cửu Long cũng phát triển trồng nhiều giống bưởi này Quả hình quả lê thấp, khối lượng quả trung bình từ 1,1 - 1,4 kg Vỏ quả khi chín màu xanh vàng, thịt quả màu vàng nhạt, đồng nhất, múi và vách múi rất dễ tách, vị ngọt, độ brix từ 9 - 12% Tỷ lệ phần ăn được trên 50% Thời vụ thu hoạch bắt đầu từ tháng 9 dương lịch

Bưởi đường Hương Sơn

Trồng nhiều ở vùng thung lũng hai sông Ngàn Phố và Ngàn Sâu thuộc hai huyện Hương Sơn và Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh Hai giống điển hình là bưởi Phúc Trạch (Hương Khê) và bưởi đường Hương Sơn Lá và quả bưởi

đường Vinh đều to hơn bưởi Đoan Hùng, vỏ mỏng hơn, ngọt và khô hơn bưởi

Đoan Hùng

Trang 21

Bưởi Lông Cổ Cò

Là giống bưởi đặc sản của huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang Quả bưởi có dạng hình quả lê, bên ngoài có lớp lông trắng mịn sờ tay vào hơi nhám, lớp lông này sẽ rụng dần khi quả chín Quả chín vỏ có màu xanh vàng, vỏ mỏng, cùi hồng, thịt quả màu vàng đỏ, múi dễ tách, vị ngọt chua nhẹ, độ Brix 10-11%, khá nhiều nước, mùi thơm, ít hạt (5 - 30 hạt/quả) Khối lượng quả trung bình 0,9 - 1,4 kg Hiện nay diện tích bưởi Lông Cổ Cò của huyện Cái Bè vào khoảng 1.700 ha [10]

2.1.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ bưởi trên thế giới

Hàng năm trên thế giới sản xuất khoảng 4 - 5 triệu tấn bưởi cả 2 loại bưởi chùm (Citrus paradisi) và bưởi (Citrus grandis), chiếm 5,4 - 5,6% tổng sản lượng cây có múi, trong đó chủ yếu là bưởi chùm chiếm 2,8 - 3,5 triệu tấn, còn lại bưởi chiếm một lượng rất ít khoảng 1,2 - 1,5 triệu tấn Bưởi chủ yếu

được sản xuất ở các nước thuộc châu á và tập trung nhiều ở một số nước như Trung Quốc, ấn độ, Philippines vv

ở Trung Quốc, bưởi được trồng nhiều ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Tứ Xuyên, Hồ Nam, Chiết Giang, Phúc Kiến và Đài Loan Theo một số tài liệu mới đây cho rằng: Các loại cây ăn quả có múi ở Trung Quốc phát triển mạnh hơn so với các lọai cây ăn quả khác Năm 1989 diện tích bưởi ở Trung Quốc là 49.186 ha, sản lượng là 21,8 vạn tấn, trong đó giống được trồng với diện tích lớn nhất là bưởi Sa Điền ở Quảng Tây: 19.033 ha chiếm 38,7% tổng diện tích bưởi toàn quốc, đứng đầu các tỉnh (Trần đăng Thổ, 1993) [12]

Tại Thái Lan bưởi được trồng nhiều ở các tỉnh miền trung, một phần miền bắc và miền đông [31] Năm 1987 Thái Lan trồng 1.500 ha bưởi cho sản lượng 76.275 tấn với giá trị 28 triệu đôla Mỹ (Trần Thế Tục, 1995) [14]

Philippines là một nước sản xuất nhiều bưởi Trong tập đoàn cây có múi, bưởi chiếm tới 33% (quýt chiếm 44% và cam 11%) Năm 1987

Trang 22

Philippines có 4.400 ha bưởi, sản lượng 34.735 tấn, giá trị gần 80 triệu pê-xô (Trần Thế Tục, 1995) [14]

Mới đây, theo thống kê của FAO, diện tích, sản lượng bưởi và một số quả có múi khác ở một số nước thuộc châu á như sau:

Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng một số quả có múi

(1000 ha)

NS (tấn/

ha)

SL (1000 tấn)

DT (1000 ha)

NS (tấn/

ha)

SL (1000 tấn)

DT (1000 ha)

NS (tấn/

ha)

SL (1000 tấn)

Nguồn: FAOSTAT FAO Statistics Division 2007 May 18

Số liệu bảng trên chưa phản ánh đầy đủ thực tế sản xuất bưởi, vì diện tích trồng có thể cao hơn nhiều so với diện tích thu hoạch Tuy nhiên qua số liệu bảng trên cũng cho thấy Trung Quốc là nước có diện tích bưởi lớn nhất châu á, với 55.000 ha cho thu hoạch, sau đó là Thái Lan 12.000 ha Về sản lượng ấn Độ là nước đứng thứ hai sau Trung Quốc

2.1.5 Tình hình sản xuất và tiêu thụ bưởi trong nước

Cây ăn quả có múi nói chung và bưởi nói riêng là một trong những loại quả quan trọng được xếp vào nhóm các cây ăn quả chủ lực ở nước ta, gồm:

Trang 23

cây có múi, dứa, xoài, nh4n, vải, với diện tích 441.068 ha, chiếm 57,5% trong tổng số 766.100 ha cây ăn quả của cả nước, trong đó diện tích cây ăn quả có múi là 111.299 ha, chiếm 14,8%

Bảng 2.2 Diện tích, năng suất và sản lượng một số cây ăn quả chủ lực

trồng (ha)

Diện tích cho quả (ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (tấn)

Trang 24

trăm hecta như: vùng bưởi Đoan Hùng - Phú Thọ (khoảng 300 ha), bưởi Diễn - Hà Nội (riêng x4 Phú Diễn có khoảng 53 ha với 600 hộ trồng, x4

Thượng Mỗ huyện Hoài Đức - Hà Tây diện tích bưởi Diễn khoảng 125 ha),

Phúc Trạch - Hà Tĩnh (1.250 ha), Thanh Trà - Thừa Thiên Huế (165,2 ha),

Biên Hòa - Đồng Nai vv…, đặc biệt là vùng bưởi Đồng bằng sông Cửu long

Theo Viện Nghiên cứu Cây ăn quả Miền Nam, chỉ riêng bưởi Năm roi ở

Đồng bằng sông Cửu Long diện tích đ4 khoảng 10.000 ha, sản lượng đạt

60.000 tấn/năm, phân bố chính ở tỉnh Vĩnh Long với diện tích 4,5 nghìn ha

cho sản lượng 31,3 nghìn tấn, chiếm 48,6% về diện tích và 54,3% về sản

lượng Năm roi của cả nước, trong đó tập trung ở huyện Bình Minh: 3,4 nghìn

ha với sản lượng gần 30 nghìn tấn Tiếp theo là tỉnh Hậu Giang: 1,3 nghìn ha

Giống bưởi Da xanh mới chọn lọc cách đây khoảng chục năm nhưng diện tích

trồng giống bưởi này ở Bến Tre đ4 có 1.544 ha Dự kiến đến năm 2010 tỉnh

Bến Tre sẽ có 4.000 ha [11]

Trồng bưởi mang lại hiệu quả kinh tế cao ở Thượng Mỗ Hà Tây người

ta tính được hiệu quả kinh tế của trồng bưởi gấp 4 -5 lần so với trồng lúa Giá

trị thu nhập của 1 sào bưởi lên khoảng trên 10 triệu đồng Còn đối với bưởi

Đoan Hùng, thông thường những nhà trồng 30 cây bưởi cũng thu được mỗi

năm 15 - 20 triệu đồng/năm ở Đồng bằng sông Cửu Long hiệu quả của trồng

bưởi Năm Roi không có gì phải bàn c4i vì giá mỗi chục bưởi (14 quả) loại 1

thấp nhất cũng 68 ngàn đồng và lên đến 120 ngàn đồng trong thời điểm từ tết

nguyên đán đến tháng 5 âm lịch, tính ra 1 công bưởi (1000 m2) thu được vài

chục đến cả trăm triệu đồng mỗi năm Các hộ trồng bưởi Da Xanh ở tỉnh Bến

Tre đều thu nhập trên 150 triệu đồng/ ha [11]

Bưởi ở Việt Nam chủ yếu sử dụng ăn tươi và hiện tại sản xuất bưởi của

nước ta vẫn chưa đủ để cung cấp cho thị trường trong nước Một vài năm gần

đây đ4 có một số công ty như Hoàng Gia, Đông Nam đ4 bắt đầu những hoạt

động như đầu tư sản xuất, áp dụng các biện pháp quản lý chất lượng theo

Trang 25

GAP, đăng ký thương hiệu một số giống bưởi ngon ở nước ta như Năm Roi,

Da Xanh, Phúc Trạch vv với mục đích xuất khẩu ra thị trường nước ngoài

Tóm lại: cây có múi nói chung và bưởi nói riêng là loại cây ăn quả quan trọng không chỉ về giá trị dinh dưỡng mà cả về hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều lần so với cây trồng khác Việc phát triển trồng bưởi ở những vùng có điều kiện phát triển cũng như bảo tồn và phát triển mở rộng hơn nữa ở các vùng bưởi truyền thống là định hướng chiến lược của nhiều địa phương trong cả nước trong đó có vùng bưởi Thanh Trà của tỉnh Thừa Thiên Huế

2.2 yêu cầu ngoại cảnh của cây bưởi

Cây bưởi là loại cây ăn quả có tính thích ứng rộng, phân bố rộng r4i, thích nghi với khí hậu nống ẩm ở vùng nhiệt đới

Sau đây là một số yếu tố ngoại cảnh chủ yếu ảnh hưởng tới quy hoạch vùng trồng cũng như sinh trưởng, phát triển, chất lượng của bưởi:

2.2.1 Yêu cầu nhiệt độ

Bưởi có thể trồng ở vùng có nhiệt độ từ 12 - 390C, trong đó nhiệt độ thích hợp nhất là từ 23 - 290C Nhiệt độ thấp hơn 12,50C và cao hơn 400C cây ngừng sinh trưởng [22] Nhìn chung nhiệt độ là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng tới toàn bộ hoạt động sống của cây cũng như năng suất, chất lượng quả

Nhiệt độ tốt nhất cho sinh trưởng của các đợt lộc trong mùa xuân là từ

12 - 200C, trong mùa hè từ 25 - 300C, còn cho hoạt động của bộ rễ từ 17 -

300C Nhiệt độ tăng trong phạm vi từ 17 - 300C thì sự hút nước và các chất dinh dưỡng tăng và ngược lại, do liên quan đến bốc hơi nước và hô hấp của lá

Đối với thời kỳ phân hoá mầm hoa yêu cầu nhiệt độ phải thấp hơn 250C trong vòng ít nhất 2 tuần, hoặc phải gây hạn nhân tạo ở những vùng nhiệt đới nóng Ngưỡng nhiệt độ tối thiểu cho nở hoa là 9,40C Trong ngưỡng nhiệt độ nhỏ hơn 200C sẽ kéo dài thời gian nở hoa, còn từ 25 - 300C quá trình nở hoa sẽ ngắn hơn [22]

Trang 26

Nhiệt độ thấp trong mùa đông có ảnh hưởng tới sự phát sinh cành hoa

có lá và cành hoa không có lá Cành hoa không lá tỷ lệ đậu quả tới khi thu hoạch là rất thấp so với cành hoa có lá, do vậy nếu nhiệt độ mùa đông quá thấp cành hoa không lá sẽ nhiều hơn và như vậy tỷ lệ đậu quả sẽ thấp

Nhiệt độ ảnh hưởng tới sự thụ phấn gián tiếp thông qua hoạt động của ong và trực tiếp ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng của ống phấn Sự nảy mầm của hạt phấn khi rơi vào đầu nhụy và tốc độ sinh trưởng của ống phấn trong vòi nhuỵ nhanh khi nhiệt độ cao từ 25 - 300C và chậm khi nhiệt độ dưới 200C Sinh trưởng của ống phấn xuyên suốt hết vòi nhụy đến no4n từ 2 ngày đến 4 tuần phụ thuộc vào giống và điều kiện nhiệt độ Tuy nhiên thời gian càng kéo dài cũng sẽ làm tỷ lệ đậu quả thấp

Sự rụng quả sinh lý (thời kỳ quả non có đường kính từ 0,5 - 2,0 cm) là một rối loạn chức năng có liên quan tới vấn đề cạnh tranh của các quả non về hydratcarbon, nước, hoocmon và sự trao đổi chất khác, song nguyên nhân quan trọng nhất được nhấn mạnh đó là nhiệt độ mặt lá lên tới 35 - 400C và hạn Nhiệt độ thích hợp cho phát triển của quả từ 14 - 400, tốt nhất là ở nhiệt

độ xung quanh 320, nhiệt độ từ 29 - 350 tích luỹ đường tốt nhất và vỏ quả cũng đạt tới màu sắc tốt nhất [22]

Nhiệt độ ảnh hưởng tới hình thức bên ngoài và chất lượng bên trong của quả ở những vùng nóng không có mùa đông hàm lượng diệp lục cao trên vỏ quả làm cho quả luôn có màu xanh, nhưng nếu nhiệt độ không khí và đất giảm xuống 150C thì chất diệp lục trên vỏ bị biến mất và các hạt lục lạp chuyển đổi thành các hạt sắc tố màu vàng, vàng cam hoặc màu đỏ (carotenoids, lycopenes, vv ) Sự tổng hợp carotenoid bị giảm nếu nhiệt độ trên 350C hoặc dưới 150C nhưng vẫn làm cho diệp lục biến mất ở những vùng nóng cam có hàm lượng chất khô hoà tan (TSS) cao hơn và hàm lượng axít giảm

Trang 27

Tóm lại nhiệt độ là yếu tố khí khậu rất quan trọng đối với sinh trưởng, phát triển cũng như năng suất chất lượng của bưởi, bởi vậy việc chọn vùng trồng bưởi trước hết phải xem xét yếu tố nhiệt độ xem có phù hợp hay không 2.2.2 ánh sáng

Bưởi không ưa ánh sáng mạnh, ưa ánh sáng tán xạ có cường độ 10.000

- 15.000 lux, ứng với 0,6 cal/ cm2 và tương ứng với ánh sáng lúc 8 giờ và

16-17 giờ những ngày quang mây mùa hè Sở dĩ như vậy là do cường độ ánh sáng

ảnh hưởng trực tiếp đến sự đồng hoá CO2, cường độ ánh sáng mạnh làm giảm

sự đồng hoá CO2 vì bức xạ tăng trên mặt lá Dưới các điều kiện cực trị, nhiệt

độ mặt lá có thể cao hơn nhiệt độ không khí từ 7 - 100 và có thể lên đến 550 C Nhiệt độ tối thích trên bề mặt lá cho đồng hoá CO2 dao động từ 28 - 300C ở vùng ẩm độ không khí cao, khi nhiệt độ không khí lớn hơn 350C làm hạn chế nghiêm trọng tới hoạt tính của ribolose 1,5 - bisphosphate carboxylase/ oxygenas (RuBis Co) và gây ra sự đóng khí khổng vào giữa ban ngày Nhiệt

độ thấp hơn mức tối thích cũng làm giảm sự đồng hoá CO2 do giảm hoạt tính của men [22]

Các thời kỳ cần nước của bưởi là: Bật mầm, phân hoá mầm hoa, ra hoa

và phát triển quả Lượng nước cần hàng năm đối với 1 ha cam quýt từ 9.000 - 12.000 m3, tương đương với lượng mưa 900 - 1.200 mm/năm [22]

2.2.4 Gió

Tốc độ gió vừa phải có ảnh hưởng tốt tới việc lưu thông không khí, điều hoà độ ẩm, giảm hại sâu bệnh, cây sinh trưởng tốt Tuy nhiên tốc độ gió lớn

Trang 28

ảnh hưởng đến khả năng đồng hoá của cây đặc biệt những vùng hay bị gió b4o

sẽ làm cây gẫy cành rụng quả ảnh hưởng tới sinh trưởng và năng suất

2.2.5 Đất

Bưởi có thể trồng được trên nhiều loại đất, tuy nhiên trồng trên đất xấu việc đầu tư sẽ cao hơn và hiệu quả kinh tế sẽ thấp hơn trồng trên đất tốt

Đất tốt đối với bưởi thể hiện qua các chỉ tiêu chủ yếu sau:

- Đất phải giàu mùn (hàm lượng từ 2 - 2,5% trở lên) hàm lượng các chất dinh dưỡng NPK, Ca, Mg phải đạt mức độ từ trung bình trở lên (N: 0,1 - 0,15%, P2O5 dễ tiêu từ 5- 7mg/100g đất K2O dễ tiêu từ 7 - 10mg/100g đất

2.3 Đặc Điểm sinh trưởng, phát triển của cây bưởi

Bưởi là một loại cây thân gỗ sống lâu năm, lá xanh quanh năm, thân cây cao, tán cây có dạng hình tròn, hình tròn dẹt hoặc hình nón cành thường to, khoẻ, dầy, thưa tuỳ thuộc vào giống Hoa, lá, quả, hạt đều to hơn cam quýt Cành lá phát triển mạnh Các bộ phận lá, cành, quả khi còn non thường phủ một lớp lông tơ mỏng [12,7]

2.3.1 Đặc điểm sinh trưởng thân, cành

Sinh trưởng cành của cây có múi nói chung và bưởi nói riêng phụ thuộc vào tuổi cây, điều kiện môi trường và kỹ thuật chăm sóc Nhìn chung những

Trang 29

cây trẻ chưa cho quả sinh trưởng của cành (phát sinh lộc) thường xảy ra quanh năm, nghĩa là một năm thường có nhiều đợt cành xuất hiện Khi cây trưởng thành đ4 cho quả thì thường chỉ có 4 đợt lộc trong năm, đó là lộc xuân, lộc hè, lộc thu và lộc đông ở những vùng khô hạn, hoặc rét sớm thì chỉ có 3 đợt lộc xuân, hè và thu, không có lộc đông (Lý Gia Cầu, 1993)[7]

- Lộc xuân: xuất hiện từ tháng 2 đến tháng 4 hàng năm Số lượng cành xuân thường nhiều, chiều dài cành tương đối ngắn Cành xuân mang hoa gọi

là cành quả, không có hoa là cành sinh dưỡng

- Lộc hè: xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 7 hàng năm, thường không nẩy tập trung, sinh trưởng không đều, cành thường to, dài, đốt thưa Cành hè là cành sinh dưỡng có nhiệm vụ cung cấp dinh dưỡng cho cành quả và là cành

mẹ của cành thu Tuy nhiên nếu cành mùa hè nhiều sẽ dẫn tới sự cạnh tranh dinh dưỡng đối với quả và có thể gây rụng quả nghiêm trọng, do vậy cần phải cắt tỉa để lại một số lượng cành thích hợp

- Lộc thu: xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 10 hàng năm, mọc đều và nhiều hơn cành mùa hạ Cành thu thường mọc từ cành mùa xuân không mang quả và phần lớn từ cành mùa hè, có vai trò quan trọng trong việc mở rộng tán, tăng cường khả năng quang hợp của cây và là cành mẹ của cành xuân, do vậy

số lượng và chất lượng của cành thu có ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng và chất lượng cành xuân, cành mang quả của năm sau

- Lộc đông: xuất hiện vào tháng 11 và tháng 12 hàng năm, đợt cành này

ít, cành ngắn, lá vàng xanh Nếu xuất hiện nhiều sẽ làm tiêu hao dinh dưỡng,

ảnh hưởng đến sự phân hoá mầm hoa của cành quả

2.3.2 Đặc tính sinh lý ra hoa đậu quả

Hoa bưởi là hoa chùm hoặc tự bông Nụ, hoa bưởi to hơn so với cam quýt Tràng hoa có từ 3 - 5 cánh tách biệt, cánh hoa có từ 3 - 6 cánh, dầy có mầu trắng Nhị đực có từ 22 - 47 cái, nhụy cái có một do các bộ phận đầu

Trang 30

nhụy, vòi nhụy và bầu nhụy cấu tạo thành Đầu nhụy thường to, cao hơn bao phấn Với cấu tạo này bưởi được coi là cây thụ phấn, khai hoa dễ dàng Hoa bưởi từ khi nở đến khi tàn khoảng hơn một tháng, khả năng ra hoa của bưởi rất cao, tuy nhiên tỷ lệ đậu quả lại thấp (1-2%) Thời điểm ra hoa của mỗi giống là khác nhau và phụ thuộc vào thời tiết của từng năm (Lý Gia Cầu, 1993) [7] Quá trình ra hoa của bưởi trải qua các giai đoạn:

2.3.2.1 Cảm ứng và phân hoá hoa

ở một số cây trồng, một quang chu kỳ tới hạn hoặc xử lý xuân hoá hoặc

là cả hai điều kiện trên sẽ tạo ra một chất kích thích ra hoa giả định nào đó Chất này gây ra sự biến đổi một chiều trong tế bào của mô phân sinh đỉnh từ việc quyết định cho quá trình hình thành và phát triển về cấu trúc của lá cũng như quy định cấu trúc của hoa Cảm ứng ra hoa của phần lớn thực vật liên quan đến sự cảm nhận của một số cơ quan đối với những tín hiệu từ môi trường: độ dài ngày, khủng hoảng nước, nhiệt độ xuân hoá Những điều kiện này giúp cây sản sinh ra một chất kích thích ra hoa giả định nào đó hoặc làm tăng tỷ lệ chất kích thích ra hoa/chất kìm h4m ra hoa Những sản phẩm có tính kích thích ra hoa này sau khi được tạo ra sẽ chuyển đến tế bào đích trong các

đốt của mô phân sinh đỉnh (Bernier, 1981) [18] Tuy nhiên một hợp chất chính xác có vai trò như một chất kích thích ra hoa vẫn chưa được xác định rõ ràng (Lang, 1977) [28]

Cảm ứng ra hoa có thể bị chi phối bởi nhiều yếu tố như: sự có mặt của một số chất kích thích ra hoa, sự tích luỹ sản phẩm quang hợp (Bernier, 1993) [19] Có thể ở từng loài thực vật, quá trình ra hoa được kích thích bởi một yếu

tố cảm ứng ra hoa khác nhau Với cây bưởi quá trình hình thành hoa diễn ra khi xuất hiện yếu tố hoạt hoá cho sự sinh trưởng của chồi đỉnh và sự có mặt của yếu tố cảm ứng hình thành hoa

Trang 31

Cảm ứng ra hoa bắt đầu với sự ngừng sinh trưởng sinh dưỡng trong mùa

đông - thời kỳ sinh trưởng không rõ ràng ở vùng á nhiệt đới hoặc thời kỳ khô

ở vùng nhiệt đới [22] Nhìn chung trên cây trưởng thành, sự sinh trưởng chồi ngừng lại và tốc độ sinh trưởng rễ giảm khi nhiệt độ giảm vào mùa đông mặc

dù nhiệt độ không dưới 12,50C Trong thời kỳ này các lộc sinh dưỡng phát triển khả năng ra hoa Vì thế, sự cảm ứng liên quan đến việc định hướng chuyển từ sinh trưởng sinh dưỡng sang tạo các chùm hoa Stress do lạnh và nước là những nhân tố cảm ứng chính, với độ lạnh là nhân tố chính ở vùng có khí hậu á nhiệt đới và nước ở vùng có khí hậu nhiệt đới Nhiệt độ dưới 250C trong nhiều tuần là cần để cảm ứng lộc hoa với số lượng đáng kể Trên đồng ruộng, cần có thời kỳ khô hạn kéo dài hơn 30 ngày để một số lượng lộc hoa có cảm ứng ra hoa đáng kể [22] Hiện nay việc gây hạn nhân tạo đ4 được sử dụng như là một phương tiện để xúc tiến sự cảm ứng ra hoa ở cây có múi nói chung

và bưởi nói riêng, ngay ở nước ta vùng đồng bằng Sông Cửu Long nông dân trồng cây ăn quả cũng thường sử dụng biện pháp xiết nước để kích thích cho cây ra hoa theo ý muốn

2.3.2.2 Sự ra hoa

Sự ra hoa xảy ra sau khi cảm ứng và phân hoá hoa Nhiệt độ tối thiểu cho ra hoa là 9,40C Hoa bưởi mọc thành chùm kiểu xim, thường các hoa ở phía gốc chùm nở trước sau đó lần lượt đến các hoa ở giữa và đỉnh chùm nở sau, hoa đỉnh chùm sẽ nở cuối cùng Lord và Eckert (1985) đ4 quan sát thấy rằng kích thước hoa nhìn chung giảm từ hoa nở đầu tiên đến hoa cuối cùng

Do vậy hoa thứ hai tính từ đỉnh chùm hoa thường nhỏ nhất nhưng lại có tỷ lệ

đậu quả cao nhất trên chùm hoa Hoa nở muộn sinh trưởng nhanh hơn và bền hơn hoa nở sớm [22]

Nhiều nghiên cứu đ4 được tiến hành để xác định các yếu tố sinh lý nào

điều khiển sự ra hoa ở cây bưởi và đ4 được Davenport tổng hợp chi tiết (1990) Các yếu tố có liên quan nhất đến sự nở hoa là hydrat cacbon, hormon, nhiệt

Trang 32

độ, nước và dinh dưỡng Cơ sở của hydrat cacbon có tác động đến sự nở hoa là khi khoanh vỏ làm tăng cảm ứng ra hoa, tăng khả năng đậu quả Sự ảnh hưởng của hormon tới ra hoa bưởi cũng đ4 được nghiên cứu sâu trong nhiều năm (Davenport 1990) Một số nghiên cứu sử dụng hormon nội sinh với chồi cây bưởi và được đánh giá bằng mức độ ra hoa Dinh dưỡng của cây liên quan trực tiếp và gián tiếp đến sự ra hoa của cây bưởi Hàm lượng N trong lá cao, đặc biệt đối với cây non gây ra sự sinh trưởng sinh dưỡng mạnh và ức chế sự ra hoa Ngược lại, hàm lượng N trong lá thấp kích thích ra hoa sớm Tuy nhiên cây thiếu N nghiêm trọng thì ra ít hoa Người ta đ4 nghiên cứu thấy rằng nên duy trì hàm lượng N trong lá ở mức tối ưu khoảng 2,5 - 2,7% sẽ tạo ra số hoa vừa phải và cho tỷ lệ đậu quả và năng suất cao nhất Nitơ ở dạng amôn có thể trực tiếp ảnh hưởng đến ra hoa thông qua điều khiển hàm lượng amôn và polyamine trong nụ hoa Stress nước và nhiệt độ thấp làm tăng hàm lượng amôn trong lá và sự ra hoa [22]

2.3.2.3 Quá trình thụ phấn và đậu quả

Hầu hết các loài cây có múi thương mại không cần thụ phấn chéo Tuy nhiên một số loài lấy hạt hoặc để kích thích sinh trưởng của bầu nhuỵ đối với những giống quả không hạt (quả điếc -parthenocarpic) thì cần có sự thụ phấn

bổ sung

Nhiệt độ có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả thụ phấn do trực tiếp ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của ống phấn Tốc độ nảy mầm và sinh trưởng của ống phấn để chui vào vòi nhuỵ đưa tinh tử vào thụ tinh cho tế bào trứng rất thích hợp trong khoảng nhiệt độ từ 25 - 300C và bị giảm xuống hoặc ức chế hoàn toàn ở nhiệt độ thấp < 200C [22]

Sự đậu quả, rụng quả và cuối cùng là năng suất quả bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố sinh lý và môi trường Các giống cây có múi nói chung và bưởi nói riêng ra rất nhiều hoa khoảng 100.000 - 200.000 hoa trên một cây trưởng thành, tuy nhiên chỉ 1-2% số hoa đậu quả cho thu hoạch số còn lại bị rụng đi

Trang 33

(Erickson và Brannaman, 1960) [24] Có 2 lần rụng quả sinh lý: lần rụng đầu tiên xảy ra từ khi nở hoa cho đến 3 - 4 tuần sau nở hoa; lần hai xảy ra từ tháng thứ 5 đến tháng thứ 6 [22]

Những nghiên cứu cho thấy rằng: thời gian nở hoa có liên quan với tỷ lệ

đậu quả Hoa nở sớm có tỷ lệ đậu quả thấp hơn nhiều so với hoa nở muộn Nở hoa vào nhiệt độ thấp đầu mùa sẽ làm giảm sinh trưởng của ống phấn nên tỷ lệ

đậu quả thấp Ngoài ra, quả sinh ra trên những cành hoa không lá hoặc có lá chét thì tỷ lệ đậu cũng kém và nhiệt độ quá cao > 400C gây ra sự rụng quả (Lovatt et al., 1984) [22]

2.4 Những nghiên cứu về dinh dưỡng khoáng trên cây có múi

Đ4 có rất nhiều công trình nghiên cứu về dinh dưỡng khoáng cho cây có múi nói chung và bưởi nói riêng ở các quốc gia trên thế giới Nhìn chung các vấn đề về dinh dưỡng cho cây được đề cập một cách khá toàn diện, trong đó những vấn đề về vai trò của các nguyên tố dinh dưỡng, ảnh hưởng và mối quan hệ của chúng tới từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây cũng như năng suất, chất lượng quả được nghiên cứu khá chi tiết cụ thể

Theo Reitz H và cộng sự (1954), Naude C.J (1954) có ít nhất 12 nguyên tố dinh dưỡng quan trọng cần được bón, đó là: đạm, lân, kali, magiê, canxi, lưu huỳnh, đồng, kẽm, mangan, bo, sắt và molipden [8]

Cameron S.H và cộng sự (1952) nghiên cứu thấy rằng trong thời kỳ ra hoa cây huy động nhiều đạm từ lá về hoa [8] Cùng với kết luận trên, Reuther

và Smith (1954) cũng xác định cây hút dinh dưỡng quanh năm nhưng hút mạnh vào thời kỳ nở hoa cũng như khi cây ra đọt mới (tương ứng vào tháng 3-

4 và tháng 7-9) [8]

Hume (1957) [26] thấy rằng số lượng đạm và kali trong quả không ngừng tăng lên đến khi quả lớn và chín, còn lân và magiê cũng tăng nhưng chỉ tăng đến khi quả lớn bằng nửa (1/2) mức lớn nhất sau đó không đổi, canxi

Trang 34

tăng đến 1/3 giai đoạn đầu tiên Tỷ lệ: đạm, lân, kali ở nhiều loại quả có múi thay đổi ít, thường là N: P2O5: K2O = 3: 1: 4

Thiếu đạm lá bị mất diệp lục và bị vàng đều, thiếu nghiêm trọng cành bị ngắn lại, mảnh, lá vàng, nhỏ dễ bị rụng, quả ít Tuy nhiên theo Bryan O.C (1950) [8] thiếu đạm chỉ ảnh hưởng đến độ lớn của quả chứ không ảnh hưởng

đến đặc điểm quyết định phẩm chất quả, chỉ có chất khô hoà tan bị giảm đôi chút Dạng đạm phổ biến dùng là amôn sunfat Tuy nhiên đối với đất kiềm hoặc chua nhiều tốt nhất nên dùng các loại phân có gốc nitrat, như vậy sẽ ít bị mất đạm và tránh ảnh hưởng chua của gốc sunfat và nitrat còn thúc đẩy sự hút magiê ở đất thiếu magiê

Hiếm khi thấy tình trạng thừa lân ở đất nặng vì đất này có khả năng giữ lân mạnh, chỉ ở đất nhẹ nếu bón lân liên tục sẽ gây hiện tượng thừa lân (West E.S 1938) [8] Thừa lân gây tình trạng thiếu kẽm (hiện tượng gân xanh lá vàng) một bệnh sinh lý khá phổ biến ở cam quýt (Chapman 1937)[8]

Trường hợp thiếu kali sẽ làm quả nhỏ nhưng lá vẫn không có triệu chứng gì, thiếu trong thời gian dài, lá mới bị dày và nhăn nheo, vùng giữa các gân lá bị mất diệp lục và sau đó có các vết chết khô, khi thiếu trầm trọng đầu

đọt bị rụng, lá bị chết khô, cây thường bị chảy gôm, quả thô, phẩm chất kém Bón kali sunfat thích hợp hơn kali clorua vì phần lớn các giống đều mẫn cảm với clorua quá cao Kali-magiê sunfat (Patenk kali) rất thích hợp vì có 10% MgO cùng với 30% K2O

Bổ sung dinh dưỡng cho cây có thể dựa vào nhiều căn cứ, tuy nhiên thông thường hiện nay người ta dựa vào 3 căn cứ chính: chuẩn đoán dinh dưỡng lá, phân tích đất và dựa vào năng suất

Bón phân theo chuẩn đoán dinh dưỡng lá được thiết lập trên 4 nguyên tắc cơ bản là: chức năng của lá, quy luật bù hoàn giảm dần, chức năng của các nguyên tố dinh dưỡng và sự đối kháng ion Dựa trên 4 nguyên tắc này Reuther

và Smith đ4 xây dựng được tiêu chuẩn về thành phần dinh dưỡng của lá gồm 5

Trang 35

cấp: thiếu, thấp, tối thích, cao và thừa Dựa vào thang chuẩn này người ta thường xuyên phân tích lá để biết được có cần hay không cần phải bón phân

Bảng 2.3 Thang dinh dưỡng lá của cây bưởi

Nitrogen (%) < 2,2 2,2 – 2,4 2,5 – 2,7 2,8 – 3,0 > 3,0 Phosphorus (%) < 0,09 0,09 – 0,11 0,12 – 0,16 0,17 – 0,30 > 3,0 Potassium (%) < 0,7 0,7 – 1,1 1,2 – 1,7 1,8 – 2,4 > 2,4 Calcium (%) < 1,5 1,5 – 2,9 3.,0 – 4,9 5,0 – 7,0 > 7,0 Magnesium (%) < 0,2 0,20 – 0,29 0,30 – 0,49 0,50 – 0,70 > 0,7 Chlorine (%) < 0,2 0,20 – 0,70 > 0,7

Manganese (ppm) < 17 18 – 24 25 – 100 101 – 300 > 300 Zinc (ppm) < 17 18 – 24 25 – 100 101 – 300 > 300 Copper (ppm) < 3 3 – 4 5 – 16 17 – 20 > 20 Iron (ppm) < 35 35 – 59 60 – 120 121 – 200 > 200 Boron (ppm) < 20 20 – 35 36 – 100 101 – 200 > 200 Molybden (ppm) < 0,05 0,06 – 0,09 0,1 – 1,0 2,0 – 5,0 > 5,0 Nguồn: Cây ăn quả nhiệt đới - II - Cam, Quýt, Chanh, Bưởi

Người ta cũng căn cứ vào tình trạng dinh dưỡng trong đất thông qua phân tích đất và đối chiếu với nhu cầu dinh dưỡng của cây theo từng độ tuổi, từng giai đoạn sinh trưởng để định ra chế độ bón phân một cách phù hợp Để thiết lập được căn cứ này thường phải thông qua một loạt các thí nghiệm đồng ruộng với nhiều công thức bón khác nhau, bao gồm tỷ lệ, liều lượng và thời gian bón trên nhiều loại đất khác nhau Từ kết quả nghiên cứu Trạm thí nghiệm cam quýt Gainsville, Florida đề nghị tỷ lệ bón N: P2O5: K2O: MgO: MnO: CuO = 1: 1: 1: 0,5: 0,125: 0,063 Tỷ lệ này tương đương với công thức

Trang 36

8: 8: 4: 1: 0,5 Tuỳ tuổi cây, từ năm thứ nhất đến năm thứ 6 bón mỗi cây số lượng phân hỗn hợp theo công thức trên từ 0,5 - 5,0 lb [8]

ở Việt Nam nhìn chung, trong nhóm cây ăn quả có múi, bưởi là đối tượng ít được nghiên cứu hơn so với Cam, Chanh, Quýt Chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về dinh dưỡng khoáng riêng cho cây bưởi mà mới được nghiên cứu chung cho nhóm cây có múi

Theo Phạm Văn Côn (2004)[9] cho biết: cây ăn quả cũng như cây trồng nói chung cần hút chất dinh dưỡng từ đất và từ phân bón để tạo ra sản phẩm thông qua quá trình quang hợp Nếu thiếu dinh dưỡng hoặc các chất dinh dưỡng không cân đối làm cho cây sinh trưởng kém dẫn tới giảm năng suất và phẩm chất sản phẩm Nếu thừa dinh dưỡng làm cho cây sinh trưởng quá mạnh cũng làm giảm năng suất và phẩm chất sản phẩm đồng thời còn gây ô nhiễm môi trường đất nước và không khí Vì vậy, trước tiên cần phải nắm vững nhu cầu dinh dưỡng của từng loại cây

Theo các tác giả Lê Thanh Phong, Nguyễn Bảo Vệ ở trường đại học Cần Thơ phẩm chất quả bao gồm hình dạng, kích thức quả, cấu chúc vỏ, độ nhẵn và mầu sắc vỏ hoặc phẩm chất bên trong đặc chưng bằng nhiều yếu tố như lượng dịch quả, tổng số chất hoà tan và độ chua v.v được quyết định bởi việc bón phân Nhận xét một cách tổng quát là bón nhiều N sẽ làm cấu chúc

vỏ ngoài xấu, quả nhỏ, chất lượng quả giảm ảnh hưởng của N còn tuỳ thuộc vào từng nền đất trồng, ở những chân đất mầu mỡ ảnh hưởng của việc bón N không được thể hiện rõ Trong điều kiện P dễ tiêu thấp, việc thừa N càng tỏ ra

có ảnh hưởng xấu đến chất lượng quả Mức bón K cao làm tăng độ lớn trung bình của quả và độ dày vỏ quả Bón K không làm ảnh hưởng đến năng suất của cây nhưng lại ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ các loại trái (theo độ lớn) Bón nhiều K thì quả to, vỏ dày, chín muộn, mầu sắc quả xấu, các hợp chất tan trong dịch quả thấp Ngược lại nếu bón K thấp tạo ra quả nhỏ, chín sớm, mầu sắc đẹp, các chất tan trong dịch quả cao, axit thấp

Trang 37

Bảng 2.4 Lượng phân bón cho bưởi Năm

Đình Ca, Đoàn Thế Lư, Phạm Văn Côn và CS [16] chia ra các lần bón như sau:

Bón đợt tháng 2: 40% N + 40% K2O

Bón đợt tháng 5: 30% N + 30% K2O

Bón đợt tháng 7 : 30% N + 30% K2O

Trang 38

Bón đợt tháng 9 - 10 : 100% hữu cơ + 40% P2O5

Theo nghiên cứu của Lê Thanh Phong ở trường đại học Cần Thơ, đối với cây cho quả chia làm 4 lân bón sau:

Lần 1: Trước khi cây ra hoa bón 1/3 số N

Lần 2: Sau đậu quả 6 - 8 tuần bón 1/3 N + 1/2 K2O

Lần 3: Trước khi thu hoạch 1 - 2 tháng bón 1/2 K2O còn lại

Lần 4: Sau khi thu hoạch bón toàn bộ lượng P2O5 + 1/3 phần N còn lại + toàn

bộ lượng phân hữu cơ

Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc bón phân hữu cơ, nhất là phân chuồng rất quan trọng trong canh tác cây có múi, vì góp phần làm tơi xốp đất, giữ được dinh dưỡng lâu hơn và hạn chế những bệnh ở rễ

Tất cả các nghiên cứu trên là những cơ sở cho việc bón phân và sử dụng phân bón một cách hợp lý đối với cây có múi Tuy nhiên trên thực tế việc ứng dụng các nghiên cứu có kết quả còn phụ thuộc rất nhiều vào các yêú tố khác nhau, trong đó giống và điều kiện thời tiết, khí hậu từng vùng có vai trò rất quan trọng và do vậy việc thí nghiệm để tìm ra các công thức bón thích hợp với từng đối tượng, từng vùng sinh thái trồng trọt vẫn cần phải được tiến hành thường xuyên

2.5 những nghiên cứu về sử dụng Gibberellins trên cây có múi

Gibberellin là một phytohoocmon có hoạt tính sinh lý rất mạnh Chất này được biết đến từ những năm đầu của thập kỷ 20, nhưng m4i đến năm

1956, Vest, Phiney và Padley mới tách được Gibberellin từ thực vật thượng

đẳng [3] Hiện tại người ta đ4 phát hiện được trên 50 GA khác nhau [4,6], còn theo Pearce, 1994 [32] hiện có đến trên 100 GA đ4 được phát hiện, trong đó

GA3 là hoocmon có hoạt tính mạnh nhất và được sử dụng rộng r4i nhất

Vai trò sinh lý quan trọng của Gibberellin đối với cây trồng nói chung

là kích thích sự d4n tế bào theo chiều dọc giúp cho sự sinh trưởng kéo dài của

Trang 39

tế bào, cơ quan, kích thích sự nảy mầm của hạt và củ, ảnh hưởng đến phân hoá giới tính của đực (kích thích sự hình thành hoa đực), kích thích sự sinh trưởng của quả [5]

Giberellin nội sinh đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động sinh lý của cây có múi, đặc biệt liên quan tới sự ra hoa và phát triển của quả

Tuy nhiên, Monselise và Halevy cho biết khi phun giberellin làm chậm phân hóa mầm hoa của cam Shamoutii và chanh ở Israel [30] Kết quả này cũng đ4 được khẳng định bởi Moss [29] ở Australia khi ông đ4 sử dụng GA3 phun cho cam để khắc phục hiện tượng ra quả cách năm Phun GA3 nồng độ 20-25 ppm vào thời gian hình thành hoa có thể làm giảm sự hình thành hoa và

nở hoa vào mùa xuân Thậm chí, sau khi những chồi mọc trong mùa xuân, phun GA3 làm giảm số lượng hoa hữu hiệu [28]

Giberellin có tác dụng nâng cao sự đậu quả của cây có múi Tác động nâng cao sự đậu quả có ý nghĩa đ4 được phát hiện trong cả 2 giống nhiều hạt

và không hạt (Parthenocarpic) Đối với giống nhiều hạt khi phun GA3 số lượng hạt đều giảm, tuy nhiên cũng phụ thuộc vào giống, ví dụ giống quýt Dancy thì thành công nhưng giống Temple lại không có kết quả [21]

Trong trường hợp không có phấn, khi phun GA3 cho giống tự bất tương tác - quýt Clementine đ4 làm tăng sự đậu quả, tuy nhiên quả nhỏ đi, có núm

và thuôn dài ra, không hạt so với những quả có hoa được thụ phấn [25] Krezdorn chỉ ra rằng phun GA3 cho buởi Orlando tangelo với nồng độ 2,5 -10ppm trong thời gian nở hoa làm tăng sự đậu quả một cách chắc chắn [27] Với nồng độ cao hơn khi phun ở giai đoạn nở hoa sẽ là nguyên nhân tổn thương nặng và làm giảm năng suất Tổn thương biểu hiện là lá của những mầm sinh dưỡng mới mọc và hoa bị rụng và chết

Khi phun GA3 nồng độ quá cao cho chanh Lisbon vào mùa xuân làm chậm sự chín của quả cũng như số quả Năng suất giảm do quả rụng quá nhiều

Trang 40

GA3 làm chậm sự l4o hóa của vỏ trong cả hai trường hợp khi phun ở trên cây và sau khi thu hoạch Nhúng quả vào dung dịch GA3 có thể làm chậm

sự l4o hóa vỏ Phun GA3 nồng độ 20 ppm vào thời điểm giữa mùa hè khi quả

có đường kính 3 - 4 cm làm tăng chống l4o hóa vỏ quả Hiệu quả này được nâng cao khi phun bổ sung dinh dưỡng hoặc amonia (NH4) vì chúng làm tăng khả năng tổng hợp GA nội sinh [36] Thường phun sớm có kết quả tốt, còn nếu muộn có thể gây tác hại Việc phun kết hợp dinh dưỡng với GA cho cây

có múi ở Israel là việc làm phổ biến mang tính thương mại

Ngày đăng: 08/08/2013, 22:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3.  Thang dinh d−ỡng lá của cây b−ởi 25 - Nghiên cứu đặc điểm ra hoa đậu quả và một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất quả bưởi thanh trà tại huế
Bảng 2.3. Thang dinh d−ỡng lá của cây b−ởi 25 (Trang 9)
Bảng 2.1. Diện tích, năng suất và sản l−ợng một số quả có múi - Nghiên cứu đặc điểm ra hoa đậu quả và một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất quả bưởi thanh trà tại huế
Bảng 2.1. Diện tích, năng suất và sản l−ợng một số quả có múi (Trang 22)
Bảng 2.2. Diện tích, năng suất và sản l−ợng một số cây ăn quả chủ lực  Cây ăn quả  Ph©n bè  Diện tích - Nghiên cứu đặc điểm ra hoa đậu quả và một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất quả bưởi thanh trà tại huế
Bảng 2.2. Diện tích, năng suất và sản l−ợng một số cây ăn quả chủ lực Cây ăn quả Ph©n bè Diện tích (Trang 23)
Bảng 2.3. Thang dinh d−ỡng lá của cây b−ởi - Nghiên cứu đặc điểm ra hoa đậu quả và một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất quả bưởi thanh trà tại huế
Bảng 2.3. Thang dinh d−ỡng lá của cây b−ởi (Trang 35)
Bảng 3.1. Các công thức thí nghiệm phân bón - Nghiên cứu đặc điểm ra hoa đậu quả và một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất quả bưởi thanh trà tại huế
Bảng 3.1. Các công thức thí nghiệm phân bón (Trang 43)
Bảng 3.2. Các công thức thí nghiệm bao quả - Nghiên cứu đặc điểm ra hoa đậu quả và một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất quả bưởi thanh trà tại huế
Bảng 3.2. Các công thức thí nghiệm bao quả (Trang 44)
Bảng 3.3. L−ợng phân bón  Phân vô cơ (g/cây) - Nghiên cứu đặc điểm ra hoa đậu quả và một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất quả bưởi thanh trà tại huế
Bảng 3.3. L−ợng phân bón Phân vô cơ (g/cây) (Trang 45)
Bảng 4.1. Các yếu tố thời tiết khí hậu trung bình từ năm 2002 - 2006  Tháng  Nhiệt - Nghiên cứu đặc điểm ra hoa đậu quả và một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất quả bưởi thanh trà tại huế
Bảng 4.1. Các yếu tố thời tiết khí hậu trung bình từ năm 2002 - 2006 Tháng Nhiệt (Trang 49)
Bảng 4.3 Tình hình các v−ờn Thanh Trà sau trận lũ lụt năm 1999  Môc - Nghiên cứu đặc điểm ra hoa đậu quả và một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất quả bưởi thanh trà tại huế
Bảng 4.3 Tình hình các v−ờn Thanh Trà sau trận lũ lụt năm 1999 Môc (Trang 52)
Bảng 4.5. Tình hình bón phân cho Thanh Trà (năm 2006)  Tỉ lệ số v−ờn bón phân (%) - Nghiên cứu đặc điểm ra hoa đậu quả và một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất quả bưởi thanh trà tại huế
Bảng 4.5. Tình hình bón phân cho Thanh Trà (năm 2006) Tỉ lệ số v−ờn bón phân (%) (Trang 53)
Bảng 4.7. Năng suất b−ởi Thanh Trà  theo nhóm tuổi và ở các vùng  sinh thái khác nhau (năm 2006) - Nghiên cứu đặc điểm ra hoa đậu quả và một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất quả bưởi thanh trà tại huế
Bảng 4.7. Năng suất b−ởi Thanh Trà theo nhóm tuổi và ở các vùng sinh thái khác nhau (năm 2006) (Trang 55)
Bảng 4.6. Khả năng sinh tr−ởng và NS của b−ởi Thanh Trà qua các  nhóm tuổi - Nghiên cứu đặc điểm ra hoa đậu quả và một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất quả bưởi thanh trà tại huế
Bảng 4.6. Khả năng sinh tr−ởng và NS của b−ởi Thanh Trà qua các nhóm tuổi (Trang 55)
Hình 4.1. NS bưởi Thanh Trà ở các độ tuổi khác nhau theo các vùng trồng - Nghiên cứu đặc điểm ra hoa đậu quả và một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất quả bưởi thanh trà tại huế
Hình 4.1. NS bưởi Thanh Trà ở các độ tuổi khác nhau theo các vùng trồng (Trang 56)
Bảng 4.8. Thời gian và khả năng sinh trưởng các đợt lộc  của giống b−ởi Thanh Trà (năm 2007) - Nghiên cứu đặc điểm ra hoa đậu quả và một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất quả bưởi thanh trà tại huế
Bảng 4.8. Thời gian và khả năng sinh trưởng các đợt lộc của giống b−ởi Thanh Trà (năm 2007) (Trang 57)
Bảng 4.9.  Đặc điểm ra hoa, đậu quả của giống b−ởi Thanh Trà - Nghiên cứu đặc điểm ra hoa đậu quả và một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất quả bưởi thanh trà tại huế
Bảng 4.9. Đặc điểm ra hoa, đậu quả của giống b−ởi Thanh Trà (Trang 58)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w